Top 11 # Xem Nhiều Nhất Vị Trí Chức Năng Của Tủy Sống Và Trụ Não Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Chức Năng Của Dịch Não Tủy

Dịch não tủy là chất lỏng, trong, không màu có ở xung quanh não và tủy sống. Khi bác sĩ nghĩ rằng bạn bị mắc các bệnh có ảnh hưởng đến hệ thần kinh (đặc biệt hệ thần kinh trung ương), bạn có thể sẽ được chỉ định xét nghiệm dịch não tủy.

1. Dịch não tủy là gì?

Dịch não tủy được tạo ra bởi một nhóm các tế bào, được gọi là đám rối mạch mạc, nằm sâu trong não thất; trung bình mỗi người lớn có khoảng 150 ml dịch não tủy. Khi chất lỏng không màu này chảy xung quanh não và tủy sống, nó làm đệm cho các cơ quan này, cung cấp các chất cần thiết cho não từ máu và loại bỏ các chất thải từ các tế bào não. Đôi khi dịch não tủy có thể có những thứ không nên có, như vi khuẩn hoặc virus có thể tấn công não và gây ra những bệnh nghiêm trọng.

2. Nguồn gốc của dịch não tủy

Dịch não tuỷ được sinh ra từ đám rối mạch mạc (cơ bản ở não thất bên), chứa đầy trong các não thất bên, qua lỗ Monro vào não thất III, qua lỗ Luschka vào khoang dưới nhện của não và qua lỗ Magendie thông với khoang dưới nhện của tủy sống;

Dịch não tuỷ được hấp thu trở lại tĩnh mạch bởi các hạt Pacchioni. Bình thường, cứ mỗi giờ có khoảng 20ml dịch não tuỷ được sinh ra và đồng thời một số lượng dịch não tuỷ đúng như vậy cũng được hấp thu;

Trung bình trong vòng 24 giờ, dịch não tuỷ của người được thay đổi 3 lần.

Các thành phần sinh học của dịch não tuỷ được điều hoà thường xuyên bởi các vùng liên diện. Đó là hệ thống các hàng rào máu – não, máu – dịch não tuỷ (các đám rối màng mạch) và dịch não tuỷ – máu (các hạt Pacchioni của màng não).

3. Thành phần của dịch não tuỷ

3.1. Thành phần tế bào

Trong dịch não tủy của người lớn bình thường mỗi microlite có 0 – 5 lympho bào (lymphocytes) hoặc tế bào đơn nhân (Mononuclear cells), không có tế bào đa nhân (Polymorphonuclear cells) và hồng cầu.

3.2. Các thành phần khác

Protein = 38,2 mg/dL và IgG là 9,9

Glucose = 61 mg/dL (65% của trị số trong huyết tương).

Chlorid = 124 mEq/L (120% trị số trong huyết tương).

Lipid = 1,25 mg/dL, gồm có phospholipids, nonphosphorus sphingolipids, cholesterol, cholesterol esters và mỡ trung tính

Các thành phần khác có số lượng rất ít.

Một số lớn các chất có trong dịch não tủy cũng thấy trong máu nhưng không phải là chất nào có trong máu đều thấy có trong dịch não tủy. Thí dụ: Beta-Lipoprotein và Fibrinogen không thấy trong Dịch não tủy. Vì vậy phải luôn luôn thực hiện đo các chất trong máu cùng lúc để so sánh với lượng chất đó trong dịch não tủy, đặc biệt là Glucose và ion Chloride.

Protein: Dịch não tủy ở não thất chứa độ 10 mg, ở bể lớn 20 mg, ở khoang dưới nhện cột sống thắt lưng là 40 mg/dL.

Glucose: não thất 60 mg/dL, ở bể lớn 50 mg/dL, ở khoang dưới nhện cột sống thắt lưng là 40 mg/dL.

4. Chức năng của dịch não tủy

Ở giai đoạn bào thai sớm: dịch não tủy có nhiệm vụ nuôi dưỡng, chức năng đó mất dần khi bào thai lớn lên.

Dịch não tủy làm trơn và là chất đệm giữa não và tuỷ sống với khung màng cứng và xương cứng bên ngoài (sọ, cột sống). Bảo vệ não và tủy sống chống lại những sang chấn cơ học, đồng thời tham gia vào nhiệm vụ dinh dưỡng, chuyển hóa của hệ thần kinh trung ương;

Về phương diện miễn dịch, dịch não tủy tác dụng như nơi lan tỏa của dịch viêm (bạch cầu và Globulin gamma) và Globulin gamma được tổng hợp trong hệ thần kinh.

Chức năng kích thích tố tìm thấy trong dịch não tủy vẫn chưa rõ ràng.

5. Xét nghiệm dịch não tủy để xác định bệnh

Hàm lượng Immunoglobulin tăng cao trong dịch não tủy, có thể là dấu hiệu của bệnh đa xơ cứng.

Dịch não tủy bị đổi màu: màu đỏ có thể xuất huyết não (chảy máu trong não), màu vàng (lao màng não),….

Dấu hiệu nhiễm vi khuẩn hoặc virus có thể cho bác sĩ biết người bệnh bị bệnh như viêm màng não hoặc viêm não.

6. Các phương pháp lấy dịch não tủy

6.1. Để lấy dịch não tuỷ, có thể đi qua 3 con đường

Lấy từ não thất (thường được tiến hành kết hợp trong khi phẫu thuật);

Lấy từ bể lớn (phương pháp chọn lọc bể lớn hay chọc dưới chẩm), chỉ định trong những trường hợp đặc biệt;

Lấy từ khoang dưới nhện cột sống thắt lưng (chọc ống sống thắt lưng), là con đường thường được chỉ định trong thực tế lâm sàng;

Dịch não tủy được lấy từ những vị trí khác nhau có thành phần sinh hóa khác nhau. Phương pháp chọc ống sống thắt lưng xét nghiệm dịch não tủy là phương pháp chẩn đoán quan trọng thường được sử dụng trong lâm sàng.

6.2. Chỉ định:

Xét nghiệm dịch não tủy có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh.

Nghiên cứu về áp lực dịch não tuỷ, sự lưu thông dịch não tuỷ: tốc độ tăng trong trường hợp tăng áp lực nội sọ (có choáng chỗ nội sọ), tốc độ giảm trong chèn ép tủy sống (u tủy sống),..

Xét nghiệm dịch não tuỷ (biến đổi sinh hoá, tế bào, vi sinh vật, độ pH, định lượng các men, các chất dẫn truyền thần kinh….);

Chụp tuỷ, chụp bao rễ có bơm thuốc cản quang… (hiện nay ít sử dụng vì có MRI hỗ trợ)

Đưa thuốc đặc hiệu vào khoang dưới nhện tủy sống.

Đưa các thuốc gây tê cục bộ phục vụ mục đích phẫu thuật.

Đưa các thuốc kháng sinh, các thuốc chống ung thư, corticoide … để điều trị các bệnh của hệ thần kinh trung ương hoặc các bệnh dây- rễ thần kinh.

Để theo dõi kết quả điều trị

Tăng áp lực trong sọ

U não

Phù nề não nặng

Tổn thương tuỷ cổ

Nhiễm khuẩn ở vùng da thắt lưng (vùng chọc kim)

Rối loạn đông máu (bệnh ưa chảy máu, giảm tiểu cầu, bệnh nhân đang điều trị chống máu đông).

6.3. Chống chỉ định

Tụt kẹt não

Nhiễm khuẩn (áp xe vị trí chọc, viêm màng não mủ…)

Đau đầu sau chọc ống sống thắt lưng

Chảy máu (gây ổ máu tụ ngoài màng cứng hoặc chảy máu dưới nhện…)

6.4. Các tai biến và biến chứng có thể gặp:

Thạc sĩ. Bác sĩ Bùi Ngọc Phương Hòa đã có hơn 24 năm công tác trong lĩnh vực chuyên khoa Tâm thần kinh. Bác sĩ Hòa nguyên là Phó Trưởng Khoa Thần Kinh – Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Quảng Ngãi và từng tham gia nhiều khóa đào tạo liên tục về Động Kinh, Tai Biến mạch máu não, Alzheimer, Rối loạn vận động, Lão khoa. Bệnh lý Nội Tiết.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bài viết tham khảo nguồn: chúng tôi

Mô Tả Cấu Tạo Và Trình Bày Chức Năng Các Phần Của Não Bộ Và Tủy Sống

Câu 3

cấu tạo não bộ

II. Cấu tạo và chức năng của trụ não

Cũng như tủy sống, trụ não gồm chất trắng (ngoài) và chất xám (trong). Chất trắng là các đường liên lạc dọc, nối tủy sống với các phần trên của não và bao quanh chất xám. Chất xám ở trụ não tập trung thành các nhân xám. Đó là các trung khu thần kinh, nơi xuất phát các dây thần kinh não. Có 12 đôi dây thần kinh não, gồm 3 loại: dây cảm giác, dây vận động và dây pha (hình 46-2).

Chức năng chủ yếu của trụ não là điều khiển, điều hòa hoạt động của các nội quan, đặc biệt là hoạt động tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa,do các nhân xám đảm nhiệm. Chất trắng làm nhiệm vụ dẫn truyền, bao gồm các đường dẫn truyền lên(cảm giác) và các đường dẫn truyền xuống (vận động).

III. Não trung gian

Não trung gian nằm giữa trụ não và đại não, gồm đồi thị và vùng dưới đồi. Đồi thị là trạm cuối cùng chuyển tiếp của tất cả các đường dẫn truyền cảm giác từ dưới đi lên não. Các nhân xám nằm ở vùng dưới đồi là trung ương điều khiển các quá trình trao đổi chất và điều hòa thân nhiệt.

IV. Tiểu não

Tiểu não cũng gồm hai thành phần cơ bản là chất trắng và chất xám. Chất xám làm thành lớp vỏ tiểu não và các nhân. Chất trắng nằm ở phía trong, là các đường dẫn truyền nối vỏ tiểu não và các nhân với các phần khác của hệ thần kinh (tủy sống, trụ não, não trung gian và bán cầu đại não).

*Cấu tạo tủy sống

+ Màng tuỷ sống. Tuỷ sống được bao bọc trong 3 lớp màng: lớp màng cứng ở bên ngoài. Áp sát màng cứng là lớp màng nhện, mỏng đàn hồi. Màng cứng và màng nhện có chức năng bảo vệ. Bên trong cùng là lớp màng mạch (còn gọi là màng não – tuỷ) mềm, dính chặt vào tuỷ sống, có nhiệm vụ nuôi dưỡng mô tuỷ sống.

+ Chất xám. Nằm trong phần chất trắng, hình chữ H. Ở chính giữa có 1 ống rỗng (ống tủy sống) chứa dịch não tủy. Chất xám do thân và các tua ngắn của các tế bào thần kinh tủy sống tạo nên.

Chất xám mỗi bên chia thành sừng trước, sừng sau (ở đoạn ngực có thêm sừng bên). Sừng trước rộng, do thân các nơron vận động, kích thước lớn tạo nên. Sừng sau hẹp, do các nơron cảm giác, kích thước nhỏ tạo nên. Sừng bên do thân các nơron dinh dưỡng tạo thành.

Ngoài ra, tia chất xám còn ăn sâu vào phần chất trắng giữa sừng bên và sừng sau tạo thành lưới tủy.

Một số nơron thần kinh trong chất xám tụ tập lại thành nhân (còn gọi là nhân chất xám) và một số nơron nhỏ nằm rải rác tạo nên các nơron liên hợp làm nhiệm vụ liên lạc giữa nơron cảm giác và nơron vận động thuộc cùng một đốt tủy.

+ Chất trắng. Nằm bao quanh các chất xám, do các sợi trục của nơron tủy tạo nên, tạo thành các đường đi lên và đi xuống. Đường đi lên (đường hướng tâm) do các sợi trục của các nơron cảm giác tạo nên. Đường đi xuống (đường li tâm) do các sợi trục của nơron vận động tạo nên. Ngoài ra còn có các sợi trục của các nơron liên hợp tạo thành bó chất trắng nối các trung khu với nhau. Tất cả các sợi trục tạo thành chất trắng của tủy sống đều có bao miêlin bao bọc không liên tục.

Phần chất trắng ở mỗi bên tủy sống tạo thành 3 cột: trước, sau, bên. Mỗi cột có nhiều bó, trong đó có bó hướng tâm, li tâm, bó liên hợp.

Các bó hướng tâm: gồm bó tủy sau giữa (bó Burdach); bó tủy sau bên ( bó Goll); bó tủy – tiểu não sau (bó tiểu não thẳng); bó tủy – tiểu não trước (bó tiểu não bắt chéo) và bó tủy – thị (bó cung)

Các bó li tâm: gồm bó tháp thẳng, bó tháp chéo và các bó ngoại tháp (gồm bó đỏ – tủy; bó thị – tủy, bó tiền đình – tủy) * Chức năng của tủy sống + Chức năng phản xạ. Chức năng phản xạ của tuỷ sống do phần chất xám trong tuỷ sống đảm nhận. Đó là các loại phản xạ tự nhiên, được xem là những phản xạ bản năng để bảo vệ cơ thể. Có 3 loại nơ ron đảm nhận chức năng phản xạ là nơron cảm giác, nằm ở rễ sau, dẫn xung cảm giác vào chất xám. Nơron liên lạc dẫn xung thần kinh ra sừng trước. Nơ ron vận động, nằm ở rễ trước, dẫn truyền xung vận động đến cơ vân và các cơ quan thừa hành.

Tuỷ sống điều tiết mọi hoạt động như các hoạt động niệu – sinh dục, nhịp hô hấp, hoạt động tim mạch. Tuỷ sống là trung tâm cấp thấp của vận động cơ toàn thân. Tuỷ sống tham gia và thực hiện các phản xạ vận động phức tạp, đồng thời là nơi giao tiếp của các phản xạ vận động.

Câu 2

nêu và giải thích…

cấu tạo của da

Chức Năng Của Tủy Sống

Số lượt đọc bài viết: 4.305

Tủy sống bao gồm 2 thành phần chính là chất xám và phần bao quanh bởi chất trắng. Nó được bao bọc bởi 3 lớp màng là màng ngoài, màng giữa, màng trong. Tủy sống thực hiện nhiều chức năng, trực tiếp tạo ra các phản xạ dưới sự tác động của bên ngoài vào cơ thể. Không cần não bộ xử lý, phân tích, cơ thể lập tức phản ứng lại, bảo vệ con người khỏi các nguy hiểm qua cơ chế tự phòng vệ.

Ví dụ như bạn không may đụng tay vào cục than củi hực lửa sẽ phản xạ lập tức rút tay về và xử lý kẻo bỏng. Đó là phản xạ vô điều kiện từ cơ thể.

Đặc điểm cấu tạo của tủy sống

Đặc điểm cấu tạo và chức năng của tủy sống là gì? Bên trong ống tủy sống là một dải dài thống nhất, có 2 vị trí phình to ra ở phần cổ và thắt lưng. Nơi đó tập trung nhiều dây và tế bào thần kinh nên vô cùng quan trọng, nhạy cảm cực kì. Cột sống phát triển nhanh hơn tủy sống, phần tiếp của tủy ngang với đốt sốt ở vùng thắt lưng.

Toàn bộ tủy sống gồm có 31 đốt tủy, có 8 đốt cổ (C: Cervical), 12 đốt ngực (T: Thoracic), 5 đốt thắt lưng (L: Lumbar), 5 đốt cùng (S: Sacral), 1 đốt cụt (C: Coccygeal). Chúng có cấu tạo tương tự với nhau.

Cấu tạo của mỗi đốt tủy gồm

Là chất nằm ở bên ngoài, đường dẫn truyền các dây thần kinh xung động đi lên khu vực não và từ não bộ đi xuống bên dưới.

Tìm hiểu chức năng của tủy sống là gì?

Dẫn truyền vận động, tủy sống thực hiện theo 2 đường chính là đường tháp và đường ngoại tháp. Trong đó, đường tháp xuất phát từ vỏ não ở vùng trán đi xuống dưới chi phối vận động cho phần cổ, thân thể và tay chân. Đường ngoại tháp xuất phát từ nhân vận động nằm dưới vỏ đi xuống tủy rồi chi phối các hoạt động cơ thể.

Chức năng của tủy sống là dẫn truyền cảm giác, chỉ dẫn các loại cảm giác từ bộ phận của cơ thể cảm nhận bên ngoài rồi phản xạ tới tủy sống đi lên não. Bao gồm có các đường sau là đường cảm giác sâu có ý thức và đường cảm giác sâu không có ý thức.

Ðường dẫn truyền xúc giác xuất phát từ việc cơ thể cảm nhận cảm giác ở trên da, niêm mạc rỗi theo rễ sau lên tủy sống rồi đi lên vỏ não đối bên. Đường này còn gọi là bó tủy, đồi thị trước, cảm nhận các cảm giác vô cùng nhanh nhạy.

Chức năng của tủy sống là đường dẫn truyền cảm giác nóng lạnh, đau nhức khi cơ quan cơ thể cảm nhận cảm giác lạnh, nóng, đau. Đó là khi có sự tác động từ yếu tố bên ngoài. Bộ phận sẽ cảm nhận đau ở ngoại vi rồi theo rễ sau đi vào tủy sống, cuối cùng tới võ nào đối bên.

Chức năng của tủy sống là gì? Phản xạ là hoạt động chủ đạo của hệ thần kinh, đó là khi cơ thể nhận thức được sự tác động của bên ngoài kích thích tạo nên nhận thức sinh ra hành động. Tủy sống chi phối nhiều phản xạ cơ thể quan trọng, gọi là phản xạ của tủy sống.

Nếu một trong 5 bộ phận này gặp vấn đề thì chắc chắn phản sẽ mất tác dụng hoặc không chính xác. Cung phản xạ này là cung mà thần kinh trung ương là tủy sống, vô cùng quan trọng.

Please follow and like us:

Nêu Chức Năng Của Tủy Sống

Tủy sống có ba chức năng chính là:

Nơi truyền hưng phấn từ các đường thần kinh cảm giác đến các cơ quan vận động.

Trung gian giữa hệ thần kinh trung ương (não bộ) và các bộ phận của cơ thể.

Tuỷ sống tham gia và thực hiện 3 chức năng chủ yếu là: chức năng phản xạ, chức năng dẫn truyền và chức năng dinh dưỡng.

+ Chức năng phản xạ. Chức năng phản xạ của tuỷ sống do phần chất xám trong tuỷ sống đảm nhận. Đó là các loại phản xạ tự nhiên, được xem là những phản xạ bản năng để bảo vệ cơ thể. Có 3 loại nơ ron đảm nhận chức năng phản xạ là nơron cảm giác, nằm ở rễ sau, dẫn xung cảm giác vào chất xám. Nơron liên lạc dẫn xung thần kinh ra sừng trước. Nơ ron vận động, nằm ở rễ trước, dẫn truyền xung vận động đến cơ vân và các cơ quan thừa hành.

Tuỷ sống điều tiết mọi hoạt động như các hoạt động niệu – sinh dục, nhịp hô hấp, hoạt động tim mạch. Tuỷ sống là trung tâm cấp thấp của vận động cơ toàn thân. Tuỷ sống tham gia và thực hiện các phản xạ vận động phức tạp, đồng thời là nơi giao tiếp của các phản xạ vận động.

Các phản xạ tuỷ điển hình như:

– Phản xạ da. Xuất hiện khi kích thích lên da. Trung tâm của phản xạ da nằm ở đoạn tuỷ ngực 11, 12

– Phản xạ gân. Xuất hiện khi kích thích lên gân (ví dụ gõ lên gân bánh chè lúc ngồi trên ghế). Trung tâm của phản xạ này nằm ở đoạn tuỷ thắt lưng 2- 4

– Phản xạ trương lực cơ. Giúp cơ luôn ở trạng thái trương lực. Nếu cắt đứt dây thần kinh vận động đùi thì cơ đùi sẽ mất trương lực, cơ sẽ mềm nhũn.

+ Chức năng dẫn truyền. Chức năng dẫn truyền của tuỷ sống do phần chất trắng đảm nhận. Chất trắng của tuỷ sống là những đường dẫn truyền xung thần kinh từ thụ quan lên não và từ não qua tuỷ sống đến các cơ quan đáp ứng. Ngoài ra trong chất trắng của tuỷ sống còn có các đường dẫn truuyền ngắn nối các đốt tuỷ sống với nhau.

+ Chức năng dinh dưỡng. Chức năng dinh dưỡng được thực hiện bởi các nơron dinh dưỡng trong tuỷ sống chi phối và chịu sự điều khiển của một đoạn tuỷ (Ví dụ, phản xạ bàng quang, phản xạ hậu môn, phản xạ vận mạch, phản xạ tiết mồ hôi).

Như vậy, tuỷ sống là trung khu thần kinh cấp thấp dưới vỏ, điều khiển các phản xạ không điều kiện.