Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt

--- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Từ Đề Tài Nckh Giải Nhất Quốc Gia
  • Đề Tài Một Vài Biện Pháp Quản Lý Công Tác Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5 Tuổi
  • Giáo Dục Tình Cảm Đạo Đức Cho Trẻ 5
  • Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa.

    Giáo dục chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức là nhiệm vụ cốt lõi và có tính chiến lược để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nói chung, nhất là bậc học THPT. Tuy nhiên, nhiều trường THPT thường lãng quên hoặc ít quan tâm đến nhiệm vụ này nên các em hạn chế sự hiểu biết về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tình hình thời sự, ảnh hưởng tới tình cảm cách mạng, ý thức trách nhiệm của học sinh.

    Nhà trường THPT làm tốt nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng sẽ có tác động tích cực đến việc bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của các em. Có nhiều cách để tuyên truyền đường lối chính sách, thời sự cho học sinh qua các tổ chức chính trị của trường, qua các tiết dạy trên lớp của thầy, cô giáo, phổ biến tin tức thời sự vào buổi chào cờ đầu tuần. Các lớp dành khoảng 10 phút đọc báo trước giờ tiết đầu hàng ngày, bản tin nhà trường ghi những nội dung thời sự hàng ngày.

    Hàng năm, Chi bộ, Đảng bộ nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng về đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước cho học sinh. Nội dung bồi dưỡng thiết thực, phù hợp tâm sinh lý học sinh THPT.

    Cùng đó, xây dựng tổ chức đoàn trong trường học vững mạnh là khâu mấu chốt. Đoàn có trách nhiệm giáo dục, rèn luyện ĐVTN không sa vào các tệ nạn xã hội, thực hiện nghiêm túc luật pháp của Nhà nước, có nếp sống văn hóa lành mạnh, gương mẫu trong học tập và sinh hoạt.

    Đoàn trường cần tổ chức nhiều nội dung, hình thức để ĐVTN gắn bó với đời sống xã hội như bảo vệ môi trường, di sản, làm công tác từ thiện, đảm nhận những công trình do nhà trường phát động. Bên cạnh đó cần chú trọng xây dựng tập thể, cá nhân tiêu biểu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý chí trong học tập để tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt.

    Đổi mới dạy, học môn Giáo dục công dân

    Môn Giáo dục công dân (GDCD) có ưu thế trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh. Hiện nay, ở các trường THPT, việc dạy và học môn học này chưa có chất lượng. Nội dung, chương trình ít có sự đổi mới, còn nặng tính hàn lâm, thiếu kiến thức thực tế cuộc sống. Phương pháp giảng dạy của các thầy, cô giáo thiếu sinh động, nặng về lý thuyết, không sát với cuộc sống và tâm tư, tình cảm của học sinh.

    Bản thân học sinh chưa coi trọng việc học tập môn GDCD vì không phải môn thi tốt nghiệp. Sự chỉ đạo giảng dạy, học tập môn học này của lãnh đạo nhà trường ít được quan tâm rút kinh nghiệm. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy còn thiếu.

    Toàn tỉnh có 48 trường THPT, trong đó giáo viên GDCD có 103 người, giáo viên dạy giỏi 15, chiếm 14,6%, còn thiếu 3 giáo viên. Trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này, đội ngũ giáo viên phải được đào tạo chuyên sâu về kiến thức và phương pháp giảng dạy. Trong chương trình đào tạo bồi dưỡng, giáo viên được quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

    Giáo viên dạy môn GDCD phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống trong sáng, gương mẫu, tâm huyết, trách nhiệm, có tình thương yêu học sinh, chân tình cởi mở, dân chủ, thân thiện. Nội dung chương trình đào tạo bồi dưỡng sát với yêu cầu nhà trường THPT, tạo sự hứng thú, ham mê giảng dạy, học tập của thầy, cô giáo và học sinh. Có những chính sách chế độ ưu tiên đối với giáo viên môn GDCD nhằm nâng cao vị thế, trách nhiệm. Làm tốt khâu đào tạo bồi dưỡng giáo viên sẽ tạo được chất lượng dạy và học môn học này.

    Phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội

    Học sinh Trường THPT Dân lập Nguyên Hồng (TP Bắc Giang) duy trì việc đọc sách báo đầu giờ học. Ảnh: Đỗ Quyên.

    Xây dựng quy chế, nguyên tắc, phương pháp tổ chức mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là nhiệm vụ quan trọng. Sự phối hợp này không chặt chẽ, thiếu thường xuyên sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục và đào tạo.

    Để có sự phối hợp tốt, đi vào thực chất bền vững, khâu then chốt là phải xây dựng quy tắc, nội dung phối hợp. Nhà trường xây dựng quy định học sinh học trên tham gia các hoạt động ngoại khóa, giữ gìn cơ sở vật chất nhà trường, môi trường xanh, sạch, đẹp văn minh… Học sinh ở nhà, gia đình có những quy định học tập, lao động, vui chơi, tham gia các hoạt động xã hội. Các đoàn thể chính trị – xã hội ở địa phương có quy định chăm lo giáo dục học sinh, tạo điều kiện cho các em được tham gia hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, bảo vệ môi trường, chăm sóc bảo vệ cây xanh nơi công cộng, giữ gìn an ninh trật tự.

    Để việc kết hợp nhà trường, gia đình, xã hội thực sự có hiệu quả khâu quan trọng là xây dựng được cơ chế phối hợp, thành lập ban chỉ đạo điều hành sát sao, chặt chẽ, trách nhiệm vì sự tiến bộ của học sinh. Thành phần ban chỉ đạo gồm lãnh đạo nhà trường, đại diện phụ huynh học sinh, đại diện lãnh đạo đảng, chính quyền, MTTQ ở địa phương. Hằng năm, Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch hoạt động, lịch làm việc.

    Trong công tác phối hợp không chỉ thực hiện mục đích, yêu cầu, nội dung phương châm, phương pháp giáo dục mà còn thể hiện tính thực tiễn, tính khoa học, đặc biệt là giáo dục đạo đức học sinh THPT.

    Nguyễn Ngọc Sơn

    (Chủ tịch Hội Cựu giáo chức tỉnh Bắc Giang)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gd Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Skkn Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Hs Thcs Trong Giai Đoạn Hiện Nay .rar
  • Kinh Nghiem Giao Duc Dao Duc Hoc Sinh Thcs Skkn
  • Nêu Nguyên Nhân Hậu Quả Biện Pháp Của Sự Di Dân Ở Đới Nóng? Sự Gia Tăng Dân Số Gây Sức Ép Gì ? Câu Hỏi 55305
  • Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững Đối Với Các Tỉnh Miền Trung
  • Cần Giải Pháp Để Người Dân Châu Phi Thoát Cảnh Đói Ăn
  • Wsa: Nước Giải Pháp Cho Châu Phi, Inc
  • Giảm Nghèo Và Giảm Tham Nhũng
  • Giải Pháp Cho Bài Toán Căng Thẳng Nguồn Nước Ở Châu Phi
  • MỘT VÀI KINH NGHIỆM

    GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THCS

    1. Phần mở đầu:

    1.1. Lý do chọn sáng kiến:

    Bác Hồ kính yêu có nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đạo đức là sợi chỉ hồng xuyên suốt trong quá trình suy nghĩ và hành động của một con người. Người có đạo đức tốt ắt hẳn suy nghĩ và hành động đúng.

    Trong trường học giáo dục đạo đức là một bộ phận cấu thành trọng yếu của quá trình giáo dục rèn luyện nhân cách học sinh. Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất, nhân cách, là cái gốc của con người. Vì thế, trong nhà trường phải luôn chú trọng cả đức lẫn tài: Việc dạy chữ phải kết hợp với dạy người nhằm rèn luyện học sinh trở thành con người phát triển toàn diện.

    Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, hoà nhập khu vực và quốc tế, tận dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi, yêu cầu đòi hỏi nhân tài cho đất nước ngày càng cao hơn, chất lượng hơn.

    Vì vậy, hơn bao giờ hết nhận thức và hành động của việc “giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức phải chiếm vị trí hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục học sinh”.

    Từ nhận thức đó, là người làm công tác quản lý, bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở cố tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh. Đó là lý do tôi chọn nghiên cứu đề tài “Giáo dục đạo đức học sinh THCS”.

    1.2. Điểm mới, phạm vi áp dụng của đề tài:

    Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đó xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân (Điều23-Luật giáo dục).

    Hội nhập kinh tế, nền kinh tế thị trường ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu.

    Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo động. Một số CBQL, giáo viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ môn GDCD, thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh.

    Để góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra biện pháp về công tác giáo giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của người cán bộ QLGD.

    SKKN này áp được áp dụng trong phạm vi trường THCS.

    2. Phần nội dung:

    2.1.Thực trạng đạo đức học sinh THCS hiện nay:

    Khoa học ngày càng phát triển, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân được cải thiện, kế hoạch dân số của Đảng và Nhà nước mỗi cặp vợ chồng có 1 đến 2 con có ý nghĩa thiết thực, tạo điều kiện cho cha mẹ có khả năng nuôi nấng, chăm sóc con nên đại bộ phận học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng đều chăm ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập và tham gia các hoạt động khác.

    Tuy nhiên do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hiện tượng tiêu cực của xã hội, phần nào đó đã làm ảnh hưởng đến nhân cách, tình bạn bè, lòng kính thầy cô giáo, cha mẹ của một số em học sinh.

    Các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, trò chơi ăn tiền, chơi game chát… ngày càng nhiều, đó là những cạm bẫy đối với học sinh mà các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội vẫn chưa kiểm soát và ngăn chặn được.

    Xuất thân từ con em nông dân nên bản chất các em học sinh trường THCS tôi quản lý đều ngoan, thật thà, lễ phép với thầy, cô giáo. Các em được gia đình chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ nên các em rất quý trọng người lao động, góp phần xây dựng kinh tế gia đình. Nhìn chung các em chăm học, chăm làm, cần cù khiêm tốn, có tinh thần tập thể, đoàn kết nhất trí, luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và đó xuất hiện nhiều tấm gương tốt trong đạo đức, học tập.

    Bên cạnh đại bộ phận học sinh tốt vẫn còn những học sinh chưa tốt, vi phạm hành vi đạo đức học sinh. Đó là vô lễ với thầy cô giáo, không nghe lời cha mẹ, gây gổ đánh nhau, uống rượu, hút thuốc, nhuộm tóc, sử dụng điện thoại ở lớp học, ăn cắp tiền, xe đạp, máy tính casio, ăn quà vặt vặt và làm bẩn sân trường, thực hiện an toàn giao thông không nghiêm túc, yêu đương trai gái, đam mê chơi gem chát dẫn đến học yếu, bỏ học…

    Nguyên nhân chủ yếu là: Có gia đình, cha mẹ cưng chiều con quá thái, con đòi gì được nấy đến lúc nhu cầu không được đáp ứng thì quậy phá. Ngược lại, có những người cha giáo dục con bằng những lời đe nạt, mạt sát, đòn roi, còng xiềng hoặc vỡ cha mẹ bỏ nhau để con bơ vơ bị kẻ xấu rủ rê, mua chuộc, lợi dụng, xúi dục. Có cha mẹ nói con không nghe đành chịu. Cũng có em sinh tâm, tự ý làm việc xấu…

    Kết quả khảo sát chất lượng hạnh kiểm học sinh đầu năm học 2013-2014 như sau:

    2.2. Các giải pháp:

    2.2.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Chi bộ đảng trường học:

    – Xây dựng chi bộ Đảng nhà trường thành tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh có ý nghĩa tăng cường hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức trong nhà trường.

    – Xây dựng Nghị quyết của Chi bộ năm, tháng trong đó chú trọng về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

    – Chỉ đạo hoạt động công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên thường xuyên làm tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh hỗ trợ cho trường nâng cao chất lượng giáo dục.

    2.2.2.Tăng cường hiệu lực quản lý của BGH trong công tác giáo dục đạo đức học sinh:

    Ban giám hiệu đứng đầu là Hiệu trưởng phải lấy mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung công tác giáo dục đạo đức làm kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.

    Công việc quản lý trường học của người Hiệu trưởng rất phong phú và đa dạng. Nào là lên kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá hoạt động của đội ngũ, chăn lo chất lượng đại trà, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, ôn tuyển sinh, xây dựng CSVC, công tác phổ cập… Nhưng song song với tất cả mọi công việc kể trên thì nội dung giáo dục đạo đức học sinh- người hiệu trưởng phải xác định- là một hoạt động hết sức quan trọng, phải thật sự quan tâm và quan tâm thường xuyên.

    Mỗi em học sinh có một hoàn cảnh khác nhau. Có em cha mẹ song toàn, kinh tế đời sống ổn định, có phương pháp giáo dục con cái đó là điều thuận lợi cho nhà trường. Ngược lại có em cha mẹ ly hôn phải ở với ông bà ngoại đã già. Có em cha mẹ đi làm ăn xa nên thời gian quản lý con cái ít. Có em thường xuyên bị cha mẹ chửi mắng, đánh đập, còng chân. Cũng có em a dua theo người xấu, bị bạn bè rủ rê vào con đường chơi bời như đam mê chơi game, thiếu tiền dẫn đến ăn cắp tiền, tài sản của người khác. Và cũng có em muốn khẳng định mình trước bạn bè (nhưng tự khẳng định mang tính tiêu cực) như uống rượu, hút thuốc, tức ghen, tranh giành bạn trai, gái bằng những cú đấm, cái đạp hoặc chửi mắng nhau. Một số em khác vi phạm nội quy của nhà trường như ném vỡ kính cửa sổ, móc nốt bàn phím máy vi tính, đập vỡ ống dẫn nước, dùng bút xóa viết lên bàn, sử dụng điện thoại, ăn kẹo cao su nhả bả làm bẩn nền nhà, vứt giấy vụn, bao bóng khắp sân trường, phòng học….

    Trước hiện thực ấy, người hiệu trưởng tỏ thái độ thờ ơ cũng chẳng sao vì hiệu trưởng đã có lệnh cho giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách đội thực hiện rồi. Để mặc cho đội ngũ thử hỏi phương pháp giáo dục có bằng mình không? (giáo viên còn lo giảng dạy, kinh nghiệm chưa nhiều, còn việc gia đình nữa…).

    Người hiệu trưởng tắc trách trong việc giáo dục đạo đức học sinh thì thật là tai hại, nền móng cơ sở của nhà trường sẽ đổ vỡ hay còn có nghĩa là ” vỡ trận”.

    Trong lớp, khi đang học có em hay nói ngang, nói leo, ngũ trên bàn, chạy chỗ này qua chỗ khác, xô đẩy bàn, không làm bài cũ, không học bài mới hỏi làm sao giáo viên dạy được?

    Em này mất tiền, em kia mất máy tính Casio, đánh lộn nhau thì an ninh của lớp học, của trường sẽ yên ổn sao? Người đời đã dạy: “Ăn ngon không bằng ở yên” hoàn toàn đúng.

    Nhìn vào một nhà trường, trước hết phải xem phong quang có sạch sẽ không? Nề nếp dạy và học, nét mặt của giáo viên và học sinh đã phản ánh phần nào về phong trào tốt hoặc chưa tốt của nhà trường!

    Muốn có phong trào, muốn đạt được chất lượng giáo dục thì người hiệu trưởng phải đi tiên phong, phải vào cuộc mới giáo dục được học sinh.

    Thực tế cho thấy: khi học sinh vi phạm đạo đức nằm ở trong khung kỷ luật từ phê bình đến đuổi học có thời hạn phải mất ít nhất bốn buổi để giải quyết nên rất mất thời gian (gọi học sinh đến tự viết bản kiểm điểm, đưa ra lớp kiểm điểm, nhà trường mời phụ huynh đến trao đổi lỗi sai của học sinh, họp hội đồng kỷ luật nhà trường).

    Biết mất thời gian nhưng phải làm, làm để giáo dục những em vi phạm và những em khác lấy đó để rút kinh nghiệm. Trong thời gian làm quản lý ở trường THCS, bản thân tôi thực hiện biện pháp sau đối với học sinh vi phạm đạo đức:

    – Nắm được lỗi sai, hoàn cảnh của gia đình học sinh, hiểu tâm lý các em.

    – Gọi lên phòng hiệu trưởng (từng em) để trao đổi. Hình thức nhỏ nhẹ, gợi mở, chân thành, quan tâm như tình cha với con, đúng nghĩa thầy và trò và trở thành chỗ dựa về mặt tinh thần cho học sinh. Một số lỗi học sinh vi phạm lần đầu nếu các em thành thật nhận lỗi tôi bỏ qua (có em lấy cắp xe đạp được nhiều người có trách nhiệm thẩm vấn nhưng không có kết quả, tôi gặp gỡ, nói đúng tâm lý, đảm bảo bí mật giữ danh dự thì em đó khai nhận).

    – Những em vi phạm nhiều lần, hiệu trưởng yêu cầu giáo viên chủ nhiệm đưa ra lớp kiểm điểm. Bản thân học sinh vi phạm tự nhận mức kỷ luật, lớp và giáo viên chủ nhiệm đề nghị hình thức kỷ luật.

    – Mời phụ huynh lên gặp nhà trường để trao đổi, dự báo cho phụ huynh biết mức kỷ luật để phụ huynh hiểu, thỏa mãn khi hiệu trưởng ra hình thức kỷ luật.

    – Họp hội đồng kỷ luật học sinh: Thành viên hội đồng kỷ luật nắm được khuyết điểm của học sinh, thống nhất hình thức kỷ luật, ra QĐ kỷ luật.

    Phương châm giáo dục lấy khen thưởng, tuyên dương là chủ yếu, trách phạt là thứ yếu nhưng khi cần thiết phải kiên quyết thực hiện kỷ luật để giáo dục, răn đe. Trong năm học, tôi đó ra quyết định kỷ luật 10 em với các lỗi vi phạm: Chơi game, chơi ăn tiền, vô lễ với thầy cô giáo… với hình thức phê bình, khiển trách, cảnh cáo, buộc thôi học có thời hạn.

    Trong thời gian học sinh bị kỷ luật, HT bố trí một số giáo viên dày dạn kinh nghiệm theo dõi giúp đỡ thêm để học sinh nhanh chóng tiến bộ.

    2.2.3. Nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên chủ nhiệm nói riêng trong việc giáo dục đạo đức học sinh:

    Trong nhà trường, giáo viên là lực lượng giáo dục chủ yếu, giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giáo dục, là “bộ máy chính” để thực hiện thành công nhiệm vụ giáo dục đạo đức được quán triệt sâu sắc trong từng tiết lên lớp, trong từng hoạt động cụ thể.

    Giáo viên bộ môn, theo Điều lệ trường học, có nhiệm vụ dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giảng dạy, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục.

    Mỗi biểu hiện sai trái của học sinh trong 1 tiết học, giáo viên bộ môn cần tìm hiểu, nắm bắt nguyên nhân, tránh mạt sát học sinh, bắt học sinh đứng suốt buổi sau tường hoặc đuổi học sinh ra khỏi lớp và phải phản ánh kịp thời cho giáo viên chủ nhiệm để cùng phối hợp giáo dục, có trách nhiệm cùng tham gia ý kiến trong việc đánh giá hạnh kiểm học sinh. Trong thực tế vẫn còn hiện tượng giáo viên bộ môn chỉ có biết dạy, hết tiết là xong, nề nếp lớp mình dạy thế nào không cần biết cho đó là của GVCN thì thật là tắc trách và vô trách nhiệm.

    GVCN là người được Hiệu trưởng giao trọng trách quản lý một lớp. GVCN phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, trách nhiệm cao, nhiệt tình kiên trì, gần gũi yêu thương học sinh, có khả năng tổ chức tập hợp và được phụ huynh, học sinh tin cậy, kính trọng. GVCN là người hiểu hoàn cảnh học sinh hơn ai hết, hiểu rõ nguyên nhân học sinh vi phạm đạo đức và có nghệ thuật trong việc giáo dục học sinh. Nhẹ nhàng tâm sự, gọi riờng gúp ý, kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để giáo dục, tổ chức lớp giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần, khích lệ biểu dương khi thấy HS có dấu hiệu tiến bộ.

    Hàng tháng, kì, năm tổ chức cho học sinh bình bầu hạnh kiểm cho nhau. Việc làm này có ý nghĩa là tạo ra sự dân chủ thật sự trong học sinh. Chính các em tự giáo dục lẫn nhau. Cuối tháng, GVCN nộp danh sách những HS có hạnh kiểm TB, yếu cho Tổng phụ trách Đội để cùng phối hợp giáo dục HS. GVCN chỉ quyết định xếp loại hạnh kiểm HS khi đã có danh sách dự kiến xếp loại của GV dạy môn GDCD và họp với các em tổ trưởng trên tinh thần khách quan, công bằng.

    2.2.4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Chi đoàn, của Tổng phụ trách Đội:

    Đoàn thanh niên trong Nhà trường là tổ chức đoàn thể có sức thu hút, là chỗ dựa tin cậy của học sinh. Để hoàn thanh nhiệm vụ chính trị của mình, Đoàn phải luôn luôn cải tiến phương pháp, nội dung chương trình hoạt động cho phù hợp, đáp ứmg với nhu cầu, sở thích của học sinh. Việc thu hút tuổi trẻ với tổ chức Đoàn vì mục tiêu lí tưởng của Đảng là một vấn đề quan trọng trong hoạt của Đoàn thanh niên.

    Đoàn phải xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác tuyên truyền , giáo dục, rèn luyện, làm lễ trưởng thành Đội cho học sinh lớp 9, chủ động mở các lớp tìm hiểu về Đoàn, tổ chức kết nạp thanh niên đủ điều kiện, có nguyện vọng vào Đoàn để Chi đoàn tăng thêm về số lượng, chính là tăng thêm về nhân tố tích cực, đi đầu trong mọi hoạt động và cảm hóa, giúp đỡ những học sinh chậm tiến.

    Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục lí tưởng, truyền thống, pháp luật, ý thức công dân cho học sinh, nâng cao nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của đất nước và tương lai của tuổi trẻ, xây dựng ý thức trách nhiệm, tự chủ vượt khó, học tập, rèn luyện, có hoài bão và khát vọng vươn lên, nắm vững kiến thức và làm chủ khoa học công nghệ vì sự nghiệp phát triển của thanh thiếu niên, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Xây dựng và phát động phong trào thi đua theo chủ điểm từng tháng dựa vào các ngày lễ lớn: 20/11, 22/12, 3/2 , 8/3, 26/3, 30/4, 1/5, 7/5,15/5, 19/5…. Nội dung các phong trào thiết thực, hấp dẫn, có sức thu hút, có phát, có động, có tổng kết đánh giá, khen chê kịp thời. Tổ chức tìm hiểu về Đảng, Đoàn, Quân đội, truyền thống địa phương, nhà trường để các em tự hào noi theo, về căn bệnh thế kỷ như HIV/AIDS, an toàn giao thông, ma túy… giúp học sinh có kiến thức phòng chống.

    Tổng phụ trách Đội, ngoài nội dung thực hiện chức năng theo qui định, còn được Hiệu trưởng giao cho nhiệm vụ quan trọng là kiểm soát cho được những học sinh có hành vi chưa tốt như hay bỏ tiết bỏ buổi, gây gỗ đánh nhau, chơi game chát, ăn cắp, vô lễ, vi phạm nội quy bảo vệ CSVC, sử dụng điện, ATGT, phòng chống đuối nước, tai nạn thương tích, vệ sinh môi trường…Tổ chức phát thanh Măng non nhân các ngày 20/11, 22/12, 3/2, 26/3 và 30/4 nhằm tuyên truyền ý nghĩa các ngày lễ đồng thời biểu dương học sinh có thành tích và nhắc nhở những học sinh vi phạm.

    Lỗi vi phạm của học sinh rất đa dạng. Có lỗi nhẹ, mới vi phạm lần đầu nhưng cũng có lỗi nặng lặp đi lặp lại nhiều lần. Trước hiện thực ấy, người TPT nếu bàng quan, chủ quan, thờ ơ hoặc có giải quyết nhưng mang tính chất chiếu lệ cho có thì thật là tai hại. Học sinh vẫn vi phạm, nề nếp của trường bị phá vỡ, trật tự trường học lộn xộn sẽ tác động không nhỏ đến chất lượng dạy và học.

    Cuối mỗi tháng, TPT nắm và tập hợp thống kê học sinh bị xếp HK trung bình, yếu

    (từ GVCN báo) để đầu tháng sau, tổ chức gặp gỡ tư vấn cho học sinh. Trong công tác tư vấn, TPT phải thân thiện, chỉ cho học sinh thấy rừ khuyết điểm và định hướng cho học sinh sửa chữa khắc phục. TPT làm tốt công tác tham mưu cho HT về việc xếp loại HK học sinh vào cuối kỳ, cuối năm.

    2.2.5. Xây dựng môi trường giáo dục:

    Môi trường giáo dục là nơi giúp học sinh phấn đấu rèn luyện toàn diện, chuẩn mực về đạo đức, tránh xa tệ nạn xã hội. Ban giám hiệu chú trọng xây dựng môi trường giáo dục: Xây dựng trường xanh, sạch, đẹp có tường rào, cổng trường, sân chơi bãi tập, áp phích tuyên truyền, ghế đá, khu vực vệ sinh, có cây cảnh bóng mát, kết hợp với địa phương làm tốt công tác vệ sinh môi trường tạo không khí trong lành cho học sinh.

    Nhà trường luôn tạo ra khoảng không gian bình yên cho học sinh là nơi giao tiếp văn minh, tình nhân ái, lòng yêu thương con người …

    Lãnh đạo nhà trường bàn bạc, thống nhất, có bản cam kết với Hội cha mẹ học sinh. Bản cam kết nêu cụ thể trách nhiệm của nhà trường, của hội cha mẹ học sinh đối với việc giáo dục học sinh.

    Trong quá trình làm việc, nhà trường, giáo viên chủ nhiệm thông tin kịp thời tình hình học sinh cho phụ huynh biết để có phương án phối hợp giáo dục.

    Đối với chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương, Hiệu trưởng đó tranh thủ các diễn đàn để phát biểu ý kiến nhằm tranh thủ sự đồng tình từ phía lãnh đạo địa phương về phương án phối hợp giáo dục một cách có trách nhiệm, chặt chẽ, hiệu quả. Bởi sự tham gia của Xã đoàn, Công an, Mặt trận xó với chính quyền thôn với Ban giám hiệu nhà trường trong việc kiểm tra các quán Internet nên số lượng học sinh chơi game, đánh nhau giảm nhiều hoặc học sinh đánh nhau, gây rối, tham gia giao thông bất cẩn… cũng được công an xó nhắc nhở, giáo dục.

    KẾT QUẢ XẾP LOẠI HẠNH KIỂM CUỐI NĂM NĂM HỌC 2013-2014:

    3. Phần kết luận:

    3.1. Ý nghĩa của sáng kiến:

    Sự nghiệp đổi mới của đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đến nay đã thu được những thành tựu to lớn về chính trị, văn hoá xã hội, ngoại giao và kinh tế. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Sự nghiệp đổi mới đang ở giai đoạn đầu, thuận lợi, thời cơ có nhiều nhưng thách thức, khó khăn cũng lắm nhất là mặt trái, cái tiêu cực đang hàng ngày hàng giờ ảnh hưởng đến nhân cách của một bộ phận học sinh. Công tác giáo dục đạo đức tư tưởng cho học sinh trong trường học là nhiệm vụ hết sức quan trọng đòi hỏi mọi người, mọi ngành nhất là ngành giáo dục, các nhà trường vì con em mà có những kế sách, tìm ra những biện pháp hữu hiệu để giáo dục đạo đức cho học sinh. Nhà trường phải là nơi giáo dục rèn luyện đạo đức cho học sinh nhằm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Người học sinh phải được đào tạo cả đức lẫn tài.

    Thế hệ học sinh trong các trường THCS hiện nay đang được hưởng chế độ ưu việt nhờ sự chăm lo của Đảng và Nhà nước. Các em là chủ nhân tương lai của đất nước. Vì thế, Chi bộ Đảng, Nhà trường, Đoàn thanh niên, Công đoàn, gia đình, xã hội phải thực sự hết sức quan tâm dành sự ưu ái nhất cho việc giáo dục các em trở thành những con người có niềm tin yêu sự nghiệp vĩ đại của dân tộc mình, tin yêu Đảng, ra sức học tập, rèn luyện để khi ra trường cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiên đại hoá đất nước nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Hơn ai hết, người Hiệu trưởng phải nhận thức, xác định giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu trong nhà trường, nhất là trường THCS. Thật sự quan tâm, thể hiện trách nhiệm một cách cụ thể đối với từng học sinh vi phạm đạo đức. Đối xử với các em nhẹ nhàng, thân mật, gợi mở để học sinh tự nhận ra lỗi vi phạm và định hướng cho học sinh hướng khắc phục. Theo dõi thấy các em tiến bộ kịp thời biểu dương động viên. Tạo ra sức mạnh tổng hợp, vòng tròn khép kín để giáo dục học sinh. Đó là: Tập thể lớp, đội ngũ thầy cô giáo nhất là GVCN, Tổng phụ trách Đội, phụ huynh, chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương.

    Với sự nghiên cứu trên cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn trong thời gian làm quản lý, bằng những biện pháp vận dụng có hiệu quả ở trường THCS do tôi quản lý, rất mong được sự góp ý của Hội đồng khoa học nhà trường, Hội đồng khoa học ngành Giáo dục-Đào tạo Lệ Thủy góp ý, giúp đỡ để SKKN của tôi hoàn chỉnh hơn trong quản lý về công tác giáo dục đạo đức đối với học sinh ở trường THCS.

    3.2, Kiến nghị, đề xuất :

    – Toàn thể HĐSP xác định giáo dục đạo đức cho học sinh là việc làm hết sức có ý nghĩa quan trọng nên thực hiện đồng bộ, có trách nhiệm.

    – UBND xã có kế hoạch chỉ đạo việc kiểm tra học sinh chơi gem ở các quán inter vì đây là môi trường tiêu cực nhiều nhất.

    SKKN trên đã được thực hiện tại trường mà tôi là người áp dụng đã đem lại những kết quả khả quan. Biết rằng còn thiếu sót kính mong HĐ xét SKKN của Trường, Ngành góp ý thêm cho SKKN của tôi được hoàn chỉnh.

    Xin trân trọng cám ơn !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt
  • Giải Pháp Vấn Đề Gia Tăng Dân Số
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Dân Số?
  • Thực Trạng Đạo Đức Của Học Sinh ,sinh Viên Hiện Nay Và Những Giải Pháp Về Vấn Đề Giáo Dục Đạo Đức.

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Viên Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh
  • Giáo Dục Đạo Đức Trong Sinh Viên, Học Sinh Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Giải Pháp Rút Ngắn Thời Gian Trong Khâu Giao Hàng
  • Đề Tài Lý Luận Tuần Hoàn Chu Chuyển Của Tư Bản Hot
  • Giải Pháp Nào Rút Ngắn Thời Gian Giao Hàng? (Delivery Lead Time Solutions)
  • Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng hệ giá trị đạo đức mới ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết. Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội đã có những biểu hiện xem nhẹ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chạy theo thị hiếu không lành mạnh. Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa lối sống lành mạnh trung thực, có lý tưởng…với lối sống ích kỉ, thực dụng…đang diễn ra hàng ngày. Bên cạnh những hệ giá trị mới được hình thành trong quá trình hội nhập, những cái tiêu cực cũng đang xâm nhập vào đạo đức, lối sống của nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ học sinh, sinh viên.

    Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội , là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc , chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

    Với tư cách là một sinh viên chúng tôi xin được đề cập đến một khía cạnh nhỏ trong vấn đề lớn đạo đức lối sống của học sinh, sinh viên Việt Nam trong thời đại ngày nay. Khi nhắc đến hai chữ “Sinh viên” mọi người đều biết đó là tầng lớp tri thức cao của mỗi quốc gia – là tương lai của đất nước là những người quyết định sự phồn thịnh của dân tộc vì chính họ là những ” mùa xuân của xã hội” .

    Để chuẩn bị cho hành trang vào đời, các bạn không chỉ mang theo vốn kiến thức được học mà phải là người có đạo đức tốt, xứng đáng cương vị là một sinh viên, hay nói đúng hơn “trước khi thành tài thì phải thành nhân” . Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng nói: “có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm gì cũng khó” qua đó cũng đủ hiểu Người coi trọng như thế nào về đạo đức lối sống .Yếu tố đó không những quyết định kết quả học tập mà quyết định đến tương lai và cuộc đời của mỗi bạn. “Giới trẻ là tương lai của giáo hội và nhân loại”. Nhưng thực tế, liệu nó có tốt đẹp như người ta tưởng không?

    Nhân loại sẽ đi tới đâu, khi giới trẻ có lối sống thực dụng chỉ chạy theo những giá trị vật chất mà bỏ quên những giá trị tinh thần. Tình trạng giới trẻ sống buông thả, không coi trọng giá trị đạo đức đã và đang diễn ra ở nhiều nơi. Bằng chứng là các phương tiện truyền thông đã đăng tải các bài viết phản ánh về thực trạng này. Chúng lôi bè kéo cánh để đánh nhau (cả trai lẫn gái), thậm chí hành hung cả thâỳ cô giáo, con giết cha, anh giết em, trẻ vị thành niên cũng gây ra nhiều vụ án mạng. Những hành vi tàn bạo này được đăng trên mặt báo chỉ là những tảng băng nổi, thực tế còn nhiều hơn nữa. Cách đây không lâu người ta choáng váng vì một đoạn video clip nữ sinh đánh bạn đăng tải trên Internet. Trong clip này một cô bé đang bị nữ sinh tóc ngắn vừa đánh tới tấp vào mặt vừa chửi tục với kiểu “dạy dỗ” rất anh chị. Trong khi đó nhiều học sinh khác ngồi chễm chệ ở ghế đá và thản nhiên nhìn vụ đánh hội đồng này. Một thái độ vô cảm không thể ngờ được! Sau đó, dư luận lại đau lòng trước tình trạng gia tăng bạo lực học đường của nữ sinh Việt Nam được phản ánh liên tục trên các phương tiện truyền thông.

    Hơn nữa, một số đông bạn trẻ đang chạy theo vòng xoáy của “văn hóa tốc độ”. Từ những sách báo không lành mạnh, đến những băng đĩa phim sex được trao cho nhau cách dễ dàng, từ những quán Karaoke buổi tối đến những vũ trường, quán bar thâu đêm, rồi vào những ngôi nhà nghỉ. Mặt khác, tình trạng đua xe cũng là một trong những vấn đề nổi cộm đang được diễn ra ở nhiều nơi.Vào những đêm cuối tuần tại khu vực Quảng trường Hồ Chí Minh- thành phố Vinh(Nghệ An) hàng trăm thanh niên đã tụ tập tổ chức đua xe trái phép quanh khu vực này,gây náo loạn toàn thành phố. Chỉ tính từ 20h -23h đội cảnh sát thành phố Vinh đã tiến hành bắt giữ, lập biên bản xử lý hơn 100 người đua xe ,tạm giữ 60 xe máy, 100 xe đạp có gắn còi, tuy nhiên đám đông vẫn không giải tán .

    Ngoài ra, hiện nay ngày càng đông sinh viên Việt Nam chưa có thái độ nhận thức đúng đắn đối với việc học tập. Theo một cuộc khảo sát của Phó GS-Tiến sĩ Phạm Công Khanh-Trường Sư phạm Hà Nội: “64% sinh viên chưa tìm được phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm nhận thức cá nhân. 36,1% sinh viên bộc lộ phong cách thụ động, ngại nêu lên thắc mắc và ý kiến của mình để đóng góp vào việc học tập trên lớp mà chỉ thích giảng viên cho nghe. Mặc dù trong các cuộc chơi nhậu nhẹt số đông trong họ là người tiên phong, sôi nổi, chơi hết mình. 50% sinh viên không thực sự tự tin vào năng lực, trình độ của mình. 40% sinh viên cho rằng mình không có khả năng tự học. 70% sinh viên cho rằng mình không có khả năng nghiên cứu. 55% sinh viên không thực sự hứng thú với việc học tập” (theo tuổi – trẻ online). Những con số đó thật bất ngờ. Đáng buồn thay cho một thế hệ tương lai đang ngày càng xuống dốc. Không những vậy, có những sinh viên còn tỏ thái độ vô lễ với giảng viên, làm ồn trong lớp, phát biểu linh tinh, huýt sáo… Do họ nghĩ mình đã lớn, có thể bày tỏ ý kiến thoải mãi. Sinh viên ngày nay tiếp cận quá nhiều phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại di động, truyền hình cáp, internet… nên dễ bị tiêm nhiễm những tư tưởng xấu. Các bạn nam thì vùi mình trong nhậu nhẹt, cờ bạc. Số khác lại lao vào các trò vô bổ trong thế giới ảo (như Võ lâm truyền kì, Đột kích, Audition…).

    Nguy hiểm hơn là các phim ảnh đồi trụy có tác động tiêu cực đến nhân cách các bạn. Đau lòng hơn nữa số đông trong những bạn đó gia đình đâu có khá giả gì. Để có tiền gửi lên thành phố cho con ăn học cha mẹ các bạn ở quê đã phải bòn từng gánh rau, đấu thóc, đã làm việc hết mình mông một ngày được nhìn thấy con thành đạt. Thương con họ còn cố giành giùm mua cho con điện thoại, xe máy, máy tính xách tay để tiện học tập và đi lại. Ngờ đâu, tất cả đều vào tiệm cầm đồ chỉ sau vài cuộc ăn chơi trác tán hoặc sau vài đòn thất thủ trong các trò cá độ hoặc lô đề. Các bạn nữ thì bị ảnh hưởng quá nhiều của những bộ phim lãng mạn Hàn Quốc. Từ cách ăn mặc đến đầu tóc hay phong cách thời trang các bạn đều thể hiện sao cho giống thần tượng của mình. Nghiêm trọng hơn nữa, các bạn còn chạy theo một kiểu tình cảm phương tây chớp nhoáng không giới hạn. Cụm từ “sống thử” đã trở nên quá quen thuộc với các bạn sinh viên hiện nay. Hai người sống chung với nhau như vợ chồng, nếu cảm thấy không hợp thì chia tay một cách nhẹ nhàng.

    Đáng xúc động hơn có những bạn sinh viên xuất thân trong những gia đình nghèo khó nhưng biết vượt lên hoàn cảnh để vươn tới tầm cao của tri thức. Ngoài việc học tập, các bạn đã làm tất cả những công việc để có tiền phụ giúp cha mẹ. Các bạn mãi là những bông hoa đẹp trong vườn hoa của dân tộc Việt Nam – Một tương lai tươi sáng đang chờ các bạn ở phía trước. Các bạn cũng chính là những người tiếp thu và thực hành tốt tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vì trong trái tim các bạn luôn tâm niệm rằng “đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy tự hỏi ta đã làm gì cho Tổ Quốc hôm nay”.

    ( Sinh viên tình nguyện tiếp sức mùa thi năm 2012 )

    Một nhà văn lớn đã từng nói “Sống hay không sống – đó là vấn đề”. Là một người sinh viên đồng thời cũng là một người thanh niên thuộc thế hệ trẻ, chúng ta hãy sống sao cho có mục đích, có lí tưởng, hãy sống sao để khi nhìn lại những gì đã qua ta không phải xót xa ân hận những tháng năm đã sống hoài sống phí.

    Đã có rất nhiều bài viết chỉ ra các nguyên nhân dẩn đến việc xuống cấp đạo đức của học sinh, sinh viên. Có ý kiến cho rằng do gia đình thiếu sự quan tâm, chưa kết hợp với nhà trường trong giáo dục đạo đức của các em. Nhưng trong thực tế, không phải trường hợp học sinh vi phạm đạo đức nào cũng ở trong hoàn cảnh gia đình không quan tâm.

    Do sự phát triển của nền kinh tế? Một nguyên nhân được đặt ra là kinh tế xã hội phát triển ngày càng cao và sự bùng nổ thông tin, dẫn đến việc một bộ phận gia đình khá giả chiều chuộng con mình, tạo nên sự đua đòi trong các em. Điện thoại di động, Internet, phim ảnh của các Website đen đã tác động không nhỏ đến nhận thức, lối sống và cách hành xử của học sinh, làm hư hỏng học sinh bởi bản tính tò mò, hiếu động của tuổi mới lớn. Tuy nhiên việc vi phạm đạo đức của học sinh không chỉ diễn ra ở địa bàn thành phố, đô thị hay chỉ rơi vào trường hợp các em gia đình có điều kiện kinh tế. Các trường vùng sâu, xa, học sinh nghèo chưa có điều kiện tiếp cận nhiều với Internet vẫn đang phải đối mặt với vấn nạn vi phạm đạo đức của học sinh.

    Do luật pháp chưa nghiêm? Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc. Hình thành nhân cách, đạo đức một con người đâu chỉ giáo dục trong nhà trường phổ thông là đủ. Nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hộ ít nhiều đều bị chi phối bởi cách mà xã hội đó đang hành xử với nhau. Nếu được sống trong một môi trường nghiêm minh về pháp luật, chuẩn mực về đạo đức, mọi người hành xử với nhau một cách có tình có lý, chắc chắc đó sẽ là một môi trường giáo dục lý tưởng trong việc hình thành nhân cách đạo đức của học sinh. Những bài học mà các thầy cô giáo đang cố sức rao giảng để giáo dục đạo đức của học trò mình trên lớp dường như ngược lại với các hoạt động đang diễn ra trong cuộc sống xã hội. Trong khi các giáo viên dạy nhạc cố gân cổ lên để rao giảng về thẩm mỹ âm nhạc, chắt chiu từng giờ dạy dân ca để các em biết yêu quý những giá trị tinh thần mà ông cha ta đã dày công vun đắp. Thì hàng ngày, mấy chục nhà đài liên tục phát những bài hát được gọi là nhạc trẻ với một thứ thẩm mỹ vay mượn, hổ lốn. Báo chí thì thi nhau săm soi kỹ lưỡng đời sống của các “Sao” như một sự tôn vinh. Chúng ta có nhói tim không khi nghe một học sinh lớp 6 hát nghêu ngao: “Vì em đam mê thú vui thân xác, nên em đánh mất mối tình của tôi..” (“Đ ừng để tôi biết em dối gian” – Lâm Hùng). Luật giao thông được đưa vào nhà trường để dạy cho các em, những công dân tương lai, sống và làm việc đúng luật pháp. Thế nhưng khi ra đường các em luôn phải chứng kiến những hành vi vi phạm an toàn giao thông của người lớn mà đôi khi còn có cả cảnh sát giao thông.

    Do những tiêu cực mà các em hàng ngày phải chứng kiến. Nhà trường thường xuyên giáo dục các em về tính trung thực, phải biết vươn lên bằng chính đôi chân của mình. Nhưng trong thực tế các em lại chứng kiến có quá nhiều người lớn không trung thực nhưng vẫn “thành đạt”. Tệ nạn sử dụng bằng giả hay mua bằng, gian dối trong báo cáo thành tích, sự thiếu nghiêm minh của pháp luật tác động lên các em hàng ngày trách sao các em không thiếu niềm tin với những điều học được trong nhà trường. Những thứ mà các em đang học trong nhà trường dường như là một mớ lý thuyết không áp dụng được cho cuộc sống. Trong một cuộc họp chuyên môn đầu năm học 2011-2012 ở một phòng GD-ĐT cấp huyện của tỉnh An Giang, một giáo viên dạy toán lâu năm đã đề nghị nên chấp nhận với thực tế, học thật, đánh giá thật, có thể trong một vài năm huyện sẽ thua các đơn vị huyện thị khác, nhưng bù lại chúng ta biết chính xác thực trạng của học sinh mà có hướng nâng chất lượng thật sự. Vị trưởng phòng GD-ĐT huyện trầm ngâm phát biểu “Thế thì chúng ta sẽ thua các huyện thị nhiều lắm”. Vậy ra thành tích học tập của các em được xem như là một thứ đảm bảo cho vị trí chiếc ghế của người lớn sao? Ngay cả trong nhà trường các em cũng đã chứng kiến bao nhiêu là điều thiếu trung thực. Chỉ với các chỉ tiêu về chất lượng bộ môn, chống lưu ban bỏ học, phổ cập giáo dục… cũng đã làm cho những thầy cô của chúng phải chấp nhận với việc ai cũng làm như vậy.

    Do chính nội dung giảng dạy trong nhà trường. Một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó chính là chương trình giảng dạy đạo đức ở các cấp học phổ thông. Chương trình đạo đức được thực hiện xuyên suốt, từ bậc Mầm non là giáo dục lễ giáo, bậc Tiểu học là môn Đạo đức, bậc Trung học là môn Giáo dục công dân. Thế nhưng các giáo viên dạy tiểu học cho rằng chương trình nặng tính lý thuyết, thiếu kỷ năng sống, lại không tạo được dấu ấn để tác động hình thành nhân cách học sinh. Những bài học ý nghĩa, gần gũi với đời sống không được chú tr ọng mà thay bằng những bài học quá trừu tượng. Còn chương trình GDCD bậc THPT, chỉ có 11 tiết dạy các vấn đề về đạo đức trên tổng số 105 tiết. Dạy đạo đức cho học sinh đâu chỉ có môn học Đạo Đức mà nó phải được tích hợp ở những bộ môn xã hội như Lịch sử, Văn học… Chúng tôi rất thích những bài tập làm văn, những bài học thuộc lòng được học lúc nhỏ trong sách giáo khoa với nội dung chứa đựng tình cảm yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc và giữ gìn cốt cách người Việt Nam. Còn nội dung những bài học trong sách Đạo Đức thì rất gần gũi với cuộc sống đời thường. Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu giáo điều không còn phù hợp nữa, cần phải đưa học sinh vào các xử lý tình huống thực tế. Giáo dục đạo đức trong nhà trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. Chương trình sách giáo khoa giáo dục công dân bậc phổ thông cần phải có những thay đổi từ nội dung đến phương pháp truyền đạt. Những giá trị đạo đức, ứng xử trong đạo lý của người Việt Nam cần phải được chuyển tải trong những tình huống cụ thể, gần gũi để học sinh, sinh viên dễ tiếp cận, dễ nhớ. Cần dạy cho học sinh những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống phù hợp với những chuẩn mực xã hội.

    Hai là, phải kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng cùng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, hình thành phẩm chất cao đẹp của con người mới XHCN. Trước hết gia đình là nơi lưu giữ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, là môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho học sinh, sinh viên. Gia đình là nơi mà tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó trong gia đình, ông bà, cha mẹ phải thật sự mẫu mực, làm gương về đạo đức, yêu thương, chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ. Hiện nay do sức ép về lao động, việc làm khiến cho không ít các bậc làm cha, làm mẹ mải miết mưu sinh hoặc chỉ lo làm giàu mà thiếu quan tâm việc giáo dục đạo đức cho con cái, hoặc khoán trắng cho nhà trường và xã hội. Nhiều khi con cái vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật mà cha mẹ không hề hay biết, hoặc không biết cách ngăn chặn, phòng ngừa. Để giáo dục đạo đức cho thanh niên, mỗi gia đình cần giữ gìn đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, làm cho các giá trị đó ngày càng toả sáng, góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cao đẹp cho thế hệ con cháu. Nhà trường không chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn là nơi dạy người. Giáo dục lý tưởng, đạo lý làm người là nội dung giáo dục hàng đầu trong nhà trường hiện nay và phải đặc biệt coi trọng. Một số nhà trường mới chỉ quan tâm trang bị kiến thức chuyên môn, tay nghề mà xem nhẹ hoặc thiếu quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Học sinh, sinh viên ngày nay đang sống trong thời kỳ bùng nổ thông tin, kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng. Học sinh, sinh viên đã và đang chịu ảnh hưởng cả mặt tích cực và mặt tiêu cực từ môi trường kinh tế, xã hội. Vì vậy các tổ chức, đoàn thể, các đơn vị lực lượng vũ trang cần quan tâm định hướng tạo môi trường thuận lợi để h ọc sinh, viên phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành. Cấp uỷ đảng, chính quy ền, m ặt trận, đoàn thể, nhất là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần tổ chức nhiều hoạt động phong phú, đa dạng để thu hút, rèn luyện học sinh, sinh viên theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Kịp thời biểu dương, nhân rộng cách làm hay và kiên quyết uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, những biểu hiện lệch chuẩn trong đạo đức, lối sống của thanh niên.

    Ba là, phát huy vai trò tự học tập, tự du dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của học sinh, sinh viên. Học sinh, sinh viên là lớp người trẻ, khoẻ, có nhiệt tình cách mạng, nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ. Phát huy vai trò của học sinh, sinh viên trong tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức lối sống là biện pháp quan trọng giúp họ nhanh chóng tiến bộ, trưởng thành. Đó còn là điều kiện quyết định kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân. Trước hết phải hình thành cho học sinh, sinh viên nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình. Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để học sinh, sinh viên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho học sinh, sinh viên. Quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của học sinh, sinh viên về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để thanh niên rèn luy ện đạo đức, lối sống. Mỗi học sinh, sinh viên phải xác định rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ. Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, lợi mình hại người. Học sinh, sinh viên cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ như Bác Hồ đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công”. Thực hiện tốt một số giải pháp giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho học sinh, sinh viên trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ sinh viên vừa “hồng”, vừa “chuyên”, chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu. Giáo dục là quốc sách hàng đầu, thì việc giáo dục đạo đức học sinh chính là trang đầu của quốc sách ấy. Vai trò của Giáo dục thật sự quan trọng và có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của một dân tộc. Giáo dục là trụ cột của một quốc gia để tạo dựng, giữ gìn và phát triển các giá trị xã hội. Giáo dục đạo đức học sinh đâu phải chỉ là nhiệm vụ của môn học Đạo Đức trong nhà trường, hay chỉ là của ngành Giáo Dục.

    Đã đến lúc xã hội cần nhìn nhận vấn đề đạo đức học sinh, sinh viên trong nhà trường hiện nay với một tinh thần trách nhiệm và nghiêm túc. Cần phải đổi mới hoàn toàn cách thức mà lâu nay chúng ta đã dùng để giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên. Bản thân giáo dục đã mang tính xã hội hóa, nhà nước cần tạo điều kiện để toàn dân tham gia vào công tác giáo dục học sinh, sinh viên. Điều quan trọng là cần có một môi trường xã hội lành mạnh, mọi người sống tuân thủ pháp luật và tôn trọng những giá trị đạo đức xã hội. Một môi trường xã hội tốt sẽ tác động vào nhận thức của học sinh, sinh viên và các em cũng phải tuân thủ những nguyên tắc ứng xử đã được học trong nhà trường mà cả xã hội đang áp dụng.

    Liên chi đoàn khoa Giáo dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Đạo Đức Của Sinh Viên Việt Nam Hiện Nay
  • Công Ty Hóa Chất Xây Dựng Phương Nam
  • Tcvn 4616 : 1987 Quy Hoạch Mặt Bằng Tổng Thể Cụm Công Nghiệp. Tiêu Chuẩn Thiết Kế
  • Bố Cục Các Công Trình Trong Khu Sản Xuất Của Xí Nghiệp Công Nghiệp
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 4514:2012 Về Xí Nghiệp Công Nghiệp
  • Skkn Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gd Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Từ Đề Tài Nckh Giải Nhất Quốc Gia
  • Đề Tài Một Vài Biện Pháp Quản Lý Công Tác Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • PHẦN THỨ NHẤT.

    MỞ ĐẦU

    I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

    Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức là một bộ phận hết sưc quan trọng trong quá trình giáo dục rèn luyện nhân cách học sinh. Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất, nhân cách, là cái gốc của con người. Vì thế, trong công tác giáo dục ở nhà trường phải luôn chú trọng cả đức lẫn tài: Việc dạy chữ phải kết hợp với dạy người, dạy nghề nhằm rèn luyện học sinh trở thành con người phát triển toàn diện.

    Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, hoà nhập khu vực và quốc tế, tận dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi; yêu cầu đòi hỏi nhân tài cho đất nước ngày càng cao hơn, chất lượng hơn.

    Vì vậy, hơn bao giờ hết nhận thức và hành động của việc “giáo dục đạo đức phải chiếm vị trí hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục học sinh”.

    Từ nhận thức đó, là một giáo viên Tổng Phụ Trách Đội bản thân tôi luôn có suy nghĩ, trăn trở, tìm ra các biện pháp có sức thuyết phục trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đó là lý do tôi chọn đề tài này.

    II. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:

    Nghiên cứu những biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh, kết hợp kinh nghiệm bản thân, nhằm tìm ra các biện pháp thích hợp, vận dụng có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng đạo đức trong học sinh ở trường THCS.

    III.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

    – Học sinh trường THCS.

    IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    – Nghiên cứu lý luận về giáo dục đạo đức của học sinh thông qua quá trình theo dõi, giảng dạy và sinh hoạt Đoàn Đội

    – Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, trao đổi và tổng kết các năm học, kinh nghiệm của các đồng chí giáo viên chủ nhiệm và bản thân qua các năm.

    PHẦN THỨ 2: NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THCS.

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.

    – Theo quan niệm của Mác, đạo đức là một yếu tố trong ý thức xã hội, trong đời sống tinh thần của con người. Về lý luận, nó là một bộ phận của kiến thức xã hội, được xây dựng trên cơ sở kinh tế- xã hội. Đạo đức bao gồm các tri thức về kĩ năng, các chuẩn mực và phẩm chất đạo đức. Như vậy, đạo đức tồn tại trong mọi dạng ý thức, hoạt động và giao lưu trong mọi hoạt động sống của con người. Đạo đức được biểu hiện dưới dạng những tư tưởng, những quan điểm của con người; đồng thời là những nguyên tắc, tiêu chuẩn hướng con người điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, con người với con người, con người với xã hội. Việc ý thức được đầy đủ và định hướng rõ rệt về tính chất, nội dung của chuẩn mực đạo đức, của các mối quan hệ trong cuộc sống mỗi con người đều có khả năng ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách của con người đó.

    Trong đạo đức cách mạng, Bác Hồ đặc biệt rất chú ý đến cặp phạm trù “Đức” và “Tài”. Người cho: “Đức phải đặt trước tài” và “Phải có chính trị trước rồi mới có chuyên môn”. Chính trị là đức , chuyên môn là tài. Chính vì vậy, ngoài việc trang bị những tri thức khoa học, nhà trường cần phải đặc biệt đến giáo dục đạo đức cách mạng cho học sinh để trong hành trang lập thân, lập nghiệp, các em có đủ đức, đủ tài như Bác Hồ đã dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”. Tài và đức trở thành yếu tố thiết yếu tạo nên sự phát triển cân đối, hài hoà của mỗi con người.

    Xét về mặt tâm lý, thì học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi thiếu niên, thanh niên thường đam mê những cái mới lạ, cho nên các em tiếp cận rất nhanh, nhạy cảm với cái mới, cái đẹp, cái hay. Học sinh là những người thích tìm tòi, sáng tạo, biết kết hợp theo sở thích và lợi ích cho nên các em thường nản chí trước những khó khăn, rất ưa chuộng hình thức và ít xem đến kết quả, xa rời với thực tiễn cuộc sống. Cho nên quan điểm giáo dục đaọ đức cho học sinh nói chung là giáo dục lòng yêu thương, quý trọng mọi người, biết đoàn kết anh em, bè bạn.

    Vì thế ta phải có phương pháp giáo dục sao cho sát với thực tế, phù hợp với đối tượng, nhiệm vụ cụ thể. Có như vậy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Hs Thcs Trong Giai Đoạn Hiện Nay .rar
  • Kinh Nghiem Giao Duc Dao Duc Hoc Sinh Thcs Skkn
  • Nêu Nguyên Nhân Hậu Quả Biện Pháp Của Sự Di Dân Ở Đới Nóng? Sự Gia Tăng Dân Số Gây Sức Ép Gì ? Câu Hỏi 55305
  • Thực Hiện Biện Pháp Tránh Thai Hiện Đại Để Tránh Gia Tăng Dân Số
  • Cần Có Những Giải Pháp Cụ Thể Để Giải Quyết Việc Làm
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 1310417

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Bai 2 Hàng Hóa Thị Trường Tiền Tệ Bai2 Tiet1 Ppt
  • Hàng Hóa Tiền Tệ Bai2Hanghoatientethitruongphaniitiente Ppt
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 7 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 2 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 2 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không làm ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tế điều đó đã dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích, truyện trung đại…. . Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ hoặc người mắc nợ của ngân hàng nếu tiêu xài phung phí, không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Do ngành du lịch phát triển, nên mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước ngoài. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại, như Mỹ – Việt Nam là: 1 USA = 23.143 VNĐ…………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tháp Nhu Cầu Maslow Là Gì? Khái Niệm Và Phân Tích Chi Tiết
  • Bài 5. Prôtêin Bai 5 Protein 1 Ppt
  • Cấu Trúc Và Tính Chất Vật Lý, Hóa Học Của Protein
  • Top 5 Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Dinh Dưỡng Của Mỹ Tốt Hiện Nay
  • Tpcn Bổ Sung Sung Protein Hữu Cơ Từ Đậu Nành Fancl Nhật Bản
  • Giáo Dục Tình Cảm Đạo Đức Cho Trẻ 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục “tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh” Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 3 4 Tuổi Học Tốt Môn Toán Trường Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 6 Tuổi Học Tốt Môn Toán
  • Luận Văn Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 5
  • Tp Hồ Chí Minh: Nhiều Biện Pháp Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    NGUYỄN NGỌC BÍCH

    GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

    TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH CHIỀNG BÔM –

    THUẬN CHÂU – SƠN LA THÔNG QUA VIỆC

    GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    SƠN LA, NĂM 2013

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    NGUYỄN NGỌC BÍCH

    GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

    TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH CHIỀNG BÔM –

    THUẬN CHÂU – SƠN LA THÔNG QUA VIỆC

    GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH

    CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP CHO TRẺ

    LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Người hướng dẫn: Th.S Trịnh Thị Hồng

    SƠN LA, NĂM 2013

    LỜI CẢM ƠN

    Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dựa trên sự hướng dẫn khoa học

    của cô giáo, Thạc Sĩ Trịnh Thị Hồng. Nhân dịp khóa luận được công bố, em

    xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, Thạc Sĩ Trịnh Thị Hồng – người đã

    trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình cho em trong quá trình thực hiện

    đề tài này.

    Em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào Tạo, các thầy,

    cô giáo khoa Tiểu học – Mầm non, thư viện trường Đại học Tây Bắc, các ban

    ngành chức năng và tập thể lớp K50 Đại học giáo dục Mầm non.

    Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu trường

    Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La đã tận tình giúp

    đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này.

    Với nội dung khóa luận này em rất mong nhận được những ý kiến đóng

    góp của thầy cô và các bạn!

    Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn!

    Sơn La, tháng 5 năm 2013

    Người thực hiện

    Nguyễn Ngọc Bích

    DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

    GDĐĐ

    : Giáo dục đạo đức

    MGB

    : Mẫu giáo bé

    MGL

    : Mẫu giáo lớn

    MGN

    : Mẫu giáo nhỡ

    NXB

    : Nhà xuất bản

    STT

    : Số thứ tự

    %

    : Phần trăm

    MỤC LỤC

    PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………….. 1

    1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………………………………… 1

    2. Lịch sử vấn đề …………………………………………………………………………………… 3

    3. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………………………….. 5

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………………………………………. 5

    5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………… 5

    6. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………….. 5

    6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận ………………………………………………………… 6

    6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn …………………………………………………….. 6

    6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm ……………………………………………………. 6

    7. Đóng góp của khóa luận ……………………………………………………………………… 6

    8. Giả thuyết khoa học ……………………………………………………………………………. 6

    9. Cấu trúc của khóa luận ……………………………………………………………………….. 7

    PHẦN NỘI DUNG ………………………………………………………………………………. 8

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN …………………………………………………………….. 8

    1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ mầm non ………………………………………………………. 8

    1.2. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non ……………………………………….. 9

    1.2.1. Khái niệm đạo đức………………………………………………………………………… 9

    1.2.2. Khái niệm giáo dục……………………………………………………………………….. 9

    1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức …………………………………………………………. 10

    1.2.4. Nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo ……………………. 10

    1.2.5. Phương pháp giáo dục đạo đức ……………………………………………………… 11

    1.3. Truyện cổ tích với trẻ mẫu giáo ……………………………………………………….. 14

    1.4. Đặc điểm tâm lí trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với việc lựa chọn truyện cổ tích

    để giáo dục đạo đức ……………………………………………………………………………… 18

    TIỂU KẾT………………………………………………………………………………………….. 22

    3.7. Một số giáo án ………………………………………………………………………………. 42

    TIỂU KẾT………………………………………………………………………………………….. 52

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………………………………… 53

    1. Kết luận ………………………………………………………………………………………….. 53

    2. Kiến nghị………………………………………………………………………………………… 54

    TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………… 55

    PHỤ LỤC

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    Tại điều 22 luật giáo dục (2005) của nước ta xác định: “Mục tiêu giáo dục

    mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành

    những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một”. Trong

    tương lai trẻ em tuổi mầm non của ngày hôm nay sẽ trở thành người lao động,

    người công dân thực sự của đất nước nhưng việc đào tạo con người mới lại phải

    bắt đầu ngay từ thuở lọt lòng. Khi bàn về bản chất con người, đứng trên quan

    điểm xã hội học, Mạnh Tử nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập

    tương viễn”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ lương thiện, tính tình khá

    đồng nhất, nhưng do môi trường và sự tiếp cận học hỏi khác nhau mà tính tình

    đâm ra khác biệt nhau. Còn Tuân Tử nói: “Nhân chi sơ tính bản ác, lý tính hậu

    lai tập đắc”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ là ác, nhưng sau này do

    học tập mà có lý trí, biết cái đúng cái sai. Mạnh Tử và Tuân Tử đều là bậc thầy

    của Nho giáo thời Chiến quốc, dù có những đánh giá khác nhau về tính con

    người, nhưng đều thống nhất rằng môi trường và sự giáo dục sẽ làm con người

    thay đổi, nghĩa là giáo dục đóng vai trò quyết định cho bản tính của con người

    trong tương lai.

    Mục tiêu của giáo dục thật sự rất rõ ràng là dạy làm người, nghĩa là rèn

    luyện đạo đức và nhân cách con người. Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức,

    kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh. Giáo dục

    không chỉ là việc cung cấp, bồi dưỡng tri thức, kĩ năng hay nâng cao năng lực

    con người, mà hơn hết mục tiêu chính và quan trọng nhất của giáo dục không gì

    khác chính là “dạy cách làm người”. Giúp con người bồi dưỡng tâm hồn và rèn

    giũa nhân cách, hoàn thiện bản thân, có như vậy con người mới có thể phát triển

    toàn diện được. Mục tiêu ấy của giáo dục không phải có thể hoàn thành một

    cách nhanh chóng trong một sớm một chiều, mà nó là cả một quá trình dài thực

    hiện theo những cấp độ khác nhau, từ khi trẻ được sinh ra cho đến hết bậc học

    phổ thông hoặc cao hơn nữa. Trong đó tập trung chủ yếu ở các cấp học mầm

    non, tiểu học và phổ thông cơ sở và tất nhiên là khâu quan trọng nhất, cũng là

    nền tảng cho việc hình thành những kĩ năng đầu tiên với cuộc sống. Tạo dựng

    những nền tảng căn sơ cho nhân cách sau này của trẻ chính là ở trường mầm

    non. Bởi lẽ, đây là thời kỳ quan trọng nhất của trẻ khi các em mới chập chững

    làm quen với xã hội bên ngoài sự bao bọc của gia đình. Đây cũng là thời kỳ tiên

    quyết, giúp trẻ chuẩn bị những hành trang đầu tiên để bước vào đời sau này.

    Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành, biết

    1

    ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Đó như một lời khẳng định cho sự ngây

    thơ, hồn nhiên, trong sáng của trẻ. Khi mới sinh ra trẻ em như một tờ giấy trắng

    tinh khôi không hề tì vết, không vấy bẩn và trong sáng vô cùng. Sự trong sáng

    ngây thơ ấy mang lại cho trẻ sự hồn nhiên nhưng cũng khiến trẻ không đủ khả

    năng để có thể vững vàng trong cuộc sống. Bởi vậy, trẻ rất dễ bị ảnh hưởng bởi

    những tác động của xã hội xung quanh.

    Đặc biệt, ở lứa tuổi mầm non, trẻ chủ yếu nhận biết xã hội bằng việc quan

    sát và bắt chước những gì quan sát được, chứ chưa thể có những chủ kiến của

    bản thân cũng như có được sự đánh giá đúng sai để xem xét có nên học tập hay

    không. Bởi vậy mà tâm hồn trong sáng ngây thơ của trẻ rất có khả năng sẽ bị

    biến đổi nhanh chóng, trở thành những đứa trẻ hư, những học sinh kém…

    Chúng ta cũng từng khẳng định trẻ em là mầm non tương lai của đất nước. Có lẽ

    nào ta lại để những mầm non ấy chưa kịp lớn lên đã dần thui chột và lụi tàn. Vì

    vậy, giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ là nhiệm vụ rất quan trọng trong các cơ

    sở giáo dục mầm non và trong môi trường gia đình của trẻ. Khoa học tâm lý đã

    khẳng định rằng khi hết tuổi mầm non, ở đứa trẻ đặt xong nền móng đầu tiên

    của nhân cách, sự phát triển về mặt đạo đức cho trẻ sau này đều mang rõ dấu ấn

    của thời ấu thơ. Vì thế, từ lứa tuổi này chúng ta phải chăm lo phát triển toàn diện

    cho trẻ, trên cơ sở đó mà từng bước hình thành tình cảm đạo đức cho trẻ theo

    phương hướng, yêu cầu mà xã hội mới đặt ra.

    Môn “Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học” có vai trò rất

    quan trọng đối với sự hình thành và phát triển đạo đức cho trẻ. Từ lâu người ta

    đã nhận thấy văn học là nguồn không cạn của tri thức, là kinh nghiệm sống mà

    con người cần tiếp thu và phát triển. Người ta cũng thấy rõ vị trí sức mạnh riêng

    của tác phẩm văn học trong sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục trẻ mầm

    non nói riêng. Trong các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi có một thể loại

    văn học được trẻ em trên khắp thế giới yêu thích và được nhân dân lao động từ

    ngàn xưa coi là một công cụ hữu hiệu để giáo dục đạo đức cho trẻ đó là truyện

    cổ tích. Ngay từ khi ra đời truyện cổ tích đã mang trong mình sứ mệnh vẻ vang,

    là một phương tiện để giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho trẻ. Truyện cổ

    tích mang nội dung luân lí, đạo đức, triết học rất rõ ràng. Vì vậy những bài học

    đạo đức ở đây trở nên sâu sắc. Mọi sự vật, hiện tượng đều có quan hệ nhân quả:

    gieo gió gặp bão, ở hiền gặp lành. Qua những hiện tượng trong cổ tích, trẻ em

    nhận thức được những khái niệm đầu tiên về sự công bằng và bất công, về nền

    văn hóa của dân tộc mình… Như vậy việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn

    học đặc biệt là thông qua truyện cổ tích có ý nghĩa to lớn đối với việc giáo dục

    đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất tâm hồn, phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo. Có

    2

    thể nói trẻ rất nhạy cảm với nội dung đạo đức trong tác phẩm văn học. Giáo dục

    đạo đức là một trong những mặt quan trọng nhất của sự phát triển nhân cách.

    Hiện nay, ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu –

    Sơn La, vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua giờ kể chuyện cổ

    tích còn ít được đề cập đến hoặc có được đề cập đến nhưng chưa được áp dụng

    rộng rãi. Vì vậy để trẻ phát huy được tối đa những tình cảm đạo đức, tính tích

    cực, sáng tạo, tư duy tưởng tượng các nhà giáo dục cần có biện pháp và phương

    pháp giúp trẻ phát triển tình cảm đạo đức thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, mức độ biểu hiện tình cảm đạo

    đức của trẻ chưa cao, một trong những nguyên nhân đó là ở trường mầm non

    còn mang nặng tính hình thức, trong quá trình tổ chức hoạt động giáo viên chưa

    chú trọng phát huy vai trò của truyện cổ tích đối với sự phát triển tình cảm đạo

    đức của trẻ. Một trở ngại lớn đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua

    truyện cổ tích đó là việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ. Mác nói: “Ngôn ngữ là vỏ

    hiện thực của lời nói và tư duy”. Không đủ vốn từ hay vốn từ không được tích

    cực hóa thì không thể hiểu được ý của người khác nói, không thể diễn đạt được

    điều mình muốn nói cho người khác hiểu được. Bên cạnh đó cơ sở vật chất còn

    hạn hẹp, phụ huynh thiếu quan tâm đến sự phát triển đạo đức của trẻ, trẻ chủ yếu

    sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình để giao tiếp. Mà đặc biệt là giáo viên chưa

    biết khai thác thế mạnh của truyện cổ tích trong việc giáo dục toàn diện nhân

    cách nói chung và tình cảm đạo đức nói riêng cho trẻ mẫu giáo.

    Với những lý do trình bày ở trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:

    “Giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh

    Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích”.

    2. Lịch sử vấn đề

    Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác động của văn học và truyện cổ

    tích với sự phát triển toàn diện của trẻ. Qua quá trình tìm hiểu về sự tác động

    của truyện cổ tích trong việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi chúng

    tôi đã tiếp cận với một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.

    Có lẽ đối với trẻ thơ không món quà nào hấp dẫn bằng truyện cổ tích. Vai

    trò của truyện cổ tích từ lâu đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan

    tâm nghiên cứu. Có thể kể đến các tác giả như:

    M.K Bogoliup Xkaia và V.v septsenk với tác phẩm: “Đọc và kể truyện văn

    học ở vườn trẻ” (Liên Xô cũ, 1967). Các tác giả tập trung nhấn mạnh đến các

    vấn đề cơ bản của người giáo viên trong việc đọc và kể truyện văn học ở trường

    3

    mẫu giáo. Tuy chưa có ý thức rõ ràng về thi pháp của thể loại truyện cổ tích

    nhưng các tác giả đã lưu ý giáo viên cần chú ý vào giá trị nội dung và hình thức

    nghệ thuật của truyện dân gian như những biện pháp tự sự với âm điệu lạc quan,

    tính duyên dáng mà giản dị của ngôn ngữ, với sự xuất hiện những câu văn vần,

    ca khúc và những câu đối thoại đơn giản. Công trình cũng nhấn mạnh không khí

    cổ tích, môi trường diễn xướng dân gian, thể hiện trên nét mặt, cử chỉ và sự giao

    cảm trực tiếp của người đọc và sự đáp lại của người nghe.

    Tập thể giáo viên mẫu giáo Hans Joachim, Horst, Cholothauer tác phẩm:

    “Về văn học cho trẻ mẫu giáo” (Cộng hòa dân chủ Đức, 1976). Công trình này

    đã trở thành cuốn sách giáo khoa nổi tiếng được tái bản lại nhiều lần. Cuốn sách

    đã quán triệt tư tưởng giáo dục cơ bản là: đề cao vai trò to lớn của môi trường

    văn hóa nghệ thuật và những ấn phẩm góp phần phát triển nhân cách trẻ mẫu

    giáo. Vai trò to lớn và tác dụng lâu dài của truyện cổ tích trong việc giáo dục trẻ

    thông qua chức năng xã hội, thẩm mỹ trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai

    được nhấn mạnh đặc biệt trong công trình này. Trong công trình tác giả xem

    trọng đặc trưng ngôn ngữ cổ tích và việc khai thác và phát triển năng lực ngôn

    ngữ trẻ.

    Tập thể tác giả Stanislawa Fryciego, I Zabeli – Lewanskie tác phẩm: “Văn

    hóa văn học ở trường mẫu giáo” (Ba Lan). Các tác giả đã nhìn thấy rõ sự cần

    thiết phải tạo không khí văn học kết hợp với các hình thức giao tiếp với trẻ, cổ

    vũ trẻ tập trung nhìn nhận, đánh giá về nhân vật văn học góp phần hình thành và

    hoàn thiện nhân cách trẻ.

    Tác giả Nguyễn Thu Thủy tác phẩm: “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện

    và thơ” (1986). Cuốn sách chưa đi sâu vào nội dung giáo dục của truyện cổ tích.

    Phạm Thị Việt – Lê Ánh Tuyết – Cao Đức Tiến, “Văn học và phương pháp

    cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học”, NXB giáo dục. Cuốn sách đã đề cập đến

    mục đích, nội dung và phương pháp cho trẻ làm quen với văn học. Đồng thời đã

    lựa chọn và mang đến cho trẻ những truyện kể dân gian phù hợp và hấp dẫn.

    Một số cuốn sách sưu tầm truyện cổ tích như:

    “100 truyện cổ tích nổi tiếng thế giới”, NXB Văn hóa thông tin

    “100 truyện cổ tích thế giới Ngọc Ánh sưu tầm và biên soạn”, NXB Dân trí

    “100 truyện cổ tích Việt Nam hay nhất”, NXB nhà văn, do tác giả Thái

    Đắc Xuân sưu tầm…

    Qua tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu chúng tôi nhận thấy đó đều là những

    công trình nghiên cứu vĩ đại trên cả lĩnh vực lí luận và thực tiễn. Tuy nhiên chưa

    4

    giáo 5 – 6 tuổi. Tuy nhiên, khi sử dụng truyện cổ tích vào việc giáo dục trẻ còn

    gặp nhiều vấn đề khó khăn, mức độ phát triển đạo đức thông qua truyện cổ tích

    cho trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –

    Thuận Châu – Sơn La còn có những hạn chế do đó tình cảm đạo đức mà trẻ thể

    hiện còn chưa cao. Nếu khóa luận đề xuất được những biện pháp phù hợp sẽ góp

    phần nâng cao hiệu quả giáo dục của truyện cổ tích trong việc hình thành tình

    cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –

    Thuận Châu – Sơn La nói riêng và phát triển nhân cách cho trẻ nói chung.

    9. Cấu trúc của khóa luận

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo nội dung khóa luận gồm

    ba chương:

    Chương 1: Cơ sở lí luận. Trong chương này chúng tôi đề cập đến cơ sở lí

    luận về việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nói chung và việc thông qua

    truyện cổ tích nhằm phát triển tình cảm đạo đức cho trẻ nói riêng.

    Chương 2: Cơ sở thực tiễn vấn đề nghiên cứu. Trong chương này chúng tôi

    đề cập đến cơ sở thực tiễn về việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học và

    việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh

    Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích.

    Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tình cảm

    đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận

    Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với truyện cổ tích. Thiết kế một

    số giáo án mẫu.

    7

    nhanh, đây là giai đoạn trẻ cần được sự giáo dục – xã hội hóa một cách tích cực.

    Trạng thái của trẻ lúc này đã tương đối phong phú, đồng thời cũng rất dễ biểu

    hiện ra ngoài, không ổn định, thiếu kiềm chế, thường có tâm lý sợ bóng tối, ma

    quỷ… Lúc này trẻ đã có những biểu đạt cao hơn như: đạo đức, lý trí… Có thể

    tuân thủ theo những quy phạm hành vi thông thường.

    Ngoài ra, trẻ sau 5 tuổi đã bắt đầu biết phân biệt giới tính, ý thức bản thân

    mình có sự phát triển. Khi trẻ luôn nhận được sự đánh giá tích cực, sự khẳng

    định của người xung quanh thường sẽ rất tự tin. Ngược lại có những trẻ luôn

    nhận được sự đánh giá tiêu cực, phủ định của người khác sẽ rất dễ nảy sinh cảm

    giác cô độc, tự ti. Biểu hiện của tính khí, tính cách, tâm trạng, hành vi… thường

    là hạt nhân của cá tính một con người. Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước

    ngoặt quan trọng của trẻ em. Ở độ tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi là thời kỳ trẻ đang

    tiến vào bước ngoặt đó với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo. Vì vậy, ở giai

    đoạn này, việc nâng cao khả năng nhận thức cho con trẻ là vô cùng quan trọng.

    Điều này bao gồm cả việc bồi dưỡng năng lực cho trẻ như khả năng quan sát, trí

    nhớ, tưởng tượng, lí giải sự vật hiện tượng… Giai đoạn này cũng là giai đoạn

    các kỹ năng học tập về nhận thức và ngôn ngữ của trẻ đạt hiệu quả cao nhất. Vì

    vậy, mọi sự can thiệp sớm trong việc cải thiện các khả năng giao tiếp, ngôn ngữ

    và ứng xử của trẻ cần phải đưa vào trong giai đoạn này. Truyện cổ tích là một

    thể loại văn học dân gian có khả năng đáp ứng nhu cầu này của trẻ. Tuy nhiên,

    khác với người lớn, trẻ em lứa tuổi mầm non chỉ có thể tiếp xúc với truyện cổ

    tích một cách gián tiếp. Sự tiếp nhận truyện cổ tích của trẻ bị chi phối bởi các

    quá trình tâm lý. Chính vì vậy, các cô giáo mầm non đều cần phải hiểu những

    đặc điểm tâm lý rất cơ bản của trẻ, có như thế thì mới có thể phát huy được sức

    mạnh của văn học nói chung, truyện cổ tích nói riêng trong việc giáo dục trẻ thơ.

    1.2. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non

    1.2.1. Khái niệm đạo đức

    Đạo đức là một hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, một hình thái ý thức

    xã hội, chế định xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con

    người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với

    chính bản thân mình.

    1.2.2. Khái niệm giáo dục

    Giáo dục theo nghĩa rộng là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức,

    có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới

    người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách

    cho họ.

    9

    Giáo dục học theo nghĩa hẹp là quá trình hình thành cho người được giáo

    dục: lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,

    những hành vi thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho

    họ các hoạt động và giao lưu.

    1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức

    Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm

    trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, qui tắc chuẩn mực đạo

    đức, rèn cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu xã hội mà

    trẻ đang sống. Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức,

    những nét tính cách của con người Việt Nam mới.

    1.2.4. Nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo

    * Nhiệm vụ

    Trong quá trình giáo dục đạo đức, việc hình thành những tình cảm đạo đức

    có vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi lẽ ở lứa tuổi này mọi hành động của trẻ đều bị

    chi phối bởi tình cảm. Khi trẻ yêu mến ai thì trẻ luôn nghe theo lời người đó và

    sẵn sàng làm mọi việc để người đó vui lòng và yêu quý trẻ. Mặt khác, tình cảm

    đạo đức là cơ sở, động lực thúc đẩy trẻ có những hành vi, việc làm tốt.

    Việc hình thành các thói quen đạo đức cho trẻ mẫu giáo là nhiệm vụ quan

    trọng thứ hai trong quá trình giáo dục đạo đức. Đặc điểm đặc trưng của trẻ mẫu

    giáo là khả năng bắt chước. Khi bắt chước hành vi của người khác, nhiều trẻ

    chưa hiểu được nội dung đạo đức hành vi của mình, do vậy dễ dẫn đến hành vi

    sai. Bởi vậy, cần hình thành ở trẻ những thói quen hành vi khác nhau trong quan

    hệ ứng xử với người lớn, bạn bè, nơi công cộng, với chính bản thân mình.

    Nhiệm vụ cơ bản thứ ba là hình thành ở trẻ những biểu tượng về chuẩn

    mực hành vi đạo đức và động cơ đạo đức đúng đắn. Trên cơ sở có tình cảm đạo

    đức đúng đắn, đứa trẻ tích cực, tự giác thực hiện những hành vi phù hợp với các

    yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức, dần dần nhận ra được các yêu cầu của

    chuẩn mực hành vi (thế nào là ngoan, thế nào là hư, là xấu…).

    Các nhiệm vụ giáo dục tình cảm đạo đức, hình thành thói quen đạo đức

    được thực hiện thống nhất trong quá trình giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo.

    * Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bao gồm những hệ thống

    thái độ và hành vi ứng xử với con người và cuộc sống xung quanh.

    Đối với người lớn: trẻ biết kính trọng, vâng lời, lễ phép, yêu quý ông bà,

    cha mẹ, cô giáo… thật thà, lễ phép. Biết vâng lời người lớn và làm theo những

    10

    lời dạy bảo của người lớn. Trẻ biết giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị… tự nguyện

    làm những việc tốt dù là rất nhỏ cho người thân vui lòng. Không quấy rầy người

    lớn. Lễ phép chào hỏi khi khách đến nhà. Trẻ biết “vâng”, “dạ”, biết cảm ơn

    khi người lớn cho quà hay giúp đỡ, biết xin lỗi khi làm sai, làm phiền người

    khác dù là vô tình. Biết quan tâm đến ông bà, cha mẹ, anh chị khi ốm đau hay

    bận việc (thể hiện ở cử chỉ, việc làm phù hợp với khả năng). Không la hét ồn ào

    khi người lớn ốm đau hay giờ nghỉ ngơi.

    Đối với bạn cùng tuổi: trẻ thân ái, đoàn kết với bạn bè khi chơi hay cùng

    hợp tác trong công việc, nhất là trong trò chơi. Sẵn sàng nhường đồ chơi hay quà

    bánh cho bạn khi bạn cần và thiếu. Giúp đỡ, thông cảm khi bạn gặp khó khăn

    hay có chuyện buồn; không trêu chọc, gây gổ với bạn; biết bênh vực bạn khi bị

    người khác bắt nạt.

    Đối với em bé hơn mình: biết chơi hòa thuận và bày trò cho em bé chơi

    cùng, biết nhường nhịn, dỗ dành em bé…

    Đối với người tàn tật hay những người gặp hoàn cảnh khó khăn: biết yêu

    thương, tôn trọng, thông cảm với những người tàn tật hay những người gặp hoàn

    cảnh khó khăn; không trêu chọc hay nhại tật của họ, biết giúp đỡ họ phù hợp với

    khả năng của bản thân.

    Quan tâm đến người lao động: biết yêu thương, tôn trọng, lễ phép với mọi

    người lao động như bác sĩ, chú công nhân, cô cấp dưỡng…

    Giáo dục tình cảm với trường, lớp, với thầy cô giáo: trẻ yêu ngôi trường

    của mình, thích được đến trường, yêu quý và thoải mái khi tới lớp. Trẻ yêu

    thương, kính trọng, lễ phép, biết ơn và nghe lời thầy cô giáo.

    Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, Bác Hồ: trẻ yêu quý, kính trọng

    Bác Hồ, biết lá cờ Tổ quốc. Biết quan tâm đến những ngày lễ lớn, những sự kiện

    quan trọng, những truyền thuyết lịch sử trong nước hoặc ở địa phương, biết

    những biến đổi tích cực trong đời sống địa phương.

    Giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, có ý thức bảo vệ thiên nhiên:

    đối với thế giới đồ vật (có thái độ nâng niu, giữ gìn, không làm bẩn đồ dùng đồ

    chơi, biết thu dọn, cất đồ dùng đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp sau khi chơi). Đối với

    vật nuôi (trẻ thương yêu, chăm sóc). Đối với cây trồng (trẻ nâng niu, chăm sóc cây

    cối trong vườn, không hái hoa bẻ cành, trẻ yêu thích ngắm cảnh thiên nhiên đẹp…).

    1.2.5. Phương pháp giáo dục đạo đức

    Phương pháp GDĐĐ là những cách thức tác động tới trẻ nhằm hình thành

    ở trẻ những phẩm chất đạo đức theo mục đích giáo dục.

    11

    * Phương pháp dùng tình cảm

    Một trong những đặc điểm nổi bật trong đời sống tâm lí của trẻ nhỏ là sự

    phát triển mãnh liệt của những xúc cảm và chính những xúc cảm này lại có sức

    mạnh chi phối lớn đối với các hoạt động tâm lí của chúng. Trẻ có nhu cầu được

    yêu thương và cũng dễ yêu thương lại mọi người. Chính vì vậy những tác động

    giáo dục đạo đức đến với trẻ trước hết bằng con đường tình cảm. Thông qua tình

    cảm, người lớn có thể gợi lên ở trẻ những điều tốt lành. Đối với trẻ nhỏ, trong

    việc GDĐĐ, dùng mệnh lệnh hay lí lẽ sẽ không có tác dụng tích cực.

    Phương pháp dùng tình cảm trong GDĐĐ cần được hiểu theo hai chiều:

    chiều thứ nhất là bằng tình yêu thương của mình, người lớn hết lòng dạy dỗ bảo

    ban trẻ, chiều ngược lại là tạo ra những tình huống để trẻ có cơ hội đáp lại tình

    cảm của người lớn bằng những hành vi đạo đức tốt đẹp của chúng. Trong việc

    GDĐĐ cho trẻ mầm non, phương pháp dùng tình cảm là phương pháp chủ đạo

    xuyên suốt quá trình hình thành hệ thống thái độ và hành vi ứng xử có đạo đức

    cho trẻ. Vì ngay trong bản thân phương pháp này đã chứa đựng cả một nội dung

    sâu sắc của GDĐĐ đó là lòng nhân ái.

    * Phương pháp dùng nghệ thuật

    Những tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo ra chủ yếu theo quy luật của tình

    cảm. Đặc điểm của các tác phẩm nghệ thuật là giàu hình tượng sinh động, dễ gợi

    cảm, được con người cảm thụ một cách trực tiếp. Vì vậy mà nghệ thuật rất gần

    với tuổi thơ, có thể nói nghệ thuật và tuổi thơ là hai người bạn đồng hành.

    Những bài thơ, câu chuyện, điệu hát bằng sức truyền cảm mãnh liệt của mình đã

    để lại những dấu ấn đẹp đẽ, sâu đậm trong tâm hồn tuổi thơ. Nghệ thuật sáng tạo

    theo quy luật của tình cảm nên nghệ thuật chứa trong đó những nội dung GDĐĐ

    sâu sắc. Phải kể đến những tác phẩm nghệ thuật gần gũi với trẻ thơ như tác

    phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm tạo hình… Tại trường mầm non,

    hàng tuần trẻ luôn được tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật. Đây là điều kiện

    tốt để GDĐĐ cho trẻ. Thông qua việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học,

    thông qua hoạt động tạo hình và hoạt động âm nhạc trẻ lĩnh hội được những tình

    cảm, thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn. Do vậy phương pháp dùng nghệ thuật

    là phương pháp GDĐĐ cho trẻ một cách nhẹ nhàng mà đạt hiệu quả rất cao.

    * Phương pháp dùng trò chơi

    Chơi đối với trẻ, nhất là trẻ mẫu giáo thường gây nhiều hứng thú và say mê

    nhất. Trò chơi tác động mạnh vào đời sống tình cảm của trẻ. Chơi là người bạn

    đồng hành của trẻ thơ, chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không thể phát

    triển được. Khi tham gia vào trò chơi trẻ học được cách nhường nhịn, giúp đỡ hỗ

    12

    trợ hợp tác với nhau một cách tích cực, trẻ được trải nghiệm những thái độ đạo

    đức và tập dượt được những hành vi ứng xử đối với mọi người xung quanh.

    * Phương pháp luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt

    hàng ngày

    Đây là những phương pháp chủ đạo để thực hiện các nhiệm vụ của công tác

    giáo dục đạo đức, nhằm biến những khái niệm đạo đức thành những hành vi,

    thói quen đạo đức. Chỉ trong hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với mọi

    người trẻ mới lĩnh hội được qui tắc hành vi trong cuộc sống, mới tập hành động

    theo các tiêu chuẩn đạo đức, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo, thói quen đạo đức,

    trên cơ sở đó trẻ tích lũy được những kinh nghiệm thực tế phong phú cho bản

    thân, nhờ vậy mà có những thái độ, những hành vi đúng đắn trong cuộc sống

    hàng ngày như lễ phép, tôn trọng người lớn, đoàn kết với bạn bè, nhường nhịn,

    giúp đỡ bạn bè, em nhỏ, giữ gìn đồ dùng đồ chơi…

    * Phương pháp nêu gương, giải thích

    Phương pháp nêu gương và giải thích rất thường xuyên được sử dụng trong

    việc giáo dục đạo đức cho trẻ. Trong đó, giải thích là phương pháp giáo viên

    dùng lời nói giúp trẻ hiểu được ý nghĩa hoặc lý do của một hành vi đạo đức, qui

    tắc đạo đức, phân biệt được điều tốt, điều xấu nhằm hướng trẻ vào thực hiện một

    cách tự giác những yêu cầu đạo đức. Còn nêu gương là dùng những tấm gương

    tốt, điển hình về những hành vi, phẩm chất đạo đức để giáo dục trẻ noi theo.

    * Phương pháp dùng khen, chê đúng lúc, đúng mực

    Trong việc giáo dục đạo đức, người lớn cần biết khen chê đúng lúc và đúng

    mực. Trong đó, khen ngợi là phương pháp tác động đến trẻ nhằm xác nhận, đánh

    giá biểu dương những tiến bộ mà trẻ đã đạt được đồng thời cũng là động lực

    thúc đẩy và khích lệ trẻ cố gắng nhiều hơn nữa. Ngược lại, chê trách là một hình

    thức đánh giá hành vi giúp trẻ tránh được những hành động xấu. Dùng phương

    pháp chê trách nhằm gây cho trẻ phạm sai lầm một cảm xúc hối hận, từ đó giúp

    trẻ ngăn ngừa được những hành động xấu.

    * Phương pháp thống nhất tác động giáo dục

    Trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ, khi mà mọi nét tính cách đang ở

    thời điểm ban đầu của sự hình thành nhân cách thì những tác động cần tập trung

    về một hướng. Những tác động không chỉ thống nhất trong trường mầm non mà

    phải thống nhất tư tưởng và hành động giáo dục giữa trường mầm non với gia

    đình, giữa cô giáo với cha mẹ trẻ. Đây là một đảm bảo bằng vàng cho việc hun

    13

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5 Tuổi
  • Đề Tài Một Vài Biện Pháp Quản Lý Công Tác Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Từ Đề Tài Nckh Giải Nhất Quốc Gia
  • Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • 1.Thước đo giá trị

    Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 5 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    2.Phương tiện lưu thông

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    3.Phương tiện cất trữ

    Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    4.Phương tiện thanh toán

    Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

    6.Tiền tệ thế giới

    Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Tác Hại Của Whey Protein
  • Một Số Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Một Số Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững Đối Với Các Tỉnh Miền Trung
  • Cần Giải Pháp Để Người Dân Châu Phi Thoát Cảnh Đói Ăn
  • Một số giải pháp về giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt trong hoạt động xã hội của con người, thực hiện chức năng hết sức quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức nảy sinh từ nhu cầu của xã hội; đạo đức bao gồm các tri thức về khái niệm, các chuẩn mực và phẩm chất đạo đức; với tư cách là một mặt hoạt động xã hội, đạo đức bao gồm các hành vi đạo đức; với tư cách là một hình thái quan hệ xã hội, đạo đức bao gồm những quan hệ đạo đức. Đạo đức của học sinh vừa mang ý thức hệ xã hội, vừa phải phù hợp với các qui định và chuẩn mực của xã hội; đồng thời phải phù hợp với những qui định của nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay. Do đó trong hoạt động giáo dục đạo đức học sinh không thể xem nhẹ và tách rời giữa giáo dục nhà trường với gia đình và xã hội. Nếu làm tốt, làm đúng mọi qui trình giáo dục đạo đức phù hợp với qui luật nhận thức sẽ giúp cho học sinh ý thức và điều chỉnh hành vi của mình, điều chỉnh các mối quan hệ; tất cả các yếu tố sẽ góp phần hình thành nhân cách của học sinh. Đối với học sinh THPT ở độ tuổi mà tâm sinh lý lứa tuổi phát triển mạnh, các em có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu tìm hiểu, thích đua đòi ăn chơi, thích khẳng định mình là người lớn . ; trong khi đó các kiến thức về hiểu biết xã hội, hiểu biết về gia đình, hiểu biết về pháp luật còn rất hạn chế, thậm chí có em còn mơ hồ; do đó các em chưa có trách nhiệm với hành vi của mình, nên dễ dẫn đến phạm tội, vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nội quy nhà trường. Trường THPT Đông Hà, đóng ở trung tâm của thành phố tỉnh lỵ; học sinh chủ yếu ở các phường nội thành, vùng ven và một số ở các huyện thị khác chuyển đến; với số lượng và qui mô lớn, hiện nay có 1900 em với 40 lớp. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản vẫn có nhiều khó khăn trong công giáo dục đạo đức học sinh. Qua thực tiễn làm công tác giáo dục chúng tôi đã xác định những thuận lợi và khó khăn như sau: ­ Thuận lợi: – Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của lãnh đạo Đảng, Chính quyền, các ban ngành đoàn thể các cấp trên địa bàn và Sở GD-ĐT Quảng Trị. – Tập thể sư phạm nhà trường đều có ý thức và tinh thần trách nhiệm đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh; rất nhiều thầy cô giáo luôn luôn trăn trở, tìm mọi biện pháp để giáo dục học sinh tiến bộ vươn lên. – Truyền thống và bề dày kinh nghiệm, thành tích của nhà trường trong những năm qua về công tác giáo dục đạo đức học sinh. – Hội cha mẹ học rất nhiệt tình và thường xuyên phối hợp, chăm lo đến các hoạt động của nhà trường, nhất là công tác giáo dục đạo đức học sinh. – Nhiều học sinh được giáo dục tốt ở gia đình và ở các trường THCS khác; rất nhiều em có ý thức, tư cách đạo đức tốt làm hạt nhân tốt ở các tập thể học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Vấn Đề Gia Tăng Dân Số
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Dân Số?
  • Vấn Đề Việc Làm Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Ninh Thuận Đào Tạo Nghề Cho Lao Động Gắn Với Nhu Cầu Thực Tiễn
  • Nâng Cao Hiệu Quả Đào Tạo Nghề, Giải Quyết Việc Làm
  • Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt Đông Hà

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Hữu Ích Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Copy Of Giai Phap Huu Ich Gddd Hs 2010 2011 Doc
  • Luận Văn Một Số Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt
  • Làm Sao Thúc Đẩy Xã Hội Hóa Giáo Dục?
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Giáo Dục Hưng Yên
  • Bùng Nổ Dân Số Và Những Thách Thức Baitrinhdien Pptx
  • Một số giải pháp về giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT

    Một số giải pháp về giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT

    Đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt trong hoạt động xã hội của con người, thực hiện chức năng hết sức quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức nảy sinh từ nhu cầu của xã hội; đạo đức bao gồm các tri thức về khái niệm, các chuẩn mực và phẩm chất đạo đức; với tư cách là một mặt hoạt động xã hội, đạo đức bao gồm các hành vi đạo đức; với tư cách là một hình thái quan hệ xã hội, đạo đức bao gồm những quan hệ đạo đức. Đạo đức của học sinh vừa mang ý thức hệ xã hội, vừa phải phù hợp với các qui định và chuẩn mực của xã hội; đồng thời phải phù hợp với những qui định của nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay. Do đó trong hoạt động giáo dục đạo đức học sinh không thể xem nhẹ và tách rời giữa giáo dục nhà trường với gia đình và xã hội. Nếu làm tốt, làm đúng mọi qui trình giáo dục đạo đức phù hợp với qui luật nhận thức sẽ giúp cho học sinh ý thức và điều chỉnh hành vi của mình, điều chỉnh các mối quan hệ; tất cả các yếu tố sẽ góp phần hình thành nhân cách của học sinh.

    Đối với học sinh THPT ở độ tuổi mà tâm sinh lý lứa tuổi phát triển mạnh, các em có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu tìm hiểu, thích đua đòi ăn chơi, thích khẳng định mình là người lớn… ; trong khi đó các kiến thức về hiểu biết xã hội, hiểu biết về gia đình, hiểu biết về pháp luật còn rất hạn chế, thậm chí có em còn mơ hồ; do đó các em chưa có trách nhiệm với hành vi của mình, nên dễ dẫn đến phạm tội, vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nội quy nhà trường.

    Trường THPT Đông Hà, đóng ở trung tâm của thành phố tỉnh lỵ; học sinh chủ yếu ở các phường nội thành, vùng ven và một số ở các huyện thị khác chuyển đến; với số lượng và qui mô lớn, hiện nay có 1900 em với 40 lớp. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản vẫn có nhiều khó khăn trong công giáo dục đạo đức học sinh. Qua thực tiễn làm công tác giáo dục chúng tôi đã xác định những thuận lợi và khó khăn như sau:

    ­ Thuận lợi:

    – Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của lãnh đạo Đảng, Chính quyền, các ban ngành đoàn thể các cấp trên địa bàn và Sở GD-ĐT Quảng Trị.

    – Tập thể sư phạm nhà trường đều có ý thức và tinh thần trách nhiệm đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh; rất nhiều thầy cô giáo luôn luôn trăn trở, tìm mọi biện pháp để giáo dục học sinh tiến bộ vươn lên.

    – Truyền thống và bề dày kinh nghiệm, thành tích của nhà trường trong những năm qua về công tác giáo dục đạo đức học sinh.

    – Hội cha mẹ học rất nhiệt tình và thường xuyên phối hợp, chăm lo đến các hoạt động của nhà trường, nhất là công tác giáo dục đạo đức học sinh.

    – Nhiều học sinh được giáo dục tốt ở gia đình và ở các trường THCS khác; rất nhiều em có ý thức, tư cách đạo đức tốt làm hạt nhân tốt ở các tập thể học sinh.

    ­ Khó khăn:

    – Do đặc thù học sinh ở thành phố tỉnh lỵ, nên ít nhiều cũng chịu tác động của các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn xã hội trong nền kinh tế thị trường của một đô thị.

    – Một số phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đến giáo dục con em, còn nuông chiều phó mặc cho nhà trường; thậm chí có phụ huynh còn bất lực trước con cái. Một số phụ huynh chưa có phương pháp giáo dục con cái theo đúng khoa học giáo dục, nặng về bạo lực, chửi bới con cái.

    -Một số ít học sinh còn có nhận thức ỷ lại vào bố mẹ(…), nên dễ dẫn đến vi phạm nội quy của nhà trường và các qui định của xã hội.

    – Trong quá trình thực hiện, có lúc sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các tổ chức, cá nhân trong cũng như ngoài nhà trường là trở ngại hạn chế chất lượng giáo dục đạo đức học sinh.

    Về thực trạng đạo đức học sinh ở trường THPT Đông Hà hiện nay có nhiều điểm tốt, tích cực, đồng thời cũng có một số hạn chế. Xét về mặt tốt, chúng tôi đánh giá: Phần lớn học sinh trường THPT Đông Hà đều ý thức rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình phải học tập rèn luyện trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội và được thể hiện qua các hoạt động: kính trọng và vâng lời thầy cô giáo, ông bà cha mẹ, người lớn tuổi; chăm sóc giúp đở các em nhỏ. Các em đều có ý thức chấp hành nội qui của nhà trường và được chuyễn biến từ nhận thức thành hành động, thông qua phong trào thi đua của các tập thể và cá nhân do Nhà trường và Đoàn trường phát động. Đại đa số học sinh đều có ý thức tốt về quan hệ bạn bè, có tinh thần giúp đỡ bạn , có lòng nhân ái, xây dựng được quan hệ tình bạn trong sáng lành mạnh.

    Một số lớp có tinh thần tự quản, có ý thức xây dựng tập thể lớp chi đoàn, đấu tranh phê bình các hiện tượng sai trái, góp phần đưa tập thể trở thành lớp tiên tiến. Tỉ lệ học sinh xếp loại về đạo đức trung bình trong các năm gần đây:

    Tốt: 74%, Khá: 21%, Trung bình: 4,5%, Yếu: 0,5%

    Bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần sớm khắc phục: Một bộ phận nhỏ học sinh chưa có ý thức phấn đấu rèn luyện, nên vi phạm nội qui nhà trường; có học sinh vi phạm một vài lần, có học sinh vi phạm có hệ thống. Vi phạm nội quy với các lỗi thường gặp: đánh nhau, vô lễ với thầy cô giáo, hút thuốc, uống rượu, bia; xin đểu tiền bạn, nói tục chửi thề, trộm cắp tài sản, bỏ học, trốn giờ, bỏ nhà đi lang thang, vi phạm luật giao thông, và một số vi phạm khác…. Một số học sinh vi phạm khuyết điểm có khi bao che cho nhau, thiếu thành khẩn. Số lượng học sinh chậm tiến về đạo đức năm nào cũng có và bắt buộc phải rèn luyện lại trong hè; số lượng có giảm trong những năm trở lại đây.

    Từ thực trạng trên, theo chúng tôi vấn đề đạo đức học sinh là vấn đề đáng quan tâm đối với các nhà quản lý xã hội, các cơ quan chức năng và các bậc phụ huynh cũng như những người làm công tác giáo dục. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức ở học sinh nói chung và ở trường THPT Đông hà nói riêng, theo chúng tôi cần tập trung vào các giải pháp sau:

    (1)- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua giữa các tập thể và cá nhân nhằm tạo sự chuyễn biến sâu rộng cả về nhận thức và hành động mới góp phần hạn chế và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực ở học sinh. Ban nền nếp phải làm tốt công tác xếp loại và đánh giá thi đua các lớp hành tuần, hàng tháng. Công tác thi đua phải chính xác, công tâm, kích thích được phong trào. Vừa đánh giá, vừa thể nghiệm và dần hoàn chỉnh các tiêu chí thi đua.

    (2)- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tác hại của các vi phạm, các tệ nạn; phổ biến tuyên truyền pháp luật (luật giáo dục, luật giao thông đường bộ, …); tổ chức học tập, quán triệt cho học sinh về nội quy của nhà trường vào đầu năm học, vào giờ chào cờ đầu tuần và giờ sinh hoạt lớp.

    (3)- Tăng cường vai trò của Đoàn trường trong hệ thống tổ chức của mình để giáo dục đoàn viên thanh niên. Đoàn trường phải đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hoá học đường; cần có kiểm tra tổng kết đánh giá cụ thể.

    (4)- Tăng cường công tác kiểm tra của Ban nền nếp để phát hiện vụ việc và xử lý kịp thời; nếu buông lỏng kiểm tra, không cập nhật được tình hình, không đánh giá đúng đối tượng thì vô tình dung túng cho học sinh vi phạm.

    (5)- Tăng cường công tác tự quản của các tập thể lớp, chi đoàn thông qua vai trò có vấn của giáo viên chủ nhiệm. Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm không phải lúc nào cũng theo sát từng học sinh mà phải thông qua mạng lưới cộng tác viên để nắm tình hình. Chỉ thông qua tập thể và giáo dục bằng tập thể, giáo dục bằng dư luận, giáo dục cảm hoá bằng tình bạn sẻ có tác dụng tích cực giúp học sinh điều chỉnh hành vi của mình.

    (6)- Đề cao vai trò trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm; bởi vì giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt nhà trường chịu trách nhiệm về toàn bộ các mặt hoạt động của lớp; chỉ có GVCN là cầu nối tin cậy nhất với nhà trường và phụ huynh. Vì vậy GVCN vừa đề cao trách nhiệm, vừa có tình thương, bao dung độ lượng và nghiêm minh, công bằng; vừa có tính chủ động sáng tạo để giáo dục học sinh nhất là đối tượng chậm tiến. GVCN phải có kế hoạch giáo dục học sinh, hàng tuần, hàng tháng phải có nhận xét, đánh giá xếp loại cụ thể về từng mặt cho từng học sinh, chỉ cho mỗi HS thấy được từng mặt mạnh mặt yếu và có khen chê kịp thời; không nên có định kiến hẹp hòi với học học sinh; nếu định kiến hẹp hòi dể làm cho các em mất niềm tin, bi quan, chán nản. Bên cạnh đó giữa GVCN và phụ huynh phải có mối quan hệ mật thiết, thường xuyên thông tin về tình hình học tập rèn luyện của con em để bàn biện pháp phối hợp giáo dục.

    (7)- Tăng cường các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Văn nghệ, TDTT, ngoại khoá, các câu lạc bộ đố vui để học, sẽ cuốn hút nhiều học sinh tham gia; bởi vì lứa tuổi của các em rất hiếu động, thích hoạt động, thích giao tiếp, giao lưu; nếu chúng ta không tổ chức các hoạt động cho học sinh thì các em sẻ tìm đến nơi chốn khác để vui chơi và dể bị các phần tử xấu lôi kéo vào con đường hư hỏng, phạm tội. Thông qua các hoạt động này sẻ giúp cho học sinh nâng cao nhận thức, lớn khôn thêm cả thể xác lẫn tâm hồn để vững tin bước vào đời. Trong hoạt động này cần lưu ý kết hợp hài hoà giữa: ” Học mà chơi, Chơi mà học ” theo đúng định hướng giáo dục.

    (8)- Cần tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường- gia đình- xã hội; bởi vì học sinh thực tế chỉ đựợc giáo dục ở trường nhiều lắm từ 4-5 giờ/ ngày, thời gian còn lại phần lớn ở gia đình và xã hội. Muốn làm tốt, có hiệu quả phải có sự phối hợp đồng bộ, thống nhất về phương pháp tác động; thường xuyên cặp nhật thông tin nhiều chiều để biết về tình hình học sinh. Mỗi phụ huynh luôn luôn đặt niềm tin vào con em, nhưng cũng không nên đánh giá quá cao về tình hình các mặt của học sinh mà dễ dẫn đến ngộ nhận, chủ quan, thiếu sự phối hợp. Thực tế có phụ huynh khi được nhà trường mời đến cung cấp thông tin mới biết được con mình không ngoan, học không giỏi như lâu nay vẫn tưởng. Phụ huynh phải thống nhất với nhà trường về các biện pháp giáo dục. Nhà trường và các thầy cô giáo áp dụng các biện pháp giáo dục với mục tiêu tất cả đều vì sự tiến bộ của con em, vì tình thương và trách nhiệm.

    Các cơ quan chức năng như Công an thành phố Đông Hà và Công an các phường trên địa bàn trong những năm vừa qua đã cộng tác phối hợp với nhà trường làm tốt công tác giáo dục học sinh: điều tra, cung cấp thông tin, thông báo tình hình học sinh vi phạm, quản lý giáo dục học sinh cá biệt; nên đã góp phần ngăn chặn và làm giảm các vụ việc xảy ra ở học sinh. Trong thời gian tới nhà trường mong muốn các cơ quan chức năng và cộng đồng xã hội tiếp tục quan tâm giúp đỡ nhà trường nhiều hơn nữa để góp phần làm tốt công tác giáo dục đạo đức học sinh.

    Ban đại diện Hội cha mẹ học sinh trường và các Chi hội cha mẹ học sinh lớp, trong những năm qua đã làm tốt công tác phối hợp giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Hội cha mẹ học sinh vừa là chủ thể tiến hành giáo dục con em ở gia đình đồng thời cũng phải chịu một phần trách nhiệm về quá trình giáo dục ở nhà trường. Ông bà, cha mẹ phải mẫu mực, làm gương cho con cái noi theo. Phụ huynh phải luôn luôn quan tâm theo dõi thường xuyên con em mình, không nên phó mặc cho nhà trường. Cần phải phê phán quan niệm của một số ít phụ huynh khoán trắng việc giáo dục đạo đức học sinh cho nhà trường. Xã hội hoá công tác giáo dục không thể hiểu phiến diện ở mặt đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, tiền bạc mà phải thực sự tham gia vào quá trình giáo dục con em, nhất là đối tượng học sinh chậm tiến.

    (9)- Việc xử lý kỷ luật học sinh là việc bất đắc dĩ, trong chúng ta không ai muốn; nhưng vì kỷ cương nghiêm minh của nhà trường nên phải thi hành kỷ luật học sinh; việc thi hành kỷ luật cũng là cần thiết để vừa xử lý học sinh vi phạm, vừa răn đe nhắc nhở những em khác, vừa phòng ngừa các biểu hịên xấu có thể xảy ra. Bên cạnh đó cần có sự khen thưởng động viên những tập thể và các nhân tiêu tiểu về các mặt; đồng thời cũng biểu dương những học sinh vi phạm có tiến bộ và xét cho ra khỏi danh sách học sinh chậm tiến. Nếu tập thể lớp, chi đoàn, thầy cô giáo chủ nhiệm và phụ huynh biết động viên khích lệ thì nhiều em chậm tiến sẻ cố gắng vươn lên. Công tác này ở cấp độ lớp nên làm thường xuyên hàng tuần, hàng tháng.

    Đông Hà, ngày 24 tháng 12 năm 2009

    Th.s Hoàng Đức Hùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Về Giáo Dục
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Để Tài: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Truyền Thống:…
  • Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Truyền Thống
  • Giáo Dục Truyền Thống Cách Mạng Cho Thế Hệ Trẻ
  • Giáo Dục Truyền Thống Cho Học Sinh: Nền Tảng Vào Đời
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?
  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Tiền là thứ dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng). Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.

    Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.

    Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học

    Định nghĩa

    Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ tương rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết. Từ đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế thừ các hoạt động thương mại. Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Trong kinh tế học, có một số khái niệm về tiền.

    * Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại.

    * Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dẽ dàng chuyển thành tiền mặt.

    * Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái phiếu, kỳ phiéu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Tác Hại Của Whey Protein
  • Phân Biệt Whey Protein Concentrate, Isolate Và Hydolyzed
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100