Đề Xuất 12/2022 # Trường Học Thông Minh: Nguồn Gốc, Định Nghĩa Và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam / 2023 # Top 13 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # Trường Học Thông Minh: Nguồn Gốc, Định Nghĩa Và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Trường Học Thông Minh: Nguồn Gốc, Định Nghĩa Và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Mở đầu

Giáo dục thông minh là một xu thế mới của giáo dục thế giới. Nhằm xây dựng quốc gia thông minh, nhiều quốc gia đã hướng đến xây dựng nền giáo dục thông minh để đào tạo các thế hệ công dân thông minh. Là mô hình trường học tiên tiến, trường học thông minh (THTM) tạo cơ hội và điều kiện để nhà trường tăng cường năng lực thích ứng, phát triển cân bằng trước những biến đổi nhanh chóng của xã hội nói chung; người học được khám phá và kiến tạo tri thức, phát triển năng lực tự chủ và thích ứng, tư duy sáng tạo thông qua những hướng dẫn sư phạm có tính cá biệt hóa, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu cá nhân [1]; tăng tầm quan trọng, độ tin cậy, tăng tính hữu ích, tính linh hoạt của nội dung chương trình giảng dạy. Việc ứng dụng công nghệ thông minh cho giáo dục nhà trường đã định hình lại cảnh quan giáo dục bằng cách chuyển đổi nội dung và phương thức tiếp nhận/cung cấp học tập cũng như cách thức các hướng dẫn, hỗ trợ, tổ chức, quản lí nhà trường [2].

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. về nguồn gốc của mô hình trường học thông minh

Khi xem xét nguồn gốc THTM, các nghiên cứu quốc tế thường đề cập đến những yêu cầu chuyển đổi mô hình nhà trường là yếu tố cần thiết để giáo dục nhà trường theo kịp những thay đổi mới nhất của kỉ nguyên tin học và công nghệ, đáp ứng yêu cầu đào tạo công dân cho thời đại mới.

Sự ra đời của Internet và ứng dụng ngày càng rộng rãi của Internet, sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập nói chung đã làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội. Cách mạng công nghiệp 4.0 với sự hợp nhất của các công nghệ, sự xuất hiện và ứng dụng mạnh mẽ của “trí tuệ nhân tạo”, Internet kết nối vạn vật, hệ thống kết hợp thực – ảo,… làm mọi vật trong thế giới trong đó có con người có thể kết nối, tác động với nhau bằng các tương tác thông minh. Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập tất yếu về kinh tế, văn hóa, giáo dục,. giữa các quốc gia tạo ra một thế giới phang dần.

Sự xâm nhập và ảnh hưởng của các tiến bộ công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập làm thay đổi nhận thức và vai trò của giáo dục, của nhà trường. Giáo dục phải trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám, giá trị cao. Nhà trường phải tạo ra môi trường giáo dục mở, hiện đại để đào tạo các thế hệ công dân thông minh. Sự thay đổi nhu cầu, hứng thú, phong cách học tập và phương thức hoạt động của người học đặt ra yêu cầu tất yếu cho sự thay đổi của giáo dục nhà trường. Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) ảnh hưởng, thay đổi phương thức giảng dạy và học tập thông qua tiềm năng của mình như là một nguồn tri thức, một phương tiện truyền tải nội dung, một phương tiện tương tác và đối thoại [3]. CNNT-TT làm thay đổi các yếu tố của chương trình giảng dạy và kiểu chương trình chuẩn bị nền tảng thiết yếu cho người học trước yêu cầu của thế giới số, kỉ nguyên tin học và công nghệ [1]. Cách tiếp cận coi THTM là đòi hỏi tất yếu để nhà trường thích nghi với những thay đổi, và THTM bao gồm sự pha trộn của công nghệ thông tin và chương trình giảng dạy mang lại những thay đổi trong quá trình dạy học. Mục tiêu là chuẩn bị nền tảng cho học sinh, kích hoạt các năng lực cá nhân để tăng trải nghiệm của họ và mở rộng tính độc lập hơn là truyền dạy cho họ những kiến thức cụ thể [2].

Trong xu thế đó, THTM được triển khai ở nhiều nước phát triển như là một sự cách tân, hiện đại hóa trường học và đã lan tỏa đến nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Ở New York, từ những năm 1990, công nghệ trong lớp học đã được quan tâm, và các chương trình thông minh trường học nhấn mạnh vai trò tích hợp công nghệ vào lớp học. Năm 1997, Malaysia lần đầu tiên thực hiện dự án giáo dục thông minh, trong đó có kế hoạch xây dựng THTM, được hỗ trợ bởi chính phủ để chuẩn bị lực lượng lao động đáp ứng những thách thức của thế kỉ XXI. Singapore triển khai Kế hoạch tổng thể của quốc gia thông minh từ năm 2006, xác định giáo dục thông minh là phần quan trọng để đạt mục tiêu quốc gia. Hàn Quốc có dự án giáo dục SMART với nhiệm vụ là cải cách hệ thống giáo dục và cải thiện cơ sở hạ tầng giáo dục (Choi & Lee, 2012). Ở Australia, thông qua hợp tác với IBM (2012), một hệ thống giáo dục thông minh được thiết kế cho phép mối liên hệ đa chiều cho người học và giữa các trường học….

Như vậy, yêu cầu đào tạo công dân thông minh đáp ứng yêu cầu mới của xã hội cùng với sự phát triển và ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ, mà trước hết là CNTT-TT vào mọi mặt của đời sống xã hội tạo ra những thay đổi của nhà trường. THTM được kì vọng sẽ đáp ứng mong muốn của xã hội và các quốc gia trong đào tạo công dân tương lai, xây dựng một môi trường giáo dục mở cho người học.

2.2. Định nghĩa và đặc điểm của trường học thông minh

2.2.1. Định nghĩa trường học thông minh

Khi nhấn mạnh năng lực thích ứng với công nghệ hiện đại, ở New York, THTM được xem là mô hình trường học triển khai giáo dục thông minh gắn với các dạng thức hiện đại hóa cơ sở vật chất và tận dụng tối đa công nghệ hướng tới một nền giáo dục chất lượng cao [4].

Ở Phần Lan, THTM là “kiểu trường học linh hoạt theo đặc điểm và khả năng của học sinh” [5]. Tính chất thông minh trường học hướng đến mục đích sử dụng hiệu quả các giải pháp học tập, thúc đẩy người học học tập liên tục và có hiệu quả.

Khi coi THTM là thành phần của hệ thống giáo dục thông minh dựa trên nền tảng thành tựu ICT, “THTM là một cơ sở giáo dục thông qua các quy trình giảng dạy và thực hành quản lí giáo dục nhằm thúc đẩy những thay đổi có tính hệ thống, giúp người học khắc phục được những thách thức đặt ra từ kỉ nguyên công nghệ thông tin” [6; tr 3]. THTM được nhấn mạnh là mô hình mà các quá trình và hoạt động của nhà trường được tối ưu hóa nhờ sử dụng và khuyến khích, thúc đẩy việc sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại. Nhà trường bên cạnh việc tập trung kích thích suy nghĩ, sáng tạo và chăm sóc học sinh còn quan tâm đến việc xem xét những khác biệt cá nhân và phong cách học tập của cá nhân người học [2].

Mặc dù các tiếp cận để định nghĩa THTM ở các góc độ nghiên cứu có sự khác nhau nhất định. Tuy nhiên, nội dung nổi bật được thống nhất cho thấy: THTMlà trường học vận dụng linh hoạt, hiệu quả các nguồn lực trên nền tảng ứng dụng tiến bộ công nghệ kĩ thuật số nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong đào tạo thế hệ trẻ.

2.2.2. Đặc điểm trường học thông minh

Trong Báo cáo của Uy ban THTM New York năm 2014, các đặc điểm đưa ra cho SMART School là: 1) Cung cấp và mở rộng học tập trực tuyến; 2) Sử dung công nghệ biến đổi để cung cấp các hướng dẫn phù hợp với khả năng và nhu cầu cụ thể của từng học sinh; 3) Kết nối mọi trường học với băng thông rộng, tốc độ cao bằng cách sử dụng các tiến bộ và ứng dụng công nghệ; 4) Mở rộng kết nối lớp học với các nguồn mở ngoài nhà trường; 5) Đảm bảo các thành viên của tập thể sư phạm hội nhập thành công công nghệ vào giảng dạy và học tập để phát triển liên tục nghề nghiệp; 6) Tập trung vào các kĩ năng STEM trong dạy học và giáo dục; 7) Lãnh đạo và quản lí hiệu quả dựa trên nền tảng công nghệ và năng lực công nghệ [4].

Ở Phần Lan, những đặc điểm của THTM được đề cập là: 1) Tăng cường cơ hội trải nghiệm học tập và ứng dụng trong học tập; 2) Dễ dàng và thuận lợi nhất trong tiếp nhận những hướng dẫn và phản hồi sư phạm; 3) Thông tin về kết quả học tập toàn diện và nhanh chóng; 4) Nâng cao và cải thiện liên tục chất lượng và hiệu quả học tập; 5) Cả giáo viên và người học đều có cơ hội phát triển liên tục [5].

Các trường học ở Malaysia đã trải qua nhiều bước để đáp ứng mục tiêu của THTM. Hiện nay, THTM ở đây không chỉ dừng lại ở việc học CNTT-TT và sử dụng CNTT-TT như một tiện ích trong dạy học. THTM ở đây đang thực hiện giải pháp tổng thể: chương trình học thông minh, hướng dẫn và dạy học thông minh, quản lí THTM, thiết lập và duy trì quan hệ đối ngoại thông minh. Công nghệ là yếu tố kết nối, tạo nên chất tiên tiến của các nội dung đó [2], [6].

Mặc dù có sự khác nhau nhưng những mô tả về THTM được nhấn mạnh ở mấy nội dung:

– Mục tiêu của THTM nhằm chuẩn bị và thúc đẩy lực lượng lao động – chủ nhân của thế kỉ XXI có những kiến thức và kĩ năng để đáp ứng nhu cầu và thách thức của xã hội công nghệ hiện đại;

- Người học là trung tâm, được cung cấp các dịch vụ học tập hiện đại và chất lượng; được học phù hợp theo nhu cầu và tốc độ, đặc điểm và hoàn cảnh cá nhân;

– Tính chất thông minh của nhà trường hướng tới tính linh hoạt, thích ứng, hiện đại và phát triển liên tục - cân bằng động với sự phát triển của thế giới công nghệ hiện đại;

– THTM cung cấp môi trường giáo dục thông minh cho người học;

– Công nghệ thông minh đóng vai trò quan trọng để xây dựng và duy trì môi trường giáo dục thông minh đó. Công nghệ gồm phần cứng và phần mềm. Trong đó, phần cứng phần lớn là các thiết bị giúp người học học hiệu quả và dễ dàng, phần mềm đề cập đến tính linh hoạt và thích ứng với các công nghệ học tập thích ứng như điện toán đám mây, big data, học tập phân tích, công cụ thích ứng, … tạo nên tính hấp dẫn, mở rộng cơ hội phát triển và cung cấp các dịch vụ của nhà trường.

Các đặc điểm của THTM có thể được hiểu rõ hơn khi được mô tả qua so sánh với đặc điểm các trường học phổ biến hiện nay (xem bảng):

Bảng. So sánh đặc điểm trường học thông minh và trường học bình thường (phổ biến hiện nay)

Tiêu chí so sánh

Trường học bình thường (phổ biến hiện nay)

Trường học thông minh

Chiến lược phát triển

Chưa có mục tiêu phát triển THTM

Mục tiêu phát triển thành THTM

Chương trình giảng dạy

– Đóng khung, thiếu linh hoạt; ít có cơ hội giáo dục cá nhân

– Nội dung chưa tập trung vào phát triển các kĩ năng STEM

– Mở, linh hoạt, lấy sự phát triển người học làm trung tâm; ưu thế giáo dục phù hợp từng cá nhân người học.

– Nội dung tập trung các kĩ năng STEM, mở rộng và không giới hạn.

Lãnh đạo và quản lí

– Mang tính hành chính cao.

– Ít hoặc chưa có ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động quản lí.

– Ít hoặc chưa có điều kiện hỗ trợ GV, HS tiếp cận và sử dụng công nghệ thông minh.

– Phát triển năng lực lãnh đạo, quản lí trường học truyền thống.

– Trao quyền và khuyến khích tự chủ.

– Quản lí hiệu quả dựa trên nền tảng các ứng dụng các công nghệ hiện đại.

– Hỗ trợ tích cực giáo viên, học sinh tiếp cận và sử dụng tối ưu các nguồn lực, công nghệ thông minh.

– Phát triển năng lực lãnh đạo, quản lí môi trường giáo dục thông minh.

Giáo viên

– Chưa có cam kết giảng dạy thông minh.

– Ít hoặc chưa có các phần mềm, thiết bị công nghệ thông minh hỗ trợ dạy học.

– Quản lí, giáo dục học sinh theo phương thức truyền thống.

– Phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm trong môi trường lớp học truyền thống.

– Cam kết về chiến lược giảng dạy thông minh phù hợp với từng cá nhân người học.

– Ứng dụng đa dạng các phần mềm, các thiết bị công nghệ thông minh trong dạy học.

– Thực hiện vai trò là nhà quản lí, nhà giáo dục, nhà tư vấn dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ hiện đại; đề cao vai trò quản lí môi trường giáo dục.

– Bên cạnh năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, chú trọng phát triển năng lực CNTT-TT, năng lực tư vấn, hỗ trợ học tập thông minh.

Người học

– Chưa phát triển học tập tự định hướng

– Học theo hướng dẫn và tiến độ bài học của giáo viên theo chương trình chung.

– Ít hoặc không có sự hỗ trợ, không bắt buộc sử dụng công nghệ đa phương tiện trong học tập.

– Cơ hội học tập hạn chế

– Học tập tự định hướng phù hợp năng lực và đặc điểm của cá nhân người học.

– Tự tiếp cận với các tài liệu, tài nguyên học tập và tự học.

– Sử dụng các công nghệ đa phương tiện là bắt buộc để học tập.

– Cơ hội học tập mở rộng.

Đánh giá và giám sát trường học

– Đánh giá tập trung một số khía cạnh nổi bật tương ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường.

– Giám sát chưa đáp ứng tiêu chí toàn diện, đa chiều, công khai

– Đánh giá khách quan và toàn diện trên nền tảng công nghệ thông minh.

– Giám sát đa chiều, toàn diện, công khai. Thông tin giám sát là một tiêu chí đánh giá nhà trường

Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục

Ít hoặc chưa có các thiết bị công nghệ thông minh

– Các thiết bị công nghệ thông minh đa dạng, đồng bộ dựa trên nền tảng ICT (bảng thông minh, bục giảng thông minh, máy chiếu, máy tính bảng,..); hệ thống camera giám sát; hệ thống công nghệ giám sát trường học, kết nối Internet băng thông rộng…

– Cơ sở dữ liệu, tài nguyên học tập mở, phong phú

2.3. Những bài học kinh nghiệm để phát triển trường học thông minh ở Việt Nam hiện nay

Việt Nam có nhiều cơ hội để triển khai mô hình THTM. Hiện nay, nhiều tỉnh đã xây dựng đề án hoặc đang thí điểm triển khai mô hình này như: Thanh Hóa, TP. Hồ Chí Minh, Thái Bình, Hải Phòng… Một trong những địa phương đã thực hiện chuyển đổi theo hướng THTM thành công là thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh với mô hình nhà trường có lớp học thông minh. Mô hình này được thí điểm đầu tiên tại Trường Tiểu học Vĩnh Khê từ năm học 2003-2004. Đến nay, huyện Đông Triều có 79/79 trường học (từ trường mầm non đến trường trung học phổ thông) có lớp học thông minh, mỗi trường có ít nhất là 1 lớp học thông minh. Những khó khăn trong quá trình chuyển đổi sang mô hình trường học mới với những thách thức về ứng dụng công nghệ hiện đại là điều không thể tránh khỏi trong điều kiện thực tế Việt Nam hiện nay. Từ những nghiên cứu về THTM và thực tiễn thành công chuyển đổi, phát triển THTM của một số nước trên thế giới, các bài học kinh nghiệm hữu ích định hướng cho Việt Nam là:

2.3.1. Xây dựng chiến lược phát triển mô hình trường học thông minh ở Việt Nam

Chiến lược phát triển THTM là căn cứ quan trọng để định hướng hệ thống giáo dục và cộng đồng quan tâm tích cực đối với mô hình này. Đó là cơ sở để có sự đầu tư về tài chính, chuẩn bị các điều kiện sư phạm cần thiết cho THTM. Từ đó, thống nhất ý chí, niềm tin, định hướng và thúc đẩy hành vi cho các nhà quản lí, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và cộng đồng đối với mô hình THTM. Nghiên cứu THTM ở Malaysia cho thấy, phát triển THTM là chiến lược cấp quốc gia đã huy động được sức mạnh tổng lực để thành công trong triển khai mô hình THTM vào thực tiễn; ở New Y ork là chiến lược của giáo dục bang New York từ đó có những chính sách tài chính công và phân chia trách nhiệm giữa chính quyền, các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục với các trường rất rõ ràng. Do vậy, để phát triển mô hình THTM ở Việt Nam, cần có sự đồng thuận, vào cuộc của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương để cùng với ngành giáo dục hiện thực hóa mô hình trường học tiên tiến này.

2.3.2. Triển khai các nghiên cứu lí luận và thực tiễn về phát triển trường học thông minh trong điều kiện Việt Nam hiện nay

Để làm được điều này, các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục giữ vai trò quan trọng. Các nghiên cứu về THTM trên phương diện lí luận và thực tiễn cần được đầu tư và triển khai nhằm xác định đúng đắn bản chất, đặc điểm, yêu cầu để phát triển THTM. Những nghiên cứu, phân tích về mô hình trường học hiện tại, xác định khoảng cách giữa điều kiện và trình độ của Việt Nam so với yêu cầu, đặc điểm của THTM, từ đó tìm kiếm các con đường, phương thức thực hiện khả thi cho Việt Nam.

2.3.3. Xây dựng và thiết kế chưong trình giảng dạy thông minh

Nhằm tạo ra môi trường tương tác thông minh cho người học, THTM cần có chương trình giảng dạy thông minh có tính tổ hợp cao, linh hoạt và có tính mở. Nội dung chương trình đáp ứng yêu cầu cung cấp kiến thức nền tảng, phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu của người lao động trong xã hội hiện đại với bối cảnh ứng dụng sâu rộng công nghệ hiện đại. Chương trình phải được xây dựng theo hướng làm tăng hứng thú học tập, tăng khả năng học tập cho người học, tăng tính hiệu quả của chương trình. Trên cơ sở đó, THTM tạo ra môi trường học tập tích cực, người học có thể học với các hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với nhu cầu và tốc độ cá nhân.

2.3.4. Chuân bị chu đáo đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của trường học thông minh

Đội ngũ giáo viên thông minh là yếu tố quyết định thành công của THTM. Vấn đề đào tạo và phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu THTM được đặt ra một cách tất yếu. Ở Malaysia, New York, Phần Lan đã tiến hành tập huấn, bồi dưỡng và phát triển năng lực giáo viên theo nhiều giai đoạn kế tiếp có tính đến đặc điểm về trình độ giáo viên, văn hóa bản địa,. Cần thiết phải có đánh giá thực trạng giáo viên về số lượng, chất lượng theo các tiêu chuẩn, tiêu chí giáo viên trong THTM; xác định nhu cầu và phương thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam. Để dạy học hiệu quả trong lớp học thông minh, giáo viên cần phải: có chuyên môn vững vàng, có năng lực sư phạm hiện đại, năng lực công nghệ để sử dụng, phối hợp các thiết bị thông minh trong giảng dạy và hỗ trợ học sinh học tập. Bên cạnh đó, giáo viên phải xây dựng các chiến lược giảng dạy và hỗ trợ học tập phù hợp với từng đối tượng học sinh để các em có thể được học theo tốc độ và nhu cầu phù hợp với các hình thức học tập rộng mở. Giáo viên cần có phương pháp giảng dạy đa dạng, ưu tiên các phương pháp dạy học tăng tính trải nghiệm, khám phá cho học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên cần có ý tưởng sáng tạo và luôn khuyến khích học sinh sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có kĩ năng cộng tác và truyền thông tốt. Đặc biệt là có khả năng thúc đẩy và thu hút học sinh học hỏi, khám phá và sáng tạo. Và như thế, giáo viên phải có ý thức và không ngừng phát triển nghề nghiệp liên tục.

2.3.5. Phát triển lãnh đạo, quản lí trường học thông minh

Lãnh đạo và quản lí nhà trường có vai trò quan trọng trong việc truyền cảm hứng, thực hiện chia sẻ tầm nhìn và dẫn dắt, hỗ trợ cho các thành viên nhà trường chuyển đổi từ sư phạm truyền thống sang sư phạm thông minh. Thực hiện chuyển đổi mô hình trường học đòi hỏi lãnh đạo, quản lí nhà trường phải công nhận và sử dụng “sức mạnh của công nghệ” để nâng cao hiệu quả học tập của học sinh; đồng thời “sử dụng thời gian, tài chính và nhân viên hiệu quả hơn”. Bên cạnh đó, cần làm rõ mô hình nhân cách của lãnh đạo, quản lí trường học thông minh; lập kế hoạch trong đó xác định cụ thể mục tiêu và lộ trình cụ thể cho đào tạo và bồi dưỡng lãnh đạo, quản lí THTM (Schrum và Levin, 2009). Lãnh đạo, quản lí THTM cần phát triển hệ thống năng lực như: 1) Năng lực lập kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường theo các giai đoạn của mô hình THTM; 2) Năng lực lãnh đạo, điều hành giáo viên tiếp cận với các nguồn lực để phát triển liên tục nghề nghiệp; 3) Năng lực kết nối và tạo lập mối liên hệ giữa các thành viên, tổ chức trong và ngoài nhà trường; 4) Năng lực hỗ trợ và cố vấn cho giáo viên, cán bộ nhà trường; 5) Năng lực thích ứng và sử dụng công nghệ hiện đại trong quản lí và lãnh đạo nhà trường; 6) Năng lực huy động hiệu quả các nguồn lực để phát triển THTM; 7) Năng lực phân tích và giải quyết vấn đề, hóa giải kịp thời những khó khăn phát sinh trong hoạt động của nhà trường; 8) Năng lực chia sẻ, tạo động lực tham gia hoạt động sư phạm thông minh cho các thành viên nhà trường. Các cán bộ lãnh đạo và quản lí nhà trường cần có nhận thức đúng đắn và xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng cho mình một cách phù hợp.

2.3.6. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông minh

Đây là các yếu tố điều kiện quan trọng, ảnh hưởng đến việc triển khai hoạt động sư phạm thông minh, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy của giáo viên, học sinh cũng như công tác quản lí các nhà trường. Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông minh phục vụ hoạt động sư phạm thông minh của nhà trường cần được nghiên cứu, kế hoạch hóa hoạt động đầu tư, xác định và lựa chọn các hạng mục đầu tư để đảm bảo các yếu tố đồng bộ, chất lượng, hiệu quả, bền vững. Hệ thống máy tính có nối mạng Internet, bảng tương tác, bục giảng thông minh, máy tính bảng cá nhân cho học sinh, hệ thống băng thông rộng chất lượng cao, hệ thống các phần mềm dạy và học, hệ thống các phần mềm quản lí, hệ thống camera giám sát và điều khiển các hoạt động của nhà trường, … là những hạng mục cần được xem xét để đầu tư cho nhà trường.

2.3.7. Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển trường học thông minh

Chính sách hỗ trợ phát triển THTM là hữu ích cho quá trình chuyển đổi, duy trì và phát triển bền vững các yếu tố của THTM. Sự chuyển đổi sang THTM là quá trình chuẩn bị về nhân lực, vật lực, tài lực để đáp ứng những yêu cầu mới. Do vậy, cần có những chính sách hỗ trợ về pháp lí, chính sách khuyến khích phát triển THTM; chính sách hỗ trợ phát triển công nghệ nhà trường thông minh, chính sách hỗ trợ phát triển nghề nghiệp cho giáo viên THTM, chính sách huy động cộng đồng hỗ trợ và giám sát THTM, chính sách phát triển quản lí thông minh trường học….

3. Kết luận

THTM là mô hình trường học thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của mọi mặt của đời sống xã hội và đáp ứng những yêu cầu đào tạo công dân thông minh để xây dựng quốc gia thông minh, khởi nghiệp. Chuyển đổi sang THTM là quá trình chuẩn bị kĩ lưỡng và trải qua nhiều giai đoạn tương ứng với những đầu tư về cơ sở hạ tầng, trình độ cán bộ quản lí, trình độ giáo viên nhận thức xã hội và hoàn cảnh KT-XH của địa phương. Các bài học kinh nghiệm rút ra qua nghiên cứu quá trình chuyển đổi của một số quốc gia là những gợi ý, tư liệu tham khảo để phát triển THTM ở Việt Nam hiện nay.

(Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018. Mã so: QG. 18.32)

Tài liệu tham khảo

[1] Alireza Ghonoodia – Ladan Salimi (2011). The study of elements of curriculum in smart schools. Procedia – Social and Behavioral Sciences, Vol. 28, pp. 6871, Published by Elsevier Ltd.

[2] Mohammad Attarana – Norlidah Aliasb & Saedah Sirajc (2012). Learning Culture in a Smart School: A Case Study. International Educational Technology Conference IETC2012, Procedia – Social and Behavioral Sciences, Vol.  64,  pp. 417-423, Published by Elsevier Ltd.

[3] Zhi-Ring Zhu. Ming-Hua Yu, Peter Riezebos (2016). A reasearch framework of smart education. Smart Learning Environments – Springer Open. https://slejournal.springeropen.com/articles/10.1186/s40561-016-0026-2.

[4] Geofrey Canada. Constance Evelyn. Eric Schmidt (2014). New York smart schools Commission Report. https://www.ny.gov/sites/ny.gov/fiies/atoms /files/SmartSchoolsReport.pdf 

[5] Niemi, H.- Kynaslahti, H., – Vahtivuori-Hanninen, S. (2012). Towards ICT in everyday life in Finnish schools: seeking conditions for good practices. Learning, Media and Technology, pp.1-15.

[6] Mohammed Sani Ibrahima – Ahmad Zabidi Abdul Razaka – Husaina Banu Kenayathullaa (2013). Smart Principals and Smart Schools, 13th International Educational Technology Conference. Procedia – Social and Behavioral Sciences, Vol. 103, pp. 826-836, Published by Elsevier Ltd.

[7] Zahra Taleba – Fatemeh Hassanzadehb (2015). Toward Smart School: A Comparison between Smart School and Traditional School for Mathematics Learning. Procedia – Social and Behavioral Sciences, Vol. 171, pp. 90-95, Published by Elsevier Ltd.

Vũ Thị Thúy Hằng, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà NộiNguồn: VJE Tạp chí Giáo dục, Số 432 (Kì 2 – 6/2018)

Vai Trò Của Nhà Nước Trong Chính Sách An Sinh Xã Hội Kinh Nghiệm Và Bài Học Cho Việt Nam / 2023

TÓM TẮT:

Chính sách an sinh xã hội là hệ thống chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách phát triển của một quốc gia. Nhà nước Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội (ASXH) theo hướng sử dụng những công cụ của thị trường để thực hiện các mục tiêu xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam, nhất thiết cần phải học những bài học kinh nghiệm về xây dựng và thực thi chính sách an sinh xã hội của các nước trên thế giới để có những bước áp dụng phù hợp và hiệu quả trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Từ khóa: Chính sách an sinh xã hội, vai trò của Nhà nước, kinh nghiệm.

1. Đặt vấn đề

2. Tiến trình phát triển của khái niệm an sinh xã hội

2.1. Khái niệm an sinh xã hội

Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục và được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau. Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Tuy nhiên, ở mỗi nước lại sử dụng thuật ngữ này với các cách nói khác nhau như: Bảo đảm xã hội, an toàn xã hội, bảo trợ xã hội hoặc an sinh xã hội. Ở Việt Nam, thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đã thống nhất sử dụng thuật ngữ “an sinh xã hội”.

Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “An sinh xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập”. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) quan niệm: “An sinh xã hội là một hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân”. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”. Theo “Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam” cũng đã thống nhất khái niệm về an sinh xã hội (Social Security) là: “Sự bảo vệ của xã hội đối với công dân thông qua các biện pháp công cộng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con…”.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “an sinh xã hội” được xuất hiện vào những năm 1970 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn. Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều hơn và đặc biệt là từ những năm 1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn. ASXH xét với tư cách là một hệ thống theo công ước số 102 “Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội” được hội nghị toàn thể của tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 28/6/1952, bao gồm các chi nhánh:

1. Chăm sóc về y tế: Là việc phải cung cấp những trợ giúp cho người được bảo vệ khi tình trạng của họ cần đến sự chăm sóc y tế có tính chất phòng bệnh hoặc chữa bệnh. Các trường hợp bảo vệ phải bao gồm mọi tình trạng đau ốm vì bất kỳ nguyên nhân nào và cả trong các trường hợp thai nghén, sinh đẻ và các hậu quả tiếp theo.

2. Trợ cấp ốm đau: Là việc bảo đảm tự cung cấp cho những người được bảo vệ khoản trợ cấp do mất khả năng lao động do ốm đau gây ra và dẫn đến gián đoạn thu nhập.

3. Trợ cấp thất nghiệp: Dành cho những người bảo vệ được nhận một khoản trợ cấp khi mất việc làm không “tự nguyện”. Trường hợp bảo vệ phải bao gồm tình trạng gián đoạn thu nhập và xảy ra do không thể có được một công việc phù hợp, trong khi người được bảo vệ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc.

4. Trợ cấp tuổi già (hưu bổng): Để đảm bảo cho những người được bảo vệ trong tình trạng họ có thời gian sống lâu hơn một độ tuổi quy định.

5. Trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp: Theo ILO, trường hợp được bảo vệ trong chế độ này phải bao gồm những trường hợp nếu do các tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp gây ra: Đau ốm, mất khả năng lao động dẫn đến gián đoạn thu nhập, mất hoàn toàn khả năng thu nhập hoặc một phần khả năng thu nhập, mất nguồn thu nhập do người trụ cột trong gia đình chết…

6. Trợ cấp gia đình (phụ cấp gia đình): Theo đó các trường hợp được bảo vệ là những người làm công ăn lương hay những loại được quy định trong dân số hoạt động được bảo vệ về những gánh nặng về con cái.

7. Trợ cấp thai sản: Áp dụng trong các trường hợp bảo vệ gồm thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả kéo theo đó dẫn đến sự gián đoạn về thu nhập gây khó khăn cho đối tượng…

8. Trợ cấp tàn tật: Được thực hiện trong những trường hợp bản thân đối tượng cần được bảo vệ không có khả năng tiến hành một hoạt động có thu nhập ở một mức độ nhất định khi mà tình trạng đó có nguy cơ trở thành thường xuyên hoặc kéo dài sau khi đã ngừng thực hiện các khoản trợ cấp về ốm đau.

9. Trợ cấp tiền tuất: Được thực hiện trong khi những người thân thích (vợ, con cái) mất phương tiện sinh sống do người trụ cột trong gia đình chết.

2.2. Bản chất và tính tất yếu khách quan của an sinh xã hội

Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội”. Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau. Như vậy, có thể thấy rõ bản chất của ASXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các thành viên của xã hội trước mọi “biến cố xã hội” bất lợi. ASXH kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn, giúp họ hướng tới những chuẩn mực của Chân – Thiện – Mỹ. Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội. Sự san sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, bảo đảm cho một xã hội phát triển lành mạnh. Đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một cuộc sống công bằng, bình yên.

3. Chính sách an sinh xã hội trong chính sách phát triển kinh tế – xã hội

Kinh tế thị trường đang trong quá trình hình thành ở Việt Nam, nhưng những nội dung của ASXH thì đã được thực hiện khá lâu. Do điều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa lịch sử, mầm mống về ASXH đã có trong dân gian nước ta. Trong xã hội Việt Nam cận đại và đương đại, những nội dung của ASXH cũng đã được thực hiện, đó là BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước (trước năm 1995); là cứu trợ xã hội đối với những người nghèo, người không may bị rủi ro trong cuộc sống; là ưu đãi xã hội đối với những người có công với đất nước. Một đặc trưng cơ bản của các hoạt động ASXH ở Việt Nam trong thời kỳ trước đổi mới là do Nhà nước thực hiện. Nhà nước đảm nhận cả hai vai, vừa là người ra chính sách, vừa là người thực hiện chính sách thông qua bộ máy của mình. Với cơ chế điều hành này mà nguồn lực tài chính chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, chưa có sự tham gia đông đảo của người dân, của cả xã hội. Cơ chế điều hành theo kiểu hành chính mệnh lệnh này đã không cho phép người dân phát huy những nguồn lực của mình cho các hoạt động ASXH. Vì vậy, về phía xã hội thì lãng phí nguồn lực nhưng phân phối lại mang tính bình quân. Cũng như các nước có nền kinh tế thị trường, kinh tế thị trường ở Việt Nam đã làm cho đời sống kinh tế – xã hội năng động hơn, đa dạng hơn. Kinh tế thị trường mới tạo điều kiện hình thành các thành phần kinh tế. Người lao động có cơ hội và có điều kiện hơn phát huy được tiềm năng và khả năng của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trong các hoạt động xã hội. Đặc trưng cơ bản của ASXH trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là sự chuyển giao dần dần “công việc” từ Nhà nước sang cho xã hội, cho cộng đồng, nhất là các hoạt động trợ giúp xã hội, xóa đói giảm nghèo… Nói tóm lại, những đặc trưng cơ bản nhất thể hiện rõ mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và ASXH ở Việt Nam là:

1. Kinh tế thị trường làm cho các hoạt động kinh tế – xã hội năng động hơn, người dân được phát huy khả năng của mình; đồng thời kinh tế thị trường tạo ra những “rủi ro xã hội” và luôn tiềm ẩn những “rủi ro xã hội” mới làm tăng nhu cầu về ASXH. Kinh tế thị trường làm cho đời sống các tầng lớp dân cư thay đổi, nhìn chung mức sống dân cư được nâng lên, nhưng sự phân hóa giàu nghèo tăng lên. Điều này làm cho nhu cầu về ASXH vừa được nâng lên và vừa đa dạng hơn.

2. Đã có sự chuyển giao dần từ Nhà nước sang cộng đồng các hoạt động ASXH. Nhà nước giữ vai trò hoạch định chính sách, tạo ra cơ chế phát huy tối đa tiềm năng và khả năng của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng và toàn xã hội trong các hoạt động ASXH. Đồng thời, Nhà nước có điều kiện thực hiện chức năng định hướng và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động ASXH.

3. Kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, tạo ra tiền đề, cơ sở vững chắc cho các hoạt động ASXH. Nguồn lực cho các hoạt động ASXH được đa dạng hơn, phong phú hơn.

4. Người thụ hưởng chính sách ASXH được đảm bảo hơn, nhưng đồng thời họ có ý thức hơn đối với bản thân (đối với nhóm đối tượng của cứu trợ/trợ giúp xã hội), tích cực vươn lên để hòa nhập với cộng đồng.

4. Vai trò của Nhà nước trong chính sách an sinh xã hội

Trong thời gian gần đây, hệ thống ASXH của Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển và ổn định kinh tế – xã hội, đó là:

Thứ nhất, ASXH góp phần ổn định đời sống của người lao động. Hệ thống ASXH sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việc làm, hoặc chết. Nhờ có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường.

Thứ hai, ASXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ. Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống ASXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất. Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế – xã hội.

Thứ ba, hệ thống ASXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Quỹ , trong đó có quỹ BHXH là nguồn tài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người lao động và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ. Như vậy xét trên cả phương diện chi trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ ASXH đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.

5. Kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam

Đối với Việt Nam, từ khi thống nhất đất nước, mô hình hệ thống ASXH đã có những chuyển biến lớn. Trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mô hình ASXH thực chất là thực hành mô hình Nhà nước phúc lợi. Sau khi xóa bỏ cơ chế bao cấp, việc bảo đảm ASXH ở nước ta tuy được quan tâm, nhưng chưa được phát triển một cách có hệ thống. Đảng và Nhà nước ta khẳng định con đường tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội (XHCN) đồng thời lựa chọn mô hình “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” để thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, mà thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế – xã hội vừa tuân theo nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa hướng đến các giá trị cốt lõi của CNXH. Nói cách khác đó là “sử dụng công cụ thị trường thực hiện mục tiêu xã hội”. Với những điều kiện đó, mô hình hệ thống ASXH của Việt Nam sẽ phải là mô hình kết hợp vừa có đặc trưng của Nhà nước xã hội và Nhà nước phúc lợi.

5.1. Về quan điểm

Một là, việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Đảng và Nhà nước là kết hợp hài hòa giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội với bảo đảm ASXH ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển.

Hai là, phát triển hệ thống chính sách ASXH và bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách ASXH, đồng thời phát huy vai trò và trách nhiệm của cá nhân, hộ gia đình, người lao động, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc bảo đảm ASXH theo tinh thần xã hội hóa, tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh.

Ba là, hệ thống ASXH phải đa dạng, đa tầng, toàn diện, linh hoạt, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng, phù hợp với nội dung, cách tiếp cận và chuẩn mực mang tính hội nhập quốc tế, tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách ASXH.

5.2. Về giải pháp

Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, các chính sách và giải pháp bảo đảm ASXH. Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật về ASXH, nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện đồng bộ, nghiêm túc, hiệu quả các quy định, chính sách, chế độ ASXH.

Hai là, hoàn thiện tổ chức, bộ máy, cơ chế quản lý, thực hiện công tác ASXH theo hướng đa dạng hóa tổ chức dịch vụ ASXH. Rà soát, củng cố và hoàn thiện hệ thống các cơ quan thực hiện công tác ASXH các cấp từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở. Tăng cường lực lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH.

Ba là, tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH; thực hiện tốt sự phối kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và mạng lưới các tổ chức thực hiện chính sách ASXH; xây dựng bộ chỉ số ASXH làm cơ sở để theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện ASXH của đất nước trong từng thời kỳ và tham chiếu với quốc tế.

Bốn là, tăng cường công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các thông tin về ASXH nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể và người dân về lĩnh vực này.

6. Kết luận

Việt Nam đang chuyển từ mô hình phát triển bề rộng, sử dụng nhiều lao động phổ thông giản đơn và vốn, tài nguyên, hiệu quả thấp sang phát triển theo chiều sâu, nâng cao giá trị gia tăng, tập trung vào các ngành có hàm lượng công nghệ cao, phát triển kinh tế tri thức. Quá trình đó gắn với tái cấu trúc lại nền kinh tế, phân bổ hợp lý hơn các nguồn lực, tạo ra sự phân công lao động xã hội mới đã, đang và sẽ tạo ra những dòng di chuyển việc làm, di chuyển lao động diễn ra ngày càng mạnh, gây nên những biến đổi xã hội, thay đổi cơ cấu xã hội – dân cư, nghề nghiệp, thay đổi mức sống và lối sống. Dưới tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, các nhóm yếu thế dễ bị tổn thương hơn do hạn chế về khả năng cạnh tranh, phòng ngừa rủi ro, tìm kiếm cơ hội vươn lên, tạo áp lực lớn cho việc bảo đảm quyền và cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, quyền thụ hưởng các chính sách ASXH của họ. Bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, bởi vì việc chăm lo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh – Kỷ yếu hội thảo “Ổn định kinh tế Vĩ mô và phát triển kinh tế” – NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh 2012.

2. Holger Rogall – Kinh tế học bền vững – NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ 2011.

3. Jean Yves Martin – Phát triển bền vững – Học thuyết, thực tiễn, đánh giá – NXB Thế giới 2007.

4. Mai Ngọc Cường – Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2009.

5. Lê Quốc Lý – Chính sách an sinh xã hội, thực trạng và giải pháp – NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2014.

6. Phạm Văn Sáng – Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (phân tích thực tiễn ở Đồng Nai) – NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2009.

THE ROLE OF THE STATE IN SOCIAL SECURITY POLICY-EXPERIENCE AND LESSONS FOR VIETNAM

MA. HO DIEU MAI

Department of State Management in Economics, National Academy of Public Administration – HCMC campus

ABSTRACT :

Social security policy is an important policy system in a country’s main development policy system. The State of Vietnam is gradually improving the social security policy system in the direction of using the tools of the market to achieve such objectives. In the context of international integration and sustainable development, it is necessary to learn lessons on the development and the implementation of social security policies in countries around the world hence to apply back effectively under specific conditions of Vietnam.

Keywords: Social security policy, Role of the state, Experience.

Trải Nghiệm Lớp Học Thông Minh / 2023

Chuyển đổi kỹ thuật số lớp học để khuyến khích tương tác

Cải thiện việc học của học sinh với trải nghiệm trong lớp học cuối cùng.

Giám sát tình hình tiến bộ của từng học sinh hiệu quả hơn

78% CÁC GIÁO VIÊN VÀ NHÀ QUẢN TRỊ

cho biết công nghệ có tác động tích cực tới lớp học và hiệu quả của học sinh

Trung Tâm Giáo Dục Kỹ Thuật Số, Lộ Trình Giáo Dục Số Hóa (2013)

Chuẩn bị nội dung dễ dàng để cung cấp tài liệu học tập năng động

Hãy tưởng tượng nếu chuẩn bị tài liệu giảng dạy tốn ít thời gian hơn, hoặc nếu có thể chuẩn bị nội dung giảng dạy khi đang bay. Máy Tính Bảng Galaxy với Softchalk giúp việc này khả thi và mang lại cho giáo viên nhiều thời gian có ý nghĩa hơn với học sinh. Các bài học toàn diện bao gồm tài liệu đa phương tiện phong phú có thể kết nối mượt mà với giải pháp Smart School Smart board và dễ dàng tải lên đám mây. Thuyết trình trước lớp, phân phát và quản lý tài liệu thật dễ dàng, và giáo viên giờ đây có thể tập trung sáng tạo những bài học năng động, tương tác cho học sinh.

Lôi cuốn học sinh tham gia tích cực và năng động để cải thiện tình hình học tập trong lớp

Tích hợp thiết bị di động vào chương trình giảng dạy truyền thống cho phép học sinh tham gia các môn học ở mức độ sâu hơn. Nhờ có Máy Tính Bảng Galaxy với giải pháp Smart School Smart board , giáo viên có thể giao bài kiểm tra để kiểm tra tình hình tiến bộ của học sinh hoặc chia sẻ nội dung trên màn hình bảng thông minh của họ cho cả lớp. Không chỉ có vậy, thiết bị này đủ bền để chịu được cách sử dụng của các học sinh hiếu động nhưng đủ nhạy cho phép viết tay tự nhiên với S-Pen. Thậm chí với số lượng lớn thiết bị trên khu vực rộng hơn cũng không phải vấn đề nhờ có Giải Pháp Smart WLAN của Samsung luôn đảm bảo truyền tải dữ liệu thông suốt.

Hợp tác hiệu quả hơn để nuôi dưỡng kỹ năng học tập tập thể

Theo dõi tiến bộ của từng học sinh để hỗ trợ cá nhân

Hỗ trợ cá nhân học sinh và giúp học sinh tiến bộ trở nên dễ dàng hơn nhờ Máy Tính Bảng Galaxy với giải pháp Smart School Smart board. Quản lý lớp học bằng thanh công cụ Lesson Toolbar bao gồm các tính năng xếp lịch, quản lý học sinh, thư viện và ứng dụng cùng với khả năng kiểm tra tiến độ các hoạt động nhóm. Nếu cần, giáo viên có thể kiểm soát dạng số thiết bị của học sinh để ngăn chặn sự xao nhãng trước khi vượt khỏi tầm kiểm soát.

Giải Pháp Trường Học Thông Minh / 2023

1. Giới thiệu chung về giải pháp trường học thông minh

Hệ thống giải pháp trường học thông minh được chia thành 2 phần chính:

– Hệ thống cơ điện thông minh: Là hệ thống quản trị cơ điện toà nhà(BMS) được phát triển thêm các tính năng tiện ích mở rộng. Hệ thống này được tách thành 2 phần:

+ Cơ điện chung của tòa nhà: quản trị hệ thống cơ điện chung của cả tòa nhà, các khu vực công cộng, hệ thống phụ trợ khác

+ Phòng làm việc thông minh (phòng học, phòng họp, văn phòng…): sẽ có hệ thống quản trị các thiết bị trong phòng: bật tắt đèn, đóng mở rèm, kiểm soát điều hòa/thông gió,…, có giải pháp Media: hình ảnh máy chiếu, âm thanh đa vùng kết nối phụ trợ giảng, phát biểu buổi họp…

– Hệ thống phần mềm quản trị hệ thống trường học:

+ Các hệ thống phục vụ cho việc dạy và học

+ Liên kết phụ huynh, nhà trường

+ Quản trị của chủ đầu tư/hiệu trưởng và các cấp quản lý

+ Thanh toán trực tuyến nhờ khả năng liên kết ngân hàng của hệ thống

2. Những lợi ích mà giải pháp trường học thông minh đem lại

2.1. Đối với nhà đầu tư, hiệu trưởng và các cấp quản lý

– Xây dựng được hình ảnh ngôi trường sử dụng công nghệ cao đưa vào hoạt động quản lý và giảng dạy.

– Hệ thống thanh toán tự động giúp thu tiền học phí dễ dàng và tự động

– Tinh giảm tối đa chi phí hoạt động

– Được cung cấp công cụ làm việc công nghệ cao

– Thao tác điều khiển phòng học dễ dàng: Kéo rèm, bật đèn, bật máy chiếu, kéo màn chiếu…

– Xuất trực tiếp bài giảng từ Smartphone lên máy chiếu

– Hệ thống âm thanh đa vùng hỗ trợ giáo viên giảng dạy

– Chia sẻ tài liệu trực tiếp cho Học sinh/ sinh viên

– Trao đổi trực tuyến với học sinh, phụ huynh học sinh

– Được học tập trong môi trường đầy đủ tiện ích tiện nghi

– Được bảo vệ an toàn

– Tạo niềm vui, niềm đam mê học tập khi đến trường khi có thể vừa học vừa chơi vừa tìm hiểu và khám phá.

– Được tham gia các diễn đàn học tập, lập nhóm trao đổi – tranh luận bài tập

– Được cập nhật thông tin đầy đủ và nhanh chóng về việc học hành: thời khóa biểu, tài liệu học tập, trao đổi trực tiếp với giáo viên…

– Được tạo không gian chia sẻ tâm tư tình cảm

– Sử dụng thẻ ID cá nhân tham gia vào các hoạt động học tập: thư viện, phòng chuyên môn, điểm danh ra vào lớp,…

– Kiểm soát thông qua hình ảnh camera

– Tra cứu thông tin lịch học tập

– Tra cứu điểm thi

– Trao đổi trực tiếp với giáo viên giảng dạy các môn

– Cập nhật các chương trình hoạt động của trường lớp

– Khiếu nại lên trực tiếp lên các cấp quản lý trường về các vấn đề học hành của con em mình tại trường (yêu cầu gửi kèm bằng chứng bằng hình ảnh, video)

– Thanh toán học phí cho con em tiện lợi bằng hình thức online

3. Tính năng nổi bật của giải pháp trường học thông minh

– Quản lý hệ thống cơ điện trường học:

+ Hệ thống phân phối điện

+ Hệ thống chiếu sáng

+ Hệ thống điều hòa, thông gió

+ Hệ thống cấp thoát nước

+ Hệ thống CCTV – An ninh – Y tế

+ Lớp học (rèm cửa, đèn lớp học, máy chiếu, quạt, điều hòa, máy tính bảng,…)

+ Hệ thống phòng cháy chữa cháy của nhà trường

– Hệ thống quản trị trường học

+ Hệ thống quản trị dành cho dạy và học: thời khóa biểu, thư viện trực tuyến, trao đổi trực tiếp giữa giáo viên và học sinh, giao bài tập về nhà

+ Hệ thống quản trị dành cho phụ huynh học sinh: camera, thư viện hình ảnh hoặc video, học phí

+ Hệ thống quản trị trường học của chủ đầu tư hiệu trưởng, các cấp quản lý: xây dựng cơ cấu tổ chức trường, lớp; giám sát hoạt động dạy và học; quản lý thông tin thanh toán như chi phí

Bạn đang đọc nội dung bài viết Trường Học Thông Minh: Nguồn Gốc, Định Nghĩa Và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!