Top 14 # Xem Nhiều Nhất Xét Nghiệm Thăm Dò Chức Năng Gan / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Một Số Nghiệm Pháp Thăm Dò Chức Năng Thận / 2023

MỘT SỐ NGHIỆM PHÁP THĂM DÒ CHỨC NĂNG THẬN

1. PHƯƠNG PHÁP THANH THẢI Từ phương pháp thanh thải creatinin của Rehberg (1926), hoặc phương pháp thanh thải urê của Moler Mehntosh và Van Slyke (1928), ngày nay người ta đã tìm được nhiều chất thử thích hợp cho việc thăm dò từng phần chức năng thận: inulin, creatinin, urê, P.A.H, Cr 51, E.D.T.A … Trong đó: U: (mg%) chất có trong nước tiểu V: (ml/min) lượng nước tiểu/min U.V: (mg/min) lượng chất được đào thải/min P: (mg%) nồng độ chất có ở trong máu C: (ml/min) lượng huyết tương được lọc sạch một chất/min Hằng số C được Van Slyke gọi là độ thanh thải. Độ thanh thải (clearance) là lượng huyết tương tính bằng ml chứa một chất trong một đơn vị thời gian đã bị lọc sạch chất đó. Nếu nhân hằng số C với nồng độ chất đó có trong huyết thanh, thì biết được lượng chất đó được đào thải ra ngoài trong một đơn vị thời gian. Như vậy chỉ trong một điều kiện đặc biệt, một chất chỉ đi qua thận một lần đã bị loại trừ hoàn toàn, thì độ thanh thải mới tương ứng được lượng huyết tương qua thận. Điều này rất khó xảy ra trong cơ thể. Vì thế, đây là một khái niệm trừu tượng, nhưng ta vẫn có thể hiểu và ứng dụng được. Ví dụ, trong một phút có một lượng chất được bài tiết ra ở 75ml huyết tương và điều này ta cũng có thể cho: trong một phút có 1/2 lượng chất đó được bài tiết ra ở 150ml huyết tương. Như thế, khái niệm lọc sạch đã được hiểu một cách dễ dàng hơn. Trong nghiên cứu thăm dò chức năng thận, người ta cố gắng tìm các chất thử có tính chất: – Bị đào thải mà không tái hấp thu. – Không độc. – Không bị các bộ phận khác của cơ thể bài tiết và chuyển hóa. – Không tích luỹ ở thận. Hiện nay cả hai phương pháp vẫn được dùng: – Các chất có trong cơ thể (nội sinh): urê, glucose, creatinin, acid amin, một số chất điện giải … – Các chất đưa từ ngoài vào (ngoại sinh): inulin, manitol, PAH … 2. MỘT SỐ CHỈ SỐ ỨNG DỤNG 2.1. Chỉ số đánh giá chức năng lọc. Đánh giá chức năng lọc thông qua hệ số thanh thải của chất chỉ lọc qua cầu thận, mà không bị tái hấp thu và bài tiết thêm ở ống thận, như chất inulin. U.V —– = C (const ) P C inulin =120-125ml/min. 2.2. Chỉ số đánh giá chức năng tái hấp thu. Thường đánh giá khả năng tái hấp thu của ống thận thông qua hệ số thanh thải của chất sau khi lọc qua cầu thận, một phần được tái hấp thu trở lại, như urê và so với C inulin. C inulin – C urê = V huyết tương chứa urê đã tái hấp thu. Thông thường C urê = 75% C inulin. 2.3. Chỉ số đánh giá Chức năng bài tiết tích cực. Đánh giá chức năng bài tiết tích cực thông qua hệ số thanh thải của chất sau khi lọc, không bị tái hấp thu mà còn được bài tiết thêm ở ống thận như PAH, PSP. C PAH = 655ml/min; CPSP = 450ml/min.

Các Xét Nghiệm Chức Năng Gan Thường Gặp / 2023

Người sử dụng rượu bia, người có quan hệ tình dục không an toàn, phụ nữ mang thai, người chưa tiêm phòng viêm gan B, người béo phì, người đang dùng thuốc điều trị bệnh lý trong đó có thuốc làm tăng men gan, người sắp kết hôn, tiểu đường, máu nhiễm mỡ, người đang điều trị bệnh gan,… đều là những đối tượng có nguy cơ cao mắc các bệnh lý gan mật. Các đối tượng này đều nên làm các các xét nghiệm chức năng gan.

Hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh về gan như: viêm gan B, viêm gan C, xơ gan, gan nhiễm mỡ,… đều có thể khiến tế bào gan bị tổn thương, chức năng gan suy giảm, do đó có thể dễ dàng đánh giá mức độ bệnh dựa trên các kết quả xét nghiệm chức năng gan.

Xét nghiệm chức năng gan hay còn gọi là sinh hóa gan, bản chất là một phương pháp giúp xác định sức khỏe của gan bằng cách đo nồng độ protein, enzyme do gan sản xuất (men gan), và nồng độ bilirubin trong máu. Có nhiều xét nghiệm để đánh giá chức năng gan. Các xét nghiệm phản ánh tình trạng khác nhau của mức độ tổn thương gan cùng chức năng gan.

Các Chỉ Số Xét Nghiệm Chức Năng Gan?

Các chỉ số trong xét nghiệm chức năng gan thường được chia thành 3 nhóm chính:

  Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc

Bilirubin

 Bilirubin huyết thanh:

là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin (hem – chiếm 90%) và các enzyme có chứa hem. Có hai loại bilirubin là bilirubin gián tiếp và bilirubin trực tiếp. Bilirubin gián tiếp còn gọi là bilirubin tự do, tan trong mỡ, gắn với albumin – một loại protein huyết tương nên không lọc được qua cầu thận. Khi đến gan, bilirubin gián tiếp liên hợp với acid glucuronic thành bilirubin trực tiếp – còn gọi là bilirubin liên hợp, tan trong nước, bài tiết vào mật.

Bilirubin niệu:

Chỉ hiện diện ở dạng bilirubin trực tiếp. Khi có bilirubin niệu chắc chắn có vấn đề về gan mật. Chỉ số này có thể phát hiện bằng que nhúng xét nghiệm nước tiểu thông thường.

Urobilinogen

Là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, tái hấp thu vào máu theo chu trình ruột – gan và bài tiết qua nước tiểu. Trong trường hợp tắc mật hoàn toàn, sẽ không có urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết (tăng sản xuất), xuất huyết tiêu hóa hoặc bệnh lý gan. Bình thường urobilinogen 0,2 – 1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

ALP (phosphatase kiềm)

ALP là enzym thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là ở gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ít hơn. Bình thường ALP 25 – 85 U/L.

Xét nghiệm enzym ALP rất nhạy để phát hiện có tắc đường mật. Khi ALP tăng đơn thuần có thể là một dấu hiệu chỉ dẫn cho các bệnh gan do thâm nhiễm như ung thư, áp xe, u hạt, thoái hóa dạng bột. Sự tăng ALP do nguyên nhân ở gan thường đi kèm với sự tăng của men GGT và 5’-nucleotidase.

5NT (5’ Nucleotidase)

Đây là một ALP tương đối chuyên biệt cho gan, giúp xác định tình trạng tăng ALP là do gan hay do xương hoặc do các trạng thái sinh lý như trẻ em đang tuổi tăng trưởng hoặc phụ nữ có thai. Sự tăng 5NT có tương quan với mức tăng ALP. Bình thường 5NT 0,3 – 2,6 đơn vị Bodansky/dL.

GGT (g-glutamyl transferase )

GGT xúc tác sự chuyển nhóm g-glutamyl từ những peptid đến những acid amin khác và giữ vai trò vận chuyển acid amin. GGT được tìm thấy ở nồng độ cao trong ống mật. Đây là một xét nghiệm rất nhạy để đánh giá rối loạn chức năng bài tiết của gan nhưng không đặc hiệu do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. 

Bình thường GGT # 30 U/L ở nữ và # 50 U/L ở nam.

Tăng GGT đơn thuần là tình trạng nghiện rượu mạn tính, tắc mật, sau uống một số thuốc gây cảm ứng enzym ở gan (acetaminophen, phenytoin) và một số trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu. GGT còn tăng trong nhiều tình huống khác như suy thận, nhồi máu cơ tim, viêm tụy cấp, đái tháo đường, cường giáp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

NH3 (ammoniac máu)

NH3 sinh ra do sự chuyển hóa protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đại tràng. Gan giữ nhiệm vụ khử độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận. Cơ vân cũng giữ vai trò khử độc NH3 bằng cách gắn với acid glutamic để tạo thành glutamin. Bình thường NH3 máu 5 – 69 mg/dL. NH3 tăng trong các bệnh gan cấp và mạn tính. Nồng độ NH3 trong máu động mạch chính xác hơn trong máu tĩnh mạch vì không bị ảnh hưởng của NH3 từ ruột.

  Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan: AST, ALT, LDH, ferritin

Enzym chuyển hóa amino acid (aminotransferase)

AST (Aspartate aminotransferase) và ALT (Alanine aminotransferase) là các enzyme chuyển hóa nhóm –NH2 của aspartate và alanine. Sự gia tăng nồng độ enzyme này trong máu phản ánh tình trạng tổn thương tế bào gan.

AST còn gọi là SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) có ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan, ngoài ra còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu, hồng cầu. AST cũng thường tăng trong các trường hợp nhồi máu cơ tim.

ALT còn gọi là SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase) hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan.

Trị số ALT, AST bình thường < 40 UI/l. AST và ALT ở nam cao hơn nữ, thay đổi theo độ tuổi, cân nặng.

+ AST, ALT tăng vừa (< 300 UI/l) trong viêm gan do rượu. AST tăng nhiều hơn ALT nhưng không quá 2-10 lần giới hạn bình thường.

+ AST, ALT tăng nhẹ (< 100 UI/l) trong viêm gan virus cấp nhẹ và bệnh gan mạn tính như xơ gan, viêm gan mạn, di căn gan, tắc mật.

LDH (lactate dehydrogenase)

: là enzyme có ở khắp các mô trong cơ thể. LDH tăng cao và thoáng qua trong các trường hợp hoại tử tế bào gan, sốc gan. Trị số bình thường LDH từ 5-30 UI/l.

Ferritin

: Là protein dự trữ sắt trong tế bào. Trong viêm gan cấp, mạn, đặc biệt là viêm gan virus C, ferritin tăng cao. Trị số Ferritin bình thường ở nam 100 – 300 mg/L, ở nữ 50 – 200 mg/L.

  Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng tổng hợp

Protein máu

: do phần lớn protein huyết tương được tổng hợp từ gan.

Albumin huyết thanh

: Gan là nơi duy nhất tổng hợp albumin cho cơ thể (Albumin là một protein giúp duy trì áp lực keo trong lòng mạch và là chất vận chuyển các chất trong máu đặc biệt là thuốc). Bình thường albumin 35 -55 g/L.

Do khả năng dự trữ của gan rất lớn và thời gian bán hủy của albumin kéo dài (khoảng 3 tuần) nên lượng albumin máu chỉ giảm trong các bệnh gan mạn tính (xơ gan) hoặc khi tổn thương gan rất nặng.

Giảm albumin huyết thanh còn gặp trong suy dinh dưỡng hoặc bị mất albumin bất thường qua đường tiểu (hội chứng thận hư) hoặc qua đường tiêu hóa (viêm đại tràng mạn). Ở bệnh nhân bị vàng da sậm, albumin có thể bị giảm tương đối (giảm giả tạo) do bilirubin tăng cao gây cản trở việc định lượng albumin.

Globulin huyết thanh:

Được sản xuất từ nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, bao gồm protein vận chuyển các chất trong máu và các kháng thể tham gia hệ thống miễn dịch dịch thể. Giá trị bình thường của globulin là 20 – 35 g/L.

Tăng globulin gặp trong các trường hợp xơ gan, viêm gan tự miễn, xơ gan ứ mật nguyên phát.

Điện di protein huyết thanh

: cho biết tỉ lệ thành phần các protein trong huyết thanh. Tỉ số albumin/globulin (A/G) <1 gặp trong viêm gan mạn tính, xơ gan.

Thời gian prothrombin (PT) hay thời gian Quick (TQ)

TQ là một xét nghiệm khảo sát con đường đông máu ngoại sinh. Bình thường TQ 11 – 13 phút (tương ứng với 80 – 100% hàm lượng prothrombin). Để chuẩn hóa kết quả PT, người ta thường chuyển đổi thành INR (International Normalized Ratio), trị số bình thường của INR = 0,8 – 1,2.

Chi Phí Xét Nghiệm Chức Năng Gan Hết Bao Nhiêu Tiền? / 2023

Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan là thủ thuật đo các hóa chất khác nhau có trong máu do gan sản sinh ra hay các các dịch khác. Một kết quả bất thường cho thấy gan đang bị tổn thương hay có vấn đề, từ đó cho phép bác sĩ xác định nguyên nhân và đưa ra những phác đồ điều trị phù hợp. Vậy, xét nghiệm chức năng gan thận bao nhiêu tiền và bao gồm những gì?

Xét nghiệm chức năng gan thận là gì?

Gan là cơ quan nội tạng có kích thước lớn và chiếm khoảng 5% trọng lượng cơ thể con người. Cơ quan này đảm nhiều khác nhiều chức năng thiết yếu cần cho sự sống như: lọc máu, chuyển hóa chất dinh dưỡng từ thức ăn để nuôi dưỡng cơ thể và tế bào, loại bỏ vi khuẩn khỏi máu,…Ngoài ra, gan còn giữ nhiều chức năng quan trọng khác quyết định sự sống còn của cơ thể. Vì thế, phát hiện sớm những tổn thương của gan hay các vấn đề bất thường làm ảnh hưởng đến sức khỏe sẽ giúp người bệnh có những phác đồ điều trị tích cực.

Vậy xét nghiệm chức năng gan thận là gì? Đây là thủ thuật đo các hóa chất khác nhau trong máu do gan sản sinh ra. Bên cạnh đó, xét nghiệm chức năng gan thận còn mang lại nhiều mục đích khác như: bệnh nhân xuất hiện một số triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm gan như: vàng da, vàng mắt, đau tức vùng hạ sườn phải,…Tầm soát tình trạng sức khỏe gan ở các đối tượng là thành viên trong gia đình có tiền sử mắc bệnh viêm gan, suy gan…

Các loại xét nghiệm chức năng gan

1. Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử tế bào gan

AST (Aspartate aminotransferase) hiện diện ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan. Ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. Bình thường AST < 40 UI/L.

ALT (Alanine aminotransferase) hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan cho nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan. Bình thường ALT < 40 UI/L.

2. Định lượng bilirubin

3. Xét nghiệm tiểu cầu

Xét nghiệm tiểu cầu được xác định tình trạng máu đông. Ngoài ra, khi xét nghiệm lượng tiểu cầu trong máu cũng chính là cơ sở để có thể xác định được về chỉ số bình thường hay bất thường từ đó chẩn đoán bệnh xơ gan.

4. Xét nghiệm albumin

Chỉ số albumin máu bình thường sẽ nằm ở mức 40g/L. Đối với những ai bị mắc bệnh xơ gan thì chỉ số nồng độ ALB giảm thấp.

Xét nghiệm chức năng gan thận bao nhiêu tiền?

Mỗi xét nghiệm sẽ có chi phí khác nhau. Trên thực tế, mức chi phí các loại xét nghiệm kiểm tra chức năng gan thường dao động từ 50.000 – 500.000 đồng. Mức giá này có thể tăng giảm do sự chi phối bởi nhiều yếu tố khác.

Chẳng hạn, một số xét nghiệm chức năng thận có chi phí như sau: tổng phân tích nước tiểu khoảng 70.000 đồng, Creatinine khoảng 26.000 – 35.000 đồng, chúng tôi khoảng 25.000 đồng, siêu âm âm ổ bụng khoảng 130.000 đồng…

Một số xét nghiệm chức năng gan có chi phí như sau: SGOT, SGPT khoảng 50.000 đồng, GGT khoảng 35.000 đồng, Bilirubin TT, GT khoảng 50.000 đồng, α FP khoảng 90.000 đồng…

Chuyên viên của Happiny sẽ có mặt đúng hẹn và lấy mẫu nhanh chóng và chính xác. Kết quả xét nghiệm sẽ được chuyển tới quý khách hàng sau 1 – 2 tiếng đồng hồ. Bên cạnh đó chi phí xét nghiệm chức năng gan thận tại trung tâm xét nghiệm Happiny lại rất cạnh tranh nên quý khách có nhu cầu hãy liên hệ đến chúng tôi. Chuyên viên y tế của Happiny sẽ gọi điện tư vấn trực tiếp kết quả xét nghiệm, đồng thời có những hướng dẫn hoặc khuyến cáo tới khách hàng để can thiệp kịp thời nếu cần thiết.

Thăm Dò Chức Năng Thông Khí Ở Bệnh Nhân Hen Phế Quản / 2023

THĂM DÒ CHỨC NĂNG THÔNG KHÍ Ở BỆNH NHÂN HEN PHẾ QUẢN

Các thăm dò chức năng hô hấp (CNHH) là tập hợp những khảo sát cho phép đánh giá được sự thay đổi về định lượng của CNHH. Đây là phần bổ sung rất quan trọng cho khám lâm sàng và X quang trong các bệnh lý về phổi.

CNHH có thể được định nghĩa như là tập hợp các quá trình nhằm đạt được sự trao đổi khí giữa cơ thể với môi trường bên ngoài. Ở người sự hô hấp chia thành 4 phần : thông khí, lưu lượng máu, sự khuếch tán và kiểm soát thông khí. Những khảo sát CNHH được hiểu một cách kinh điển là đo thể tích phổi, lưu lượng thông khí gắng sức, đo khí máu, cơ học hô hấp, chức năng các cơ hô hấp, kiểm soát thông khí, đo khả năng vận chuyển CO2, các thử nghiệm gắng sức, thông tim phải.

1. THỂ TÍCH PHỔI VÀ LƯU LƯỢNG THÔNG KHÍ GẮNG SỨC

1.1. Các giá trị của thể tích phổi :

Thể tích phổi :

– Thể tích huy động được ( đo bằng phế dung ký) : dung tích sống bình thường và gắng sức (VC và FVC), thể tích thông khí tối đa phút, khí lưu thông, thể tích khí dự trữ thở ra và hít vào.

– Thể tích không huy động được ( đo bằng máy ghi thể tích hay bằng sự pha loãng khí trơ hít vào) : dung tích khí cặn cơ năng (FRC), khí cặn(RV).

          Tổng VC + RV = Tổng dung lượng phổi (TLC)

Lưu lượng thông khí gắng sức :

– Lưu lượng hít vào và thở ra ( đo bằng phế dung ký hay phế động ký), được đo trên đường cong lưu lượng-thể tích hay thể tích-thời gian khi hít vào và thở ra gắng sức : FVC, thể tích thở ra tối đa trong một giây (FEV1), thể tích hít vào tối đa trong một giây (FIV1), lưu lượng đỉnh (PEF), lưu lượng thở ra tối đa đo ở các vị trí trung gian của VC 25%, 50%, 75% và lưu lượng hít vào tối đa tương ứng, lưu lượng thở ra tối đa trung bình giữa 25-75% của VC (FEF 25-75). PEF có thể được đo dễ dàng bằng lưu lượng đỉnh kế cơ học.

1.2. Kỹ thuật và phương pháp

– Sự chính xác và khả năng đo lường phụ thuộc vào :

– Sự hợp tác của người bệnh

– Động cơ để khảo sát

– Sự hiểu biết

– Nắm vững kỹ thuật

Phế dung ký

Phế dung ký đo thể tích và lưu lượng lưu thông khí qua miệng. Có 2 loại thiết bị : phế dung ký dùng chuông và phế động ký đo lưu lượng khí, những thể tích được tính bằng tích phân, kết hợp với việc phân tích Hélium hay azote cho phép tính được CRF bởi sự pha loãng khí. Phương pháp này đo thể tích thông thương với đường dẫn khí.

Đo thể tích cơ thể

Phương pháp này cho phép xác định thể tích lồng ngực và đánh giá được kháng lực đường thở.

1.3. Thể hiện kết quả

Tất cả những thể tích được đo ở điều kiện chuẩn tại phổi, nghĩa áp suất khí quyển, nhiệt độ cơ thể và bão hòa hơi nước ( gọi là BTBS)

Những biến đổi đo được thể hiện giá trị tuyệt đối và đo bằng % giá trị lý thuyết, phụ thuộc giới tính, tuổi và chiều cao .

1.4. Diễn giải kết quả

1.4.1 Thể tích phổi

Hội chứng tắc nghẽn thông khí:

Định nghĩa : FEV1/VC giảm < 10% so với giá trị định chuẩn ( trong thực hành < 70-75%)

Độ nặng : dựa vào FEV1 (% giá trị chuẩn)

Nặng :<35%

Hội chứng hạn chế thông khí :

Định nghĩa : TLC  giảm < 10% so với giá trị định chuẩn

Độ nặng : dựa vào TLC (% giá trị chuẩn)

Nhẹ : 66% – 80%

Trung bình : 50% – 65%

Nặng :<50%

Hội chứng hỗn hợp : Kết hợp cả hai hội chứng trên với các mức độ khác nhau.

Hội chứng căng : Kết hợp với sự tăng TLC, FRC và RV. Nó cũng kết hợp với hội chứng tắc nghẽn.

1.4.2. Đường cong lưu lượng thể tích

Một đường cong lồi hướng lên trên của lưu lượng thở ra gây nên nghẽn tắc phế quản là dấu hiệu đầu tiên, ngay cả khi FEV1 và FEV1/VC còn bình thường

Nó còn cho phép định vị được vị trí nghẽn tắc trong đường dẫn khí : phế quản trung tâm với sự giảm ưu thế của lưu lượng thể tích cao, và ngược lại đối với ngoại biên. Sự tắc nghẽn cố định hay dao động, trong hay ngoài lồng ngực cần được so sánh với lưu lượng hít vào và thở ra.Trong trường hợp tắc nghẽn ngoài lồng ngực dao động, lưu lượng hít vào giảm chủ yếu và ngược lại trong trường hợp tắc nghẽn dao động trong lồng ngực. Sự thay đổi áp suất trong lồng ngực giải thích sự khác biệt này : khi hít vào, áp suất âm trong lồng ngực “mở” đường dẫn khí trong lồng ngực và “đóng” các đường dẫn khí ngoài lồng ngực. Cũng vậy. VIMS bình thường cao hơn so với FEV1 (VIMS/FEV1 = 1,3), ngoại trừ trường hợp nghẽn tắc ngoài lồng ngực.

Cần xem xét giữa xẹp đường dẫn khí và nghẽn tắc phế quản thật sự.Trong trường hợp xẹp, như khí phế thủng nặng, người ta thấy sự gập góc rõ ràng của đường cong thở ra với sự trồi sụt của lưu lượng ở thể tích thấp.Hiện tượng này dẫn đến xẹp các thành phế quản bị phá hủy khi có sự tăng áp suất trong lồng ngực.

Tuy nhiên điều quan trọng là giữ lại được khả năng tái sinh bình thường, những thay đổi vững vàng và lâm sàng hữu ích giữa FEV1 và tỉ số FEV1/CV.

            Đường biểu diễn lưu lượng thể tích bình thường, rối loạn thông khí hạn chế, rối loạn thông khí tắc nghẽn đường dẫn khí trong phổi

2. KHẢO SÁT ĐÁP ỨNG PHẾ QUẢN

2.1. Đáp ứng hồi phục cây phế quản

Trước một cas nghẽn tắc phế quản, điều chủ yếu là cần phải xác định được xem có hồi phục hay không.

Đồng vận Bêta-2 hay, ít thường xuyên hơn là các atropin dạng tổng hợp được dùng dưới dạng khí dung hay bột.Sự đáp ứng đánh giá sau 15-20 phút, cần giữ đường cong liều lượng-đáp ứng từ 100-800 microgrammes đối với đồng vận bêta-2.

Test hồi phục nhờ vào corticoids, nhận xét đáp ứng sau 1 đến 2 tuần dùng  prednisone 0,5-1 mg/kg/ngày. Nó cho phép đánh giá sự hồi phục mà trong giai đoạn cấp không thể xác định được.

2.2. Test kích thích phế quản

Test này chỉ có thể giải thích được ở những người ngừng  ít nhất 8 giờ đối với bêta-2 khí dung tác động ngắn, 12 giờ đối với thuốc kháng dị ứng, và 48 giờ đối với bêta-2 khí dung tác động dài, antihistamine, théophylline hay ức chế bạch cầu. Trị liệu bằng corticoids khí dung hay đường uống vẫn có thể duy trì trong lúc làm test.

Một số test tăng phản ứng cây phế quản không đặc hiệu khác được sử dụng như: test với histamine, test tăng thông khí, test gắng sức.

3. CHỈ DỊNH KHẢO SÁT CHỨC NĂNG HÔ HẤP TRONG SUYỄN

Người ta thường ghi nhận sự bất tương xứng giữa cảm giác khó thở một phần với các khám nghiệm lâm sàng, phần khác với các dấu chứng nghẽn tắc phế quản : một bệnh nhân có thể có rối loạn tắc nghẽn tương phản với khám nghiệm lâm sàng và thiếu vắng những cơn suyễn hay khó thở.

Phế dung ký là phương tiện cần thiết để có thể chẩn đoán suyễn, đánh giá độ nặng và theo dõi diễn tiến.

Khảo sát CNHH bao gồm tối thiểu phải có phế dung ký trong bilan ban đầu của mọi cơn HPQ. FEV1 và VC là những dữ liệu tối thiểu phải có. Những test chức năng khác được thực hiện tùy theo bệnh cảnh. PEF là công cụ hữu ích nhưng không đủ để theo dõi bệnh lý HPQ. Nó thiếu độ nhạy cảm để phát hiện bất thường thông khí và có thể bình thường trong trường hợp rối loạn tắc nghẽn. Giá trị ghi nhận của FEV1 hay PEF mang về giá trị lý thuyết hay hơn nữa là cho biết mức độ trước đây của bệnh nhân. Sự thay đổi mang tính chu kỳ của PEF hay FEV1 rất quan trọng trên bệnh nhân HPQ. Đó là sự khác biệt giữa trị số vào buổi sáng trước khi dùng thuốc giãn phế quản và trị số vào buổi chiều tối sau khi dùng thuốc giãn phế quản.

Có công thức để diễn tả sự thay đổi mang tính chu kỳ :

[PEF(tối) – PEF(sáng)] / [1/2(PEF tối + PEF sáng)] x 100

3.1. Chẩn đoán

Có nhiều dạng :

Chẩn đoán lâm sàng chắc chắn . Trong trường hợp này phế dung ký được làm như  trong  bilan ban đầu của HPQ.

Chẩn đoán không chắc chắn . Trong những trường hợp này phế dung ký cho phép xác định tồn tại sự rối loạn tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn có thể hồi phục sau khi dùng thuốc đồng vận bêta-2 khí dung hay sau khi test corticoids 1 tuần. Trong trường hợp không có rối loạn nghẽn tắc phải nhờ đến test kích thích phế quản không đặc hiệu. Thật vậy, người ta có thể phân biệt bệnh lý phế quản sau nghẽn tắc sau khi dùng thuốc lá cũa suyễn nặng, hay gắn kết với cơn suyễn có biểu hiện hô hấp không điển hình như nặng ngực thông thường, khó thở, ho mãn tính.

Trường hợp đặc biệt bệnh nhân có rối loạn về dây thanh âm cũng đáng lưu ý.Ở bệnh nhân này, có sự than phiền về những giai đoạn khó thở, tức ngực thường xuyên kèm thở rít, giống như các cơn suyễn.Đó chính là hiện tượng co thắt thanh môn với sự khép lại của dây thanh âm. Những cơn khó thở này có thể khởi phát tự nhiên hay sau một gắng sức, stress hay tiếp xúc với những chất kích thích trong không khí. Phế dung ký bình thường ngoài cơn. Vài tset kích thích sử dụng histamine, tăng thông khí hay luyện tập có thể dẫn đến sự co thắt thanh môn.Như vậy người ta có thể tách biệt được dạng nghẽn tắc cố định đường dẫn khí trên điển hình này trên đường cong lưu lượng-thể tích.

Có vài dạng suyễn nghẽn tắc ưu thế ở đường dẫn khí có khẩu kính nhỏ.FEV1 bình thường nhưng tồn tại hội chứng căng, với RV tăng, giảm tương đối FVC so với VC và giảm lưu lượng trung bình giữa 25 và 75% của VC.

Đo khí máu chỉ nhằm đánh giá mức độ rối loạn nghẽn tắc từ vừa đến nặng.

3.2. Theo dõi diễn tiến

Tần suất khảo sát CNHH được lặp lại tùy theo diễn tiến và độ nặng của bệnh. Thật hợp lý khi đo phế dung ký ít nhất 2 đến 3 lần mỗi năm trên những bệnh nhân suyễn ở các bậc II, III, và IV. Không có nơi nào lặp lại test kích thích phế quản.

Tất cả sự thay đổi về điều trị ít nhiều đều phải dựa vào lâm sàng và phế dung ký, khám nghiệm theo dõi được thực hiện dưới điều trị.

Tất cả ghi nhận về rối loạn tắc nghẽn trên cùng bệnh nhân đang điều trị đều phải làm test giãn phế quản với đồng vận bêta-2 khí dung tác động ngắn.

 

BS Lê Huy Thuần