Đề Xuất 2/2023 # Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Nhằm Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Trong Giai Đoạn Hiện Nay # Top 7 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Nhằm Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Trong Giai Đoạn Hiện Nay # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Nhằm Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Trong Giai Đoạn Hiện Nay mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nền hành chính được xây dựng trên bốn yếu tố. Một số nhà khoa học gọi đó là bốn cột trụ để xây dựng nên nền hành chính. Bốn cột trụ đó là: Thể chế hành chính, Tổ chức bộ máy chính phủ từ trung ương đến địa phương, Vấn đề nhân sự hành chính, Tài chính công.

Trong bốn cột trụ này, việc xây dựng một đội ngũ nhân sự hành chính có đạo đức, tài năng là vấn đề tốn rất nhiều công sức và có tính chất lâu dài nhất. Vì vậy, ở bất cứ một quốc gia nào, muốn có một nền hành chính hiện đại, đáp ứng được sự phát triển của kinh tế xã hội đều rất chú trọng vấn đề này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: trồng cây thì phải mười năm, trồng người thì phải trăm năm. Các Nghị quyết của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Namlần thứ XI cũng đều nhấn mạnh việc xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức vừa có đạo đức, vừa có tài năng, thành thạo nghề nghiệp và tận tụy phục vụ nhân dân.

Lịch sử thế giới về vấn đề nhân sự hành chính

Từ thế kỷ thứ 20, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, đã hình thành các nước cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Trên thế giới có hai mô hình về vấn đề nhân sự hành chính như sau:

Ở các nước trong khối xã hội chủ nghĩa đã hình thành một mô hình nhân sự mới, trong đó lấy người cán bộ làm vị trí trung tâm và hình thành theo đó là sử dụng khái niệm: cán bộ, nhân viên. Cán bộ là những người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên, được tuyển dụng không phải qua thi tuyển, vào làm việc ở một cơ quan, đơn vị do Nhà nước tổ chức và hưởng lương từ ngân sách. Nhân viên là những người có trình độ thấp hơn, cũng được tuyển dụng và làm việc trong các cơ quan, tổ chức do Nhà nước trả lương. Những người này làm công việc gián tiếp, khác với công nhân là những người thuộc lực lượng trực tiếp sản xuất. Các chế độ chính sách từ cán bộ, nhân viên, công nhân, trừ tiền lương, đều thống nhất hưởng một chế độ như nhau (như các chế độ về nghỉ ngơi, lao động, chế độ hưu trí, kỷ luật và khen thưởng v.v…).

Để có điều kiện so sánh trong phân tích, tôi tạm gọi đây là Mô hình Nhân sự số Một.

Một mô hình khác là các nước còn lại trên thế giới (ngoài các nước xã hội chủ nghĩa). Mô hình này lấy người công chức làm vị trí trung tâm, theo đó là khái niệm viên chức.

Công chức là những người được tuyển dụng qua thi tuyển, được Nhà nước giao cho nhiệm vụ và họ được sử dụng quyền lực công trong quá trình công tác. Để tiện cho việc phân tích sau này, tôi tạm gọi mô hình này là Mô hình Nhân sự số Hai.

Sự khác nhau và ưu khuyết điểm của hai Mô hình

Mô hình số Một có phạm vi rất rộng, từ các cơ quan tổ chức chính trị, chính trị – xã hội đến các cơ quan quản lý nhà nước, quân đội, công an. Với phạm vi rộng như thế này trong quản lý và sử dụng, gặp nhiều khó khăn, nhất là vấn đề sử dụng và thực hiện các chính sách. Việc tuyển dụng không qua thi tuyển cũng dẫn đến tình trạng khó khuyến khích những người có tài năng và quá trình thực hiện đã xuất hiện một số người cho là: đã là cán bộ thì chỗ nào cũng có thể làm được. Do vậy không có những người có chuyên môn sâu và thành thạo nghề nghiệp. Để khắc phục các nhược điểm trên, người ta cũng ban hành các bản tiêu chuẩn cho từng loại cán bộ. Tuy vậy kết quả thu được không nhiều.

Mô hình số Hai lấy công chức làm trung tâm thì phạm vi công chức được phân loại khác nhau như phân loại theo trình độ, người ta chia ra thành các ngạch công chức căn cứ vào trìnhđộ và tiêu chuẩn của mỗi một ngạch như chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự. Các ngạch đều phải qua thi tuyển, đào tạo và bổ nhiệm. Cũng có nước người ta còn phân biệt công chức trung ương và công chức địa phương. Một phân loại khác là phân loại theo công việc đảm nhiệm như là công chức ngạch chính sách và công chức thừa hành. Công chức ngạch chính sách bao gồm các chuyên viên cao cấp và chuyên viên chính. Ở các nước người ta tổ chức những trường đào tạo riêng cho các chuyên viên cấp cao và chuyên viên chính.

Trong mô hình thứ hai này, tùy theo điều kiện lịch sử chính trị của mỗi nước mà họ tổ chức hệ thống công chức khác nhau, nói chung người ta sử dụng hai hệ thống sau đây: Hệ thống chức nghiệp và Hệ thống việc làm hay còn gọi là hệ thống theo vị trí.

Trong hệ thống chức nghiệp thì công chức được bố trí làm việc theo tập thể, theo nhóm từ 2 đến 5 người. Ưu điểm của hệ thống này là giải quyết được các vấn đề cần sự bàn bạc tập thể và cũng giúp cho các công chức trẻ nhanh chóng nắm bắt được nhiệm vụ. Nhược điểm của hệ thống này là dễ sinh tư tưởng ỉ lại và việc đánh giá kết quả công tác của từng cá nhân có khó khăn.

Hệ thống việc làm thì có ưu điểm là xác định được vị trí công tác của từng cá nhân. Mỗi một vị trí có tiêu chuẩn riêng và một mức lương theo từng vị trí, do đó đánh giá kết quả công tác cũng dễ dàng hơn. Nhưng hệ thống này cũng có nhược điểm là cơ quan tổ chức phải xây dựng quá nhiều tiêu chuẩn và nếu không có phương pháp khoa học để xác định các vị trí và không có cơ quan chuyên lo về việc này, cũng như không gắn liền việc xác định vị trí với công tác định mức biên chế thì biên chế sẽ càng ngày phình ra chứ không giảm như ta mong muốn.

Hệ thống này do một vị trí có một mức lương cho nên công chức chỉ hy vọng vào tiền thưởng cuối năm, cũng dễ làm cho công chức thiếu phấn khởi so với công chức trong hệ thống chức nghiệp được lên lương theo thâm niên.

Lịch sử cán bộ, công chức Việt Nam

Trên thế giới, những tổ chức áp dụng tốt hệ thống vị trí là các cơ quan của Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới và một số ngân hàng quốc tế khác. Cũng có nước người ta áp dụng hệ thống này cho các tổ chức mà tổ chức đó có từng nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng và thường xuyên. Có nước thì chỉ áp dụng hệ thống này cho các vị trí lãnh đạo. Số còn lại thì vẫn theo hệ thống chức nghiệp. Việc phân biệt công chức và viên chức cũng dần dần được rõ ràng hơn khi các dịch vụ công đã dần dần được xã hội hóa.

Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Tuyên cáo cải tổ Ủy ban Dân tộc Giải phóng (do Hội nghị Quốc dân Tân Trào họp hai ngày 16, 17/8/1945 bầu ra) thành Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đó là Chính phủ dân chủ đầu tiên được thành lập sau khi đánh đổ chế độ phong kiến và chế độ thực dân Pháp. Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, không có Thủ tướng. Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm các nhiệm vụ về an ninh, tổ chức bộ máy từ trung ương tới địa phương, công tác công chức v.v… Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên là Ông Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch nước ủy quyền ký các Sắc lệnh về vấn đề nội trị.

Một điều rất đáng chú ý trong giai đoạn này là: sau khi ban hành các Sắc lệnh bãi bỏ các ngạch quan của chế độ cũ, thì các Sắc lệnh cũng ban hành các chức năng nhiệm vụ của các Bộ mới của Chính phủ, trong đó Trưng dụng những công chức có chuyên môn, nghiệp vụ làm việc cho chế độ cũ sang làm việc cho các bộ mới. Đồng thời với chính sách đại đoàn kết dân tộc đã bổ nhiệm các nhân sỹ trí thức thời bấy giờ đảm đương các nhiệm vụ trong bộ máy Chính phủ như cụ Huỳnh Thúc Kháng đã từng làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và sau đó là Quyền Chủ tịch nước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp. Ông Phan Kế Toại, nguyên là Khâm sai Đại thần của Triều đình Huế đã đảm đương vị trí Bộ trưởng Bộ Nội vụ và sau này là Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Cũng có thể kể thêm một số nhân vật nổi tiếng khác như Ông Nguyễn Văn Huyên – Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Kỹ sư Kha Vạn Cân – Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Nhà thơ Cù Huy Cận, v.v…

Từ sau ngày độc lập cho đến khoảng năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn công chức như trong thư gửi các công chức ở Bắc Kỳ về rèn luyện đức tính Cần kiệm – Liêm chính – Chí công vô tư. Đồng thời cũng khoảng thời gian này Chính phủ đã ban hành các chế độ đối với công chức về tiền lương, nghỉ hưu, nghỉ phép. Trong thời gian kháng chiến, mặc dầu rất khó khăn, Chính phủ đã trả lương cho cán bộ, công chứcvà vợ con của họ; tiền lương được tính bằng gạo. Việc này đã góp phần động viên công chức trong giai đoạn Kháng chiến – Kiến quốc này.

Năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 76-SL ban hành Quy chế Công chức Việt Nam. Quy chế này đã quy định rõ: Nghĩa vụ, Quyền lợicủa công chức; vấn đề Sử dụng, Điều động, Biệt phái công chức; vấn đề Đào tạo, vấn đề Tiền lương, vấn đề Khen thưởng, vấn đề Kỷ luật, vấn đề Về hưu cho công chức. Văn bản này đã bao quát được tất cả vấn đề quản lý công chức trong cả nước và Sắc lệnh này trong thời điểm đó tương đương như một Luật hiện hành.

Năm 1952, Bộ Nội vụ có mở một kỳ thi tuyển cán sự ở Việt Bắc.

Sau khi Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, Chính phủ đã thực hiện chế độ tiền lương cho cán bộ, công chức.

Những năm sau này tuy không có quyết dịnh nào để bãi bỏ Quy chế Công chức ban hành năm 1951 nhưng công tác cán bộ công chức được chuyển dần sang Mô hình Một và mô hình nhân sự các nước xã hội chủ nghĩa.

Năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Năm 1991, Đại hội lần thứ VII của Đảng đã đưa ra yêu cầu phải từng bước đổi mới hệ thống chính trị, trong đó trọng tâm là cải cách hành chính. Theo đó, công tác cán bộ cũng phải thay đổi. Sự thay đổi đó là phải tiến hành phân loại cán bộ như công chức, cán bộ sản xuất kinh doanh v.v…

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ được giao nhiệm vụ soạn thảo một văn bản pháp luật về công chức. Khó khăn đầu tiên là phải trả lời được câu hỏi – Ở nước ta ai là công chức? Đây thực sự là một vấn đề không dễ vì nó động chạm đến phạm vi công chức và một thực tế là chế độ nhân sự theo Mô hình Một đã tồn tại hơn 30 năm.

Sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ công chức trong suốt gần 30 năm đổi mới đã đóng góp quan trọng cho những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Có thể khẳng định mặc dù còn có những thiếu sót, nhưng không thể đánh giá thấp đội ngũ này. Tuy vậy trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, cần không ngừng nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức.

Theo chúng tôi cần chú trọng các biện pháp sau đây:

Một làcần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật về công chức, trong đó chú trọng cải tiến về chế độ thi tuyển công chức, chú trọng các nguyên tắc bình đẳng, công khai; các đề thi phải phân loại được trình độ cùng với việc thi các hiểu biết thì nên nghiên cứu các đề thi về kỹ năng. Mặc dù tốn kém nhưng cố gắng xây dựng một ngân hàng đề thi để tổ chức thi chung cho cả nước.

Hai là tăng cường việc đào tạo và bồi dưỡng công chức theo các hướng: đào tạo công chức ngạch chuyên viên cấp cao và chuyên viên chính tại Học viện Hành chính quốc gia. Mỗi một ngạch nên có thời gian đào tạo 02 năm, một năm nghiên cứu tại học viện, một năm cử xuống làm trợ lý cho các tỉnh trưởng hoặc làm việc tại các Sở Nội vụ của các tỉnh và thành phố lớn. Bộ Nội vụ bàn với Bộ Giáo dục Đào tạo cử một số người sang học ở các trường hành chính của các nước có nền hành chính công tốt như Pháp, Mỹ, Singapore, v.v… Bên cạnh Học viện Hành chính quốc gia cần có một trường bồi dưỡng cán bộ công chức hành chính về kỹ năng và nghiệp vụ. Muốn trường này thực hiện được nhiệm vụ cần bắt đầu thực hiện từ việc đào tạo giáo viên, soạn thảo các chương trình. Theo chúng tôi thì hiện nay công chức hành chính nước ta rất yếu về kỹ năng thực hiện. Một công chức hành chính có phẩm chất, tài năng và thành thạo nghề nghiệp không chỉ có hiểu biết về lý thuyết mà phải có cả khả năng thực hành. Hệ các trường thực hành này rất phát triển và có nhiều kinh nghiệm tại Singapore. Nếu thực hiện được những điều nói trên thì sẽ tránh được tình trạng việc soạn thảo các chính sách, quy định của Nhà nước xa rời thực tế như một số trường hợp đã xảy ra hiện nay.

Ba là hiện nay nước ta đã hội nhập sâu vào thế giới bằng các hiệp định thương mại và tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế, do vậy trong chương trình đào tạo và bồi dưỡng công chức phải có giáo trình đào tạo về hội nhập quốc tế.

Bốn là tập trung vào việc nghiên cứu, triển khai và thực hiện hệ thống việc làm của công chức. Cần xây dựng một tổ chức để thực hiện vấn đề này. Tổ chức này được đặt tại Bộ Nội vụ với ba nhiệm vụ là nghiên cứu lý luận và khoa học, phương pháp thực hiện hệ thống việc làm ở nước ta; trong đó chú trọng việc chuyển đổi từ hệ thống chức nghiệp hiện nay đang sử dụng rộng rãi sang hệ thống việc làm, phương pháp xây dựng tiêu chuẩn các vị trí, phương pháp xây dựng định mức hành chính cho các tổ chức; từ đó tổ chức này trình Bộ Nội vụđể trình Chính phủ ban hành các định mức biên chế này. Tổ chức này có thể lấy tên là Trung tâm Định mức và Biên chế. Ở các Bộ trong Chính phủ, tùy quy mô mà có thể lấy Trung tâm, Vụ hoặc Phòng để làm công tác xây dựng như nhiệm vụ đã nói trên của Trung tâm Bộ Nội vụ. Ở mỗi Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương cũng có một Trung tâm đặt trong Sở Nội vụ để xây dựng các tiêu chuẩn, định mức biên chế của địa phương mình, báo cáo lên Bộ Nội vụ để phê duyệt.

Năm là nghiên cứu xây dựng chức danh Tổng thư ký ở mỗi một Bộ để chuyên trách về công chức, giúp Bộ trưởng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức và các vấn đề hành chính của Bộ. Chức vụ này đã được các nước Đông Nam Á và các nước có nền hành chính lâu đời thực hiện có kết quả.

Tác giả: Tô Tử Hạ – nguyên Phó Trưởng ban, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ

Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Đáp Ứng Yêu Cầu Thời Kỳ Mới

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Trưởng ban Chỉ đạo Đề án chủ trì hội nghị.

Tham dự có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bí thư, Phó Bí thư của 21 Tỉnh, Thành ủy các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam.

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo Đề án chủ trì Hội nghị.

Phát biểu tại hội nghị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cách đây 20 năm (năm 1997) với những điều kiện thực tiễn khác với giai đoạn hiện nay. Thực tiễn cho thấy, bộ máy các cấp đang có sự chồng chéo, nhiều tầng nấc, hoạt động kém hiệu quả. Trước nhiệm vụ, tình hình mới, đòi hỏi Đảng phải sớm có nghị quyết mới về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Qua đó, cần có các giải pháp, quan điểm mới để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới hiện nay.

Phân tích các yếu tố, đặc điểm tác động trong nước và khu vực đến công tác cán bộ, bộ máy hiện nay so với 20 năm trước, đồng chí Phạm Minh Chính cho rằng: Công tác cán bộ như một dây chuyền sản xuất, sau 20 năm mặc dù vẫn còn đầy đủ song có thể thấy dây chuyền ấy đã lạc hậu từ tuyển dụng, bồi dưỡng, giáo dục, quy hoạch, bổ nhiệm, chế độ chính sách… Do đó, đòi hỏi dây chuyền ấy phải được thay đổi để có những sản phẩm phù hợp với điều kiện thực tiễn. Từ thực tiễn 20 năm qua, cần đánh giá đầy đủ những gì làm được, chưa làm được, nguyên nhân để có giải pháp phù hợp; trên cơ sở đó hoàn chỉnh đề cương đề án trình Hội nghị Trung ương 7 sắp tới.

Đối với các nội dung của đề cương thuộc Đề án, đồng chí Phạm Minh Chính cho biết: Trọng tâm định hướng lớn của Đề án này là công tác cán bộ và cán bộ cấp chiến lược. Qua các hội nghị trước còn có nhiều ý kiến khác nhau, vì vậy các đại biểu cần tập trung cho ý kiến về các vấn đề này. Nếu xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược tốt thì sẽ giúp cho việc xây dựng cán bộ cấp dưới tốt.

Thống nhất cao các nội dung của Đề án, đồng chí Tất Thành Cang, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Cần có cơ chế khen thưởng cũng như giám sát đối với người giới thiệu nhân sự kế cận. Nếu nhân sự giới thiệu công tác tốt, thể hiện được năng lực công tác nên xem xét có hình thức biểu dương, khen thưởng cho người giới thiệu. Ngược lại, nếu cán bộ đó có năng lực kém, cần xem xét lại trách nhiệm người giới thiệu. Qua đó, mới khuyến khích tìm kiếm, lựa chọn được người tài, khắc phục vấn đề “lợi ích nhóm” trong đề bạt cán bộ.

Nhấn mạnh đến vai trò của công tác quy hoạch, đào đạo bồi dưỡng cán bộ, đồng chí Nguyễn Xuân Tiến – Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng cho rằng, muốn có đội ngũ cán bộ lãnh đạo tốt, cán bộ chiến lược tốt, đòi hỏi phải làm tốt công tác cán bộ. Bên cạnh đó, để có đội ngũ cán bộ chiến lược có chất lượng cao, cần chú trọng công tác đào tạo từ môi trường đào tạo, chương trình, hình thức đào tạo, tuổi đời đào tạo và phải có chất lượng thực chất. Mặt khác, cần sớm nghiên cứu ban hành quy chế, quy định về phát hiện người tài, có tố chất lãnh đạo; tạo môi trường cho cán bộ được thể hiện tài năng, năng lực của mình.

Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Quân Đội Trong Giai Đoạn Cách Mạng Hiện Nay

Ngày đăng: 07/10/2020 09:21

1. Vai trò của cán bộ và công tác cán bộ trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội

Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề chiến lược, đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta; một nội dung cơ bản của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1); trong công tác “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”(2). Thấm nhuần tư tưởng đó, qua từng thời kỳ cách mạng, công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ trong quân đội nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Nghị quyết số 769-NQ/QUTW ngày 21/12/2012 của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo; Quy định số 104-QĐ/QUTW ngày 16/02/2017 của Quân ủy Trung ương về một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Quy định số 496-QĐ/QUTW ngày 12/6/2017 của Quân ủy Trung ương về thẩm quyền phê duyệt, xác nhận quy hoạch và quy trình bổ nhiệm cán bộ chỉ huy, quản lý trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Quyết định số 548-QĐ/QUTW ngày 29/5/2018 của Quân ủy Trung ương về việc ban hành Quy chế công tác cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.v.v. Những chủ trương, định hướng, quy định nêu trên là cơ sở để công tác cán bộ trong quân đội được triển khai một cách đồng bộ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu phục vụ, bảo đảm và sẵn sàng chiến đấu của quân đội.

Trong thời gian qua, Quân ủy Trung ương luôn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về xây dựng đội ngũ cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, tổ chức lực lượng trong quân đội; đồng thời, chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ theo đúng quan điểm, đường lối, nguyên tắc, quy chế về công tác cán bộ và đặc điểm tình hình thực tiễn đơn vị; nhận thức, trách nhiệm, vai trò của cấp ủy, bí thư, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị được đề cao.

Tuy nhiên, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để xây dựng đội ngũ này ngang tầm với nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Những khó khăn, thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh đang đặt ra nhiều vấn đề mới. Các thế lực thù địch, phản động đang tăng cường hoạt động chống phá ta về mọi mặt, thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các vấn đề “an ninh phi truyền thống” và “phi chính trị hóa” quân đội ngày càng quyết liệt hơn. Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như: dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và những hạn chế yếu kém, suy thoái của một bộ phận cán bộ quân đội đang được kẻ địch lợi dụng triệt để. Tư tưởng bành trướng nước lớn, vi phạm các nguyên tắc luật pháp quốc tế đang làm cho tranh chấp khu vực Biển Đông ngày càng phức tạp, khó lường.

Bên cạnh đó, đời sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn còn khó khăn, nhất là cán bộ trẻ ở các đơn vị cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, xa gia đình quê hương; chính sách hậu phương quân đội còn nhiều hạn chế, bất cập. Quân đội đang tiếp tục điều chỉnh tổ chức, lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh, linh hoạt, cơ động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời bình và sẵn sàng mở rộng lực lượng khi có yêu cầu. Những yếu tố trên đang tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, đòi hỏi cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp trong toàn quân phải nhận thức đúng và có giải pháp đồng bộ, phù hợp nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả.

2. Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới Một là, tiếp tục quán triệt và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội.

Đây là nội dung quan trọng nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, cơ quan nghiệp vụ cán bộ các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nội dung giáo dục, quán triệt cần tập trung vào đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng về công tác cán bộ, trọng tâm là quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, chủ trương, nội dung, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X đã xác định. Đồng thời, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống làm thước đo để đánh giá cán bộ; gắn đánh giá cán bộ định kỳ với kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mọi vấn đề về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ thuộc thẩm quyền của cấp ủy, tổ chức đảng được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Việc đổi mới công tác cán bộ phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển, xuất phát từ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo bước đột phá nhằm nâng cao chất lượng toàn diện đối với công tác này, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược, chiến dịch đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Trên cơ sở nhận thức đúng, đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ và chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có số lượng và cơ cấu hợp lý; khả năng tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi; trình độ, kiến thức chuyên môn ngày càng cao; có uy tín trong tập thể; sức khỏe và độ tuổi phù hợp.

Hai là, thực hiện tốt công tác nghiệp vụ cán bộ nhằm nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, nhất là về phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, thực tiễn.

Việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tình hình đội ngũ cán bộ; kế thừa quy hoạch nhiệm kỳ trước, lấy quy hoạch cấp dưới làm cơ sở quy hoạch cấp trên với tinh thần “có lên, có xuống, có vào, có ra”, bảo đảm sự liên thông, có tính khả thi cao trong thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ. Thực hiện tốt công tác luân chuyển cán bộ theo các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn đảm bảo cho cán bộ được thử trách, trải nghiệm trên nhiều cương vị công tác, làm cơ sở để bồi dưỡng, bổ nhiệm, sắp xếp ở cương vị cao hơn. Quản lý, nắm chắc tình hình đội ngũ cán bộ theo phân cấp; xem xét kéo dài tuổi phục vụ của cán bộ chặt chẽ, đúng đối tượng; kiên quyết điều chuyển hoặc loại bỏ đối với cán bộ năng lực, sức khỏe yếu, vi phạm kỷ luật, uy tín thấp; có kế hoạch và biện pháp đồng bộ để chủ động tạo nguồn, cân đối số lượng cán bộ ra quân với bổ sung nguồn vào, sắp xếp, điều chuyển cán bộ một cách hợp lý; giữ ổn định đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là ở các đơn vị đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đơn vị thành lập mới hoặc trang bị vũ khí hiện đại.

Tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng với các loại hình đào tạo khác nhau; trong đó, chú trọng nguồn đào tạo cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, đào tạo sau đại học và đào tạo ở nước ngoài. Thực hiện có hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ, có trình độ học vấn, lý luận chính trị tương ứng, tập trung cho cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu; tiến hành đồng bộ các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, lấy đào tạo cơ bản, lâu dài, chính quy theo các chương trình đào tạo tiên tiến làm chủ yếu, kết hợp với đào tạo các trình độ khác để đáp ứng yêu cầu tại chỗ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ.v.v. Kết hợp giữa đào tạo trong quân đội và ngoài quân đội; chú trọng, khuyến khích cán bộ nâng cao năng lực thực tiễn, trình độ ngoại ngữ, tin học và kiến thức về chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội.

Coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo tại trường với bồi dưỡng, huấn luyện tại chức và tự học tập; giữa truyền thụ kinh nghiệm của cán bộ qua chiến đấu, thực tiễn chỉ huy, quản lý với việc nâng cao trình độ cán bộ, nhất là cán bộ trẻ. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại các học viện, nhà trường theo hướng liên thông giữa các cấp học, bậc học, sát với chức trách, nhiệm vụ của chức vụ ban đầu khi tốt nghiệp ra trường; khắc phục tình trạng dàn trải, trùng lắp, nhất là đào tạo cán bộ cấp trung đoàn, sư đoàn.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ gắn với việc điều chỉnh, sắp xếp, cơ cấu, bộ máy tinh gọn, hiệu quả trong quân đội.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Quyết định số 2574/QĐ-BQP ngày 30/6/2018 phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 606-NQ/QUTW về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021; xây dựng, triển khai thực hiện Đề án về điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2016-2021; Đề án cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến năm 2020; Kế hoạch số 217-KH/QUTW ngày 13/3/2018 về triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

Thời gian qua, Bộ Quốc phòng đã giải thể, điều chỉnh tổ chức biên chế một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (quân số giảm gần 3.000 người); giải thể 14 lữ đoàn công binh dự bị động viên thuộc các công ty, tổng công ty; giải thể 06 trung tâm dạy nghề – giới thiệu việc làm; hiện đang tiếp tục xúc tiến lộ trình giải thể 22 trường cao đẳng, trung cấp nghề trong toàn quân; chỉ đạo tổ chức lại 04 cơ quan chiến lược làm điểm, giảm 10% quân số biên chế; Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam thành Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam; Phòng Kiểm toán thành Kiểm toán Bộ Quốc phòng; tổ chức lại các cơ sở in trong Quân đội. Chỉ đạo điều chuyển hai ban quản lý Dự án 678 và 98 về Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng. Thành lập Bộ Tư lệnh 86; Trung đoàn 915, thuộc Trường Sĩ quan Không quân; tổ chức lại Tạp chí Quân sự Quốc phòng, thuộc Bộ Tổng Tham mưu (trên cơ sở sáp nhập bốn tạp chí: Quân huấn, Nhà trường quân đội, Dân quân tự vệ và giáo dục quốc phòng, Tiêu chuẩn đo lường chất lượng).

Đã tiến hành sắp xếp lại và cổ phần hóa các doanh nghiệp, từ 109 doanh nghiệp xuống còn 17 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước do Bộ Quốc phòng quản lý; giải thể, điều chuyển nhiệm vụ quân sự của các doanh nghiệp… Bộ Quốc phòng tiếp tục thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, bảo đảm không tăng quân số, theo hướng tinh, gọn, mạnh, cơ động nhanh và sức chiến đấu cao điều chỉnh hợp lý giữa các lực lượng, đảm bảo sức chiến đấu của Quân đội không ngừng được nâng lên.

Hiện nay, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đang tiếp tục triển khai thực hiện các đề án, kế hoạch về tổ chức xây dựng lực lượng, tiếp tục rà soát, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, giảm đầu mối trung gian và lực lượng phục vụ, bảo đảm hậu cần; sáp nhập các cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng; chuyển đổi cơ chế hoạt động một số đơn vị phục vụ, bảo đảm sang hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công. Việc nghiên cứu, điều chỉnh tổ chức lực lượng phải đảm bảo dự báo sát, đúng, kịp thời với tình hình thế giới, khu vực, trong nước và nhiệm vụ quân đội. Trong tổ chức thực hiện, cần kiên quyết và kiên trì với mục tiêu đã xác định; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, khoa học; nhất quán trong thực hiện từ cấp chiến lược đến cấp cơ sở; bảo đảm khách quan, khoa học; kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong nghiên cứu, thực hiện điều chỉnh tổ chức cơ quan, đơn vị…

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện, thực hiện tốt chính sách cán bộ; xây dựng cơ quan nghiệp vụ về công tác cán bộ các cấp vững mạnh.

Cần thực hiện tốt chế độ, chính sách hiện hành của Đảng, Nhà nước đối với quân đội; tiếp tục nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện chế độ, chính sách ưu đãi, chế độ tiền lương, phụ cấp đặc thù đối với ngành lao động đặc biệt, phụ cấp nhà ở, chế độ đối với cán bộ luân phiên nơi khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; quản lý, nắm chắc tình hình sức khỏe của cán bộ. Chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để tạo nguồn quỹ đất, triển khai các dự án nhà ở chính sách, xã hội, công vụ; chăm lo giải quyết tận tình, chu đáo các chế độ, chính sách với người có công và các chính sách tồn đọng khác, thực hiện các chính sách như bảo hiểm xã hội, khám chữa bệnh, chế độ hưu trí, quan tâm đến gia đình cán bộ… tạo điều kiện thuận lợi để động viên cán bộ yên tâm công tác.

Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng cơ quan nghiệp vụ cán bộ vững mạnh; đội ngũ làm công tác cán bộ “trung thành, trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông”, toàn tâm, toàn ý thực hiện tốt nhiệm vụ. Nghiên cứu tổ chức cơ quan cán bộ các cấp đủ số lượng, biên chế thống nhất theo từng loại hình đơn vị; kiện toàn, nâng cao chất lượng, tích cực bồi dưỡng, tập huấn, tổ chức hội thi ngành nghiệp vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về cải cách hành chính trong công tác cán bộ. Đồng thời, chú trọng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong, trình độ năng lực nghiệp vụ của đội ngũ làm công tác cán bộ; nâng cao khả năng phát hiện, dự báo, tham mưu, đề xuất, hướng dẫn thực hiện đúng, trúng, kịp thời, hiệu quả, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Mặt khác, các cấp ủy đảng tiếp tục cụ thể hóa việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế cho phù hợp với tính chất, đặc thù của cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ cấp mình; kiên quyết khắc phục những khâu yếu trong công tác cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh về mọi mặt, làm cơ sở xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Ghi chú:

(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.309, tr.280

(3) Ngô Xuân Lịch, “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội ngang tầm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 05/7/2018.

TS Lưu Duy Toàn – Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng ThS Hoàng Văn Mạnh – Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

tcnn.vn

Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống trong sáng; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có năng lực thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Đoàn cán bộ của tỉnh Quảng Ninh tham gia chương trình bồi dưỡng chuyên đề “Công tác tuyên truyền của Đảng” tại Quảng Tây, Trung Quốc. Ảnh: Nguyễn Huế.

Trong năm 2017, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh cũng đã ban hành Quy chế số 02-QC/TU “Thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp sở, phòng”. Theo đó, việc bổ nhiệm cán bộ được thực hiện theo nguyên tắc phân công cấp ủy đảm nhiệm các chức năng lãnh đạo quản lý theo yêu cầu nhiệm vụ; luân chuyển điều động từ các vị trí chức danh lãnh đạo quản lý tới các vị trí, chức danh khác tương đương và bổ nhiệm mới từ vị trí cán bộ giữ chức danh thấp lên chức danh cao hơn phải thực hiện thông qua thi tuyển để bổ nhiệm cán bộ. Trên cơ sở kết quả thi tuyển viên chức năm 2016, năm 2017, tỉnh đã ban hành Quyết định tuyển dụng đối với 404 trường hợp trúng tuyển kỳ xét tuyển đặc cách viên chức năm 2016. Song song với đó, tỉnh cũng có nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Trong đó, tổ chức thí điểm thi tuyển công chức cấp xã tập trung cho 510 thí sinh dự tuyển vào 144 vị trí công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó, tỉnh đã giao cơ quan chuyên môn hướng dẫn phương án bố trí số lượng, chức danh, quy định chế độ phụ cấp và phụ cấp kiêm nhiệm đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, bản, khu phố trên địa bàn.

TP Uông Bí tổ chức tập huấn về ATTP cho cán bộ, công chức, viên chức cấp xã.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cũng được tỉnh quan tâm, chú trọng và thực hiện đa dạng hóa, với nhiều loại hình đào tạo, gắn đào tạo với thực tiễn, kết hợp giữa ngắn hạn với dài hạn, đào tạo theo chuyên đề, theo vị trí công tác… Trong đó, tập trung đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đào tạo cán bộ có trình độ tiến sĩ và tương đương từ nguồn ngân sách nhà nước, đồng thời định hướng, khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức tự học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo đáp ứng được tiêu chuẩn, vị trí việc làm. Tỉnh cũng chỉ đạo các cấp ủy chủ động tạo nguồn cán bộ, chú trọng xây dựng và từng bước trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; thu hút các chuyên gia, cán bộ có trình độ cao trên các lĩnh vực về tỉnh, đặc biệt là thu hút các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi về địa phương công tác. Trong năm 2017, tỉnh đã ban hành các quyết định về phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức năm 2017. Đồng thời, triển khai chương trình hợp tác giữa tỉnh Quảng Ninh và chính quyền Quảng Tây, Trung Quốc, trên cơ sở Quyết định số 2133/QĐ-UBND ngày 1/6/2017 về việc ban hành Quy chế xét chọn và quản lý học viên tham gia chương trình học bổng tại Quảng Tây, Trung Quốc, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2451/QĐ-UBND ngày 28/6/2017 về việc cử 21 học viên tham gia chương trình đào tạo trình độ đại học, sau đại học tại các trường ở Quảng Tây, Trung Quốc năm 2017 (2 học viên tham gia đào tạo trình độ tiến sỹ, 19 học viên tham gia đào tạo trình độ đại học).

Với nhiều giải pháp tích cực, Quảng Ninh đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó mật thiết với nhân dân. Trình độ, kiến thức và năng lực thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong tỉnh được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Hà Chi

Bạn đang đọc nội dung bài viết Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Nhằm Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ Trong Giai Đoạn Hiện Nay trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!