Đề Xuất 2/2023 # Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào? # Top 3 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 2/2023 # Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào? # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào? mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cơ Cấu Tổ Chức là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, được giao những nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn nhất định và bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp

Nguyên tắc xây dựng cơ cấu tổ chức: + Phải phù hợp luật pháp Nhà nước

+ Phải phù hợp với cơ chế quản trị của doanh nghiệp

+ Phải phù hợp với ngành nghề kinh doanh & quy mô doanh nghiệp

+ Có mục tiêu thống nhất

+ Chế độ trách nhiệm, quyền hạn, quyền lợi rõ ràng

+ Có tính tập trung thống nhất

+ Có cơ chế kiểm sóat hữu hiệu

+ Mang tính hiệu quả

Một số mô hình cơ cấu tổ chức

Tổ chức theo chức năng nhiệm vụ

– Ưu điểm * Hiệu quả tác nghiệp cao. * Phát huy ưu điểm của chuyên môn hóa. * Ŀơn giản hóa việc đào tạo chuyên gia. * Chú trọng hơn đến tiêu chuẩn nghề nghiệp và tư cách nhân viên. – Nhược điểm * Mâu thuẫn giữa caác đơn vị chức năng. * Cán bộ chức năng thường coi trọng lĩnh vực của mình. * Thiếu sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng. * Chuyên môn hóa quá mức. * Hạn chế phát triển đội ngũ nhân viên * Trách nhiệm khó xác định

Tổ chức theo sản phẩm

– Ưu điểm * Qui trách nhiệm dễ dàng * Phối hợp hành động giữa các bộ phận hiệu quả hơn. * Tạo khả năng tốt hơn cho việc phát triển các nhà quản lý chung. * Các đề xuất của doanh nghiệp dễ được thông hiểu hơn. * Khách hàng sẽ lưu ý nhiều hơn khi ra quyết định – Nhược điểm * Tranh giành nguồn lực giữa các nhà quản lý sản xuất. * Phát triển ít nhà quản lý chuyên trách. * Một số mục tiêu và chiến lược nhất định có thể bị coi nhẹ.

Mô hình tổ chức theo địa bàn hoạt động

– Ưu điểm * Đề ra mục tiêu và chương trình hành động phù hợp các thị trường cụ thể. * Phối hợp hành động các bộ phận chức năng và hướng các hoạt động này vào các thị trường cụ thể. * Đào tạo nhà quản lý chung thuận lợi. * Giảm bớt nghiệp vụ tại địa phương. – Nhược điểm * Khó duy trì hoạt động thực tế trên diện rộng * Phải có nhiều nhà quản lý * Công việc có thể bị trùng lặp. * Khó duy trì việc đề ra quyết định và kiểm tra một cách tập trung

Tổ chức theo khách hàng

– Ưu điểm * Hiểu biết khách hàng tốt hơn. * Chú trọng khách hàng khi ra quyết định. * Hiệu quả lớn trong việc định hướng nổ lực về bán hàng. – Nhược điểm * Tranh giành nguồn lực * Thiếu chuyên môn hóa * Không thích hợp với các lĩnh vực hoạt động khác ngoài Marketing và bán hàng.

Tổ chức theo đơn vị kinh doanh chiến lược tổ chức theo các phân khúc thị trường.

– Ưu điểm: tương tự mô hình theo sản phẩm.

– Nhược điểm:Tính phức tạp và công việc bị trùng lặp

Mô hình hỗn hợp kết hợp nhiều mô hình trên.

– Ưu điểm * Lợi dụng ưu điểm và giảm bớt được nhược điểm của những mô hình riêng lẻ. * Xử lý được các tình huống hết sức phức tạp * Tác dụng tốt đối với các doanh nghiệp lớn. * Chuyên môn hóa cơ cấu tổ chức. – Nhược điểm * Cơ cấu tổ chức có thể phức tạp. * Có thể dẫn tới hình thành các doanh nghiệp quá nhỏ. * Tăng nhược điểm của mỗi loại hình hơn là ưu điểm

Mô hình theo ma trận

– Đặc điểm * Kết hợp hai hay nhiều mô hình thuần tuý * Các nhà quản lý viên thuộc cùng mô hình đều ngang hàng nhau, báo cáo cùng một cấp thẩm quyền ra quyết định thuộc lĩnh vực họ phụ trách. – Nhược điểm * Vi phạm nguyên tắc ” thống nhất chỉ huy “. * Khắc phục nhược điểm * Mỗi công nhân viên phải hiểu thấu đáo thẩm quyền của từng nhà quản lý. * Ban lãnh đạo tối cao phải đảm bảo công nhân viên hiểu điều trên và không nhà quản lý nào lấn át quyền hành của người khác

Tự xây dựng cơ cấu tổ chức dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực xây dựng cơ cấu tổ chức.

Cơ Cấu Tổ Chức Công Ty Luật Hoàng Phi Như Thế Nào?

Chúng tôi phân định rõ ràng chức năng và nhiệm vụ của từng phòng ban. Mỗi cán bộ nhân viên trong công ty Luật Hoàng Phi đều có một vai trò nhất định, đóng góp như một mắt xích quan trọng giúp cho cho bộ máy vận hành trôi chảy. Để giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về cơ cấu tổ chức công ty Luật Hoàng Phi, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ đồ như sau:

Nhìn vào sơ đồ trên, quý khách hàng dễ dàng nhận thấy bốn bộ phận chuyên môn quan trọng của chúng tôi bao gồm:

– Bộ phận Sở hữu trí tuệ

– Bộ phận Doanh nghiệp

– Bộ phận Giấy phép

– Bộ phận Tư vấn pháp luật

– Bộ phận sở hữu trí tuệ của Luật Hoàng Phi được chia thành hai phòng nhỏ bao gồm phòng phát triển thương hiệu và phòng sở hữu trí tuệ. Phòng phát triển thương hiệu có chức năng tư vấn và cung cấp các giải pháp giúp cá nhân, tổ chức xây dựng thương hiệu vững mạnh.

Phòng sở hữu trí tuệ đảm nhiệm chức năng tư vấn và thực hiện các thủ tục pháp lý trong việc đăng ký các quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, thương hiệu, logo và bản quyền tác giả. Không những thế, phòng còn có chức năng điều tra và xử lý các vi phạm các quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền.

– Bộ phận Doanh nghiệp gồm hai phòng nhỏ gồm: Phòng doanh nghiệp trong nước và Phòng đầu tư nước ngoài. Phòng doanh nghiệp trong nước có chức năng tư vấn và thực hiện thủ tục pháp lý về thành lập doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh. Bên cạnh đó còn có chức năng tư vấn và thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh, điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư; chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chia tách, sáp nhập và mua bán; tư vấn nội bộ doanh nghiệp; tư vấn pháp luật thường xuyên. Phòng đầu tư nước ngoài với các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực sẽ phân tích, định hướng và đưa ra các chiến lược cho cá nhân, tổ chức khi muốn đầu tư ở thị trường nước ngoài.

– Bộ phận Tư vấn pháp luật tập trung đông đảo nhân sự nhất với gần 46 chuyên viên pháp lý, có nhiệm vụ giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng thông qua các tổng đài 1900 6557, 1900 6530 và 1900 6596. Mọi vướng mắc của quý khách hàng từ bảo hiểm, lao động, đất đai, dân sự, hình sự, hôn nhân gia đình đến giáo dục, sức khỏe, tâm lý… đều được giải đáp một cách chi tiết, rõ ràng.

Ngoài các bộ phận kể trên, Luật Hoàng Phi còn có các phòng ban hỗ trợ khác như: Kế toán – Tài chính; Marketing, IT, Thiết kế… Nhờ đó, các yêu cầu của quý khách hàng đều được xử lý nhanh gọn, hiệu quả.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE HOẶC BẠN CÓ THỂ CLICK VÀO Ô SAU ĐÂY ĐỂ ĐƯỢC HỖ TRỢ

Những Kiểu Cơ Cấu Tổ Chức Trong Một Doanh Nghiệp

1. Cơ cấu tổ chức theo đường thẳng

Cơ cấu đường thẳng có ưu điểm là tạo thuận lợi cho việc áp dụng chế độ kỷ luật ,tập trung ,thống nhất ,làm cho tổ chức nhanh nhạy linh hoạt với sự thay đổi của môi trường và đặc biệt là có chi phí quản lý thấp. Bên cạnh đó, cơ cấu này cũng giúp cho người lãnh đạo cao nhất có thể dễ dàng truyền đạt mệnh lệnh của mình tới toàn bộ tổ chức.

Tuy nhiên cơ cấu tổ chức đường lại có nhược điểm là cứng nhắc và không linh hoạt. Bởi sự hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao về từng mặt quản lý, cấu trúc này đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện và dành toàn bộ thời gian để chỉ đạo, giám sát tất cả các bộ phận quản lý chuyên môn. Điều này dẫn đến việc các nhà lãnh đạo dễ dàng trở nên độc tài, lạm dụng chức quyền hoặc bị quá tải vì “ngập lụt” trong các hoạt động điều hành .

2. Cơ cấu tổ chức theo chức năng

Nhiệm vụ quản lý cơ cấu được chia ra riêng rẽ để cùng tham gia quản lý. Điều này giúp doanh nghiệp thu hút được các nhà chuyên môn có trình độ cao, kiến thức chuyên sâu vào công tác quản lý; tránh được hiện tượng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ phận và tư đó nâng cao hiệu suất công việc. So với cơ cấu doanh nghiệp đường thẳng, cấu trúc này giúp bộ máy tổ chức hoạt động linh hoạt hơn và giảm tải áp lực công việc của nhà lãnh đạo cao nhất khi công việc điều hành được san sẻ cho các quản lý cấp thấp hơn.

Ngày nay, đây là cấu trúc được sử dụng nhiều nhất trong nhiều công ty và tổ chức, nhưng điều này không có nghĩa là nó là một cấu trúc tốt nhất. Việc bộ máy cấu trúc này có thể vận hành trơn tru hay không sẽ phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ giữa các nhà quản lý và đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ phù hợp để hỗ trợ truyền thông nội bộ.

Cơ cấu tổ chức theo chức năng phù hợp với các công ty nhỏ trong các lĩnh vực như sản xuất, khách sạn, cửa hàng sửa chữa xe cỡ trung bình, phòng khám y tế… nơi các bộ phận, phòng ban trong công ty cần phải phối hợp với nhau chặt chẽ và ít xảy ra xung đột giữa các nhà quản lý.

3. Cơ cấu tổ chức đường thẳng và cố vấn(staff)

Loại cấu trúc tổ chức này thường xuất hiện ở các doanh nghiệp lớn. Các chuyên gia chức năng được bổ sung vào các vị trí và cơ cấu tổ chức nhân viên, được gọi là những staff (cố vấn). Họ chỉ đơn thuần là một nhân viên và thường không có bất kỳ quyền điều khiển nào vượt quá so với những nhà lãnh đạo trực tiếp.

Trong quá trình ra quyết định, nhà lãnh đạo sẽ nắm toàn quyền và chịu hoàn toàn trách nhiệm về những quyết định của mình, tuy nhiên khi gặp các vấn đề phức tạp họ sẽ tham khảo ý kiến của các cố vấn. Hoặc đôi khi trong một số tình huống, họ cũng là người đại diện cho lãnh đạo thay mặt đứng ra giải quyết công việc.

Các nhà cố vấn cá nhân có thể là một trợ lý cá nhân hoặc một cố vấn tương ứng với dây chuyền điều hành ở mọi cấp độ. Chức năng chính của người này là hỗ trợ và tư vấn cho người điều hành cũng như thực hiện bất kỳ công việc nào khác được giao.

Trong môi trường kinh doanh, các nhân viên staff cá nhân điển hình có thể kể đến là các thư ký riêng, người có thể giữ sổ sách cá nhân của các nhà lãnh đạo, hỗ trợ mua sắm đồ đạc cần thiết và sắp xếp các cuộc hẹn. Họ là những người xử lý các việc chi tiết của cuộc sống hàng ngày cho các nhà lãnh đạo, những người siêu bận rộn.

Dù là một nhà lãnh đạo của doanh nghiệp lớn cũng không thể tự mình biết hết được khối lượng kiến thức chuyên môn đa dạng, cần thiết trong môi trường kinh doanh ngày nay. Đó là lý do họ đến cần những cố vấn chuyên môn có kiến ​​thức sâu sắc trong các lĩnh vực cụ thể. Đây là những người phụ trách giúp cho các nhà lãnh đạo trong các lĩnh vực chuyên biệt như: kế toán, pháp lý, kỹ thuật…

Nhìn chung, các cố vấn chuyên môn sẽ phài đảm nhiệm ít nhất mộ trong ba nhiệm vụ:

Tư vấn và đưa ra lời khuyên ở lĩnh vực chuyên môn để hỗ trợ nhà lãnh đạo trong các trường hợp cần thiết.

Cung cấp một dịch vụ trong lĩnh vực chuyên môn hữu ích cho toàn bộ doanh nghiệp. Ví dụ như: phân tích&thống kế, pháp lý, bảo hiểm….

Thay mặt lãnh đạo giám sát, kiểm soát chất lượng và thực thi các tiêu chuẩn đã đề ra

Bất kỳ quyết định nào ảnh hưởng đến hệ thống các phòng ban phải được đưa ra bởi nhà lãnh đạo cao nhất. Việc này không thể được giao cho người đứng đầu một nhóm nhân viên chuyên môn hoặc cho một trưởng phòng nào đó, vì những người đứng đầu bộ phận khác sẽ thấy khó chịu trước việc một người không phải cấp trên ra lệnh cho họ.

Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo cấp cao dù có ba đầu sáu tay cũng không thể ra quyết định và giải quyết hết tất cả các vấn đề của một doanh nghiệp lớn. Các cố vấn thông thường có nhiệm vụ hỗ trợ và giúp những người đứng đầu tiết kiệm thời gian giải quyết công việc. Có một số nhiệm vụ mà nhà lãnh đạo không thể ủy thác 100% cho cố vấn của mình, nhưng lại có thể chia nhỏ và ủy nhiệm theo phần.

Một cố vấn thông thường sẽ được biết đến với danh nghĩa “trợ lý” của nhà lãnh đạo cấp cao. Họ là một trong những người thân cận nhất với nhà lãnh đạo và có khả năng xuất sắc trong nhiều lĩnh vực.

4. Cơ cấu tổ chức dự án

Ban giám đốc sẽ cử các nhân sự tới từ những bộ phận chức năng khác nhau như sản xuất, kỹ thuật, marketing, nhân sự… tới làm việc chung dưới sự lãnh đạo của một giám đốc dự án tạm thời. Sau khi hoàn thành dự án, các nhân sự này sẽ quay về nhiệm vụ cũ hoặc chuyển sang dự án mới

Việc thành lập một cơ cấu tổ chức cho dự án giúp khắc phục nhiều điểm thiếu sót khi triển khai dự án như thiếu sự thống nhất của việc điều hành, thiếu phối hợp giữa các phòng ban hay trì hoãn làm chậm tiến độ.

Một cơ cấu tổ chức ma trận, còn được gọi là “hệ thống đa lệnh ” vì có hai chuỗi lệnh. Một chuỗi điều hành mang tính chức năng trong đó quyền hành được phân chia theo chiều dọc. Chuỗi thứ hai nằm ngang phân nhóm và được dẫn dắt bởi quản lý dự án.

Sự tuyệt vời của cơ cấu tổ chức ma trận là nó có thể mang tới sự linh hoạt vì có hai chuỗi lệnh thay vì chỉ một. Một dự án duy nhất được giám sát bởi nhiều nhân sự chuyên môn khác nhau cũng giúp gia tăng sự tương tác và dễ dàng chia sẻ tài nguyên công việc với nhau hơn.

Tuy nhiên, điểm trừ của cơ cấu ma trận thì cũng được thể hiện rõ ở ngay tên gọi. Đó là phức tạp. Càng nhiều lớp ma trận thì nhân viên càng bối rối hơn trong việc họ phải báo cáo cho ai. Sự nhập nhằng này có thể gây ra những mâu thuẫn nội bộ, làm chậm tiến độ công việc và gây khó khăn hơn trong việc quy kết trách nhiệm khi có sự cố xảy đến.

🎁Ưu đãi đặc biệt của kỳ tuyển sinh mới: Tặng ngay MacBook Air M1 256GB trị giá 999$ cho 05 học viên viên đầu tiên hoàn thành thi tuyển và nhập học MBA Andrews từ 01/12 đến 31/12/2020.

Xây Dựng “Thế Trận Lòng Dân” Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc

“THẾ TRẬN LÒNG DÂN” LÀ MỘT TRONG NHỮNG MẠCH NGUỒN SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA QUỐC GIA – DÂN TỘC

Yếu tố “lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với nhau; trong đó, “lòng dân” bao giờ cũng tồn tại một cách khách quan và là cơ sở, nền tảng chủ yếu để tạo nên “thế trận lòng dân”. “Thế trận lòng dân” được xây dựng vững chắc sẽ có tác động tích cực, làm cho yếu tố “lòng dân” phát triển hài hòa, lành mạnh và hướng tới thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Song, trên thực tế, yếu tố “lòng dân” không tự nhiên trở thành “thế trận lòng dân” và “thế trận lòng dân” có thể vững ở thời điểm này, giai đoạn này nhưng cũng có thể không vững ở thời điểm khác, giai đoạn khác và không phải cứ xây dựng vững mạnh rồi là xong, mà phải thường xuyên được củng cố trong hoạt động thực tiễn thông qua đường lối, chủ trương, chính sách hợp lòng dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Đồng thời, thế trận này phải được đặt vào trạng thái được triển khai thống nhất trong các tầng lớp dân cư, trong mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội. Ngoài ra, môi trường chính trị – xã hội cũng là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự hình thành và phát triển của “thế trận lòng dân”.

Xuyên suốt chiều dài lịch sử đất nước, không khó để nhận thấy việc “quy tụ lòng người” là bài học kinh nghiệm quý báu đóng vai trò quyết định đến thắng lợi trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc.

“Thế trận lòng dân” là loại hình thế trận đặc biệt, là một trong những mạch nguồn sức mạnh nội sinh của quốc gia – dân tộc và được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Đó là nền tảng, tạo nên sức mạnh tổng hợp, quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia, dân tộc, là thành lũy kiên cố nhất, vững chắc nhất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó còn là cội nguồn sức mạnh sâu xa xuất phát từ bản sắc văn hóa Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc.

Ngay từ buổi đầu của lịch sử, lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc luôn là chất kết dính muôn người và trở thành nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Đây chính là cơ sở, nền tảng và cội nguồn sâu xa để dân tộc ta huy động sức mạnh tiềm tàng, giành độc lập tự chủ sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Dưới thời nhà Trần, tư tưởng “chúng chí thành thành” và chủ trương “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” là nhân tố quyết định trong 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, là nét nổi bật về nghệ thuật đánh giặc giữ nước mang đậm tính minh triết của dân tộc ta.

Trái lại, dưới thời nhà Hồ, lòng dân ly tán, trước họa xâm lăng mà trăm vạn người trăm vạn lòng thì dù có quân đông tướng giỏi, thành cao hào sâu, nhưng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng vẫn phải thốt lên “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Và đúng là “dân không theo” nên công cuộc giữ nước của nhà Hồ khi đó thất bại.

Bằng mưu lược và trí tuệ của mình, Nguyễn Trãi đã khái quát cô đọng về sức mạnh của nhân dân, “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, “lật thuyền mới biết sức dân như nước”, có dân là có tất cả, không được lòng dân là mất tất cả, để rút ra vấn đề căn cốt nhất, đó là “việc nhân nghĩa cốt để yên dân”. Nhờ đó, khởi nghĩa Lam Sơn đã nhanh chóng phát triển thành biển lửa kháng chiến của cả dân tộc và giành thắng lợi.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc”, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Người khẳng định: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí”( . Nhân hòa ở đây thực chất là tinh thần hòa hợp, đồng lòng của toàn dân, biểu hiện tập trung ở lòng yêu nước, sự đoàn kết toàn dân “muôn người như một”, được ví như “bức thành đồng” vững chắc, vô địch mà không có đội quân xâm lăng nào có thể công phá được. Đó cũng chính là sức mạnh của cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí, quyết tâm đánh giặc giữ nước. Không chỉ vậy, Đảng ta còn chú trọng giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân, sáng tạo nhiều hình thức tổ chức, tập hợp, thu hút đông đảo quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng, làm cho sự đoàn kết, đồng lòng ấy không ngừng được tăng cường vững chắc, được bổ sung những yếu tố mới, độc đáo, hiệu quả, góp phần quan trọng, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đến Đại hội lần thứ X, Đảng lần đầu tiên sử dụng cụm từ “thế trận lòng dân” và xác định: Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt. Bổ sung và phát triển quan điểm này, Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc”. Để củng cố và tăng cường hơn nữa “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới, Đại hội XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”( ( trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”; đã ban hành nhiều chính sách sát thực tiễn, hợp lòng dân, đáp ứng nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước. Đồng thời, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh và bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; thực hiện mỗi bước phát triển kinh tế là một bước cải thiện đời sống nhân dân; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng; tạo việc làm cho người lao động, miễn giảm thuế nông nghiệp nhằm “an dân”, “dưỡng dân”. Nhờ đó, diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân “thay da đổi thịt”, mọi người dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như ước nguyện của Bác Hồ.

Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi, đồng bộ hệ thống pháp luật, Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; thực thi quyền con người, quyền công dân. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cải cách hành chính… được tăng cường và có bước chuyển biến tích cực. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thường xuyên được chú trọng, góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân; trong đó, người Việt Nam ở nước ngoài cũng cùng chung tay, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan, chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân” còn có mặt hạn chế. Lợi dụng những yếu kém trong quản lý, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá, làm xuất hiện những sai lệch về chuẩn mực giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống, trái với truyền thống của dân tộc và giá trị con người Việt Nam, ảnh hưởng đến sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, làm cho một bộ phận nhân dân thiếu niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng “thế trận lòng dân”. Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra cho thấy, xây dựng “thế trận lòng dân” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần phải tăng cường đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương.

TIẾP TỤC XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” VỮNG MẠNH

Trong tình hình hiện nay, để xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phải thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp sau:

thường xuyên quan tâm, chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân bằng hệ thống các chính sách cụ thể, để nhân dân được ấm no, yên tâm và tin tưởng vào con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương cần tham gia, phối hợp chặt chẽ để tập trung phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống để nhân dân ổn định cuộc sống, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn. Quá trình thực hiện, cần có các cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn bằng những chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh cụ thể, với khai thác tiềm năng, thế mạnh tại chỗ; đồng thời, tạo điều kiện cho các địa phương và nhân dân tiếp cận nguồn vốn và ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội vì mục tiêu phát triển con người.

Tiếp tục đẩy mạnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài; chăm lo sức khỏe cho nhân dân; chú trọng giải quyết các vấn đề bất bình đẳng về lợi ích, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, miền; thường xuyên quan tâm giải quyết tốt những bức xúc, những vấn đề nổi cộm trong đời sống của nhân dân. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, chăm lo bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; có cơ chế phù hợp để nhân dân được tham gia bàn bạc, giám sát, phản biện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sự đồng thuận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tư tưởng và hành động của toàn dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của “thế trận lòng dân”; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có cả những thuận lợi và khó khăn, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, càng phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để nhân dân thấy rõ thời cơ và thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong củng cố “thế trận lòng dân” nói riêng. Phải làm cho “ý Đảng, lòng dân” về “thế trận lòng dân” thấm sâu vào mỗi người dân, trở thành tư tưởng chủ đạo trong xây dựng “thế trận lòng dân” thời kỳ mới.

Cấp ủy, chính quyền và cơ quan chức năng các cấp cần thường xuyên nắm chắc tình hình, đặc điểm dân cư và yêu cầu xây dựng “thế trận lòng dân” trên từng địa bàn để có biện pháp tiến hành phù hợp, hiệu quả. Quá trình thực hiện, cần chú trọng đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề gắn với các sự kiện chính trị của đất nước; phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, phương tiện thông tin, truyền thông và thiết chế văn hóa ở cơ sở. Đồng thời, cần đẩy mạnh phong trào thi đua nhằm tạo ra các điển hình tiên tiến về xây dựng “thế trận lòng dân”; từ đó, tổ chức học tập, rút kinh nghiệm và nhân rộng trên phạm vi cả nước.

chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân. Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gắn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; làm cho từng tổ chức đảng và đảng viên thực sự trong sạch, vững mạnh, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo xây dựng “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thiết thực xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham ô, tham nhũng theo hướng tích cực phòng ngừa là chủ yếu, kết hợp với xử lý nghiêm các hành vi vi phạm cũng như các biểu hiện dung túng, bao che hoặc ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí dưới mọi hình thức. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với tự tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên; với coi trọng công tác quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên theo đúng quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước. Đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình thực chất kết hợp với mở rộng dân chủ, giữ vững kỷ cương, công khai minh bạch mọi vấn đề đối với từng cá nhân, tổ chức, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao như quản lý và sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, ngân hàng, tài chính, xây dựng cơ bản, mua sắm công,… đảm bảo đủ sức phòng ngừa, răn đe, trừng trị để các đối tượng không thể và không dám tham nhũng.

tăng cường hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng, chống và làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương, là giải pháp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh. Theo đó, cần chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng về “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; đồng thời, luôn kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của Đảng và Nhà nước.

Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động và đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”. Gắn nhiệm vụ này với đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo điều kiện để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Thiếu tướng, PGS. TS. Nguyễn Văn ThếPhó Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, H, 2011, t.5, tr.594.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, H, 2011, tr.224-235.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, H, 2016, tr.149.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào? trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!