Top 12 # Xem Nhiều Nhất Viện Kiểm Sát Thực Hiện Chức Năng Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Viện Kiểm Sát Là Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát / 2023

1. Trả lời cho câu hỏi viện kiểm sát là gì ?

Có thể hiểu một cách đơn giản nhất, viện kiểm sát là cơ quan chức năng có trách nhiệm và quyền hạn thực hiện công tố . Cùng với tòa án, cơ quan này thuộc nhánh tư pháp trong bộ máy nhà nước. Viện kiểm sát được chia thành nhiều cấp bậc khác nhau. Trong đó, viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan có thẩm quyền cao nhất. Ngoài ra, còn có các viện kiểm sát trực thuộc địa phương như : viện kiểm sát tỉnh ( thành phố), viện kiểm sát quận (huyện).

Viện kiểm sát là một cơ quan được quốc hội giao quyền trực tiếp về thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước và công dân trên địa bàn. Sau khi hiến pháp năm 1992 được sửa đổi vào năm 2002, viện kiểm sát còn có thêm chức năng thực hiện quyền công tố theo luật tố tụng hình sự quy định.

1.2. Viện kiếm sát tiếng anh là gì?

Chắc hẳn các bạn , đặc biệt là các bạn ngành luật có quan tâm tên tiếng anh của viện kiểm sát là gì đúng không? Nó là một ngôn ngữ chuyên ngành mà nhất định các bạn ngành luật phải biết để phục vụ cho quá trình học tập và làm việc. Viện kiểm soát có tên tiếng anh là procuracy, tên đầy đủ của viện kiểm sat nhân dân sẽ là people procuracy.

2. Cơ cấu tổ chức và chức năng của viện kiểm sát

2.1. Các chức năng của viện kiểm sát

Hiểu một cách nôm na, viện kiểm sát sẽ thực hiện quyền công tố và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp đối với đơn vị hành chính được phân công đảm nhiệm.

Thực hiện quyền công tố là chức năng quan trọng của viện kiểm sát. Trong một phiên tòa xét xử, chúng ta thường sẽ thấy có luật sư và kiểm sát viên. Nếu như luật sư đóng vai trò bào chữa cho người phạm tội thì kiểm sát viên lại căn cứ vào các bằng chứng phạm tội nhằm buộc tội những đối tượng này. Viện kiểm sát sẽ có sự kết hợp chặt chẽ với tòa án nhân dân các cấp để đảm bảo việc xét xử diễn ra công bằng, minh bạch nhất.

Đối với chức năng kiểm sát, viện kiểm sát cần phải kiểm tra tính hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp và thực hiện ngay tại thời điểm vừa tiếp nhận thông tin tố giác, kiến nghị khởi tố.

Có thể hiểu rằng, Viện kiểm sát có chức năng bảo vệ hiến pháp, pháp luật, bảo vệ cho lẽ phải, công bằng và quyền lợi của nhân dân. Cơ quan này có sự phối kết hợp với Tòa án nhân dân đảm bảo các vấn đề kiện tụng được diễn ra công bằng nhất, và hướng tới mục tiêu không có oan sai.

2.2. Cơ cấu tổ chức của viện kiểm sát

Viện kiểm sát bao gồm 4 cấp bậc : Viện kiểm sát nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân cấp cao ( các viện kiểm sát này đặt tại 3 thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng), viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố và viện kiểm sát nhân dân cấp quận, huyện.

Trong viện kiểm sát, người đứng đầu là viện trưởng đảm nhiệm công tác phân công, điều hành công việc của các kiểm sát viên, đồng thời tham gia vào các trọng án có nhiều tình tiết phức tạp. Bên dưới viện trưởng viện kiểm sát là viện phó hỗ trợ viện trưởng trong quá trình làm việc và điều hành các kiểm sát viên. Các kiểm sát viên sẽ nhận sự phân công của cấp trên để tham gia giải quyết các vụ án trên địa bàn phụ trách.

2.3. Viện kiểm sát có quyền gì

Quyền kháng nghị

Viện kiểm sát nhân dân dùng quyền kháng nghị khi nào? Trong trường hợp mà hành vi,bản án , quyết định của cơ quan , cá nhân có thẩm quyết trong hoạt động tư pháp có hành vi đặc biệt nghiêm trọng vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, xâm phạm đến lơi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp phasp của tổ chức, cá nhân thì lúc đó viện kiểm sát nhân dân sẽ phải kháng nghị lên các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật

Quyền kiến nghị

Viện kiểm sát nhân dân dùng quyền kháng nghị khi nào? Trong trường hợp mà hành vi,bản án , quyết định của cơ quan , cá nhân có thẩm quyết trong hoạt động tư pháp có hành vi đặc biệt nghiêm trọng vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, xâm phạm đến lơi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp phasp của tổ chức, cá nhân thì lúc đó viện kiểm sát nhân dân sẽ phải kháng nghị lên các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật

3. Sự khác biệt giữa viện kiểm sát và tòa án nhân dân

Về chức năng, viện kiểm sát sẽ tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hiện quyền công tố. Trong khi đó, toà án nhân dân sẽ có vai trò xét xử và thực hiện quyền tư pháp.

Tòa án sẽ là cơ quan đưa ra quyết định tuyên án dựa theo các căn cứ của hai bên viện kiểm sát và luật sư. Như vậy, viện kiểm sát sẽ đóng vai trò tìm hiểu một chuyên án và tìm những chứng cứ để buộc tội nếu như người bị tố giác thực sự vi phạm. Tuy nhiên, cơ quan này không phải là người đưa ra quyết định cuối cùng đối với người phạm tội.

4. Điều kiện để trở thành một kiểm sát viên

4.1. Điều kiện về bằng cấp

Để có thể trở thành một kiểm sát viên, tiêu chí đầu tiên bạn cần đáp ứng được chính là có trình độ về cử nhân Luật trở lên. Sau khi tốt nghiệp các trường thuộc chuyên ngành Luật như Đại học Luật Hà Nội, đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, hoặc một số các trường đại học có đào tạo chuyên ngành Luật như đại học Kinh tế Quốc Dân, Đại học Quốc Gia khoa Luật, bạn hoàn toàn có thể tham dự các kỳ thi công chức ngành kiểm sát để trở thành những kiểm sát viên làm việc trong các viện kiểm sát các cấp.

4.2. Điều kiện về lý lịch

Gần giống như các ngành công an, quân đội, ngành kiểm sát sẽ tiến hành điều tra lý lịch khá “chặt”. Khi nộp hồ sơ thi tuyển vào ngành này, các bạn cần phải đảm bảo có một lý lịch ” sạch”, bản thân và bố mẹ, ông bà, anh, chị, em không vi phạm pháp luật, không có những hành vi chống phá Đảng và Nhà nước.

4.3. Điều kiện về sức khỏe

Nghề kiểm sát viên có áp lực công việc khá lớn. Vì vậy, các bạn cần phải có sức khỏe đảm bảo thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu công việc. Trước khi tham dự kỳ thi nghiệp vụ kiểm sát và kỳ thi công chức, bạn cần phải trải qua vòng sơ tuyển sức khỏe. Nếu bạn đảm bảo về chiều cao, cân nặng và không mắc các bệnh truyền nhiễm, bệnh nan y nguy hiểm, bạn sẽ có cơ hội đi vào “vòng tiếp theo”.

5. Phương thức thi tuyển để trở thành nhân viên của viện kiểm sát

Để có thể trở thành nhân viên của viện kiểm sát, các bạn phải trải qua những kỳ thi khá gắt gao.

Sau khi có bằng cử nhân luật, các bạn có nguyện vọng muốn làm việc tại viện kiểm sát cần phải tham dự kỳ thi công chức và kỳ thi riêng của ngành kiểm sát. Đề thi rất đa dạng về tất cả các mảng kiến thức nói chung và kiến thức của ngành Luật nói riêng. Ngoài ra, các bạn cần phải tham dự thi tiếng Anh, tin học và một số bộ môn khác theo yêu cầu.

Kết quả thi sẽ được xét theo độ dốc, từ cao xuống thấp, nếu bài thi của bạn đạt được điểm số cao hơn so với các đối thủ, chắc chắn, bạn sẽ giành được tấm vé vào làm việc tại viện kiểm sát- là mơ ước của rất nhiều các sinh viên tốt nghiệp ngành luật.

Tuy nhiên, trước khi thi tuyển, các bạn cần phải đảm bảo bản thân đáp ứng được tất cả điều kiện của ngành, tránh tình trạng đã trúng tuyển nhưng lại lý lịch gia đình hoặc sức khỏe bản thân lại không đáp ứng được yêu cầu công việc.

6. Học viện kiểm sát ra có việc làm không?

7. Trường học viện kiểm sát ở đâu?

Trường có tên là Đại học kiểm sát hà nội , trường là cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trực thuộc Viện kiểm soát nhân dân tối cao. Đại học kiểm sát Hà Nội là cái tên khá mới trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam vì vậy chắc nhiều bạn vẫn không biết trường ở đâu đúg không? Trường được đặt tại trụ sở : phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Và hiện tại chỉ có một cơ sở duy nhất.

Chức Năng Thực Hiện Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân / 2023

Chức năng thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân. Bản chất, nội dung, phạm vi, ý nghĩa công tác thực hành quyền công tố.

Tại Khoản 1, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng hiến định Viện kiểm sát nhân dân.

, thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về , kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự (Khoản 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014).

Trong quá trình tố tụng hình sự, hoạt động thực hành quyền công tố bao gồm:

– Khởi tố bị can: Để có được quyết định khởi tố bị can, cơ quan công tố phải khởi tố vụ án và điều tra, xác minh.

– Truy tố bị can ra trước tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội.

– Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận trước phiên tòa sơ thẩm; nếu vụ án bị hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị trước phiên tòa phúc thẩm.

Tại Khoản 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 xác định: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố của mình trong những lĩnh vực sau:

– Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

– Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm.

– Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.

– Điều tra một số loại tội phạm

– Thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.

Từ bản chất, nội dung, phạm vị hoạt động thực hành quyền công tố nêu trên có thể thấy công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm:

– Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

– Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, , bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật.

– Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.

Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: lienhe@luatduonggia.vn.

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Khi Thực Hiện Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố / 2023

Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đã được quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014.

Theo đó, khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định;

b) Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

c) Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

d) Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện;

đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu để làm rõ tội phạm, người phạm tội;

e) Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội;

g) Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;

h) Quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;

i) Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;

k) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

l) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trân trọng!

Mô Hình Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Nhìn Từ Thực Tiễn Tổ Chức Và Hoạt Động Của Các Viện Kiểm Sát Nhân Dân Cấp Cao Hiện Nay / 2023

Tóm tắt: Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao là mô hình hoàn toàn mới, có vai trò, vị trí rất quan trọng trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và các chủ trương chính sách của Đảng, quy định của pháp luật về việc thành lập, tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao. Từ đó nêu lên thực tiễn, kết quả hoạt động của 03 Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Việt Nam, lấy ví dụ cụ thể từ Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để minh họa, chứng minh và khẳng định tính đúng đắn của mô hình Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao này trong cải cách tư pháp.

Từ khóa: Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao, hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân

Abstract: The high-level People’s Procuracy is a all new model with a crucial important role and position in the system of the People’s Procuracies. This article provides the clarifications of the rationale and policies of the Party and the legal provisions on the establishment, organization and operation, functions and mandates of the high-level People’s Procuracy. The article also provides the practical performance and results of three high-level People’s Procuracy in Vietnam, an example of the high-level People’s Procuracy in Da Nang to illustrate, prove and confirm this model of the People’s Supreme Procuracy is in the reform of the judiciary.

Keywords: high-level People’s Procuracy, the system of the People’s Procuracies

Mô hình Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp cao lần đầu tiên được xuất hiện trong hệ thống VKSND kể từ khi có Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Do đây là mô hình hoàn toàn mới trong bối cảnh cải cách tư pháp, nên chúng ta rất cần nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận và sơ kết, tổng kết từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của các VKSND cấp cao để củng cố và hoàn thiện mô hình này.

1. Cơ sở chính trị, pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

Trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước pháp quyền của chúng ta, hệ thống cơ quan tư pháp có tính độc lập đặc thù, được tổ chức và hoạt động theo một số nguyên tắc đặc trưng cơ bản như nguyên tắc: “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”; Tòa án thực hiện hai cấp xét xử; tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành”; “không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào ở địa phương”… Vì vậy, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phải theo mô hình cấp xét xử, cấp tố tụng, có “địa hạt tư pháp” riêng, hạn chế thấp nhất việc tổ chức theo hệ thống của cơ quan hành chính. VKSND ba cấp trước đây đã tổ chức theo mô hình hoàn toàn gắn với cơ quan hành chính từng tồn tại trong thời gian dài đã bộc lộ nhiều hạn chế và bị chi phối bởi cơ quan hành chính và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương, ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động tố tụng tư pháp. Bên cạnh đó, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng nền tư pháp gần dân hơn, nhất là trong việc giải quyết khiếu kiện, kháng cáo, đề nghị, đơn thư của công dân, cơ quan, tổ chức, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện với hệ thống tư pháp. Do đó mà ngay từ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết 49) đã định hướng chiến lược rất quan trọng là: “tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính” và đưa ra mô hình “Tòa Thượng thẩm được tổ chức theo khu vực” (Tòa án nhân dân cấp cao hiện nay). Nghị quyết 49-NQ/TW cũng đã định hướng tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát, đó là “VKSND được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án”[1].

Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 về “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW đã ngày càng khẳng định xu hướng cải cách tư pháp này và chỉ rõ, việc thành lập hệ thống Tòa án nhân dân (TAND) bốn cấp (thay vì ba cấp như trước đây) và hệ thống VKSND cũng được thành lập tương ứng với hệ thống Tòa án.

Khoản 2 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “VKSND gồm VKSND tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định”. Như vậy, mặc dù Hiến pháp không quy định cụ thể hệ thống tổ chức VKSND, nhưng để ngỏ khả năng thành lập VKSND cấp cao. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Điều 40 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: Hệ thống VKSND gồm:1. VKSND tối cao; 2. VKSND cấp cao; 3. VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; 4. VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; 5. Viện Kiểm sát quân sự các cấp. Như vậy, VKSND cấp cao là cấp kiểm sát thứ hai trong hệ thống bốn cấp kiểm sát (hệ thống Viện Kiểm sát quân sự các cấp được tổ chức riêng).

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cấp cao được quy định tại khoản 2 Điều 41 Luật Tổ chức VKSND năm 2014: “VKSND cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp cao”.

Hai nhiệm vụ, quyền hạn này xuất phát từ nhiệm vụ đặt trưng, xuyên suốt của ngành kiểm sát nhân dân nói chung, đối với từng cấp kiểm sát nói riêng. Trên cơ sở đó, Quyết định số 26/QĐ-VKSTC-VC ngày 20/11/2015 của Viện trưởng VKSND tối cao ban hành kèm theo Quy chế tổ chức và hoạt động của VKSND cấp cao. Khoản 1 Điều 3 Quy chế này quy định, VKSND cấp cao: “Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tối cao, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có kháng cáo, kháng nghị, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án cấp tỉnh, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị”.

Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 82/2014/QH13 ngày 24/11/2014 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định:”Viện trưởng VKSND cấp cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi lãnh thổ thuộc thẩm quyền.”

Thẩm quyền này cũng được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015 (Điều 373 và Điều 400); Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015 (Điều 331 và Điều 354) và Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2015 (Điều 260 và Điều 283). Đây là thẩm quyền mới của VKSND cấp cao, thay thế thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND cấp tỉnh trước đây đối với bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện.

Như vậy, việc tổ chức và hoạt động của mô hình VKSND cấp cao (cũng như mô hình TAND cấp cao) có vai trò làm hạt nhân thu gọn đầu mối, bảo đảm tính tập trung thống nhất về người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và người tham gia các phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm, nhằm khắc phục tình trạng có quá nhiều đơn vị thực hiện chức năng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; tạo điều kiện để VKSND cấp tỉnh tập trung làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, không tham gia nhiều giai đoạn xét xử vừa sơ thẩm, phúc thẩm lại vừa giám đốc thẩm, tái thẩm như trước đây.

Trong mối quan hệ ngành dọc thì Viện trưởng VKSND cấp cao còn có thẩm quyền “Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử của VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện” (điểm b, khoản 2 Điều 65 Luật Tổ chức VKSND năm 2014).

Có thể nói rằng, mô hình VKSND cấp cao này không hoàn toàn mới mà có tính kế thừa mô hình Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các loại án phúc thẩm. Mô hình này vừa phát huy lợi thế trong việc tiếp nhận giải quyết khiếu kiện, đơn thư của người dân đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án ở địa phương theo địa hạt tư pháp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện với công lý, với hệ thống tư pháp, đưa nền tư pháp nước ta đến gần dân hơn khi VKSND cấp cao được tăng cường mới chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng tại giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, đồng thời cũng góp phần giảm tải đáng kể khối lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo tập trung về các cơ quan trung ương như trước đây. Bên cạnh đó, VKSND cấp cao là cấp kiểm sát độc lập còn tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát trong việc chủ động thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, tăng cường các thẩm quyền công tác và tự chịu trách nhiệm đối với Viện trưởng VKSND tối cao. Ưu điểm này khắc phục được nhiều hạn chế mà đơn vị tiền thân của nó khi trực thuộc VKSND tối cao về mọi mặt.

Tóm lại, mô hình VKSND cấp cao có tính độc đáo ở chỗ đơn vị này không thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết án ở giai đoạn sơ thẩm và chức năng kiểm sát công tác thi hành án dân sự, hình sự như các cấp kiểm sát khác, mà chỉ tập trung vào công tác nghiệp vụ chuyên sâu là thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết án ở giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Mặt khác, VKSND cấp cao được tổ chức hoàn toàn độc lập với cấp hành chính, không chịu sự ràng buộc, chi phối, áp lực nào về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế bởi bất cứ cơ quan nhà nước nào ở địa phương, mà chỉ chịu sự lãnh đạo trực tiếp, tập trung thống nhất toàn diện của VKSND tối cao (kể cả tổ chức Đảng bộ VKSND). Cách thức tổ chức này thể hiện rõ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND “không lệ thuộc vào cơ quan nhà nước nào ở địa phương”, không “song trùng trực thuộc”. Mô hình này tạo cho VKSND cấp cao có điều kiện hoạt động độc lập, khách quan, chỉ tuân theo pháp luật và chỉ chịu sự lãnh đạo tập trung thống nhất của VKSND tối cao. Vì vậy, có thể coi đây là mô hình có tính “đột phá” của cải cách tư pháp.

2. Tình hình hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

Năm 2015, VKSND cấp cao được thành lập tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ khi được thành lập và đi vào hoạt động đến nay, điểm nổi bật, thành công nhất của mô hình VKSND cấp cao là công tác xem xét giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, giải quyết được nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo tồn đọng, bức xúc trong nhân dân.

Ví dụ, tại VKSND cấp cao tại Đà Nẵng, tính từ ngày mới thành lập đến tháng 3/2017 đã thụ lý giải quyết3.843 đơn/2.472 việc (trong đó hình sự 840 đơn/401 việc; dân sự: 2.035 đơn/1.493 việc; hành chính, kinh doanh thương mại, lao động: 968 đơn/578 việc). Trong đó tiếp nhận 1.334 đơn/796 việc từ VKSND tối cao chuyển về theo thẩm quyền mới. VKSND cấp cao tại Đà Nẵng đã phân loại, giải quyết: 2.325 đơn/1.315 việc, đạt tỷ lệ 60,49% về số đơn (2.325 đơn/3.843 đơn), 53,19% về số việc (1.315 việc/ 2.472 việc). VKSND cấp cao tại Đà Nẵng cũng đã kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm: 96 vụ (hình sự: 18 vụ; dân sự: 48 vụ; hành chính, kinh doanh thương mại, lao động: 30 vụ). Tòa án kháng nghị 214 vụ (hình sự: 36 vụ; dân sự: 130 vụ; hành chính, kinh doanh thương mại, lao động: 48 vụ), còn lại là các trường hợp trả lời không kháng nghị, thông báo Tòa án đã thụ lý, giải quyết đơn[2] …

Mặc dù mới được thành lập và tiếp nhận nhiệm vụ mới mẻ, rất phức tạp, có tính chuyên môn sâu rộng, song các VKSND cấp cao đã không ngại khó khăn, thiếu thốn về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, kỹ thuật, nêu cao tinh thần quyết tâm, tập trung giải quyết được khối lượng rất lớn đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, đều đạt tỷ lệ lên đến trên 50% [3],[4], mà trước đây theo mô hình cũ còn tồn đọng rất nhiều và tỷ lệ giải quyết chỉ từ 20% đến 25%. Chất lượng công tác thực hành quyền công tố kiểm sát giải quyết án ở giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm không ngừng được nâng lên, bảo đảm sự độc lập, khách quan trong công tác, giảm thiểu đáng kể khối lượng đơn khiếu nại, tố cáo gay gắt, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận với công lý gần hơn, nhanh hơn, thuận lợi hơn. Từ sự thành công này cho thấy, chủ trương cải cách tư pháp trong việc thành lập và đi vào hoạt động của mô hình VKSND cấp cao bước đầu đã thể hiện tính đúng đắn và hiệu quả cao, giải quyết được khối lượng rất lớn công việc, đặc biệt là đơn giám đốc thẩm, tái thẩm khi phân vùng, phân định cụ thể trách nhiệm về cho các VKSND cấp cao, Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao. Vì vậy chủ trương cải cách tư pháp này của Đảng và Nhà nước ta cần tiếp tục được phát huy, tăng cường hơn nữa.

2.1 Những thuận lợi trong hoạt động của VKSND cấp cao

Mô hình VKSND cấp cao tạo ra cơ chế độc lập thực sự, bảo đảm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc giải quyết các vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm không bị can thiệp, chi phối bởi yếu tố bên ngoài nào, góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Bên cạnh đó, mô hình VKSND cấp cao còn tạo ra môi trường công tác có tính chuyên môn sâu rộng, tạo điều kiện cho đội ngũ kiểm sát viên có điều kiện tiếp xúc, giải quyết nhiều loại án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật ở nhiều cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của nhiều cấp tỉnh, cấp huyện; góp phần nâng cao trình độ, năng lực công tác chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức của ngành kiểm sát.

2.2 Những khó khăn trong hoạt động của VKSND cấp cao

Công tác chuyên môn: Công tác thụ lý, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm là công tác mới, rất phức tạp, trong khi đó, nhiều kiểm sát viên trước đây công tác tại VKSND địa phương chưa từng làm công tác này, nên không tránh khỏi những khó khăn, lúng túng ban đầu trong quá trình giải quyết. Bên cạnh đó, khối lượng hồ sơ và đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nhận bàn giao từ VKSND tối cao và các VKSND địa phương rất lớn; cộng thêm khối lượng hồ sơ và đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm mới tiếp nhận theo thẩm quyền rất nhiều gây ra tình trạng quá tải cho đội ngũ kiểm sát viên của VKSND cấp cao.

Công tác nhân sự: Do tính chất đặc thù của cấp kiểm sát đòi hỏi kiểm sát viên của VKSND cấp cao phải là người có kinh nghiệm, đã từng trải qua nhiều vị trí công tác ở địa phương, qua nhiều khâu công tác từ thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết án hình sự, đến kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, kiểm sát giải quyết án hành chính. Vì vậy, nguồn kiểm sát viên của VKSND cấp cao phải tiếp nhận từ VKSND địa phương, hoặc từ VKSND tối cao đưa về. Trên thực tế, nguồn nhân lực từ VKSND tối cao đưa về còn hạn chế, trong khi đó nguồn từ các VKSND địa phương cũng gặp khó khăn do hiện nay các VKSND địa phương cũng thiếu người, nhất là những công chức có năng lực, kinh nghiệm công tác.

Điều kiện làm việc: Trụ sở làm việc của các VKSND cấp cao đều tiếp quản từ trụ sở làm việc của các Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm. Các trụ sỏ này vừa đang xuống cấp, vừa không đáp ứng được nhu cầu về diện tích sử dụng gây ra tình trạng quá tải trong việc bố trí phòng làm việc cho cán bộ, công chức của VKSND cấp cao. Ví dụ tại VKSND cấp cao tại Đà Nẵng hiện nay được tiếp quản từ trụ sở Viện Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng chỉ có diện tích 956m 2, được thiết kế cho khoảng 30- 40 người làm việc theo mô hình cũ, trong khi mô hình mới – với khối lượng công việc tăng gấp ba, số lượng định khung biên chế 130 người (hiện nay đã có 68 người) nên nhiều phòng làm việc trở nên chật chội, quá tải.

3. Kiến nghị các giải pháp củng cố, kiện toàn mô hình Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

Trên cơ sở khẳng định tính đúng đắn của việc thành lập và hoạt động của mô hình VKSND cấp cao, trong thời gian tới, chung ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường mô hình này thông qua những giải pháp cơ bản sau:

– Đảng và Nhà nước, VKSND tối cao cần sớm tổ chức sơ kết, tổng kết chuyên đề về tổ chức và hoạt động của mô hình VKSND cấp cao. Bên cạnh đó, cần tổ chức nhiều hội thảo khoa học, chuyên đề về vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của mô hình VKSND cấp cao để không ngừng bổ sung và hoàn thiện mô hình này phục vụ cho công cuộc cải cách tư pháp, phát huy được lợi thế tối đa của mô hình độc đáo này trong hệ thống VKSND. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vị trí, vai trò của cấp kiểm sát mới này, làm cho thiết chế này đến gần người dân hơn, làm chỗ dựa tin cậy cho nhân dân; cần có cơ chế động viên, cổ vũ để thu hút lực lượng công chức từ các địa phương về yên tâm công tác; có giải pháp đột phá trong xây dựng hệ thống nhà công vụ với đầy đủ tiện nghi, chất lượng cao, đa dạng cho từng cấp kiểm sát viên và cần có thêm chế độ đãi ngộ thích đáng khác, như quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, về sinh hoạt cuộc sống hàng ngày, hỗ trợ tiền tàu xe, phối hợp chính quyền địa phương ưu tiên giải quyết vấn đề việc làm cho thân nhân của cán bộ, công chức VKSND cấp cao… thì mới thu hút được thêm những kiểm sát viên có năng lực, kinh nghiệm, nhiệt tình công tác.

– Để góp phần giải quyết bài toán bức xúc về nhân lực, bên cạnh việc tiếp nhận những công chức có kinh nghiệm từ các VKSND khác, cần xây dựng cơ chế tuyển mới một số công chức là những cử nhân kiểm sát, luật tốt nghiệp loại khá, giỏi từ Trường Đại học Kiểm sát, Trường Đại học Luật có uy tín để thực hiện các công việc tương đối đơn giản theo sự hướng dẫn giúp đỡ của kiểm sát viên kinh nghiệm; từng bước đào tạo, phát triển lâu dài lực lượng công chức trẻ này theo định hướng: sau khi được bổ nhiệm kiểm sát viên sơ cấp, kiểm sát viên trung cấp cần tăng cường xuống một số VKSND địa phương để trực tiếp tham gia thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại các phiên tòa hình sự, dân sự, hành chính để làm nguồn tại chỗ cho việc bổ nhiệm kiểm sát viên cao cấp sau này.

– Tăng cường phối hợp với TAND cấp cao tổ chức nhiều phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp là khâu then chốt, để các kiểm sát viên tham gia học tập, góp ý, phân tích, đánh giá nhằm không ngừng nâng cao chất lượng công tác xét xử, tạo điều kiện cho kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp làm quen với công việc để phát triển làm nguồn bổ nhiệm kiểm sát viên cao cấp.

– Cuối cùng, để tạo điều kiện tiền đề về cơ sở vật chất, bảo đảm hoạt động của mô hình VKSND cấp cao, Đảng và Nhà nước, VKSND tối cao cần xây dựng cơ chế chính sách ưu tiên đặc biệt cho các VKSND cấp cao về nguồn kinh phí xây dựng trụ sở mới, đầu tư trang thiết bị hiện đại./.

[1] Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

[2] Thái Văn Đoàn, “VKSND cấp cao tại Đà Nẵng: Hai năm nhìn lại”, Tạp chí Kiểm sát online ngày 19/6/2017 ( http://www.kiemsat.vn/)

Thái Văn Đoàn, VKSND cấp cao tại Đà Nẵng: Hai năm nhìn lại, Tạp chí Kiểm sát online ngày 19/6/2017. Bổ sung địa chỉ của trang web

[3] Văn Tình: Lãnh đạo VKSND tối cao nghe các VKSND cấp cao, VKSND TP. Hà Nội và VKSND TP. Hồ Chí Minh báo cáo kết quả công tác năm 2016, Báo Bảo vệ Pháp luật ngày 26/11/2016.

[4] Nguyễn Huy Tiến: Nhìn lại công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm từ ngày thành lập VKSND cấp cao tại Hà Nội, Tạp chí Kiểm sát số 03/2017.