Đề Xuất 10/2021 # Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Dân Sự # Top Like

Xem 2,079

Cập nhật nội dung chi tiết về Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Dân Sự mới nhất ngày 28/10/2021 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 2,079 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • #1 Phân Tích Và Nêu Ý Nghĩa Pháp Lý Của Việc Đăng Ký Biện Pháp Đảm Bảo
  • Sự Ảnh Hưởng Của Các Biện Pháp Bảo Đảm Đầu Tư Đối Với Hiệu Quả Đầu Tư
  • Các Trường Hợp Phải Đăng Ký Biện Pháp Bảo Đảm
  • Các Biện Pháp Bảo Đảm Phải Đăng Ký
  • Các Trường Hợp Đăng Ký Thay Đổi Nội Dung Biện Pháp Bảo Đảm
  • Pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một trong những chế định luật được hình thành khá sớm trong hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới. Luật cổ La Mã đã biết đến các biện pháp thế chấp, cầm cố, bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ1.

    Với những nỗ lực nhất định, trong thời gian qua, pháp luật Việt Nam về bảo lãnh được từng bước xây dựng, hoàn thiện. Những văn bản pháp luật quan trọng trong lĩnh vực này phải kể đến: Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về các giao dịch có bảo đảm, Nghị định 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch có bảo đảm và các văn bản pháp luật trong các lĩnh vực tín dụng ngân hàng…

    Tuy nhiên, với yêu cầu sửa đổi bổ sung nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của BLDS sang toàn bộ các quan hệ tài sản- tiền tệ và quan hệ phi tài sản trong các lĩnh vực kinh tế- thương mại thì những qui định pháp luật về các biện pháp bảo đảm trong BLDS hiện hành sẽ không thể điều chỉnh được toàn bộ các nhóm quan hệ này. Tự bản thân các qui định pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong BLDS hiện hành chỉ dừng lại những qui định sơ khai nhất, bộc lộ những khiếm khuyết và bất cập nhất định.

    1. Đảm bảo nguyên tắc tự do thoả thuận

    Pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được xây dựng không nằm ngoài mục đích bảo đảm cho khả năng của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự tự chịu trách nhiệm về tài sản, bảo đảm nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng. Sự cưỡng chế của nhà nước chỉ cần thiết khi các bên không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình. Pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chỉ khả thi và phát huy tính tích cực của nó khi các các qui phạm cụ thể được thể hiện dưới hình thức qui phạm tuỳ nghi, qui phạm trao quyền lựa chọn. Pháp luật về bảo đảm chỉ có thể đưa ra một qui tắc xử sự chung cho các chủ thể, song cũng không nên loại trừ những thoả thuận khác của chính các bên tham gia và giao dịch ấy.

    Dù vậy, một số điều trong Dự thảo còn qui định một cách khá cứng nhắc, Ví dụ: Điều 301 cho phép một tài sản có thể dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ, là một qui định mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn song pháp luật qui định bắt buộc mỗi lần bảo đảm phải lập thành văn bản. Thiết nghĩ, nên bổ sung cụm từ “nếu các bên không có thoả thuận hoặc pháp luật có qui định khác”. Trong thực tiễn hoạt động ngân hàng, trường hợp cho vay theo hạn mức, nếu qui định như vậy là không khả thi vì các bên hoàn toàn có thể thoả thuận một hợp đồng bảo đảm cho nhiều khoản tín dụng khác nhau, miễn sao tại một thời điểm bất kỳ trong thời gian hợp đồng có hiệu lực tổng giá trị các khoản vay không vượt quá hạn mức đã được thoản thuận.

    3. Về phân loại các biện pháp bảo đảm

    Rải rác có những qui định pháp trong Dự thảo được lặp lại một cách không cần thiết, ví dụ: Điều 303. Hình thức cầm cố tài sản và Điều 318, Hình thức thế chấp tài sản; Điều 304. Thời hạn cầm cố tài sản và Điều 319. Thời hạn thế chấp; Điều 310. Huỷ bỏ việc cầm cố tài sản và Điều 330. Huỷ bỏ việc thế chấp tài sản; Điều 311. Xử lý tài sản cầm cố và Điều 329. Xử lý tài sản thế; Điều 314. Chấm dứt cầm cố tài sản và Điều 331. Chấm dứt thế chấp tài sản.

    4.Về phạm vi bảo đảm

    Khoản 2 Điều 295 Dự thảo bổ sung: “Các bên được thoả thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện”.

    Theo quan niệm truyền thống và cả trong luật Việt Nam hiện hành: nghĩa vụ được bảo đảm chỉ có thể là nghĩa vụ đã hình thành, đã tồn tại, có thực và đã xác định phạm vi của nghĩa vụ đó, bởi biện pháp bảo đảm là thiết lập một nghĩa vụ phụ, dự phòng, hỗ trợ cho nghĩa vụ chính, trong khi đó Điều 285 BLDS (Điều 256 Dự thảo) ghi nhận những căn cứ phát sinh nghĩa vụ là từ hợp đồng dân sự; hành vi dân sự đơn phương; gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật…Như vậy, các biện pháp bảo đảm nhằm xác lập một nghĩa vụ bổ trợ (nghĩa vụ dự phòng) cho nghĩa vụ chính. Trường hợp nghĩa vụ chính chưa tồn tại, chưa định hình, chưa xác định phạm vi thì khó có thể xác lập nghĩa vụ bảo đảm.

    Trong thực tiễn tín dụng ngân hàng, nhằm bảo đảm lợi ích của mình, các ngân hàng xây dựng qui trình xét duyệt và ký kết hợp đồng tín dụng, theo đó hợp đồng thế chấp, bảo lãnh phải được ký kết cùng hoặc trước thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên hợp đồng bảo đảm ấy được xác lập căn cứ vào Giấy đề nghị vay vốn của bên đi vay và kết quả thẩm định hồ sơ xin vay của bộ phận tín dụng.

    Dưới góc độ lý luận, đây là vấn đề còn tranh luận chưa có kết luận cuối cùng, bởi pháp luật về kinh tế- dân sự Việt Nam chưa công nhận một cách cụ thể hiệu lực pháp lý của các văn bản dưới dạng: thoả thuận tiền hợp đồng, bản ghi nhớ của các bên trước khi ký hợp đồng.

    Chúng tôi cho rằng qui định như trong Dự thảo là phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, để qui định trên được áp dụng một cách nhất quán và chính xác, cần thiết phải ghi nhận hiệu lực và ý nghĩa pháp lý của các thoả thuận tiền hợp đồng cũng như cần có sự giải thích rõ hơn, cụ thể hơn về trường hợp này. Mặt khác cũng nên giới hạn qui định trên chỉ áp dụng đối với biện pháp cầm cố, thế chấp và bảo lãnh bằng tài sản mà không thể áp dụng đối với tất cả các biện pháp bảo đảm khác.

    5. Về điều kiện đối với tài sản bảo đảm

    Việc đưa ra điều kiện: giá trị tài sản phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ (Điều 301 Dự thảo), là một qui định không cần thiết. Chúng tôi cho rằng việc định giá tài sản bảo đảm tại thời điểm xác lập giao dịch do các bên tiến hành trên cơ sở thoả thuận và chỉ có giá trị tham khảo để xác định mức nghĩa vụ được bảo đảm, không áp dụng khi xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm. Nếu điều kiện này áp dụng cho thời điểm xử lý tài sản thì càng không chính xác, bởi giá trị tài sản bảo đảm trong nền kinh tế thị trường thay đổi liên tục, mặt khác trong trường hợp một tài sản dùng bảo đảm để thực hiện nhiều nghĩa vụ pháp luật qui định buộc phải đăng ký giao dịch có bảo đảm, thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm.

    6. Về cơ sở pháp lý phát sinh nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm

    Khác với BLDS các nước, BLDS Việt Nam không đề cập một cách trực tiếp về hợp đồng bảo đảm. Thuật ngữ “hợp đồng bảo đảm” không tìm thấy trong Mục 5 BLDS hiện hành và cả trong Dự thảo. Mặc dù trong các biện pháp bảo đảm cụ thể có qui định về hình thức của thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…phải lập thành văn bản có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có qui định.

    Theo lô gích thông thường, hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên. Giao dịch bảo đảm là thoả thuận lập thành văn bản làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của bên. Thực chất, quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ bảo đảm là quan hệ hợp đồng. Mặt khác, Nghị định số 165/1999 và Nghị định178/1999 trực tiếp công nhận thoả thuận bảo đảm là quan hệ hợp đồng. Song đây cũng chỉ là những văn bản pháp luật dưới luật, hiệu lực pháp lý của nó không thể vượt trên hiệu lực của BLDS.

    Trong thực tiễn cam kết bảo lãnh được lập dưới hình thức văn bản với nhiều tên gọi “hợp đồng bảo lãnh”, ” hợp đồng thế chấp”, “hợp đồng cầm cố”.

    Tuy không tồn tại cơ sở nào để phủ nhận quan hệ thế chấp, cầm cố, bảo lãnh không là quan hệ hợp đồng. Song nếu như BLDS Việt Nam với tính chất là văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất trực tiếp xác nhận, khẳng định rằng quan hệ bảo đảm (trừ phạt vi phạm và chiếm giữ tài sản) là quan hệ hợp đồngthì sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý nhất định và sẽ tốt hơn rất nhiều trong thực tế áp dụng pháp luật về bảo đảm.

    Nếu Dự thảo chính thức và trực tiếp ghi nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh là quan hệ hợp đồng thì hợp đồng bảo đảm sẽ chịu sự điều chỉnh của các qui định pháp luật về hợp đồng nói chung được qui định trong BLDS. Những qui định ấy bao gồm: Thủ tục, trình tự giao kết hợp đồng, nguyên tắc ký kết hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu…Pháp luật các quốc gia trên thế giới đều trực tiếp công nhận trong BLDS rằng quan hệ bảo đảm là quan hệ hợp đồng2.

    7. Về biện pháp phạt vi phạm

    Một số quan điểm cho rằng, phạt vi phạm là một chế tài trong dân sự, là hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm nghĩa vụ và hợp đồng mà nó hoàn toàn không là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đúng nghĩa. Vì vậy, không nhất thiết phải xếp phạt vi phạm như là một biện pháp bảo đảm3.

    Pháp luật một số quốc gia và một số học thuyết pháp lý các nước, đặc biệt là các nước theo hệ thống thông luật ghi nhận điều này. Bởi trong pháp luật của các nuớc này không áp dụng chế tài phạt (penalty) mà chỉ áp dụng chế tài liquidated damages (bồi thường thiệt hại theo (đánh giá) dự đoán trước) Vì vậy, bồi thường theo mức xác định trước hoàn toàn không có chức năng là một biện pháp bảo đảm.

    Tuy nhiên theo tinh thần của pháp luật Việt Nam thì phạt vi phạm đã hội đủ các nội dung là một biện pháp bảo đảm vì các lý do sau:

    – Thứ nhất: phạt vi phạm chỉ được thiết lập trên cơ sở thoả thuận giữa các bên, hoặc theo qui định pháp luật nếu có;

    – Thứ hai: Bồi thường thiệt hại chỉ áp dụng khi có thiệt hại thực tế xảy ra, mức bồi thường chỉ xác định được sau khi có vi phạm; phạt vi phạm áp dụng khi bên có nghĩa vụ vi phạm cam kết mà không tính đến sự hiện hữu của thiệt hại, mức phạt được các bên thoả thuận trước khi có vi phạm.

    – Thứ ba: Phạt vi phạm là chế tài bổ sung cho chế tài chính (tất yếu) là bồi thường thiệt hại. Nếu

    như bồi thường thiệt hại là nghiễm nhiên khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nó không bao hàm ý nghĩa bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ mà tự bản thân nó là một bộ phận cấu thành nên nghĩa vụ. Phạt vi phạm có thể được xác lập song song với chế tài bồi thường thiệt hại nhằm mục đích cảnh báo một hậu quả bất lợi nếu như bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Phạt vi phạm có vai trò định hướng và ràng buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

    8. Về biện pháp cầm giữ tài sản

    Cầm giữ tài sản (jus retentionnis) là một trong hai biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn toàn mới được đề cập trong Dự thảo này; song chỉ mới đối với pháp luật Việt Nam bởi biện pháp này được áp dụng rộng rãi trong giao lưu dân sự kinh tế ở các nước, thậm chí biện pháp này đã từng được đề cập trong Luật dân sự La Mã4. Việc bổ sung hình thức bảo đảm mới này là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tế. Trong thời gian qua cũng đã phát sinh các trường hợp cầm giữ tài sản song chưa có pháp luật điều chỉnh.

    Vì là một biện pháp bảo đảm mới cho nên Dự thảo chỉ qui định hết sức chung chung, chính điều này có thể dẫn đến nhận thức không chính xác nội dung pháp lý của nó, cho nên có thể sẽ có những nhầm lẫn tai hại trong việc áp dụng pháp luật.

    Nội dung của biện pháp bảo đảm này, theo nghĩa truyền thống, có thể được hiểu như sau: Khi bên có quyền (người cầm giữ) đang chiếm hữu hợp pháp một vật (để sau đó hoàn trả cho chủ sở hữu (người có tài sản bị chiếm giữ, người có nghĩa vụ hoặc cho người thứ ba theo chỉ định của chủ sở hữu) thì bên có quyền được quyền tiếp tục cầm giữ vật ấy nếu như những nghĩa vụ trực tiếp phát sinh từ vật ấy không đựơc thực hiện hoặc thực hiện không đúng hạn. Người cầm giữ được quyền chiếm giữ vật ấy cho đến khi nghĩa vụ được thực hiện xong.

    Bản chất pháp lý của biện pháp cầm giữ: về hiện tượng, biện pháp này có những điểm tương đồng với biện pháp cầm cố, song lại mang tính chất của biện pháp phạt vi phạm hoặc là giai đoạn đầu của quá trình bảo đảm thực hiện nghĩa vụ để sau đó chuyển thành biện pháp cầm cố. Tuy nhiên giữa chúng có những điểm khác biệt. Nội dung của biện pháp cầm giữ tài sản, trong pháp luật các nước trên thế giới được hiểu như sau:

    sở trực tiếp phát sinh quyền được cầm giữ tài sản, nếu như trước đó các bên không có thoả thuận không áp dụng biện pháp này. Trong khi đó các biện pháp thế chấp, bảo lãnh, cầm cố chỉ áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận. Chính yếu tố này mà trong các tài liệu pháp luật nước ngoài hi đề cập đến biện pháp này thường sử dụng thuật ngữ “quyền chiếm giữ”. Cầm giữ tài sản là cách thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là quyền được pháp luật qui định của người có quyền trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ. Song đây không là hình thức “xiết nợ” thường gặp trong thực tiễn.

    – Thứ hai: Quyền cầm giữ tài sản chỉ được thực hiện nếu đồng thời hội đủ ba yếu tố sau:

    a) Vật cầm giữ đang được bên có quyền nắm giữ nhưng vật ấy thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ, tức bên cầm giữ có nghĩa vụ phải chuyển giao cho chủ sở hữu (cho bên có nghĩa vụ) hoặc cho bên thứ ba theo chỉ định của chủ sở hữu.

    c) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm giữ tài sản chưa được thực hiện bởi người có nghĩa vụ đúng hạn cam kết.

    – Thứ ba: Chiếm giữ tài sản là một biện pháp có những nội dung pháp lý đồng nhất với biện pháp cầm cố vì vậy các qui định về nghĩa vụ bảo quản tài sản trong cầm giữ, xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ chính… có thể dẩn chiếu sang các điều luật tương tự trong phần cầm cố.

    – Thứ tư: Cầm giữ tài sản áp dụng thông dụng trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện các nghĩa vụ của mình trong các quan hệ hợp đồng: vận tải, gia công, thuê, ký gửi, ủỷ thác, sửa chữa tàu biển…

    2 2 Xem: Luật dân sự, thương mại các nước tư bản, chủ biên: E.A. Vaxilép. M, Nxb Quan hệ quốc tế, 1993 , tr. 303; xem Điều 361, 362 BLDS Cộng hoà Liên bang Nga (Phần I) do Duma Quốc gia thông qua ngày 30/11/1994, sửa đổi bổ sung ngày 20/2/1996 và ngày 12/8/1996. M, Nxb INFRA-M. 1999.

    3 3 chúng tôi Trần Đình Hảo, Về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong Dự thảo BLDS. Tham luận Hội thảo góp ý Dự thảo BLDS, Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tháng 3/2005.

    4 Katkoe M.M. Khái quát về quyền chiếm giữ trong luật La- Mã, Kiev 1910.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vài Thắc Mắc Về Biện Pháp Bảo Đảm.
  • Đối Tượng Của Các Biện Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Dân Sự
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 4055:2012 Về Tổ Chức Thi Công
  • Cọc Khoan Nhồi Tiếng Anh Là Gì?
  • Người Có Quyền Kháng Cáo, Kháng Nghị Theo Thủ Tục Phúc Thẩm Dân Sự
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Về Các Biện Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Dân Sự trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100