Top 11 # Xem Nhiều Nhất Vai Trò Và Chức Năng Của Gia Đình Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Gia Đình Và Vai Trò, Chức Năng Của Gia Đình Trong Quá Trình Phát Triển Của Xã Hội

***THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÁO MỪNG NĂM HỌC MỚI 2020 – 2021*** ***THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÁO MỪNG NĂM HỌC MỚI 2020 – 2021***

Chủ nhật – 07/06/2020 20:48

Gia đình là tế bào của xã hội, nơi thực hiện các vai trò, chức năng để con người sinh ra và lớn lên, nơi thế hệ trẻ được chăm lo cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và nhân cách để hội nhập vào cuộc sống cộng đồng xã hội.

Có nhiều quan điểm khác nhau về gia đình và vai trò của gia đình, như nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Tuấn dưới góc độ luật học thì cho rằng: “Gia đình là một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân và huyết thống và về nuôi dưỡng đã gắn bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái”. Còn theo tác giả Lê Thi thì quan niệm: Gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống, nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội, ngoại). Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống. Các thành viên trong gia đình gắn bó về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và gia đình của nước ta). Đồng thời, trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên. Từ nhiều góc độ khác nhau, có thể hiểu: Gia đình là tế bào của xã hội, một thiết chế xã hội tồn tại bền vững, gắn bó với nhau trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới của bố mẹ, thông qua hôn nhân không cùng huyết thống để tái sản xuất nòi giống; hoặc thông qua quan hệ nuôi dưỡng (con nuôi…) cùng làm kinh tế, nuôi dạy con cái trưởng thành, hiếu thảo, biết thương yêu mọi người, có trách nhiệm; trở thành người công dân có đạo đức, học vấn, nghề nghiệp, văn hóa và tạo dựng cuộc sống gia đình no ấm, hòa thuận, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Cũng có thể hiểu một cách ngắn gọn: Gia đình là tế bào của xã hội, trong đó các thành viên cùng sinh sống dựa trên mối quan hệ hôn nhân và huyết thống, cùng có chung những giá trị vật chất và tinh thần, cùng thực hiện các chức năng khách quan phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

Tác giả bài viết: Ths. Trần Thị Hồng Nhung

Từ khóa: thực hiện, xã hội, thể chất, thế hệ, vai trò, đạo đức, gia đình, nhân cách, trí tuệ, tế bào, sinh ra

Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

Đang truy cập 5

Hôm nay 830

Tháng hiện tại 48,491

Tổng lượt truy cập 1,530,848

Vai Trò Và Chức Năng Của Thị Trường

Vai trò của thị trường

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thoả mãn các nhu cầu của thị trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nhu cầu… Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, thì thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường vừa là động lực, vừa là điều kiện, vừa là thước đo kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp

– Là động lực: Thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại được phải luôn nắm bắt được các nhu cầu đó và định hướng mục tiêu hoạt động cũng phải xuất phát từ những nhu cầu đó. Ngày nay, mức sống của người dân được tăng lên một cách rõ rệt do đó khả năng thanh toán của họ cũng cao hơn. Bên cạnh đó, các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh đua nhau cạnh tranh dành giật khách hàng một cách gay gắt bởi vì thị trường có chấp nhận thì doanh nghiệp mới tồn tại được nếu ngược lại sẽ bị phá sản. Vậy thị trường là động lực sản xuất,cũng như kinh doanh thương mại của doanh nghiệp.

– Là điều kiện: Thị trường bảo đảm cung ứng có hiệu quả các yếu tố cần thiết để doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ hoạt động kinh doanh của mình. Nếu doanh nghiệp có nhu cầu về một loại yếu tố sản xuất hay một loại hàng hóa nào đó thì tình hình cung ứng trên thị trường sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tiêu cực hoặc tích cực tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy thị trường là điều kiện của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

– Là thước đo: Thị trường cũng kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các phương án hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong qua trình hoạt động kinh doanh thương mại, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với các trường hợp khó khăn đỏi hỏi phải có sự tính toán cân nhắc trước khi ra quyết định. Mỗi một quyết định đều ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp. Thị trường có chấp nhận, khách hàng có ưa chuộng sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp thì mới chứng minh được phương án kinh doanh đó là có hiệu quả và ngược lại. Vậy thị trường là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Như vậy thông qua thị trường (mà trước hết là hệ thống giá cả) các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực. Trên thị trường, giá cả hàng hoá và dịch vụ, giá cả các yếu tố đầu vào (như máy móc thiết bị, nguồn sản phẩm hàng hóa, đất đai, lao động, vốn… ) luôn luôn biến động nên phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng kịp thời nhu cầu hàng hoá của thị trường và xã hội.

Chức năng của thị trường:

Nếu sản phẩm doanh nghiệp sản xuất hay nhập khẩu tiêu thụ được trên thị trường, tức là khi đó hàng hoá của doanh nghiệp đã được thị trường chấp nhận, lúc ấy sẽ tồn tại một lượng khách hàng nhất định có nhu cầu và sãn sàng trả tiền để có hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu đó và quá trình tái sản xuất đầu tư của doanh nghiệp nhờ đó mà cũng được thực hiện. Thị trường thừa nhận tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ đưa ra giao dịch, tức thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của chúng, chuyển giá trị cá biệt thành giá trị xã hội. Sự phân phối và phân phối lại các nguồn lực nói lên sự thừa nhận của thị trường.

Chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh phải tìm hiểu kỹ thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường. Xác định cho được thị trường cần gì với khối lượng bao nhiêu…

Chức năng thực hiện của thị trường

Thông qua các hoạt động trao đổi trên thị trường, người bán và người mua thực hiện được các mục tiêu của mình. Người bán nhận tiền và chuyển quyền sở hữu cho người mua. Đổi lại, người mua trả tiền cho người bán để có được giá trị sử dụng của hàng hoá. Tuy nhiên, sự thể hiện về gía trị chỉ xảy ra khi thị trường đã chấp nhận giá trị sử dụng của hàng hoá. Do đó, khi sản xuất hàng hoá và dịch vụ doanh nghiệp không chỉ tìm mọi cách để giảm thiểu các chi phí mà còn phải chú ý xem lợi ích đem lại từ sản phẩm có phù hợp với nhu cầu thị trường hay không.

Như vậy thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá và dịch vụ hình thành nên các giá trị trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.

Chức năng điều tiết và kích thích của thị trường

Cơ chế thị trường sẽ điều tiết việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , tức là kích thích các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực có mức lợi nhuận hấp dẫn, có tỷ suất lợi nhuận cao, tạo ra sự di chuyển sản xuất từ ngành này sang ngành khác. Thể hiện rõ nhất của chức năng điều tiết là sự đào thải trong quy luật cạnh tranh. Doanh nghiệp nào, bằng chính nội lực của mình, có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường, phản ứng một cách kịp thời, linh hoạt, sáng tạo với các biến động của thị trường thì sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại sẽ bị phá sản. Ngoài ra thị trường còn hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng theo mục đích có lợi nhất nguồn ngân sách của mình.

Chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt cho được chu kỳ sống của sản phẩm, để xem sản phẩm đang ở giai đoạn nào, tức lã xem sét mức độ hấp dẫn của thị trường đến đâu để từ đó có các chính sách phù hợp.

Chức năng thông tin của thị trường

Chức năng này được thể hiện ở chỗ, thị trường chỉ cho người đầu tư kinh doanh biết nên cung cấp hàng hoá và dịch vụ nào, bằng cách nào và với khối lượng bao nhiêu để đưa vào thị trường tại thời điểm nào là thích hợp và có lợi nhất, chỉ cho người tiêu dùng biết nên mua những loại hàng hoá và dịch vụ tại những thời điểm nào là có lợi cho mình.

Thị trường sẽ cung cấp cho nhà sản xuất hay nhà kinh doanh thương mại và người tiêu dùng những thông tin sau: Tổng số cung, tổng số cầu, cơ cấu cung và cầu, quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hoá và dịch vụ, các điều kiện tìm kiếm hàng hoá và dịch vụ, các đơn vị sản xuất và phân phối…Đây là những thông tin quan trọng cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng để đề ra quyết định thích hợp đem lại lợi ích hiệu quả cho họ.

Để có những thông tin này doanh nghiệp phải tổ chức tốt hệ thống thông tin của mình bao gồm các ngân hàng thống kê và ngân hàng mô hình cũng như các phương pháp thu thập xử lý thông tin nhằm cung cấp những thông tin về thị trường cho lãnh đạo doanh nghiệp để xây dựng kế hoạch chiến lược, kế hoạch phát triển thị trường.

Đề Tài Vị Trí Vai Trò Của Gia Đình Trong Xã Hội Xây Dựng Gia Đình Việt Nam Hiện Nay

biết đầu tiên của con cái cũng được đem lại từ gia đình. Bởi vậy, chức năng nuôi dưỡng, giáo dục con cái là chức năng thường xuyên của gia đình, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, lối sống, đạo đức của mỗi người. Đối với chức năng này, vai trò của cha mẹ đối với con cái trong việc giáo dục con cái là hết sức quan trọng. Cha mẹ giáo dục con cái về mọi mặt từ nội dung đến hình thức. Nội dung giáo dục trong gia đình mang tính đa dạng, toàn diện. Từ giáo dục về cách ứng xử hàng ngày với ông bà, cha mẹ, anh em, láng giềng… đến những việc nhân nghĩa, tình yêu quê hương, đất nước… hay đó là những bài học về giới tính, lứa tuổi, công việc… Đồng thời, hình thức giáo dục của cha mẹ không chỉ bằng lời nói, thái độ, tình cảm mà cha mẹ phải nêu gương trước, phải trở thành tấm gương mẫu mực cho con cái noi theo. Bên cạnh gia đình, nhà trường, xã hội và các tổ chức quần chúng có sự phối hợp, hỗ trợ trong việc giáo dục con người, nhưng không thể thay thế được. Bởi vậy, sai lầm nhỏ trong việc giáo dục của cha mẹ đối với con cái cũng có thể gây nên hậu quả đáng tiếc. Hiện nay, việc con cái yêu sớm rồi nạo hút thai ngoài ý muốn đang gióng lên hồi chuông báo động không chỉ cho các bậc cha mẹ mà cho cả xã hội. Nhiều người có con cái lâm vào tình trạng này đều đổ lỗi cho xã hội. Nhưng nếu xét kĩ thì nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ em vị thành niên yêu sớm, và quan hệ tình dục dẫn đến nạo hút thai vẫn thuộc về các bậc làm cha làm mẹ nhiều nhất. Vẫn còn đa số các bậc cha mẹ không quan tâm đến các mối quan hệ của con cái ngoài việc học hành của chúng. Đó là chưa kể đến các bậc phụ huynh mải lo buôn bán làm ăn, khoán trắng việc học hành cũng như tâm tư tình cảm của con mình cho người giúp việc, gia sư, nhà trường… Phải chăng, chính từ suy nghĩ và quan niệm như trên mà các bậc phụ huynh đã vô tình cho con mình vào con đường tình ái sớm, để lại hậu quả đáng tiếc cho các em và nỗi hận day dứt cho chính mình. 1.3.3. Chức năng kinh tế. Theo quan điểm duy vật biện chứng thì nhân tố quyết định trong lịch sử là sản xuất. Bản thân sản xuất lại có hai loại: sản xuất ra con người và sản xuất ra tư liệu sinh hoạt. Bên cạnh việc sản xuất ra con người (chức năng duy trì nòi giống) gia đình còn tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Đây chính là chức năng kinh tế của gia đình. Với chức năng này, gia đình huy động mọi tiềm năng về sức lao động, vốn, tay nghề của nguồn lao động mà gia đình cung cấp cho xã hội. Mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế phù hợp với từng lứa tuổi, giới tính, trình độ… Cùng với sự phát triển của xã hội, chức năng kinh tế của gia đình cũng phát triển khá đa dạng, phong phú. Nó thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… trên mọi lĩnh vực ngành nghề khác nhau. Thực hiện chức năng này, gia đình đảm bảo nguồn sinh sống, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình, đồng thời đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội. Từ khi chế độ tư hữu ra đời thì người đàn ông chiếm vị trí quan trọng hơn so với người phụ nữ trong lao động. Điều này dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong xã hội như quan niệm: “trọng nam khinh nữ”… Xã hội càng tiến lên, càng phải vật lộn với cuộc sống. Chẳng những người đàn ông mà người phụ nữ cũng phải có tài. Ngày nay, phụ nữ đã và đang chứng tỏ được vai trò của mình trong gia đình với việc thực hiện chức năng kinh tế. Giờ đây, phụ nữ làm giàu còn giỏi hơn đàn ông. Theo kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu Anh, số lượng những phụ nữ giàu có tăng lên rõ rệt. Điều đó khiến chỉ riêng ở Anh đã có tới 360 nghìn nữ triệu phú. Đương nhiên, nó có nguyên nhân của nó. Nguyên nhân chủ yếu là do các phụ nữ trẻ tháo vát và mạnh dan hơn nam giới trong các vấn đề tài chính, họ tiết kiệm hơn và tính toán hiệu quả hơn, biết tận dụng mọi khả năng của họ tốt hơn nam giới. Phần lớn, những phụ nữ kinh doanh thành đạt thường có gia đình êm ấm, hạnh phúc, hơn nữa người chồng thường hỗ trợ cho vợ bằng cách tự nguyện đảm nhận phần chủ yếu công việc nội trợ. Thế mới biết “thành công trong kinh doanh không phụ thuộc vào giới tính, miễn là bạn có sản phẩm tốt và những kỹ năng cần thiết”. 1.3.4. Chức năng tổ chức đời sống. Đây cũng là chức năng thường xuyên của gia đình. Việc tổ chức đời sống là việc sử lý hợp lý các khoản thu nhập, đóng góp của các thành viên trong gia đình nhằm đảm bảo nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên, đồng thời tạo ra môi trường văn hoá lành mạnh trong gia đình, nhằm nâng cao sức khoẻ, tình cảm, trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình. Chức năng tổ chức đời sống, là công việc của mọi thành viên trong gia đình. Nó có tính đa chiều: các thành viên có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Cha mẹ, ông bà có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, cháu chắt. Ngược lại, con cái có bổn phận kính trọng, hiếu thảo và phụng dưỡng ông bà, cha mẹ. Trong chức năng tổ chức đời sống gia đình, vị trí, vai trò của người phụ nữ càng nổi lên rõ rệt, thể hiện qua cách cư xử thường nhật: từ chuyện nội trợ đến vai trò, trách nhiệm làm tròn đến đâu với con cái, với cha mẹ hai bên, với họ hàng làng xóm… Công việc nội trợ là công việc rất quan trọng. Người phụ nữ phải biết “giữ” chồng con qua bếp lửa ấm. Còn gì hạnh phúc hơn sau một ngày làm việc mệt mỏi, cả gia đình được sum vầy, ấm cúng bên nhau. Công việc nội trợ vừa gắn kết tình cảm các thành viên với nhau, vừa nhanh chóng tái tạo sức lao động, bồi dưỡng trí lực, thể lực của mọi thành viên trong gia đình… Như vậy, để có hoà khí êm ấm của gia đình hạnh phúc là cả mồ hôi, công sức, đôi khi cả xương máu của người chồng, người vợ và các đứa con – những thành viên luôn khao khát một tổ ấm sum vầy. Dù thế, cuộc sống vẫn như một dòng chảy bất tận, và trong dòng chảy của sinh sôi phát triển, con người luôn truyền giữ nhu cầu xây đắp hạnh phúc dài lâu. Hơn lúc nào hết, mỗi người chúng ta cần ý thức gia đình là vấn đề toàn cầu. Tóm lại gia đình là đặc ân của con người, gia đình luôn đòi hỏi tình yêu thương, ý thức vun đắp dựng xây của mỗi thành viên, qua đó các chức năng cơ bản của gia đình được bộc lộ. Các chức năng của giáo dục không tách rời nhau mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Mỗi một chức năng là một đặc thù của gia đình mà không một cộng đồng xã hội nào có thể thay thế được. Đặc biệt, phải chú trọng đến vai trò người phụ nữ trong gia đình bởi đấy chính là thiên chức của người phụ nữ. Kết quả từ các cuộc thăm dò xã hội cho thấy, tỉ lệ phụ nữ mong ước và đạt kế hoạch cụ thể phấn đấu cho mẫu hình gia đình hạnh phúc thương cao hơn so với nam giới. Như vậy, không nên hiểu nhầm nam giới có ý thức gia đình kém hơn nữ giới. Chẳng qua, thiên chức bẩm sinh của phái mạnh thường hướng về sự nghiệp. Phái yếu thường đề cao vai trò và ý nghĩa của gia đình hơn. Chính vì vậy, quan tâm đến việc xây dựng gia đình tốt là quan tâm đến người phụ nữ, tạo điều kiện cho họ vừa tham gia các hoạt động xã hội, vừa làm tốt vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình, xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Chương 2. Xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay. 2.1. Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay. Gia đình có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội. Ngược lại, gia đình cũng chịu tác động của các điều kiện kinh tế – xã hội . Trình độ phát triển của xã hội quy định các hình thức gia đình và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình . Nước ta hiện nay đang ở chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đã thực hiện được nhiều chiến lược đổi mới toàn diện. Đặc biệt nền kinh tế chuyển từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Cùng với sự phát triển của kinh tế, gia đình Việt Nam đã có sự đổi mới so với trước kia. 2.1.1. Gia đình Việt Nam trong lịch sử. Gia đình truyền thống Việt Nam gắn với xã hội cũ: nền kinh tế nông nghiệp, tự cung, tự cấp, xã hội chịu ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng Nho giáo… Do đó nó mang nặng tính chất phụ quyền và gia trưởng: “trọng nam khinh nữ”, người đàn ông nắm quyền chỉ huy. Gia đình được xây dựng theo kiểu tôn ti trật tự rõ ràng và mọi người đều phải ý thức về phân vị, xử sự theo đúng thân phận của mình. Ví dụ: người phụ nữ tề gia nội trợ, người đàn ông quyết định mọi việc trong gia đình, tham gia vào các hoạt động của làng xóm, dòng tộc. Như vậy, gia đình gia trưởng có nề nếp, nhưng các thành viên trong gia đình có quan hệ bất bình đẳng với nhau (chồng – vợ, đàn ông – đàn bà, người trên – kẻ dưới…). Gia đình gia trưởng rất coi trọng mối quan hệ chiều dọc giữa các thế hệ trên, dưới. Nó chi phối các mối quan hệ ngang như vợ – chồng, mối quan hệ giữa chị – em. Dựa trên quan hệ chiều dọc mà người trên bảo thì người dưới phải nghe. Cha mẹ có quyền quyết định và chi phối mọi hoạt động của con cái và ngược lại, con cái phải phục tùng mọi sự chỉ bảo, sai khiến của cha mẹ. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng ép duyên: “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy” tồn tại trong xã hội cũ. Trong khi coi tọng mối quan hệ chiều dọc, mối quan hệ theo chiều ngang bị coi nhẹ đi: cái tôi cá nhân bị chìm ngập trong gia đình, họ tộc. Bên cạnh những mặt hạn chế trên, gia đình truyền thống Việt Nam cũng có nhiều yếu tố tích cực, được lưu truyền đến tận ngày nay. Đó là tình cảm yêu thương gắn bó lẫn nhau giữa các thành viên, đạo vợ – chồng phải thương yêu nhau, đạo làm con phải hiếu thảo với cha mẹ; rồi tình cảm yêu quê hương, đất nước, dân tộc, tinh thần đoàn kết, đùm bọc, giúp đỡ nhau. Những nét đẹp truyền thống này được gìn giữ và kế tục, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá đậm đà của dân tộc. ở Việt Nam, gia đình kiểu cũ kéo dài hàng ngàn năm đã không thể tự bảo tồn trước sự đổi thay của đất nước. Hoàn cảnh một nước phương Đông bị phong kiến bên trong và thực dân bên ngoài áp bức, đòi hỏi nhân dân ta phải vượt ra khỏi sự kìm hãm và ràng buộc của gia đình cũ. Thời cuộc quyết định thái độ của mỗi người đối với đất nước, với nhà, với bản thân. Lợi ích của quốc tế, thắng lợi của cách mạng Việt Nam không cho phép duy trì sự bất công trong xã hội, sự bất bình đẳng trong gia đình. Tình cảm con người phải vượt qua cái ngưỡng cửa gia đình để vươn tơí những tình cảm lớn hơn của tổ quốc, không cho phép bo bo giữ lấy những gì là hẹp hòi, là thiển cận, phản tiến bộ trong những phép nhà, phép nước của Nho giáo. Cách mạng tháng Tám là một bước ngoặt lớn trong lịch sử. Cách mạng không chỉ giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc thoát khỏi xiềng xích nô lệ nói chung, mà còn giải phóng cho gia đình. Các tầng lớp thanh niên và phụ nữ thoát khỏi sự coi thường và áp chế của bậc bề trên cao tuổi và của nam giới. Cách mạng khơi dậy ở họ những suy nghĩ mới, tình cảm mới, đem lại cho họ sức mạnh để vùng lên, để đứng thẳng với tư thế con người. Hai cuộc kháng chiến đã thu hút những lực lượng vật chất và tinh thần to lớn của cả dân tộc và của mỗi gia đình. thanh niên không còn chỉ ở trong nhà, dưới sự sắp đặt của cha mẹ, mà đã tự khẳng định mình, đứng lên gánh vác sự mệnh thiêng liêng là bảo vệ tổ quốc và chủ động tham gia những công việc chung. Phụ nữ không chỉ còn quẩn quanh làm nội trợ và tham gia sản xuất vì lợi ích gia đình mà phải đảm đang việc nước, việc nhà, cầm cày, cầm súng, không chịu thua kém nam giới. 2.1.2. Gia đình Việt Nam hiện nay. Nước ta đang ở chặng đường đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta đã từng bước thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội…. mà trọng tâm là chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó kinh tế gia đình có vị trí rất quan trọng và được Đảng và Nhà nước khuyến khích giúp đỡ. Theo Nghị quyết của Đảng: “Phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược lâu dài để phát triển kinh tế cách mạng chủ nghĩa”. Gia đình trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, không còn tình trạng thụ động, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước như thời kinh tế bao cấp. Ngày xưa ở nước ta đại gia đình truyền thống với tôn ti trật tự cũng là mẫu mực và chuẩn mực của xã hội. Dưới uy quyền của người gia trưởng, gia đình truyền thống đã quy tụ các con cái đã có chồng, có vợ cùng với con cháu họ. Điều được nhấn mạnh trong hoàn cảnh gia đình này là vấn đề dòng dõi, vấn đề chuyển giao tài sản vật chất và tinh thần, chuyển giao truyền thống, chuyển giao những giá trị từng tồn tại trong quá khứ. Ngày nay thì khác, ngày nay trong gia đình thu hẹp, hai vợ chồng cùng với con cái chỉ nghĩ đến tương lai của họ và họ tự làm ra lịch sử của họ. Trong gia đình gọi là gia đình hạt nhân này, những quan hệ về dòng máu, ngày càng nhường chỗ cho mối quan hệ về tình yêu. Gia đình truyền thống nơi chứa đựng những giá trị quá khứ của gia đình, nơi thiêng liêng mà ở đó củng cố và tái hiện mối quan hệ thân tộc thì đã dần dần bị chọc thủng trong mạng lưới đô thị hoá. Với sự biến động thường xuyên của xã hội hiện đại, sự phụ thuộc của cặp vợ chồng vào quá khứ ngày càng giảm bớt. Họ ít nghĩ tới ngôi nhà thời thơ ấu, nơi họ đã sống với cha mẹ của họ. Ngày nay, họ chỉ mong ước xây dựng được một ngôi nhà phù hợp với họ trong một nơi mà họ lựa chọn lấy. Chế độ hôn nhân ở nước ta là chế độ hôn nhân một vợ một chồng thật sự trọn vẹn và được pháp luật ghi nhận. Vợ và chồng có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong đời sống xã hội. Vợ và chồng được tự do lựa chọn những vấn đề riêng, chính đáng như nghề nghiệp, công tác xã hội, học tập và một số nhu cầu khác… Khác hẳn với xã hội cũ, gia đình một vợ – một chồng chỉ là hình thức, chỉ là một chồng đối với phụ nữ, còn đối với đàn ông là chế độ đa thê, người vợ không có tiếng nói trong gia đình. Vì vậy, thực hiện chế độ một vợ – một chồng là thực hiện giải phóng phụ nữ. Hiện nay, các gia đình vẫn phát huy được truyền thống yêu nước. Họ coi bảo vệ tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng. Họ đã động viên con em mình thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự. Còn trong lao động các gia đình hăng say lao động, sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật. Thực hiện đầy đủ bổn phận và trách nhiệm với Nhà nước … Nhìn chung các gia đình luôn luôn có ý thức bảo vệ tài sản Nhà nước, tuân thủ pháp luật. Đất nước ta đang tiến nhanh trên con đường đổi mới. Gia đình cũng đang tiếp tục chuyển biến. Cái mới và cái cũ còn đan xen nhau. Không còn chữ Hiếu mù quáng như xưa. Nhưng trong gia đình lại có không ít hiện tượng cha mẹ thờ ơ với việc nuôi dạy con cái còn con cái thì hỗn láo, bạc đãi cha mẹ. Cũng không ít những hiện tượng bất hoà và tranh chấp giữa anh em, chị em. Sự biến đổi trong quan hệ gia đình diễn ra khá phức tạp. Mấy năm gần đây lại xuất hiện khuynh hướng trở lại với những nền nếp của gia đình xưa. Người ta xây dựng nhà thờ, sửa sang lại mồ mả tổ tiên, lập lại gia phả, đi lại thăm hỏi lẫn nhau, bày tỏ tình cảm sẵn sàng cưu mang lẫn nhau trong nội bộ gia đình và dòng họ. Tuy nhiên, khôi phục truyền thống không có nghĩa là quay trở lại những cái tiêu cực của gia đình kiểu cũ, trong đó có nhiều nguyên tắc đã lỗi thời của đạo đức Nho giáo. Trong xã hội ta hôm nay và ngày mai, gia đình vẫn tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp chung của đất nươc. Đạo đức cũ của dân tộc trong đó có những nhân tố đạo đức. Nho giáo còn tiếp tục đem lại cho chúng ta nhiều điều bổ ích nhưng chúng ta lại không thể tiếp thu toàn bộ những quy tắc sinh hoạt của gia đình kiểu cũ. Chúng ta cũng không thể bắt chước nước này hay nước khác trong cách thức họ tiếp thu những quan điểm Nho giáo về gia đình để phục vụ cho chế độ xã hội của họ, cho lợi ích giai cấp của giới cầm quyền. Sự khác nhau giữa ta với họ là sự khác nhau giữa hai chế độ. Khi giai cấp phong kiến hay giai cấp tư sản còn nắm quyền điều hành đất nước thì sinh hoạt và đạo đức gia đình ở những nước này không giống như sinh hoạt và đạo đức trong gia đình ở những nước mà nhân dân đã nắm chính quyền làm chủ đất nước như ở Việt Nam. Gia đình Việt Nam ngày nay không nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiến và tư sản mà lại ra đời trên cơ sở đánh đổ những chế độ ấy. Cái gắn bó trong quan hệ gia đình cũ là quyền lợi kinh tế của mỗi thành viên do người gia trưởng chi phối. Cái gắn bó trong quan hệ gia đình mới là tình cảm trong sáng và sâu sắc giữa các thành viên trên cơ sở quyền lợi chung của dân tộc và quyền tự do hạnh phúc của mỗi con người. Tình cảm gia đình hiện nay phải được xây dựng trên cơ sở bình đẳng và tự nguyện chứ không phải do sự áp đặt của quyền lực chính trị và sự trói buộc của quyền lợi kinh tế. Tình cảm sâu sắc trong gia đình nhỏ tất yếu dẫn tới những tình cảm đối với gia đình lớn, với bà con trong thân tộc, với dòng họ, với láng giềng xóm phố, với địa phương mình ở và thiêng liêng hơn nữa là tình cảm sâu sắc đối với tổ quốc của mình. Những tình cảm ấy là cơ sở vững chắc của mọi quan hệ đạo đức giữa người với người, cần được khồng ngừng củng cố và nâng cao ở mọi thành viên từ nhỏ đến lớn. Chính vì thế, giải pháp gia đình trước hết là giải pháp tình cảm. Để thực hiện giải pháp này nhân dân ta đã có rất nhiều sáng kiến được thực hiện có kết quả. Gia đình Việt Nam đang xây dựng những quy tắc mới bảo đảm những quan hệ lành mạnh và có kỷ cương giữa các thành viên trong gia đình. ở đây, những tình cảm lành mạnh và sâu sắc thể hiện qua những quan hệ chung thuỷ thân yêu, chăm lo cho sự tiến bộ của nhau về đạo đức và tài năng, phục vụ cho lý tưởng cao cả của dân tộc. Tình cảm ấy không giống như tình cảm ngày xưa thể hiện ra bên ngoài qua thái độ sợ sệt và hống hách ở chế độ phong kiến trong quan hệ giữa tầng lớp vua quan thống trị và các tầng lớp nhân dân bị thống trị. Sự bất bình đẳng này trong xã hội vốn tìm chỗ dựa của nó trong sự bất bình đẳng trong gia đinh. Nhân dân ta đã từng đổ bao xương máu và mồ hôi để giành lại độc lập tự do, xây dựng một cuộc sống bình đẳng và dân chủ. Gia đình phải là nền tảng của xã hội mới, phải bảo vệ những thành quả mà cách mạng đã đạt được chứ không phải đi ngược lại những thành quả ấy. 2.2. Những vấn đề đặt ra và giải pháp xây dựng gia đình hiện nay. 2.2.1. Những vấn đề đặt ra: *Bạo lực trong gia đình: Bạo lực trong gia đình là “bất kì một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, về tình dục, tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe doạ có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư”. Như vậy, bạo lực trong gia đình được đề cập đến nhiều nhất, nó tồn tại ở mọi vùng lãnh thổ, mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội. Thời gian gần đây xu hướng phi tập trung hoá trong quản lý kinh tế và xã hội đã đem lại cho hộ gia đình những chức năng và vai trò kinh tế – xã hội mới vô cùng quan trọng. Địa vị vai trò của các thành viên trong gia đình cũng thể hiện theo những xu hướng rất khác nhau. Đàn ông hành xử có tính hướng ngoại. Phụ nữ, ngoài việc tham gia vào các hoạt động kinh tế, còn phải gánh vác hâu như toàn bộ công việc gia đình. Nhất là ở nông thôn, khu vực kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, phụ nữ luôn là lao động chính trong hầu hết các khâu cảu quá trình sản xuất. Bạo lực không nhìn thấy được gắn liền với bất bình đẳng trong phân công lao động đang có xu hướng tăng lên. Trong xã hội hiện đại, bạo lực trong gia đình, ngày càng được biết đến với nhiều dạng thức tinh vi, gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng không chỉ trong gia đình, mà còn cho cả xã hội. Nỗi đau về thể xác, khủng hoảng về tinh thần, sự rạn vỡ các quan hệ thiêng liêng trong gia đình khó mà hàn gắn được. “ở Mỹ cứ 100 vụ ly hôn có 90 do bạo lực – Thái Lan là 76, ở Hà Nội là 51. Thành phố Hồ Chí Minh là 56. Chênh lệch này không phải do ở ta ít mà do phụ nữ không nói ra, do vậy phải đưa pháp luật vào gia đình” (M.Hoàng – Đăng Khoa, Lao động, 19-9-1999). Bạo lực trong gia đình ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng tới việc giáo dục, hình thành nhân cách, hành vi và ứng xử của con trẻ – nguồn lực cơ bản trong tương lai của xã hội. Trẻ trưởng thành trong các gia đình nhiều hành vi bạo lực, thường có các biểu hiện tâm lý: “Trẻ không biết ai đúng sai? Nghe theo ai?, trẻ trở nên bướng không vâng lời, trở nên hiếu thắng bằng bạo lực, dùng bạo lực với người khác, khi có gia đình lại lặp lại gương của bố mẹ”. (Nguyễn Vũ, Giáo dục và thời đại, 20-1-2000). Nếu lời cảnh báo trên được kiểm chứng, thì để chống lại “vi rút bạo lực”, xã hội không có phương thuốc nào hiệu quả hơn là ngăn chặn bằng mọi cách, bạo lực trong gia đình – môi trường xã hội hoá đầu tiên của trẻ thơ. Muốn hạn chế được bạo lực, việc đầu tiên là cần nâng cao đời sống tinh thần – văn hoá – xã hội, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật cho phụ nữ, tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn thể, hội phụ nữ… Bên cạnh thiết chế thân tộc, thái độ đúng đắn và tích cực của cộng đồng nơi cơ trú và làm việc của phụ nữ cũng là tác nhân tham gia vào quá trình kiểm soát và điều hoà, làm giảm bớt thói gia trưởng- nguyên nhân sâu xa của bạo lực. Đối với nạn bạo lực, ngoài sự can thiệp của luật pháp, áp lực của cộng đồng và các tổ chức xã hội, khi bạo lực xảy ra, chưa có sự can thiệp kịp thời từ bên ngoài, ở Việt Nam chúng ta nên chăng thử học tập kinh nghiệm của nước ngoài đó là nhà tạm lánh. “Nhà tạm lánh phải được phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức từ thiện – không chỉ để lánh mà còn tư vấn thậm chí còn dạy nghề. Quan niệm Việt Nam khó chấp nhận phụ nữ bỏ nhà ra đi. Khi hỏi người bị chồng đánh thì 13,3% cần tạm lánh, 86,7% không thể rời gia đình (mẫu 150). (Nguyễn Thiện, Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, 6-11-1999). Tuy nhiên, ai đứng ra xây dựng Nhà nước hay cộng đồng? Quản lý và hoạt động của nhà tạm lánh như thế nào còn là thách thức lớn với các nhà làm công tác xã hội ở nước ta. Một trở ngại khác là ràng buộc của tập tục phong kiến còn nặng trong chị em – nạn nhân chủ yếu của nạn bạo lực. *Tảo hôn, tình dục trước hôn nhân, sức khoẻ sinh sản vị thành niên. Thanh niên đô thị hiện nay có xu hướng chung là chậm kết hôn, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, có con chậm, dành thời lực cho sự nghiệp. Thậm chí không ít người chịu ảnh hưởng của lối sống phương Tây, chấp nhận cuộc sống độc thân mưu cầu danh nghiệp. Ngược lại, thanh niên nông thông vẫn đang trong tình trạng tảo hôn. Những vùng dân tộc thiểu số hay các địa phương có đặc trưng riêng như ngư dân, làng nghề gia truyền tinh xảo,… nạn tảo hôn càng nghiêm trọng. Nạn tảo hôn ở nông thôn gấp 4 lần ở thành phố, trình độ văn hoá chủ yếu là chưa hết phổ thông trung học. Học vấn tỷ lệ nghịch với tảo hôn. Luật hôn nhân gia đình nước ta quy định nữ 18 tuổi mới được kết hôn, nhưng thực tế tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra công khai, pháp luật bị vi phạm ngang nhiên. Vì thế có thể nhìn thấy rất rõ sự sai lệch giữa các thể chế thực thi pháp luật và những ràng buộc khác trong cộng đồng ở nưcớ ta. ở nông thôn khi có trường hợp tảo hôn, chính quyền xã – cơ quan cấp giấy đăng ký kết hôn – biết thì cũng ít có khả năng ngăn chặn vì chúng đều là con cháu trong nhà. Nếu chính quyền không cho đăng ký thì lễ cưới vẫn được tổ chức, vài năm sau, có con lúc đó đã đủ tuổi thì đăng ký. Chính quyền không có bất cứ một biện pháp cưỡng chế hay chế tài nào. Khi còn kinh tế tập thể, việc thể chế bằng các biện pháp kinh tế của hợp tác xã, và hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức quần chúng đã góp phần hạn chế tình trạng tảo hôn. Dường như tự chủ về kinh tế, làm cho các bậc cha mẹ cảm thấy họ có quyền tổ chức hôn nhân cho con bất cứ lúc nào họ thích. Quan hệ tình dục sớm, tình dục trước hôn nhân là hiện trạng đáng báo động. Nếu như ở nông thôn, tảo hôn là vấn đề nhức nhối, thì ở thành phố, xu hướng tách rời quan hệ tình dục với hôn nhân (được hiểu theo nghĩa trước và ngoài hôn nhân) đưa đến những hệ luỵ vô cùng nguy hại. Những “bà mẹ bất đắc dĩ”, những cuộc trả thù tình địch dã man, những vụ quyên sinh đầy thương tâm, là hậu quả xã hội của những hành vi tình dụng phi chuẩn mực và thiếu hiểu biết trong quan hệ giới tính. Nguyên nhân về mặt xã hội là sự buông lỏng kỷ cương, chuẩn mực đạo đức trong quá trình tăng trưởng kinh tế và mở cửa. Bố mẹ bị cuốn theo nhịp sống sôi động, không gần gũi con cái, ảnh hưởng của văn hoá đồi truỵ… Trong khi đó trẻ vị thanh niên đang trải qua giáo dục biến chuyển rất phức tạp về tâm-sinh lý, đòi hỏi việc quan tâm thường xuyên của cha mẹ, nhà trường và người xung quanh “Các biện pháp giáo dục giới tính, tránh thai chưa tới được vị thành niên, cần nghiên cứu đưa vào nhà trường. Chưa tận dụng hết được năng lực của các chuyên gia, học giả” (Nguyễn Văn Dũng, Nhân dân, 12-1-2000). *Giới, bất bình đẳng giới, phân công lao động gia đình và địa vị xã hội. Bản chất mối quan hệ gia đình phản ánh nền văn hoá của một dân tộc, tính chất của chế độ chính trị, xã hội và tác động của các nền văn hoá khác. Địa vị, vai trò của phụ nữ Việt Nam luôn bị ảnh hưởng bởi tập tục và lễ giáo phong kiến, hằn sâu từ bao đời trong nếp nghĩ, cách hành xử nơi gia đình và xã hội. Họ luôn phải đối mặt với áp lực công việc và áp lực gia đình. Đối mặt với sự khó tương thích giữa chăm sóc gia đình, giáo dục con cái được coi là thiên chức của phụ nữ – với nâng cao địa vị xã hội – nghề nghiệp. Sự bất bình đẳng giới được bắt nguồn từ trong gia đình, từ những mối quan hệ gần gũi như quan hệ vợ chồng. Chính vì

Bài 1: Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gia Đình

Tóm tắt lý thuyết

Để đưa ra một khái niệm chuẩn xác về gia đình là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp. Bởi mỗi một xã hội lại có một cách nhìn khác nhau về gia đình nên chúng ta chỉ có thể đưa ra khái niệm trong một hoàn cảnh cụ thể và trong một khung cảnh nhất định. Nếu như ở các nước Châu Âu coi gia đình đơn giản chỉ là một nhóm xã hội như bao nhóm xã hội khác thì ở các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam luôn xem gia đình như một tế bào xã hội có đầy đủ các yếu tố sinh thành.

Vì vậy, theo nghĩa truyền thống chúng ta có thể xem xét gia đình như là một thiết chế xã hội đặc thù, là một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên chung sống với nhau trong một không gian sinh tồn, có quan hệ hôn nhân, huyết thống, tình cảm, nuôi dưỡng. Các thành viên gắn bó mật thiết với nhau bởi nghĩa vụ quyền lợi được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của mỗi người cũng như thực hiện vai trò của gia đình trước toàn xã hội.

Trong nghiên cứu của xã hội học, gia đình cũng được nhìn nhận tương tự “Gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo vệ”.

Gia đình được xác định trên hai phương diện, nó vừa là một nhóm sinh học vừa là một nhóm xã hội. Tuy nhiên, ở đây chúng ta hướng sự quan tâm đến mặt xã hội của nó, đó là những quan hệ hướng nội và hướng ngoại của gia đình.

Gia đình mở rộng (gia đình kép): Kiểu gia đình này có từ ba thế hệ trở lên mà chúng ta thường gọi là “tam, tứ đại đồng đường”, các thành viên gồm ông bà, cha mẹ, con cháu, còn có thể là chú, bác, cô, dì… cùng sống chung với nhau dưới một mái nhà. Giữa họ thường có quan hệ huyết thống với nhau. Vì vậy giữa các thế hệ có sự gắn bó tình cảm sâu sắc nhờ đó bảo tồn được các giá trị truyền thống như hiếu thảo, kính trên nhường dưới và có sự phân công lao động rõ ràng trong gia đình như người chồng, người cha có nhiệm vụ lao động kiếm thu nhập… Việc giáo dục trẻ em và chăm lo cho người già vì thế được tốt hơn.

Tuy nhiên kiểu gia đình này cũng có nhược điểm, đó là sự xung đột giữa các thế hệ trong gia đình vì sự khác biệt về tuổi tác cũng như hoàn cảnh, điều kiện sống nên sự bất đồng về nhiều vấn đề là tất yếu không thể tránh khỏi, thường gặp đại loại như xung đột giữa ông bà – con cháu, mẹ chồng – nàng dâu… Bên cạnh đó là việc duy trì những hủ tục lạc hậu từ thời xưa như trọng nam khinh nữ, người phụ nữ không có quyền hành gì trong gia đình, phải phụ thuộc và đàn ông…

Kiểu gia đình này rất phổ biến trong xã hội nông thôn truyền thống, song nó đang giảm dần trong xã hội hiện đại.

Gia đình hạt nhân (gia đình đơn): Đây là kiểu gia đình cơ bản và đơn giản nhất nhưng chiếm đại đa số trong xã hội hiện nay. Gia đình này có cấu trúc đơn giản chỉ gồm hai thế hệ là cha mẹ và con cái, phổ biến ở phương Tây và những đô thị lớn của Việt Nam. Ba quan hệ cơ bản của kiểu gia đình này là: Vợ – chồng, cha mẹ – con cái, anh – chị – em. Gia đình đơn được hình thành khi con cái kết hôn, thoát ly khỏi cha mẹ, tách ra thành một đơn vị kinh tế độc lập và sinh con cái.

Kiểu gia đình này tạo điều kiện cho các cá nhân phát huy khả năng tự lập, tự giải quyết những vấn đề trong cuộc sống mà không còn phải phụ thuộc vào cha mẹ. Trong gia đình hạt nhân, chế độ gia trưởng đã phải nhường bước dần cho sự bình đẳng ngày càng phát triển hơn giữa nam và nữ, vợ và chồng. Công việc nội trợ không còn là bổn phận duy nhất của người phụ nữ, cũng như công việc kiếm tiền, nuôi sống gia đình không còn là nhiệm vụ duy nhất của nam giới. Các thành viên ít chịu sự giám sát lẫn nhau. Họ được tự do và ít nhiều được sống theo cách của mình chứ không bị áp đặt trong khuôn mẫu như trước kia. Thế hệ thanh niên thời đại mới tự do hơn, phóng khoáng, sáng tạo và mạnh mẽ hơn để thích nghi với đòi hỏi của môi trường xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, do vấn đề tự do được đề cao nên cha mẹ khó kiểm soát được con cái, sự bận rộn với công việc khiến trẻ thiếu sự quan tâm giáo dục của cha mẹ nên dễ sa vào hư hỏng; ông bà về già bị cô đơn, thiếu sự chăm sóc, phụng dưỡng của con cháu; giảm khả năng bảo lưu các giá trị truyền thống của gia đình.

Trong tương lai, kiểu gia đình hạt nhân sẽ ngày càng chiếm ưu thế vì nó phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại và năng động. Ở Việt Nam hiện nay thì kiểu gia đình này tồn tại phần lớn ở các gia đình trí thức, viên chức nhà nước, công nhân công nghiệp, gia đình quân đội, gia đình công an.

Gia đình mẫu hệ mới: Là gia đình chỉ có mẹ và con cái, không có người đàn ông đóng vai chồng. Kiểu gia đình này xuất hiện do sự phát triển của xã hội làm thay đổi nhận thức của mỗi người về quan niệm hôn nhân, tình yêu và vấn đề tình dục trở nên cởi mở hơn, cũng như chất lượng cuộc sống không ngừng tăng lên, tự do cá nhân được đề cao làm xuất hiện kiểu gia đình mới này.

Gia đình phụ hệ: Là gia đình có huyết thống tính theo dòng cha, khác với mẫu hệ tính theo dòng mẹ. Biểu hiện của gia đình phụ hệ có thể nhận biết qua hình thức tổ chức gia đình, dòng họ do người đàn ông (người cha) đứng đầu, vai trò người cha, con trai trong gia đình được đề cao, cách thức đặt tên con theo họ hay tên của cha, kế thừa gia sản, hình thái hôn nhân, nơi cư trú trong hôn nhân là ở gia đình xuất thân của người cha (tức bên nội).

Gia đình thiếu: Là gia đình một vợ một chồng, không có con cái do vô sinh hoặc do họ không muốn có con. Đây là kiểu gia đình đang ngày một gia tăng ở các nước phát triển. Trong xã hội công nghiệp hiện đại, con người có xu hướng kết hôn muộn và không muốn sinh con đẻ cái. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là họ dành thời gian cho công việc và phát triển sự nghiệp của mình. Vì vậy việc xuất hiện của đứa trẻ trong gia đình sẽ khiến cho vợ chồng mất đi quỹ thời gian làm việc. Hệ quả là gia đình mất đi chức năng cơ bản của nó là tái sản xuất xã hội, thiếu tình cảm gắn bó giữa các thành viên và quan trọng là thiếu sợi dây liên kết giữa vợ và chồng là con cái, dễ dẫn đến sự rạn nứt tình cảm và đổ vỡ gia đình mà biểu hiện là ly hôn. Không những thế, kiểu gia đình này gia tăng sẽ gây ra tình trạng già hóa dân số, thiếu nguồn nhân lực cho tương lai, đặt ra vấn đề nan giải cần xã hội giải quyết.

Gia đình đa hôn: Gồm hai biến thể là:

Đa thê: Người đàn ông cùng một lúc có nhiều vợ. Điều này thể hiện rõ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đó người phụ nữ hoàn toàn lệ thuộc vào người đàn ông và không có bất cứ quyền hành gì trong gia đình, đồng thời giữa những người phụ nữ có sự áp bức lẫn nhau như giữa vợ lớn với vợ thứ, giữa những người vợ thứ với nhau, vô tình góp phần làm tăng quyền lực của người chồng, củng cố sự áp bức lên những người vợ. Đây là kiểu gia đình tồn tại phổ biến trong xã hội phong kiến khi địa vị của người đàn ông trong xã hội được đề cao. Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, mô hình gia đình này đang dần mất đi vì phần lớn hệ thống pháp luật các nước trên thế giới quy định hôn nhân một vợ một chồng, bình đẳng với nhau.

Đa phu: Tức một người vợ đồng thời có nhiều chồng. Kiểu gia đình này hiếm hơn gia đình đa thê nhưng vẫn còn tồn tại ở một số dân tộc ít người ở những vùng hẻo lánh trên thế giới, nơi vẫn còn tồn tại chế độ mẫu hệ.

Gia đình đồng giới: Đây là gia đình của những người cùng giới tính chung sống với nhau như một gia đình bình thường. Luật pháp một số nước trên thế giới thừa nhận hôn nhân đồng tính như bằng California (Mỹ), Hungary, Anh, Đan Mạch… Nhưng ở Việt Nam hiện nay, kiểu gia đình này không được pháp luật và dư luận xã hội chấp nhận.

Chức năng tái sản sinh xã hội

F.Engels viết: “Nhân tố quyết định trong lịch sử qui cho đến cùng là sản xuất và tái sản xuất. Nhưng bản thân sự sản xuất đó có hai loại: Một là sản xuất ra tư liệu sản xuất, ra thức ăn, gạo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó, hai là sự tự sản xuất ra chính bản thân con người, là sự truyền nòi giống.

Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là duy trì nòi giống, tạo ra những thế hệ con cháu tiếp nối. Đó không chỉ là nhu cầu sinh lý, thỏa mãn việc tái sản xuất ra con người cho xã hội mà còn thỏa mãn nhu cầu có con, tạo niềm vui, hạnh phúc vợ chồng.

Xã hội phát triển không ngừng và gia đình đóng một vai trò là tế bào trong xã hội đó. Chính vì thế, chức năng tái sinh sản của gia đình không còn đơn thuần chỉ là việc tái sinh sản ra những thế hệ tiếp nối theo quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ” mà còn phải thỏa mãn nhu cầu tạo ra những thế hệ toàn diện, những công dân tốt, khỏe mạnh về thể chất, tinh thần. Để tiếp nối những thành tựu của con người từ những thế hệ đi trước và biết phát huy, sáng tạo ra những thành tựu sau này phục vụ cho nhu cầu sống và khám phá ngày càng cao của xã hội và nhân loại, chức năng tái sản xuất của gia đình có một vai trò quyết định.

Là một chức năng quan trọng của gia đình mà xã hội không thể thay thế được, là sự hình thành nên một con người mới. Giáo dục cho thế hệ mai sau trong từng gia đình những tri thức về cuộc sống, mong muốn thế hệ mai sau của mình có những phẩm chất phù hợp với những định hướng giá trị của xã hội ở từng giai đoạn phát triển nhất định bởi gia đình là môi trường giáo dục quan trọng và thuận lợi cho nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ, là trường học học đầu tiên hình thành nhân cách và năng lực cá nhân.

Để phát triển thành một con người trưởng thành, đứa trẻ đó phải trải qua những năm tháng phát triển nhất định theo quy luật tự nhiên như từ lúc trẻ sơ sinh đến khi 14-15 tuổi là giai đoạn quyết định sự hình thành về tố chất và phẩm chất cá nhân, 16-17 tuổi là giai đoạn tiếp tục hoàn thành các phẩm chất đã hình thành và định hướng nghề nghiệp. Trong các quá trình này, vai trò của những thành viên khác trong gia đình đặc biệt là cha mẹ, cần phải có sự quan tâm về mặt tâm lý, tình cảm, lối sống… điều này mang một ý nghĩa định hướng quan trọng trong việc phát triển toàn diện của con mình, bởi họ là người trực tiếp gần gũi và trong một giai đoạn nhất định còn là tấm gương, hình mẫu cho con mình trước khi bước vào môi trường giáo dục ngoài xã hội. Vì thế, gia đình phải là ngôi trường đầu tiên hướng dẫn cho thế hệ mai sau của mình những kỹ năng cần thiết để hòa nhập xã hội trong những bước chân đầu tiên tiến gần đến kỹ năng xã hội. Tuy nhiên, việc giáo dục còn tùy thuộc vào từng gia đình, bởi các vấn đề như hoàn cảnh kinh tế, trình độ học vấn của bố mẹ, địa bàn cư trú của gia đình, sự định hướng giá trị – nghề nghiệp của mỗi gia đình là khác nhau.

Chức năng kinh tế và văn hóa

Mỗi gia đình đều có những nhu cầu sinh hoạt khác nhau cũng như những nhu cầu thiết thực về ăn, uống… nhằm duy trì sự ổn định về đời sống vật chất cho các thành viên trong gia đình. Gia đình thể hiện kinh tế chung từ kinh tế của các thành viên trong gia đình, là một bên thành phần trong quan hệ kinh tế thông qua tiêu dùng, mua – bán, đảm bảo nhu cầu vật chất và tinh thần cho các thành viên trong gia đình.

Cuộc sống phát triển cao, nhu cầu của con người ngày càng nhiều. Gia đình không chỉ có chức năng kinh tế mà còn có chức năng văn hóa xuất phát từ nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa, thể thao, du lịch… Đáp ứng như một món ăn tinh thần làm cho cuộc sống thêm phong phú thể hiện trình độ phát triển cao, sự tinh tế, hướng về khía cạnh của cuộc sống, phát triển tâm hồn con người, chú trọng đến cái nội tâm bên trong để đạt đến sự phát triển hoàn thiện nhất.

Chức năng thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tâm lý.

Trong một gia đình tồn tại nhiều nhu cầu khác nhau, trong đó có nhu cầu về mặt tình cảm, tâm lý của các thành viên trong gia đình. Gia đình là nơi mỗi cá nhân có thể chia sẻ những cảm xúc riêng tư nhất mà thông qua quá trình giao tiếp trong xã hội họ không thể bày tỏ, đó là nơi nghỉ ngơi và tụ họp, mọi người cùng bộc bạch cảm xúc cho nhau bằng ngôn từ và cử chỉ, vì vậy mọi căng thẳng, áp lực từ cuộc sống, việc học tập như được giảm nhẹ. Gia đình là nơi mà họ có thể bình tâm suy nghĩ, tiếp nhận được những lời khuyên chân tình, sự động viên, khích lệ của các thành viên mà nhờ đó những vấn đề khó xử của một người có thể được đưa ra bàn bạc và cùng nhau giải quyết và do đó gia đình là nơi tạo ra nguồn động lực để một người có thể tiếp tục thực hiện tốt vai trò của một công dân trong xã hội. Hơn nữa, gia đình còn là nơi con người có thể sống thoải mái nhất trong những cử chỉ, hành vi, ngôn từ mà không cần rào trước đón sau hoặc tuân theo những quy tắc ứng xử trong xã hội, chính vì thế mà năng lượng được tái tạo. Có thể nói, gia đình là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trong mọi và chạm với xã hội.

Chức năng chăm sóc người già và trẻ em

Xã hội phát triển đồng nghĩa với việc cải tiến của công nghệ máy móc hiện đại trong đó các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho con người ngày càng được nâng cao và quan tâm nhiều hơn, từ đó dẫn đến xu hướng các thành viên ít có sự quan tâm hơn trước về việc chăm sóc gia đình của mình vì cho rằng xã hội đã có đủ điều kiện đáp ứng. Nhưng thực chất chức năng này của gia đình cũng hết sức quan trọng bởi đây không phải chỉ là vấn đề chữa bệnh mà còn là việc chăm sóc, an ủi kịp thời về mặt tâm lý, tình cảm đối với người ốm đau bệnh tật.

Gia đình sẽ biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội và nhất là trong xã hội công nghiệp hóa – đô thị hóa, những thay đổi chúng ta dễ dàng nhận thấy nhất đó là sự thay đổi về chức năng, cấu trúc và vai trò của nó.

Mất đi dần chức năng xã hội hóa.

Trong xã hội nông nghiệp, gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thụ nghề nghiệp, chuyển giao kiến thức, hình thành các kỹ năng, chỉ dẫn vai trò, giáo dục các khuôn mẫu xã hội.

Gia đình là môi trường giáo dục cơ bản và sớm nhất trong đời người gia đình luôn kết hợp toàn diện và bằng nhiều hình thức khác nhau cùng với xã hội thực hiện chức năng của mình.

Biểu hiện cho chức năng này của gia đình trong xã hội xưa là sự xuất hiện của các làng nghề gia truyền trong đó nghề nghiệp trong gia đình được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác một trong gia đình.

Tuy nhiên không phải lúc nào gia đình là môi trường đầy đủ đảm bảo xã hội hóa cho các thành viên trong gia đình. Đặc biệt trong xã hội công nghiệp hóa – đô thị hóa hiện nay chức năng này một phần chuyển sang cho nhà trường. Nhà trường là nơi cung cấp các kiến thức chuyên môn, tay nghề, học vấn qua hệ thống giáo dục đào tạo.

Trong khi các thiết chế giáo dục càng tỏ ra hoàn thiện thì chức năng xã hội hóa trẻ em ở gia đình càng thu hẹp lại. Đặc biệt là trong việc chuẩn bị các kỹ năng nghề nghiệp, đào tạo tay nghề, kiến thức chuyên môn ở mức độ cao đủ đáp ứng các yêu cầu của xã hội công nghiệp thì chỉ có các trường đại học, cao đẳng, trung học dạy nghề mới có thể đáp ứng được.

Giảm dần chức năng chăm sóc, bảo vệ trẻ em, nuôi dưỡng người già và các thành viên khác trong gia đình.

Trong xã hội truyền thống nông nghiệp, gia đình có vai trò rất lớn giúp đỡ thân nhân trong những lúc khó khăn, chẳng hạn như khi ốm đau, bệnh tật, công việc, học hành… Đặc điểm này xuất phát từ kiểu gia đình kép trong xã hội nông nghiệp khi mà các thế hệ ông bà, cha mẹ, con cái cùng sống chung trong một nhà. Chính đặc điểm này đã giúp cho các thế hệ trong gia đình gắn bó với nhau hơn, giữ gìn được truyền thống của các thế hệ trong nội bộ gia đình, dòng họ, bảo tồn các tập tục lễ nghi, có điều kiện chăm sóc người già và thế hệ trẻ.

Tuy nhiên, trong xã hội công nghiệp thì vai trò này chuyển dần sang cho các tổ chức xã hội khác. Trẻ em thì giao phó cho nhà trẻ, mẫu giáo, người già thì phó mặc cho nhà dưỡng lão hoặc đau lòng hơn là để họ tự lo lấy.

Xã hội càng hiện đại con người càng có nhiều mối quan hệ, các thành viên trong gia đình còn nhiều vấn đề phải giải quyết nên sự can thiệp, hỗ trợ của các cơ quan tổ chức trong lúc này là cần thiết. Tuy nhiên sự thay đổi này dẫn tới một hiện tượng tiêu cực đó là mối quan hệ gia đình ngày càng trở nên lỏng lẻo, cha mẹ không kiểm soát hết được hành vi của con cái, người già luôn bị cô đơn, thiếu thốn về vật chất, tinh thần.

Mất đi chức năng đơn vị kinh tế độc lập.

Gia đình trong xã hội nông nghiệp vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng. Trong xã hội đó gia đình kép là phổ biến, gồm nhiều thế hệ chung sống với nhau, họ cùng nhau trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất tiêu thủ công nghiệp, họ tạo ra các sản phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày của họ. Mặt khác, cũng đóng vai trò là đơn vị tiêu dùng, vì gia đình trong xã hội nông nghiệp vẫn phải tiêu thụ các sản phẩm của xã hội để phục vụ đầy đủ cuộc sống của họ, nhất là những mặt hàng họ không tự mình sản xuất ra được.

Trong xã hội công nghiệp hóa – đô thị hóa thì gia đình chỉ còn một chức năng duy nhất là đơn vị tiêu dùng, vì những điều kiện khách quan cho sản xuất không còn nữa.

Giảm thiểu vai trò thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, tinh thần.

Trong xã hội nông nghiệp các hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa diễn ra ở gia đình, dòng họ, làng xóm. Các lễ hội, ngày hội của làng xóm thu hút đông đảo sự tham gia của các thế hệ đặc biệt là các thế hệ trẻ, họ cùng nhau chơi các trò chơi dân gian, hát đối, nam nữ tìm hiểu lẫn nhau và cũng chính đặc điểm này làm cho quan hệ hôn nhân trong xã hội nông nghiệp diễn ra trong một phạm vi hẹp thường chỉ trong làng xóm với nhau. Tuy nhiên, trong xã hội công nghiệp, đô thị thì các hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hóa thường diễn ra trong nhà hát, câu lạc bộ, công viên, nhà thờ, chùa, quán ăn, bên ngoài gia đình.

Sự sút giảm về số lượng thế hệ trong gia đình, điều đó được thể hiện thông qua số lượng thành viên trong gia đình đã giảm xuống, các thế hệ ít đi. Khi mà xu hướng ngày càng nhiều con cái trưởng thành sau khi lấy vợ, lấy chồng tách riêng ra khỏi gia đình cha mẹ tạo thành những gia đình đơn và đại gia đình như trước kia giảm về thế hệ và số lượng thành viên.

Sự thay đổi này trong cấu trúc của gia đình là một điều kiện thuận lợi cho gia đình trong việc phát triển kinh tế, sản xuất, cha mẹ có điều kiện tốt hơn để chăm sóc, giáo dục con cái và đặc biệt là những tác động tích cực đến xã hội trong vấn đề dân số khi mà trong thời gian gần đây vấn đề gia tăng dân số đang là một vấn đề nan giải của các cơ quan chức trách.

Hiện nay, ngoài việc hạn chế số lượng con cái do nhà nước qui định và xu hướng ít con là phù hợp với thời đại mới, thì các tiến bộ y học cho phép người ta chủ động hơn trong việc thai nghén, sinh nở. Người ta có thể chủ động trong việc muốn có con hay không và có con vào thời điểm nào là thuận lợi nhất. Đó cũng là những nguyên nhân làm thay đổi cấu trúc gia đình.

Sự thay đổi trong gia đình do ly hôn mang lại. Ở một số nước phương Tây cho ly hôn là biện pháp hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc hôn nhân. Nhưng ly hôn là một trong các yếu tố đưa đến thay đổi trong cấu trúc gia đình rất lớn. Khi mà người cha – người chồng, người mẹ – người vợ rời bỏ mái ấm gia đình thì những trách nhiệm mà người đó chối bỏ buộc lòng những người còn lại trong gia đình phải gánh vác, những người này phải sắp xếp để bù vào khoảng trống đó. Ở các gia đình pha trộn do kết hôn lại còn phức tạp hơn nhiều vì nó nảy sinh một số vấn đề mới gay cấn như con cái, tài chính, hậu quả còn lại về mặt tình cảm cũng như pháp lý từ cuộc hôn nhân đỗ vỡ trước.

Những thay đổi trong vai trò. Trong xã hội công nghiệp hiện đại có sự thay đổi rõ rệt vai trò của người vợ và người chồng, sự thay đổi đáng kể nhất là người phụ nữ, người vợ ít lệ thuộc vào chồng hơn trước rất nhiều. Họ tự đi làm để đóng góp vào thu nhập chung của gia đình, họ tham gia các công việc xã hội và có những uy tín nhất định trong gia đình, nhất là hiện nay nhiều chị em có trình độ học vấn cao và có việc làm ổn định trước khi tiến tới hôn nhân và đó là yếu tố quan trọng làm thay đổi nhận thức, dẫn tới thay đổi vai trò trong gia đình.

Tuổi kết hôn và phương thức lấy vợ, lấy chồng của nam nữ thanh niên muộn hơn các thế hệ trước. Tuổi kết hôn ngày càng kéo dài, do các quan niệm về hôn nhân – gia đình, tình dục đã thay đổi, một số không ít phụ nữ là người trì hoãn kết hôn, vì đối với họ kết hôn không còn là vấn đề hàng đầu mà phụ nữ quan tâm, họ thường chọn phương thức sống thử trước hôn nhân, còn việc sau đó có tiến tới hôn nhân hay không thì không quan trọng.

Quan niệm về sinh con và các kiểu sinh con là mô hình gia đình ít con, thậm chí ngày càng nhiều thanh niên coi trọng việc thành công và hưởng thụ của cá nhân hơn con cái, thậm chí có người suốt đời không muốn có con. Hay, một bộ phận chọn sinh con ngoài giá thú, những người phụ nữ độc thân mà có con thường là những người có địa vị xã hội tương đối cao, họ tự lực về kinh tế, đồng thời có sự hỗ trợ của khoa học về di truyền đã giúp họ thoả mãn nhu cầu làm mẹ mà không cần phải lấy chồng.

Vợ chồng bình đẳng hơn trong các quyết định quan trọng của gia đình, cùng chia sẻ công việc trên cơ sở giới tính, sức khỏe, nghề nghiệp… vậy nên mức độ gia trưởng giảm.

Việc giáo dục con cái có tính khoa học, chủ yếu bằng thuyết phục, nêu gương và tôn trọng ý kiến của con. Điều quan trọng nữa là cả hai vợ chồng cùng nhau giáo dưỡng con cái.

Gia đình giải thể và tổ chức lại: Tỷ lệ ly hôn tăng lên không ngừng, cùng với điều này là những lần tái hôn kế tiếp đã tạo nên sự giải thể và tổ chức lại gia đình.