Top 18 # Xem Nhiều Nhất Vị Trí Chức Năng Của Sĩ Quan Quân Đội / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Dân Quân Tự Vệ / 2023

Dân quân tự vệ là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân; là lực lượng bảo vệ Đảng, chính quyền, tính mạng, tài sản của Nhân dân, tài sản của cơ quan, tổ chức ở địa phương, cơ sở; làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh.

Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, được tổ chức ở địa phương gọi là dân quân, được tổ chức ở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) gọi là tự vệ.

Theo Điều 3 Luật Dân quân tự vệ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2020 thì vị trí, chức năng của Dân quân tự vệ như sau:

Dân quân tự vệ là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân; là lực lượng bảo vệ Đảng, chính quyền, tính mạng, tài sản của Nhân dân, tài sản của cơ quan, tổ chức ở địa phương, cơ sở; làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh.

Theo quy định tại Điều 5 Luật Dân quân tự vệ thì dân quân tự vệ có nhiệm vụ như sau:

– Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, cơ sở, cơ quan, tổ chức.

– Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, hải đảo, vùng biển, vùng trời Việt Nam; tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật.

– Thực hiện nhiệm vụ huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, pháp luật, hội thi, hội thao, diễn tập.

– Tham gia thực hiện các biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng theo quy định của pháp luật, quyết định của cấp có thẩm quyền.

– Phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác theo quy định của pháp luật.

– Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng địa phương, cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện chính sách xã hội.

– Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Hùng Phi

Vũ Thị Thanh Tú

Chức Năng, Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Đảng Ủy Các Đơn Vị Trong Quân Đội / 2023

Theo quy định tại Mục II.1 Phần B Quy định 59-QĐ/TW năm 2016 về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam do Ban Chấp hành Trung ương ban hành thì nội dung này được quy định như sau:

a) Chức năng

– Lãnh đạo mọi mặt các đơn vị thuộc quyền.

b) Nhiệm vụ

– Nghiên cứu, đề xuất với cấp ủy cấp trên nội dung, biện pháp để thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, cơ yếu và những chủ trương về công tác đảng, công tác chính trị, về thực hiện các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ và lực lượng cơ yếu.

– Lãnh đạo đơn vị chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của đảng ủy, mệnh lệnh của cấp trên, nghị quyết đại hội đảng bộ và nghị quyết của cấp ủy cấp mình, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

– Giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhất trí và tin tưởng vào đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của dân tộc, của Đảng, của Quân đội, của đơn vị. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, tư tưởng cơ hội thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ.

– Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng và chi bộ trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình, phê bình và các chế độ sinh hoạt, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong đảng bộ.

– Lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị và hiệu lực chế độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội theo Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX.

– Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên thuộc diện quản lý theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của cấp trên. Thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.

– Lãnh đạo nâng cao chất lượng huấn luyện – đào tạo, trình độ sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, có hệ thống tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân ở đơn vị cơ sở vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Xây dựng đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Lãnh đạo công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, công tác tư pháp, thanh tra, pháp chế trong đơn vị.

– Lãnh đạo công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính, kế hoạch – đầu tư, lao động sản xuất làm kinh tế của đơn vị. Chấp hành nghiêm quy định của Nhà nước, Quân đội về quản lý, sử dụng vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, tài chính, tài sản của đơn vị, bảo đảm an toàn, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Các chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Những chủ trương về phương án tác chiến; về tổ chức biên chế; về công tác đảng, công tác chính trị; về quản lý, sử dụng đất quốc phòng, công tác kế hoạch và đầu tư; công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính và lao động sản xuất làm kinh tế.

Do tính chất nhiệm vụ, các cấp ủy sau đây cần chú trọng lãnh đạo các nhiệm vụ có tính đặc thù:

+ Đảng ủy quân khu: Đi đối với trách nhiệm lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền, còn có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy địa phương lãnh đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, công tác quân sự địa phương, xây dựng lực lượng bộ đội địa phương và Dân quân tự vệ, thực hiện chính sách hậu phương quân đội; phối hợp với cấp ủy địa phương thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong quân khu.

+ Đảng ủy quân sự tỉnh có nhiệm vụ: Đề xuất nội dung lãnh đạo và giúp cấp ủy địa phương chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các cấp, các ngành thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chính sách hậu phương quân đội tại địa phương mình theo nghị quyết của đảng ủy quân sự cấp trên. Lãnh đạo mọi mặt cơ quan quân sự cùng cấp và các đơn vị bộ đội địa phương thuộc quyền thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ do cấp ủy địa phương và cấp ủy, người chỉ huy quân sự cấp trên giao.

+ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng cùng với trách nhiệm lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền, còn có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất để Quân ủy Trung ương quyết định các chủ trương về công tác biên phòng và xây dựng bộ đội biên phòng, đồng thời lãnh đạo bộ đội biên phòng trong cả nước thực hiện các chủ trương trên.

+ Đảng ủy bộ đội biên phòng tỉnh cùng với việc lãnh đạo mọi mặt các đơn vị thuộc quyền, còn có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với cấp ủy địa phương và Đảng ủy Bộ đội Biên phòng nội dung lãnh đạo về công tác biên phòng và xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh, đồng thời có trách nhiệm lãnh đạo các đơn vị bộ đội biên phòng tỉnh chấp hành nghị quyết của tỉnh ủy, nghị quyết của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng và nghị quyết của đảng ủy quân khu về xây dựng và tác chiến trong khu vực phòng thủ.

+ Đảng ủy đơn vị sản xuất quốc phòng và làm kinh tế có nhiệm vụ: Lãnh đạo đơn vị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; quán triệt và thực hiện quan điểm kết hợp kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế – xã hội tạo thế quân sự, quốc phòng trong khu vực phòng thủ ở địaphương, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong mọi tình huống; sản xuất, kinh doanh phát triển, đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội; góp phần cùng các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

+ Cấp ủy đảng trong các doanh nghiệp của Quân đội liên doanh với nước ngoài có nhiệm vụ lãnh đạo doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đúng pháp luật, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các bên trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi, nhân phẩm người lao động.

c) Quyền hạn

– Quyết định thành lập, giải thể tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp.

– Quyết nghị việc bổ nhiệm, bãi nhiệm, miễn nhiệm chức vụ cán bộ, thăng quân hàm sĩ quan, chuyển ra, kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ, nâng lương cán bộ theo phân cấp quản lý.

– Quyết định hoặc đề nghị kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên theo Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Việc đề bạt, bổ nhiệm, điều động cán bộ, quyết định thôi phục vụ tại ngũ đối với cán bộ và xem xét kỷ luật đối với đảng viên thuộc đảng bộ quân sự địa phương, đảng bộ bộ đội biên phòng tỉnh là sĩ quan theo phân cấp quản lý cần được bàn bạc, thống nhất giữa đảng ủy quân khu, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng với tỉnh ủy trước khi quyết định. Trường hợp còn có ý kiến khác nhau thì báo cáo Quân ủy Trung ương, Ban Bí thư, Bộ Chính trị xem xét, quyết định. Trường hợp khẩn cấp trong chiến đấu, việc điều động, bổ nhiệm cán bộ quân sự địa phương, cán bộ bộ đội biên phòng tỉnh thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền trong Quân đội.

– Xem xét, quyết định những vấn đề khác do ban thường vụ đề nghị theo quy chế làm việc của đảng ủy.

Trân trọng!

Nâng Cao Y Đức Người Bác Sĩ Ở Phân Đội Quân Y Trong Quân Đội / 2023

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận án tiến sĩ ngành triết học với đề tài: Nâng cao y đức người bác sĩ ở phân đội quân y trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, cho các bạn tham khảo

1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THANH TỊNH NÂNG CAO Y ĐỨC NGƢỜI BÁC SĨ Ở PHÂN ĐỘI QUÂN Y TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI – 2015

2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THANH TỊNH NÂNG CAO Y ĐỨC NGƢỜI BÁC SĨ Ở PHÂN ĐỘI QUÂN Y TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY u n n n : Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử s : 62 22 03 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC n n o : PGS. TS. TRẦN SỸ PHÁN HÀ NỘI – 2015

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. TÁC GIẢ LUẬN ÁN NCS Nguyễn Thanh Tịnh

4. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 5 1.1. Những công trình khoa học bàn về y đức và y đức người thầy thuốc quân đội 5 1.2. Những công trình khoa học bàn về thực trạng và giải pháp cơ bản nâng cao y đức người thầy thuốc quân đội nói chung, bác sĩ ở phân đội quân y nói riêng 14 Chƣơng 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO Y ĐỨC NGƢỜI BÁC SĨ Ở PHÂN ĐỘI QUÂN Y TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 24 2.1. Nâng cao y đức và vai trò của nó đối với người bác sĩ ở phân đội quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam 24 2.2. Đặc điểm người bác sĩ ở phân đội quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay và những yêu cầu cơ bản của việc nâng cao y đức cho họ 47 Chƣơng 3: NÂNG CAO Y ĐỨC NGƢỜI BÁC SĨ Ở PHÂN ĐỘI QUÂN Y TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG 66 3.1. Những yếu tố tác động đến việc nâng cao y đức người bác sĩ ở phân đội quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 66 3.2. Thực trạng của việc nâng cao y đức người bác sĩ ở phân đội quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay 78 Chƣơng 4: MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG, HIỆU QUẢ CỦA VIỆC NÂNG CAO Y ĐỨC NGƢỜI BÁC SĨ Ở PHÂN ĐỘI QUÂN Y TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 106 4.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục và tự giáo dục y đức của người bác sĩ ở phân đội quân y 106 4.2. Xây dựng môi trường y đức trong sạch, lành mạnh và đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực về y đức ở các phân đội quân y 122 4.3. Làm tốt công tác cán bộ và đảm bảo điều kiện vật chất cần thiết cho việc nâng cao y đức người bác sĩ ở phân đội quân y 137 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 161

5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Bác sĩ quân y : BSQY Cán bộ quân y : CBQY Chủ nghĩa xã hội : CNXH Chính trị quốc gia : CTQG Đạo đức cách mạng : ĐĐCM Nhà xuất bản : Nxb Phân đội quân y : PĐQY Quân đội nhân dân : QĐND Sĩ quan quân y : SQQY Trang : Tr. Xã hội chủ nghĩa : XHCN

6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Sự nghiệp xây dựng QĐND (quân đội nhân dân) cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội nói chung và đội ngũ bác sĩ ở PĐQY (phân đội quân y) nói riêng không chỉ đủ về số lượng mà phải có đủ phẩm chất, năng lực chuyên môn cần thiết. Để đạt được mục tiêu trên, vấn đề nâng cao y đức cho đội ngũ bác sĩ ở PĐQY luôn đóng vai trò quan trọng. Bởi lẽ, có nâng cao y đức mới tạo cơ sở, nền tảng để tiếp tục bồi dưỡng và củng cố những tri thức y đức, bản lĩnh và lý tưởng nghề nghiệp cho họ. Trên cơ sở đó, góp phần hình thành ở họ các quan hệ y đức và hành vi y đức đúng đắn, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện người CBQY (cán bộ quân y). Bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam có môi trường làm việc rất đặc thù – môi trường hoạt động quân sự và trực tiếp ở tuyến cơ sở trong quân đội. Họ có vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên địa bàn đơn vị đóng quân. Hơn nữa, trong chiến tranh họ là những bác sĩ – chiến sĩ, vừa cứu chữa thương bệnh binh, bảo đảm quân y cho đơn vị; vừa trực tiếp tham gia chiến đấu. Song, để thực hiện tốt trọng trách của mình, trong hoạt động thực tiễn họ phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách như tính chất nghề nghiệp phức tạp; dịch bệnh và ô nhiễm môi trường có nhiều diễn biến bất thường; nhiệm vụ bảo đảm quân y để đáp ứng yêu cầu của chiến tranh hiện đại ngày càng đòi hỏi cao hơn; điều kiện sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn, v.v.. Các vấn đề đó là những thách thức lớn đặt ra trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa cống hiến và hưởng thụ; giữa lý tưởng nghề nghiệp và hiện thực cuộc sống đang diễn ra ở họ. Do vậy, để giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn trên thì việc nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY hiện nay là vấn đề mang tính cấp bách.

8. 3 ệm vụ n n ứu: Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau: – Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về nâng cao y đức và vai trò của nó đối với người bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam hiện nay. – Phân tích những yếu tố tác động đến việc nâng cao y đức và thực trạng nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam hiện nay. – Đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả của việc nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam hiện nay. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án Đ t ợn n n ứu: Nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam hiện nay. P ạm v n n ứu: Hoạt động nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta được xem xét từ năm 2007 trở lại đây. Đó là những bác sĩ đang công tác ở các đại đội quân y, tiểu đoàn quân y và tương đương trong toàn quân. Đề tài không nghiên cứu đối tượng là bác sĩ đang công tác tại tuyến bệnh viện trong quân đội. 4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án ơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về ĐĐCM, đạo đức người thầy thuốc cách mạng và vận dụng vào nghiên cứu hoạt động nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta hiện nay. ơ sở t ự t ễn: Tình hình y đức và nâng cao y đức của người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta hiện nay, thông qua số liệu thực tế ở các đơn vị; số liệu điều tra xã hội học của tác giả; cùng với các chỉ thị, nghị quyết, chương trình hành động, báo cáo tổng kết của Cục Quân y về xây dựng đội ngũ CBQY nói chung và đội ngũ bác sĩ ở PĐQY nói riêng.

11. 6 đồng nghiệp và chính bản thân mình. Các nguyên lý đạo đức y khoa không phải những điều luật, mà là các tiêu chuẩn về đạo đức định hướng hành vi, phong cách ứng xử và chuẩn mực đạo đức của người thầy thuốc chân chính. Các công trình nghiên cứu về vấn đề giao tiếp giữa bác sĩ với người bệnh: Điển hình như những cuốn: “Doctor – patient communication”, Clinical Method của Elan Preston M [107]; hay “The doctor – patient relationship” Clinical Method của Pauline A. Mc Avoy [109]. Các công trình này đã chỉ ra tầm quan trọng trong giao tiếp giữa bác sĩ với người bệnh và khẳng định: “Hiệu quả giao tiếp này là chức năng trung tâm của y học lâm sàng” [107, tr.5]. Hầu hết các thông tin chẩn đoán cần thiết đều phát sinh trong quá trình giao tiếp giữa bác sĩ và người bệnh. Các công trình khoa học trên cũng chỉ ra nền tảng của quan hệ bác sĩ và người bệnh dựa trên nghĩa vụ của người bác sĩ chịu sự ủy thác luân lý của người bệnh. Nghĩa vụ này được xây dựng trên nền tảng các đức hạnh cơ bản: tính quên mình, sự hy sinh, lòng vị tha và tính chính trực. Khi có xung đột giữa các nguyên tắc đạo đức, người bác sĩ cần vận dụng phân tích y đức bằng các phương pháp luận là tính rõ ràng; nhất quán; liên kết; áp dụng và đầy đủ. Trong sách chuyên khảo “The ethics of medical research on humans” của tác giả Claire Foster [106] đã trình bày những khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu y học. Tác giả đã chỉ ra rằng, khoa học sức khoẻ ngày càng phát triển và một trong những nguyên nhân của sự phát triển đó phải kể đến vai trò của các nghiên cứu. Mục đích của các nghiên cứu sức khoẻ có sự tham gia của đối tượng nghiên cứu là con người, nhằm cải thiện sức khoẻ cho chính con người. Để đạt được mục đích đó đòi hỏi kết quả của các nghiên cứu phải chính xác. Vì vậy, lý tưởng nhất là các nghiên cứu phải được tiến hành trên chính con người, trên một nhóm người, có như thế mới xác định đúng giá trị và hiệu quả của thử nghiệm trước khi đưa ra áp dụng rộng rãi. Nhưng vì còn là nghiên cứu, nên đôi khi có những hậu quả, nguy cơ cho sức khoẻ của đối

12. 7 tượng mà người nghiên cứu chưa lường hết được. Bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào cũng phải tôn trọng các nguyên tắc: tính khoa học, tính pháp lý, tính thực tiễn, v.v.. và bảo đảm các quy định về mặt đạo đức là điều tối cần thiết cho mọi nghiên cứu khoa học trên con người. Sự thể hiện của đạo đức trong nghiên cứu y học không chỉ là tính nhân đạo, mà biểu hiện cả tính khoa học, tính pháp lý và giá trị thực tiễn của nghiên cứu. Ở Việt Nam, từ trước đến nay vấn đề y đức thực sự đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả, họ đã nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: Trong cuốn chuyên khảo “Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Nguyên Phương [79] đã phân tích khái quát những vấn đề chung về y đức, y đạo. Tác giả nhấn mạnh: “Ở phương Đông hay phương Tây thì y đức đều có những điểm chung, đó là tinh thần thái độ phục vụ, hành vi đối xử, bổn phận của người thầy thuốc đối với bệnh nhân và những quy tắc xử sự đối với thầy, cũng như đối với người ngoài nghề” [79, tr.251]. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những yêu cầu cấp bách phải nâng cao y đức của người thầy thuốc trong giai đoạn hiện nay. Trong cuốn “Một số vấn đề xây dựng ngành Y tế phát triển ở Việt Nam” [81] cũng của tác giả Đỗ Nguyên Phương đã dành một phần nội dung để làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về y tế và đạo đức của người thầy thuốc Việt Nam. Tại đây còn giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của các Giáo sư như: Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Hồ Đắc Di, Hoàng Đình Cầu, v.v.. Họ là những “người thầy thuốc làm rạng rỡ cho nền y học Việt Nam” [81, tr.173]. Để xây dựng ngành Y tế phát triển ở Việt Nam hiện nay, theo tác giả phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Song, trước mắt toàn ngành cần mở rộng những đợt sinh hoạt chính trị rộng rãi để quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 12 điều quy định về y đức, đây là yếu tố nền tảng thúc đẩy nền y tế XHCN ngày càng phát triển, góp phần to lớn vào việc xây dựng nguồn lực con người cho đất nước.

13. 8 Tác phẩm “Nguồn gốc của y đức, sự đóng góp của nền y học và văn hóa Việt Nam” của tác giả Ngô Gia Hy [40]. Trên cơ sở tổng kết lịch sử hình thành y đức trên thế giới, tác giả khẳng định: Dù thời xưa hay thời nay, ở phương Đông hay phương Tây, qua các lời thề và di huấn, y đức cũng có những tính chất chung, nên các thầy thuốc ở bất cứ đâu đều có bổn phận như nhau, đó là: bổn phận với đồng nghiệp, với khoa học, với bệnh nhân, với bậc thầy, với học trò, với tập thể và với xã hội. Đây là những nghĩa vụ, chuẩn mực y đức cơ bản mà người thầy thuốc cần phải có trong quá trình hoạt động chuyên môn. Cuốn sách “Y đức và đức sinh học, nguồn gốc và phát triển” của tác giả Ngô Gia Hy [41] đã mô tả một cách khá đầy đủ vấn đề y đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung mới của y đức nảy sinh khi y học có bước phát triển mới. Tại đây, tác giả còn đưa ra những suy nghĩ về bảo hiểm y tế với tư cách là đòn bẩy dự phòng và xóa bỏ tiêu cực trong khám, chữa bệnh, đồng thời chỉ ra nhiều khó khăn về mặt tâm lý – xã hội của người thầy thuốc khi thực hiện y đức thời hiện đại. Cuốn sách “Quản lý bệnh viện” [93] do tác giả Lê Ngọc Trọng làm chủ biên đã dành riêng một chuyên mục để viết về y đức. Theo tác giả, “Người hành nghề y đòi hỏi phải có những phẩm chất đặc biệt, được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh” [93, tr.59]. Tác giả đã phân tích những thách thức mới mà y đức nước ta đang phải đương đầu. Ông cho rằng, “Thách thức lớn nhất, nóng bỏng nhất là đòi hỏi nâng cao y đức trước nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Hiện tượng phí ngầm xuất hiện là một tồn tại nhức nhối và đang làm xói mòn lương tâm, đạo đức không ít người hành nghề y” [93, tr.65]. Tác giả nhấn mạnh: “Nâng cao y đức là bổn phận của mỗi người hành nghề y, là trách nhiệm của tập thể, là sự quan tâm của toàn xã hội” [93, tr.66].

14. 9 Cuốn sách “Một số sự kiện hàng ngày ở bệnh viện” của tác giả Nguyễn Văn Lê [44] giới thiệu một số sự kiện về văn hóa trong giao tiếp, ứng xử giữa người với người trong bệnh viện. Đồng thời, tác giả nhấn mạnh đến các mối quan hệ cơ bản như giao tiếp ứng xử giữa thầy thuốc với bệnh nhân; giữa thầy thuốc với thân nhân người bệnh; giữa thầy thuốc với thầy thuốc; giữa thầy thuốc với sinh viên, v.v.. Những quan hệ đó được biểu hiện qua các sự kiện có thật và hết sức sinh động ở các bệnh viện trong thành phố Hồ Chí Minh. Với nội dung thiết thực như vậy, cuốn sách trên đã trở thành tài liệu tham khảo quý góp phần “phục vụ việc giáo dục y đức cho các thầy thuốc trẻ và phục vụ đông đảo bạn đọc” [44, tr.5]. Chuyên luận “Đại danh y Lãn Ông và cơ sở tư tưởng của nghề làm thuốc” của tác giả Trần Văn Thụy [87] trình bày một cách có hệ thống những tư tưởng y đức của Hải Thượng Lãn Ông. Xuất phát từ quan niệm nghề y là nhân thuật, gồm hai yếu tố khoa học và lòng vị tha gắn bó mật thiết với nhau, ông cho rằng người làm nghề y phải có kiến thức đầy đủ và đức hạnh trọn vẹn. Cuốn sách cũng trình bày hệ thống y đức theo tư tưởng của ông gồm 8 tội cần tránh và 9 điều Y huấn cách ngôn để răn dạy học trò của mình trong quá trình hành nghề. Khi bàn đến những vấn đề lý luận về y đức, bên cạnh những cuốn sách nêu trên, còn một số bài báo khoa học đề cập về vấn đề này như: “Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc” của tác giả Đỗ Nguyên Phương [80]; “Quán triệt quan điểm về y đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngành Y tế Việt Nam hiện nay” của Phan Việt Dũng, Trần Văn Thụy [22]; “Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Lương y như từ mẫu” của Nguyễn Thị Hòa Bình [3]; “Kế thừa và phát huy y đức, y thuật của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác” của Cao Văn Cường [20]; “Một số vấn đề đạo đức nảy sinh do việc ứng dụng các thành tựu của y sinh học và công nghệ sinh học” của Trần Đức Long [45]; “Suy nghĩ về vinh dự và trách nhiệm của nghề nghiệp y tế”

15. 10 của Phạm Mạnh Hùng [39]; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân” của Bùi Đình Phong [75]; “Vấn đề định hướng giá trị đạo đức trong nghiên cứu và ứng dụng y – sinh học hiện đại” của Nguyễn Văn Việt [100]; “Nâng cao y đức, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” của Lâm Văn Đồng [27]; “Quan điểm Hồ Chí Minh về y đức và ý nghĩa đối với ngành Y hiện nay” của Lê Thị Lý [49], v.v.. Trong các công trình khoa học nêu trên, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức, khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức là nền tảng đạo lý của mọi thầy thuốc cách mạng, là cốt lõi tư tưởng của mọi hoạt động xây dựng và phát triển ngành Y tế Việt Nam hiện nay. Đồng thời, theo các tác giả, để nâng cao y đức cho cán bộ y tế ở nước ta hiện nay, người thầy thuốc phải chủ động rèn luyện, nâng cao tinh thần, trách nhiệm với người bệnh, với nghề nghiệp, tu dưỡng y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần bảo đảm tốt nhất chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân để xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu về khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu y – sinh học và thực hành tốt thử nghiệm lâm sàng của cán bộ khoa học ở một số trường, bệnh viện thuộc ngành Y tế. Các tác giả đã đi sâu phân tích các nguyên tắc đạo đức cơ bản như tôn trọng quyền cá nhân; từ tâm và nguyên tắc công bằng. Cũng theo các tác giả, những hành vi của nhà nghiên cứu dù vô tình hay hữu ý làm tổn hại đến người khác, đến xã hội và chính bản thân mình cũng là phi đạo đức. Vì vậy, việc nghiên cứu những nguyên tắc đạo đức cơ bản và quán triệt những nguyên tắc đó trong nghiên cứu y sinh học phải luôn được đặt ra và có vị trí quan trọng đối với nhà nghiên cứu. Một số công trình đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản về y đức trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, đồng thời chỉ ra tính cấp thiết đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục y đức cho đội ngũ thầy thuốc nói chung; trong đó, đặc biệt phải nâng cao hiệu quả giáo dục y đức cho sinh viên ngành Y khi đang ngồi trên ghế nhà trường.

16. 11 1.1.2. Những công trình khoa học tiêu biểu bàn về y đức của ngƣời thầy thuốc quân đội Một số nhà khoa học ở nước ngoài và trong nước đã có những công trình khoa học chuyên biệt bàn về y đức của người thầy thuốc quân đội như: Trong cuốn “Military medical ethics” của tác giả Thomas E. Beam, MD [111] cho thấy, các chuyên gia y tế quân sự cũng như các chuyên gia y tế khác đều phải có trách nhiệm đạo đức đối với bệnh nhân của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các chuyên gia y tế quân đội có thể phải đối mặt với những căng thẳng giữa trách nhiệm đạo đức duy nhất cho bệnh nhân và trách nhiệm cá nhân trong quá trình hoạt động quân sự. Kết quả nghiên cứu này tóm tắt một số vấn đề cơ bản về y đức quân sự như lòng trung thực đối với nghề nghiệp; việc tôn trọng quyền con người; việc tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của hoạt động quân sự; việc xử lý những trường hợp cụ thể với quân nhân như thương vong, tổn thương về tinh thần, v.v.. Đồng thời, cuốn sách cũng đề cập sự cần thiết phải cải tiến trong việc đào tạo và đào tạo lại y đức cho học viên quân y và đội ngũ nhân viên quân y. Chủ tịch Hồ Chí Minh với tấm lòng cao cả, thấu hiểu những mất mát khi hy sinh một phần thân thể của thương bệnh binh và nỗi gian khổ của bộ đội nơi chiến trận, trong những tác phẩm: “Thư gửi Hội nghị Quân y” [59]; “Thư khen cán bộ và nhân viên quân y” [64], v.v.. Bác đã phân tích rất sâu sắc về y đức của người thầy thuốc quân y cách mạng. Theo Người, y đức của thầy thuốc quân y được thể hiện thông qua tinh thần, thái độ, trách nhiệm, hết lòng thương yêu chăm sóc thương bệnh binh; luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, hợp tác với đồng đội; không ngừng học tập nâng cao trình độ để hoạt động chuyên môn ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Những tư liệu này là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả luận án vận dụng trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu của mình.

17. 12 Chuyên khảo “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân” do Vũ Văn Lương làm chủ biên [48] đã trình bày một cách có hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh về sức khỏe và vai trò của sức khỏe; mối quan hệ giữa sức khỏe cá nhân và sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, các tác giả cũng chỉ rõ vị trí, nội dung yêu cầu của công tác chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân. Trên cơ sở đó, cuốn sách đã khẳng định tính tất yếu khách quan trong việc quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân đối với người cán bộ và nhân viên quân y hiện nay. Tác giả nhấn mạnh: “Thời kỳ mới với những yêu cầu mới đòi hỏi người cán bộ quân y phải quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tưởng Hồ Chí Minh về công tác chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân” [48, tr.45]. Tác phẩm trên cũng chỉ ra một số vấn đề cơ bản về giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên quân y hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đề tài khoa học “Nghiên cứu ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân đối với cán bộ quân y hiện nay” do Vũ Văn Lương làm chủ nhiệm [47] đã khảo cứu nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, chỉ ra những nội dung cơ bản và ý nghĩa thực tiễn của các tư tưởng đó đối với việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của người CBQY ở nước ta hiện nay. Theo các tác giả, tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân bao gồm một hệ thống quan điểm về sức khỏe và vai trò của sức khỏe; về vị trí và nội dung yêu cầu của công tác chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân; những yêu cầu về phẩm chất y đức và năng lực chuyên môn của người CBQY, v.v.. “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm sóc sức khỏe có giá trị sâu sắc đối với người cán bộ quân y hiện nay, cả trong nhận thức và hành động, cả trong học tập và tu dưỡng rèn luyện để nâng cao y đức và năng lực chuyên môn” [47, tr.62], nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân trong thời kỳ mới. Vì vậy, mỗi CBQY cần nghiên cứu, quán triệt sâu sắc ý nghĩa thực tiễn những tư tưởng trên của

19. 14 Tiếp cận ở góc độ khác, tác giả Vũ Hoài Nam có bài viết “Xây dựng y đức cách mạng của người thầy thuốc quân đội trong tình hình hiện nay” [70]. Ở đây, tác giả đã đưa ra quan niệm: Y đức cách mạng là hệ thống các giá trị được thể hiện dưới dạng các yêu cầu, quy tắc, chuẩn mực y đức khi được thấm sâu vào người thầy thuốc quân đội, trở thành động lực thôi thúc ngọn lửa nhiệt tình cách mạng, lý tưởng, hoài bão, chí tiến thủ, tinh thần phấn đấu hết mình cho hoạt động y nghiệp và định hướng một cách vững chắc cho sự phát triển các giá trị nhân cách của người thầy thuốc quân đội [70, tr.50]. Cũng theo tác giả, để xây dựng y đức cách mạng cho người thầy thuốc quân đội trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi họ phải quán triệt và thực hiện tốt các yêu cầu cơ bản, đó là: tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tự lực, tự cường khắc phục khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; đem hết khả năng chuyên môn để khám, điều trị cho người bệnh, hết lòng vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của bộ đội và nhân dân; có lòng nhân ái, thái độ ân cần lịch sự khi tiếp xúc với người bệnh, không nhũng nhiễu và gây phiền hà cho người bệnh, v.v.. Tác giả nhấn mạnh: Để thực hiện tốt các yêu cầu trên, mỗi thầy thuốc quân đội phải thưỡng xuyên tu dưỡng, rèn luyện y đức; tự xây dựng cho mình một kế hoạch học tập, rèn luyện để không ngừng nâng cao y đức; dù ở cương vị công tác nào cũng là người thầy thuốc vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, trong sáng về y đức và khỏe về thể lực, góp phần cùng toàn ngành hoàn thành nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước, quân đội giao phó. 1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC BÀN VỀ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO Y ĐỨC NGƢỜI THẦY THUỐC QUÂN ĐỘI NÓI CHUNG, BÁC SĨ Ở PHÂN ĐỘI QUÂN Y NÓI RIÊNG Trong số các công trình mà chúng tôi tiếp cận được, trước hết phải nói đến cuốn “Nâng cao y đức cách mạng của cán bộ, nhân viên trong các viện quân y

21. 16 thức tự giác trong giao tiếp tích cực với bệnh nhân cho BSQY; trang bị cho họ những kiến thức về giao tiếp, những chuẩn mực, khuôn mẫu hành vi nhất định làm cơ sở điểm tựa để tiến hành giao tiếp tích cực với bệnh nhân; tổ chức hoạt động thực tiễn nhằm hình thành thói quen giao tiếp tích cực với bệnh nhân; sử dụng sức mạnh của tập thể để định hướng, điều khiển, điều chỉnh mọi thái độ, hành vi giao tiếp của BSQY theo hướng tích cực; tổ chức tốt đời sống vật chất, tinh thần cho tập thể cán bộ, nhân viên quân y. Đề tài “Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội trong thời kỳ đổi mới” của Nguyễn Hồng Giang [30] đã khẳng định vai trò quan trọng của các bệnh viện quân đội trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Theo tác giả, để xây dựng các bệnh viện quân đội vững mạnh phải đồng thời giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề. Đặc biệt, “cần chú trọng tới việc nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viên quân đội là yêu cầu khách quan, thường xuyên, không khi nào được xem nhẹ” [30, tr.156]. Trong những năm vừa qua, công tác đảng, công tác chính trị ở các bệnh viện quân đội được tiến hành nền nếp, đúng nguyên tắc đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng y đức cho người thầy thuốc trong đơn vị. Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm đó, chất lượng công tác đảng, công tác chính trị góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện còn bộc lộ những hạn chế nhất định cả về nội dung, hình thức và phương pháp tiến hành. Do đó, để nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị, góp phần bồi dưỡng y đức ở các bệnh viện quân đội hiện nay, theo tác giả “cần phải thực hiện đồng bộ và có hiệu quả nhiều giải pháp như tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng; xây dựng các cơ quan trong bệnh viện vững mạnh; phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật; xây dựng môi trường văn hóa ở các bệnh viện, v.v..” [30, tr.157]. Căn cứ vào tình hình thực tế, các chủ thể tiến hành công tác đảng, công tác chính

22. 17 trị ở các đơn vị cần vận dụng một cách chủ động, sáng tạo các biện pháp trên để mang lại hiệu quả thiết thực. Tiếp cận từ một góc độ khác, tác giả Nguyễn Quang Phúc và cộng sự đi sâu phân tích “Các giải pháp kết hợp giáo dục y đức thông qua dạy học các môn y học chuyên ngành” [77] đã khẳng định: “Đối với mỗi người thầy thuốc, y đức không tự nhiên mà có, nó chỉ được xây dựng và hình thành thông qua các con đường giáo dục” [77, tr.3]. Giáo dục y đức cho học viên trong quá trình đào tạo được tiến hành bằng nhiều cách và từ nhiều phía. Song tựu trung có các hình thức cơ bản, đó là: giáo dục y đức song song với giáo dục chuyên ngành Y là dạy người cùng với dạy nghề và giáo dục y đức thông qua các hoạt động thực tiễn về chính trị xã hội của đơn vị. Có thể coi giáo dục y đức trong quá trình dạy – học nghề y là sự kết hợp thực hiện hai trong một của quá trình đào tạo thầy thuốc nói chung và rất có ý nghĩa với việc đào tạo đội ngũ thầy thuốc quân y cách mạng. Tác giả đề tài đã khẳng định: Mặt quan trọng nhất của y đức là phải được thể hiện bằng tình cảm và hành động thực tế, chứ không đơn thuần là kiến thức truyền thụ trên giảng đường. “Vì thế nên coi trọng hình thức giáo dục y đức kết hợp với dạy học các môn chuyên ngành, trong các buổi học tại bệnh viện. Bên cạnh đó, vẫn phải quan tâm đến việc giảng dạy y đức trong các giờ học lý thuyết” [77, tr.56]. Cũng theo tác giả, quá trình giáo dục y đức là quá trình truyền thụ những nội dung quan điểm, nguyên tắc và chuẩn mực y đức thông qua truyền thụ nội dung các môn học; nội dung giáo dục y đức chủ yếu là giáo dục hành vi y đức, giúp học viên biết cách thể hiện ý thức và quan hệ y đức của người BSQY; chủ thể thực hiện quá trình dạy học các môn y học chuyên ngành là những thầy thuốc – nhà giáo quân y; học viên SQQY vừa là đối tượng của quá trình giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình đó thông qua việc tự giáo dục, tự tu dưỡng của mình. Trên cơ sở đánh giá vị trí tầm quan trọng của việc dạy học chuyên ngành kết hợp với việc giáo dục y đức cho học viên quân y, các tác giả đề tài đã luận

23. 18 giải cơ sở lý luận, thực tiễn của việc kết hợp giáo dục y đức thông qua dạy học các môn y học chuyên ngành. Đồng thời, đề xuất các giải pháp kết hợp giáo dục y đức thông qua dạy và học các môn y học chuyên ngành tại Học viện Quân y hiện nay, đó là: tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ huy đối với giáo dục y đức trong dạy và học các môn y học chuyên ngành; đổi mới chương trình, nội dung, biện pháp giáo dục y đức; phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ giảng viên và tự giáo dục của học viên. Gần với hướng tiếp cận đề tài mà chúng tôi lựa chọn có công trình “Nghiên cứu giải pháp nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ quân y cấp phân đội trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay” do tác giả Vũ Đăng Khiên làm Chủ nhiệm [42]. Công trình này, tác giả đã đưa ra các quan niệm: CBQY cấp phân đội; phẩm chất và năng lực của CBQY cấp phân đội; nâng cao phẩm chất và năng lực của CBQY cấp phân đội. Đồng thời, làm rõ nội dung, tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực của CBQY cấp phân đội trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến các phẩm chất y đức cần thiết của đối tượng này, đó là: “hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, hết sức phục vụ thương bệnh binh, bộ đội và nhân dân, thật thà đoàn kết, khắc phục khó khăn, hăng say học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ” [42, tr.33]. Trên cơ sở phân tích thực trạng phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBQY cấp phân đội trong điều kiện kinh tế thị trường, tác giả đã nhận định: Hiện nay, phẩm chất và năng lực của đại bộ phận CBQY cấp phân đội trên tất cả các nội dung: chính trị – tư tưởng, đạo đức, lối sống; trình độ tổ chức, chỉ huy quân y và trình độ chuyên môn đã được củng cố và phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, góp phần tạo sức mạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ của các đơn vị cơ sở và toàn ngành Quân y. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thực trạng phẩm chất và năng lực người cán bộ đó vẫn còn những thiếu sót, khuyết điểm nhất định.

24. 19 Từ thực trạng phẩm chất và năng lực CBQY cấp phân đội trong điều kiện kinh tế thị trường, tác giả đã phân tích những nguyên nhân và những kinh nghiệm quý báu; nhất là những nguyên nhân, kinh nghiệm về giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất và năng lực người cán bộ đó. Những nguyên nhân và kinh nghiệm này không chỉ có ích cho việc xác định giải pháp trong tổ chức thực hiện nâng cao phẩm chất và năng lực CBQY cấp phân đội trong điều kiện kinh tế thị trường thời gian tới, mà còn là tư liệu bổ sung cho việc nâng cao phẩm chất và năng lực CBQY trong toàn quân. Để nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBQY cấp phân đội hiện nay, tác giả đề tài cho rằng, các chủ thể ở đơn vị phải bám sát đặc điểm, tình hình mọi mặt của đơn vị mình, “thường xuyên chủ động nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ cán bộ này bằng các giải pháp phù hợp” [42, tr.141] như đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, kết hợp chặt chẽ các hình thức, phương pháp giáo dục; phát huy tự giáo dục, tự bồi dưỡng; đẩy mạnh công tác cán bộ, v.v.. Do đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài đặt ra rất rộng, nên chưa có điều kiện đi vào nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống một khía cạnh nhỏ trong phẩm chất của người bác sĩ ở PĐQY – đó là phẩm chất y đức. Bên cạnh những cuốn sách và các công trình nói trên, còn có một số bài báo khoa học bàn về vấn đề này như: “Giáo dục y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho học viên Học viện Quân y” của Vũ Hoài Nam [68 ]. Trên cơ sở phân tích những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về y đức, tác giả khẳng định rằng: để hoàn thành tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo của người học viên Học viện Quân y hiện nay “cần tăng cường giáo dục y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho học viên đào tạo bác sĩ quân y, giúp họ trau dồi phẩm chất y đức, chuẩn bị tâm lý nghề nghiệp ngay từ khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường” [68, tr.53]. Theo đó, để nâng cao chất lượng giáo dục y đức cho đội ngũ này, cần thực hiện tốt các biện pháp sau: nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng và ĐĐCM cho học viên; tăng cường giáo

27. 22 Do đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu khác nhau, nên các công trình khoa học trong và ngoài nước bước đầu đã phân tích và đưa ra các quan niệm về y đức (mặc dù còn có sự khác biệt nhất định). Một số công trình khoa học đã ít nhiều bàn đến các chuẩn mực y đức, vai trò của y đức đối với sự phát triển toàn diện người thầy thuốc Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề này ở một đối tượng cụ thể là người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta hiện nay có rất ít đề tài nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu bước đầu đạt được còn hết sức mờ nhạt. Đây chính là một trong những vấn đề đặt ra và đòi hỏi luận án cần được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống. Hai là, nghiên cứu đặc điểm của người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta hiện nay và những yêu cầu cơ bản của việc nâng cao y đức cho họ. Trên cơ sở phân tích chức năng, nhiệm vụ của người thầy thuốc, một số công trình khoa học trong và ngoài nước đã chỉ ra được đặc điểm riêng của người thầy thuốc trong hoạt động chuyên môn và đề ra những yêu cầu cơ bản của việc nâng cao y đức cho họ. Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu vấn đề này ở một đối tượng cụ thể (người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta) thì chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống. Các kết quả nghiên cứu đạt được còn chung chung, chưa toàn diện, chưa phản ánh hết yêu cầu định hướng chung trong hoạt động chuyên môn và những chuẩn mực y đức cần có của người bác sĩ ở PĐQY. Vì vậy, đây cũng là một trong những vấn đề đặt ra và cần được tiếp tục giải quyết cặn kẽ trong luận án của tác giả. Ba là, nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao y đức cho người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta hiện nay. Hiện nay, ở nước ta đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hành y đức của người thầy thuốc nói chung. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp can thiệp và đánh giá kết quả áp dụng một số biện pháp can thiệp nhằm nâng cao nhận thức, thực hành y đức của đối tượng mà đề tài tập trung nghiên cứu theo góc độ của khoa học chuyên ngành. Những công

29. 24 Chƣơng 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO Y ĐỨC NGƢỜI BÁC SĨ Ở PHÂN ĐỘI QUÂN Y TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1. NÂNG CAO Y ĐỨC VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ ĐỐI VỚI NGƢỜI BÁC SĨ Ở PHÂN ĐỘI QUÂN Y TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 2.1.1. Y đức và nâng cao y đức ngƣời bác sĩ ở phân đội quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam 2.1.1.1. Qu n n ệm về đứ Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình, con người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi nhằm duy trì xã hội trong vòng trật tự. Đạo đức xuất hiện với vai trò là một phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người. Trong đó, phong tục tập quán, dư luận xã hội và lương tâm là những công cụ quan trọng được sử dụng để điều chỉnh hành vi ứng xử của con người nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng, xã hội. Đạo đức là một hiện tượng xã hội. Nó ra đời, tồn tại và phát triển cùng với quá trình hình thành, phát triển của xã hội. Đạo đức không tồn tại một cách chung chung, trừu tượng mà nó hiện hữu trong ý thức và hành vi ở mỗi con người, dùng làm thước đo trình độ phát triển của con người. Trong lịch sử triết học, khi bàn về vấn đề đạo đức đã có rất nhiều quan điểm khác nhau. Với khuynh hướng tư tưởng tiến bộ thì đạo đức luôn được quan niệm một cách hiện thực, gắn bó chặt chẽ với đời sống hiện thực của xã hội và phản ánh đời sống hiện thực đó. Nó trực tiếp phản ánh hiện thực quá trình lao động, sản xuất của xã hội. Cùng với sự vận động và phát triển của xã hội, đạo đức cũng không ngừng vận động và phát triển theo. Do vậy, nội hàm của đạo đức ngày càng được mở rộng và hoàn thiện, quan niệm của con người về đạo đức ngày càng đúng đắn và hoàn chỉnh hơn.

30. 25 Từ góc độ triết học, có thể quan niệm: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh dư luận xã hội [46, tr.8]. Đạo đức vận hành như một hệ thống tương đối độc lập của xã hội. Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức. Khi phân tích cấu trúc của đạo đức, người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ. Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định. Chẳng hạn: xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và hành vi đạo đức. Nếu xét nó trong mối quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức, v.v.. Song, trên quan điểm tổng hợp và phương pháp tiếp cận hệ thống ta thấy: ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức là những yếu tố tạo nên cấu trúc đạo đức. Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập mà liên hệ tác động với nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức. Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang bản chất giai cấp sâu sắc. Bản chất giai cấp của đạo đức chính là sự biểu hiện đặc trưng bản chất xã hội của đạo đức trong xã hội có đối kháng giai cấp. Đó là sự phản ánh và thể hiện những lợi ích của các giai cấp khác nhau trong xã hội. Mỗi giai cấp đều có hệ thống đạo đức riêng, phản ánh những lợi ích và những quan hệ thực tiễn của mình. Khi bàn về vấn đề này, Ph. Ăngghen khẳng định: Nếu chúng ta thấy rằng ba giai cấp trong xã hội hiện đại, giai cấp quý tộc phong kiến, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mỗi giai cấp đều có đạo đức riêng của mình, thì từ đó chúng ta chỉ có thể rút ra kết luận nói rằng con người dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn [54, tr.136].

31. 26 Do những quan niệm đạo đức đều được rút ra từ những quan hệ thực tiễn, nên “Trong thực tế, mỗi giai cấp và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [55, tr.425]. Theo đó, ngành Y cũng có đạo đức riêng của mình, đó là y đức. Xét về bản chất, y đức là sự thể hiện cụ thể đạo đức tiến bộ của xã hội ở những con người làm việc trong ngành Y. Quan niệm như trên về y đức đã có từ rất sớm. Hippocrates (466 – 377 tr. CN) nổi bật như một ông tổ của nghệ thuật y học và y đức. Ông là người đã có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành Y với những chuẩn mực đạo đức và nhân sinh quan trong sáng vì nghề nghiệp. Lời thề Hippocrates sống mãi và có nhiều tác dụng tích cực cho thầy thuốc mọi thời đại sau ông noi theo. Trong lời thề của mình, ông đã nêu lên cơ sở đạo lý mà người làm nghề thuốc phải tuân theo và phải tuyên thệ trước khi bước vào nghề. Đó là, người thầy thuốc khi hành nghề phải đặt lợi ích của bệnh nhân lên trên lợi ích của bản thân, thậm chí có lúc phải hy sinh chính bản thân mình vì bệnh nhân hoặc vì lợi ích của cộng đồng. Ông đã chỉ rõ: “Dù vào bất kỳ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất, tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự do hay nô lệ” trích theo [108, tr.7-8]. Đồng thời, ông nhấn mạnh rằng người thầy thuốc trước hết phải có lương tâm và việc chữa bệnh phải theo lương tâm của mình. Khi chữa bệnh theo lương tâm người thầy thuốc sẽ tránh mọi điều xấu và bất công với người bệnh. Avixen (980 – 1037) là nhà triết học, đồng thời là một danh y nổi tiếng thời trung cổ. Ông đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về y học và y đức. Ông là người biên soạn y điển “Canon of medicine” 5 tập, “Quy tắc khoa học y học”, “Đạo đức”. Ông tin rằng người thầy thuốc có trình độ chuyên môn vững, nhân đạo và nhạy cảm trước người bệnh, sẽ giúp cho người bệnh bớt đau khổ. Ông quan niệm đã là người thầy thuốc phải có “mắt của con chim đại bàng, đôi tay người con gái, sự khôn ngoan của con rắn và quả tim của con sư tử” trích theo [86, tr.31]. Khi biết mình lâm bệnh và sẽ chết, Avixen đã bán cả gia tài của mình phân phát cho người nghèo, đọc thánh kinh Coran cho đến khi chết.

32. 27 Ở Việt Nam, Chu Văn An (1292 – 1370) là người đức độ và tài năng. Ông đậu Thái học sinh (tiến sĩ) được bổ nhiệm làm quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám, nhưng đã từ quan về nhà mở trường dạy học, nghiên cứu y học, vận dụng đông y sáng tạo nhiều phương thuốc mới, tổng kết nhiều bệnh án và biên soạn nhiều sách về y học. Về y đức, ông rất coi trọng các đức: nhân, minh, trí. Theo ông, mấu chốt của nghề làm thuốc là đức nhân, phải có nhân rồi mới có minh, trí. Đại danh y Tuệ Tĩnh sống ở thế kỷ XIV là một nhà sư thông minh lỗi lạc, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa để tu hành, theo nghề làm thuốc. Ông đã để lại nhiều sách, trước tác và những lời dạy quý báu về y lý, y đức. Khi nói đến đạo đức của người thầy thuốc, ông cho rằng: làm thuốc là kế tục sự nghiệp của các bậc tiên thánh, phải có tấm lòng nhân nghĩa. Hải Thượng Lãn Ông (1720 – 1791) luôn nêu cao tấm gương y đức, cả cuộc đời rèn luyện và phục vụ cho công việc trị bệnh, cứu người của mình. Ông luôn tự nhắc nhở phải tiến đức, tu nghiệp. Tiến đức là mỗi ngày phải rèn luyện cho toàn thiện, toàn mỹ về y đức. Tu nghiệp là hàng ngày phải học tập cho y thuật càng giỏi. Ông nói: “Đạo làm thuốc là một nhân thuật, chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm phận sự của mình không nên cầu lợi kể công” [92, tr.6]. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện ĐĐCM cho đội ngũ cán bộ. Riêng đối với ngành Y, Bác đã đưa ra những quan điểm cụ thể về y đức của người thầy thuốc cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức được thể hiện thông qua những bài nói, bài viết và thư gửi cho các Hội nghị thuộc ngành Y tế toàn quốc. Tư tưởng đó được thể hiện đậm nét ở các nội dung cơ bản sau: Một là, lương y phải như từ mẫu. Ngay từ những năm đầu sau khi nước ta dành được độc lập, trong thư gửi Hội nghị Quân y, tháng 3-1948, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà

34. 29 Ba là, người thầy thuốc phải có tinh thần đoàn kết, hợp tác, tôn trọng và giúp đỡ đồng nghiệp. Đoàn kết của đội ngũ những người công tác trong ngành Y tế được Hồ Chí Minh rất quan tâm. Người coi đây là công việc trước hết và là tiêu chuẩn y đức của người thầy thuốc trong chế độ mới. Theo Người, đoàn kết không chỉ là đòi hỏi tất yếu khách quan của nghề nghiệp, mà còn là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân. Vì thế, Người đã yêu cầu đội ngũ cán bộ y tế phải thật thà, đoàn kết. “Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành Y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc” [62, tr.476]. Bởi vì, theo Bác Hồ, công việc và địa vị của họ tuy có khác nhau, “nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành Y tế, trong việc phục vụ nhân dân” [62, tr.476]. Quan điểm đoàn kết, hợp tác trong hoạt động chuyên môn của Người vừa là sự tiếp nối giá trị y đức truyền thống của dân tộc, vừa có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển của nền y học cách mạng nước ta. Hiện nay, ở nước ta quan niệm về y đức có sự phát triển. Các nhà khoa học đã đưa vào nội hàm của khái niệm y đức những dấu hiệu mới. Tuy nhiên, do góc độ tiếp cận khác nhau, nên quan niệm về y đức ở nhiều người còn có những điểm khác biệt nhất định. Từ góc độ ứng xử đạo đức, có quan niệm cho rằng: “Y đức trước hết là lối ứng xử của người thầy thuốc trong mối quan hệ xã hội muôn màu muôn vẻ của cuộc sống và trong mọi hoàn cảnh, thể hiện trên các mặt trách nhiệm, thái độ và tấm lòng” [31, tr.11 – 12]. Từ góc độ hành vi đạo đức, có cách hiểu: “Y đức là những tiêu chuẩn, quy tắc của đời sống xã hội nhằm điều chỉnh hành vi xử sự và quan hệ của thầy thuốc với bệnh nhân cũng như đối với đồng nghiệp” [79, tr.251]. Từ góc độ giá trị đạo đức, có ý kiến cho rằng: “Y đức là hệ thống những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận, nhằm đảm bảo cho người hành nghề y phục vụ sức khoẻ nhân dân được tốt nhất” [93, tr.59].

35. 30 Xem xét những quan niệm trên ta thấy, tuy về mặt hình thức có sự khác biệt nào đó trong luận giải về y đức, song về mặt nội dung đều có những điểm chung thống nhất, cùng nói lên được các dấu hiệu bản chất nhất của y đức như tinh thần và thái độ phục vụ; hành vi đối xử; bổn phận của người thầy thuốc đối với bệnh nhân và những quy tắc xử sự của người thầy thuốc trong các mối quan hệ xã hội. Xuất phát từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: Y đức là hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức dùng để điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động nghề nghiệp của người thầy thuốc, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống ngành Y và sức mạnh của dư luận xã hội. 2.1.1.2. Qu n n ệm về p ân đội quân y Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam: “Phân đội, gọi chung các đơn vị lực lượng vũ trang từ cấp tiểu đội đến tiểu đoàn và tương đương, thường nằm trong đơn vị lớn hơn” [99, tr.789]. Như vậy, phân đội trong QĐND Việt Nam được quy định bao gồm các đơn vị từ cấp tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn và các đơn vị tương đương. Phân đội có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta, là nơi trực tiếp quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên. Đồng thời, phân đội cũng là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện quân nhân góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Từ quan niệm phân đội nói trên và xuất phát từ thực tiễn tổ chức ngành Quân y trong quân đội ta là không có tiểu đội và trung đội mà chỉ có đại đội và tiểu đoàn quân y. Do vậy, có thể quan niệm: Phân đội quân y trong Quân đội nhân dân Việt Nam là các đại đội, tiểu đoàn và tương đương, hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực thuộc ban, phòng hậu cần trong biên chế của trung đoàn, sư đoàn bộ binh và tương đương. Phân đội quân y khác các phân đội khác trong biên chế của quân đội không chỉ ở số lượng người ít hơn, mà còn khác về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của nó. Chức năng, nhiệm vụ của PĐQY mang tính đặc thù là

36. 31 chuyên môn về y, dược (cứu, chữa thương bệnh binh, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bộ đội và nhân dân trong cả thời bình và thời chiến). So với bệnh viện tuyến trên của quân đội, PĐQY chỉ là đơn vị quân y cơ sở nên quy mô nhỏ, cơ cấu đơn giản, số lượng cán bộ và nhân viên ít; cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện hạn chế. Từ đó, đòi hỏi đi đôi với từng bước đáp ứng đầy đủ nhu cầu về số lượng, cần phải nâng cao trình độ trang thiết bị kỹ thuật. Đồng thời, phải không ngừng bồi dưỡng nâng cao y đức và năng lực chuyên môn cho cán bộ, nhân viên trong đơn vị nói chung và người bác sĩ nói riêng, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh hiện đại. 2.1.1.3. Qu n n ệm về đứ n bá sĩ ở p ân độ quân Y đức không phải là một kiểu đạo đức, mà nó chỉ là sự biểu hiện của đạo đức xã hội trong một nghề cụ thể, đó là nghề y. Do mục đích nghiên cứu, luận án không đi sâu nghiên cứu y đức của người thầy thuốc quân y nói chung, mà chỉ tập trung nghiên cứu y đức người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta hiện nay. Y đức của người bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống hiện thực của đất nước, đời sống hiện thực của họ ở các đơn vị cơ sở trong quân đội và phản ánh đời sống hiện thực đó. Nó trực tiếp phản ánh quá trình tổ chức chỉ huy chiến thuật quân y và hoạt động chuyên môn y học của họ ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Do vậy, y đức người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta có sự thống nhất giữa cái chung (các phẩm chất đạo đức xã hội – đạo đức cách mạng), với cái riêng (các phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng) và cái đơn nhất (các phẩm chất y đức của người bác sĩ ở PĐQY). Người bác sĩ ở PĐQY, trước hết là một công dân của xã hội. Vì vậy, cùng với sự vận động của xã hội, ở họ tất yếu hình thành những phẩm chất đạo đức xã hội. Đó là những phẩm chất ĐĐCM (đạo đức cách mạng) của con người Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng. “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc,

37. 32 của loài người” [58, tr. 252]. Nội dung của ĐĐCM là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng; ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng; đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân mình; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, v.v.. Người bác sĩ ở PĐQY còn là người quân nhân cách mạng. Do vậy, ngoài những phẩm chất chung của người cách mạng, ở họ không thể thiếu những phẩm chất đạo đức của người quân nhân, đó là: trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, quyết tâm phấn đấu hy sinh cho mục tiêu đó; nhận thức sâu sắc nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ chính trị của quân đội, đơn vị; nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch; dũng cảm trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao động; có ý thức tổ chức kỷ luật cao; trung thực, thẳng thắn, không đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, v.v.. Những nội dung cơ bản trong phẩm chất đạo đức người quân nhân cách mạng được hình thành, phát triển xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ của quân đội. Nó là sự phản ánh tập trung nhất những giá trị đạo đức tốt đẹp của chế độ mới, phù hợp với yêu cầu về xây dựng phẩm chất đạo đức của người quân nhân. Do đó, đòi hỏi mỗi bác sĩ ở PĐQY phải tự tu dưỡng, rèn luyện để có những phẩm chất đạo đức cao đẹp, góp phần cống hiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc và nhân dân. Ngoài ra, người bác sĩ ở PĐQY vừa là người thầy thuốc cách mạng, vừa là người SQQY công tác tại các đơn vị cơ sở trong quân đội nên ở họ tất yếu phải có những phẩm chất đạo đức chung của nghề nghiệp đó là: có lòng nhân ái; có lương tâm và tinh thần trách nhiệm cao với người bệnh; hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện, tu dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức của thầy thuốc; không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao

38. 33 trình độ chuyên môn; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, v.v.. Đồng thời, là người SQQY công tác tại các đơn vị cơ sở trong quân đội, gắn bó trực tiếp với bộ đội ở tuyến trước. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, họ luôn phải đối mặt với khối lượng lớn công việc, nhiều khó khăn, gian khổ, đóng quân trên địa bàn vùng sâu, biên giới và hải đảo, phải thường xuyên xa gia đình, ít có điều kiện cập nhật kiến thức mới để nâng cao trình độ, phải chấp nhận hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung của đơn vị và quân đội. Hơn thế nữa, họ tiến hành hoạt động chuyên môn trong môi trường quân sự, hoạt động nghề y theo mục tiêu phục vụ, dựa trên cơ sở kinh tế bao cấp. Mặc dù trên thực tế họ hoàn toàn có khả năng tăng thêm thu nhập chính đáng bằng lợi thế nghề nghiệp, nhưng người bác sĩ ở PĐQY ít có cơ hội thực hiện, hoặc nếu có thì thu nhập luôn có xu hướng thấp hơn những thầy thuốc công tác ở tuyến sau, nơi kinh tế thị trường phát triển hơn. Xuất phát từ đặc điểm nổi bật trên, đòi hỏi người bác sĩ ở PĐQY không những phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp nói chung của người thầy thuốc cách mạng, mà ở họ còn cần phải có những phẩm chất y đức đặc trưng riêng, đó là: sẵn sàng hy sinh quên mình để bảo vệ và cứu chữa thương bệnh binh vô điều kiện; tổ chức, chỉ huy thực hiện có hiệu quả công tác đảm bảo quân y cho đơn vị trong các trạng thái chiến đấu; thực hiện tốt công tác thương binh, liệt sĩ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; tận tình, chu đáo, vô tư, không cầu lợi trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu và cấp cứu, điều trị bệnh cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và nhân dân trên địa bàn đóng quân; yêu ngành, yêu nghề, yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị cơ sở; chấp nhận hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của đơn vị, của người bệnh; có tinh thần quyết chiến, quyết thắng, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, gian khổ; chủ động học tập, nghiên cứu khoa học và rèn luyện toàn diện kết hợp chuyên sâu để nâng cao năng lực thực hiện chức trách, nhiệm vụ, củng cố bản lĩnh chính

39. 34 trị và nâng cao y đức, v.v.. Để có được những phẩm chất y đức đặc trưng ấy, đòi hỏi người bác sĩ ở PĐQY phải nghiêm khắc với bản thân; cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho bộ đội và nhân dân; tích cực, chủ động học tập, rèn luyện, tu dưỡng y đức, xây dựng uy tín bằng tài năng, đức độ của mình; có lối sống lành mạnh, lạc quan, mẫu mực, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, hợp tác với đồng đội, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Việc phân chia các phẩm chất y đức như trên chỉ có ý nghĩa tương đối về mặt nhận thức đối với một đối tượng cụ thể. Trên thực tế, khi xem xét các phẩm chất y đức của người bác sĩ ở PĐQY, không thể phân chia một cách rạch ròi các phẩm chất đó ra được, mà nó hoà quyện, đan xen và thâm nhập vào nhau, từ đó tạo nên bộ mặt y đức riêng có của họ. Trên cơ sở phân tích sự thống nhất giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất cấu thành y đức người bác sĩ ở PĐQY, chúng tôi quan niệm: Y đức người bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam là tổng hòa những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội, quân đội, nghề y nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử trong các mối quan hệ nghề nghiệp của họ tại đơn vị cơ sở. 2.1.1.4. Qu n n ệm về nân o đứ n bá sĩ ở p ân độ quân trong Quân độ n ân ân V ệt m Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Nâng cao là đưa lên mức cao hơn” [97, tr.679]. Trong Từ điển bách khoa Việt Nam cũng chỉ rõ: “Nâng cao là làm cho cao hơn trước” [98, tr.41]. Mặt khác, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nâng cao còn được hiểu là quá trình liên hệ, tác động giữa các mặt, các yếu tố bên trong làm cho sự vật phát triển theo chiều hướng đi lên từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện. Xuất phát từ nhận thức trên, ở mức độ khái quát nhất, chúng tôi quan niệm: Nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam là quá trình tác động tích cực, có mục đích của các chủ thể bằng nhiều nội dung,

40. 35 hình thức và phương pháp thích hợp làm biến đổi y đức của họ theo những tiêu chí ngày càng hoàn thiện hơn. Quan niệm trên cho thấy, nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY là một hoạt động của các chủ thể trong đơn vị. Hoạt động này luôn gắn chặt với mục đích, nội dung, hình thức và phương pháp sử dụng để nâng cao y đức cho họ. Thứ nhất, về chủ thể của hoạt động giáo dục nâng cao y đức của người bác sĩ ở PĐQY. Quá trình nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY luôn diễn ra trong sự tương tác giữa các chủ thể nâng cao với đối tượng được nâng cao trong môi trường y đức của đơn vị. Chủ thể nâng cao căn cứ vào mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ nâng cao, sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục truyền thụ nội dung y đức tác động vào đối tượng nâng cao. Đối tượng nâng cao phải phát huy tinh thần tự giác, tích cực, chủ động tiếp nhận và xử lý thông tin, ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng từng bước tạo nên sự chuyển hoá về chất trong phẩm chất y đức của mình. Chủ thể của quá trình nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY là: Đảng, Nhà nước, quân đội, các tổ chức, lực lượng tham gia quá trình giáo dục, huấn luyện cho người bác sĩ ở PĐQY. Trong đó, Đảng, Nhà nước, quân đội là chủ thể ở tầm vĩ mô, mang tính gián tiếp. Lãnh đạo, chỉ huy cùng những lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục, huấn luyện ở các đơn vị cơ sở trong quân đội là chủ thể trực tiếp tác động vào quá trình giáo dục, tạo nên sự phát triển về y đức của họ. Bên cạnh đó, người bác sĩ ở PĐQY vừa là đối tượng chịu sự tác động của các chủ thể giáo dục trong đơn vị. Đồng thời, họ lại vừa là chủ thể trực tiếp thực hiện việc nâng cao y đức của mình thông qua quá trình tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện để tích lũy dần dần những yếu tố tích cực, loại bỏ dần những yếu tố tiêu cực tạo nên sự chuyển hóa căn bản về chất trong y đức của người bác sĩ ở PĐQY. Y đức của người bác sĩ ở PĐQY không phải là một thuộc tính bẩm sinh có sẵn bên trong chính bản thân họ. Nó là một thể thống nhất của cái bên trong và cái bên ngoài, cái khách quan và cái chủ quan. Quá trình nâng cao y đức người

41. 36 bác sĩ ở PĐQY luôn bị chế ước, quy định bởi những điều kiện kinh tế – xã hội và các quan hệ xã hội hiện thực của họ. Là sản phẩm tổng hợp của các điều kiện khách quan và chủ quan nên tính tự giác của quá trình nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY không chỉ được thể hiện ở công tác lãnh đạo, quản lý, giáo dục rèn luyện y đức, mà còn được thể hiện trong toàn bộ các hoạt động quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và điều trị của đơn vị. Đây là một quá trình chuyển hóa biện chứng phức tạp, từ những yêu cầu khách quan của xã hội, của quân đội, của ngành thành những đòi hỏi bên trong của mỗi người bác sĩ ở PĐQY. Từ ý thức y đức chuyển thành tình cảm, động cơ bên trong và thành hành vi y đức của họ trong giải quyết các mối quan hệ thuộc lĩnh vực chuyên môn. Để có sự chuyển hóa đó, đòi hỏi phải thông qua sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố hoạt động mang tính chủ động, tự giác. Trong đó, nổi lên là hoạt động lãnh đạo, quản lý, giáo dục, rèn luyện y đức của các tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức Đoàn thanh niên, tổ chức Hội đồng Quân nhân trong từng đơn vị cơ sở. Nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY trong QĐND Việt Nam là một quá trình tự thân. Do vậy, cần phát huy cao vai trò tự giáo dục, tự rèn luyện y đức của từng bác sĩ ở PĐQY, đây là nhân tố giữ vai trò trực tiếp quyết định đến việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả của việc nâng cao y đức cho đội ngũ cán bộ này. Thứ hai, về mục đích nâng cao y đức của người bác sĩ ở PĐQY. Mục đích nâng cao y đức của người bác sĩ ở PĐQY trong quân đội ta hiện nay là làm biến đổi y đức của đội ngũ cán bộ này theo những tiêu chí ngày càng hoàn thiện hơn, nhằm đáp ứng nhiệm vụ, chức trách của họ trong giai đoạn cách mạng mới. Các tiêu chí ấy phải đảm bảo toàn diện, tương đối ổn định. Trên cơ sở đó, giúp cho người bác sĩ ở PĐQY luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, của dân tộc, từng bước nâng cao trình độ mọi mặt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh hiện đại. Yêu cầu đặt ra đối với người bác sĩ ở PĐQY là phải yêu

42. 37 ngành, yêu nghề, yên tâm công tác, gắn bó với đơn vị cơ sở; sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho thương bệnh binh, bộ đội và nhân dân; chấp nhận hy sinh lợi ích riêng, vì lợi ích chung của đơn vị, quân đội; mức độ hoàn thành nhiệm vụ của họ phải ngày càng tốt hơn. Nhận thức của họ về nghĩa vụ, trách nhiệm với người bệnh, lương tâm với nghề nghiệp ngày càng sâu sắc hơn. Phát triển ngày càng tốt đẹp hơn các quan hệ y đức, hành vi y đức, giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức trách đặt ra trong giai đoạn cách mạng mới. Để đáp ứng ngày càng cao các tiêu chí về y đức của người bác sĩ ở PĐQY, đòi hỏi quá trình nâng cao y đức phải hướng vào việc mở mang tri thức; nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lương tâm nghề nghiệp, ý thức, trách nhiệm và chất lượng phục vụ người bệnh; chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp, các quy định của ngành, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội; đoàn kết, khiêm tốn, giản dị, v.v.. Đồng thời, phải nâng cao mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo chức trách của họ. Đây không chỉ là mục tiêu của việc nâng cao y đức, mà còn là tiêu chí căn bản nhất để đánh giá trình độ nâng cao y đức của đội ngũ cán bộ này. Việc xác định tiêu chí nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY có nhiều cách khác nhau, có thể xét theo cấu trúc các thành tố cấu thành y đức, hay xét theo hệ thống các giá trị. Trong công trình này, chúng tôi xác định tiêu chí nâng cao y đức cho đội ngũ ấy dựa theo cấu trúc các thành tố cấu thành y đức, bao gồm: ý thức y đức, hành vi y đức và quan hệ y đức. Yêu cầu chung về tiêu chí nâng cao y đức người bác sĩ ở PĐQY phải toàn diện trên các mặt, các thành tố cấu trúc của y đức, tăng trưởng các chỉ số phải đảm bảo sự ổn định, bền vững. Cụ thể là: Ý thức y đức là hệ thống các quan niệm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, lý tưởng, tình cảm và động cơ y đức chỉ đạo hoạt động của người bác sĩ ở PĐQY. Để tích lũy các yếu tố cấu thành ý thức y đức của họ, các chủ thể giáo dục ở đơn

Thực Hiện Tốt Chức Năng Của Cơ Quan Xét Xử Cao Nhất Trong Quân Đội / 2023

Trải qua hơn 75 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, ngành TAQS ngày càng được củng cố, kiện toàn về mọi mặt, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các TAQS là một trong những công cụ chuyên chính của Nhà nước để trấn áp kịp thời những âm mưu và hành động chống phá cách mạng của kẻ thù, Việt gian, phản động; đấu tranh kiên quyết chống các loại tội phạm xâm phạm an ninh chính trị, kinh tế, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta trong kháng chiến được thực hiện đúng đắn, góp phần đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các TAQS đã nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt chức năng của cơ quan xét xử của Nhà nước trong quân đội; được rèn luyện, không ngừng trưởng thành, lớn mạnh về tổ chức và chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển của đất nước và quân đội, các TAQS nói chung, TAQS Trung ương nói riêng đã có bước phát triển toàn diện, vững chắc. Với vị trí là cơ quan xét xử đầu ngành trong quân đội, những năm qua, TAQS Trung ương vừa thực hiện chức năng xét xử, vừa có nhiệm vụ sơ kết, tổng kết kinh nghiệm xét xử, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong ngành TAQS… Xác định xét xử các vụ án hình sự là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, những năm qua, đội ngũ cán bộ chuyên môn, nhất là thẩm phán của TAQS Trung ương và các TAQS đã đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cụ thể, từ năm 1986 đến nay, các TAQS đã thụ lý, giải quyết và xét xử gần 10.000 vụ án, với hơn 10.000 bị can, bị cáo. Trong đó, TAQS Trung ương đã thụ lý, xét xử phúc thẩm hơn 1.000 vụ, với hơn 1.500 bị cáo; xét xử giám đốc thẩm hàng chục vụ với hàng chục bị cáo. Trong các vụ án mà TAQS Trung ương thụ lý, xét xử, có nhiều vụ án nghiêm trọng, phức tạp, có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng, với những thủ đoạn tinh vi. Trong quá trình xét xử, TAQS Trung ương đã thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp trong và ngoài quân đội, cả trước, trong và sau khi xét xử. Kết quả xét xử nghiêm minh, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không xét xử oan người vô tội, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người; bảo đảm quyền tranh tụng dân chủ, khách quan, độc lập và tuân theo pháp luật, được dư luận đồng tình, đánh giá cao. Những năm qua, ngành TAQS đã có những đóng góp quan trọng vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tăng cường kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của quân đội, qua đó góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Với những thành tích đã đạt được, TAQS Trung ương đã được Đảng, Nhà nước, BQP trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhất. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống ngành TAQS (13-9-1945 / 13-9-2020), TAQS Trung ương được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Anh hùng LLVT nhân dân. Ngày 28-10, Tòa án Nhân dân Tối cao tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ IV; kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Tòa án Nhân dân và trao danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân do Đảng, Nhà nước tặng TAQS Trung ương. Đó là vinh dự của ngành Tòa án Nhân dân nói chung và ngành TAQS nói riêng.

Trong những năm tới, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra với ngành TAQS nói chung, TAQS Trung ương nói riêng, sẽ hết sức nặng nề. Để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, TAQS Trung ương xác định phải triển khai toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều biện pháp, trong đó chú trọng một số nội dung như: Tiếp tục quán triệt sâu sắc, vận dụng hiệu quả các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là trong xét xử; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, thấm nhuần và thực hiện nghiêm tinh thần “phụng công-thủ pháp-chí công-vô tư”; chú trọng triển khai công tác nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kịp thời giải quyết những vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh thông qua thực tiễn xét xử. Cùng với đó, TAQS Trung ương sẽ tiếp tục triển khai và hướng dẫn các TAQS thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp và các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật nói chung và Luật Tổ chức tòa án nhân dân nói riêng; làm tốt công tác tham mưu cho Quân ủy Trung ương, BQP, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và kỷ luật quân đội, đồng thời tham gia có hiệu quả vào việc xây dựng, góp ý, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo yêu cầu của các cơ quan chức năng…

Thiếu tướng DƯƠNG VĂN THĂNG, Phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương