Top 20 # Xem Nhiều Nhất Văn Hoá Có Chức Năng Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Văn Hoá Doanh Nghiệp Là Gì? / 2023

Văn hóa doanh nghiệp là gì? Câu trả lời chính là tài sản vô hình vô giá của mỗi doanh nghiệp. Văn hóa tạo nên thương hiệu, triết lý văn hóa doanh nghiệp này được nhiều doanh nghiệp dẫn đầu sử dụng như một kim chỉ nam kinh doanh dẫn dắt doanh nghiệp thành công.

1. Văn hoá doanh nghiệp là gì?

Văn hóa doanh nghiệp hình thành theo chặng đường phát triển của doanh nghiệp, nó không đơn thuần là văn hóa kinh doanh, văn hóa giao tiếp trong doanh nghiệp mà sự tổng hòa hội tụ của tất cả các yếu tố tạo nên giá trị vô hình không thể trộn lẫn với bất kỳ doanh nghiệp nào.

1.1. Văn hóa doanh nghiệp bắt nguồn từ đâu?

Văn hóa doanh nghiệp là từng mảnh ghép giá trị

Muốn hiểu được văn hoá doanh nghiệp là gì trước tiên phải biết văn hoá doanh nghiệp bắt đầu từ đâu. Văn hóa doanh nghiệp bắt nguồn từ các giá trị của doanh nghiệp, mà khởi nguồn được truyền cảm hứng từ nhà lãnh đạo. Mỗi một thành viên khi bước chân vào doanh nghiệp đều cần được khơi gợi tinh thần văn hóa, có như thế, văn hóa mới có thể ngày càng hoàn thiện, gìn giữ và phát huy.

Ở Việt Nam, các tổ chức đều tựu chung một số giá trị điển hình:

Sự thành thực: thành thực trong công việc, thành thực trong mọi vấn đề.

Sự tự giác: sẵn sàng, tự giác trong công việc, không ngại khó khăn.

Sự khôn khéo: khôn khéo trong ứng xử, biết cư xử đúng mực.

Ngoài ra còn một số giá trị khác được đề cập tới như sự tự tin, sáng tạo … Những giá trị này sẽ là nền tảng định hướng cho văn hóa của doanh nghiệp.

1.2. Vậy văn hóa doanh nghiệp là gì?

Văn hóa doanh nghiệp là gì và tại sao lại quan trọng

Văn hóa doanh nghiệp hình thành như một thuật ngữ trong kinh tế, hiện nay, có trên 300 định nghĩa về khái niệm này:

Theo Gold K.A, văn hóa doanh nghiệp là “phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực.”

Theo lý thuyết của Kotter và Heskett, văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài.

“Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương đối ổn định trong doanh nghiệp”. (Williams, A., Dobson, P. & Walters, M.)

Có thể nói, văn hóa doanh nghiệp là gốc rễ của công ty mà dù có bị quật ngã thì vẫn tồn tại mãi. Tựu chung, văn hóa doanh nghiệp chính là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng và hoàn thiện trong quá trình phát triển của doanh nghiệp.

Nó chi phối mọi hành vi, cách làm việc, ứng xử của mọi thành viên trong doanh nghiệp trở thành truyền thống cũng như khác biệt hóa của doanh nghiệp với tất cả các doanh nghiệp khác.

2. Các biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp

2.1. Biểu hiện hữu hình

Biểu hiện hữu hình là những tiêu chí thể hiện ngay ở bề ngoài của doanh nghiệp và dễ dàng quan sát được. Ví dụ như:

Những biểu hiện này có thể khiến tất cả các nhân viên cũng như khách hàng của doanh nghiệp nhận thức và quan sát được và có tác động trực tiếp tới họ. Trang phục, môi trường, khen thưởng,… góp phần truyền cảm hứng làm việc tới nhân viên, thể hiện phong cách làm việc chuyên nghiệp, gây thiện cảm và niềm tin tới khách hàng.

2.2. Biểu hiện vô hình của văn hoá doanh nghiệp là gì?

Biểu hiện vô hình được coi như giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, không biểu hiện trực tiếp.

Những giá trị này không thể một sớm một chiều được truyền đạt mà nhà lãnh đạo phải có tầm nhìn, truyền tới nhân viên tinh thần, văn hóa và giá trị cốt lõi của doanh nghiệp ngày ngày.

Mục đích của văn hóa doanh nghiệp chính là tăng cường tiềm lực, khuyến khích phát huy tối đa sức sáng tạo của nhân viên, tạo động lực làm việc tăng lợi nhuận của công ty.

3. Đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp

Mỗi biểu hiện thế hiện từng cấp độ của văn hóa công ty. Vậy đặc trưng của văn hoá doanh nghiệp là gì?

Biểu hiện hữu hình là cấp độ cơ bản nhất. Cấp thứ hai là các giá trị tinh thần xác định việc phải làm, hành động của mình đúng hay sai, có mang lại lợi ích hay thiệt hại chung hay không.

Cấp thứ ba là nền tảng cho các hành động chính là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và xúc cảm ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá nhân trong doanh nghiệp. Mỗi cá nhân cần được lĩnh hội từng bước để đạt được mức độ cao nhất.

4. Các quy ước văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp

Văn hóa trong giao tiếp chào hỏi: chào hỏi là kỹ năng cơ bản trong môi trường làm việc, cách cúi đầu, cách bắt tay, xưng hô,… tất cả những điều đơn giản nhất trở thành quy tắc.

Văn hóa trong giới thiệu và tự giới thiệu: trong doanh nghiệp hay bất kỳ tổ chức nào, giới thiệu và tự giới thiệu đều được quy ước chung.

Văn hóa trong sử dụng danh thiếp: danh thiếp được trao đổi, sử dụng như một cách giới thiệu và tạo mối quan hệ.

Văn hóa nói chuyện: cách nói chuyện, ứng xử thể hiện văn hóa không chỉ của cá nhân người nói mà còn của cả doanh nghiệp.

Văn hóa ứng xử với khách hàng, đối tác: luôn lịch sự, tận tâm là văn hóa nhiều doanh nghiệp hướng tới.

Văn hóa ứng xử với đồng nghiệp: ứng xử với lãnh đạo, với đồng nghiệp,…thể hiện phù hợp và đúng đối tượng.

Văn hóa trong giao tiếp qua điện thoại: ứng xử qua điện thoại với đồng nghiệp, với khách hàng,… từng đối tượng sẽ có cách giao tiếp khác nhau tuy nhiên vẫn cần thể hiện sự tôn trọng, lịch sự với đối tác.

Văn hóa trong làm việc: vệ sinh nơi làm việc, tác phong làm việc, giờ giấc làm việc,…

Văn hóa xử lý, giải quyết công việc: ứng xử khi xử lý công việc, thời hạn xử lý công việc,…

Văn hóa hội họp: nghi thức hội họp, chỗ ngồi trong hội họp, giờ giấc hội họp, ứng xử trong cuộc họp,…

Văn hóa tổ chức hoạt động ngoài công việc: bố trí chỗ ngồi khi dự tiệc, văn hóa dự tiệc, cách thức ngồi trong xe ô tô, văn hóa khi đi du lịch,…

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp: chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, quan hệ nội bộ, quan hệ bên ngoài,…

5. Các yếu tố tạo nên văn hóa doanh nghiệp là gì?

Theo Peter Senge, “tầm nhìn là bức tranh trong tương lai mà bạn muốn tạo ra”. Khởi nguồn của một doanh nghiệp vĩ đại không thể không tồn tại một tầm nhìn lớn. Tầm nhìn giống như bản phác thảo những mục tiêu dài hạn trong tương lai của doanh nghiệp, từ đó vạch ra những hành động cần thực hiện hóa, định hướng rõ ràng từng bước đi trong tương lai.

Chính những điều đó góp phần tạo nên nền văn hóa doanh nghiệp tồn tại lâu đời từ thế hệ này qua thế hệ khác

.

Xây dựng tầm nhìn trong tương lai của doanh nghiệp

Ở các tổ chức phi lợi nhuận, tầm nhìn mang tính nhân văn, khác với các doanh nghiệp kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Hiệp hội Alzheimer có tầm nhìn “vì một thế giới không có bệnh Alzheimer” hay như Oxfam lại có tầm nhìn “vì một thế giới không có đói nghèo”.

Giá trị văn hoá doanh nghiệp là gì? Là tập hợp những điều hình thành nên văn hóa doanh nghiệp. Những giá trị vô hình và hữu hình ngày ngày tích lũy và tự lúc nào trở thành cốt lõi cho mọi hoạt động của doanh nghiệp, thành quy ước chung cho doanh nghiệp. Đó là phong cách làm việc, sự chuyên nghiệp, sáng tạo, tự do, tôn trọng,…. mọi thứ đơn thuần trở thành quy tắc hoạt động dẫn dắt đội ngũ nhân viên.

5.3. Yếu tố tạo nên văn hoá doanh nghiệp là gì? Chính là thực tiễn

Thực tiễn chính là hành động để nêu cao các giá trị mà doanh nghiệp đã nêu cao, những giá trị cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp. Nếu không đi vào thực tiễn, tất cả chỉ là trên khẩu hiệu, không được truyền bá tới nhân viên.

Hành động thực tiễn để từng bước hiện thực hóa văn hóa doanh nghiệp

Wegman’s – một công ty của New York đã nêu ra các giá trị sẽ thực hiện trong tương lai đó là “quan tâm” và “tôn trọng”, đồng thời vẽ ra một viễn cảnh “một công việc trong mơ”. Kết thúc quá trình, Wegman đã trở thành công ty đứng thứ 5 trong những công ty tốt nhất theo bảng xếp hạng của tạp chí Fortune bình chọn.

5.4. Con người

Con người trong văn hoá doanh nghiệp là gì? Là trung tâm của mọi hoạt động, giá trị con người là giá trị mà có qua bao nhiêu giai đoạn vẫn không thể thay đổi. Nhân tố con người quyết định tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi cũng như hiện thực hóa giá trị đó.

Trên thế giới, nhiều công ty nổi tiếng luôn đặt yếu tố con người lên hàng trung tâm, họ tuyển dụng khắt khe những nhân tố xuất sắc và đồng thời phải phù hợp với văn hóa của doanh nghiệp, có như thế mới có thể hòa nhập cũng như phát triển văn hóa đó.

Theo Charles Ellis (tác giả cuốn What it Takes: Seven Secrets of Success from the World’s Greatest Professional Firms) chỉ ra rằng: “Một công ty tốt là luôn có những kế hoạch tuyển dụng các nhân sự không chỉ giỏi mà còn phù hợp với công ty, vì chính họ sẽ góp phần tạo dựng nên một văn hóa doanh nghiệp”.

5.5. Sức mạnh của câu chuyện

Mỗi một doanh nghiệp ra đời đều có một câu chuyện riêng. Câu chuyện khởi nguồn đó nếu được chuyển hóa thành lịch sử, truyền bá tới đội ngũ nhân sự sẽ dần dần trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho mọi giai đoạn phát triển của công ty. Sức mạnh của câu chuyện chính là ở đó. Nó tạo nên động lực, giúp từng cá thể trong doanh nghiệp hiểu và giữ gìn, phát huy những thành tựu của thế hệ trước.

Sức mạnh của câu chuyện tạo nên cảm hứng cho nhân viên

Marshall Ganz từng là một phần quan trọng trong phong trào lao động nông nghiệp của Caesar Chavez và ông cũng giúp xây dựng nền tảng tổ chức cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Barack Obama năm 2008.

Coca-Cola đã truyền lại cho thế hệ sau từ những bài học lịch sử đáng giá, để giờ đây nó trở thành kỷ niệm di sản của chính doanh nghiệp. Hay đó là những câu chuyện đầy thú vị của Steve Jobs, chính nó đã ngày ngày tạo dựng nên Apple trở thành thương hiệu thành công nhất trên thế giới.

5.6. Yếu tố tạo nên văn hoá doanh nghiệp là gì? Chính là môi trường làm việc “mở”

Môi trường làm việc “mở” là xu hướng mới của nhiều doanh nghiệp và nhất là những startup hiện nay. Một môi trường linh hoạt, năng động, truyền cảm hứng sáng tạo, hăng say làm việc cho nhân viên sẽ là văn hóa mới cho thế hệ doanh nghiệp sau này.

Tạo môi trường làm việc “mở”- năng động, thân thiện, thoải mái

Thay vì làm việc trong môi trường công ty với bàn giấy phòng họp, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng cho phép nhân viên của mình có những buổi làm việc tự do tại nhà, tại quán cà phê, hay bất kỳ địa điểm nào tạo cảm hứng làm việc cho họ. Hiệu quả là vô cùng bất ngờ. Công việc không còn nhàm chán và bó buộc, nhân viên trở thành những “nghệ sĩ” trong công việc tưởng như đơn thuần hằng ngày.

Ở từng quốc gia hay từng doanh nghiệp sẽ có những nền văn hóa riêng mà ở đó mỗi doanh nghiệp cũng cần điều tiết để thích ứng. Điều quan trọng là sự phù hợp và tạo cảm giác thoải mái, hài lòng cho nhân viên của mình.

6. Làm thế nào để xây dựng văn hóa doanh nghiệp

Bước 1: Tìm hiểu môi trường và chiến lược doanh nghiệp trong tương lai

Giữa văn hóa và chiến lược kinh doanh luôn có mối liên hệ mật thiết. Là một nhà lãnh đạo, bạn phải tổng hòa được hai yếu tố này. Nắm được các chính sách hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai như hoạt động tài chính, chiến lược marketing, xây dựng nhân lực,.. để phác thảo khung văn hóa cho doanh nghiệp.

Bước 2: Xác định đâu là giá trị cốt lõi làm cơ sở cho thành công

Giá trị là tập hợp biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp, vậy xác định đâu là giá trị cốt lõi giúp doanh nghiệp định hướng phát triển sâu rộng nguồn giá trị đó. Giá trị cốt lõi chính là thước đo, tiêu chuẩn để điều chỉnh tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Bước 3: Xây dựng tầm nhìn mà doanh nghiệp hướng tới

Bức tranh viễn cảnh của doanh nghiệp trong tương lai chính là định hướng xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Từ điểm tựa tầm nhìn, doanh nghiệp có chiến lược cũng như hành động cụ thể để hiện thực hóa chúng.

Bước 4: Đánh giá hiện tại văn hóa doanh nghiệp là gì và xác định những yếu tố nào cần thay đổi

Linh hoạt trong mọi hoạt động là điều cần có, văn hóa doanh nghiệp không tồn tại bất di bất dịch trong mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Qua từng giai đoạn cũng như xu hướng của thị trường, văn hóa doanh nghiệp cần được điều tiết để theo sát hành vi thị trường mà không hề dập khuôn cũ kỹ.

Bước 5: Thu hẹp khoảng cách giữa những gì chúng ta hiện có và những gì chúng ta đang mong muốn

Đây chính là bước hiện thực hóa giá trị doanh nghiệp. Những điều phác thảo, những tìm hiểu và nghiên cứu đang là bức tranh viễn cảnh. Việc của chúng ta là hiện thực hóa chúng bằng hành động cụ thể.

Bước 6: Xác định vai trò của lãnh đạo trong việc dẫn dắt thay đổi văn hóa

Lãnh đạo chính là người tiên phong khởi nguồn cho việc xây dựng cũng như thay đổi văn hóa. Điều này thể hiện hiển nhiên qua từng lãnh đạo ở mỗi quốc gia. Mỗi nhà cầm quyền sẽ có phong cách lãnh đạo riêng, và đó chính là người dẫn dắt thay đổi nền văn hóa của doanh nghiệp đi theo hướng tích cực hay tiêu cực. Đó có thể là phong cách dân chủ tạo sự thoải mái làm việc cho nhân viên hay độc đoán, bạo lực của nhà lãnh đạo luôn muốn nắm giữ quyền ra quyết định.

Bước 7: Kế hoạch hành động

Kế hoạch là bản đề cương cụ thể hóa từng mục tiêu: thời gian, dấu mốc hành động, điều cần thực hiện, kết quả đặt ra, nguồn lực,… Những cụ thể chi tiết góp phần tạo nên văn hóa làm việc chuyên nghiệp.

Bước 8: Tạo động lực cho sự thay đổi

Mọi sự thay đổi tích cực đều sẽ đem lại hiệu quả vượt trội. Người lãnh đạo phải luôn khích lệ, động viên nhân viên thay đổi tích cực hơn để cống hiến hết mình cho công ty.

Bước 9: Khuyến khích động viên nhân viên trước những lợi ích của sự thay đổi văn hoá doanh nghiệp là gì?

Ông chủ Facebook – Mark Zuckerberg luôn khuyến khích nhân viên của mình hãy luôn sáng tạo, mạo hiểm, tư duy mới, phát huy tính năng hiện đại hơn cho mạng xã hội Facebook. Chính những yếu tố mới, bắt kịp thời đại sẽ tạo nên thành công cho mỗi doanh nghiệp.

Bước 10: Thiết lập hệ thống khen thưởng phù hợp với văn hoá doanh nghiệp

Các phần thưởng cho nhân viên là điều không thể thiếu trong việc tạo động lực, khen ngợi, trân trọng giá trị con người. Hệ thống khen thưởng phù hợp với nền văn hóa doanh nghiệp, không lạc lối, theo từng giai đoạn phát triển của công ty.

Bước 11: Đánh giá duy trì giá trị cốt lõi

Giá trị cốt lõi là điều không thể thay đổi qua mọi giai đoạn thời kỳ, chỉ có thể phát huy, điều tiết và thay đổi những giá trị nhỏ hợp thành giá trị cốt lõi. Luôn giữ tinh thần giữ gìn, duy trì và phát huy giá trị đó giúp doanh nghiệp tồn tại lâu dài.

Văn hóa doanh nghiệp là gì? Có lẽ tới mỗi một giai đoạn của lịch sử cũng như của doanh nghiệp, chúng ta sẽ có những câu trả lời riêng, song giá trị cốt lõi thì vẫn tồn tại bất di bất dịch với mỗi doanh nghiệp, dẫn dắt doanh nghiệp thành công trên mọi chặng đường.

Văn Hoá Dân Gian Và Văn Hoá Dân Tộc / 2023

Văn hoá dân gian và văn hoá dân tộc

Viết bởi Ngô Đức Thịnh

Thuật ngữ quốc tế “folklore (phôn-clo)” – Văn hóa dân gian, được W chúng tôi sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ “phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ… của người thời trước”. Từ đó đến nay, bộ môn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn: trường phái phôn-clo Anh – Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái phôn-clo Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp – I-ta-li-a) và trường phái phôn-clo Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “phôn-clo” đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là “văn học dân gian”, “văn nghệ dân gian” và nay là “văn hóa dân gian”. Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm phôn-clo từ các trường phái khác nhau trên thế giới.

Hiện nay ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau:

Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ… Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian

Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian…); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn…)

Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu…); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất)

Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục…), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân. Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp.

Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động. Vì vậy, khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng.

Văn hóa, trong đó có văn hóa dân gian là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định. Tuy nhiên, sau khi hình thành và định hình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư cách là “nền tảng tinh thần của xã hội”, là “động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội”.

Việt Nam là một trong các quốc gia Đông Nam Á có những nét văn hóa dân gian đặc trưng. Đó là truyền thống văn hóa truyền miệng, khác với Trung Quốc và Ấn Độ là truyền thống văn hóa chữ viết.

Văn hóa dân gian Việt Nam có truyền thống hình thành, và phát triển từ rất lâu đời, bắt nguồn từ xã hội nguyên thủy. Đến thời kỳ phong kiến tự chủ, cùng với sự ra đời và phát triển của văn hóa bác học, chuyên nghiệp, cung đình thì văn hóa dân gian vẫn tồn tại và giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của văn hóa cũng như xã hội Việt Nam, đặc biệt là với quần chúng lao động.

Truyền thống lịch sử và xã hội Việt Nam đã quy định những nét đặc trưng của văn hóa nước ta. Đó là văn hóa xóm làng trội hơn văn hóa đô thị, văn hóa truyền miệng lấn át văn hóa chữ nghĩa, ứng xử duy tình nặng hơn duy lý, chủ nghĩa yêu nước trở thành cái trục của hệ ý thức Việt Nam, nơi sản sinh và tích hợp các giá trị văn hóa Việt Nam…

Ngày nay, đất nước chúng ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cả nước đang phấn đấu thực hiện những mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Trong bối cảnh chung như vậy, một lần nữa chúng ta thấy nổi bật vai trò của văn hóa dân gian trong văn hóa dân tộc và trong đời sống xã hội.

1 – Văn hóa dân gian – cội nguồn của văn hóa dân tộc

Người ta thường nói văn hóa dân gian là “cội nguồn của văn hóa dân tộc” là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”. Điều đó hàm nghĩa văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc. Nói văn hóa dân gian là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ” còn là vì văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại dưới dạng nguyên hợp, các bộ phận còn gắn bó chặt chẽ với nhau. Theo Hoài Thanh thì “Từ thủa sơ sinh, nhạc, thơ, múa và kịch đều chung một mâm. Đến khi lớn lên thì các loại hình tách bạch ra, nhưng vẫn phải nương tựa vào nhau. Thơ dân gian tồn tại, phát triển và lưu truyền bằng hát đối đáp. Nếu bỏ nhạc thì múa khó thành. Mất sự tích văn học, mất làn điệu, mất múa thì chèo cũng mất. Tranh Đông Hồ cũng phải đi liền với hội tết”.

Có con người là có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa dân tộc. Văn hóa đó trước nhất là văn hóa dân gian, văn hóa của quần chúng nhân dân. Qua văn hóa dân gian, nhân dân lao động “tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình”. Các nền văn hóa khảo cổ thuộc xã hội nguyên thủy như Hòa Bình, Đông Sơn tuy không phải là văn hóa dân gian, nhưng lại là nguồn cội để hình thành văn hóa dân gian.

Đến thời kỳ Hùng Vương, thời kỳ hình thành nền văn hóa dân tộc, thì trước hết đó là văn hóa dân gian, văn hóa của nhân dân lao động. Họ “tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình” ở thời kỳ khởi nguồn của đất nước.

Thời kỳ Đại Việt (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX), cùng với sự phát triển xã hội, văn hóa dân tộc không còn thuần nhất mà bên cạnh văn hóa dân gian đã xuất hiện văn hóa chuyên nghiệp, bác học, cung đình. Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có mối quan hệ tác động qua lại: Văn hóa dân gian vẫn là cội nguồn nuôi dưỡng văn hóa bác học, chuyên nghiệp, cung đình; văn hóa bác học, chuyên nghiệp, văn hóa cung đình tác động trở lại, góp phần nâng cao và định hình văn hóa dân gian. Hiện tượng Truyện Kiều của Nguyễn Du, sách Nam dược thần diệu của Tuệ Tĩnh thể hiện sự tác động qua lại đó.

Từ quan điểm cho rằng văn hóa dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc thì trong hoạt động thực tiễn nhằm bảo tồn và chấn hưng văn hóa dân tộc chúng ta phải bắt đầu từ văn hóa dân gian.

2 -Văn hóa dân gian và bản sắc văn hóa dân tộc

Có thể hiểu bản sắc văn hóa như là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc dân tộc, và tới lượt nó, bản sắc dân tộc góp phần tạo nên bản lĩnh dân tộc, tức là sức sống và sự từng trải của dân tộc. Nhờ đó mà dân tộc có thể vững vàng và trường tồn trước thử thách khắc nghiệt của lịch sử.

Vậy, bản sắc văn hóa là gì? Đó là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa dân tộc, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước, với các giá trị đặc trưng mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn. Do vậy, muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hóa, với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy. Nếu bản sắc văn hóa là cái gì trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững thì các sắc thái biểu hiện của nó thường tương đối cụ thể, bộc lộ và khả biến hơn.

Từ quan niệm chung như vậy, chúng ta có thể xem xét các sắc thái văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng của bản sắc văn hóa Việt Nam, như là chủ nghĩa yêu nước, tính cộng đồng, tinh thần cởi mở, dễ hòa hợp, thích ứng trong giao lưu văn hóa…, tính duy tình (tình thương) trong các cư xử xã hội, tính thích ứng và hài hòa trong ứng xử với tự nhiên…

Một thí dụ về một nét bản sắc của văn hóa và của con người Việt Nam, đó là tính cởi mở, năng tiếp nhận và dễ hòa nhập để từ đó bản địa hóa các nhân tố ngoại lai. Cốt cách này của văn hóa và con người Việt Nam được tạo nên có lẽ là do “số phận” lịch sử của dân tộc và đất nước Việt Nam nằm ở ngã tư con đường giao lưu và hội nhập chủng tộc và văn hóa. Trong các giai đoạn phát triển kế tiếp của ba nền văn hóa: Đông Sơn – Đại Việt và Việt Nam, thì có hai giai đoạn chuyển tiếp văn hóa mang tính bản lề: giai đoạn Bắc thuộc (từ thế kỷ I đến thế kỷ X), giao tiếp giữa văn hóa Đông Sơn với văn hóa Hán để sau đó ra đời văn hóa Đại Việt và giai đoạn Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX đến năm 1945), giao tiếp giữa văn minh Đại Việt với văn hóa phương Tây mà đại diện là văn hóa Pháp, từ đó tạo nên sự phong phú của nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Từ năm 1945 đến nay, văn hóa Việt Nam còn mở rộng giao lưu với văn hóa Nga, Mỹ, Trung Quốc và nhiều nước khác trên thế giới. Trong điều kiện giao lưu văn hóa sống động như vậy, đã tạo nên ở con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam một thái độ ứng xử không đóng kín, chối từ, mà cởi mở, tiếp nhận, hòa nhập. Thái độ hiếu học của con người Việt Nam là để tự cường vươn lên, để đổi đời, để sánh vai với bạn bè năm châu. Khả năng tiếp nhận cái của người khác, biến đổi nó (bản địa hóa) thành cái của mình, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình, là bản sắc và sức mạnh của con người Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Điều này tạo ra tính mềm dẻo, năng động, dễ thích nghi của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều đó cũng có mặt trái của nó thể hiện ở sự nhiễu loạn, tính tùy tiện, nửa vời trong ứng xử và tiếp thu văn hóa của con người Việt Nam.

Khi nói đến bản sắc văn hóa dân tộc, một mặt, chúng ta không thể quy tất cả về văn hóa dân gian, tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận vai trò hết sức to lớn của văn hóa dân gian đối với việc hình thành bản sắc văn hóa dân tộc. Trước hết, sự ra đời và định hình của văn hóa dân gian gắn với những giai đoạn sớm nhất của lịch sử dân tộc. Đó là thời kỳ văn hóa Đông Sơn – Hùng Vương dựng nước, thời kỳ mở đầu của lịch sử dân tộc, lịch sử quốc gia và lịch sử văn hóa Việt Nam, thời kỳ “nhất thành” để sau đó “vạn biến”. Văn hóa dân gian là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”, tức văn hóa khởi nguồn, sản sinh và nuôi dưỡng các hình thức phát triển cao sau này, như văn hóa chuyên nghiệp, bác học, cung đình. Văn hóa dân gian còn là văn hóa của quần chúng lao động, mang tính bản địa, tính nội sinh cao. Tất cả các nhân tố kể trên khiến cho văn hóa dân gian hàm chứa và thể hiện tính bản sắc cao của văn hóa dân tộc.

Nếu cho rằng văn hóa dân gian chứa đựng và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, thì trong thực tiễn việc bảo tồn, làm giầu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trước nhất phải từ việc bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hóa dân gian.

3 – Văn hóa dân gian – hệ giá trị và biểu tượng của văn hóa dân tộc

Trong văn hóa học giá trị và biểu tượng làm nên những cái cơ bản của văn hóa, nó là nội hàm của khái niệm văn hóa. Nói cách khác, văn hóa không phải là tất cả những gì mà con người tạo ra, mà chỉ những cái đã được chắt lọc, kết tinh, thăng hoa thành các giá trị, và biểu tượng.

Giá trị và biểu tượng cũng là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Có thể nói, giá trị kết tinh và làm nên cái cốt lõi của biểu tượng. Hay nói cách khác, trong mỗi biểu tượng người ta đều tìm thấy giá trị hay hệ thống các giá trị văn hóa. Thí dụ, trong biểu tượng Quốc tổ các Vua Hùng ta thấy các giá trị và tâm thức về cội nguồn và cố kết cộng đồng dân tộc, một trong những nét đặc trưng của bản sắc văn hóa Việt Nam.

Các biểu tượng của văn hóa chủ yếu gắn với văn hóa dân gian. Hệ biểu tượng này hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài và quy định những hành vi ứng xử của cộng đồng.

Ta có thể nói tới biểu tượng “đất nước” trong văn hóa Việt Nam vừa mang tính nội sinh: “đất” và “nước” hai yếu tố cơ bản tạo nên canh tác lúa của cư dân nông nghiệp; vừa mang tính ngoại sinh: “quốc gia” mô hình của văn minh Trung Hoa.

Quốc tổ các Vua Hùng – biểu tượng về cội nguồn, về tâm thức “uống nước nhớ nguồn”, mà căn cỗi của nó là tục thờ cúng tổ tiên ở mỗi gia tộc, dòng họ. Biểu tượng “tứ bất tử” (bốn vị thần bất tử): Chử Đạo tổ, Thánh Tản Viên, Thánh Gióng, Thánh mẫu Liễu Hạnh, đó là hệ ý thức nhân sinh Việt Nam hình thành do đòi hỏi xây dựng và củng cố quốc gia phong kiến tự chủ, nhất là từ thời Lê…

Văn hóa dân gian với hệ giá trị và biểu tượng của nó đã làm nên cái gọi là tâm thức dân gian, tâm hồn dân tộc. Những cái đó, tới lượt nó quy định các hành vi, tình cảm, hoài vọng của con người. Bởi vậy, để nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm dân tộc, xây dựng và củng cố các biểu tượng của dân tộc, chúng ta cũng phải bắt đầu từ Văn hóa dân gian.

Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa, hơn lúc nào hết chúng ta phải bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc – coi đó như là căn cước của chúng ta hội nhập và giao lưu quốc tế. Cần nhận thức rõ vai trò của văn hóa dân gian với tư cách là cội nguồn, bản sắc, là hệ giá trị và biểu tượng của văn hóa dân tộc.

Nguồn: chúng tôi

Văn Phòng Hđnd Cấp Tỉnh Có Chức Năng, Nhiệm Vụ Gì? / 2023

Theo đó, Văn phòng HĐND cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND và đại biểu HĐND cấp tỉnh. Văn phòng HĐND cấp tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Văn phòng HĐND cấp tỉnh có nhiệm vụ giúp HĐND, Thường trực HĐND và các Ban của HĐND cấp tỉnh xây dựng chương trình làm việc, kế hoạch hoạt động hàng tháng, hàng quý, 6 tháng và cả năm; tổ chức phục vụ việc thực hiện chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt.

Văn phòng HĐND cấp tỉnh phục vụ Thường trực HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch điều hành việc chung của HĐND cấp tỉnh; điều hòa, phối hợp hoạt động các Ban của HĐND cấp tỉnh; bảo đảm việc thực hiện quy chế hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND cấp tỉnh, nội quy kỳ họp HĐND; giúp Thường trực HĐND giữ mối liên hệ với Tổ đại biểu và đại biểu HĐND cấp tỉnh; phục vụ HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND cấp tỉnh trong hoạt động đối ngoại.

Văn phòng HĐND cấp tỉnh còn có nhiệm vụ tham mưu, phục vụ Thường trực HĐND, Ban của HĐND cấp tỉnh xây dựng báo cáo công tác; tham mưu, phục vụ Ban của HĐND thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án; giúp thường trực HĐND hoàn thiện các dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh; đồng thời, tham mưu, phục vụ HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND cấp tỉnh trong hoạt động giám sát; khảo sát, theo dõi, tổng hợp, đôn đốc cơ quan, tổ chức, các nhân thực hiện nghị quyết về giám sát.

Bên cạnh đó, Văn phòng HĐND cấp tỉnh còn phục vụ Thường trực HĐND và đại biểu HĐND cấp tỉnh tiếp công dân; tiếp nhận, tham mưu xử lý kiến nghị, đơn thư khiếu nại, tố cáo của cơ quan, tổ chức, công dân gửi đến HĐND, Thường trực HĐND cấp tỉnh; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cơ quan, tổ chức, công dân…

Cơ cấu tổ chức Văn phòng HĐND cấp tỉnh gồm 2 phòng: Phòng Tổng hợp và Phòng Hành chính – Tổ chức – Quản trị.

Trung Tâm Văn Hoá Tỉnh / 2023

+ Trung tâm Văn hóa tỉnh là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có chức năng thực hiện các hoạt động về văn hóa, triển lãm trên địa bàn tỉnh. Chịu sự quản lý toàn diện của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Cục Văn hóa cơ sở trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

+ Trung tâm Văn hóa tỉnh có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, có trụ sở, phương tiện, biên chế, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp theo quy định của pháp luật; có trách nhiệm quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính, tài sản được giao; thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật hiện hành, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh và phân cấp của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

– Nhiệm vụ, quyền hạn:

+ Hướng dẫn nghiệp vụ hoạt động văn hóa, tuyên truyền ở cơ sở.

+ Tổ chức thực hiện các cuộc triển lãm về lĩnh vực văn hóa, kinh tế xã hội cấp tỉnh.

+ Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ văn hóa, đội viên đội Tuyên truyền lưu động các huyện, thành phố.

+ Thực hiện bồi dưỡng cho cán bộ quản lý văn hóa, hạt nhân văn nghệ quần chúng cơ sở, phát huy khả năng các nghệ nhân trong tỉnh. Trực tiếp thực hiện công tác tuyên truyền cổ động phục vụ nhiệm vụ chính trị.

+ Tổ chức hoạt động văn nghệ quần chúng các loại hình câu lạc bộ, tham gia các hội thi, hội diễn ở trung ương và địa phương.

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở giao và theo quy định của pháp luật.

– Cơ cấu tổ chức:

+ Lãnh đạo Trung tâm gồm có: Giám đốc và không quá 02 Phó Giám đốc.

+ Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ, gồm: Phòng Hành chính – Tổng hợp, Phòng Nghiệp vụ, Đội tuyên truyền lưu động.