Top 20 # Xem Nhiều Nhất Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Trong Doanh Nghiệp / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Trong Doanh Nghiệp / 2023

Marketing là gì?

Trong phần này chúng tôi muốn giới thiệu tới bạn đọc khái niệm Marketing là gì? vai trò của những yếu tố tạo nên một chiến lược Marketing hiệu quả.

Marketing dịch theo tiếng anh đó chính là tiếp thị. Đây là một hành động nhằm hướng tới mục tiêu là khách hàng. Như vậy, bạn có thể hiểu Marketing chính là việc đáp ứng những nhu cầu của khách hàng đưa ra.

Vai trò của content marketing

Vai trò của digital marketing

digital marketing được hiểu như một dịch vụ kết nối khách hàng với doanh nghiệp. Nhờ có digital marketing mà sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được nhiều người biết đến hơn. digital marketing chính là hình thức tiếp thị số qua các phương tiện truyền thông. Cụ thể như: Tivi, phát thanh Radio, bảng hiệu điện tử…

Vai trò của marketing trong kinh doanh

Marketing có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp, người tiêu dùng và toàn xã hội. Vậy, vai trò của marketing đối với xã hội, doanh nghiệp và người tiêu dùng ra sao?

Tầm quan trọng của marketing đối với doanh nghiệp

Marketing giúp đẩy mạnh doanh số bán hàng.

Marketing làm tăng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp.

Marketing tạo nên một lợi thế cạnh tranh vô cùng lành mạnh giữa các doanh nghiệp

Vai trò của marketing đối với người tiêu dùng

Marketing ngoài mang đến những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Marketing còn mang tới nhiều giá trị thiết thực cho người tiêu dùng. Cụ thể như:

Marketing giúp người tiêu dùng hiểu được giá trị của sản phẩm dịch vụ mà mình lựa chọn.

Marketing còn giúp thấu hiểu những mong muốn cũng như nhu cầu của khách hàng. Từ đó, giúp doanh nghiệp sáng tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ gần gũi với khách hàng hơn.

Chức năng của marketing trong doanh nghiệp

Nghiên cứu thị trường: Bao gồm việc thu thập sau đó phân tích thông tin thị trường.

Đưa ra kế hoạch tiếp thị.

Đưa ra ý tưởng thiết kế và phát triển sản phẩm dựa trên yêu cầu khách hàng.

Đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá chiến lượng marketing trong doanh nghiệp.

Xây dựng và phát triển thương hiệu vững mạnh.

Đưa ra những vai trò của truyền thông marketing để hướng khách hàng tốt nhất.

Mang đến một dịch vụ hỗ trợ và tư vấn khách hàng tốt nhất

Đưa ra thông tin giá cả của sản phẩm dịch vụ, hình thức khuyến mãi và đại lý cung cấp.

“”” XEM THÊM: DỊCH VỤ DIGITAL MARKETING LÀ GÌ? DIGITAL MARKETING LÀM ĐƯỢC NHỮNG GÌ CHO BẠN

Vai Trò Của Marketing Trong Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp / 2023

Nhiều người thường lầm tưởng Marketing với việc bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ vì vậy họ quan niệm Marketing là hệ thống có biện phỏp mà người bán hàng sử dụng để cốt sao bán được hàng và thu được tiền về cho người bán. Tuy nhiên Marketing hiện đại được định nghĩa như sau:

Marketing là quá trình xúc tiến với thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người hay Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.

Từ góc độ doanh nghiệp thì Marketing là một dạng hoạt động chức năng của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu thụng qua trao đổi hàng hóa trên thị trường và trên cơ sở thỏa mãn tốt nhất nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu.

Vậy nhu cầu, mong muốn, khách hàng mục tiêu… là gì?

Nhu cầu thường được người ta hiểu một cách quá đơn giản là sự đòi hỏi của con người về một vật phẩm nào đó. Nhưng thực ra thuật ngữ đó bao hàm một nội dung rộng lớn hơn mà nếu nhà kinh doanh chỉ ddừng ở đó thì khó có thể tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình lớn được. Nhu cầu là một thuật ngữ mà nội dung của nó hàm chứa ba mức độ: nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán.

Nhu cầu tự nhiên phản ánh sự cần thiết của con người về một vật phẩm. Nhu cầu tự nhiên là một trạng thái tâm lý của con người, là một sự thiếu hụt cái gì đó mà con người chủ thể có thể cảm nhận được, nó là nguồn gốc của mọi sự khát khao, là động lực của hành động. Khi xuất hiện nhu cầu tự nhiên con người có hai cách giải quyết đó là kiềm chế nhu cầu hoặc tìm cách thỏa mãn nhu cầu bằng cách tìm đối tượng để thỏa mãn và nhìn chung người ta sẽ chọn cách thứ hai, đây chính là cách thức tồn tại của con người.

Rõ ràng người làm Marketing không thể chỉ dừng lại ở nhu cầu tự nhiên, để tạo ra được sản phẩm hàng hóa thích ứng với nhu cầu thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp người ta phải hiểu một khía cạnh thứ hai của nhu cầu thị trường đó là mong muốn.

Mong muốn là một dạng cụ thể của nhu cầu tự nhiên gắn liền với những điều kiện cụ thể, những đặc điểm cụ thể về mọi phương diện của con người có thể như trình độ văn hóa, tính cách có nhân,… Ví dụ, đói là một cảm giác thiếu hụt lương thực, thực phẩm trong dạ dày, sự đòi hỏi về lương thực và thực phẩm để chống đói là nhu cầu tự nhiên của con người. Nhưng người này thì muốn ăn cơm, người khác lại muốn ăn bánh mì, người này muốn ăn cơm khô, người khác lại muốn ăn cơm dẻo… Những sự khác nhau đó trong nhu cầu đòi hỏi được đáp lại bằng cựng một loại sản phẩm nhưng có những đặc tính khác nhau phản ỏnh ưíc muốn của con người.

Như vậy mong muốn ở đây là đề cập đến cách thức để thỏa mãn nhu cầu tự nhiên, nhu cầu chính là cơ sở của mong muốn, mong muốn là dạng đặc thự của nhu cầu tự nhiên, một nhu cầu có thể huóng tới nhiều mong muốn và do đó mà hướng tới nhiều hàng hóa khác nhau, vì mong muốn luôn luôn biến đổi rất phong phú do nó mang dấu ấn văn hóa và tính cách có nhân của con người. Mong muốn đòi hỏi một sản phẩm cụ thể và chỉ khi doanh nghiệp phát hiện ra mong muốn thì họ mới thiết kế được sản phẩm cung ứng ra thị trường.

Nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người là vụ hạn, nhà kinh doanh không chỉ phát hiện và sản xuất ra sản phẩm để thích ứng với chóng như là những sản phẩm cho không, mà phải thụng qua trao đổi để vừa thỏa mãn lợi ích của người tiêu dùng, vừa thỏa mãn mục đích của nhà kinh doanh. Vì vậy trong khi đáp lại nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người nhà kinh doanh phải tính đến một nội dung khác của nhu cầu thị trường đó là nhu cầu có khả năng thanh toán.

Nhu cầu có khả năng thanh toán là đối tượng khai thác trực tiếp của Marketing vì đây mới là nhu cầu hiện thực đem lại doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nhu cầu có khả năng thanh toán chính là mong muốn được hỗ trợ bởi sức mua và phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng. Tức là nó gắn với hai điều kiện người tiêu dùng phải có mong muốn và người tiêu dùng có khả năng chi trả và sẵn sàng chi trả.

Để hiểu được nhu cầu thị trường đòi hỏi nhà quản trị Marketing phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng về các phương diện của nhu cầu. Doanh nghiệp muốn thắng lợi trong cạnh tranh thương trường, muốn đi đầu trong việc làm thỏa mãn và khai thác nhu cầu thị trường, muốn khái rơi vào thế đối phú bị động, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và xác định đúng đắn nhu cầu là một loại hoạt động tất yếu phải được thực hiện thường xuyên và chủ động bởi một bộ phận chuyên môn.

Trong kinh doanh muốn có cơ hội thực sự thì phải đo lường được cầu về số lượng và tính chất. Hiểu được nhu cầu thị trường , bưíc tiếp theo doanh nghiệp cần thiết kế được sản phẩm. Sản phẩm được hiểu là tất cả mọi hàng hóa và dich vụ có thể đem chào bán, có khả năng thỏa mãn một nhu cầu hay mong muốn nào đó của con người, gây sự chó ý, kích thích sự mua sắm và tiêu dùng của họ. ý nghĩa lớn nhất của sản phẩm đối với người tiêu dùng không phải là quyền sở hữu chóng mà là chóng đó thỏa mãn nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng như thế nào. Như vậy nhiệm vụ đặt ra cho cac nhà kinh doanh là phải xác định chính xác nhu cầu mong muốn và do đó lợi ích mà người tiêu dùng cần được thỏa mãn, từ đó sản xuất và cung cấp những hàng hóa và dịch vụ có thể đảm bảo tốt nhất những lợi ích cho người tiêu dung.

Nhiều nhà kinh doanh thường phạm phải sai lầm là: chỉ chó ý tới bản thân sản phẩm, mà coi nhẹ những lợi ích do sản phẩm đó có thể mang lại. Trỏi lại, các doanh nghiệp thực hàng Marketing thành cụng thường hành động theo triết lý: “hãy yêu quý khách hàng hơn là sản phẩm” hoặc là: “hãy quan tâm tới lợi ích có thể đem lại cho khách hàng hơn là sản phẩm”

Khi khách hàng quyết định mua sắm một nhãn hiệu hàng hóa cụ thể họ thường kó vọng vào những lợi ích do tiêu dùng nhãn hàng hóa đó mang lại. Cựng một nhu cầu có nhiều hàng hóa hoặc nhãn hiệu hàng hóa có thể huóng đến để thỏa mãn nhưng theo cảm nhận của người tiêu dùng thì mức độ cung cấp những lợi ích của các hàng hóa đó không giống nhau. Hàng hóa này có ưu thế về cung cấp lợi ích này, nhưng lại có hạn chế trong việc cung cấp lợi ích khác. Khi quyết định mua buộc người tiêu dùng phải lựa chọn, để lựa chọn người tiêu dùng phải căn cứ vào khả năng cung cấp các lợi ích và khả năng thỏa mãn nhu cầu của hàng hóa.

Việc đánh giá giá trị tiêu dùng đối với các hàng hóa là suy diễn đầu tiên của khách hàng hướng đến với hàng hóa. Để dẫn tới quyết định mua hàng khách hàng phải quan tâm tới chi phí đối với nó. Theo quan niệm của người tiêu dùng thì chi phí đối với một hàng hóa là tất cả những hao tổn mà người tiêu dùng phải bỏ ra để có được những lợi ích do tiêu dùng hàng hóa đó mang lại. Như vậy để có được những lợi ích tiêu dùng khách hàng phải chi ra tiền của sức lực, thời gian và thậm chí cả chi phí do khắc phục những hậu quả phát sinh bởi việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa. Những chi phí này bao gồm cả chi phí mua sắm, sử dụng và đào thải sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để khách hàng lựa chọn những hàng hóa khác nhau trong việc thỏa mãn cựng một nhu cầu.

Có thể thấy Marketing xuất hiện khi người ta quyết định thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thụng qua trao đổi. Trao đổi là hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn tõ một người nào đó bằng cách đưa cho họ một thứ khác. Trao đổi là khái niệm căn bản nhất tạo nền mang cho hoạt động Marketing nhưng để tiến tới trao đổi cần phải có các điều kiện sau:

Ít nhất phải có hai bên.

Mỗi bên cần phải có một thứ gì đó có giá trị đối với bên kia.

Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao thứ mình có.

Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay tõ chối đề nghị của bên kia.

Mỗi bên đều tin chắc là mình nờn hay muốn giao dịch với bên kia.

Trao đổi là một quá trình chứ không phải là một sự việc, hai bên được xem là đang thực hiện trao đổi nếu họ đang thương lượng để đi đến những thỏa thuận. Khi đó đạt được sự thỏa thuận thì người ta nói rằng một giao dịch đó hoàn thành. Giao dịch là đơn vị đo lường cơ bản của trao đổi. Giao dịch là một cuộc trao đổi mang tính chất thương mại những vật có giá trị giữa hai bên.

Như vậy các giao dịch thương mại chỉ có thể diễn ra thực sự khi hội đủ các điều kiện:

Ít nhất có hai vật có giá trị.

Những điều kiện thực hiện giao dịch đó thỏa thuận xong.

Thời gian thực hiện đó thỏa thuận xong.

Địa điểm thực hiện đó thỏa thuận xong.

Những thỏa thuận này có thể được thể hiện trong cam kết hoặc hợp đồng giữa hai bên, trên cơ sở một hệ thống luật phỏp buộc mỗi bên phải thực hiện cam kết của mình.

Khái niệm trao đổi, giao dịch dẫn ta đến khái niệm thị trường. Thị trường là tập hợp những người mua nhất định có nhu cầu và mong muốn cụ thể mà doanh nghiệp có thể thỏa mãn được, thị trường bao gồm những người mua hiện tại và tiềm ẩn. Như vậy theo quan niệm này thì quy mụ thị trường sẽ tựy thuộc vào số người có cựng nhu cầu và mong muốn, vào lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hóa thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó. Quy mụ thị trường không phụ thuộc vào số người đó mua hàng và cũng không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn khác nhau. Marketing quan niệm những người bán hợp thành ngành sản xuất cung ứng còn người mua hợp thành thị trường. Do đó thuật ngữ thị trường được dùng để ỏm chỉ một nhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định được thỏa mãn bằng một loại sản phẩm cụ thể, họ có đặc điểm giíi tính hay tâm sinh lý nhất định, độ tuổi nhất định và sinh sống ở một vựng cụ thể.

Qua những khái niệm trên chóng ta đó có thể hiểu được một cách đầy đủ và đúng đắn về khái niệm Marketing nói chung. Tõ đó thấy được bản chất của Marketing là đạt được mục tiêu của chủ thể bằng cách thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách thể. Đứng trên góc độ doanh nghiệp thì bản chất của Marketing là các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của thị trường.

Vai Trò Và Chức Năng Của Quản Trị Nhân Lực Trong Doanh Nghiệp / 2023

Quản trị nhân sự trong doanh nghiệp là công tác quản lý nguồn nhân lực và lực lượng lao động của doanh nghiệp đó. Công tác quản trị nhân lực bao gồm các công việc như: thu hút, tuyển dụng lao động, đào tạo nhân viên, đánh giá kết quả làm việc của nhân viên, tính lương và thưởng cho nhân viên,… Đồng thời, quản trị nhân sự cũng làm nhiệm vụ giám sát ban lãnh đạo và đảm bảo cho mọi hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với Luật Lao động cũng như Luật việc làm của nhà nước hiện nay.

Chức năng của quản trị nguồn nhân lực

Quản trị nguồn nhân lực là điều không thể thiếu trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô lớn. Chức năng của quản trị nhân lực trong các doanh nghiệp cơ bản gồm có:

Tuyển dụng lao động: Bộ phận nhân sự sẽ phải thực hiện các biện pháp để thu hút được ứng viên nộp hồ sơ và tới phỏng vấn các vị trí làm việc trong doanh nghiệp.

Đào tạo nhân lực: Việc đào tạo nhân lực đóng vai trò rất quan trọng. Tùy thuộc vào vị trí đảm nhận mà bộ phận thực hiện quản trị nhân sự sẽ có những hình thức và nội dung khác nhau để đào tạo nên các nhân viên phù hợp với vị trí đó.

Phân tích, tổ chức thực hiện các công việc: Quản trị nhân sự thực hiện các chức năng như phân tích tính chất công việc. Đồng thời, quản trị nhân sự cũng đảm nhận việc tổ chức, điều chuyển nhân lực để phù hợp với từng vị trí, bộ phận khác nhau.

Quản lý hồ sơ của nhân viên: Bộ phận quản trị nhân sự sẽ lưu trữ và cập nhật những thông tin cá nhân, công việc của từng người lao động trong doanh nghiệp.

Chấm công, tính lương, tính tiền thưởng và quản lý các chế độ phúc lợi của người lao động.

Bên cạnh những chức năng cơ bản như trên, quản trị nhân lực trong thời đại 4.0 ngày nay còn thực hiện thêm các chức năng như đánh giá hiệu quả lao động (KPI). Từ đó có những chế độ lương và thưởng phù hợp với từng người. Đó cũng là nền tảng để bổ nhiệm và điều chuyển nhân viên phù hợp trong doanh nghiệp.

Vai trò của quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp

Quản trị nhân lực đóng vai trò rất quan trọng trong các doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển. Những vai trò chính của quản trị nguồn nhân lực như sau:

Là bộ phận trực tiếp quản lý tất cả những vấn đề của nhân sự, hiểu được các vấn đề cần khắc phục, cần bổ sung hoặc duy trì, phát triển, quản trị nguồn nhân sự có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách nguồn nhân lực cho doanh nghiệp. Những chính sách này nhằm đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được phù hợp với những chính sách và pháp luật hiện hành của nhà nước.

Quản trị nhân sự là công cụ hỗ trợ tích cực cho những người đứng đầu doanh nghiệp, đặc biệt là khi doanh nghiệp đó rơi vào tình trạng khó khăn về nhân sự. Khi doanh nghiệp xuất hiện tình trạng nhân viên làm việc không tốt hoặc bỏ việc gây tình trạng thiếu hụt nhân sự dẫn đến chậm tiến độ sản xuất thì bộ phận quản trị nhân sự sẽ có chức năng tư vấn cách chức, đưa ra các giải pháp để người đứng đầu doanh nghiệp giải quyết vấn đề một cách hiệu quả và nhanh chóng.

Thông qua quản trị nhân lực, ban lãnh đạo có thể dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu về một hoặc một bộ phận nhân viên, người lao động trong doanh nghiệp của mình. Những thông tin về nhân viên, người lao động sẽ được thể hiện qua hồ sơ, báo cáo về trình độ kỹ thuật chuyên môn mà bên quản trị nhân sự cung cấp. Từ đó, ban lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định đúng đắn về việc bổ nhiệm, thăng chức hay cách chức cho phù hợp.

Bộ phận quản trị nhân sự có chức năng kiểm tra nhân lực thông qua quản lý hồ sơ, tuyển dụng hoặc khen thưởng, đánh giá kết quả lao động của nhân viên trong doanh nghiệp. Từ việc đánh giá này, các bộ phận sẽ đưa ra những chính sách, quyết định phù hợp về mức lương, khen thưởng để động viên, thúc đẩy hiệu quả lao động của nhân viên, giúp năng suất làm việc được tăng cao. Bộ phận này cũng quản lý ứng viên, công nhân viên, các cán bộ nhân sự và phụ trách cả giám sát lãnh đạo.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị nhân lực

Kinh tế: Trong giai đoạn kinh tế bị khủng hoảng, suy thoái thì các doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì giai đoạn này sẽ bị chững lại, hoạt động kinh doanh bất động sản không còn được nhộn nhịp như trước. Lúc này, các doanh nghiệp cần phải giữ lại những nhân viên làm tốt nhưng cũng phải giảm chi phí lao động xuống. Điều này dẫn đến việc công ty, doanh nghiệp phải giảm giờ làm, cắt giảm nhân sự.

Dân số, lực lượng lao động: Lao động nữ đông hơn sẽ ảnh hưởng tới các doanh nghiệp trên phương diện thai sản và chăm sóc con cái.

Luật pháp: Tại Việt Nam, luật pháp được ban hành và chi phối các mối quan hệ trong lao động. Tất cả các công ty, doanh nghiệp dù hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào đều phải tuân theo.

Văn hóa – xã hội: Việc thay đổi lối sống trong xã hội sẽ ảnh hưởng tới cấu trúc của doanh nghiệp.

Đối thủ cạnh tranh: Các doanh nghiệp muốn cạnh tranh tốt trên thị trường thì phải có chính sách nhân lực hợp lý. Nếu không thực hiện tốt, những nhân tài sẽ bị đối thủ chiêu mộ.

Mục tiêu của doanh nghiệp: Yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều đến quản trị nhân lực. Mỗi cấp quản trị đều phải hiểu rõ mục tiêu tôn chỉ của doanh nghiệp. Mục tiêu này ảnh hưởng đến các bộ phận chuyên môn như tài chính, marketing, sản xuất,…

Chính sách của doanh nghiệp: Chính sách của doanh nghiệp thường là những lĩnh vực thuộc về bên quản trị nhân lực. Những chính sách này được áp dụng tùy vào chiến lược của doanh nghiệp đó nhằm thu hút lực lượng lao động có chuyên môn, tay nghề cao.

Văn hóa của doanh nghiệp: Văn hóa của doanh nghiệp được hình thành từ tấm gương của ban lãnh đạo, được phát huy từ những gì họ làm chứ không phải chỉ nói suông. Một doanh nghiệp có văn hóa tốt, chuyên nghiệp và văn minh chắc chắn sẽ thu hút người mọi người đến phỏng vấn, nộp đơn xin việc.

Nguồn: chúng tôi

Vai Trò Của Marketing Đối Với Nhiều Nền Doanh Nghiệp / 2023

Vai trò của marketing

Vai trò của marketing đối với doanh nghiệp

– Vai trò của marketing giúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường do nó cung cấp khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường và môi trường bên ngoài.

– Marketing tạo ra sự kết nối các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với thị trường trong tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất.

Vai trò của marketing đối với người tiêu dùng

– Vai trò của marketing giúp sáng tạo ra nhiều loại và chủng loại hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của từng nhóm khách hàng, từng khách hàng. Marketing nghiên cứu xác định nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng về sản phẩm với hình thức và đặc tính cụ thể để định hướng cho những người lập kế hoạch sản xuất thực hiện.

– Có tính hữu ích về địa điểm khi sản phảm có mặt đúng nơi có người cần mua nó.

– Lợi ích về mặt sở hữu xuất hiện khi kết thúc hành vi mua bán, khi đó người mua có toàn quyền sở hữu và sử dụng sản phẩm.

Vai trò của marketing đối với xã hội

– Là sự cung cấp một mức sống đối với xã hội. Khi chúng ta xem xét toàn bộ hoạt động marketing của các doanh nghiệp đặc biệt là khối các hoạt động vận tải và phân phối ta thấy rằng hiệu quả của hệ thống đưa hàng hóa từ từ người sản xuất đến người tiêu dùng có thể ảnh hưởng lớn đến vấn đề phúc lợi xã hội.

Mục tiêu của Marketing

Marketing hướng đến ba mục tiêu chủ yếu sau: (Th.S Nguyễn Công Dũng, 2005, tr.19).Thỏa mãn khách hàng: Là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Các nỗ lực Marketing nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, làm cho họ hài lòng, trung thành với doanh nghiệp, qua đó thu phục thêm khách hàng mới.Chiến thắng trong cạnh tranh: Giải pháp Marketing giúp doanh nghiệp đối phó tốt các thách thức cạnh tranh, bảo đảm vị thế cạnh tranh thuận lợi trên thị trường.Lợi nhuận lâu dài: Marketing phải tạo ra mức lợi nhuận cần thiết giúp doanh nghiệp tích lũy và phát triển.

Chức năng của Marketing

Chức năng cơ bản của Marketing là dựa trên sự phân tích môi trường để quản trị Marketing, cụ thể là:Phân tích môi trường và nghiên cứu Marketing: Dự báo và thích ứng với những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại; Tập hợp các thông tin để quyết định các vấn đề về Marketing.Mở rộng phạm vi hoạt động: Lựa chọn và đưa ra cách thức thâm nhập những thị trường mới (Th.S Nguyễn công Dũng, 2005, tr.19). Phân tích người tiêu thụ: Xem xét và đánh giá những đặc tính,yêu cầu, tiến trình mua của người tiêu thụ; Lựa chọn nhóm người tiêu thụ để hướng các nỗ lực Marketing vào.

Marketing là gì?

3 mục đích chính của tiếp thị:

Thu hút sự chú ý của một thị trường mục tiêu.

Tạo điều kiện cho quyết định mua của khách hàng tiềm năng.

Cung cấp cho khách hàng một hành động cụ thể, ít rủi ro và dễ thực hiện.

Với các mục đích này, phiếu giảm giá, bán hàng hoặc cách các sản phẩm được hiển thị, là một phần của quá trình tiếp thị. Tiếp thị là nền tảng của mọi doanh nghiệp, mục tiêu chung là bán nhiều sản phẩm hoặc dịch vụ hơn.

Lộc Đạt-tổng hợp