Đề Xuất 5/2022 # Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay # Top Like

Xem 12,870

Cập nhật nội dung chi tiết về Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay mới nhất ngày 28/05/2022 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 12,870 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò
  • Đối Tượng Nghiên Cứu, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Đại Chúng? Các Hướng Nghiên Cứu Trong Xã
  • Sự Phát Triển Của Truyền Thông Xã Hội Tổng Quan Ngắn Gọn
  • Vai Trò Của Nhà Trường Đối Với Tiến Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • TÔ THỊ OANH

    VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG

    KIẾM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

    Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

    Chuyên ngành : Chính trị học

    Mã số

    : 60 31 20

    Người hướng dẫn khoa học: chúng tôi Lưu Văn An

    HÀ NỘI – 2012

    2

    MỤC LỤC

    Trang

    MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………. 5

    Chương 1. VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

    TRONG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC – MỘT SỐ

    VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ………………………………………………………………………… 14

    1.1. Một số vấn đề về truyền thông đại chúng trong chính trị ………………….. 14

    1.2. Một số vấn đề về kiểm soát quyền lực nhà nước……………………………… 25

    1.3. Vị trí, vai trò của truyền thông đại chúng trong kiểm soát quyền

    lực nhà nước ……………………………………………………………………………………. 33

    Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI

    TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG KIỂM

    SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM …………………………….. 41

    2.1. Đặc điểm truyền thông đại chúng và các cơ quan quyền lực nhà

    nước Việt Nam hiện nay ……………………………………………………………………. 41

    2.2. Thực trạng vai trò của truyền thông đại chúng trong kiểm soát

    quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay …………………………………………….. 50

    2.3. Một số giải pháp phát huy vai trò của truyền thông đại chúng

    trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam …………………………………… 76

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………. 96

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………. 100

    3

    DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

    TTĐC

    : Truyền thông đại chúng

    QLNN

    : Quyền lực nhà nước

    XHCN

    : Xã hội chủ nghĩa

    VH – TT

    : Văn hóa – Thông tin

    Nxb

    : Nhà xuất bản

    CTQG

    : Chính trị quốc gia

    4

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài

    Từ xưa tới nay, quyền lực nhà nước (QLNN) và kiểm soát QLNN đã và

    đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà chính trị ở tất cả các quốc gia.

    Kiểm soát QLNN là việc thiết kế, tổ chức và thực thi QLNN sao cho đạt được

    mục đích chung và đạt được hiệu quả cao nhất. Để có thể kiểm soát được

    QLNN cần có cơ chế xác định và các điều kiện cần thiết cho sự vận hành của

    nó trên thực tế. Cơ chế đó bao gồm kiểm soát bên ngoài và kiểm soát bên

    trong các cơ quan nhà nước.

    Ở nước ta hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bộ máy nhà nước ngày

    càng được đổi mới, hoàn thiện theo hướng Nhà nước pháp quyền XHCN, tuy

    nhiên vấn đề kiểm soát QLNN vẫn còn nhiều bất cập. Ở một số nơi đã xuất

    hiện nguy cơ cán bộ, công chức nhà nước không thực hiện đúng chức trách

    của mình, quan liêu, tham nhũng, hạch sách nhân dân, đánh mất bản chất cách

    mạng chân chính của mình. Một số lượng lớn tài sản của quốc gia và của

    nhân dân bị những người có quyền lực chiếm đoạt. Có những đơn vị nhà nước

    làm thất thoát tài sản công lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Một số quan chức nhà

    nước đã và đang tiếp tục làm giàu bất chính, gây hậu quả xấu cho xã hội, làm

    suy yếu mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Niềm tin của một bộ

    phận không nhỏ quần chúng nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa

    (XHCN) có chiều hướng suy giảm. Đánh giá về vấn đề này, Đảng ta thẳng

    thắn chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống

    trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng,

    lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy

    lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp…” . Đến Đại hội XI,

    Đảng ta chỉ rõ: “Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức

    năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện

    thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước…”

    Vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Vai trò của TTĐC trong

    kiểm soát QLNN ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên

    ngành Chính trị học.

    2. Tình hình nghiên cứu đề tài

    Cho đến nay đã có khá nhiều công trình khoa học đề cập đến TTĐC,

    vai trò của TTĐC trong chính trị; về kiểm soát quyền lực chính trị nói chung,

    kiểm soát QLNN nói riêng. Có thể chia thành các nhóm công trình như sau:

    6

    7

    trong số sách nghiệp vụ báo chí được xuất bản nhằm đào tạo, bồi dưỡng

    những kiến thức cơ bản về báo chí. Nội dung công trình này đề cập đến các

    vấn đề: báo chí và xã hội, những xu hướng phát triển của báo chí trên thế giới,

    luật pháp và sự tự điều chỉnh của báo chí, những đặc điểm dân tộc trong sự

    phát triển của báo chí.

    + Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội,

    Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách tập trung làm rõ các vấn đề: Truyền thông đại

    chúng tham gia quản lý xã hội: các vấn đề chung và những lĩnh vực đặc thù

    trong thời đại khoa học- công nghệ phát triển, hội nhập quốc tế; vai trò ngành

    quan hệ công chúng; từ quan điểm truyền thông đại chúng phân tích các nhân

    vật, tác phẩm, sự kiện điển hình. Đồng thời cuốn sách cũng phân tích vai trò

    của truyền thông đại chúng trong chống tham nhũng trên thế giới…

    + Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động,

    Hà Nội. Công trình nghiên cứu khá sâu về mối quan hệ giữa báo chí và dư

    luận xã hội, phân tích bản chất dư luận xã hội, bản chất hoạt động báo chí, đặc

    điểm báo chí hiện đại; mối quan hệ tác động của báo chí và dư luận xã hội; cơ

    chế tác động của báo chí vào dư luận xã hội; vai trò của nhà báo trong quan

    hệ với dư luận xã hội.

    – Vũ Đình Hòe (chủ biên) (2000), Truyền thông đại chúng trong công

    tác lãnh đạo, quản lý, Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách giới thiệu những vấn

    đề lý luận cơ bản về truyền thông và truyền thông đại chúng, các phương

    tiện truyền thông đại chúng, những vấn đề về truyền thông đại chúng hiện

    đại. Điểm đáng lưu ý nhất là các tác giả đã phân tích vấn đề lãnh đạo, quản

    lý và ứng xử với các phương tiện truyền thông đại chúng: mục đích và

    nguyên tắc, mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà

    nước đối với các phương tiện truyền thông đại chúng, luật pháp với các

    phương tiện truyền thông đại chúng, hoạch định chính sách và chiến lược

    8

    9

    làm rõ các vấn đề: cơ sở lý luận về kiểm soát QLNN; thực tiễn kiểm soát

    QLNN ở một số quốc gia tiêu biểu; thực tiễn kiểm soát QLNN ở Việt Nam,

    những mâu thuẫn, bất cập trong kiểm soát QLNN mà Việt Nam đang và sẽ

    phải giải quyết trong tiến trình phát triển; Phương hướng và những giải pháp

    chủ yếu cho kiểm soát QLNN ở Việt Nam.

    + Lưu Văn An (2010), Quyền lực chính trị và hệ thống tổ chức quyền

    lực chính trị – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Báo cáo tổng hợp kết quả

    nghiên cứu đề tài cấp cơ sở, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh). Đây là

    những công trình làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền lực, quyền lực

    chính trị, kiểm soát quyền lực chính trị; phân tích vị trí, vai trò và mối quan

    hệ của Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống tổ

    chức quyền lực chính trị nói chung, của Việt Nam nói riêng.

    + Đào Trí Úc (chủ biên) (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực

    hiện QLNN ở nước ta hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, Cơ chế giám

    sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước – Một số

    vấn đề lý luận và thực tiễn (2010), Nxb CTQG, Hà Nội; Nguyễn Văn Thanh

    (2003), Thực hiện chức năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với

    hoạt động của các cơ quan nhà nước ở nước ta hiện nay (Luận văn thạc sỹ)…

    Phạm Ngọc Kỳ (2001), Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Nxb Chính

    trị quốc gia, Hà Nội,… là những công trình chú trọng nghiên cứu cơ chế và

    các hình thức kiểm tra, giám sát xã hội, kinh nghiệm phối hợp các cơ chế và

    hình thức này với các cơ chế và hình thức kiểm tra, giám sát của Nhà nước

    trong quá trình tổ chức thực hiện quyền lực chính trị, QLNN; nghiên cứu vấn

    đề kiểm tra, giám sát của của các cơ quan Nhà nước (như Quốc hội, Chính

    phủ, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân) và các tổ chức ngoài Nhà

    nước như Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

    – Thứ ba, nhóm công trình về vai trò của TTĐC trong kiểm soát QLNN,

    tiêu biểu là:

    10

    + Trần Quang Nhiếp (chủ biên) (năm 2005), Nâng cao hiệu quả của

    báo chí trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện

    nay, Nxb CTQG, Hà Nội. Công trình đã cung cấp cho chúng ta những nghiên

    cứu về báo chí với chống quan liêu, tham nhũng; thực trạng của việc nâng cao

    hiệu quả của báo chí trong đấu tranh cống quan liêu, tham nhũng ở nước ta

    hiện nay và những biện pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí trong

    cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện nay.

    + Trần Danh Lân (năm 2007), Báo chí trong công cuộc đấu tranh

    chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay (Luận văn thạc sỹ). Công trình nghiên

    cứu về lý luận và thực tiễn bảo chất, chức năng, vai trò và nhiệm vụ của báo

    chí Việt Nam hiện đại trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng; những thành

    tựu và hạn chế của báo chí và đội ngũ các nhà báo nước ta trong cuộc đấu

    tranh chống tham nhũng qua hơn 20 năm Đổi mới, nhất là trong những năm

    gần đây; phân tích những nguyên nhân khách quan và chủ quan cùng những

    bài học kinh nghiệm đã tạo nên những thành tựu của báo chí và các nhà báo

    nước ta trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng; đưa ra các giải pháp nhằm

    tiếp tục nâng cao và phát huy tác dụng, hiệu quả của báo chí nước ta trong

    cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

    Như vậy, có thể khẳng định rằng, cho đến nay vẫn chưa có công trình

    chuyên sâu nào nghiên cứu về TTĐC trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam một

    cách có hệ thống. Đây chính là “mảnh đất trống” để tác giả có thể tiếp tục

    nghiên cứu và bước đầu đưa ra những nhận định của cá nhân mình về vai trò

    của TTĐC trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam hiện nay.

    3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

    3.1. Mục đích

    Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng vai trò

    của TTĐC trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam hiện nay, tác giả luận văn đề

    11

    xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của TTĐC trong kiểm soát

    QLNN ở nước ta trong thời gian tới.

    3.2. Nhiệm vụ

    Để thực hiện mục đích trên, tác giả tập trung giải quyết các nhiệm vụ

    cơ bản sau đây:

    – Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về TTĐC, kiểm soát

    QLNN, vai trò của TTĐC trong kiểm soát QLNN.

    – Khảo sát thực trạng TTĐC tham gia kiểm soát QLNN ở Việt Nam

    thời gian qua.

    – Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của TTĐC

    trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

    4.1. Đối tượng nghiên cứu

    Để thực hiện đề tài này, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là vai trò

    của TTĐC trong kiểm soát QLNN với tư cách là một cơ chế kiểm soát quyền

    lực từ bên ngoài nhà nước.

    4.2. Phạm vi nghiên cứu

    – Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của TTĐC trong kiểm soát QLNN

    ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay, thông qua khảo sát ấn phẩm của một số cơ

    quan TTĐC: các đài: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Phát thanh – Truyền

    hình Hà Nội; các báo: Nhân dân, Lao động, Thanh niên, Tiền phong, Công an

    Thành phố Hồ Chí Minh, Pháp luật và Đời sống; báo mạng điện tử: Đảng

    Cộng sản Việt Nam, chúng tôi Dantri; các tạp chí: Lý luận chính trị, Nhà

    nước và Pháp luật, Cộng sản, Quản lý Nhà nước.

    5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

    5.1. Cơ sở lý luận

    Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn dựa vào chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản

    12

    13

    Chương 1

    VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG KIỂM SOÁT

    QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

    1.1. Một số vấn đề về truyền thông đại chúng trong chính trị

    1.1.1. Khái niệm và chức năng của truyền thông đại chúng

    1.1.1.1. Khái niệm truyền thông đại chúng

    Trong thời đại ngày nay, dưới tác động của toàn cầu hóa, của cuộc cách

    mạng khoa học – công nghệ, TTĐC trở thành một hiện tượng đặc biệt phổ

    biến, tác động từng ngày, từng giờ vào các mối quan hệ xã hội, có ảnh hưởng

    tới từng địa phương, từng tổ chức, từng thành viên trong xã hội. Sự hội nhập,

    tương tác, liên thông giữa các lĩnh vực, các ngành, các mặt trong đời sống

    diễn ra rất đa dạng, phức tạp, nhanh chóng kéo theo nhu cầu mở rộng quy mô,

    phạm vi, hình thức hoạt động của các phương tiện truyền thông. Với những

    tiềm năng to lớn, các phương tiện TTĐC được sử dụng ngày càng nhiều vào

    các mục đích kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau. Có thể nói trong xã hội hiện

    đại không một tổ chức, lực lượng chính trị – xã hội nào lại không sử dụng

    TTĐC như một phương tiện để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của mình.

    TTĐC là một khái niệm có nội hàm rộng, hiện nay trong giới khoa học

    chưa có định nghĩa thống nhất. Từ nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau (cơ

    chế tác động, chức năng, mục đích sử dụng…) mà TTĐC được hiểu khác nhau.

    Thông tin (danh từ) là những điều hiểu biết, tri thức thu được qua

    nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau. Thông tin

    (động từ) còn được hiểu là truyền tin cho nhau để biết

    Báo chí theo nghĩa rộng là TTĐC, nghĩa hẹp là một loại hình của

    TTĐC. Đó là cơ quan ngôn luận của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, tổ

    chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân. Nó có tính định kỳ, đáp ứng nhu cầu

    thông tin nhanh chóng, đa dạng, chính xác của quảng đại quần chúng.

    14

    Truyền thông theo tiếng Anh (communication) là sự truyền đạt, thông

    tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông… Đó là quá trình trao

    đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt

    được sự hiểu biết lẫn nhau, để từ đó chia sẻ ý tưởng hay hành động vì một

    mục đích nhất định. Theo nguyên nghĩa gốc Latinh, truyền thông (commune)

    có nghĩa là chung hay cộng đồng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con

    đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá

    nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội.

    Đại chúng (mass) là đông đảo quần chúng nhân dân trong phạm vi

    quốc gia, quốc tế.

    Các phương tiện thông tin đại chúng là các phương tiện truyền tải thông

    tin đến công chúng, bao gồm: báo, tạp chí, đài truyền hình, đài phát thanh,

    internet… Theo nghĩa rộng, các phương tiện thông tin đại chúng là các thiết

    chế xã hội đặc thù với sự trợ giúp của các công cụ kỹ thuật đặc biệt nhằm

    chuyển tải thông tin đến đông đảo công chúng. Các phương tiện thông tin đại

    chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo chí và gần đây là máy vi tính tạo ra

    những mắt xích quan trọng nối người này với người khác. Những phương tiện

    này có một đặc tính quan trọng là có khả năng truyền đạt nhiều thông điệp từ

    một nguồn đơn lẻ đến rất nhiều người khác nhau trong cùng một lúc.

    TTĐC là hoạt động chuyển giao các thông tin có tính phổ biến trong xã

    hội một cách rộng rãi và công khai thông qua các phương tiện thông tin đại

    chúng. Lĩnh vực hoạt động giao tiếp của TTĐC rất rộng, bao trùm các lĩnh

    vực của đời sống xã hội. Bản thân thuật ngữ TTĐC gợi mở cho thấy quá trình

    và hoạt động, quy mô và phạm vi truyền thông: đại chúng về nguồn phát (nhà

    báo, chính khách, doanh nghiệp, chuyên gia, công chúng…); đại chúng về

    phương tiện truyền tải, kênh truyền tin và công nghệ thông tin (sách, báo, tạp

    chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, internet, truyền thông đa phương tiện,

    15

    kỹ thuật truyền sóng, kỹ thuật số…); đại chúng về đối tượng tiếp nhận thông

    tin (là các nhóm, cộng đồng xã hội đủ mọi giới, nam, nữ, nghề nghiệp, dân

    tộc, tôn giáo…); đại chúng về hiệu quả, phạm vi ảnh hưởng (không chỉ bó hẹp

    trong vùng, khuôn khổ một quốc gia dân tộc mà còn vượt ra cả khu vực, thậm

    chí toàn cầu).

    TTĐC gồm hai yếu tố cấu thành là chủ thể và đối tượng. Chủ thể

    TTĐC lại bao gồm chủ thể quản lý và chủ thể thực hiện. Chủ thể quản lý là cơ

    quan nhà nước, tổ chức đảng, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế… Các chủ thể

    này thiết lập cơ quan quản lý, định hướng hoạt động, định hướng tư tưởng,

    quản lý hành chính. Chủ thể trực tiếp thực hiện việc phát tin là cơ quan báo

    chí, hãng thông tấn, các đài truyền hình, các đài phát thanh… với đội ngũ cán

    bộ quản lý và đội ngũ nhà báo, kỹ thuật. Bên cạnh tính độc lập tương đối, các

    cơ quan báo chí luôn chịu áp lực và sự chi phối của chủ thể sáng lập ra nó.

    Đối tượng tác động của TTĐC là công chúng, là số đông- một bộ phận dân cư

    hay cả cộng đồng xã hội, trong quốc gia và trên toàn thế giới. Đây là đối

    tượng chủ yếu mà các chủ thể quyền lực luôn có tham vọng chiếm lĩnh và áp

    đặt ý chí của mình. Đối tượng thứ hai chính là các cơ quan nhà nước, các

    đảng phái, tổ chức chính trị – xã hội, kinh tế. Đây là tác động ngược của

    TTĐC và qua đó nó khẳng định tính độc lập tương đối của mình.

    TTĐC có hai loại hình chủ yếu: ấn phẩm truyền thông và truyền thông

    điện tử. Ấn phẩm truyền thông bao gồm sách, báo, tạp chí, áp phích, tờ rơi;

    truyền thông điện tử bao gồm truyền hình, phát thanh, phim, băng đĩa…

    Tính chất của TTĐC thể hiện ở: tính khuynh hướng – phản ánh tư tưởng

    giai cấp, mà giai cấp thống trị thường nắm quyền chủ đạo; tính đảng – TTĐC

    là cơ quan ngôn luận của đảng chính trị, thể hiện lập trường chính trị, chiến

    lược, sách lược, mục tiêu khẩu hiệu của đảng; tính nhân dân – từ đặc trưng

    phổ cập, báo chí hướng đến đại chúng, đông đảo các tầng lớp nhân dân.

    16

    Nét đặc trưng của TTĐC là: tính thời sự – thông tin nhanh, thường

    xuyên cập nhật, thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng; tính định kỳ ổn định cao, theo ngày, tuần, tháng…; chuyên đề, chuyên mục của phát thanh,

    truyền hình cũng theo định kỳ; tính phổ cập (đại chúng) – in nhiều, phát hành

    rộng rãi, càng đưa đến nhiều người càng tốt, thông tin không hạn chế, không

    bị kiểm duyệt đối với người tiếp nhận; tính thống nhất – in hàng vạn bản

    giống nhau.

    Trong những năm gần đây, TTĐC đã thay đổi nhanh chóng với sự xuất

    hiện các kỹ thuật thông tin từ vệ tinh, internet, truyền hình cáp, các hệ thống

    máy móc điện tử (video, máy chiếu), thậm chí cả các dụng cụ thu – phát thông

    tin của cá nhân như catset, đĩa, băng tiếng, băng hình… Khả năng và sức mạnh

    của TTĐC phụ thuộc trước hết vào năng lực tiếp nhận thông tin của đối

    tượng, trong đó phương tiện có tác động mạnh mẽ, rộng khắp hơn cả là các

    phương tiện nghe nhìn, trước hết là truyền hình và đài phát thanh.

    Ngày nay, khi đề cập đến TTĐC trước hết đề cập đến báo chí, nghĩa là

    báo và tạp chí. Hiện nay có các loại báo: báo in, báo truyền hình, báo phát

    thanh, báo ảnh, báo điện tử. Tạp chí cũng rất đa dạng về thể loại: tạp chí đưa

    tin tức, tạp chí nghiên cứu. Vì vậy trong nhiều trường hợp nói đến báo chí tức

    là nói đến TTĐC theo nghĩa hẹp. Đó là các yếu tố cơ bản nhất, tiêu biểu cho

    sức mạnh, bản chất, xu hướng vận động của TTĐC.

    1.1.1.2. Chức năng của TTĐC

    Trong xã hội hiện đại, TTĐC có các chức năng cơ bản sau đây:

    – Chức năng thông tin: Đây là chức năng đầu tiên của TTĐC. Đó là

    việc thu nhận và phổ biến những tin tức, sự kiện, quá trình… của đời sống xã

    hội đến các cơ quan công quyền và đông đảo người dân. TTĐC phản ánh,

    cung cấp những thông tin về các lĩnh vực của đời sống xã hội trong nước và

    thế giới, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

    17

    18

    quan trọng tham gia trực tiếp vào quá trình chính trị. Nó mang đến cho các

    nhà lãnh đạo, quản lý những thông tin thời sự, những ý kiến phản ánh của dân

    chúng để từ đó đưa ra các chính sách, đồng thời TTĐC cũng là kênh thông tin

    lý tưởng để tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích và tổ chức thực hiện các chính

    sách đó; vừa mang chính sách đến người dân vừa giúp họ thực hiện.

    – Chức năng giám sát và phản biện xã hội: TTĐC tiến hành giám sát và

    phản biện chủ yếu đối với hoạt động của các cơ quan QLNN. TTĐC tiến hành

    theo dõi, phát hiện và cảnh báo đối với những quyết sách của các cơ quan công

    quyền, từ đó góp phần điều chỉnh và hoàn thiện dần hoạt động của hệ thống

    chính trị. Bên cạnh đó, TTĐC còn thực hiện chức năng của “tòa án công luận”

    nhằm tố giác những hoạt động sai trái của các quan chức, những tác động tiêu

    cực của các chính sách do các cơ quan quyền lực đưa ra, thông qua đó TTĐC

    trở thành phương tiện thực hiện quyền lực của nhân dân. Cơ sở chủ yếu của

    hoạt động giám sát và phản biện xã hội của TTĐC là dựa vào sức mạnh của dư

    luận xã hội – tức là các chuẩn mực giá trị của toàn xã hội. Tuy nhiên, trong một

    xã hội dân chủ thì hoạt động giám sát và phản biện của TTĐC còn phải dựa

    vào pháp luật – cơ sở pháp lý của xã hội – chính điều này làm cho hiệu quả của

    việc giám sát và phản biện xã hội ngày càng được nâng cao.

    – Chức năng tổng hợp, liên kết và huy động lực lượng: TTĐC không

    chỉ phê phán những nhược điểm trong chính trị – xã hội, mà thực hiện chức

    năng tổng hợp các lợi ích xã hội khác nhau, tập hợp và liên kết các chủ thể

    chính trị. Nó là diễn đàn để các đại diện của các nhóm lợi ích khác nhau trong

    xã hội bày tỏ quan điểm, thông qua đó tìm được mối liên kết những người

    cùng chính kiến, tư tưởng; từ đó hình thành và thể hiện quan điểm, lợi ích của

    mình. Trong thế giới hiện đại, tiếp cận và sử dụng TTĐC là điều kiện cần

    thiết để hình thành các phe đối lập có uy tín trong xã hội. Ngược lại, nếu phe

    đối lập không tiếp cận TTĐC, đặc biệt là truyền hình, đài phát thanh, họ sẽ bị

    19

    20

    1.1.2. Chức năng của truyền thông đại chúng trong chính trị

    1.1.2.1. Chức năng định hướng tư tưởng chính trị

    Đây là một trong những chức năng quan trọng và đặc thù của TTĐC

    trong hoạt động chính trị. Trong xã hội, bất kỳ giai cấp nào khi nắm quyền

    thống trị đều cần phải tiến hành công tác tư tưởng. Đó là hoạt động tác động

    vào ý thức con người nhằm hình thành và củng cố hệ tư tưởng chính trị đang

    lãnh đạo xã hội. Mỗi giai cấp cầm quyền đại diện cho một hệ tư tưởng và tìm

    mọi biện pháp để hệ tư tưởng đó “hướng dẫn” ý thức của toàn xã hội thông

    qua nhiều kênh, nhưng quan trọng nhất là qua TTĐC. Các nhà nghiên cứu cho

    rằng, “báo chí có khả năng tác động thường xuyên có hệ thống và tính đến

    những thay đổi trong cuộc sống…, chính báo chí có khả năng bắt kịp được

    tình hình đang thay đổi từng ngày và chính vì vậy trong trường hợp cần thiết

    có khả năng thay đổi định hướng công chúng…” [30, tr.69].

    Vai trò định hướng tư tưởng chính trị của TTĐC được thể hiện thành

    hai hướng:

    – Thứ nhất, thông qua tạo dựng dư luận xã hội. Bằng sức mạnh của

    thông tin, TTĐC tác động trực tiếp vào nhận thức của người dân, từ đó tạo ra

    dư luận xã hội và thông điệp được chuyển tải. Cũng thông qua các luồng

    thông tin từ TTĐC, người dân không những làm quen với các sự kiện, hiện

    tượng trong xã hội mà còn thu nhận định hướng của những thông tin đó.

    Những định hướng mà công chúng thu nhận được là những tư tưởng chính trị

    của chủ thể sở hữu, những quan điểm, đường lối của đảng cầm quyền và nhà

    nước. Dư luận xã hội trở thành công cụ để giải quyết các vấn đề chính trị – xã

    hội và TTĐC đã góp phần định hướng sự vận động của các tiến trình chính trị

    – xã hội.

    – Thứ hai, thông qua giáo dục tư tưởng chính trị và xã hội hóa chính trị.

    Trong quá trình định hướng tư tưởng chính trị cho công chúng, TTĐC không

    21

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Truyền Thông Đại Chúng
  • Khái Niệm Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội Tại Luận Văn Việt
  • Chức Năng Nhiệm Vụ, Bộ Máy Hoạt Động Của Hội Khuyến Học Họ Nguyễn
  • Quy Chế Hội Khuyến Học Cơ Sở Quy Che Chi Hoi Kh Truong Thpt Muong Bu Doc
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Chi Hội Khuyến Học
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100