Top 12 # Xem Nhiều Nhất Ví Dụ Về Chức Năng Của Dư Luận Xã Hội / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Về Bản Chất Của Dư Luận Xã Hội / 2023

Dư luận xã hội (DLXH) là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội. Bản chất ý kiến của con người được nghiên cứu từ thời cổ đại. “Quan điểm triết học của Parmenid, Empedocl, Democrit đã đối lập khái niệm “ý kiến” và “tri thức”. Các học giả này coi ý kiến là tri thức giả, là cái gì đó không rõ ràng, không bền vững, đối lập với “sự thật hợp lý”. Nhưng ngay sau Platon và Aristot, một quan điểm khác được đề xuất: ý kiến là cái gì đó ở giữa tri thức và niềm tin. Nó dường như là khâu liên kết giữa cảm xúc thực và chân lý” 1.

Cuộc đấu tranh của hai khuynh hướng này vẫn tiếp tục ngay cả khi trong lĩnh vực nghiên cứu triết học có hiện tượng được gọi là DLXH. Trong quan điểm của các đại diện triết học cổ điển Đức, chẳng hạn, ở công trình Triết học pháp quyền, Hêghen đã đưa ra một quan niệm tương đối mở rộng của DLXH bao gồm định nghĩa, con đường hình thành và các đặc điểm của nó.

Hêghen xem xét DLXH trong mối tương quan với việc phân tích thể chế nhà nước, nơi ông tách bạch lập pháp và hành pháp. Vai trò cơ bản của yếu tố này là ở chỗ, trong đó, ý thức cộng đồng tồn tại như một tổng thể kinh nghiệm các quan điểm và tư tưởng của nhiều người. Tổng thể này ở dạng “ý nghĩ lành mạnh của con người” gắn với sự phản ánh “tình trạng chung của công việc”. Hêghen tách bạch cái hợp nhất có trong tổng thể các ý kiến cá nhân về công việc chung, nói cách khác, về các vấn đề gây nên mối quan tâm chung. Tư tưởng này được thể hiện rõ hơn trong định nghĩa: Tự do chủ quan, hình thức là ở chỗ những cá nhân có và thể hiện ý kiến riêng của mình, suy luận về các công việc chung và đưa ra lời khuyên về các công việc đó, thể hiện trong cái tập hợp được gọi là DLXH.

Cùng với việc đề xuất cơ sở hợp lý của DLXH và sức mạnh của nó, Hêghen lại đối lập ý kiến của dân chúng với thể chế nhà nước, ở đó, người thể hiện quyền lực cao nhất là nhà vua. Hêghen cũng chỉ ra rằng trong DLXH “chân lý và những sai lầm vô tận liên kết với nhau”, nó không phải là “chuẩn mực cho cái mà ta cần trên thực tế”, “quần chúng không thể hiểu được” phương pháp hiểu biết, suy luận các hành vi của mình…” 2.

Hêghen đã giải thích sự mâu thuẫn hiển nhiên trong suy luận của mình. Theo ông, bản chất của DLXH không thể được nhận thức từ sự thể hiện hiện thực của nó. Trong DLXH có cả cái thật và cái giả, nhưng “tìm ra được chân lý trong nó là công việc của một người vĩ đại”. Vì “thực thể chỉ tồn tại từ mình”, và ông đi đến kết luận như sau: DLXH không có trong mình cả quy mô suy tàn lẫn khả năng nâng khía cạnh thực thể từ bên trong mình lên tầm cao của tri thức nhất định… độc lập với nó là điều kiện hình thức đầu tiên để hoàn thành một cái gì đó vĩ đại và đúng đắn cả trong thực tế lẫn trong khoa học. Tuy tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong triết học bởi những đóng góp về phép biện chứng, song Hêghen không vượt qua được tư tưởng bảo thủ bám chặt vào nền quân chủ hùng mạnh.

Những tư tưởng của Hêghen gắn với việc công nhận sức mạnh của trí tuệ tập thể đã được tiếp tục nghiên cứu rộng rãi trong các công trình của những nhà luật học, trước tiên là ở châu Âu giữa thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, mà đại diện là luật gia người Đức Holcendorff, nhà tội phạm học và xã hội học người Pháp Tard, giáo sư luật đại học người Nga Chvostov. Họ đều công nhận “sức mạnh tinh thần” của DLXH, mặc dù trong nhiều điều, họ không thể giải thích được nguồn gốc của nó.

Bản chất của DLXH không thể được khám phá từ chính nó. Để giải quyết vấn đề tương đối riêng của DLXH cần thiết phải khám phá những quy luật chung của xã hội loài người, của các quy luật nhận thức. Trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăng ghen đã khám phá ra những quy luật này, điều đó cho phép mở đầu những nghiên cứu bản chất của DLXH từ những quan điểm thực chất khoa học.

Cụ thể hóa câu hỏi chủ yếu của triết học ứng dụng trong xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nhận thấy rằng: ý thức xã hội chính là sự phản ánh tồn tại xã hội, Mác và Ăngghen cho rằng: chúng ta nâng từ mặt đất lên bầu trời, nghĩa là chúng ta xuất phát không phải từ những gì người ta nói, tưởng tượng, hình dung,… đối với chúng ta, điểm xuất phát là chính những người đang hoạt động và từ quá trình sống thực của họ, chúng ta rút ra cả sự phát triển những phản ánh tư tưởng của quá trình sống đó. Như vậy, người ta đã xác nhận rằng bất cứ sự xuất hiện nào của ý thức xã hội (bao gồm cả DLXH) là “sự bay hơi theo cách của mình” trong quá trình sống vật chất.

Lời giải này cho câu hỏi chính của triết học, như ta biết có hai mặt: ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và tồn tại xã hội xác định ý thức xã hội. Do đó, DLXH có thể được phân tích về mặt nhận thức luận và cả về mặt xã hội học. Cả hai cách đề cập này đã được các nhà xã hội học sử dụng tích cực khi nghiên cứu DLXH và đã đặt nền móng vững chắc để giải quyết nhiệm vụ phức tạp này. Chẳng hạn, khi nghiên cứu khía cạnh nhận thức luận của DLXH, người ta đã nhấn mạnh ít nhất 3 điểm quan trọng của DLXH: 1) phản ánh thực tế, 2) ” đi vào” mỗi dạng ý thức xã hội, và 3) bao gồm cả nhận thức thông thường lẫn nhận thức lý thuyết. Sự tương tác của các hình thức nhận thức xã hội và DLXH phụ thuộc trực tiếp vào các yếu tố xã hội, vào trình độ phát triển của xã hội. Người ta biết rằng DLXH là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội. Ăngghen, trong tác phẩm Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước đã viết : “Chế độ thị tộc lớn lên từ xã hội không biết đến những mâu thuẫn bên trong và chỉ thích nghi với xã hội đó. Chế độ này không có một phương tiện cưỡng bức nào khác ngoài DLXH”.

DLXH phát triển tương đối độc lập với các hình thức ý thức xã hội. Việc nó “đi vào” mỗi dạng ý thức xã hội mang tính lịch sử cụ thể. Điều đó có nghĩa là việc xâm nhập của DLXH vào các dạng ý thức xã hội khác nhau ở giai đoạn phát triển hiện nay là kết quả tác động cả yếu tố xã hội lẫn yếu tố nhận thức.

Cần phải tính đến phương diện xã hội khi giải quyết vấn đề nhận thức luận về quan hệ giữa cái thực và cái giả trong DLXH. Vấn đề không chỉ ở chỗ trong DLXH cái thực và cái giả xen kẽ nhau, mà cả ở chỗ quan hệ giữa chúng như thế nào? khuynh hướng thay đổi của nó, các yếu tố ảnh hưởng đến nó ra sao? Người ta nhận thấy rằng không nên chỉ giới hạn ở việc đối lập nó với ý thức khoa học (chẳng hạn, trong khoa học có thể có những quan điểm, lý thuyết sai trái,…). Sự phê phán đó còn cần phải bao gồm những giải thích căn nguyên của DLXH trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định vì, những điều kiện xã hội có tác động quyết định lên mức độ tương ứng của sự phản ánh thực tế trong DLXH.

Một vấn đề khác hết sức quan trọng là cần phải giải thích DLXH tác động lên hoạt động thực tiễn của con người như thế nào? bằng cách nào? với những đặc điểm nào?

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, các nhà xã hội học đã coi DLXH chủ yếu như một trạng thái của ý thức và do đó đã phân tích nó trong cấu trúc của ý thức xã hội. Cách tiếp cận ấy tìm được sự phản ánh tương ứng trong những định nghĩa của DLXH ở hàng loạt ấn phẩm của thời kỳ này.

Phân tích DLXH trong khuôn khổ cấu trúc ý thức xã hội dứt khoát dẫn đến chủ yếu là nghiên cứu phương pháp và hình thức phản ánh hiện thực trong các tranh luận tập thể của con người. Rõ ràng là hướng này rất có hiệu quả và cần thiết, nhưng nó vẫn chưa đủ khi xuất hiện vấn đề về tác động thực tế của DLXH lên thực tiễn và về năng lực cải tạo thực tiễn.

Mặc dù các nhà xã hội học coi DLXH không phải là cái gì đó thuần túy tinh thần, mà là một cấu tạo tinh thần – thực tế, người ta vẫn rất ít chú ý đến việc khám phá “khía cạnh thực tế”, khía cạnh này thực ra chỉ được nhắc đến xuất phát từ những quan sát thực nghiệm. Tuy nhiên, người ta biết rằng, DLXH luôn luôn và trước hết gắn với việc con người đánh giá một hiện tượng, một quá trình nào đó. DLXH gắn với việc thể hiện lợi ích của các nhóm xã hội lớn. Như vậy, DLXH gắn với các quan hệ xã hội. Điều này là cơ sở để xem xét DLXH không chỉ trong cấu trúc ý thức xã hội mà cả trong cấu trúc quan hệ xã hội. Và khi đó, bản chất của DLXH có thể định nghĩa như là sự tương tác, mối quan hệ của con người trên cơ sở sự thống nhất hoặc sự khác biệt trong đánh giá của họ về những hiện tượng cấp bách của thực tiễn, có ý nghĩa xã hội.

Rõ ràng, sự chuyển DLXH từ trạng thái phản ánh đến trạng thái cải tạo thực tế (từ lời nói đến việc làm) gắn liền với quá trình khách thể hóa nó trong hệ thống các quan hệ xã hội, có cơ sở chuẩn mực vào thời điểm đánh giá.

DLXH không phải là một kiểu hoặc một loại quan hệ xã hội đặc biệt, mà chỉ là một yếu tố, một thời điểm, một mặt của các quan hệ đó. DLXH xuất hiện như một phản ánh quá trình sống vật chất và thông qua ý thức con người và tác động vào hệ thống các quan hệ thượng tầng, tư tưởng trong những điều kiện nhất định. Nội dung của DLXH như một yếu tố, một mặt của các quan hệ thượng tầng, tư tưởng, là sự tác động của con người với mục đích tạo ra sự nhất trí trong đánh giá một hiện tượng, một quá trình xã hội cấp bách và cả thái độ tương ứng với sự đánh giá đó trong hoàn cảnh xã hội cụ thể.

Cơ sở của việc xuất hiện DLXH như một mặt của các quan hệ xã hội trước hết xuất phát từ nhu cầu thể hiện lợi ích xã hội. Trong xã hội học, người ta chia ra những lợi ích gần nhất, lợi ích từng phần, tạm thời và những lợi ích cơ bản, lâu dài. DLXH gắn với cả loại lợi ích thứ nhất lẫn thứ hai. Tuy nhiên, mối liên hệ với loại lợi ích thứ nhất rõ ràng hơn, nhìn thấy được, cảm thấy được. Động thái của DLXH thường xuất hiện trên cơ sở hiện thực hóa những lợi ích cấp bách nhất.

DLXH phản ánh và thể hiện các quan hệ xã hội. Quá trình này có thể chia thành: 1) không hình thức và 2) hình thức. Ở phương diện không hình thức có thể là “những quy tắc không được viết ra”, nhưng phương tiện thứ hai là những cấu trúc hình thức chính thức (cơ quan, tổ chức,…) thể hiện DLXH ở mức độ chính thức.

Thực tế cho thấy DLXH có tiềm năng nhận thức to lớn, nghĩa là có khả năng phản ánh trung thực bản chất của hiện tượng xung quanh. Kinh nghiệm đã được nhiều lần kiểm chứng của quần chúng, thể hiện ở ý kiến tập thể của họ luôn luôn cố định chính xác hiện tượng hay quá trình này hoặc hiện tượng hay quá trình khác của thực tiễn. Chính vì vậy, nghiên cứu DLXH, trong ý nghĩa nhất định, là nghiên cứu hiện thực tồn tại.

Trên cơ sở phản ánh nhận thức, DLXH còn cho thấy khả năng đánh giá thực tế.

Nhờ có DLXH mà một trong những chức năng của ý thức xã hội trở thành hiện thực, cụ thể là chức năng tiền đề, chức năng này xác định cách đánh giá tình hình và xác định sự lựa chọn hành vi của con người. Sự đánh giá trong DLXH không phải là trừu tượng, nó phản ánh quan điểm của các nhóm xã hội khác nhau 3.

Như vậy, tính đặc thù của DLXH là ở chỗ nó không chỉ là sự tồn tại có ý thức, mà còn là sự tồn tại có đánh giá. Dựa trên những lập luận này, có thể xác nhận rằng DLXH là sự thể hiện (trạng thái) của ý thức xã hội trong đó phản ánh trước hết là sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng, các sự kiện đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại. Tính đặc thù của bản chất DLXH thể hiện, như đã nói ở trên, nó không chỉ thuần túy tinh thần mà là một cấu trúc tinh thần – thực tế. Trong DLXH, giống như trong một số hình thức thể hiện của ý thức, có hai mặt của một bản chất, một mặt, DLXH là sự thể hiện ý thức, mặt khác, bản chất xã hội của DLXH thể hiện ở hoạt động thực tế của con người. Điều này phụ thuộc vào đặc trưng của các phương pháp nhận thức (khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và tinh thần – thực tế) để hiểu được thế giới. DLXH rõ ràng là gắn với phương pháp sau cùng.

Hai mặt nói trên trong DLXH được sử dụng trong phân tích thực nghiệm xã hội trên mức độ lời nói và mức độ hành vi. Sự khám phá bản chất DLXH mở ra con đường để nhận thức nội dung của nó. Nội dung này bao gồm tập hợp các yếu tố khác nhau, thường là mâu thuẫn nhau, nói chung là có đặc điểm cảm xúc, hợp lý và ý chí. Cốt lõi trung tâm của DLXH là sự đánh giá xã hội. Sự đánh giá xã hội là sự thể hiện một trong các kiểu quan hệ của chủ thể với khách thể, mối quan hệ thể hiện ở chỗ, chủ thể xác định những tương ứng của khách thể hoặc các tính chất hay các mặt riêng biệt của nó bằng những tiêu chuẩn do chủ thể đặt ra. Sự đánh giá xã hội của các hiện tượng khác nhau có mức độ hợp lý khác nhau. Những sự đánh giá này có thể là tích cực (khuyến khích), tiêu cực (phê phán), trung tính (những đánh giá trong hàng loạt trường hợp có thể là những đánh giá cân bằng). Thông thường, hoạt động đánh giá đi cùng với những cảm xúc (sung sướng, thân thiện, thù địch…). Tuy nhiên, theo thời gian cảm xúc yếu đi và quan hệ với hiện tượng, sự kiện được thể hiện chủ yếu nhờ sự đánh giá lý tính.

Một trong những đặc điểm quan trọng trong sự đánh giá của DLXH là cường độ của nó. Cường độ này cho thấy độ bền vững về sức mạnh của việc thể hiện quan hệ giữa con người với các sự kiện hoặc hiện tượng. Thang cường độ có thể chi tiết khác nhau (phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu), nhưng những nấc giới hạn của nó luôn là đồng tình (hoặc phê phán) hoàn toàn.

Sự đánh giá xã hội thể hiện mối quan hệ ở dạng khuyến khích hay phê phán, ở những mức độ khác nhau đều tạo ra áp lực cho hành động thực tế. Nhà nghiên cứu người Nga Korobeinhicov cho rằng: “Khi có nhu cầu và hoàn cảnh thỏa mãn nhu cầu đó, trong chủ thể xuất hiện một trạng thái đặc thù có thể định nghĩa như sự sẵn sàng, như phương châm thực hiện một hoạt động nào đó để thỏa mãn nhu cầu cấp bách của nó” 4.

DLXH không chỉ là suy luận của con người về các sự kiện, các hiện tượng xã hội tạo nên mối quan tâm chung có tính chất cấp bách, mà còn là một cơ chế lịch sử cụ thể của mối quan hệ giữa suy luận và hành động của con người, là trạng thái “làm việc” của ý thức. Định hướng con người làm họ thể hiện ý kiến của mình trong các hành vi. Bởi vậy, không có định hướng thì không thể xem xét hiện tượng DLXH trong các quá trình tâm lí của nhóm lớn.

Từ những kiểu định hướng khác nhau, DLXH gắn bó chặt chẽ nhất với cái gọi là những định hướng xã hội mà con người thường nhận thức được và là định hướng chung cho cá nhân trong quan hệ với những khách thể xã hội. Các định hướng xã hội xuất hiện trên cơ sở tác động của thực tế xã hội và của những người khác lên con người. Trong sự tương tác đó, những định hướng giá trị của các cá nhân như những thành viên của các nhóm và của xã hội nói chung được phản ánh. Có hai loại giá trị: các giá trị được phê chuẩn và nuôi dưỡng bởi hệ thống phương tiện của các thể chế chính thức và cả các giá trị ở mức độ ý thức thông thường. Trong DLXH, cả hai loại giá trị này cùng tồn tại và tác động lẫn nhau. Những định hướng có giá trị thay đổi dưới tác động của những điều kiện khách quan và những yếu tố chủ quan đều được phản ánh trong trạng thái DLXH.

Ý kiến được hình thành trên cơ sở tri thức về sự vật. Sự hình thành DLXH do vậy, khác với quá trình nhận thức. Bởi vì mục đích của ý kiến không phải là nhận thức toàn diện sự vật, nhận ra chân lý khách quan, mà là sử dụng tri thức có được để hình thành sự đánh giá, để tạo ra quan hệ khuyến khích hay phê phán khách thể của ý kiến. Vì thế, tri thức có trong DLXH khác hẳn về thể tích lẫn mức độ bởi tính đặc thù của hiện tượng DLXH. Việc đưa tri thức vào cấu trúc DLXH gắn với một đặc điểm quan trọng của nó là tính thẩm quyền.

Ở đây có sự tương tác giữa ý kiến và tri thức. Những nghiên cứu thực nghiệm của các nhà xã hội học Mỹ cho thấy trong sự đánh giá luôn có tri thức, nhưng có tri thức không phải lúc nào cũng dẫn đến việc xuất hiện sự đánh giá hay ý kiến. Ngoài những yếu tố của tri thức đúng đắn, trong cấu trúc của DLXH còn có cả khái niệm – hình ảnh khái quát của nhiều ấn tượng cảm xúc, tri thức nhìn thấy được thường vẫn xuất hiện do tưởng tượng. Con người hiện đại gắn kết với mạng lưới các quan hệ rất phức tạp. Sự phát triển của công nghệ điện tử tạo nên hệ thống Internet liên kết toàn cầu cùng với sự ra đời của các phương tiện truyền thông đại chúng đa chức năng, hình thành nên không gian xã hội rất rộng lớn, quá trình này làm cho cơ chế các quan hệ này phong phú và phức tạp hơn. “Việc Internet tiến hóa thành phương tiện truyền thông đại chúng cho phép những người sử dụng nó vượt qua vai trò truyền thống của họ chỉ đơn thuần là người nhận và trở thành người tham gia tích cực trong việc tiếp nhận, lưu trữ và phổ biến tin tức”.

Kinh nghiệm cá nhân của con người rất hạn chế, còn nhu cầu định hướng trong thực tế xã hội đầy biến động lại đòi hỏi hình thành một bức tranh chung của hiện tượng hoặc quá trình này hay hiện tượng hoặc quá trình khác. Chính ở đây, những tri thức cảm nhận trực diện đã có, thường làm đầy những “điểm trắng” trong bức tranh chung được sử dụng nhờ có sự tưởng tượng. Chẳng hạn, các nhà xã hội học đã nhận thấy rằng những người chưa bao giờ đến các nước lớn trên thế giới lại có khái niệm tương đối chính xác về phong cảnh của những nước này. Trong quá trình tưởng tượng đó ngầm chứa cả sức mạnh và cả cái yếu của DLXH, thực tế này gắn với khả năng hình thành DLXH với sự tác động từ những mảnh riêng của thực tế. Vì DLXH là hình thể tinh thần – thực tế nên nó phải có những yếu tố của tinh thần làm tiền đề cho sự xuất hiện hành vi.

Chính những yếu tố ý chí này gắn với mức độ nhất trí giữa các thành viên của cộng đồng xã hội, với ý thức tập hợp những giá trị xã hội được họ lựa chọn. Ăngghen đã viết rằng “Trong từng con người, muốn làm cho anh ta hành động, tất cả mọi động lực gây ra hành động của anh ta đều phải đi qua cái đầu, đều phải biến thành động lực của ý chí…”. Ý chí trong DLXH thể hiện ở việc động viên cá nhân như một đại diện của một nhóm xã hội nhất định đưa ra hành động tương ứng với những “chỉ thị”, “hướng dẫn” của ý kiến. Mệnh lệnh cần thiết để tập trung ý nghĩ và năng lượng của quần chúng vào một hướng thống nhất. Nếu quá trình hình thành ý chí và suy luận trùng lặp thì ý chí vốn rất bền vững sẽ làm cho những suy luận cũng ổn định theo. Ý chí hình thành những suy luận này có thể được lan truyền và trở thành hiện thực.

Cấu phần ý chí thường ít được các nhà nghiên cứu DLXH quan tâm đầy đủ. Tuy vậy, cấu phần này lại có ý nghĩa to lớn đối với cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Nghiên cứu DLXH thực tế là sự thể hiện hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng. Sự thể hiện những đánh giá và hành vi được tuyên truyền không thể có kết quả nếu không có trạng thái ý chí tương ứng của quần chúng.

Lập luận trên cho thấy những điều kiện và những yếu tố nhất định buộc DLXH đứng ở mức độ phản ánh hiện thực (ý chí, lời nói) hoặc làm nó chuyển sang mức độ khác – mức độ tác động lên thực tế và cải tạo nó (đi vào hệ thống các quan hệ xã hội, các thể chế). Như vậy, trong DLXH có thể tách ra những tập hợp các yếu tố, dù ở mức độ này hay mức độ khác, tác động đến tính tích cực của con người, hướng đến việc thể hiện lợi ích xã hội một cách khách quan trong sự đánh giá của DLXH.

Tài liệu tham khảo

Mai Quỳnh Nam (1995), “Dư luận xã hội: mấy vấn đề về lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Xã hội học, Số 1.

Gorskov.M.K (1998), Dư luận xã hội: lịch sử và hiện đại, Nxb. Tri thức, Moscow (tiếng Nga).

Hans L Zetterberg (2003), “Social Science Theories and the Study of Public Opinion”, Paper prepared for WAPOR (World Association of Public Opinion Researchers) annual meeting in Prague, Czech Republic, September 17-19.

Korobeinhikov V.S. (1988), Bản chất và chức năng của dư luận xã hội, Nxb. Khoa học, Moscow (tiếng Nga).

Eds. Wolfgang Donsbach & Michael W. Traugott, The SAGE Handbook of PublicOpinion Research (2008), www.sagepublications.com.

Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từnng Tính Chất? Tác Động Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Ý Thức Pháp Luật? / 2023

Dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội .Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong lịch sử , nó đã trở nên quen thuộc ở mỗi cá nhân, tổ chức ,bao gồm cả quốc gia mà trong cuộc sống hằng ngày, thường phải quan tâm và tính toán đến. Dư luận xã hội biểu thị những mối quan tâm, tình cảm, nguyện vọng, được thể hiện dưới dạng ý kiến phán xét, đánh giá của nhiều người về sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội nào đó xảy ra trong xã hội. Với tư cách là một hiện tượng đặc biệt đã và đang tồn tại trong xã hội thì dư luận xã hội cũng có những tính chất cơ bản riêng làm cho nó được phân biệt với tin đồn .Trong bất kỳ xã hội nào, dư luận xã hội cũng đều có ảnh hưởng mạnh mẽ và quan trọng đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong số đó phải kể tới sự tác động không nhỏ của dư luận xã hội đến ý thức pháp luật. Vì vậy, em xin chọn đề tài : “Phân tích các tính chất cơ bản của dư luận xã hội, cho ví dụ minh họa ở từnng tính chất? Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật?” để có thể tìm hiểu và làm rõ hơn về vấn đề này.

b) Khái niệm tin đồn: Tin đồn chỉ là tin tức về sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật, có thể không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác.

c) Khái niệm ý thức pháp luật: Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật và sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp đối với các hành vi pháp lí thực tiễn. (Gt. Lí luận Nhà nước và Pháp luật -Trường đại học Luật Hà Nội)

Có 5 tính chất cơ bản của dư luận xã hội. Đó là:

Mỗi sự việc, sự kiện, hiện tượng xảy ra trong đời sống đều có sự phản hồi của dư luận xã hội. Thái độ chung của dư luận xã hội đối với các sự việc trên có thể khái quát theo các khuynh hướng nhất định, gồm tán thành, phản đối hay lưỡng lự (Chưa rõ thái độ). Cũng có thể phân chưa dư luận xã hội theo các khuynh hướng như tích cực hoặc tiêu cực; tiến bộ hoặc lạc hậu … Ở mỗi khuynh hướng, thái độ tán thành hoặc phản đối lại được phân chia theo các mức độ như : rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản đối.

Cụ thể như quy định Quy định chó, mèo ‘chính chủ’ đã gây xôn xao dư luận xã hội. Theo quy định của Bộ Nông nghiệp, chủ nhân nuôi chó, mèo sẽ phải đăng ký với UBND xã, phường, các đội chuyên trách bắt giữ chó, mèo thả rông cũng được thành lập.Theo đó, các hộ nuôi chó, mèo sẽ tới đăng ký với UBND xã để được cấp số cho vật nuôi. Chi cục Thú y và Trạm thú y phải có sổ theo dõi số lượng chó nuôi, số hộ nuôi chó ở tỉnh, huyện. Thú y cấp xã, thôn, ấp có trách nhiệm thống kê số lượng chó, mèo và số hộ nuôi chó, mèo để quản lý. Còn UBND các cấp chỉ đạo thành lập các đội chuyên trách bắt giữ chó, mèo thả rông ở các khu đô thị, nơi đông dân cư hoặc chó, mèo nghi bị mắc bệnh dại. Trạm thú y có trách nhiệm nuôi nhốt chó, mèo bị bắt, theo dõi sức khỏe và chờ chủ gia súc đến nhận; sau 3 ngày, nếu không có người tới nhận, chó, mèo sẽ bị tiêu hủy. Điều này đang gây ra những phản ứng trái chiều.

Theo nội dung của quy định trên đưa ra. Một phần người dân đồng tình với quy định này của Bộ Nông nghiệp vì đem lại hiệu quả . Nhiều người tán thành với quy định mới bởi, các hộ nuôi chó, mèo sẽ có sổ riêng để theo dõi, còn chó mèo cũng sẽ có một mã số đeo vào cổ. Quy định này nhằm quản lý chó, mèo nhằm khống chế bệnh dại từ chó, mèo sang người. Vì thực tế rất nhiều chết vì khi bị chó mèo cắm (Giai đoạn 1991 – 2007, trung bình mỗi năm có tới 200 người chết do bệnh dại. Sau một thời gian các ca tử vong giảm, vài năm trở lại đây, bệnh dại đang có chiều hướng quay trở lại. Năm 2011, 110 người chết; số liệu năm 2012 cũng đã ghi nhận 77 ca tử vong.) , đồng thời hàng năm tốm rất nhiều tiền, công sức để tiêm vắc xin cho người (khoảng 500.000 người tiêm vắcxin sau khi súc vật dại hoặc nghi dại cắn (chủ yếu là chó, mèo); Một mặt thì có ý kiến trái chiều phản đối , nhiều người tỏ ra lúng túng và cho rằng quy định mới gây phiền phức và không khả thi. Bởi lẽ, việc đi đăng ký cho chó, mèo là một việc khó khăn , mất thời gian, tốm nhiều công sức, nhiều chi phí lien quan. Mặc khác cũng có nhiều rủi ro, khó khăn khác như nếu một nhà nuôi nhiều chó mèo cũng phải xuống UBND xã để đăng ký thì quá bất tiện, giả sử hôm nay đăng ký, hôm sau chúng lăn ra chết hoặc bị bắt trộm thì người dân lại lên UBND khai tử .Không giống như con người, cấp số chứng minh thư để quản lý, chó, mèo nuôi không cố định. Nhiều nhà nuôi lâu muốn thay chó sẽ bán, làm thịt hoặc cho đi .

Cùng là một sự kiện nhưng theo những đánh giá về mặt khoa học và đánh giá về mặt văn hóa thì đã đưa ra những ý kiến hết sức khác nhau. Ngoài ra sự khác nhau còn được thể hiện cả ở sự phân vùng lãnh thổ. Như người dân Hà Nội thì rất quan tâm, còn người dân tỉnh khác thì không quan tâm lắm.

Ngoài ra, khuynh hướng cũng biểu thị sự thống nhất hay xung đột của dư luận xã hội. Xét theo mức độ tán thành hoặc phản đối được nêu ở trên, nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ U thì biểu thị sự xung đột( như ví dụ trên); còn nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ J thì biểu thị sự thống nhất. Đồ thị trên biểu thị cho sự mâu thuẫn hay sự thống nhất cao trong dư luận xã hội.

Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, các phong tục tập quán, khuôn mẫu ứng xử văn hóa của cộng đồng xã hội và của cả dân tộc. Chẳng hạn như : Nghị định 105/2012 quy định linh cữu người từ trần quàn tại nhà tang lễ hoặc tại gia đình không để ô cửa có lắp kính trên nắp quan tài vấp phải nhiều phản ứng từ dư luận. Rất nhiều người quan niệm rằng việc để ô cửa có lắp kính trên nắp quan tài là để tạo điều kiện cho những người đến viếng được “nhìn mặt lần cuối” người đã khuất. Ở đây có yếu tố tâm linh cũng như yếu tố tình cảm thiêng liêng và đáng trân trọng. Còn những lý do như để đảm bảo vệ sinh, ngừa khả năng kính vỡ rơi vào mặt người quá cố hoàn toàn không thuyết phục và điều kiện hiện nay hoàn toàn có thể cho phép khắc phục. Ví dụ khác như hiện nay đang tồn tại một bộ phận sinh viên đang chấp nhận việc sống chung trước hôn nhân – “sống thử”. Đó là việc đi trái với chuẩn mực xã hội của người Á Đông, ảnh hướng đến văn hoá của người Việt.

Tuy nhiên, lợi ích mới chỉ là điều kiện cần để thúc đẩy việc tạo ra dư luận xã hội; điều kiện đủ ở đây là sự nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích của mình và mối quan hệ chung với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra.

Dư luận xã hội là sản phẩm của tư duy phán xét, là sự thể hiện quan điểm, thái độ của các cá nhân trước các hiện tượng pháp lý. Dư luận xã hội lan truyền càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung các phán xét, đánh giá, càng làm cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mang tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật.Tuy nhiên cơ sở của bất kỳ hành vi tập thể nào cũng là hiệu ứng phản xạ quay vòng , trong đó khởi điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên chuỗi các kích thích của cá nhân khác, nhóm xã hội khác. Để duy trì được chuỗi kích thích này luôn cần có các nhân tố tác động lên cơ chế hoạt động tâm lí của cá nhân và nhóm xã hội. Đó là các thông tin bằng hình ảnh, âm thanh, clip video.. Đặc biệt, ngày nay khi công nghệ viễn thông phát triển mạnh thì bất cứ thông tin đặc biệt gì cũng được phát tán một cách nhanh chóng. Vì vậy, khả năng lan truyền của dư luận xã hội cũng tăng lên rất nhiều. Đặc biệt đối với các sự kiện lớn cảu đất nước như tình trạng chiến tranh, các cuộc bầu cử; hay các sự kiện vượt ra ngoài hoạt động sóng và làm việc bình thường con người như các vụ tội phạm nguy hiểm, nạn hạn hán, lũ lụt … Có thể lấy một ví dụ như Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực quần đảo Hoàng Sa vào ngày 1 tháng 5 năm 2014, vi phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ,dẫn tới việc nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố phản đối.Với luận điểm Trung Quốc Cho rằng hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 là hoạt động dầu khí bình thường của một doanh nghiệp Trung Quốc ở khu vực phía nam đảo Trung Kiến của Tây Sa (đảo Tri Tôn của Hoàng Sa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc cho rằng hành động của Việt Nam là quấy nhiễu, khiến “Trung Quốc buộc phải tăng cường lực lượng bảo vệ an ninh tại hiện trường, ngăn chặn hành động quấy nhiễu của Việt Nam, để duy trì trật tự sản xuất và tác nghiệp trên biển cũng như đảm bảo an toàn hàng hải”. Luận điểm Việt Nam :Phía Việt Nam đã hoàn toàn bác bỏ và không chấp nhận quan điểm này của phía Trung Quốc. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh việc Trung Quốc đơn phương đưa giàn khoan Hải Dương 981 và một lượng lớn tàu các loại, kể cả tàu quân sự, vào hoạt động ở khu vực này là bất hợp pháp, đi ngược lại luật pháp và thông lệ quốc tế, vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Sự kiện này đã lan truyền trên phạm vi thế giới. Nhận được sự phản ứng từ một số quốc gia và Liên minh châu Âu bày tỏ quan ngại trước hành động đơn phương gây hấn của Trung Quốc khiến căng thẳng gia tăng trong khu vực. Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là vi phạm Luật biển quốc năm 1982 ( Viết tắt là Doc), đó là chuẩn mực chung của các nước , tất cả ai cũng phải có nghĩa vụ thực hiện và tuân theo.

Dư luận xã hội có tính bền tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi. Có những dư luận xã hội chủ qua một đêm là thay đổi nhưng cũng có những dư luận xã hội qua hàng thập niên vẫn không thay đổi. Tính bền vững đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối ới những sự kiện, hiện tượng hay các quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững. Chẳng hạn như sự đánh giá của dư luận xã hội đối với công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong kháng chiến chống Pháp và Chống Mỹ và đối với quân đội ta Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một ảnh cả của quân đội nhân dân Việt Nam ; Đối với thế giới Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong 21 vị danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ qua, từ thời Alexandre Đại đế đến rồi đến thời cận hiện đại với , Zhukov…, những người đã có chiến công tạo nên bước ngoặt của nghệ thuật chiến tranh. Về những vấn đề về văn hóa, quan điểm thẩm mĩ hay đạo đức xã hội nhưng cũng có những dư luận thay đổi một cách nhanh chóng như dư luận về các sự kiện thường nhật hàng ngày. Do đặc tính đó, tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện:

Thứ nhất – biến đổi theo không gian và môi trường văn hoá Với cùng sự việc, sự kiến xảy ra, dư luận xã hội của các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét, đánh giá khác nhau. Chẳng hạn như qua những ghi nhận của nhóm phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ, rất nhiều người dân thể hiện sự đồng tình với chủ trương thay đổi giờ học, giờ làm của bộ trưởng bộ Giao thông vận tải vì sau một tháng thực hiện thì phần lớn các điểm “đèn” thường xuyên ùn tắc trên tuyến đường Hà Nội, sau đổi giờ mật độ phương tiện đã giảm đáng kể vào giờ cao điểm. Bên cạnh đó, vẫn có ý kiến phản đối khi đây không thể coi là giải pháp tối ưu để giải quyết việc ùn tắc bởi quanh đó còn tác động đến đời sống của người dân. Vì vậy, sau một tháng thực hiện chủ tịch UBND thành phố Hà Nội vẫn để cho các trường đại học, các trường THPT … tự chủ trong việc đổi giờ làm của trường mình.

Ví dụ khác, Như hiện tượng tảo hôn, chế độ đa thê là hiện tượng bình thường được chấp nhận tại các nước thuộc khu vự Trung Đông, Nam Sahra hay Ấn Độ nhưng sẽ gặp sự phản ứng mạnh mẽ tại nhiều nước như ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á..

Thứ hai – biến đối theo thời gian Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều giá trị văn hoá, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán có thẻ bị biến đổi ngay trong cùng nền văn hoá, xã hội, dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội. Chẳng hạn, thời xưa người Việt thường có phong tục ăn trầu, nhuộm răng đen, và đó được coi là nét đẹp trong phong tục tập quán của người Việt xưa. Tuy nhiên, khi xã hội biến đổi thì phong tục đó mất đi và không được coi là chuẩn mực xã hội nữa. Ví dụ khác như Điều 199 BLHS năm 1999 quy định thì tối sử dụng trái phép chất ma túy được coi là tội phạm nhưng thông qua sự biến đổi của thời gian cũng như môi trường sống, qua cách nhìn nhận, phán xét, đánh giá của dư luận xã hội nên đến BLHS năm 1999 sửa đổi , bổ sung năm 2009 đã bỏ đi Điều 199 BLHS năm năm 1999. Nghĩa là nếu có sử dụng chất ma túy thì chỉ bị xử phạt hình chính, giáo dục thôi, chứ không bị phạm tội hình sự.

Dư luận xã hội về những vấn đề của đời sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lỗ bằng lời( dư luận của đa số im lặng); việc này thường xảy ra đối với dư luận xã hội thiếu dân chủ. Ngoài ra thì trong xã hội thường cũng có dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới, chưa xảy ra, hiện thời chưa cấp bách.

Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của dư luận xã hội, cũng có những quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng dư luận xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến cho nên nó không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải. Có ý kiến lại “sùng bái” dư luận của đa số, theo họ, dư luận của đa số bao giờ cũng đúng, dư luận của thiểu số bao giờ cũng sai. Tất cả các quan niệm trên đều sai. Trong thực tế thì khả năng phản ánh của dư luận xã hội cũng chỉ mang tính chất tương đối. Không có cái gì tuyệt đối đúng và không có cái gì tuyệt đối sai. Bởi dù sai đến mấy, trong dư luận xã hội vẫn có những hạt nhân hợp lý không thể coi thường được. Chân lí của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn dư luận của thiểu số. Chính vì vậy, khi xem xét một sự kiện xã hội có ta không nên tuyệt đối hóa vai trò của dư luận xã hội hay một quan điểm nào đó. Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối. Chẳng hạn như Copecnic cho xuất bản cuốn chính trái đất mới là hành tinh quay xung quanh mặt trời, trong khi lúc bấy giờ người ta vẫn quan niệm trái đất là trung tâm vũ trụ. Phát hiện đó của nhà thiên văn học làm mọi người sửng sốt, thậm chí nó còn bị coi là tà thuyết vì đã đi ngược lại với chứa trời. Và về sau, khi khoa học đã phát triển hơn thì quan điểm đó mới coi là đúng.

Ý thức pháp luật là hiện tượng mang tính giai cấp, xuất hiện cùng với sự xuất hiện của pháp luật. Các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau có sự thể hiện ý thức pháp luật khác nhau, trong đó ý thức pháp luật giữ vai trò chủ đạo là ý thức pháp luật của giai cấp thống trị cầm quyền. Nhưng, trước khi có sự xuất hiện nhà nước, pháp luật và cùng với đó là ý thức pháp luật, những yếu tố tham gia định hướng và điều chỉnh ý thức, hành vi xã hội của con người lại chính là đạo đức, phong tục, tập quán, truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng… đặc biệt là dư luận xã hội (Ngọ VănNhân – Tạp chí Triết học)

Ý thức nói chung và ý thức pháp luật nói riêng được hình thành trong quá trình con người tiếp cận với đời sống thực tiễn và bắt đầu có nhận thức cơ bản về chúng. Dư luận xã hội cũng vậy, theo nhiều con đường khác nhau, đuợc truyền đạt đến các cá nhân, trên cơ sở nhận thức của mình, các cá nhân bắt đầu đưa ra các ý kiến phán xét, đánh giá về sự kiện đó, sự trao đổi ý kiến giữa các cá nhân sẽ dẫn tới sự hình thành các luồng ý kiến chung tạo thành dư luận xã hội. Theo như Trần Thị Quỳnh Nghi -Khoa Nhà nước và Pháp luật – Trường Chính Trị – Tỉnh Bến Tre thì dư luận xã hội sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến ý thức của con người nói chung và ý thức pháp luật ở những nội dung sau:

Thứ nhất – Góp phần hình thành ý thức pháp luật, điều chỉnh hành vi pháp lý cho công dân

Dư luận xã hội tác động trực tiếp đến ý thức pháp luật của con người. Thông qua dư luận xã hội, con người sẽ ý thức được đâu là hành vi vi phạm pháp luật cần lên án hoặc đâu là những hành vi hợp pháp cần được khích lệ, cổ vũ, động viên. Chẳng hạn, những vụ vi phạm pháp luật hình sự đặc biệt nghiêm trọng như giết người dã man, xâm hại an ninh quốc gia,…đã gây xôn xao dư luận trong xã hội, khiến cho dư luận xã hội hết sức căm phẫn, đòi trừng phạt nghiêm khắc kẻ phạm tội. Trên cơ sở của dư luận xã hội, cá nhân sẽ tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, với chuẩn mực pháp luật. Trải qua một thời gian nhất định, các cá nhân sẽ tự cảm nhận được những điều nên làm và không nên làm, điều đó cho thấy dư luận xã hội có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của cá nhân. Qua đó, dư luận xã hội luôn có tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật, hành vi của con người. Tác động đó được thể hiện trên ba phương diện:

tác động tới tình cảm pháp luật của con người, góp phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật của mỗi công dân.

tác động tới tâm trạng của con người trước pháp luật cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực.

tác động đến sự tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mỗi cá nhân trong phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hiện hành.

Thứ hai – Dư luận xã hội có vai trò quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho công dân

Trong cấu trúc của dư luận xã hội luôn có mặt tất cả các thành phần, các yếu tố cấu thành ý thức xã hội: Nhận thức, tình cảm và ý chí, tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức và thẩm mỹ,…Bất kỳ khi nào, có một sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội nào đó có đụng chạm đến lợi ích của cộng đồng xã hội và thu hút được sự quan tâm chú ý của họ, thì khi đó sẽ nảy sinh dư luận xã hội. Ví dụ: Khi quyền lợi của quốc gia, dân tộc bị xâm hại thì dư luận xã hội xuất hiện lên án, phản đối gay gắt các cá nhân có hành vi xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc,…sẽ hình thành tính lan truyền.

Xét ở góc độ ý thức pháp luật, dư luận xã hội lan truyền càng rộng càng làm cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mang tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật.

Do đó, dư luận xã hội có vai trò to lớn trong việc phổ biến, tuyên truyền những giá trị pháp luật, các tư tưởng, quan điểm pháp luật đến với các chủ thể trong xã hội, trong đó có từng cá nhân con người.

Như vậy, dư luận xã hội luôn hỗ trợ cùng pháp luật trong việc nâng cao ý thức pháp luật, điều chỉnh hành vi của con người, duy trì trật tự trong toàn xã hội cũng như trong mỗi cộng đồng. Nó góp phần giáo dục nhận thức đúng đắn về điều tốt, cái xấu, điều gì đúng pháp luật, điều nào sai pháp luật…để từ đó, nó răn đe con người cần tránh xa những cái xấu xa trong xã hội. Đồng thời, dư luận xã hội cũng góp phần nâng cao sự hiểu biết pháp luật của người dân và cũng là phương tiện để các cơ quan nhà nước có thể đánh giá được khả năng nhận thức, việc sử dụng pháp luật và phản ứng của nhân dân đối với các vấn đề pháp luật, từ đó tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật như thế nào cho phù hợp với khả năng nhận thức và thực hiện pháp luật ở đại đa số quần chúng nhân dân. Chúng ta có thể xem dư luận xã hội như là “người lính canh giữ”, bảo vệ những quyền lợi, các giá trị phổ biến của xã hội, cũng như các giá trị, lợi ích chính đáng của con người. Do vậy, trong quá trình xây dựng, nâng cao ý thức pháp đối với từng cá nhân, nhà nước cần phát huy những luồng dư luận có tác động tích cực.

Như vậy, dư luận xã hội là một bộ phận vô cùng quan trọng của xã hội. Đó là những ý kiến con người, những nhận xét đánh giá của tập thể xã hội về các vấn đề xã hội nóng bỏng, các hoạt động của nhà nước, cơ quan nhà nước,… Thông qua dư luận xã hội ta có thể tìm hiểu chung và khá toàn diện nhưng đặc điểm của xã hội, những quan điểm quan niệm của con người về thẩm mĩ, chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán trong xã hội. Chính vì vậy ,việc nghiên cứu dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam cần được chú trọng mở rộng về quy mô cũng như tính chất của dư luận xã hội bởi tầm quan trọng của dư luận xã hội trong việc thực hiện pháp luật có ý nghĩa rất lớn về cả mặt vật chất lẫn tinh thần của con người Việt Nam. Hãy đưa dư luận xã hội “tiếng nói của dân” trở thành một cầu nối giữa dư luận xã hội trong việc thực hiện pháp luật để nước Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng sánh vai với các cường quốc trên con đường hiện đại hóa nền văn minh thế giới.

1) Tập bài giảng Xã Hội Học – Trường Đại Học Luật Hà Nội, NXB Công An nhân dân – Năm 2010

2) Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội – Nguyễn Minh Đoan.

3) Tạp chí triết học – Bài viết : Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật – Tác giả : Ngọ Văn Nhân.

Vai Trò Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Việc Quản Lý Xã Hội / 2023

Vai trò của dư luận xã hội đối với việc quản lý xã hội

Ngày đăng:11-04-2016

Dư luận xã hội là gì?

Như vậy những ý kiến chung của công chúng trong dư luận xã hội có thể biểu thị 1 cách công khai hoặc lan truyền 1 cách ngấm ngầm, nhưng dù công khai hay ngấm ngầm dư luận xã hội luôn mang tính “nặc danh” chứ không gắn với cá nhân cụ thể. Hay nói cách khác chủ thể của dư luận xã hội bao giờ cũng là cộng đồng xã hội.

Khi tìm hiểu về dư luận xã hội, ta hay nhầm lẫn giữa dư luận xã hội và tin đồn. Vậy làm thế nào để phân biệt giữa dư luận xã hội và tin đồn? Dư luận xã hội xuất phát từ thực tế khách quan, dư luận xã hội có tính trách nhiệm xã hội (tức hàm chứa cách giải quyết vấn đề) còn tin đồn chỉ là một tin tức về một sự việc, hiện tượng nào đó mà thông tin chưa được xác minh, mang tính bịa đặt hoặc thổi phồng có tính chất chủ quan ly kỳ hấp dẫn và không có tính trách nhiệm. 

Bản chất của dư luận xã hội

Dư luận xã hội là hình thức biểu hiện đặc thù của ý thức xã hội thuộc về đời sống tinh thần của xã hội là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp.

Dư luận xã hội mang tính tổng hợp của các hình thái ý thức xã hội, là kết quả của sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội như là tư tưởng triết học, tư tưởng pháp quyền, chính trị, tôn giáo, đạo đức…

Dư luận xã hội mang tính hiện thực tinh thần nhưng có tác động to lớn đối với tiễn. Bởi vì dư luận xã hội phản ánh tâm tư nguyện vọng, lợi ích, nhu cầu của công chúng. Dư luận xã hội không phải là cái tạo ra để làm phong phú đời sống tinh thần mà là để điều chỉnh tác động đế thực tiễn. Trong bản thân dư luận bao giờ cũng chứa đựng yếu tố nhận thức tư tưởng và xu hướng hành động. Dư luận xã hội là cầu nối giữa nhận thức và hành động thực tiễn.

Dư luận xã hội mang tính kinh nghiệm được hình thành dựa trên cơ sở của kinh nghiệm đời sống và trên những quan hệ trực tiếp chứ không phải tư duy phân tích logic. Nên dư luận xã hội vừa có tính thuyết phục cao nhưng cũng có khi dư luận không chính xác (lệch hướng).

Dư luận xã hội như là một cơ chế tâm lý xã hội. Nghĩa là có sức mạnh xã hội đối với hành động của con người. Đứng trước dư luận xã hội con người bắt buộc tuân theo.

Chức năng của dư luận xã hội

Chức năng đánh giá: dư luận xã hội đánh giá hành vi xã hội, các chuẩn mực xã hội, các quá trình xã hội. Dư luận xã hội đánh giá các hành vi đó đúng hay sai, tốt hay xấu. Những chuẩn mực xã hội mà dư luận dự vào để đánh giá có thể là những điều luật hoặc là chuẩn mực chung của đông đảo công chúng. Sự đánh giá này thường khác nhau trong các nhóm xã hội khác nhau cũng như trong những khoảng thời gian khác nhau.

Chức năng giáo dục: dư luận xã hội khi phán xét đánh giá (khen hoặc chê) nó có tác dụng khuyến khích cái tốt, ngăn ngừa cái xấu, giữ gìn và bảo vệ cái đúng, cái đẹp phê phán cái tiêu cực. 

Chức năng điều hòa: dư luận xã hội góp phần sắp xếp, điều chỉnh các quan hệ xã hội cho đúng mục đích và chuẩn mực. Trên cơ sở đánh giá các sự kiện, hiện tượng, dư luận xã hội nêu ra các chuẩn mực chỉ ra những việc nên làm hay nên tránh hoặc điều chỉnh hành vi cách cư xử của con người. Đặc biệt khi có những biến cố xã hội lớn đụng chạm trực tiếp và mạnh mẽ đến cộng đồng, dư luận xã hội hình thành nhanh chóng và rộng rãi, tạo ra sức mạnh lớn chỉ hướng cho hoạt động của quần chúng, cổ vũ cho những hành vi phù hợp với lợi ích chung lên án những hành vi không phù hợp.

Chức năng kiểm soát: dư luận xã hội còn có khả năng kiểm soát thông qua sự phán xét, đánh giá có tác dụng giám sát hoạt động của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước có phù hợp với lợi ích xã hội hay không. Mọi hoạt động của con người trong xã hội có sự đánh giá giám sát của xã hội cho nên buộc mọi người phải tuân theo chuẩn mực xã hội.

Chức năng tư vấn: thông qua nội dung của mình dư luận xã hội góp ý kiến kiến nghị và giải đáp những vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm giúp cho các tổ chức Đảng cơ quan nhà nước giải quyết những vấn đề quan trọng trong xã hội vì vậy xã hội càng phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân càng cao, dân chủ càng mở rộng thì sức mạnh của dư luận xã hội càng lớn có tác dụng đến xã hội và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

Ý nghĩa nghiên cứu dư luận xã hội đối với quản lý

Nghiên cứu dư luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác lãnh đạo quản lý xã hội, đối với việc đề ra và triển khai thực hiện các chủ trương nhiệm vụ cụ thể trong từng thời điểm nhất định. Bởi vì: 

Trong quản lý xã hội đòi hỏi người quản lý phải hiểu biết sâu sắc nhu cầu và lợi ích của quần chúng trong sản xuất cũng như trong đời sống. Nghiên cứu dư luận xã hội là một trong những hình thức tốt nhất để thu thập những thông tin phản ánh tâm tư nguyện vọng cũng như suy nghĩ và cảm xúc của các tầng lớp xã hộ.

Dư luận xã hội giúp ta nắm bắt kịp thời thực trạng tư tưởng của các nhóm xã hội khác nhau, cũng như những diễn biến của thực trạng này trong từng thời kỳ. Đây cũng là những nguồn thông tin vô cùng quý giá giúp ta khắc phục bệnh quan liêu xa rời thực tiễn, xa rời quần chúng, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo quản lý xã hội. Vì các thông tin này còn là những tín hiệu phản hồi từ phía xã hội, từ phía quần chúng đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội từ đó có cơ sở điều chỉnh, bổ sung các chủ trương biện pháp cho phù hợp hơn.

Hiện nay sự nghiệp đổi mới đất nước diễn ra càng nhanh, càng nhiều vấn đề mới nảy sinh vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích dư luận xã hội về các vấn đề mới đó càng giúp cho cơ quan lãnh đạo có thêm cơ sở để đề ra những quyết định đúng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đi đúng hướng và đem lại hiệu quả thiết thực.

Nghiên cứu dư luận xã hội một mặt góp phần nâng cao ý thức giác ngộ chính trị trong quần chúng, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, động viên quần chúng tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Mặt khác nó góp phần tăng cường mối liên hệ giữa Đảng, nhà nước với quần chúng nhân dân góp phần hoàn thiện công tác lãnh đạo quản lý xã hội trên cơ sở khoa học.

Nắm bắt dư luận xã hội giúp chúng ta có những thông tin đa chiều về các mặt hoạt động của các cơ quan nhà nước và giúp cho nhân dân nhận thức và thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội tốt hơn. Những thông tin này là một trong những căn cứ quan trọng để Đảng và nhà nước kiểm tra hoạt động công tác của mình để có những chủ trương, quyết định cần thiết và phù hợp với thực tế.

Trong xã hội ta hiện nay việc tìm hiểu và nghiên cứu dư luận xã hội đã trở thành điều kiện quan trọng để đảm bảo công tác lãnh đạo và quản lý xã hội đạt được hiệu quả cao. Đảng, nhà nước ta hết sức coi trọng công tác nắm bắt dư luận xã hội vì mọi hoạt động của Đảng, nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Qua dư luận xã hội để nắm bắt được tâm trạng của nhân dân, hiểu được nguyện vọng và lợi ích của họ để đề ra chủ trương chính sách phù hợp, “giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn lắng nghe ý kiến dân chúng đó là nền tảng lực lượng của đoàn thể và nhờ đó mà đoàn thể thắng lợi” (lời: Hồ Chí Minh). 

Minh Nguyệt

Báo Chí Trong Vai Trò Định Hướng Dư Luận Xã Hội / 2023

Hiện nay, không thể phụ nhận vai trò, tác động mạnh mẽ của báo chí trong công tác định hướng dư  luận quần chúng nhân dân.

Ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp tích cực của Hội Nhà báo Việt Nam trong những năm qua nhưng cũng phải thẳng thắn cho rằng, hoạt động báo chí và Hội Nhà báo vẫn còn những hạn chế nhất định như một số cơ quan báo chí đưa thông tin sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng bị xử phạt, thông tin không phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân.

Tình trạng chạy theo yếu tố thương mại, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, đưa tin một chiều, giật gân, câu khách… Một số nhà báo lợi dụng chức năng phản ánh của báo chí để yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu theo phản ánh của xã hội là không đúng quy định pháp luật, hay viết bài thiếu tính xây dựng, thể hiện quan điểm tiêu cực trên mạng xã hội, một số văn phòng đại diện, phóng viên, hội viên thường trú và đội ngũ cộng tác viên hoạt động không đúng chức năng, nhiệm vụ, gây tác động xấu đến dư luận xã hội.

Căn cứ quy định tại Khoản 8, Điều 9 Luật Báo chí 2016, đối với các hành vi báo chí thông tin sai sự thật thuộc một trong các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động báo chí, cụ thể:

“Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm

…9. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án”.

Ngoài ra, với trường hợp thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân còn vi phạm quy định tại Khoản 1, Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó, quyền được bảo vệ danh sự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

Về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân, uy tín tổ chức được quy định cụ thể tại Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 25; Điều 42; Điều 43 Luật Báo chí 2016; Điều 8 Nghị định 159/2013/NĐ-CP; theo đó, Cơ quan báo chí, Nhà báo phải có trách nhiệm gỡ bỏ nội dung trên trang báo điện tử và phát lời cải chính, xin lỗi trên báo chí, trường hợp gây thiệt hại phải bồi thường; bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng trường hợp đăng, phát thông tin sai sự thật nhưng chưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng; phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng và phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng khi gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng.

Đối với hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Trên thực tế, báo chí là công việc đặc thù, có tính chuyên biệt, đặc biệt trong đó nổi lên một vấn đề quan trọng là người làm báo tiếp nhận sự thật như thế nào, phản ánh sự thật ra sao. Đây là điều không dễ giải quyết nếu người làm báo tác nghiệp theo cung cách nhìn gì biết đó, thấy gì ghi nấy, chỉ cần đơn thuần mô tả lại sự việc. Thực tế nghề nghiệp cho thấy sự thật được phản ánh trên báo chí không phải chỉ là những gì diễn ra trên bề mặt của vấn đề, sự kiện, hiện tượng. Muốn tiếp cận và phản ánh sự thật đó, người làm báo phải thâm nhập, tìm hiểu kỹ càng, sâu sắc, bằng nhãn quan, kỹ năng và kinh nghiệm của mình để tiếp cận, gạn lọc… từ đó mới có thể đưa thông tin đến bạn đọc một cách bản chất nhất, trung thực nhất. Vì vậy, bản chất của sự thật được làm rõ như thế nào phụ thuộc rất lớn vào Tâm và Tầm của mỗi người làm báo. Có thể thấy phần lớn các sai phạm dẫn đến việc phải xử phạt trong thời gian qua đều có nguyên nhân từ việc chủ quan, thiếu trách nhiệm hoặc không hội tụ đủ những yếu tố thuộc về phẩm chất nghề nghiệp làm báo. Thậm chí, vì năng lực nghiệp vụ yếu kém, vì suy thoái đạo đức nghề nghiệp, vì động cơ vụ lợi,… mà một số người làm báo tự hạ thấp nhân phẩm của mình bằng cách chạy theo thông tin giật gân, câu khách, bóp méo thông tin, đưa thông tin sai lệch… Chưa kể, một người làm báo, dù đạo đức nghề nghiệp tốt mà kém cỏi về năng lực nghiệp vụ thì vẫn có thể gây hậu quả khôn lường.

Việc xử phạt báo chí khi đưa tin sai sự thật là hết sức cần thiết, không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam. Việc xử phạt hành vi tương tự đã được nhiều quốc gia trên thế giới tiến hành rất nghiêm khắc. Tại Đức, hành vi đăng tải trên báo chí hoặc in-tơ-nét nội dung sai sự thật, phỉ báng nhà nước, phỉ báng tôn giáo, kích động hận thù hoặc có tác động phá hoại trật tự công cộng,… đều bị coi là phạm tội hình sự. Ngày 13-11-2017, Liên hiệp châu Âu (EU) đã khởi động một cuộc tham vấn trên quy mô lớn với các nhóm đối tượng: người dân, các nền tảng mạng xã hội, các tổ chức báo chí,… về tin tức giả, từ đó đưa ra giải pháp xử lý tin tức giả trong tương lai. Đáng chú ý, mới đây, ngày 29-7-2018, Ủy ban truyền thông thuộc Hạ viện Vương quốc Anh đã chính thức công bố báo cáo đề nghị chính phủ có biện pháp quản lý chặt chẽ các trang mạng xã hội nhằm bảo vệ nền dân chủ trong kỷ nguyên công nghệ số. Chính vì thế, việc một số tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho rằng, việc xử phạt sai phạm trong hoạt động báo chí ở Việt Nam vừa qua là “ngăn cản tự do ngôn luận”, “kết quả âm mưu của chính quyền” là không thể chấp nhận. Cần nhận rõ bản chất của các ý kiến loại này là xuyên tạc, lợi dụng sự kiện để vu cáo chính quyền. Bởi trên thế giới, không có thứ tự do ngôn luận nào đồng nghĩa với sự thật bị bóp méo, coi thường pháp luật, xúc phạm cộng đồng, coi thường độc giả. Tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là vô hạn. Quyền tự do đó phải được đặt trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc; không xâm phạm quyền lợi của tổ chức, cá nhân.

Tác giả: Ban Truyền thông