Đề Xuất 11/2022 # Xem Chi Tiet Tin Tuc / 2023 # Top 17 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 11/2022 # Xem Chi Tiet Tin Tuc / 2023 # Top 17 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Xem Chi Tiet Tin Tuc / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày 01/01/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2021.

            Chính phủ xác định phương châm hành động của năm 2021 là “Đoàn kết, kỷ cương, đổi mới, sáng tạo, khát vọng phát triển” với 08 trọng tâm chỉ đạo điều hành như sau:

Một là, chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng để phục vụ tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khoá XV và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026, Quyết liệt hành động, có chương động, kế hoạch cụ thể thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2021 – 2025 và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm giai đoạn 2021 -2030 ngày trong năm đầu của nhiệm kỳ.

Hai là, tiếp tục thực hiện quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khoá, tiền tệ và các chính sách khác để kích thích tổng cầu phù hợp, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo dõi sát diễn biến tình hình trong nước và quốc tế, kịp thời dự báo và chuẩn bị phương án, kịch bản, biện pháp, đổi sách ứng phó hiệu quả với những biến động, vấn đề mới phát sinh.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập; giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Huy động, sử dụng các nguồn lực theo cơ chế thị trường. Nâng cao kỷ cương, hiệu quả trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với thực thi nghiêm pháp luật. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại. Xây dựng bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Bốn là, quyết liệt thực hiện cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm hiệu quả, thực chất gắn với đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số quốc gia, cung cấp các dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi hơn, thu hút mạnh mẽ đầu tư, thúc đẩy doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Năm là, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hoá, trí tuệ con người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, ý trí tự cường, niềm tự hào dân tộc. Đổi mới cân bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; chú trọng phát triển nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh thu hút, trọng dụng nhân tài. Phát huy mạng mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ; làm chủ một số công nghệ mới, công nghệ có tính chiến lược. Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sáu là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là về giao thông, năng lượng, đô thị lớn, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển mạnh, đồng bộ hạ tầng số, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số. Đẩy mạnh tiến độ thực hiện các dự án quan trọng, công trình trọng điểm quốc gia, các dự án liên kết vùng, bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước; tăng trưởng, nâng cao hiệu quả liên kết vùng, phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị lớn.

Thứ bảy, củng cố quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hoà bình ổn định cho phát triển nhanh, bền vững; nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Tám là, làm tốt công tác thông tin, truyền thông, kịp thời phản ánh, lan toả các nhân tố tích cực, góp phần củng cố niềm tin, tạo đồng thuận trong toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội đề ra.

            Thủ tướng Chính phủ cũng đề ra 11 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để triển khai thực hiện Nghị quyết, như sau:

Một là, triển khai hiệu quả các nhiệm vụ phục vụ tổ chức Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội và Hộ đồng nhân dân các cấp; chuẩn bị, ban hành và triển khai ngay các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội.

Hai là, tiếp tục thực hiện linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống đại dịch Covid – 19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới.

            Ba là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo thuận lợi cho phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở giữ vứng ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; nâng cao khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế.

            Bốn là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.

            Năm là, tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; đẩy nhanh tiến độ lập, phê duyệt quy hoạch, triển khai các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trọng điểm; phát triển mạnh kinh tế biển; tăng cường liên kết vùng; phát huy vai trò các vùng kinh tế trọng điểm, đô thị lớn; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.

            Sáu là, Nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ.

            Bảy là, phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, gắn kết hài hoà với phát triển kinh tế.

            Tám là, quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu; tăng cường phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai.

Chín là, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng hệ thống hành chính nhà nước kiến tạo, phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân; tăng cường phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Mười là, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển đất nước.

Mười một là, đẩy mạnh thông tin truyền thông, tạo niềm tin, đồng thuận xã hội; nâng cao hiệu quả công tác dân vận, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường phối hợp công tác với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể nhân dân.

Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt phương châm phát huy tối đa các mặt tích cực, kết quả đạt được trong những năm qua và khẩn trương khắc phục những mặt còn hạn chế, bất cập; theo chức năng, nhiệm vụ được giao, nghiêm túc triển khai thực hiện nhanh, hiệu quả, thực chất và toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp đã được đề ra tại Kết luận Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2021, các Nghị quyết khác của Đảng, Quốc hội và các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể của bộ, ngành, địa phương mình, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, tạo chuyển biến rõ nét ngay từ đầu năm; chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện của Bộ, ngành, địa phương mình. Trước ngày 20/01/2021, xây dựng, ban hành Chương trình, Kế hoạch hành động, các văn bản cụ thể triển khai thực hiện Nghị quyết này và các phụ lục kèm theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ.

Lâm Thành Định – Phòng Tài chính đầu tư

Trích nguồn: Nghị quyết số 01/NQ-CP

Thông Tin Xem Gia Vang 9999 Bao Nhieu Tien 1 Chi Mới Nhất / 2023

Giải Pháp Nâng Cao Chỉ Số Cải Cách Hành Chính ” Tin Tuc Onlie / 2023

Sáng 9-6, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Trần Tuyết Minh chủ trì làm việc với ban, sở, ngành hữu quan về lĩnh vực cải cách hành chính (CCHC), nâng cao chỉ số CCHC của tỉnh. Cuộc họp thông qua kết quả chỉ số CCHC năm 2019 của tỉnh, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và tìm giải pháp triển khai, thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

BÌNH PHƯỚC XẾP THỨ 37/63 TỈNH, THÀNH VỀ CCHC

Báo cáo tại cuộc họp, đại diện Sở Nội vụ cho biết, năm 2019, điểm CCHC của tỉnh đạt 80,79/100 điểm, tăng 5,16% so với năm 2018, đạt chỉ tiêu đề ra và xếp thứ 37/63 tỉnh, thành phố, tăng 2 bậc so với năm 2018. Có 62 tiêu chí và tiêu chí thành phần đạt điểm tối đa, tăng 10 tiêu chí, tiêu chí thành phần so với năm 2018; 4/8 lĩnh vực có chỉ số cao, đạt trên 80%, là các lĩnh vực: Xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. 3 lĩnh vực có thứ hạng giảm và 9 tiêu chí, tiêu chí thành phần bị chấm 0 điểm.

THỰC HIỆN ĐỒNG BỘ VÀ HIỆU QUẢ CÁC NỘI DUNG VỀ CCHC

Trên cơ sở nhận định các khó khăn, vướng mắc cả về khách quan và chủ quan, để nâng cao thứ hạng, chỉ số CCHC trong thời gian tới, ông Đặng Hà Giang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ cho biết, sở sẽ cùng với Sở Nội vụ tổ chức các cuộc thi sáng kiến CCHC ngay trong quý 4/2020 nhằm tìm ra nhiều giải pháp hay áp dụng vào thực tiễn. Ông cũng đề nghị cần đánh giá lại hạ tầng công nghệ thông tin của các sở, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố để có sự đầu tư, nâng cấp đồng bộ, hiện đại giúp việc thực hiện công việc chuyên môn được trôi chảy hơn…

Theo lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh, giải pháp trọng tâm là cần cải thiện, đầu tư, nâng cấp hệ thống đường truyền, phần mềm công nghệ thông tin đảm bảo liên thông, thông suốt trong xử lý, giải quyết hồ sơ giữa Văn phòng UBND tỉnh với các bộ, ngành Trung ương và Văn phòng Chính phủ. Ngoài ra, cần rà soát lại các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao để có phương án giải quyết kịp thời, tránh tồn đọng dẫn đến bị trừ điểm. Theo Phó giám đốc Sở Nội vụ Huỳnh Thị Bé Năm, một số lĩnh vực có thứ hạng giảm, nguyên nhân một phần là do Bộ Nội vụ chấm điểm trên phần mềm có thời gian theo quy định nhưng các sở, ngành của tỉnh gửi hồ sơ đối chứng chậm nên không được chấm điểm…

BÌNH PHƯỚC XẾP THỨ 3 TRONG CẢ NƯỚC VỀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Theo đánh giá của Bộ Nội vụ, năm 2019, lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính của Bình Phước đạt 13,93/14 điểm, đứng thứ 3/63 tỉnh, thành phố, tăng 49 bậc so với năm 2018. Lĩnh vực cải cách tổ chức bộ máy đạt 10,61/12 điểm, đứng thứ 4/63 tỉnh, thành phố, tăng 8 bậc so với năm 2018. Lĩnh vực xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh đứng thứ 19/63 tỉnh, thành phố, tăng 10 bậc so với năm 2018. Về lĩnh vực đánh giá tác động của CCHC đến người dân, tổ chức và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, năm 2019, chỉ số hài lòng tăng 4,62% so với năm 2018, tuy nhiên thứ hạng ở lĩnh vực này giảm là do chỉ tiêu thành lập mới 1.000 doanh nghiệp không đạt.

Để nâng cao thứ hạng, chỉ số CCHC trong thời gian tới, Phó giám đốc Sở Nội vụ Huỳnh Thị Bé Năm đề nghị, CCHC phải bắt đầu từ người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Không chỉ có trách nhiệm trong đôn đốc triển khai, thực hiện, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý, giải quyết công việc trên môi trường điện tử đạt từ 90% trở lên. Đài Phát thanh – Truyền hình và Báo Bình Phước tăng cường tuyên truyền để người dân biết và tập trung thực hiện giải quyết hồ sơ, thủ tục trên môi trường điện tử. Đặc biệt, Sở Kế hoạch và Đầu tư phải tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện giải ngân kế hoạch vốn đầu tư theo quy định và hướng dẫn các cơ quan có thẩm quyền, phấn đấu đạt từ 90% trở lên so với kế hoạch được giao; chú trọng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm thu hút doanh nghiệp đến đầu tư tại tỉnh…

Phó chủ tịch UBND tỉnh Trần Tuyết Minh cho biết, mục tiêu chung năm 2020 của tỉnh là thực hiện đồng bộ và hiệu quả các nội dung CCHC. Qua đó nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan công quyền. Tỉnh phấn đấu năm 2020, nâng thứ hạng CCHC lên thứ 30/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Vì vậy, năm 2020, các sở, ngành phải tham gia có trách nhiệm hơn trên các lĩnh vực được phân công; phải chủ động trong triển khai, kiểm tra, đôn đốc theo dõi, tổng hợp việc thực hiện. Đặc biệt, Sở Nội vụ, cơ quan tham mưu chính cho UBND tỉnh phải theo dõi và cập nhật thường xuyên tình hình thực hiện, trên cơ sở đó chủ động kiểm tra, đôn đốc các đơn vị. Phó chủ tịch UBND tỉnh Trần Tuyết Minh cũng đề nghị, từng sở, ngành có các điểm trong tiêu chí thành phần bị trừ điểm, đề nghị rà roát lại, báo cáo giải trình về nguyên nhân và chủ động đưa ra giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế đó, có lộ trình hoàn thành gửi Sở Nội vụ trước ngày 20-6 để sở tổng hợp trình UBND tỉnh xem xét…

Để Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Hội Đồng Già Làng ” Tin Tuc Onlie / 2023

Toàn tỉnh hiện có 82 hội đồng già làng, 521 già làng, 349 người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Qua 15 năm hoạt động của hội đồng già làng, 5 năm thực hiện chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào DTTS cho thấy già làng, hội đồng già làng, người có uy tín trong đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh đã phát huy vai trò, vị trí của mình, là trung tâm đoàn kết, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc, là điểm tựa của đồng bào các DTTS trong phát triển kinh tế, vươn lên xóa đói, giảm nghèo, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, tích cực tham gia các phong trào hành động cách mạng ở địa phương. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả hơn nữa, cần một quy chuẩn thống nhất trong tổ chức hoạt động cũng như chính sách đối với hội đồng già làng, già làng, người có uy tín trong đồng bào DTTS.

CẦN MỘT QUY CHUẨN THỐNG NHẤT

Qua khảo sát thực tế và theo đánh giá của các cơ quan chức năng, tổ chức và hoạt động của hội đồng già làng, người có uy tín đến nay chưa có một quy chuẩn thống nhất trên địa bàn tỉnh. Tổ chức, hoạt động của hội đồng già làng còn nhiều mặt chưa phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật, chưa rõ ràng về tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động, chưa phù hợp với chức năng là một tổ chức “hội đồng”. Quyền, nghĩa vụ, lợi ích của già làng và người có uy tín có nhiều mâu thuẫn. Công tác quản lý cũng bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém.

Nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quản lý và tổ chức hoạt động của các già làng, người có uy tín, huy động hiệu quả các lực lượng tại chỗ trong việc ổn định và phát triển vùng đồng bào DTTS của địa phương, Tỉnh ủy chỉ đạo thống nhất chủ trương kiện toàn hội đồng già làng và người có uy tín thành một tổ chức tại Thông báo số 2319-TB/TU ngày 21-4-2014.

Già làng Điểu Lê tuyên truyền đồng bào DTTS ấp 2, xã Minh Lập (Chơn Thành) giữ đất sản xuất để phát triển kinh tế

Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã giao Ban Dân tộc chủ trì xây dựng đề án kiện toàn, củng cố tổ chức, hoạt động của già làng và người có uy tín trong đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh và được Thường trực Tỉnh ủy thống nhất đề án tại Thông báo số 149-TB/TU ngày 26-4-2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Theo đề án, chế độ chính sách đãi ngộ già làng ngang bằng với người có uy tín theo quy định và sử dụng nguồn hỗ trợ hoạt động cho hội đồng già làng để thực hiện chính sách. Hiện nay, khoản hỗ trợ hoạt động cho tập thể hội đồng già làng được quy định tại Nghị quyết số 17/2015/NQ-HĐND ngày 14-12-2015 của HĐND tỉnh. Để thay đổi từ hỗ trợ hoạt động cho tập thể hội đồng già làng sang chi thực hiện chế độ chính sách cho từng cá nhân già làng cần thiết phải có nghị quyết của HĐND tỉnh. Đồng thời, để chính sách mang tính ổn định lâu dài, thống nhất giữa chế độ đối với già làng và người có uy tín thì các quy định cần mang tính khoa học, đồng bộ. Do đó, theo kế hoạch, trong kỳ họp tới, HĐND tỉnh sẽ xem xét ban hành một nghị quyết về chế độ chính sách đối với già làng, người có uy tín trong đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh để điều chỉnh về chính sách đối với người có uy tín được quy định tại Nghị quyết số 17/2013/NQ-HĐND ngày 13-12-2013 của HĐND tỉnh.

SẼ CÓ THÊM NHIỀU KHOẢN HỖ TRỢ

Chế độ chính sách mới đối với già làng, người có uy tín trong đồng bào DTTS phải phát huy vai trò của già làng, người có uy tín trong vùng DTTS, góp phần thực hiện tốt công tác dân tộc, phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo tờ trình dự thảo nghị quyết UBND tỉnh trình kỳ họp thứ 3, HĐND tỉnh khóa IX (cuối năm 2016), chế độ chính sách đối với già làng và người có uy tín sẽ như sau:

Già làng Điểu Lên và các đại biểu dự đại hội các dân tộc thiểu số toàn tỉnh – Ảnh: S.H

Già làng sẽ được cấp ủy, chính quyền các cấp định kỳ hoặc đột xuất phổ biến, cung cấp thông tin về các chủ trương, chính sách, pháp luật mới của Đảng, Nhà nước; tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh của địa phương; được cấp không thu tiền 1 tờ/số các báo Báo Dân tộc và Phát triển, Báo Bình Phước, Bản tin Dân tộc thiểu số và miền núi… Bên cạnh đó, già làng còn được hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần như sau: Thăm hỏi, tặng quà nhân dịp tết Nguyên đán, tết của các DTTS, mức chi không quá 400 ngàn đồng/người/năm. Thăm hỏi, hỗ trợ vật chất khi ốm đau phải nằm viện điều trị từ tuyến huyện trở lên, mức chi không quá 400 ngàn đồng/người/năm.

Các già làng được thăm hỏi gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai; thăm viếng bố (bố đẻ, bố chồng hoặc bố vợ, bố nuôi hợp pháp theo quy định của pháp luật), mẹ (mẹ đẻ, mẹ chồng hoặc mẹ vợ, mẹ nuôi hợp pháp theo quy định của pháp luật), vợ, chồng, con (con đẻ, con nuôi hợp pháp theo quy định của pháp luật) của già làng và bản thân già làng qua đời, cơ quan cấp tỉnh mức chi không quá 1 triệu đồng/hộ/năm; cơ quan cấp huyện mức chi không quá 500 ngàn đồng/hộ/năm.

Già làng, người có uy tín cũng được hỗ trợ bảo hiểm y tế, xăng xe như sau: Hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho già làng, người có uy tín theo hình thức bảo hiểm tự nguyện (đối với già làng, người có uy tín chưa được hỗ trợ thẻ bảo hiểm y tế theo các chính sách khác). Hỗ trợ kinh phí xăng xe đi lại 100 ngàn đồng/tháng/già làng, người có uy tín.

Bên cạnh đó, ngân sách còn chi quản lý tổ chức, hoạt động của già làng, người có uy tín: phụ cấp thêm cho cán bộ dân tộc – tôn giáo cấp xã bằng 0,2 mức lương cơ sở/người/tháng.

Nguồn: Báo Bình Phước

Bạn đang đọc nội dung bài viết Xem Chi Tiet Tin Tuc / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!