Top 8 # Xem Nhiều Nhất Vấn Đề Và Giải Pháp Là Gì Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Việc Làm Ở Nước Ta Là Gì?

– Cấu tạo ra nhiều công ăn việc làm và có mức tiền lương tốt hơn để tại mỗi mức lương thu hút được nhiều lao động hơn.

– Tăng cường hoàn thiện các chương trình dạy nghề, đào tạo lại, tổ chức tốt thị trường lao động.

Đối với loại thất nghiệp chu kỳ:

– Cần áp dụng chính sách tài khoá, tiền tệ để làm gia tăng tổng cầu nhằm kích thích các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, theo đó thu hút được nhiều lao động.

– Để xảy ra một tình trạng thất nghiệp tràn lan sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến phát triển kinh tế xã hội. Nền kinh tế sẽ phải từ bỏ những sản phẩm, dịch vụ mà những người công nhân bị thất nghiệp làm ra. Hơn nữa, đó còn là sự lãng phí to lớn nguồn nhân lực đang ở độ tuổi lao động và để tồn tại một lượng lớn người mất việc làm, để họ rơi vào tình cảnh nghèo khó sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Do đó, cần phải có những chính sách, kế hoạch bài bản hơn để ngăn ngừa nguy cơ nạn thất nghiệp tiếp tục lan rộng.

Những biện pháp khác

– Cắt giảm thuế tiêu thụ cũng giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người tiêu dùng với hy vọng rằng tổng cầu sẽ được duy trì ở mức khả dĩ, tác động tích cực ngược lại đến doanh nghiệp và do đó giảm thiểu được nạn sa thải nhân lực do sản xuất kinh doanh đình đốn.

– Thông qua các tổ chức công đoàn thuyết phục người lao động và chủ doanh nghiệp chấp nhận một mức cắt giảm trong tiền lương để duy trì số công ăn việc làm trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, biện pháp này cũng lại chỉ được áp dụng được ở những nơi có tổ chức công đoàn và vẫn còn hoạt động.

– Đào tạo nghề cho bà con ở nông thôn đặc biệt là con cái của họ, khi diện tích đất sản xuất của họ bị thu hồi thì có thể dể dàng chuyển sang làm những ngành nghề khác.

– Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động là nơi mà không những giải quyết được tình trạng thất nghiệp ở trong nước mà còn thu được nguồn ngoại tệ không nhỏ cho quốc gia.

– Chú trọng đầu tư cho giáo dục và đào tạo.

– Hạn chế tăng dân số.

– Khuyến khích sử dụng lao động nữ.

– Tập trung phần vốn tín dụng từ quỹ quốc gia về việc làm với lãi xuất ưu đãi do các đối tượng trọng điểm vay theo dự án nhỏ để tự tạo việc làm cho bản thân gia đình và công cộng.

Nghiện Mạng Xã Hội Là Gì Và Làm Thế Nào Để Giải Quyết Vấn Đề Này?

Bạn có thể không kiểm tra trang Facebook hoặc Twitter của mình trong bao lâu? Theo các chuyên gia, 28% người dùng iPhone kiểm tra mạng xã hội của mình trước khi ra khỏi giường và 18% không thể làm gì đó quá ba giờ, mà không kiểm tra những gì đang xảy ra trên mạng xã hội. Hiện có hơn 2 tỷ người dùng mạng xã hội và 2 mạng xã hội phổ biến nhất hiện nay là Facebook và Twitter.

Trong nhiều năm qua, đã có rất nhiều cuộc tranh luận về việc sử dụng mạng xã hội quá mức là một loại rối loạn nghiện Internet – Internet addiction disorder (IAD), một triệu chứng của rối loạn khác, hay chỉ là một thói quen xấu. Nghiện bất cứ thứ gì biểu hiện bằng việc thiếu khả năng kiểm soát các xung động, vì vậy việc sử dụng quá mức bất cứ thứ gì, chẳng hạn như mạng xã hội, cũng được coi là một chứng rối loạn kiểm soát xung động. Khi có nhiều chuyên gia y tế tại Hoa Kỳ nghĩ sử dụng mạng xã hội quá mức là triệu chứng của một căn bệnh khác, chứ không phải là một rối loạn thực sự, thì các quốc gia khác, chẳng hạn như Hàn Quốc và Trung Quốc, lại đưa ra hệ thống phân loại IAD của riêng mình.

Nghiện mạng xã hội là một cụm từ đôi khi được sử dụng để chỉ một người nào đó dành quá nhiều thời gian vào việc sử dụng Facebook, Twitter và các hình thức mạng xã hội khác, để các mạng xã hội này can thiệp quá sâu vào các khía cạnh khác của cuộc sống hàng ngày.

Định nghĩa nghiện mạng xã hội

Nghiện thường đề cập đến hành vi cưỡng chế dẫn đến tác động tiêu cực. Khi lên cơn nghiện, người bị nghiện cảm thấy bắt buộc phải làm một số hoạt động nhất định, đến nỗi chúng trở thành thói quen có hại, sau đó gây trở ngại cho các hoạt động quan trọng khác, tại nơi làm việc hoặc trường học.

Trong bối cảnh đó, một người nghiện mạng xã hội có thể được coi là một người có khuynh hướng sử dụng mạng xã hội vượt quá mức độ bình thường. Ví dụ, liên tục kiểm tra cập nhật trạng thái Facebook hoặc “theo dõi” profile của mọi người trên Facebook trong nhiều giờ liền.

Các nhà nghiên cứu tại đại học Chicago kết luận rằng, nghiện mạng xã hội có thể còn dữ dội hơn nghiện thuốc lá và rượu bia, sau một thử nghiệm mà trong đó họ ghi lại cảm giác lên cơn nghiện của hàng trăm người trong vài tuần. Nghiện mạng xã hội được xếp hạng trước cả việc thèm thuốc lá và rượu.

Và tại đại học Harvard, các nhà nghiên cứu dùng các máy MRI chức năng để quét não của những người làm thí nghiệm, và xem điều gì xảy ra khi họ nói về bản thân, đó là phần quan trọng trong những gì mọi người thường làm trên các mạng xã hội. Họ thấy rằng việc tự tiết lộ thông tin kích thích các trung tâm giải trí của não bộ, giống như tình dục và thực phẩm.

Rất nhiều bác sĩ đã quan sát thấy các triệu chứng lo âu, trầm cảm và một số rối loạn tâm lý ở những người dành quá nhiều thời gian trực tuyến, nhưng có rất ít bằng chứng chứng minh được rằng mạng xã hội hoặc sử dụng Internet gây ra các triệu chứng này, và nghiện mạng xã hội cũng vậy.

Hôn nhân và mạng xã hội

Trong khi đó, các nhà xã hội học và tâm lý học đã khám phá tác động của mạng xã hội lên các mối quan hệ trong thế giới thực, đặc biệt là hôn nhân, và một số người đã đặt câu hỏi liệu việc sử dụng quá nhiều mạng xã hội có thể tác động gì tới việc ly hôn hay không.

Tạp chí Wall Street Journal đã báo cáo rằng 1 trong 5 cuộc hôn nhân bị hủy hoại bởi Facebook, nhưng lưu ý rằng dường như không có bất kỳ bằng chứng khoa học nào trực tiếp chứng minh điều đó.

Sherry Turkle, một nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts, đã viết nhiều về tác động của mạng xã hội lên các mối quan hệ, và về lý thuyết, mạng xã hội thực sự làm suy yếu mối quan hệ giữa con người. Trong cuốn sách của mình, Alone Together: Why We Expect More from Technology and Less from Each Other, cô biên soạn một số tác động tiêu cực của việc liên tục kết nối với công nghệ, và làm mọi người cảm thấy cô đơn hơn.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khác lại kết luận rằng mạng xã hội có thể làm cho mọi người cảm thấy bản thân tốt hơn và kết nối nhiều hơn với xã hội.

Rối loạn nghiện Internet

Một số người cho rằng việc sử dụng quá nhiều mạng xã hội đơn giản là hình thức mới nhất của “Rối loạn nghiện Internet”, một hiện tượng đã thu hút sự chú ý từ những năm 1990, khi việc sử dụng Internet bắt đầu lan rộng. Thậm chí lúc đó, mọi người cho rằng việc sử dụng Internet quá nhiều có thể làm giảm hiệu suất tại nơi làm việc, trong trường học và trong các mối quan hệ gia đình.

Gần 20 năm sau, vẫn không có sự đồng thuận rằng việc sử dụng quá nhiều Internet hoặc các mạng xã hội là một loại bệnh lý hoặc nên được coi là một loại rối loạn y tế. Một số người đã yêu cầu Hiệp hội tâm lý Mỹ thêm nghiện Internet vào tài liệu y tế chính thức về các loại chứng rối loạn, nhưng APA đã từ chối việc này.

Tuy nhiên, nếu bạn tự hỏi, liệu bạn có đang dành quá nhiều thời gian trực tuyến hay không, hãy thử thực hiện việc kiểm tra việc nghiện Internet để có kết quả chính xác.

Thói quen xấu hay bị nghiện?

Rất khó để xác định việc sử dụng mạng xã hội quá mức chỉ là thói quen xấu hay là một loại bệnh rối loạn, chẳng hạn như trầm cảm và rối loạn lưỡng cực. Theo một nghiên cứu, hướng dẫn chính thức dựa trên việc chẩn đoán lâm sàng và các tiêu chí khoa học, không xác định việc nghiện như một loại rối loạn cụ thể ban đầu. Một số triệu chứng được coi là một phần của rối loạn nghiện, do nhiều chuyên gia y tế đưa vào trong hướng dẫn này, và là triệu chứng của một căn bệnh khác, chẳng hạn như rối loạn nhân cách.

Trong một bài viết khác, tác giả nói rằng không có đủ thông tin vững chắc để kết luận rằng, nghiện mạng xã hội là một loại rối loạn tâm thần hoặc một loại bệnh, vì không có tiêu chí phổ quát cho các triệu chứng nghiện mạng xã hội. Tuy nhiên, sự thật cho thấy nghiện mạng xã hội là một quá trình sử dụng Internet quá mức và mang tính gây hại. Những người sử dụng mạng xã hội ở mức độ này đã được báo cáo là có gây ra các tác động tiêu cực đến cuộc sống và công việc của họ.

Một nghiên cứu được thực hiện bao gồm các bài kiểm tra “Beck’s Anxiety Inventory (BAI), Beck’s Depression Inventory (BDI), Young’s Internet Addiction Test (IAT) và BIS-11, South Oaks Gambling Screen (SOGS)”, cho thấy sự giảm kiểm soát cảm xúc ở những người nghiện mạng xã hội. Trong thực tế, các thụ thể dopamin D2 giảm xuống đáng kể ở những người nghiện mạng xã hội. Tầm quan trọng của phát hiện này là cho thấy bằng chứng việc nghiện mạng xã hội có tác động đến thần kinh.

Các thực tế về khoa học

Tương tự, nhiều nghiên cứu hình ảnh cộng hưởng từ (fMRI) đã báo cáo hoạt động ở các vùng não khác nhau của người chơi game quá mức, so với những người chơi có chừng mực, trong việc phản ứng lại các tín hiệu trong game. Với cùng một mã thông báo và các khu vực được kích hoạt trên não bộ giống nhau, kết quả cho thấy mức độ kích thích tăng lên ở những bệnh nhân lạm dụng chất kích thích, vì có một số tín hiệu gây ra cảm giác thèm thuồng ở họ. Thêm một bằng chứng cho việc này là, khi bệnh nhân dùng một số loại thuốc dành cho các rối loạn gây nghiện, như bupropion, mức độ kích thích trong não giảm, và việc bệnh nhân thèm sử dụng mạng xã hội cũng giảm xuống.

Theo một nghiên cứu khác, việc sử dụng mạng xã hội quá mức là một vấn đề nghiêm trọng đối với 6% đến 11% người dùng Internet ở Hoa Kỳ. Nếu cộng đồng y tế tiếp tục tin rằng việc nghiện mạng xã hội không phải là một rối loạn y tế thực sự, những người bị rối loạn này sẽ không thể có được sự điều trị cần thiết, để kiểm soát cảm xúc của họ và sống một cuộc sống bình thường. Để nhận được sự công nhận đầy đủ trong ngành tâm thần, việc nghiện mạng xã hội cần phải được coi là một tình trạng tâm thần thực sự, hơn là một triệu chứng rối loạn đơn thuần.

Tổng quan

Các lập luận về việc nghiện mạng xã hội là một rối loạn tâm lý thực sự không phải là không chính xác, cũng không phải quá xa vời khi tin rằng, nhiều cá nhân trên toàn thế giới đang bị bệnh này. Nhiều nghiên cứu được thực hiện bởi các chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý, nhằm thuyết phục mọi người rằng việc nghiện mạng xã hội thực sự là một căn bệnh tâm lý nghiêm trọng, cần điều trị. Nếu không được điều trị, những người bị nghiện mạng xã hội sẽ tiếp tục tạo ra các xung đột với các hoạt động khác, chẳng hạn như học tập, công việc và xã hội. Các chuyên gia y tế đã chỉ ra rằng việc nghiện mạng xã hội sở hữu tất cả các tiêu chí mô tả triệu chứng nghiện thông thường. Một số tiêu chí này bao gồm:

Sử dụng mạng xã hội nhiều hơn bình thường

Luôn bận tâm tới các mạng xã hội

Cảm thấy bứt rứt khi không sử dụng mạng xã hội

Cố gắng ngừng hoặc giảm mức sử dụng mạng xã hội nhiều lần mà không thành công

Thèm sử dụng mạng xã hội

Mất hứng thú với các hoạt động khác

Tiếp tục sử dụng mạng xã hội bất chấp hậu quả tiêu cực

Sử dụng mạng xã hội để giảm bớt tâm trạng xấu

Nói dối về lượng thời gian sử dụng mạng xã hội của họ

Như đã nêu trong một bài viết của Hinics, một số khó khăn trong việc xác định nghiện mạng xã hội gây nhầm lẫn hoàn toàn. Có một số đề xuất hấp dẫn, trong cuộc tranh luận về việc liệu nghiện mạng xã hội có trở thành một bệnh lý thực sự hay không, đó là:

Cung cấp các tiêu chí chẩn đoán rõ ràng

Xác định danh sách các triệu chứng cụ thể

Tìm các công cụ chính xác nhất để chẩn đoán việc nghiện mạng xã hội

Ba loại nghiện Internet

Một chuyên gia y tế khác giải thích rằng, nghiện Internet có 3 loại, đó là chơi game, bận tâm tới vấn đề tình dục và nhắn tin quá mức. Ngoài ra, ông tuyên bố rằng tất cả các loại nghiện Internet này đều xuất phát từ việc sử dụng mạng xã hội quá mức hoặc có vấn đề, dựa vào một số tiêu chí. Các tiêu chí này gồm: Tăng dần số lượng thời gian sử dụng mạng xã hội, xuất hiện các triệu chứng mắc nghiện và bỏ qua hoặc phủ nhận hậu quả tiêu cực. Tương tự, đây cũng là một vài triệu chứng của rối loạn lạm dụng thuốc.

Một nghiên cứu cho thấy nghiện mạng xã hội thực sự là gốc rễ của việc làm sức khỏe tâm lý kém hơn, qua một trong những nghiên cứu kéo dài bốn năm, nghiên cứu các đối tượng ở tuổi vị thành niên (cấp 2 và cấp 3). Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy thanh thiếu niên, ban đầu không có rối loạn sức khỏe tâm thần, có khả năng dương tính với bệnh trầm cảm cao gấp 2,5 lần, sau 9 tháng tham gia nghiên cứu. Một phần khác của cùng một nghiên cứu kết luận rằng cả nam và nữ đều có khả năng bị nghiện Internet, nhưng sự lựa chọn hành vi Internet của họ rất khác nhau. Các bạn nam trong nghiên cứu này đã chọn các trang chơi game và web người lớn thường xuyên, trong khi các bạn nữ thích chọn email và các trang mạng xã hội hơn, chẳng hạn như Facebook và Twitter (Ciarrochi et al., 2015).

Dấu hiệu nghiện mạng xã hội

Ngay cả khi nghiện mạng xã hội không được chuẩn đoán chính thức, có một số dấu hiệu nghiện có thể giúp bạn xác định xem có ai đó có vấn đề hay không. Một số dấu hiệu cho thấy một người nghiện mạng xã hội bao gồm:

Dành nhiều thời gian hơn cho các trang mạng xã hội

Suy nghĩ về các trang mạng xã hội ngay cả khi không trực tuyến

Cảm thấy một nhu cầu rất lớn trong việc chia sẻ điều gì đó trên trang Facebook hoặc các trang mạng xã hội khác

Lo lắng hoặc căng thẳng nếu bạn không thể ở trạng thái trực tuyến trong một khoảng thời gian nhất định

Đang cố gắng cắt giảm việc sử dụng mạng xã hội

Sử dụng mạng xã hội đang gây ra tác động tiêu cực đến cuộc sống, các mối quan hệ ở trường học hoặc cơ quan

Các tranh chấp về việc sử dụng mạng xã hội quá mức hoặc có vấn đề có thực sự là một rối loạn hay chỉ là một tác dụng phụ của rối loạn khác, chẳng hạn như trầm cảm lâm sàng, rối loạn tăng động thiếu chú ý (ADHD), hoặc rối loạn lưỡng cực, dường như không có điểm kết thúc. Trong thực tế, cả hai bên đều có luận cứ thuyết phục, với rất nhiều nghiên cứu và những bằng chứng rõ ràng về từng khía cạnh. Vậy ai mới là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất? Đó là những người bị ảnh hưởng từ việc sử dụng Internet quá mức hoặc có vấn đề và không thể tìm ra cách giải quyết vấn đề, nếu không có sự đồng thuận giữa các chuyên gia.

Hơn nữa, không chỉ sức khỏe tâm thần đang bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng mạng xã hội quá mức. Đã có những nghiên cứu cho thấy một số sinh viên đại học gặp phải những vấn đề về sức khỏe thể chất, chẳng hạn như chứng béo phì và rối loạn giấc ngủ. Thực tế, rối loạn tâm lý trầm cảm, rối loạn tăng động thiếu chú ý (ADHD) và rối loạn hành vi, như lạm dụng thuốc và rượu, cũng như tự gây thương tích có thể là hậu quả của việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều. Đó cũng là những gì nhiều chuyên gia đang xem xét về việc nghiện mạng xã hội.

Những gì đang được thực hiện để xử lý việc nghiện mạng xã hội?

Tóm lại, cần nhiều thông tin hơn để xác định xem nghiện mạng xã hội có phải là bệnh lý thực sự hay không, vì các tiêu chí để công nhận chứng rối loạn này không được chấp nhận rộng rãi. Ở các nước châu Á như Hàn Quốc và Trung Quốc, việc chẩn đoán nghiện mạng xã hội đã được chấp nhận như một bệnh lý thực sự, và những người bị rối loạn đang tìm kiếm cách giảm các triệu chứng nghiện của họ bằng thuốc và các liệu pháp trị liệu. Trong khi các chuyên gia y tế quyết định liệu nghiện mạng xã hội có phải là rối loạn thực sự hay không, những chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý vẫn cần phải có sự đồng thuận để phân biệt các loại bệnh nhân, mức độ hoặc tiến triển của rối loạn, và quan trọng nhất, cách điều trị rối loạn.

Bạn có thể làm gì?

Nếu bạn tin rằng bạn có thể bị nghiện mạng xã hội, có những người bạn có thể chia sẻ về điều này. Trong thực tế, bạn thậm chí không phải rời khỏi nhà, bởi vì bạn có thể nói chuyện trực tuyến với các chuyên gia, để xác định xem bạn có thực sự gặp vấn đề và cần điều trị hay không. chúng tôi là nguồn cung cấp dịch vụ sức khỏe tâm thần lớn nhất trên thế giới và có hơn 2.000 nhân viên tư vấn, chuyên gia trị liệu và nhà tâm lý học được cấp phép. Dịch vụ của họ sẵn sàng phục vụ 24 giờ một ngày, bảy ngày một tuần để bạn có thể liên hệ với họ một cách thuận tiện nhất.

Tìm Hiểu Tổ Chức Công Đoàn Là Gì Và Những Vấn Đề Xoay Quanh Nó!

Trước hết, hãy đi tìm hiểu khái niệm về tổ chức công đoàn là gì? Đây là một tổ chức thuộc hệ thống chính trị – xã hội của Việt Nam. Tổ chức công đoàn đại diện cho đối tượng thuộc về giai cấp công nhân và người lao động. Tổ chức công đoàn có một lịch sử hình thành lâu dài, nhưng đặc trưng là được thiết lập trên cơ sở các thành viên tự nguyện, đại diện cho giai cấp để đấu tranh bảo vệ và chăm lo quyền, ích lợi của giai cấp sao cho chính đáng và hợp pháp nhất.

Tổ chức công đoàn trong khái niệm là một tổ chức tham gia vào việc quản lý kinh tế – xã hội, quản lý Nhà nước. Bên cạnh đó, thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, giám sát hành vi và nghĩa vụ của mọi người lao động. Đồng thời thực hiện vận động, tuyên truyền người lao động tham gia học tập, chủ động nâng cấp trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ nghề nghiệp, theo chuẩn mực hành vi xã hội, chấp hành đúng chủ trương, chính sách Nhà nước và không vi phạm pháp luật, góp phần đóng góp vào sự phát triển lớn mạnh của đất nước.

2. Công đoàn Việt Nam: Vị trí – Vai trò – Chức năng

Cũng như tổ chức Đảng cộng sản, hay tổ chức Đoàn thanh niên, thì tổ chức công đoàn cũng có một vị trí nhất định, cùng với những vai trò, chức năng của mình trước sự phát triển của đất nước. Đại diện của tổ chức công đoàn chính là tổ chức công đoàn Việt Nam. Sau khi đã có khái niệm tổ chức công đoàn là gì, hãy tìm hiểu tiếp những khía cạnh sau đây.

2.1. Vị trí tổ chức công đoàn Việt Nam

Nói về vị trí, phải khẳng định rằng, tổ chức công đoàn chính là một phần, một thành viên độc lập trong cơ cấu tổ chức hệ thống chính trị xã hội nước ta. Cụ thể như sau:

– Đối với tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức công đoàn được đặt dưới sự chỉ đạo và lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Công đoàn đóng vai trò là nền tảng, chỗ dựa vững chắc, đồng thời cũng là cầu nối giữa quần chúng với tổ chức Đảng.

– Đối với chính quyền Nhà nước, tổ chức công đoàn được xem là một cánh tay đắc lực, hoạt động trên nguyên tắc độc lập, bình đẳng nhưng tôn trọng lẫn nhau. Mặt khác, chính quyền Nhà nước luôn cố gắng hết sức nhằm tạo điều kiện về mặt cơ sở vật chất cũng như cơ sở pháp lý để tổ chức công đoàn có thể thuận tiện triển khai các hoạt động.

– Đối với các tổ chức chính trị xã hội khác, tổ chức công đoàn đồng thời cũng là một phần quan trọng trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cốt lõi, trọng tâm trong liên minh Công – nông – trí. Mọi hoạt động giữa tổ chức công đoàn với các tổ chức khác đều dựa trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhau.

2.2. Vai trò của tổ chức công đoàn Việt Nam

Vậy vai trò của tổ chức công đoàn Việt Nam là gì? Nói về vai trò, tổ chức công đoàn Việt Nam không ngừng đổi mới, điều chỉnh và mở rộng sau nhiều giai đoạn. Ở giai đoạn đất nước đang ngày càng đổi mới và hội nhập như hiện nay, có thể nói về vai trò của tổ chức công đoàn như sau:

– Vai trò chính trị: góp phần xây dựng, đóng góp, kiến tạo và nâng cấp sự phát triển cho hệ thống CT – XH của Việt Nam. Làm cầu nối tăng cường sự liên kết giữa Đảng với dân, phát huy và bảo đảm tính dân chủ của người lao động, hoàn thiện từng bước nền dân chủ XHCN, cam kết thực thi và thi hành pháp luật, góp phần đảm bảo nền chính trị ngày càng ổn định.

– Vai trò kinh tế: xây dựng, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện, đấu tranh với việc xóa bỏ tính bao cấp, quan liêu, củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ. Bảo vệ, giữ gìn và phát triển những thành tựu, thành tích, kết quả trong khoa học kỹ thuật đã nỗ lực đạt được sau đổi mởi. Tiếp tục thúc đẩy và nâng cấp tính hiệu quả của các thành phần kinh tế, lấy Nhà nước làm trung tâm chủ đạo, móc nối, quan hệ với các thành phần kinh tế khác nhằm mang lại giá trị tốt nhất cho nền kinh tế nước nhà nói chung. Góp phần thúc đẩy CNH – HĐH đất nước, đưa kinh tế tri thức vào nền kinh tế, phát huy và năng động hơn trong tiến trình hội nhập, học hỏi với thế giới. Đặc biệt, vẫn cam kết đưa thành phần kinh tế quốc doanh trở thành một vị trí then chốt, chủ đạo trong điều kiện nền kinh tế định hướng XHCN.

– Vai trò văn hóa, tư tưởng: phát huy vai trò trong công tác giáo dục, rèn luyện công viên chức, người lao động trong nền kinh tế nhiều thành phần. Nâng cao lập trường giai cấp, lấy nền tảng về mặt tư tưởng là chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mọi hoạt động đều xoay quanh kim chỉ nam đó, gìn giữ, bảo vệ và phát huy những văn hóa, truyền thống dân tộc, bên cạnh đó phát huy sự học hỏi và tiếp thu các thành tựu, kết quả của khoa học kỹ thuật hiện đại của nền văn minh nhân loại, vừa giữ nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa nâng cấp nền văn hóa theo hướng hiện đại để không lạc hậu với bạn bè quốc tế năm châu.

– Vai trò xã hội: có thể nói, trong quá trình xây dựng giai cấp do chính mình đại diện – Giai cấp công nhân, tổ chức công đoàn Việt Nam có một vai trò vô cùng lớn lao. Góp phần kiến tạo phát triển giai cấp ngày càng lớn mạnh, không chỉ về số lượng, mà còn về chất lượng. Giai cấp đã không ngừng nỗ lực trong việc trau dồi, rèn luyện, nâng cấp chuyên môn, giác ngộ về mặt chính trị – tư tưởng, lao động gắn liền với kỹ thuật, phát huy ý thức tốt, cả về kỹ thuật khoa học lẫn trình độ văn hóa, có nhãn quan về chính trị, đã thực sự trở thành nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, là lực lượng lớn và chủ đạo, trọng tâm nhất trong khối liên minh công – nông – trí, là chỗ dựa vững chắc để Đảng và Nhà nước có thể yên tâm phát huy vai trò của mình.

2.3. Chức năng của tổ chức công đoàn Việt Nam

Chức năng của tổ chức công đoàn là gì? Nói về chức năng, cụ thể bao gồm ba điểm chức năng chính:

– Thứ nhất, tổ chức công đoàn chính là đại diện cho giai cấp công nhân, người lao động, có chức năng bảo vệ các quyền, lợi ích của giai cấp, đảm bảo tính hợp pháp và chính đáng. Bên cạnh đó, công đoàn cùng với chính quyền Nhà nước, tham gia vào quá trình phát triển sản xuất, cải thiện sản lượng, giải quyết việc làm, đáp ứng và thỏa mãn được về cả vật chất lẫn tinh thần cho người lao động nói chung.

– Thứ hai, tổ chức công đoàn cũng đại diện của mình là tầng lớp người lao động trong khuôn khổ, phạm vị chức năng của mình sẽ tham gia và tiến hành quản lý, thanh tả, giám sát các đơn vị, cơ quan, tổ chức hành chính theo đúng quy định của luật pháp.

– Thứ ba, tổ chức công đoàn có chức năng trong công tác triển khai và xây dựng việc thực hiện giáo dục người lao động, động viên người lao động thực hiện nghĩa vụ của mình, phát huy vai trò làm chủ đất nước, cùng nhau xây dựng cũng như phát triển đất nước Việt Nam.

Trong hệ thống các chức năng của tổ chức công đoàn Việt Nam, có thể nói chức năng đầu tiên là một chức năng cốt lõi, quan trọng, đồng thời cũng là mục tiêu hướng đến của tổ chức công đoàn. Chức năng này là một chính thể, mang tính đồng bộ về mặt hệ thống, có sự tương tác và bổ trợ cho nhau. Các nhiệm vụ của tổ chức công đoàn cũng sẽ được định vị dựa trên cơ sở của hệ thống các chức năng trên.

2.4. Ý nghĩa của tổ chức công đoàn Việt Nam

Công đoàn có ý nghĩa giúp người lao động đoàn kết, thỏa thuận với người sử dụng lao động về tiền lương, giờ làm , lợi ích và các điều kiện tốt cho người lao động khác.

3. Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn là gì?

Như vậy, chúng ta vừa tìm hiểu xong về vị trí tổ chức công đoàn, vai trò của tổ chức công đoàn cũng như chức năng của tổ chức công đoàn. Vậy nhiệm vụ, hay còn gọi quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn là gì? Căn cứ vào các cơ sở pháp lý về mặt văn bản luật, có thể tóm gọn những quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức công đoàn Việt Nam như sau:

– Thứ nhất, tổ chức công đoàn Việt Nam đại diện cho giai cấp người lao động. Thực hiện việc bảo vệ, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của họ.

– Thứ hai, tổ chức công đoàn Việt Nam có trách nhiệm tham gia vào công tác quản lý về mặt Nhà nước cũng như quản lý về mặt Kinh tế – xã hội.

– Thứ ba, tổ chức công đoàn Việt Nam có trách nhiệm trong việc trình các dự án luật, các pháp lệnh Nhà nước. Đồng thời thực hiện việc kiến nghị mang tính xây dựng, hoàn thiện chính sách và pháp luật của Nhà nước.

– Thứ tư, tổ chức công đoàn Việt Nam có trách nhiệm và quyền được tham dự các cuộc họp, hội nghị, phiên họp và kỳ họp của các tổ chức khác.

– Thứ năm, tổ chức công đoàn Việt Nam có quyền và trách nhiệm trong việc tiến hành thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát toàn bộ những hoạt động trong phạm vi của các đơn vị, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp.

– Thứ sáu: tổ chức công đoàn Việt Nam có quyền và trách nhiệm trong công tác giáo dục, tuyên truyền và vận động người lao động.

– Thứ bảy, tổ chức công đoàn Việt Nam có quyền và nghĩa vụ trong việc phát triển, mở rộng quy mô tổ chức về đoàn viên công đoàn cũng như công đoàn tại cơ sở.

– Thứ tám, tổ chức công đoàn Việt Nam cấp trên về quyền và trách nhiệm là cơ sở đối với giai cấp người lao động ở đơn vị, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chưa thực hiện việc thành lập công đoàn tại cơ sở.

4. Những lợi ích khi tham gia công đoàn

Công đoàn giúp cho người lao động có tiếng nói tập thể, sự mạnh mẽ để đối chấp với quản lí khi không hài lòng một điều gì đó

Công đoàn sẽ giúp người lao động đàm phán những ddieuf kiện tốt nhất trong công việc . người lao động sẽ được công đoàn bảo vệ quyền lợi

Người lao động sẽ được nghỉ phép hàng năm nhiều hơn ở nơi làm việc có công đoàn

Khi tham gia công đoàn bạn sẽ kiểm được nhiều tiền hơn ở nơi làm việc phù hợp

Chế độ thai sản sẽ tốt hơn, rộng rãi hơn mức tối thiểu theo quy định

Tham gia công đoàn bạn sẽ có khả năng ở lại làm việc lâu hơn

Công đoàn sẽ đấu tranh đòi bình đằng cho người lao động ở nơi làm việc. Sẽ không có chuyện phân biệt đối xử xảy ra

Người lao động sẽ được công đoàn cung cấp cho dịch vụ pháp lí và tư vấn.

Như vậy, độc giả của chúng tôi đến đây cũng đã tìm hiểu xong về khái niệm tổ chức công đoàn là gì, cũng như những khía cạnh về tổ chức công đoàn như: vị trí, chức năng, vai trò, quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn. Hy vọng độc giả sẽ tiếp tục theo dõi các bài viết tiếp theo của chúng tôi

“Vũ Lực Không Phải Là Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông”

Chiều 21/10/2015, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Albert del Rosario đang thăm làm việc tại Việt Nam và đồng chủ trì Kỳ họp lần thứ 8 Ủy ban Hợp tác song phương Việt Nam – Philippines cùng với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Albert del Rosario

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao kết quả kỳ họp lần thứ 8 của Ủy ban Hợp tác song phương Việt Nam – Philippines cũng như kết quả làm việc của đoàn với các bộ, ngành của Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực, nhất là thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng Việt Nam và Philippines là hai nước có quan hệ láng giềng hữu nghị, cùng là thành viên của ASEAN, cùng có lợi ích chung ở Biển Đông, cùng có trách nhiệm trong xây dựng cộng đồng ASEAN ngày càng phát triển cường thịnh, vững mạnh,…Khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam là sẽ tiếp tục nỗ lực hết mình để cùng với Philippines đưa quan hệ hợp tác giữa hai nước phát triển sâu rộng, toàn diện và hiệu quả hơn, đưa quan hệ hai nước hướng tới một tầm cao mới trong thời gian tới.

Với tinh thần đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị hai bên tiếp tục tăng cường các hoạt động trao đổi đoàn các cấp, dành ưu tiên hơn nữa cho thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, nhất là thương mại về gạo, đầu tư, du lịch; tiếp tục phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy hợp tác về ngư nghiệp, khoa học kỹ thuật, văn hóa, an ninh, quốc phòng, giao lưu nhân dân. Thủ tướng khẳng định chính phủ Việt Nam luôn chào đón, khuyến khích và tạo các điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Philippines đầu tư, kinh doanh lâu dài, hiệu quả tại Việt Nam.

Ông Albert del Rosario cho rằng, vũ lực không phải là giải pháp cho vấn đề Biển Đông

Bộ trưởng Albert del Rosario khẳng định, Philippines đặc biệt coi trọng phát triển quan hệ hợp tác với Việt Nam trên các lĩnh vực. Trong kỳ họp lần thứ 8 của Ủy ban Hợp tác song phương Việt Nam – Philippines, hai bên đã đạt được những nhận thức chung quan trọng cũng như nhiều thỏa thuận hợp tác song phương, nhất là hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, biển và đại dương, ngư nghiệp, an ninh-quốc phòng, giao lưu nhân dân.

Cũng tại buổi tiếp, hai bên thống nhất cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong giải quyết, xử lý ngư dân của mỗi nước vi phạm vùng biển của nhau trên tinh thần nhân đạo, tinh thần quan hệ hợp tác hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam – Philippines.

Nam Hằng