Top 6 # Xem Nhiều Nhất Ví Dụ Về Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm Nói Tránh Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ

Hướng dẫn học sinh lớp 8 tìm hiểu bài học về nói giảm nói tránh, cách sử dụng biện pháp này và đặt ví dụ minh họa về cách nói giảm nói tránh, các em hãy xem bên dưới để hiểu hơn về bài học ngày hôm nay.

Theo một số định nghĩa được sách giáo khoa biên soạn chính xác nói giảm nói tránh chính là biện pháp biểu đạt một cách tế nhị, nhẹ nhàng giảm đi cảm giác ghê sợ, đau buồn, thiếu văn hóa đối với người nghe.

Biện pháp này dùng nhiều trong giao tiếp hàng ngày của con người. Đồng thời nói giảm nói tránh còn được dùng trong thơ ca, văn chương.

Khi giao tiếp, thay vì sử dụng những từ ngữ gây ấn tượng của tính chất sự vật, sự việc người nói dùng những từ đồng nghĩa làm giảm đi cảm giác ghê sợ, đau buồn, thiếu văn hóa.

Hoặc có thể dùng phủ định đi các từ tích cực. Ví dụ bên dưới sẽ giúp học sinh hiểu hơn cách dùng chính xác.

– Người ta phát hiện một xác chết ngay tại hiện trường vụ án mạng.Sử dụng nói giảm nói giảm nói tránh: Người ta phát hiện một tử thi ngay tại hiện trường vụ án mạng.

– Chiến sỹ đó bị chết khi làm nhiệm vụ. Thay thế bằng: Chiến sỹ đó hi sinh khi làm nhiệm vụ

– Chị ấy thật xấu. Thay thế bằng chị ấy không được đẹp cho lắm.

– Cậu thanh niên kia bị mù. Thay thế bằng: Cậu thanh niên kia khiếm thị.

– Ồn ào quá, cậu câm miệng lại ngay. Thay thế bằng: Ồn ào quá, cậu vui lòng im lặng.

– Ông ấy bị bệnh nặng sắp chết. Thay thế bằng: Ông ấy bị bệnh nặng sắp mất.

So sánh nói giảm nói tránh và nói quá

So sánh ở đây chính là việc nêu lên các điểm giống và khác nhau của 2 biện pháp tu từ này.

– Giống nhau:

+ Cả nói quá và nói giảm nói tránh đều cách nói không chính xác sự việc xảy ra.

+ Đều là các biện pháp tu từ sử dụng nhiều trong văn chương, thơ ca hoặc giao tiếp mỗi ngày.

– Khác nhau

Dựa vào khái niệm để hiểu rõ bản chất của 2 biện pháp này.

+ Nói quá: nhằm phóng đại, khoa trương sự việc. Điều này giúp tạo ra sự nổi bật, ấn tượng của vấn đề với người đọc, người nghe.

+ Nói giảm nói tránh: tránh đi thẳng vào vấn đề, biểu đạt sự việc tế nhị, nhẹ nhàng, lịch sự phù hợp với người đọc, người nghe hơn.

Nói giảm nói tránh nên vận dụng thật linh hoạt trong các tình huống giao tiếp. Nói giảm nói tránh giúp thể hiên sự lịch sự, nhã nhặn và tôn trọng với người khác. Đồng thời thể hiện bạn là con người có giáo dục, văn hóa, biết cách ứng xử. Tuy nhiên tùy theo thời điểm mà chúng ta cần phải nói thẳng, nói thật nhất là các sự việc xấu, giúp tố giác cái xấu hoặc giúp họ thay đổi. Như vậy tùy theo trường hợp trong cuộc sống mà áp dụng nói giảm nói tránh thật phù hợp.

Bài tập nói giảm nói tránh.

Hãy đặt 5 câu và vận dụng cách nói giảm nói tránh để giải quyết bài tập.

1. Cậu học môn toán quá tệ.

2. Chiếc xe này xấu quá

3. Ông già đã chết hôm qua.

4. Chữ cậu xấu lắm

5. Anh bộ đội chết khi đang làm nhiệm vụ.

Vừa rồi là các ví dụ về cách dùng nói giảm nói tránh sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp và các tác phẩm văn học như thơ, văn xuôi. Bài học này chắc chắn sẽ hữu ích với các em lớp 8. Chúc các em học tốt môn Ngữ Văn.

(Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,Phân Loại ,Tác Dụng, Ví Dụ),So Sánh ,Ẩn Dụ,Nhân Hóa,Hoán Dụ,Nói Quá ,Nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ

1/Biện pháp tu từ so sánh

a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

Chi tiết nội dung bài học trong trương trình: Soạn bài So sánh

b/ Cấu tạo của biện pháp so sánh:

– A là B:

“Người ta là hoa đất”(tục ngữ)

“Quê hương là chùm khế ngọt”

(Quê hương – Đỗ Trung Quân)

– A như B:

“Nước biếc trông như làn khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào”

(Thu vịnh – Nguyễn Khuyến)

“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

– Bao nhiêu…. bấy nhiêu….

“Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêungói thương mình bấy nhiêu “

(Ca dao)

+ A – sự vật, sự việc được so sánh

+ B – sự vật, sự việc dùng để so sánh

+ “Là” “Như” “Bao nhiêu…bấy nhiêu” là từ ngữ so sánh, cũng có khi bị ẩn đi.

c/ Các kiểu so sánh:

– Phân loại theo mức độ: + So sáng ngang bằng:

“Người là cha, là bác, là anh

Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

(Sáng tháng Năm – Tố Hữu)

+ So sánh không ngang bằng:

“Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”

(Bầm ơi – Tố Hữu)

– Phân loại theo đối tượng:

+ So sánh các đối tượng cùng loại:

“Cô giáo em hiền như cô Tấm”

+ So sánh khác loại:

“Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm!”

(Núi đôi – Vũ Cao)

+ So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:

“Trường Sơn: chí lớn ông cha

Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào”

(Nguyễn Văn Trỗi – Lê Anh Xuân)

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

(Ca dao)

2/Biện pháp tu từ nhân hóa

a/ Khái niệm: Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi … vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn.

Ôn lại kiến thức và làm bài tập vận dụng: Soạn bài Nhân hóa

b/ Các kiểu nhân hóa:

– Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Chị ong nâu, Ông mặt trời, Bác giun, Chị gió,…

– Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:

“Heo hút cồn mâysúng ngửi trời”

(Tây Tiến – Quang Dũng)

“Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

– Trò chuyện với vật như với người:

” Trâu ơi ta bảo trâu này…”

(Ca dao)

3/Biện pháp tu từ ẩn dụ

a/ Khái niệm: Ẩn dụ là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Bài học lý thuyết đã học: Soạn bài Ẩn dụ

b/ Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp: + Ẩn dụ hình thức – tương đồng về hình thức

“Đầu tường lửa lự u lập lòe đơm bông”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Hình ảnh ẩn dụ: hoa lựu màu đỏ như lửa.

+ Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

(Ca dao)

“Về thăm quê Bác làng Sen,

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

(Nguyễn Đức Mậu)

+ Ẩn dụ phẩm chất – tương đồng về phẩm chất

“Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

(Ca dao)

+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác – chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

“Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như làrơi nghiêng“

(Đêm Côn Sơn – Trần Đăng Khoa)

“Cha lại dắt con đi trên cát mịn

(Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông)

“Ơi con chim chiền chiện

Hót chi mà vang trời

(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)

“Một tiếng chim kêucả rừng”

(Từ đêm Mười chín – Khương Hữu Dụng)

c/ Lưu ý:

– Phân biệt ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng:

+ Ẩn dụ tu từ: có tính lâm thời, tính cá thể, phải đặt trong từng văn cảnh cụ thể để khám phá ý nghĩa.

“Lặn lộikhi quãng vắng”

(Thương vợ – Tú Xương)

+ Ẩn dụ từ vựng: cách nói quen thuộc, phổ biến, không có/ ít có giá trị tu từ: cổ chai, mũi đất, tay ghế, tay bí, tay bầu,…

4/Biện pháp tu từ hoán dụ

a/ Khái niệm: Hoán dụ là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Bài học đã học: Soạn bài Hoán dụ

b/ Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:

+ Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể:

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”

(Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông)

+ Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

“Vì sao trái đất nặng ân tình,

Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh”

(Tố Hữu)

+ Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

” Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

+ Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

” Một cây làm chẳng nên non

Ba câychụm lại nên hòn núi cao “

Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau:

– Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng (giống nhau)

– Hoán dụ: A và B có quan hệ gần gũi, hay đi liền với nhau.

5)Biện pháp tu từ nói quá, phóng đại, kho trương, ngoa dụ, thậm xưng, cường điệu

– Nói quá là phép tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Để ôn lại kiến thức và các bài tập vận dụng có thể xem: Soạn bài nói quá

Dơ bẩn thay,nước Đông Hải không rửa sạch mùi“

(Bình NGô đại cáo – Nguyễn Trãi)

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn

(Việt Bắc – Tố Hữu)

6)Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh

Nói giảm nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, nhằm tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

Cùng ôn lại kiến thức: Soạn bài nói giảm nói tránh

“Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”

(Bác ơi – Tố Hữu)

“Bác Dương thôi đã thôi rồi

Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta”

(Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến)

7)Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản.

(Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

– Điệp ngữ có nhiều dạng:

+ Điệp ngữ cách quãng:

” Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

+ Điệp nối tiếp:

“Mai sau

Mai sau

Mai sau

Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”

(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

+ Điệp vòng tròn:

“Cùng trông lại mà cùng chẳng

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

8)Biện pháp tu từ chơi chữ

Chơi chữ là biện pháp tu từ lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

Bài soạn đã học trước đó:Soạn bài Chơi chữ

– Chơi chữ được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, thường trong văn thơ, đặc biệt là trong văn thơ trào phúng, trong câu đối, câu đố,….

– Các lối chơi chữ thường gặp:

+ Dùng từ ngữ đồng âm

“Bà già đi chợ cầu đông

Xem một que bói lấy chồngchăng

Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

+ Dùng lối nói trại âm (gần âm)

Sánh với Na-va “ranh tướng” Pháp (Danh tướng)

Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương.

(Tú Mỡ)

+ Dùng lối nói lái

Khi đi cưa ngọn, khi về con ngựa ( Cưa ngọn – Con ngựa)

+ Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa

Đi tu Phật bắt ăn chay

Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không.

+ Dùng cách điệp âm

“Mênh mông muôn mẫu một màu mưa

Mỏi mắt miên mang mãi mịt mờ

Mộng mị mỏi mòn mai một một

Mĩ miều mai mắn mây mà mơ”

(Tú Mỡ)

9/Biện pháp tu từ liệt kê

Liệt kê là biện pháp tu từ sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay tư tưởng, tình cảm.

Bài soạn đã học:Soạn bài Liệt kê

“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi, em đã sống!

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Không giết được em, người con gái anh hùng!”

Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh

1. Thế nào là nói giảm nói tránh?

Để biểu đạt một cách tế nhị, uyển chuyển, tránh gây những cảm giác “sốc” về mọt sự đau buồn hay ghê sợ, hoặc tránh nói tục tĩu, thô lỗ, người ta thường nói giảm , nói tránh. Đây là biện pháp tu từ, ngược lại với cách nói khoa trương, khuếch đại, nói quá.

Ví dụ 1:

Tôi sẽ “Đi gặp cụ Các Mác, Cụ Leenin và các vị đàn anh khác”. (Hồ Chí Minh -Di chúc)

Bác đã đi rồi sao Bác ơi. (Tố Hữu -Bác ơi)

Rõ tội nghiệp, về đến nhà thì bố mẹ “Chẳng còn”. (Hồ Phương -Thư Nhà)

Cách nói ở ví dụ trên để làm giảm nhẹ đi phần đau buồn . Như vậy nói giảm là phương tiện tu từ làm nhẹ đi, làm yếu đi một đặc trưng nào đó được nói đến. Tuy nhiên nói giảm khác với thu nhỏ nội dung lẫn cấu trúc.

Ví dụ 2.

Khi muốn chê trách một điều gì đề người nghe khỏi bị chạnh lòng, người ta thường nói giảm bằng cách phủ định điều ngược lại với sự đánh giá.

Chẳng hạn như lẽ ra nói “Bài thơ của anh dở lắm” thì có thể vận dụng cách nói giảm để đặt câu đánh giá tế nhị hơn như

Bài thơ của anh có vẻ như chưa được như ý muốn hay “ý thơ xem ra chưa được hấp dẫn lắm”

Ví dụ 3.

Dùng nhiều mỹ từ để làm nhẹ đi một đặc trưng nào đó của đối tượng, chúng ta thường dùng từ ” không” để phủ định hoặc dùng 2 lần từ “không” để khẳng định một cách thận trọng hơn.

“Xưa nay anh ta là người tốt, việc này không hiểu sao anh ta lại làm như vậy”.

“Thái độ của anh không phải không đúng nhưng còn chờ xem thực tế xảy ra như thế nào”

Ví dụ 4.

Nói giảm, nói tránh còn được thông qua bởi các hình thức tu từ ẩn dụ hay từ hoán dụ để làm giảm, làm nhẹ cảm giác cho người nghe.

Ví dụ: “Thôi rồi, Lượm ơi!”

Soạn Bài: Nói Giảm Nói Tránh

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

Bài này yêu cầu các em cần nắm chắc những nội dung sau đây:

– Thế nào là nói giảm nói tránh?

– Vấn đề vận dụng biện pháp tu từ nói giảm nói tránh trong giao tiếp.

1. Thế nào là nói giảm nói tránh?

– Nói giảm nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời.

(Tố Hữu)

+ Bác đã lên đường, theo tổ tiên

Mác -Lê-nin, thế giới Người Hiền.

(Tố Hữu)

+ Xin nhớ từ đây, nhớ lại ngày Bảy mươi chín tuổi xuân trong sáng

Vào cuộc trường sinh, nhẹ cánh hay…

(Tố Hữu)

+ Đã ngừng đập, một trái tim

Đã ngừng đập, một cánh chim đại bàng.

(Thu Bồn)

+ Làng trên xóm dưới xôn xao

Ông sao sáng nhất trời cao băng rồi!

(Tố Hữu)

+ Bà “về” năm đói, làng treo lưới

Biển động: Hồn Mê, giặc bắn vào…

(Tố Hữu)

+ Bỗng loè chớp dó

Chủ đồng chí nhỏ

Một dòng máu tươi.

(Tố Hữu)

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta

(Nguyễn Khuyến)

+ Bác ra tàu trước, đệ còn khoan.

(Tú Mỡ)

2. Vấn đề vận dụng biện pháp tu từ nói giảm nói tránh trong giao tiếp

Trong giao tiếp thông thường, cần có ý thức vận dựng biện pháp nói giám nói tránh khi cần thiết, để thể hiện thái độ lịch sự, nhã nhặn của người nói, sự tôn trọng của người nói đối với người nghe, thể hiện phong cách nói năng đúng mực của con người có giáo dục, có văn hoá. Nhưng điều cần lưu ý ở đây là khi cần thiết phải nói thẳng, nói đúng sự thật thì không nên tránh né, không nên nói giảm nói tránh vì như thế là bất lợi. Trong những tình huống như vậy, người nghe cần biết rõ sự thật, cho nên cần thiết phải nói rõ sự thật. Tóm lại, việc vận dụng biện pháp nói giám nói tránh cũng cần phải linh hoạt, đúng lúc, đúng chỗ.

II. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Em lần lượt thử điền từng từ ngữ nói giảm nói tránh vào mỗi chỗ trống; nếu tạo ra câu có nội dung thích hợp thì điền được. Kết quả điền cụ thể như sau:

– Câu (a): đi nghỉ.

– Câu (b): chia tay nhau.

– Câu (c): khiếm thị.

– Câu (d): có tuổi.

– Câu (e): đi bước nữa.

2. Em đọc kĩ từng cặp câu, so sánh hai cách diễn đạt, xem cách nào diễn đạt tế nhị, nhẹ nhàng, “dễ nghe” hơn – cách diễn đạt đó đã sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh (và ngược lại).

Đáp án:

– Các câu có sử dụng cách nói giám nói tránh: a2, b2, c1, d1, e2.

– Các câu không sử dụng cách nói giám nói tránh: a1, b1, c2, d2, e1.

3. Dựa vào câu mẫu đã cho trong SGK (Bài thơ của anh chưa được hay lắm.), em đặt năm câu nói về các nội dung khác nhau do em tự chọn. Em tham khảo một số câu sau:

– Nó thấp lùn. → Nó chưa được cao lắm.

– Con dạo này hư lắm. → Con dạo này chưa được ngoan lắm.

– Anh nói sai rồi. → Anh nói chưa đúng lắm.

– Sức khỏe của nó kém lắm. → Sức khỏe của nó không được tốt lắm.

– Bạn ấy chậm chạp lắm. → Bạn ấy chưa được nhanh nhẹn lắm.

4. Em đọc lại mục 2 (Vấn dề vận dụng hiện pháp tu từ nói giảm nói tránh trong giao tiếp) ở trên, rồi nêu cụ thể các trường hợp, các tình huống không nên nói giảm nói tránh.

Ví dụ:

– Nói về những khuyết điểm của bạn (như: bỏ trực nhật lớp, mặc dù đã được phân công; nghỉ học không có lí do; nói tục, chửi bậy; đánh nhau; thiếu lễ độ với thầy (cô) giáo,…) trong cuộc họp lớp tổng kết đợt thi đua.

– Giáo viên chủ nhiệm nói với phụ huynh học sinh về ưu điểm, nhược điểm của một học sinh nào đó trong lớp.