Top 16 # Xem Nhiều Nhất Văn Hóa Có Chức Năng Cơ Bản Gì / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Chức Năng Và Nội Dung Cơ Bản Của Văn Hóa Doanh Nghiệp / 2023

Văn hóa doanh nghiệp là gì? Đó là vấn đề quan trọng cần thống nhất. Đã có khá nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp (VHDN). Có thể nêu một số khái niệm thường gặp như sau:

Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia Pháp vè doanh nghiệp vừa và nhỏ: “VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. Theo ILO, “VHDN là sự tổng hợp đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, các thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”

Theo Edgar H.Schein, chuyên gia nghiên cứu các tổ chức, “VHDN (hay văn hoá công ty) là tổng hợp những quan niệm chung mà thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”.

Theo các tài liệu nghiên cứu và giảng dạy ở nước ta, VHDN là trạng thái tinh thần và vật chất đặc sắc của một doanh nghiệp được tạo nên bởi hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một điều kiện lịch sử xã hội nhất định.

Những khái niệm trên có sự khác nhau nhất định về cách diễn đạt và phạm vi biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp. Song, điểm chung nhất, các khái niệm đều khẳng định VHDN thuộc phạm trù tinh thần, thể hiện sự phát triển ở bậc cao hơn của doanh nghiệp.

VHDN được hình thành trong một quá trình, do chủ doanh nghiệp chủ trì, do đó nó phát huy tác dụng đối với hoạt động của toàn bộ chúng tôi tự trở thành hệ thống quy phạm và giá trị tiêu chuẩn mà không cá nhân nào trong DN dám đi ngược lại. Đến lượt nó, khi đã hình thành, VHDN làm cho DN có hướng phát triển phù hợp với mục tiêu đã định…Chức năng chỉ đạo của VHDN được thể hiện ở chỗ, nó có tác dụng chỉ đạo đối với hành động và tư tưởng của từng cá nhân trong DN. Đồng thời, nó cũng có tác dụng chỉ đạo đối với giá trị và hoạt động của toàn bộ DN.

VHDN tạo ra những ràng buộc mang tính tự giác trong tư tưởng, tâm lý và hành động của từng thành viên trong DN, nó không mang tính pháp lệnh như các quy định hành chính.

Sau khi được cộng đồng trong DN tự giác chấp nhận, VHDN trở thành chất kết dính, tạo ra khối đoàn kết nhất trí trong DN. Nó trở thành động lực giúp từng cá nhân tham gia vào hoạt động của DN . . .

Trọng tâm của VHDN là coi trọng người tài, coi công việc quản lý là trọng điểm. Điều đó, giúp cho nhân viên có tinh thần tự giác, chí tiến thủ; đáp ứng được nhiều nhu cầu và có khả năng điều chỉnh những nhu câu không hợp lý của nhân viên.

Khi một DN đã hình thành một nền văn hoá của mình, nó sẽ có ảnh hưởng lớn tới mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài doanh nghiệp. Hơn nữa, thông qua phương tiện thông tin đại chúng và các quan hệ cá nhân, VHDN được truyền bá rộng rãi, là nhân tố quan trọng để xây dựng thương hiệu của DN.

Những nội dung cơ bản

VHDN không tự nó hình thành. Để có được VHDN, chủ doanh nghiệp và những người lao động trong doanh nghiệp phải kiên trì, bền bỉ trong một thời gian không ngắn. Thực tiễn ở các nước phát triển cho thấy, việc xây dựng VHDN bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

Quan niệm giá trị của DN hiện đại là yếu tố quan trọng nhất để xây dựng VHDN. Nó lạo ra niềm tin và hướng dẫn hành động của DN.Niềm tin là tiêu chuẩn của giá trị. Sự hình thành quan niệm giá trị của DN bao gồm những yếu tố sau:

a) Tính thời đại: Tính thời đại có tác động rất rõ tới sự hình thành quan niệm giá trị của DN. Chẳng hạn, trong giai đoạn sơ khai của kinh tế thị trường, giá trị DN, giá trị con người được đo bằng phương tiện duy nhất là tiền. Ngược lại, khi kinh tế thị trường đã phát triển ở trình độ cao, giá trị DN, giá trị con người = sự phát triển bền vững + uy tín + sự tôn vinh + đãi ngộ vật chất.

b) Tính kinh tế: quan niệm giá trị của DN phải bao hàm tính kinh tế là vì DN là tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh. Không tạo ra lợi nhuận sẽ không thể xây dựng được VHDN. Tuy nhiên, tính kinh tế trong VHDN không thể hiện trực tiếp, thường ẩn sau những nội dung và hình thức khác.

c) Trách nhiệm xã hội: Trách nhiệm xã hội của DN càng ngày càng trở thành tiêu chuẩn quan trọng để hình thành giá trị của DN. Bởi lẽ, DN là một thành viên trong xã hội và phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống; trách nhiệm hỗ trợ cộng đồng tôn trọng đạo đức kinh doanh . . .

Tinh thần DN là niềm tin và sự theo đuổi được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh lâu dài; là tính chất, nhiệm vụ, tôn chỉ, yêu cầu thời đại và phương hướng phát triển cửa chúng tôi thần doanh nghiệp thường thể hiện qua Slogan, Long. . . và phải thỏa mãn những yêu cầu sau: Có đặc trưng riêng biệt của DN;Phù hợp với đặc điểm của thời đại và dân tộc;Thề hiện được quan niệm ve giá trị của DN;Có ý nghĩa sâu sắc Thuận tiện khi lưu truyền và lưu trữ

Xây dựng phương thức và chế độ quản lý

Phương thức và chế độ quản lý là nhân tố quan trọng để xây dựng VHDN. Với một DN hiện đại, khi xây dựng phương thức và chế độ quản lý cần chú trọng giải quyết hàng loạt vấn đề như: Mối quan hệ giữa những người đồng sở hữu, Chế độ lãnh đạo của DN, bao gồm: cơ cấu tổ chức lãnh đạo, hình thức lãnh đạo, phương thức lãnh đạo, các quan hệ ngang – dọc trong lãnh đạo . . . Xác định hợp lý cơ cấu DN, trong đó, đặc biệt quan trọng là phương thức lãnh đạo trong cơ cấu. Thông thường, với phương thức lãnh đạo tập trung, chuyên quyền sự hình thành VHDN bị hạn chế rất nhiều. Ngược lại, phương thức lãnh đạo phân quyền sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự hình thành VHDN. Chính sách quản lý của DN là những quy định trong hoạt động quản lý về nhân sự, sản xuất, kinh doanh, đầu tư cũng ảnh hưởng lớn tới sự hình thành VHDN. Bởi lẽ, tính chuẩn mực của Chính sách quản lý DN trong một thời gian dài sẽ tạo thành thói quen của nhân viên, tạo ra sự gắn kết giữa nhân viên và DN. Ví dụ: Chính sách làm việc trọn đời trong các DN Nhật Bản . . . .

Sự thể hiện trong hành động của nhân viên.

Văn hoá DN phải được thể hiện trong hành động của mọi nhân viên. Hành động của nhân viên có: hành động tập thể và hành động của cá thể. Để VHDN thể hiện trong hành động của từng nhân viên cần giải quyết 5 vấn đề.

a) Làm thay đổi quan niệm giá trị của cá nhân. Quan niệm giá trị của cá nhân hình thành từ rất sớm và tương đối ổn định. Vì vậy, làm thay đổi quan niệm giá trị của cá nhân là nội dung rất quan trọng trong việc xây dựng VHDN. Làm thay đổi quan niệm giá trị của cá nhân phải qua từng bước, chi tiết cho từng cá nhân và có thời gian nhất định.

b) Đáp ứng đến mức cao nhất và hợp lý các nhu cầu của cá nhân. Các cá nhân khác nhau luôn luôn có những nhu cầu khác nhau do đó đế xây dựng VHDN cần tìm hiểu kỹ nhu cầu cá nhân và đáp ứng trong phạm vi và mức độ hợp lý.

c) Xây dựng chuẩn mực hành động: Hành động của các cá nhân luôn luôn có xu hướng tự do, tự phát. Vì vậy, để VHDN đi vào từng hành động của cá nhân, phải xây dựng các chuẩn mực của hành động. Các chuẩn mực là cưỡng bức trong giai đoạn đầu, sau đó sẽ trở thành ý thức tự giác của mọi người.

d) Thực hiện những hoạt động khuyến khích phù hợp: Để các chuẩn mực hành động nhanh chóng trở thành ý thức tự giác của nhân viên, cần có những hoạt động khuyến khích phù hợp. Có thể bàng vật chất và tinh thần như: Khen thưởng, biểu dương . . .

e) Nâng cao trình độ văn hoá của nhân viên: Mọi hành vi của cá nhân phụ thuộc vào trình độ văn hoá của cá nhân. Trình độ văn hoá không chỉ là học vấn mà bao gồm cả nhận thức xã hội. Vì vậy, để xây dựng VHDN phải chú ý nâng cao trình độ văn hoá của nhân viên ngay từ khi tuyển dụng và trong quá trình làm việc. Thực tiễn phát triển các DN trong lịch sử cho thấy, không thể xây dựng được VHDN trong một cộng đồng mà trình độ văn hóa của nhân viên quá thấp.

Tạo lập giá trị văn hoá vật chất của DN

Giá trị văn hoá vật chất của DN bao gồm: Giá trị văn hoá nằm trong các cơ sở vật chất của DN giá trị văn hoá nằm trong sản phẩm của DN và Hình tượng của DN.

Giá trị văn hoá của cơ sở vật chất của DN bao gồm: loại hình kiến trúc trang trí màu sác; cấu trúc không gian của nhà, xưởng, độ sạch sẽ của môi trường, cách bài trí các đồ vật trong phòng làm việc, trang phục của nhân viên; cách bố trí các dây chuyền sản xuất; tổ chức ca sản xuất thiết bị bảo hiểm, bảo vệ, địa điểm vui chơi, giải trí, hoạt động thể thao, nhà ăn, thư viện, trường học dành cho nhân viên . . .

Giá trị văn hoá trong sản phẩm của DN gồm: giá trị sử dụng của sản phẩm cao hay thấp, sự thừa nhận và đánh giá của người tiêu dùng đặc điểm bên ngoài của SP, chủ yếu là kiểu dáng, thương hiệu, nhãn mác, bao bì đóng gói và tầng mở rộng của SP chỉ sự vượt trội của SP so với những SP cùng loại bao gồm: phương thức bán hàng, dịch vụ sau bán hàng.

Hình tượng doanh nghiệp bao gồm: Hình tượng hữu hình là những hình ảnh công chúng có thể cảm nhận trực quan về DN và hình tượng vô hình là danh tiếng của DN được tạo lập trên thị trường, bao gồm cả danh tiếng của chủ DN. Hình tượng doanh nghiệp có vai trò quan trọng nhằm tạo ra “hiệu ứng ban đầu để cảm nhận được VHDN”.

Những thách thức

Sau một thời kỳ không ngắn của quá trình đổi mới, đội ngũ doanh nhân và cộng đồng doanh nghiệp Việt đã hình thành. Bên cạnh rất nhiều lợi thế để phát triển, phải dũng cảm để thừa nhận rằng, các DN Việt hiện nay đông nhưng chưa mạnh. Đại bộ phận doanh nhân Việt Nam xuất thân từ nền “văn minh lúa nước” quản lý DN theo nguyên tắc gia đình, hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng kinh nghiệm…Một môi trường như vậy chưa cho phép việc xây dựng VHDN trở thành hiện thực. Bám sát những nội dung cơ bản của việc xây dựng VHDN đã trình bày trên, để xây dựng VHDN, các DN Việt hiện nay đứng trước những thách thức vô cùng lớn nhưng không thể không vượt qua. Trong số đó, phải kể đến những thách thức sau đây:

– Sự thiếu minh bạch trong quản lý . Sự thiếu minh bạch trong các DN hiện nay là hiện tượng không thể phủ nhận. Nguyên nhân sâu xa của nó là sự thiếu minh bạch trong quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Mặc dù vậy, các DN cần thiết lập một cơ chế quản lý bảo đảm sự minh bạch cao nhất trong nội bộ DN mình. Đó là nhân tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định để hoạch định một chiến lược xây dựng VHDN.

– Phương thức gia đình trị trong quản lý DN. Đây là phương thức quản lý tồn tại tất yếu trong giai đoạn đầu hình thành DN. Giữa phương thức gia đình trị với việc xây dựng VHDN có quan hệ như nước với lửa. Do đó, có thể khẳng định rằng, không thể bàn đến việc xây dựng VHDN với những nội dung khoa học của nó nếu phương thức gia đình trị vẫn còn tồn tại trong DN.

– Sự yếu kém về năng lực quản trị của chủ DN. Đây cũng là hạn chế tất yếu của các DN Việt . Sự yếu kém về năng lực quản trị lại là nguyên nhân dân đến những hạn chế khác như đi tìm sự “bảo kê” cho hoạt động kinh doanh; sử dụng các “tiểu xảo” để “đánh quả”, “chụp giật” . . . . VHDN không thể tồn tại song song với những hành vi đó . . .

Có thể nêu và phân tích nhiều thách thức khác nữa đối với các DN

Việt trong việc xây dựng

VHDN, song ba thách thức đã nêu là cơ bản và quan trọng nhất. Vượt qua được ba thách thức đó là điều kiện tiền đề quan trọng nhất để có thể bắt tay vào việc xây dựng VHDN – nhân tố quyết định đối với sự phát triền bền vững của DN.

van.vn – chuyên trang đánh giá, tư vấn và tin tức về công nghệ, sản phẩm hàng đầu Việt Nam.

Link gốc: http://doanhnhan.net/chuc-nang-va-noi-dung-co-ban-cua-van-hoa-doanh-nghiep-3404.html

Chuyển Hóa Cơ Bản Là Gì? Có Ý Nghĩa Quan Trọng Như Thế Nào? / 2023

Chủ đề :

Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

CÂU HỎI KHÁC

Ý nào là đơn vị chức năng của cơ thể?

Mô biểu bì có đặc điểm chung là gì?

Máu được xếp vào loại mô nào?

Trong các khớp sau: khớp ngón tay, khớp gối, khớp sọ, khớp đốt sống thắt lưng, khớp khủy tay. Có bao nhiêu khớp động?

Môi trường trong của cơ thể gồm những thành phần nào?

Loại bạch cầu tham gia vào quá trình thực bào là gì?

Là tế bào nào không có nhân, lõm 2 mặt giúp cơ thể vận chuyển và trao đổi O2, CO2?

Máu từ phổi về và tới các cơ quan có màu đỏ tươi là do đâu?

Các giai đoạn chủ yếu của quá trình hô hấp là những giai đoạn nào?

Ở miệng, dạ dày và ruột non hoạt động biến đổi thức ăn chủ yếu lần lượt là những biến đổi nào?

Tại sao nói cơ thể người là một khối thống nhất?

Hệ cơ và bộ xương tạo ra những khoảng trống chứa các cơ quan bên trong, đó là những khoang nào?

Các chất hữu cơ cơ bản cấu tạo nên tế bào gồm những chất nào?

Các thành phần chủ yếu trong tế bào là gì?

Chức năng của chất tế bào là gì?

Chức năng của mô thần kinh là gì?

Các nơron thần kinh thuộc mô gì?

Chức năng của mô biểu bì là gì?

Thí nghiệm 1: Ngâm xương trong dung dịch axit 15 phút; thí nghiệm 2: đốt xương đùi ếch. Mục đích của thí nghiệm đó là gì?

Chức năng của sụn đầu xương là gì?

Sự dẫn truyền xung thần kinh theo chiều nào?

Có hai vòng tuần hoàn ở người là những vòng nào?

Đặc điểm nào không phải của tế bào hồng cầu?

Các biện pháp nào sau đây không nên áp dụng khi ta bị mỏi cơ do vừa chạy bền?

Xương có tính đàn hồi và rắn chắc vì sao?

Có 4 bạn nhóm máu khác nhau và có thể truyền máu theo cách sau Oanh cho máu được Bình và An. Công nhận máu được của An. Nhóm máu lần lượt của Công, An, Oanh, Bình lần lượt là gì?

Một ng­ời sờ phải vật nóng nên rụt tay lại, sau đó thấy tay mát dễ chịu hơn”. Hệ thần kinh của người đó đã thực hiện hoạt động gì?

Phản xạ là gì ? Phân tích một ví dụ về phản xạ?

Chuyển hóa cơ bản là gì? Có ý nghĩa quan trọng như thế nào?

Hoạt động tiêu hóa ở khoang miệng diễn ra như thế nào ? Vì sao nhai cơm lâu trong miệng thấy ngọt?

Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Là Gì ? / 2023

Chức năng của nhà văn hóa

Chức năng

a) Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, sự kiện, điện ảnh; tổ chức các hoạt động tuyên truyền thông qua Bản tin Văn hóa Quảng Nam.

b) Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác Văn hóa cơ sở; phát triển bồi dưỡng năng khiếu trên lĩnh vực văn hoá, văn nghệ.

c) Tổ chức các hoạt động dịch vụ và kinh doanh về văn hóa; đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hóa, văn nghệ nhằm nâng cao dân trí, phục vụ nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa , giải trí của nhân dân và các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh.

Nhiệm vụ, quyền hạn

1. Căn cứ chương trình phát triển kinh tế – xã hội hàng năm của Tỉnh để xây dựng kế hoạch hoạt động trình Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch sau khi được phê duyệt.

2. Tổ chức các hoạt động thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tình hình hoạt động của các cơ quan, tổ chức trên địa bàn trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh.

3. Tổ chức các hoạt động sự nghiệp văn hóa phục vụ quần chúng về văn hóa văn nghệ, tuyên truyền cổ động trực quan, triển lãm, giải trí, chiếu phim, Câu lạc bộ, Hội, Đội, Nhóm sở thích, lớp năng khiếu nghệ thuật.

4. Tổ chức các cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn quần chúng và hoạt động văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp của tỉnh.

5. Hướng dẫn phong trào văn hóa – văn nghệ và hoạt động Trung tâm Văn hóa xã, phường, thị trấn cho những người làm công tác văn hóa, thông tin cơ sở.

6. Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền viên.

7. Sưu tầm, bảo tồn và hướng dẫn các loại hình nghệ thuật dân gian, các hoạt động văn hóa truyền thống.

8. Liên kết, hợp tác kinh doanh, tổ chức các hoạt động tác nghiệp về chuyên môn; cung ứng các dịch vụ, và kinh doanh về văn hóa, thông tin, biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động dịch vụ văn hóa khác đáp ứng nhu cầu của khách hàng và các tầng lớp nhân dân, đảm bảo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của Trung tâm.

9. Hợp tác, giao lưu, trao đổi chuyên môn nghiệp vụ và các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thông tin với các đơn vị, tổ chức trong và ngoài tỉnh.

10. Tổ chức và phát hành Bản tin Văn hóa Quảng Nam; đồng thời phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với Ban Biên tập Trang thông tin điện tử (Website) của Sở trong công tác thông tin, tuyên truyền các hoạt động của ngành trên địa bàn.

11. Tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất được giao, đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ; đồng thời tạo điều kiện và cơ chế ưu tiên cho các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị tham gia cung cấp các dịch vụ tại Trung tâm theo hướng chuyên nghiệp, đảm bảo chất lượng và theo quy định pháp luật.

12. Tổ chức quản lý, khai thác sử dụng tài sản công tại Trung tâm đúng quy định, có hiệu quả, tạo nguồn thu bảo đảm cho hoạt động sự nghiệp, giảm nhận hỗ trợ từ ngân sách, tự chủ một phần về tài chính và hướng đến tự chủ hoàn toàn về tài chính. Ưu tiên bố trí sử dụng kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ cho thực hiện nhiệm vụ chính trị, phối hợp hỗ trợ các hoạt động phong trào của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức hội quần chúng trên địa bàn.

13. Quản lý cán bộ, viên chức, người lao động; quản lý tài chính, tài sản của Trung tâm theo quy định của pháp luật.

14. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao.

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHÁP LUẬT THIÊN MINH

Add: Tòa AQUA 1 109OT12B Vinhomes Golden River, số 2 Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1

Tel: 0839 400 004 – 0836 400 004

Trân trọng !

Về Ý Nghĩa Ba Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học / 2023

Khi nói về ý nghĩa của văn học, người ta nhắc nhở tới ba chức năng cơ bản: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ. Anh (chị) hiểu gì về ba chức năng đó? Thử phân tích một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12 để làm sáng tỏ những kiến giải đó.

BÀI LÀM

1.Nhập đề: Văn học là một sáng tạo của con người trong cuộc sống. Tác phẩm văn học từ xưa nay luôn luôn thể hiện và đánh dấu nền văn học của nhân loại. Thế nhưng, nhiều nhà văn, đứng trước những hoàn cảnh nghiệt ngã, lại băn khoăn tự hỏi liệu một tác phẩm văn chương có ích lợi gì khi người ta chết đói? Nói như vậy là một cách đặt lại vấn đề chức năng của văn học. Cho nên, những nhà lý luận văn học vẫn tiếp tục nghiên cứu về vai trò và tác dụng của văn chương. Dù công cuộc nghiên cứu ấy chưa dừng lại, nhưng ít nhất, người ta cũng thừa nhận rằng văn học có nhiều chức năng, trong đó cơ bản là: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ. Xác định được ý nghĩa của những khái niệm đó và phân tích một tác phẩm cụ thể để minh họa, thiết tưởng đó cũng là một cách thiết thức để tìm hiểu vai trò của văn học.

2. Giải quyết vấn đề: Chức năng nhận thức:

a) Thế nào là chức năng nhận thức?

Đi từ chức năng cung cấp kiến thức: con người, trong quá trình phát triển, cần rất nhiều kiến thức: về địa lí, về lịch sử, về toán học, về vật lý, về sinh học, về xã hội, về cuộc sông, về con người. Nhìn chung, có hai loại kiến thức: kiến thức về khoa học tự nhiên và kiến thức về khoa học xã hội. Văn học cung cấp cho ta những kiến thức thuộc loại thứ hai.

Đến chức năng nhận thức: kiến thức là cái gì còn nằm ở dạng khách quan, còn nhận thức là có tác động chủ quan. Khi vẽ nên bức tranh hai người đánh lộn, đó là thể hiện khách quan, nhưng khi vẽ nên cảnh đó để trẻ em thấy đánh lộn là xấu, không nên thì đó là tác động chủ quan. Từ đó có thể thấy chức năng nhận thức tức là chức năng giúp người ta phân biệt cái đúng, cái sai, cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Như thế, rõ ràng là văn học không phải chỉ cung cấp cho ta những kiến thức mà qua những kiến thức tác phẩm còn hướng người đọc tới nhận thức nhất định.

Tác phẩm văn học đem tới cho người đọc những kiến thức nhất định. Nhưng đấy không phải là mục đích cuối cùng của nhà văn. Qua một tiểu thuyết, ta có thể biết được vào thời kỳ nào đó, người ta trồng trọt như thế, kiến thức ra sao, cưới hỏi có giống hiện nay hay không. Nhưng nhà văn không ngừng lại ở đó, nhà văn muốn qua những kiến thức đó, hướng người đọc tới những nhận thức về con người, về cuộc sống.

b) Phân tích: Lấy một bài thơ quen thuộc – bài Tây Tiến của Quang Dũng để làm sáng tỏ điều đó. Lịch sử có thể miêu tả những trận đánh, nêu lên những đặc điểm của quân đội ta thời kỳ kháng chiến chống Pháp, về ưu điểm cũng như về khuyết điểm.

Sử học có thể mô tả con đường hành quân của đoàn binh Tây Tiến qua những địa danh cụ thể xác thực. Nhưng tuyệt nhiên, sử học không bao giờ ghi lại một cách sinh động, chân thực và hình tượng cảnh đoàn quân như thế này:

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Nhà thơ, qua những hình ảnh sống động ấy, giúp cho ta nhận thức được con người hành quân hết sức gian nan, và cao hơn nữa, giúp ta nhận thức rằng những người chiến sĩ trong đoàn quân Tây Tiến là những thanh niên giàu lòng hy sinh và có tinh thần chịu đựng gian khổ một cách đáng khâm phục:

Những cái gì cho họ có khả năng chịu đựng như vậy? Bài thơ tiếp tục đẩy người đọc đi tới một hướng nhận định mới: chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến là những con người tiêu biểu của một thế hệ thanh niên Việt Nam có lòng yêu nước sâu sắc:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Chính vì nhận thức được như vậy nên có người đã nhìn thấy “bức chân dung tiêu biểu rất oai hùng của những chiến sĩ vô danh dám xả thân vì nghĩa lớn”.

3. Chức năng thẩm mỹ:

a) Thế nào là chức năng thẩm mỹ?

Chức năng thẩm mỹ tức là chức năng về cái đẹp. Bản chất của con người là yêu cái đẹp, thích mình đẹp và hướng về cái đẹp. Văn học cũng như những ngành nghệ thuật khác, là một trong nhiều phương tiện hướng con người tới cái đẹp. Cái đẹp làm thỏa mãn nhu cầu trái tim, nhu cầu tâm hồn của con người. Bản chất của văn học là cái đẹp – cái đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng, của hành động – cho nên văn học đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người. “Tác phẩm văn học chân chính giúp cho con người phát triển những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh, nâng cao năng lực cảm nhận cái đẹp, nâng cao thị hiếu và lý tưởng thẩm mĩ, hiệu chỉnh những sai lầm, uốn nắn những sự không lành mạnh hay thấp kém trong quá trình cảm thụ cái đẹp. Văn học thực hiện chức năng này một cách vô tư, không áp đặt với người đọc”.

b) Phân tích: vậy thì, trong tác phẩm mà chúng ta thí dụ, chức năng về cái đẹp đã thể hiện như thế nào?

Ở trong hình ảnh:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Còn đây là một nét đẹp khác về con người:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Hồn thơ tinh tế của tác giả bắt rất nhạy từ một làn sương chiều mỏng, từ một dáng hoa lau núi phất phơ đơn sơ bất chợt, rồi ông thổi hồn mình vào đó và để lại mãi mãi trong ta nỗi niềm bâng khuâng thương mến và một áng thơ đẹp và cả bài Tây Tiến mang vẻ đẹp lý tưởng của mọi người thật rực rỡ. Người ta sống bằng lý tưởng và nhìn những gian khổ mất mát bằng cái nhìn cao cả, bất cần, đôi khi ngây thơ nữa.

4. Chức năng giáo dục:

a) Thế nào là chức năng giáo dục? Đó là chức năng đem tới những bài học, những bổ ích của tác phẩm văn học. Nói cách khác tác phẩm văn học sẽ dạy ta những bài học thiết thực nào đấy bằng cách của nó. Có thể, qua một bài thơ, ta hiểu thế nào là tình yêu thiên nhiên, qua một tiểu thuyết ta học cách làm người cho xứng đáng. Nhưng nói như vậy là một cách nói tương đối và thoáng. Bởi vì tác phẩm không phải là những bài học giáo dục. Tác phẩm văn học còn được gọi là sự tự giáo dục. Nói cách khác, qua hình tượng nghệ thuật, mỗi một người đọc tự cảm nhận được điều bổ ích với chính mình, không nhất thiết giống với người khác. Tính giáo dục của tác phẩm văn học thông qua con đường của trái tim cho nên tác dụng của nó cực kì mãnh liệt. Nó làm thay đổi tâm hồn, làm phong phú tình cảm, làm thay đổi những suy nghĩ.

b) Phân tích: chính bằng những hình tượng nghệ thuật giàu chất thẩm mĩ, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đem tới cho người đọc nhiều điều bổ ích thú vị.

Trước hết là tình đồng đội. Rõ ràng điểm xuất phát của bài thơ này nỗi nhớ đồng đội tha thiết, mãnh liệt và chân thực. Từ sự rung động của nhà thơ, nỗi nhớ ấy làm rung động trái tim người đọc và bài học về tình yêu đồng đội được cảm nhận sâu sắc trên từng câu thơ:

Và mặc dù nhà thơ không có một khái niệm trực tiếp nói về sự biết ơn, ca ngợi lòng biết ơn đối với những người chiến sĩ vô danh, nhưng toàn bộ bài thơ được người đọc đánh giá đó chính là tượng đài bất tử mà nhà thơ Quang Dũng với tất cả tấm chân tình đã dựng nên để tưởng niệm những người chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì nước… Nhận ra được đó là bức tượng đài tưởng niệm những người chiến sĩ không tên, ấy là gì nếu không phải là bài học cụ thể mà tác phẩm nghệ thuật mang tới cho người đọc.

Kết luận: Thực ra thì rất khó có thể phân biệt ba chức năng ấy một cách dứt khoát và rõ ràng như vậy bởi vì bản chất của nó là gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật. Nhưng ở một mức độ tương đối, để dễ dàng nhận thức, chúng ta làm công việc tách rời đó. Dù khi tách rời, các chức năng ấy, trong một tác phẩm cụ thể là bài thơ Tây Tiến, vẫn tỏ ra có môi liên hệ. Bởi vì nhận thức mà tác phẩm đem tới là cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng.

Chính vì những chức năng hết sức tinh tế và ảnh hưởng sâu sắc như vậy văn học luôn luôn cần thiết đối với con người trong quá trình phát triển nhân cách và đối với xã hội trong quá trình hoàn thiện.