Top 15 # Xem Nhiều Nhất Vận Dụng Chức Năng Của Tiền Tệ / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời / 2023

Phân tích các chức năng của tiền tệ. Em đã vận dụng được những chức năng nào của tiền tệ trong đời sống? Gợi ý làm bài:

* Chức năng của tiền tệ:

+ Chức năng làm thước đo giá trị: được thể hiện khi tiền được dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa. Giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa. Gía cả hàng hóa được quyết định bởi các yếu tố khác nhau, do đó trên thị trường giá cả có thể bằng, thấp hơn hoặc cao hơn giá trị. Nếu các điều kiện khác không thay đổi, gía trị của hàng hóa cao thì giá cả của nó cao và ngược lại.

+ Chức năng làm phương tiện lưu thông: được thể hiện khi tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa theo công thức: H – T – H. Trong đó H -T là quá trình bán, T – H là quá trình mua. Người ta bán hàng hóa lấy tiền rồi dùng tiền để mua hàng hóa mình cần.

+ Chức năng làm phương tiện cất trữ: được thể hiện khi tiền rút khỏi lưu thông và được cất trữ lại ddể khi cần thì đem ra mua hàng. Sở dĩ tiền tệ làm được chức năng này là vì tiền là đại biểu cho của cải của xã hội dưới hình thái giá trị, nên việc cất trữ tiền là hình thức cất trữ cuả cải. Nhưng để làm được chức năng phương tiện cất trữ thì tiền phải đủ giá trị, tức là tiền đúc bằng vàng hoặc những của cải bằng vàng.

+ Chức năng phương tiện thanh toán: được thể hiện khi tiền tệ được dùng để chi trả sau khi giao dịch, mua bán như: trả tiền mua chịu hàng hóa, trả nợ, nộp thuế… Chức năng này làm cho quá trình mua bán diễn ra nhanh hơn, nhưng cũng làm cho những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phụ thuộc vào nhau nhiều hơn.

+ Chức năng tiền tệ thế giới: Thể hiện khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia, tiền làm nhiệm vụ di chuyển của cả từ nước này sang nước khác, nên đó phải là tiền vàng hoặc tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế. Việc trao đổi tiền của nước này theo tiền cuả nước khác được tiến hành theo tỉ giá hối đối. Tỉ giá hối đoái là gía cả của đồng tiền nước này được tính bằng đồng tiền nước khác.

* Em đã vận dụng được những chức năng của tiền tệ như:

– Dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, đi mua hàng hóa phục vụ nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình hàng ngày.

– Khi có tiền nhưng chưa dùng đến, em mang cất đi bằng cách bỏ lợn tiết kiệm, nhờ mẹ gửi ngân hàng giúp,…

Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ / 2023

Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:

1 tấm bò = 2 cái rìu

Hình thái giá trị tương đối – vật ngang giá chung

Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.

– Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất – bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác

Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)

Ví dụ: 10 kg thóc

2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)

0,1 chỉ vàng

– Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại (kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tư cách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ. Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi là một HH đặc biệt.

Kết luận:

– Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền KT – XH

– Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi HH. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung.

– Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt.

Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.

Theo Mac, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

3.1 Chức năng thước đo giá trị (standard of value)

Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.

Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này.

Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.

Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N

3.2 Chức năng phương tiện trao đổi (Medium of exchange)

Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.

Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:

– Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền: H-T

– Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H

Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không di liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng.

3.3 Chức năng phương tiện thanh toán (standard of deferred payment)

Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

3.4 Chức năng phương tiện tích lũy (store of value or store of purchasing power)

Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời.

Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

3.5 Chức năng tiền tệ thế giới (world currency)

Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.

Nguồn: trithuccongdong.net

Trong các chức năng của tiền tệ trên thì chức năng phương tiện trao đổi chính là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Bởi vì, ngày nay tiền tệ luôn là phương tiện bôi trơn cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ Và Chức Năng Của Tiền Tệ / 2023

Tiền tệ dùng để đại diện và đo đạc giá trị của các hàng hóa. Mong muốn đo lường thành quả của các hàng hóa, bản thân tiền tệ cũng nên có thành quả. Do đó, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo đạc thành quả hàng hóa không cần thiêt phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đấy trong ý tưởng. sở dĩ có thế thực hiện được như vậy vì giữa thành quả của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đấy là thời gian lao động xã hội thiết yếu hao phí để tạo ra hàng hóa đấy. thành quả hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa. Hay Theo một cách khác, cái giá là hình thức đại diện bằng chi phí giá trị hàng hóa.

Quy luật lưu thông tiền tệ và chức năng của tiền tệ? Nhiều bạn sẽ khó hiểu khi học môn đại cương chủ nghĩa mác -lênin. chúng tôi xin giải đáp cho bạn vấn đề Quy luật lưu thông tiền tệ và chức năng của tiền tệ thông qua bài viết này.

Cái giá hàng hóa chịu tác động của các nhân tố sau đây:

+ Giá trị hàng hóa.

+ Thành quả của tiền.

+ Quan hệ cung – cầu về hàng hóa.

Nhưng vì thành quả hàng hóa là thông tin của giá cả nên trong ba nhân tố nêu trên thì thành quả vẫn là nhân tố quyết định cái giá.

Để tiền làm được công dụng thước đo thành quả thì bản thân tiền tệ cũng phải được quy định một tổ chức tiền tệ chắc chắn làm chuẩn xác đo lường giá cả của hàng hóa. công ty đấy là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, công ty tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Chẳng hạn ở Mỹ, chuẩn mực giá cả của 1 đồng đôla có hàm lượng vàng là 0.736662gr, ở Pháp 1 đồng frăng hàm lượng vàng là 0,160000gr, ở Anh 1 đồng Fun St’zelinh có hàm lượng vàng là 2,13281 gr.. .Tác dụng của tiền khi dùng làm chuẩn xác giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng; làm thước đo giá trị. Là thước đo thành quả, tiền tệ đo đạc giá trị của các hàng hóa khác; là chuẩn xác cái giá, tiền tệ đo đạc bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hóa tiền tệ điều chỉnh theo sự điều chỉnh của số lượng lao động cần thiết để tạo ra hàng hóa đó. giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) điều chỉnh không tác động gì đến “chức năng” chuẩn mực giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi ra sao. Ví dụ. 1 Đôla vẫn bằng 10 xen.

XEM THÊM Lịch sử hình thành và bản chất của tiền tệ

Phương tiện lưu thông

Với tính năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong lúc trao đổi hàng hóa. Để làm chức năng lưu thông hàng hóa đòi hỏi nên có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa thu thập tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa.

Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thỏi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Tuy nhiên nó vẫn được xã hội chấp thuận như tiền đúc đủ giá trị.

Phương tiện cất trữ

Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ việc tiền thực hiện được tính năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, có thể cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền nên có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích nghi một bí quyết tự phát với mong muốn tiền thiết yếu cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. trái lại, nếu như sản xuất giảm, lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

XEM THÊM 6 nhóm chỉ số tài chính trong chứng khoán

Phương tiện thanh toán

Làm phương tiện thanh toán, tiền được sử dụng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng… Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa tăng trưởng đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này, đầu tiên tiền làm tính năng thước đo thành quả để định cái giá hàng hóa. Tuy nhiên vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán.

Tiền tệ 

toàn cầu

Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia thì nên làm công dụng tiền tệ toàn cầu. Với chức năng này, tiền cần có đủ giá trị, phải quay lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong công dụng này, vàng được sử dụng làm phương tiện mua sale hóa, phương tiện thanh toán quốc tế và đại diện của cải nói chung của xã hội.

XEM THÊM Hoạch định tài chính là gì ? Vì sao chúng ta phải hoạch định tài chính ?

Quy luật lưu thông tiền tệ

Là quy luật quy định số lượng tiền cần cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ chắc chắn.

NGUỒN TỔNG HỢP

Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ / 2023

Tiền tệ là gì?

Thông thường, tiền tệ là định nghĩa cho bất kỳ loại tiền nào được sử dụng để lưu thông trên toàn thế giới. Các loại tiền tệ được làm từ nhiều vật liệu khác nhau như giấy, polime hoặc kim loại. Nó thường được ban hành và duy trì bởi một cơ quan quản lý của quốc gia hay liên minh, khu vực. Điều này có nghĩa là giá trị của đồng tiền không đến từ vật liệu được tạo ra, mà bằng giá trị mà nó đại diện theo nền kinh tế và tổ chức phát hành.

Các chức năng chính của tiền tệ

Tiền tệ có 3 chức năng cơ bản là:

Phương tiện trao đổi

Phương tiện bảo tồn giá trị

Phương tiện hạch toán

Khi tiền đóng vai trò phương tiện trao đổi, tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ, điều đó đòi hỏi người bán phải chấp nhận nó với tư cách là phương tiện thanh toán trong các giao dịch trên thị trường. Từ các giao dịch bình thường hay các hợp đồng giao dịch lớn giữa các tác nhân đều thỏa thuận về phương tiện thanh toán. Không có một phương tiện trao đổi được chấp nhận rộng rãi, lưu thông hàng hóa sẽ dựa vào chế độ hàng đổi hàng. Chế độ hàng đổi hàng đơn giản là sự trao đổi trực tiếp. Trong điều kiện đó, dân cư sẽ mất nhiều thời gian để thực hiện các giao dịch.

Với chức năng là phương tiện bảo tồn giá trị, tiền là một hình thức để chuyển sức mua từ hiện tại sang tương lai. Nhờ chức năng này người dân có thể lựa chọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền. Tuy nhiên, trong điều kiện có lạm phát, giá trị của tiền giảm theo thời gian, vì thế tiền trở thành phương tiện bảo tồn giá trị không hiệu quả

Chức năng đơn vị hạch toán của tiền, chỉ ra sự tiện lợi khi có một phương tiện được chấp nhận rộng rãi để định giá và ghi sổ sách. Tiền còn là cơ sở để hạch toán các hoạt động kinh tế. Nó còn là cơ sở để hạch toán mọi hoạt động kinh tế từ sản xuất, lưu thông và tiêu dùng của mọi quốc gia. Trong các chức năng của tiền tệ, chức năng phương tiện trao đổi là chức năng quan trọng nhất, vì nó thể hiện được bản chất của tiền.

Các loại hình thái của tiền tệ

Theo tiến trình lịch sử, tiền tệ đã trải qua ba hình thái: tiền hàng hóa, tiền quy ước và tiền qua ngân hàng.

Tiền hàng hoá

Tiền hàng hóa là một loại hàng hóa nào đó được người ta công nhận để làm vật trung gian cho việc giao dịch mua bán hàng hóa.

Lúc đầu người ta sử dụng các loại hàng hóa thông dụng trong trao đổi như lúa mì, súc vật… Điều này đem tới nhiều bất tiện, do tiền hàng hóa chỉ được chấp nhận trong một nhóm người hay trong một địa phương, lại không thuận tiện cho việc di chuyển, và trong nhiều trường hợp khó phân chia thành nhiều đơn vị cần thiết.

Tiền kim loại được sử dụng lần lượt đồng, bạc, vàng, do có nhiều ưu điểm hơn các kim loại khác.

Nguyên tắc chung của tiền hàng hóa là giá trị của tiền bằng với giá trị của vật dùng làm tiền.

Ưu điểm: Những hàng hóa được chọn làm tiền tệ có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, có thể bảo tồn lâu và mang tính chất phổ biến, đặc trưng cho địa phương, khu vực diễn ra trao đổi.

Nhược điểm: Không đồng nhất; Dễ hư hỏng; Khó phân chia hay gộp lại; Khó bảo quản cũng như vận chuyển; Mang tính khu vực, địa phương…

Tiền quy ước (tiền pháp định)

Tiền quy ước hay tiền pháp định là loại tiền được lưu hành do quy định của nhà nước. Tiền được gọi là tiền quy ước bởi vì giá trị ghi trên bề mặt đồng tiền chỉ là giá trị tượng trưng, tức là lớn hơn hay nhỏ hơn so với giá trị của vật dùng làm tiền. Nó biểu thị cho một lượng giá trị nào đó mà mọi người thừa nhận chúng và tin vào đó để sử dụng. Sự khác nhau cơ bản giữa tiền hàng hóa và pháp định là ở chỗ đối với tiền pháp định giá trị của tiền tệ lớn hơn giá trị của vật dùng làm tiền, trong khi đó đối với tiền hàng hóa thì hai giá trị đó phải bằng nhau.

Tiền quy ước cũng có hai dạng:

Cả hai loại này đang được lưu hành trên thế giới. Tiền kim loại, trước đây người ta sử dụng các loại kim loại quý như bạc, vàng… về sau sử dụng loại kim loại rẻ hơn, tiền được sử dụng nhiều hơn. Tại nước ta hiện nay, tiền xu các loại đang được sử dụng trong lưu thông, đây cũng cũng là dạng tiền kim loại như nhiều nước trên thế giới đang sử dụng.

Đối với tiền giấy có hai loại tiền giấy khả hoán và tiền giấy không khả hoán.

Tiền giấy khả hoán xuất hiện vào thế kỉ XVII, lần đầu tiên do ngân hàng Amsterdam của Hà Lan thực hiện. Đối với loại tiền này khi có một lượng tiền nào đó bạn có thể đến nơi mà chính phủ quy định đổi lấy một lượng vàng hoặc bạc tương đương. Lượng quy kim đó được căn cứ vào bản vị tiền tệ, là lượng mà Chính phủ dùng để định nghĩa giá trị một đơn vị tiền tệ của quốc gia. Ví dụ ở Mỹ vào năm 1775 người ta định nghĩa 1USD = 25,92 g bạc 99,99%; và vào năm 1900 định nghĩa 1USD = 1504,6 mg vàng 99,99%. Nếu định nghĩa theo vàng thì gọi là chế độ bản vị vàng và theo bạc thì ta có chế độ bản vị bạc. Việc sử dụng tiền khả hoán đòi hỏi chính phủ có một lượng dự trữ vàng hoặc bạc tương đương với lượng tiền phát hành. Mục đích của chế độ phát hành này là muốn bảo đảm giá trị của đồng tiền đang lưu hành. Trong thực tế việc này không phải lúc nào cũng thực hiện được. Cho đến giữa những năm 1930, hầu như các quốc gia đều bỏ chế độ tiền giấy khả hoán chuyển sang sử dụng tiền giấy bất khả hoán.

Tiền giấy bất khả hoán là loại tiền bắt buộc lưu hành, dân chúng không thể mang tiền giấy đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.

Ưu điểm: Nhẹ, dễ vận chuyển và cất trữ; Có đầy đủ mệnh giá; Chính phủ tốn ít chi phí sản xuất.

Nhược điểm: Không bền; Khá cồng kềnh khi giao dịch lớn; Tốn chi phí vận chuyển và dễ gặp rủi ro; Có thể bị làm giả; Dễ rơi vào tình trạng bất ổn (đồng tiền bị mất giá)

Tiền qua ngân hàng

Tiền qua ngân hàng là tiền ký thác hay tiền ký thác không kỳ hạn sử dụng séc hay tiền ghi nợ. Loại tiền này được tạo ra từ tài khoản séc.

Từ nợ ở đây là chỉ khoản nợ của ngân hàng đối với người mở tài khoản séc tại ngân hàng. Khi mở tài khoản séc tức là người ta đưa vào ngân hàng một lượng ký thác không kỳ hạn. Người chủ tài khoản có thể viết một tờ séc cho mình hoặc cho một người nào đó để yêu cầu ngân hàng thanh toán một lượng tiền khi tờ séc được xuất trình và chưa quá hạn. Lượng tiền ký thác không kỳ hạn đó chính là tiền qua ngân hàng. Nhưng bản thân những tờ séc không phải là tiền, vì khi nhận tờ séc từ tay một người nào đó thì người ta không thể dùng nó vào việc thanh toán nợ hay mua bán hàng hóa.

Ưu điểm: Tiết kiệm chi phí giao dịch; Nhanh, đơn giản và an toàn; Thuận lợi khi giao dịch lớn.

Nhược điểm: Mất thời gian vận chuyển séc, kiểm tra tính hợp pháp của séc..nên không phù hợp khi cần thanh toán nhanh; Tốn kém chi phí xử lý chứng từ.; Cần một khoảng thời gian dài để đưa vào ứng dụng phổ biến, rộng rãi.

Trong ba hình thái tiền tệ nêu trên hiện nay chỉ phổ biến hai hình thái là tiền quy ước và tiền qua ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hệ thống ngân hàng càng hoàn thiện thì vai trò của ngân hàng càng quan trọng. Ở nước ta, từ trước đến nay sử dụng chủ yếu vẫn là tiền giấy, tiền qua ngân hàng còn chưa sử dụng phổ biến nhưng trong xu hướng chung thì loại tiền này sẽ được sử dụng nhiều hơn.