Đề Xuất 12/2022 # .: Trường Chính Trị Tỉnh Gia Lai :. / 2023 # Top 13 Like | Photomarathonasia.com

Đề Xuất 12/2022 # .: Trường Chính Trị Tỉnh Gia Lai :. / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về .: Trường Chính Trị Tỉnh Gia Lai :. / 2023 mới nhất trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

HOẠT ĐỘNG SOẠN THẢO VĂN BẢN TẠI UBND XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

– Giảng viên: Lê Huỳnh Lai. – Giảng viên: Ngô Tùng Lâm – Đơn vị: Phòng NCKH-TT-TL

     Tỉnh Gia Lai bao gồm 1 

thành phố

 trực thuộc, 2 

thị xã

 và 14 

huyện

, trong đó có 22 đơn vị cấp xã gồm 24 

phường

, 14 thị trấn và 184 xã.

     Hiện nay trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước vấn đề soạn thảo và quản lý văn bản của cơ quan là một vấn đề hết sức quan trọng và cần được quan tâm một cách đúng mức. Văn bản vừa là nguồn pháp luật cơ bản vừa là công cụ quản lý hữu hiệu phục vụ cho việc quản lý và điều hành nhà nước tại địa phương. Việc soạn thảo và ban hành văn bản sẽ đảm bảo cho hoạt động của cơ quan diễn ra một cách có hệ thống, đảm bảo hơn nữa tính pháp quy, thống nhất chứa đựng bên trong các văn bản quản lý hành chính nhà nước trong giải quyết công việc của cơ quan mình. Chính vì vậy việc quan tâm đúng mức đến công tác soạn thảo và quản lý văn bản sẽ góp phần tích cực vào việc tăng cường hiệu lực của quản lý hành chính nói riêng và quản lý nhà nước nói chung.

     UBND xã là cơ sở để tổ chức thực hiện và vận động nhân dân thực thi pháp luật và chủ trương chính sách của Đảng. Song nhiều văn bản mới của Trung ương, tỉnh ban hành địa phương không nhận được, khi nhận được chưa thực hiện thì các văn bản mới lại ban hành thay thế. Một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện lại thiếu và nếu có thì không kịp thời nên dẫn đến địa phương thường gặp khó khăn trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện.      Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác Văn thư – Lưu trữ còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay. Việc lưu trữ và bảo quản hồ sơ tại cơ quan hiện nay chủ yếu là dùng sổ, kẹp 3 dây và tủ đựng tài liệu; chưa ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lưu trữ.      Bên cạnh đó, do điều kiện chưa đào tạo được đội ngũ cán bộ kế cận nên việc bố trí cán bộ làm công tác Văn phòng và Văn thư- Lưu trữ tại UBND xã chưa đúng với chuyên môn được đào tạo. Cán bộ làm công tác Văn phòng và Văn thư – Lưu trữ chủ yếu được đào tạo qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn và làm việc dựa trên kinh nghiệm thực tế là chính nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác Văn thư – Lưu trữ tại địa phương.      Trong nhiều năm qua, công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện, các văn bản QPPL được ban hành đúng quy trình, đúng pháp luật và có tính khả thi cao. Ban Tư pháp xã đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho UBND xã ban hành các văn bản chỉ đạo đối với công tác này. Nhìn chung, công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL đã có những chuyển biến tích cực, được Phòng Tư pháp huyện đánh giá cao qua các đợt kiểm tra cuối năm.      Đối với cấp xã, về cơ bản công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL của UBND cấp xã đã có chuyển biến tích cực, các văn bản QPPL do cấp xã ban hành cơ bản đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục, có nội dung phù hợp với các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước trên địa bàn. Các ý kiến thẩm định đã được Văn phòng UBND xã nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình soạn thảo. Văn bản UBND xã ban hành đảm bảo chặt chẽ, chi tiết, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Do đó, văn bản QPPL khi ban hành được thực hiện ngay không cần hướng dẫn thi hành của các ngành, cấp huyện.      Thế nhưng, bên cạnh những kết quả đạt được như vậy, công tác soạn thảo và quản lý văn bản của Văn phòng ƯBND xã vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế sau:     1.    Đối với công tác soạn thảo văn bản:      -   Về xác định thẩm quyền ban hành văn bản cả về nội dung lẫn hình thức của văn bản còn chưa thống nhất. Trong quá trình soạn thảo và ban hành văn bản có nhiều trường họp đáng lẽ nên ban hành bằng công văn thì lại ban hành bằng tờ trình… Nội dung quy định trong các văn bản đã được soạn thảo có tính khả thi cao, tuy nhiên còn một số văn bản do quá trình xây dựng chưa thực tế nên tính khả thi còn bị hạn chế. Như vậy, hạn chế này không phải là nhỏ, đòi hỏi UBND xã quan tâm chỉ đạo cán bộ văn phòng và các bộ phận chuyên môn, chú trọng hơn nữa đến tầm quan trọng, ý nghĩa và việc thực hiện các quy định về công tác soạn thảo và ban hành văn bản quản lý nhà nước.       -   Về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản: Lỗi sai chủ yếu về thế thức của văn bản là ở các văn bản thực hiện theo văn điều khoản, phần nơi nhận. Đồng thời, Văn phòng cần tiến tới tiêu chuẩn hóa các văn bản quản lý của mình.      -   Về văn phong, ngôn ngữ của văn bản: Một số văn bản sử dụng từ không đảm bảo tính chất văn phong hành chính, sử dụng từ đa nghĩa, hành văn không được rõ ràng… Bên cạnh đó còn một số lỗi như: lỗi về vần, thanh điệu, viết hoa, viết tắt tùy tiện không khoa học… cần quan tâm đến văn phong hành chính trong quá trình soạn thảo văn bản của mình và sử dụng đúng đắn, chuẩn mực.      2.    Nguyên nhân của những hạn chế:     -   Thiết bị kỹ thuật phục vụ cho quá trình soạn thảo và quản lý văn bản: Các phương tiện được sử dụng vào quá trình cơ giới hóa và tự động hóa việc soạn thảo và quản lý văn bản chưa đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay. Thiết bị phục vụ cho soạn thảo; thiết bị để nhân bản; thiết bị để truyền đạt thông tin trong văn bản; thiết bị phục vụ cho việc bảo quản, lưu trữ văn bản; thiết bị tìm kiếm văn bản còn thiếu và đang ở mức lạc hậu.      -   Lối làm việc trong cơ quan nhà nước của chúng ta thể hiện rõ của cơ chế quan liêu, bao cấp cho nên những sản phẩm của hoạt động quản lý này là những văn bản được ban hành thiếu quy cũ, chồng chéo lẫn nhau, khối lượng lớn nhưng chất lượng thông tin chứa trong đó thấp, nhiều văn bản trùng lặp, thừa, không có hiệu lực.      -   Hệ thống thuật ngữ, các nghiên cứu về văn phong trong văn bản hành chính của chúng ta cũng còn nhiều điều chưa được làm sáng tỏ. Ảnh hưởng đến việc sử dụng từ ngữ, văn phong tùy tiện, khó hiểu, không được giải thích rõ ràng, làm cho văn bản hạn chế tính khả thi.      -   Việc quản lý văn bản còn chưa chặt chẽ, hệ thống tổ chức các bộ phận quản lý lưu trữ văn bản, chưa phát huy vai trò và nhận thức rõ trách nhiệm của bộ phận văn thư trong việc cải tiến công tác lưu trữ. Cơ quan chưa quan tâm xây dựng quy chế về công tác văn thư phù họp với thực tế trong giai đoạn ứng dụng rõ ràng các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào các khâu nghiệp vụ của công tác văn thư.      -   Số lượng biên chế của Văn phòng còn ít dẫn đến công việc quá tải, chưa đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu sâu về các ngành và lĩnh vực được giao.      -   Sự nhận thức chưa đầy đủ về công tác quản lý, soạn thảo về vai trò, chức năng của văn bản và hệ thống các văn bản. Năng lực, trình độ của cán bộ công chức nhằm đáp ứng công tác soạn thảo, thẩm định, kiểm tra và xử lý văn bản còn nhiều hạn chế; việc mở các lóp tập huấn về nghiệp vụ soạn thảo, kiểm tra, quản lý và xử lý văn bản chưa đạt hiệu quả cao, chưa được chú trọng.      Văn bản quản lý nhà nước của địa phương có vai trò rất quan trọng. Một mặt, nó cụ thể hóa các văn bản quản lý nhà nước của cấp trên, văn bản của HĐND cùng cấp; mặt khác là cơ sở pháp lý, là công cụ quản lý hữu hiệu, là phương tiện để truyền đạt các thông tin của chính quyền địa phương đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Trong thời gian qua, các văn bản do UBND xã đã ban hành có một sự đóng góp không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế              – xã hội của địa phương, điều này không ai có thể phủ nhận. Thế nhưng, việc soạn thảo và quản lý văn bản của UBND xã vẫn còn bộc lộ một số thiếu sót, hạn chế nhất định; song những hạn chế, thiếu sót đó chưa đưa lại những hậu quả nghiêm trọng do đã có những phát hiện kịp thời và xử lý, điều chỉnh phù họp.       3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả soạn thảo văn bản tại Văn phòng UBND xã:      Chất lượng, hiệu quả của văn bản quản lý hành chính nhà nước thông qua nhiều tiêu chí khác nhau, song cơ bản vẫn là các tiêu chí như: văn bản phải được phản ánh được nhiệm vụ chính trị của địa phương; được ban hành đúng thẩm quyền; điều chỉnh được thực tiễn xã hội; họp với lòng dân. Việc soạn thảo và quản lý văn bản cũng đóng một ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý, điều hành của cơ quan khi ban hành ra một văn bản quản lý hành chính nhà nước.     – Đảm bảo về trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành văn bản Văn phòng UBND xã chủ yếu tham mưu soạn thảo các văn bản hành chính thông thường trong giải quyết các công việc của địa phương. Chính vì vậy, chủ thể ban hành, cá nhân soạn thảo phải đảm bảo trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành văn bản là rất cần thiết và quan trọng bởi vì một mặt, đảm bảo tính họp pháp và họp lý của của văn bản, mặt khác đây là điều kiện quan trọng quyết định chất lượng của một văn bản.       Quy trình chi tiết cho việc soạn thảo một văn bản hành chính được xây dựng dựa trên yêu cầu thực tế đặt ra đối với văn bản đó. Tuy nhiên có thể khái quát quy trình này bao gồm các bước cơ bản sau:       Bước 1: Xác định mục đích và nội dung các vấn đề cần văn bản hóa. Xác định tên loại văn bản và đối tượng của văn bản;       Bước 2: Xây dựng dự thảo trên cơ sở các thông tin có chọn lọc; hoàn thiện bản thảo về thể thức, ngôn ngữ;       Bước 3: Thông qua lãnh đạo;       Bước 4: Xử lý kỹ thuật, ký văn bản và ban hành theo thẩm quyền quy định.       a. Xác định rõ thẩm quyền ban hành văn bản       Việc tuân thủ về thẩm quyền về nội dung và hình thức cũng là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi cơ quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Tại Văn phòng UBND xã cần coi trọng thẩm quyền ký các văn bản hành chính thông thường, đòi hỏi phải được quy định chặt chẽ và cụ thể đối với các chủ thể ban hành.       Với các văn bản hành chính thông thường mà Văn phòng thường soạn thảo như: công văn hành chính, thông báo, thông cáo, báo cáo, tờ trình, kế hoạch, đề án, phương án, chương trình, họp đồng, biên bản, giấy chứng nhận, giấy đi đường, giấy giới thiệu, giấy mời cũng phải đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt thẩm quyền về hình thức và nội dung khi soạn thảo văn bản. Có những quy định cụ thể về thẩm quyền ký các loại văn bản này nhằm không những đảm bảo tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực hiện văn bản mà còn điều tiết, phân công công việc một cách phù họp, công bằng giữa các cá nhân với nhau. Trong quá trình xây dựng và ban hành, chủ thể ban hành, cá nhân soạn thảo cần lưu ý về việc sử dụng các hình thức văn bản hành chính.       b. Đảm bảo về nội dung của văn bản:      Hạn chế về nội dung của văn bản quản lý nhà nước do Văn phòng UBND xã soạn thảo không phải là nhỏ, vấn đề cơ bản là làm thế nào để tránh khắc phục những hạn chế đó.       c. Thực hiện tốt công tác kiểm tra và xử lý văn bản vỉ phạm pháp luật:       Công tác kiểm tra và xử lý văn bản vi phạm pháp luật: Mục đích của công tác này nhằm phát hiện những văn bản có nội dung trái pháp luật để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, hủy bỏ hoặc bãi bỏ văn bản, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật. Đồng thời, kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản.       Các văn bản hành chính thông thường chủ yếu là công cụ truyền đạt các thông tin quản lý của UBND xã nên đảm bảo tính chuẩn xác của các văn bản này sẽ đảm bảo cho thông tin được truyền đạt một cách trọn vẹn, chính xác và có hiệu quả. Việc kiểm tra và xử lý các văn bản này khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc không thống nhất và tuân theo các quy định khác của cấp trên là rất quan trọng tạo ra tính thống nhất, chính xác và khách quan trong hoạt động quản lý. Nội dung kiểm tra chủ yếu là kiểm tra nội dung, thẩm quyền, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.       d. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức làm công tác soạn thảo và quản lý văn bản:       – Đối với UBND xã: cần phải xây dựng kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng, cử cán bộ đi đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ công tác văn bản với những hình thức phong phú, hiệu quả, tiết kiệm nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động soạn thảo và quản lý văn bản của cơ quan, cần phải có chế độ khuyến khích, ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ công chức này, có chính sách hỗ trợ kịp thời và thỏa đáng về kinh phí cũng như thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất phục vụ công tác soạn thảo và quản lý văn bản của cán bộ công chức.     – Đổi với cán bộ công chức làm công tác soạn thảo và quản lỵ văn bản: Cần phải cập nhật liên tục những thông tin, quy định mới nhất về công tác soạn thảo, quản lý văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, tuân thủ các nguyên tắc, quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó không ngừng tăng cường trách nhiệm của cán bộ công chức nhằm phát huy những tích cực và hạn chế trong công tác của mình.      Để đảm bảo tốt các giải pháp mà báo cáo đã nêu ở trên, đòi hỏi UBND xã phải tăng cường hơn nữa về hỗ trợ kinh phí cho công tác soạn thảo và quản lý văn bản tại Văn phòng ƯBND. Đồng thời đầu tư trang bị và nâng cấp các thiết bị và nâng cấp các thiết bị kỹ thuật như: thiết bị phục vụ cho việc soạn thảo văn bản; thiết bị để nhân bản; thiết bị phục vụ cho việc quản lý lưu trữ văn bản; thiết bị tìm kiếm văn bản nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và yêu cầu quản lý của thực tiễn xã hội.

Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình / 2023

“Bình đẳng giới” luôn được nhắc tới như một hoạt động không thể thiếu trong xã hội tiến bộ, đặc biệt là một xã hội đang phát triển như Việt Nam. Phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng giới là việc làm thường xuyên, liên tục và nhất quán của Đảng ta nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp phát triển đất nước . Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chuyên đề về công tác phụ nữ, các chính sách, pháp luật chuyên sâu về vấn đề bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án số 515/QĐ-TTg về thực hiện biện pháp bảo đảm bình đẳng giới đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn (2016 – 2020). Nhờ đó, lực lượng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở nhiều địa phương, nhiều ngành có sự gia tăng đáng kể, góp phần tạo nên điểm sáng của Việt Nam trên thế giới trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về bình đẳng giới.

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2020-2025, đảm bảo đúng nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu, phương châm. Vì vậy cán bộ nữ trong quy hoạch chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý là 30,1%; diện Ban Thường vụ cấp ủy cấp huyện quản lý là 36,2%, tăng 8% so với giai đoạn (2015-2020) Trong nhiều năm qua, tỉnh Ninh Bình đã quan tâm, làm tốt công tác thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý, đạt được nhiều thành tích từ khâu tuyển dụng, đào tạo, quy hoạch đến đề bạt, bổ nhiệm… Giai đoạn (2015 – 2020) cấp cơ sở, có 821 cấp ủy viên nữ, đạt 20,1% (tăng 1,7% so với nhiệm kỳ trước); 104/145 xã, phường, thị trấn đạt tỷ lệ nữ cấp ủy từ 15% trở lên; có 53 nữ ủy viên ban thường vụ đảng ủy (có 07 nữ Bí thư, 30 nữ Phó Bí thư). Đối với cấp huyện và tương đương có 78 cấp ủy viên nữ, đạt 18%; 07/8 huyện, thành phố đạt tỷ lệ nữ cấp ủy trên 15%; có 17 nữ ủy viên Ban Thường vụ (tăng 11 ủy viên so với nhiệm kỳ trước); có 01 nữ Bí thư, 01 nữ Phó Bí thư. Cấp tỉnh có 08 đồng chí nữ cấp ủy, đạt 15,7% (tăng 4,2% so với nhiệm kỳ trước); có 02 nữ ủy viên Ban Thường vụ (tăng 01 ủy viên so với nhiệm kỳ trước) (1) . (2). Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng ở 3 cấp đều tăng so với nhiệm kỳ trước: cấp tỉnh đạt 15,7%, cấp huyện đạt 20,1%, cấp xã đạt 18%(3). Cấp tỉnh có 08 cán bộ nữ là ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; trong đó có 02 cán bộ nữ tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy là Bí thư Tỉnh ủy và Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh uỷ. Hiện nay, có 29 cán bộ nữ lãnh đạo chủ chốt các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; có 14(4) nữ ủy viên ban thường vụ cấp ủy cấp huyện và một số cán bộ nữ là Bí thư, phó Bí thư đảng ủy cấp xã.

Ninh Bình là địa phương có tỷ lệ nữ tham gia vào các cơ quan dân cử cao trong cả nước. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV là 16,7%. Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND 3 cấp đạt: cấp tỉnh 20%; cấp huyện 30,5%; cấp xã 25%. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và các cấp ủy đã quan tâm xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ nói chung, trong đó đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ nữ, nhất là chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ trong quy hoạch.

Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Ninh Bình hiện nay còn một số khó khăn, hạn chế: tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý còn chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ. Nhiệm kỳ (2015 – 2020) có 41/145 xã, phường, thị trấn chưa đạt 15% nữ cấp ủy. Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh và cấp xã nhiệm kỳ (2016 – 2021) chưa đạt chỉ tiêu 30%. Có cơ quan nhiều lao động nữ (30% trở lên) (5) nhưng chưa có nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Số lượng nữ cán bộ lãnh đạo khối quản lý nhà nước còn ít, nhất là các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật. Cán bộ nữ chủ yếu là cấp phó; công tác trong cơ quan Đảng, đoàn thể, lĩnh vực văn hóa xã hội. Cơ cấu nữ đại biểu HĐND các cấp do bố trí gắn với cơ cấu khác nên có nữ đại biểu HĐND chưa thực sự đại diện cho giới nữ; tiếng nói, vai trò quyết định của một số ít cán bộ nữ còn hạn chế… Sự khác biệt này dẫn đến hạn chế phát huy khả năng của phụ nữ trên nhiều lĩnh vực công tác, nhất là việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương nói chung, phát triển đội ngũ cán bộ nữ nói riêng. Những hạn chế, khó khăn trên cần sớm được giải quyết nhằm thúc đẩy hơn nữa bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Ninh Bình hiện nay.

Một là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo đảm thúc đẩy bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Ninh Bình

Cần bổ sung chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ lãnh đạo, quản lý ở các sở, ngành, HĐND và UBND, cơ quan Đảng, tổ chức chính trị – xã hội. Đảm bảo sự thống nhất, liên thông trong chính sách, pháp luật, sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ; bãi bỏ những quy định hạn chế sự tham gia, tiếp cận cơ hội làm lãnh đạo, quản lý đối với phụ nữ trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời bổ sung quy định trách nhiệm của thủ trưởng các ngành, các cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của ngành mình, cấp mình và trong thực hiện chỉ tiêu phụ nữ tham chính.

Hai là, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, nhất là người đứng đầu trong công tác cán bộ nữ

Trước hết nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là của người đứng đầu về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới một cách rộng rãi, thường xuyên, liên tục. Cấp ủy Đảng, nhất là người đứng đầu cấp ủy, các cơ quan, đơn vị cần có chương trình, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ nữ và người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về thực hiện các chỉ tiêu nữ cấp ủy, nữ đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ (2021 – 2026) . Hằng năm cần rà soát, bổ sung quy hoạch, đảm bảo số lượng, chất lượng nhân sự nữ gắn với đào tạo, sử dụng; kiên trì, bền bỉ, kiên quyết trong tạo nguồn, phát hiện nhân tố cán bộ nữ trẻ tích cực, có triển vọng để chuẩn bị nguồn cho các nhiệm kỳ tiếp theo.

Trong c ông tác quy hoạch cán bộ nữ phải tiến hành theo phương châm “động” và “mở”, gắn quy hoạch với đề bạt, bổ nhiệm, khắc phục tình trạng quy hoạch một cách hình thức. Mạnh dạn, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ, nhất là cán bộ trẻ có tiềm năng, có tố chất và khả năng phát triển.

Đảm bảo việc thực thi pháp luật về bình đẳng giới thông qua công tác thanh tra, kiểm tra chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; bổ sung và tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát cụ thể, các hình thức khen thưởng và xử lý nghiêm các vi phạm chính sách, pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị và công tác tổ chức, cán bộ.

Ba là , nâng cao vị thế và trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ban Nữ công Công đoàn các cấp trong việc xây dựng và bảo vệ quyền lợi cho giới nữ

Các cấp ủy đảng khi xây dựng quy chế và thực hiện công tác cán bộ nữ, nhất thiết phải lấy ý kiến của Hội Liên hiệp Phụ nữ hoặc Ban Nữ công Công đoàn. Đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức này đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động, để tiếng nói của họ có trọng lượng và để việc chăm lo, giáo dục, bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ có hiệu quả.

Hội Phụ nữ các cấp cần tích cực, chủ động phối hợp với Ban Tổ chức , c ấp ủy và ngành Nội vụ rà soát, tham mưu, đề xuất với cấp ủy nhân tố nữ tiêu biểu để đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và có kế hoạch sử dụng, nhất là trước kỳ Đại hội Đảng và bầu cử đại biểu HĐND các cấp ; tham mưu xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ phụ nữ, tập trung trang bị kỹ năng lãnh đạo, quản lý… , đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới.

Bốn là, tiếp tục t uyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ phát huy truyền thống tốt đẹp; vận động phụ nữ rèn luyện , nỗ lực vươn lên, vượt qua rào cản để tiếp cận và tham gia vào lãnh đạo, quản lý

Các cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị – xã hội ở Ninh Bình cần t uyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ rèn luyện đức tính tự tin để có bản lĩnh vượt qua định kiến giới và hướng đến mục tiêu tự khẳng định mình. Phụ nữ phải thể hiện mình thật sự có vai trò trong cuộc sống gia đình và ngoài xã hội; tự đào tạo, bồi dưỡng để bù đắp những thiếu hụt của bản thân, đảm bảo điều kiện cần và đủ nhằm sẵn sàng đảm nhận những trọng trách mới. Phụ nữ phải có sự tôn vinh lẫn nhau, tránh tình trạng níu kéo nhau giữa cán bộ nữ và xem thái độ ứng xử ấy như một cách khẳng định phẩm chất lãnh đạo của mình. Nhất thiết không thể ỉ thế mình là phụ nữ để an phận, thủ thường, cho phép bằng lòng với hiện tại. Kể cả phụ nữ trí thức phải vượt qua được tâm lý an phận, khi đã đạt được trình độ nhất định thì tự thỏa mãn, không tiếp tục phấn đấu học hỏi. Động viên nữ trí thức luôn có ý thức cầu tiến, độc lập trong tư duy; sống có mục đích và lý tưởng; phải phấn đấu học hỏi, chú trọng rèn luyện kỹ năng sống, tự tin, sáng tạo, quyết đoán, biết hoạch định kế hoạch, biết đối mặt với áp lực, biết chăm sóc bản thân và gia đình.

Trong điều kiện hiện nay, với đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ tỉnh, sự quan tâm tạo điều kiện của các cấp, các ngành về xây dựng đội ngũ cán bộ nữ, sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Song để phụ nữ Ninh Bình tiếp tục phát huy vai trò của mình khi tham gia lãnh đạo, quản lý, đúng với chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cần phải xem đây là một công việc lâu dài, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội./.

Nguồn trích:

(1) : Trang web: baoninhbinh.org.vn/ghi-nhan-ve-cong-tac-can-bo-nu-sau-dai-hoi-dang-bo-cac-cap/d2015100708464235.htm

(2); (3), : Báo cáo số 36 /BC-BCH , ngày 20/7/2019 về Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ tỉnh lần thứ XII từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu đến năm 2021 của BCH HLPHPN tỉnh.

(4); (5) : Báo cáo số 33 /BC-BVSTBPN, ngày 27/12/2019 về Tổng kết hoạt động bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ năm 2019, phương hướng nhiệm vụ năm 2020 của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Ninh Bình.

Ths. Đinh Thị Thu Hương Khoa Nhà nước và pháp luật

Sở Tư Pháp Tỉnh Gia Lai / 2023

           II. Nhiệm vụ và quyền hạn

           1. Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:           a) Dự thảo nghị quyết, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc phạm vi thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong lĩnh vực tư pháp;           b) Dự thảo kế hoạch dài hạn, 05 năm, hàng năm và các đề án, dự án, chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước, cải cách tư pháp, xây dựng, hoàn thiện pháp luật thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong lĩnh vực tư pháp;           c) Dự thảo quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể các tổ chức, đơn vị thuộc Sở Tư pháp, dự thảo quyết định quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở theo quy định pháp luật.           2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:           a) Dự thảo quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở;           b) Dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác tư pháp ở địa phương.          3. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án trong lĩnh vực tư pháp đã được cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.           4. Về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:          c) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, báo cáo việc xây dựng văn bản quy định chi tiết văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương để bảo đảm tiến độ soạn thảo và chất lượng dự thảo văn bản quy định chi tiết.          5. Về theo dõi tình hình thi hành pháp luật:          a) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn;         b) Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; kiến nghị với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc xử lý kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật;          c) Tổng hợp, xây dựng báo cáo tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và kiến nghị các biện pháp giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp;           d) Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong các lĩnh vực tư pháp thuộc phạm vi quản lý nhà nước Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.           6. Về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật:           a) Là đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tự kiểm tra văn bản do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành;           b) Giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra, xử lý văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện;          c) Kiểm tra, xử lý đối với các văn bản có chứa quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành nhưng không được ban hành bằng hình thức nghị quyết của Hội đồng nhân dân hoặc quyết định của Ủy ban nhân dân, các văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức như văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành;          d) Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật tại khoản này theo quy định pháp luật.          7. Về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật;         a) Là đầu mối giúp Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc rà soát, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định pháp luật;          b) Đôn đốc, hướng dẫn, tổng hợp kết quả ra soát, hệ thống hóa văn bản chung của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;          c) Giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cập nhật văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.          8. Về phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở:          a) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành các chương trình, kế hoạch, đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện sau khi các chương trình, kế hoạch, đề án được ban hành;          c) Thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp tỉnh;          đ) Theo dõi, hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật ở các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) và các cơ quan, đơn vị khác theo quy định pháp luật;          e) Hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở; tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên tại địa phương theo quy định pháp luật.          9. Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ về xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định pháp luật.          10. Về hộ tịch, quốc tịch, chứng thực và nuôi con nuôi:          a) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, nuôi con nuôi tại địa phương;          b) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch;          c) Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch: lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch; cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định pháp luật;         d) Đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trái với quy định pháp luật (trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật); đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Sở Tư pháp cấp mà phát hiện không đúng quy định pháp luật;          đ) Thẩm định hồ sơ, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết các việc về nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; giải quyết các việc về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;         e) Thực hiện các nhiệm vụ để giải quyết hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam, cấp Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam; quản lý và lưu trữ hồ sơ, sổ sách về quốc tịch theo quy định pháp luật.          11. Về lý lịch tư pháp:          a) Xây dựng, quản lý, khai thác, bảo vệ và sử dụng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cấp tỉnh;          c) Cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền.          12. Về bồi thường nhà nước:          a) Hướng dẫn, tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ công tác bồi thường nhà nước theo quy định pháp luật;       b) Hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường trong phạm vi địa phương; đề xuất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại địa phương;         c) Đề xuất, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định cơ quan giải quyết bồi thường theo quy định pháp luật; tham gia vào việc xác minh thiệt hại khi được cơ quan giải quyết bồi thường đề nghị; tham gia thương lượng việc bồi thường tại địa phương thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;          d) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác bồi thường nhà nước;         đ) Đề xuất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có nội dung giải quyết bồi thường, kiến nghị thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ xem xét lại quyết định hoàn trả, giảm mức hoàn trả theo quy định pháp luật; yêu cầu thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp người thi hành công vụ gây thiệt hại hủy quyết định giải quyết bồi thường theo quy định pháp luật;         e) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước tại địa phương.          13. Về trợ giúp pháp lý          a) Quản lý, hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, hoạt động trợ giúp pháp lý của các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định pháp luật;          b) Thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;          c) Đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, giải thể, sáp nhập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý, cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý;          d) Cấp, cấp lại, thu hồi thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý; cấp, thay đổi nội dung, cấp lại và thu hồi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý của tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định pháp luật; đề nghị Bộ Tư pháp tổ chức kiểm tra tập sự trợ giúp pháp lý;         đ) Công bố, cập nhật danh sách các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương, đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp;         e) Lựa chọn, ký kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý; thanh toán thù lao và chi phí thực hiện trợ giúp pháp lý cho tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý; quản lý và tổ chức đánh giá chất lượng vụ việc tham gia tố tụng và vụ việc đại diện ngoài tố tụng theo quy định pháp luật.         14. Về luật sư và tư vấn pháp luật:         a) Tham mưu, đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức và hoạt động tư vấn pháp luật tại địa phương;         b) Cấp, cấp lại hoặc thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam, Trung tâm tư vấn pháp luật: cấp, cấp lại hoặc thu hồi Thẻ tư vấn viên pháp luật;         c) Cung cấp thông tin về việc đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài cho cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có yêu cầu theo quy định pháp luật: đề nghị Đoàn luật sư cung cấp thông tin về tổ chức và hoạt động của luật sư, yêu cầu tổ chức hành nghề luật sư báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động khi cần thiết;         d) Cấp, cấp lại hoặc thu hồi giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân; lập danh sách, theo dõi người đăng ký hành nghề tại Đoàn luật sư tại địa phương.          15. Về công chứng:          a) Đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên: thực hiện đăng ký hành nghề và cấp, cấp lại thẻ công chứng viên, quyết định tạm đình chỉ hành nghề công chứng, xóa đăng ký hành nghề, thu hồi thẻ công chứng viên; quản lý tập sự hành nghề công chứng theo quy định pháp luật;         b) Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề án thành lập, chuyển đổi, giải thể Phòng công chứng: trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập, thu hồi quyết định cho phép thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng Văn phòng công chứng theo quy định pháp luật;          c) Cấp, cấp lại, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng: ghi nhận thay đổi danh sách công chứng viên là thành viên hợp danh và danh sách công chứng viên làm việc theo chế độ hợp đồng của Văn phòng công chứng; cung cấp thông tin về nội dung đăng ký hoạt động của Văn phòng công chứng theo quy định của Luật Công chứng;         d) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu và ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về công chứng:         đ) Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tiêu chí xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chức;         e) Tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành mức trần thù lao công chứng tại địa phương;         g) Thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm đối với trường hợp địa phương chưa thành lập Hội công chứng viên;         h) Chỉ định một Phòng công chứng hoặc một Văn phòng công chứng khác tiếp nhận hồ sơ công chứng trong trường hợp giải thể Phòng công chứng hoặc chấm dứt hoạt động Văn phòng công chứng theo quy định tại         16. Về giám định tư pháp:         a) Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phép và thu hồi quyết định cho phép thành lập Văn phòng giám định tư pháp: chuyển đổi loại hình hoạt động, thay đổi, bổ sung lĩnh vực giám định của Văn phòng giám định tư pháp;         b) Cấp, cấp lại, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động cho Văn phòng giám định tư pháp; phối hợp với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp ở địa phương; tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho giám định viên tư pháp ở địa phương;         c) Đánh giá về tổ chức, chất lượng hoạt động giám định tư pháp ở địa phương; đề xuất các giải pháp bảo đảm số lượng, chất lượng của đội ngũ người giám định tư pháp theo yêu cầu của hoạt động tố tụng tại địa phương:         d) Chủ trì, phối hợp với cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở địa phương theo quy định pháp luật.         17. Về đấu giá tài sản         a) Cấp, cấp lại, thu hồi, thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động cho doanh nghiệp đấu giá tài sản, chi nhánh của doanh nghiệp đấu giá tài sản, cấp, cấp lại, thu hồi thẻ đấu giá viên;         b) Đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề đấu giá sàn theo quy định của Luật Đấu giá tài sản:         c) Thẩm định điều kiện thực hiện hình thức đấu giá trực tuyến, phê duyệt tổ chức đấu giá tài sản đủ điều kiện thực hiện hình thức đấu giá trực tuyến theo quy định pháp luật;         d) Quản lý, hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của tổ chức đấu giá tài sản:       đ) Lập và đăng tải danh sách đấu giá viên và danh sách các tổ chức đấu giá tài sản có trang thông tin điện tử đủ điều kiện thực hiện hình thức đấu giá trực tuyến được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Sở Tư pháp và gửi Bộ Tư pháp để đăng tải trên trang thông tin điện tử chuyên ngành về đấu giá tài sản.         18. Về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản         a) Đăng ký hành nghề, lập và công bố danh sách quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tại địa phương;         b) Tạm đình chỉ, gia hạn, hủy bỏ việc tạm đình chỉ hành nghề quản lý, thanh lý tài sản đối với quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; xóa tên quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản khỏi danh sách quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề quản tài viên theo quy định pháp luật.         19. Về hòa giải thương mại         a) Cấp, cấp lại, đăng ký thay đổi nội dung, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm hòa giải thương mại, Chi nhánh Trung tâm hòa giải thương mại, Chi nhánh của tổ chức hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam;       b) Đăng ký, lập và xóa tên hòa giải viên thương mại vụ việc khỏi danh sách hòa giải viên thương mại vụ việc của Sở Tư pháp;         c) Cập nhật, công bố danh sách hòa giải viên thương mại vụ việc, tổ chức hòa giải thương mại trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp; rà soát, thống kê, báo cáo số liệu về hòa giải viên thương mại hàng năm tại địa phương.         20. Về trọng tài thương mại         a) Cấp, cấp lại, đăng ký thay đổi nội dung giấy phép thành lập, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài, Chi nhánh của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, Chi nhánh của Trung tâm trọng tài;         b) Cập nhật thông tin về Trung tâm trọng tài, Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Trung tâm trọng tài; Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;         c) Cung cấp thông tin về việc đăng ký hoạt động, việc lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Trung tâm trọng tài; Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam cho cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức và cá nhân có yêu cầu theo quy định pháp luật.         21. Về thừa phát lại         a) Xác minh thông tin trong hồ sơ bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa phát lại theo yêu cầu của Bộ Tư pháp; đăng ký hành nghề, cấp, cấp lại và thu hồi Thẻ Thừa phát lại: quyết định tạm đình chỉ hành nghề Thừa phát lại: lập danh sách thừa phát lại hành nghề tại địa phương và cấp Thẻ Thừa phát lại;         b) Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành xây dựng Đề án phát triển Văn phòng Thừa phát lại ở địa phương trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt: tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và thực hiện thủ tục trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập, chuyển đổi, sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại;         c) Cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động Văn phòng Thừa phát lại: quyết định tạm ngừng hoạt động Văn phòng Thừa phát lại;        d) Xây dựng cơ sở dữ liệu về vi bằng, thực hiện đăng ký và quản lý cơ sở dữ liệu về vi bằng theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp;        d) Quản lý về tập sự hành nghề thừa phát lại tại địa phương theo quy định pháp luật.         22. Về đăng ký biện pháp bảo đảm:        a) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn việc đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; thực hiện kiểm tra định kỳ các Văn phòng đăng ký đất đai và các Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại địa phương theo quy định pháp luật;         b) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn cho người thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất;         c) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại địa phương, hướng dẫn Văn phòng đăng ký đất đai cập nhật, tích hợp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất vào Hệ thống dữ liệu quốc gia về biện pháp bảo đảm.         23. Về công tác pháp chế:        a) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành chương trình, kế hoạch công tác pháp chế hàng năm ở địa phương và tổ chức thực hiện sau khi chương trình, kế hoạch được ban hành;         b) Quản lý, kiểm tra công tác pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;         c) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì hoặc phối hợp với các bộ, ngành trong việc hướng dẫn, tổ chức bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế đối với công chức pháp chế trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;        d) Quản lý, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác pháp chế đối với tổ chức pháp chế của các doanh nghiệp nhà nước tại địa phương;        d) Tham mưu, đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng, củng cố tổ chức pháp chế, thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác pháp chế tại địa phương.         24. Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định pháp luật.         25. Về quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính:         a) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính tại địa phương; đề xuất việc nghiên cứu, xử lý các quy định xử lý vi phạm hành chính không khả thi, không phù hợp với thực tiễn hoặc chồng chéo, mâu thuẫn với nhau theo quy định pháp luật;         b) Phổ biến, tập huấn nghiệp vụ áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của địa phương;         c) Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính và tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính tại Bộ Tư pháp.         26. Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án dân sự, hành chính theo quy định pháp luật và quy chế phối hợp công tác giữa cơ quan tư pháp và cơ quan thi hành án dân sự địa phương do Bộ Tư pháp ban hành.        28. Kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Sở Tư pháp; tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng theo quy định pháp luật hoặc theo sự phân cấp, ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.         29. Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý các hội, tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở Tư pháp theo quy định pháp luật.         30. Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về pháp luật tại địa phương; thực hiện hợp tác quốc tế về pháp luật và công tác tư pháp theo quy định pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.         31. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ thông tin trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở Tư pháp.         32. Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các phòng chuyên môn nghiệp vụ. Thanh tra và Văn phòng thuộc Sở Tư pháp; quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập: thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Sở Tư pháp theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.         33. Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định pháp luật và theo phân công, phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.         34. Thực hiện công tác thông tin, thống kê, tổng hợp, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ trong các lĩnh vực công tác được giao với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tư pháp.         35. Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp theo quy định pháp luật.

Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh Lai Châu / 2023

Điều 1. Vị trí và chức năng

Bảo tàng tỉnh Lai Châu là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

Bảo tàng tỉnh Lai Châu có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn của Cục Di sản văn hóa.

Là thiết chế văn hóa, có chức năng sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của quần chúng.

Thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn tỉnh Lai Châu phù hợp với nội dung, tính chất theo quy định của pháp luật.

Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Hoạt động nghiên cứu khoa học

– Hoạt động nghiên cứu khoa học của bảo tàng tỉnh Lai Châu được thực hiện thường xuyên thông qua việc triển khai đề tài khoa học các cấp, các chương trình, dự án, đề án khác theo kế hoạch ngắn hạn, dài hạn để phục vụ công chúng và góp phần phát triển lý luận bảo tàng học.

2. Hoạt động Sưu tầm, tư liệu hóa tài liệu, hiện vật và di sản văn hóa phi vật thể

– Sưu tầm, tư liệu hóa tài liệu, hiện vật, các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Lai Châu phù hợp với phạm vi, đối tượng, nội dung hoạt động của bảo tàng thông qua các phương thức sau đây:

– Khảo sát điền dã sưu tầm, tư liệu hóa tài liệu, hiện vật và di sản văn hóa phi vật thể;

– Tiếp nhận tài liệu, hiện vật do tổ chức, cá nhân chuyển giao, hiến tặng;

– Mua, trao đổi tài liệu, hiện vật với tổ chức, cá nhân.

Việc sưu tầm, tư liệu hóa tài liệu, hiện vật và di sản văn hóa phi vật thể phải tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành. .

3. Hoạt động kiểm kê

a) Tổ chức kiểm kê tài liệu, hiện vật theo Quy chế kiểm kê hiện vật bảo tàng được Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ban hành kèm theo Quyết định số 70/2006/QĐ-BVHTT ngày 15 tháng 9 năm 2006.

– Tiếp nhận, đăng ký, sắp xếp, theo dõi tình hình xuất, nhập và tình trạng hiện vật bảo tàng.

– Tổ chức thẩm định, bổ sung thông tin về hiện vật.

– Nghiên cứu xây dựng sưu tập hiện vật.

– Xây dựng hệ thống phiếu tra cứu hiện vật.

b) Hồ sơ kiểm kê tài liệu, hiện vật được lập, quản lý ổn định, lâu dài; được lưu trữ bằng văn bản và lưu trữ bằng công nghệ thông tin.

4. Hoạt động bảo quản

a) Thực hiện việc bảo quản hiện vật theo quy định, cung cấp bản sao tài liệu, hiện vật theo chức năng nhiệm vụ được giao và quy định của pháp luật bao gồm.

– Sắp xếp tài liệu, hiện vật và tổ chức kho để bảo quản;

– Lập hồ sơ về hiện trạng tài liệu, hiện vật và môi trường bảo quản;

– Tổ chức việc bảo quản phòng ngừa, bảo quản trị liệu, phòng chống tai họa, rủi ro cho tài liệu, hiện vật.

b) Việc bảo quản phải được thực hiện với mọi tài liệu, hiện vật khi trưng bày, khi lưu giữ trong kho và khi đưa ra ngoài bảo tàng

5. Hoạt động trưng bày giới thiệu tài liệu, hiện vật

a) Hoạt động trưng bày tài liệu, hiện vật và giới thiệu di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của bảo tàng, phù hợp với phạm vi, đối tượng, nội dung hoạt động của bảo tàng gồm:

– Trưng bày dài hạn, ngắn hạn tại bảo tàng;

– Trưng bày, triển lãm lưu động ở trong và ngoài nước;

– Tổ chức giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể;

b) Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đảm bảo an toàn, an ninh trọng khu vực do Bảo tàng quản lý. Phối hợp với các cơ quan, hữu quan đón tiếp, phục vụ khách tham quan Bảo tàng.

6. Hoạt động giáo dục

a) Hoạt động giáo dục của bảo tàng bao gồm:

– Hướng dẫn tham quan;

– Tổ chức chương trình giáo dục;

– Tổ chức hội thảo, tọa đàm khoa học, nói chuyện chuyên đề;

b) Chương trình giáo dục của bảo tàng phải phù hợp với nội dung hoạt động và đối tượng công chúng của bảo tàng.

c) Chương trình giáo dục của bảo tàng nhằm tạo cơ hội và khuyến khích các hình thức học tập và hưởng thụ văn hóa của công chúng.

7. Hoạt động truyền thông

a) Hoạt động truyền thông của bảo tàng bao gồm:

– Giới thiệu nội dung và hoạt động của bảo tàng trên phương tiện thông tin đại chúng;

– Tổ chức chương trình quảng bá và xã hội hóa hoạt động của bảo tàng;

– Tổ chức lấy ý kiến đánh giá của công chúng về hoạt động của bảo tàng;

8. Hoạt động dịch vụ.

– Tổ chức dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí và các dịch vụ khác;

– Tổ chức phát triển sản phẩm lưu niệm, xuất bản ấn phẩm bảo tàng;

– Tổ chức các sự kiện văn hóa, giáo dục, thể thao và du lịch;

– Cung cấp thông tin, tư liệu;

– Tư vấn kỹ thuật, nghiệp vụ bảo tàng;

– Bảo quản phục hồi, làm bản sao tài liệu hiện vật;

– Hợp tác khai quật khảo cổ

– Hợp tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;

– Thu phí, lệ phí, quản lý và sử dụng theo quy định của Pháp luật.

9. Thực hiện các nội dung cải cách hành chính theo chương trình, kế hoạch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

10. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ; Báo cáo tháng, quý, 6 tháng, năm và báo cáo đột xuất về tình hình hoạt động của đơn vị với các cơ quan chức năng.

11. Thực hiện một số dự án, chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa thuộc lĩnh vực hoạt động của đơn vị.

12. Quản lý công chức, viên chức, tài chính, tài sản và cơ sở vật chất của đơn vị theo quy định của pháp luật.

13. Thực hiện các nhiệm vụ khác được Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phân công.

Điều 3. Tổ chức và biên chế

1. Lãnh đạo Bảo tàng Gồm Giám đốc, các phó giám đốc:

a. Giám đốc là người đứng đầu cơ quan, thực hiện công tác quản lý, điều hành theo chế độ thủ trưởng; chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Bảo tàng.

b. Các phó giám đốc tham mưu giúp việc cho giám đốc trong công tác lãnh đạo Bảo tàng và phụ trách một số lĩnh vực công tác chuyên môn do Giám đốc phân công và trịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về công việc được phân công.

Khi Giám đốc vắng măt có thể ủy quyền cho một trong các phó Giám đốc quản lý, điều hành và giải quyết công việc của cơ quan.

c. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh thực hiện theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của tỉnh.

2. Các phòng trực thuộc

– Phòng Hành chính – Tổng hợp;

– Phòng Nghiệp vụ

Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lai Châu có trách nhiệm quy định chức năng nhiệm vụ cụ thể, bố trí sắp xếp cán bộ, viên chức và người lao động theo cơ cấu chức danh và trình độ chuyên môn cho các phòng chuyên môn nghiệp vụ; Xây dựng và ban hành quy chế làm việc của Bảo tàng theo quy định.

3. Biên chế

Số lượng người làm việc của Bảo tàng tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng biên chế sự nghiệp được giao hàng năm.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ cấu chức danh nghề nghiệp được cấp thẩm quyền phê duyệt, hàng năm Bảo tàng tỉnh xây dựng kế hoạch biên chế, số lượng người làm việc trong đơn vị trình cấp thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật.

Điều 4. Tổ chức thực hiện

Quy định này quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo tàng tỉnh Lai Châu. Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lai có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của cơ quan theo quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện nếu có điểm chưa phù hợp sẽ xem xét điều chỉnh./.

Bạn đang đọc nội dung bài viết .: Trường Chính Trị Tỉnh Gia Lai :. / 2023 trên website Photomarathonasia.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!