Top 11 # Xem Nhiều Nhất Vai Trò Và Chức Năng Của Digital Marketing Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Digital Marketing Là Gì? Vai Trò Của Digital Marketing Trong Kinh Doanh

Digital Marketing

là gì?

“Digital truyền thông là kế hoạch dùng Internet làm phương tiện cho các công việc truyền thông và trao đổi thông tin” – Asia Digital truyền thông Association. Digital marketing làm nổi bậc đến 3 yếu tố: dùng các phương tiện kĩ thuật số, đến gần hơn người tiêu dùng trong môi trường kĩ thuật số, và tương tác với người tiêu dùng.

Điểm tốt nhất

 của digital 

truyền thông

so sánh với

marketing

 truyền thống:

∎ Digital marketing đang ngày càng cho thấy những ưu điểm vượt trội của mình so sánh với những phương thức truyền thông truyền thống trong việc đến gần hơn và tương tác với người sử dụng. Giúp người tiêu dùng biết được brand dễ dàng hơn qua các hình ảnh, logo thương hiệu, hiện diện khắp nơi trên mạng.

∎ Với digital marketing, các doanh nghiệp chăm sóc khách hàng vượt trội hơn từ đấy đưa về đạt kết quả tốt tốt về mặt doanh thu, và tiết kiệm chi phí.

∎ Sự tích hợp về công nghiệp số giúp ta có nhiều chọn lựa hơn để ảnh hưởng tới khách hàng: email marketing, social media, website…

∎ Giản đơn phân tích và theo dõi: mỗi kênh quảng bá đều có công cụ để đo đạc và chẩn đoán. nó làm cho việc đánh giá hoạt động trở nên thuận lợi hơn.

Các công cụ Digital 

marketing

thường gặp

Các công cụ Digital 

marketing

Website/landing page/blog…: Kênh đăng tải các 

thông tin

 dịch vụ, 

sản phẩm

thương hiệu

 để 

người sử dụng

 của bạn 

tìm đọc

.

Content

 (nội dung): 

tạo ra

thông tin

 tiếp thị 

online

hiệu quả

.

SEO (Search engine optimization: 

hành động

chế tạo từ

 khóa, 

tối ưu hóa

website

 trên các công cụ tìm kiếm.

Email

 Marketing: Tiếp thị tới 

người dùng

 bằng 

mail

.

Online PR: Quan hệ công chúng trên môi trường internet.

Social Media Marketing: Tiếp thị và tương tác với 

người sử dụng

online

 thông qua các 

kênh social

.

Mobile Marketing: 

kế hoạch

truyền thông

 trên điện thoại (gửi tin nhắn, 

áp dụng

 điện thoại…)

Web

 analytics: Thường hay 

dùng

 công cụ Google Analytics để 

đo đạt

.

Chiến lược

 Digital M

arketing

gồm có

những gì?

Digital marketing được chia làm 2 kế hoạch là kế hoạch kéo và chiến lược đẩy, hai kế hoạch này có khả năng bổ sung cho nhau. Kế hoạch đẩy trong Digital truyền thông là thông qua các hình thức tương tác như truyền thông marketing bằng banner trên các website, gởi hàng loạt tin nhắn SMS hoặc e-mail… đến các đối tượng người sử dụng để giới thiệu mặt hàng nhằm tìm kiếm đối tượng mục tiêu quan tâm để bán hàng. – Chiến lược kéo là giải pháp căn cơ và lâu dài để tiếp cận người tiêu dùng bằng việc để người tiêu dùng chủ động tìm ra bạn thông qua các công việc tìm kiếm site, blog…

Cách

khai triển

chiến lược

 digital 

truyền thông

Xác định rõ mục tiêu – digital marketing là gì?

Trước tiên bạn phải cần chọn lựa được chiến lược này lập lên nhằm mục tiêu gì: giúp lan rộng nhãn hiệu mãnh liệt tăng độ nhận diện, hay kế hoạch giúp đến gần hơn những người tiêu dùng mới, thu hút họ mua hàng, tăng trưởng doanh thu từ những khách hàng có sẵn…Hiểu rõ mục tiêu cần đạt được là bước đầu tiên để có khả năng hoàn thành một chiến lược digital truyền thông.

Định vị 

khách hàng

mục đích 

Bạn nên nghiên cứu và định vị được khách hàng mục tiêu cho chiến lược digital marketing của mình, để có khả năng đưa rõ ra thông điệp thích hợp quyến rũ họ. Điều quan trọng nhất cần làm ở đây là: chọn lựa được người sử dụng là ai, đặc điểm chung của họ là gì. Chọn cho nhóm người tiêu dùng này một cái tên, một hình ảnh biểu hiện, với tính bí quyết và điểm điểm đặc biệt.

Hiểu về 

thương hiệu

Lý do để người sử dụng chọn lựa nhãn hiệu của bạn thay vì đối thủ cạnh tranh là gì? Trả lời được câu hỏi đấy con người xác định được điểm đặc biệt của doanh nghiệp mình, từ đấy truyền tải những điều đó trong thông điệp marketing của mình.

Hiểu về 

đối thủ cạnh tranh

Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp cung cấp mặt hàng, dịch vụ giống bạn, có khả năng phân thành 2 nhóm: – Đối thủ cạnh tranh trực tiếp: Những công ty cung cấp cùng loại hình sản phẩm. – Đối thủ chung ngành gián tiếp: Những nhãn hiệu cung cấp mặt hàng khác tuy nhiên giải quyết được vấn đề về địa điểm và ngân sách giống bạn.

Lựa chọn

 những 

thông số

đo lường

Digital Marketing là gì? Là tất cả những thông tin mà chúng tôi đã tổng hợp được. Hy vọng những thông tin trên sẽ hữu ích với tất cả mọi người. Cảm ơn mọi người đã theo dõi bài viết.

Hồng Quyên – Tổng hợp 

Tham khảo ( chúng tôi vinahost.vn,… )

Vai Trò Của Digital Marketing Trong Marketing Communications Là Gì?

Xin lỗi nhưng bạn chưa phải là một marketer

Nếu các bạn cũng như tôi, dấn thân vào làm trong ngành marketing này chỉ do đường đời đưa đẩy chứ không hề tính toán trước và cũng không hề được học hay đào tạo chính quy gì về marketing trên giảng đường hoặc các khóa học bên ngoài thì nên đọc tiếp. Nếu bạn muốn hiểu rõ hơn digital đóng vai trò gì và nó có vị trí thế nào trong toàn bộ bối cảnh là marketing thì cũng nên đọc tiếp.

Xuất thân ra trường với cái bằng Tiếng Anh chung chung, tôi đinh ninh rằng cái nghề mình sẽ làm phải là biên phiên dịch hay gì đó. Và đúng là công việc đầu tiên của tôi tại một công ty nội địa nhỏ là ngồi dịch thuật một mớ những bài viết tiếng Anh hằng ngày sang tiếng Việt và đăng lên website bán hàng của công ty. Rồi sau đó từ việc quản lý và viết bài cho website, vì nhiều hà cớ (mà tôi sẽ kể trong một dịp khác) mà tôi bắt đầu bắt tay qua tự học và làm về SEO. Tôi lặn ngụp trong mớ kiến thức về SEO, tự học về HTML/CSS, Javascript, PHP, domain, hosting và tất tần tật mọi thứ để có thể làm tốt công việc của mình. Sau hơn 2,5 năm làm việc ở công ty đầu tiên đó, tôi có thể tạm gọi mình là một người làm SEO.

Tôi chỉ bắt đầu nhận ra rằng những gì mình biết về marketing chỉ là những chiến thuật (tactics) tiểu tiết, những mảnh ghép rời rạc, những kiến thức lổ chỗ thiếu hụt và những suy nghĩ lệch lạc về cái gọi là mối quan hệ giữa thương hiệu và khách hàng. Tôi cũng nhận ra sự yếu kém của mình về kiến thức ngành khi có dịp trao đổi và trò chuyện với các anh chị nhiều kinh nghiệm hơn làm việc bên mảng marketing truyền thống.

Vậy lúc đó tôi nhận ra điều gì? Tôi nhận ra rằng…

Digital marketing không tách rời khỏi marketing truyền thống…

… và tất cả những lý thuyết và nền tảng về marketing thì từ trước đến nay vẫn không hề có sự thay đổi. Là một người không học qua căn bản về marketing mà chỉ nhảy sổ vào ngành, sau đó tự mình học những kiến thức cóp nhặt từ nhiều nơi và tự ghép nối chúng lại, tôi đã từng nghĩ rằng digital marketing là một phần tách rời, là tương lai của marketing, marketing truyền thống đang đi xuống và rồi sẽ chết dần. Nhưng không, digital marketing không phải là một khái niệm mới, nó cũng không phải là một thứ gì đó tách rời với các kênh truyền thống mà nó là một phần của tổng thể trong khái niệm integrated marketing communications mà chúng ta sẽ đề cập sau.

* Lưu ý tất cả các từ Communications mang nghĩa truyền thông qua các phương tiện (TVC, bảng hiệu, digital) đều PHẢI CÓ S mới là đúng. Vì Tú thấy rất nhiều bạn ghi sai thành communication nghĩa là giao tiếp thông thường giữa người và người. Và vì trong marketing thì phương thức mà một thương hiệu dùng để truyền tải thông điệp đến người dùng thường là phải thông qua các phương tiện truyền thông, do đó communications sẽ là từ được dùng thường xuyên.

Digital marketing là một khái niệm bao trùm các kênh / phương thức truyền thông mới xuất hiện sau này và thường được nhiều người gắn liền với các kênh online. Tuy nhiên digital marketing theo tôi thì tổng thể hơn như thế và bao gồm Digital Advertising và Online Marketing. Với sự chuyển biến hiện tại thì các lằn ranh sẽ ngày càng mờ dần hơn giữa 2 nhánh của digital marketing.

Cấu thành của Marketing và các định nghĩa

Một trong những lý do tôi viết bài này là vì trong thời gian vừa rồi tôi thấy khá là nhiều những chia sẻ đến từ cộng đồng và một số chia sẻ đó thì theo tôi chưa thực sự đúng lắm về mặt nền tảng. Tôi không nói là những chia sẻ đó là hoàn toàn sai vì thực sự có rất nhiều cách hiểu và góc nhìn khác nhau nếu nói về mảng kiến thức trong marketing. Ngay cả marketing models để lên chiến lược cũng có rất nhiều biến thể khác nhau và nhiều loại khác nhau, ví dụ như 4Ps, 4Cs, 7Ps, 7S, AIDA, 5Is, BCG Matrix, SOSTAC, v.v… và việc đúng sai hợp lý hay không đôi khi vẫn còn rất nhiều tranh cãi.

Tuy nhiên như tôi đã nói phía trên, nền tảng là thứ rất quan trọng. Nếu nói về nền tảng mà bị sai lệch thì tất cả mọi định hướng và ý nghĩa đều sẽ bị sai lệch theo. Kiến thức dù muốn tốt để truyền tải đi nhưng nền tảng bị sai thì cũng sẽ gây ảnh hưởng không tốt, nhất là với các bạn trẻ vẫn đang còn trong giai đoạn học hỏi rất nhiều thứ.

Tôi đã vẽ ra cái hình bên dưới để mọi người có thể dễ mường tượng:

Marketing Mix: 4Ps và 7Ps

Nền tảng của Marketing là Marketing Mix model bao gồm 4Ps: Product, Price, Place, Promotion và sau này được mở rộng ra thành 7Ps với People, Process và Physical Environment. Ở đây tôi chỉ tóm gọn lại về 4Ps và 7Ps này:

1. Product (sản phẩm): có thể là sản phẩm hữu hình (hàng hóa) hay vô hình (dịch vụ) mà thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn của người dùng. 2. Price (giá): là chi phí (tiền, thời gian, công sức) khách hàng sẵn sàng trả cho sản phẩm hay dịch vụ nhận được. 3. Place (địa điểm / phân phối): phương thức để cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng một cách thuận tiện nhất.

3Ps được thêm vào sau này:

5. People (con người): nhân sự tham gia vào việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, tương tác giữa nhân viên và khách hàng hay giữa khách hàng với nhau. 6. Process (quy trình): các quy tắc, cơ chế mà dịch vụ được cung cấp cho khách hàng. 7. Physical Environment (cơ sở vật chất): môi trường mà việc mua bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ diễn ra hoặc cơ sở vật chất để có thể sản xuất hàng hóa hay dịch vụ.

Để hiểu thêm về Marketing Mix, các bạn nên đọc quyển The Principles of Marketing của Philip Kotler, đây là sách giáo khoa nhập môn căn bản mà ai làm marketing cũng nên đọc.

Promotion Mix – Marketing Communications

Quay trở lại với phần Promotion, Promotion Mix là gì? Promotion Mix (hay còn gọi là Marketing Communications – Marcom) là tập hợp các công cụ mà người làm marketing có thể sử dụng để truyền tải thông điệp hoặc tương tác với người dùng và tác động đến quyết định mua hàng của họ.

3. Personal selling: là phương thức tiếp cận người dùng trực tiếp thông qua các nhân viên bán hàng hoặc tư vấn viên. Bao gồm: nhân viên bán hàng, tư vấn qua điện thoại, bán hàng qua mối quan hệ, v.v…

4. Sales promotion: đây là các hoạt động nhằm mục đích kích thích và khuyến khích người dùng mua sản phẩm bao gồm khuyến mãi, hàng sử dụng thử (demo), các vouchers, coupons, trưng bày tại điểm bán v.v…

5. Public relations: là các hoạt động nhằm mục đích xây dựng một hình ảnh đồng nhất của thương hiệu không chỉ đối với khách hàng mà còn với những nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội. Public relations bao gồm: + Government relations: quan hệ chính phủ – tuân thủ các yêu cầu về pháp lý, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, thực hiện trách nhiệm xã hội. + Customer relations: quan hệ mà công ty xây dựng với các khách hàng mà mình đang cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm. + Community relations: quan hệ cộng đồng – xây dựng hình ảnh của thương hiệu với cộng đồng địa phương hoặc cộng đồng ngành nơi mà công ty đang hoạt động. + Media relations: quan hệ truyền thông – tạo dựng mối quan hệ tốt với các cơ quan truyền thông, báo chí để đảm bảo một hình ảnh thương hiệu nhất quán trên các kênh truyền thông. + Influencer relations: quan hệ với những người có ảnh hưởng nhằm có thể vận dụng họ như một kênh truyền thông hiệu quả. + Publicity: các hoạt động thu hút sự quan tâm của cộng đồng và công chúng nhằm khuếch trương danh tiếng và thương hiệu. + Internal communications: truyền thông nội bộ – truyền thông tới các nhân viên của công ty và đối tác về hình ảnh và thương hiệu của công ty nhằm xây dựng văn hóa và sự gắn kết.

* Một số bạn hay dùng từ Publicity như từ đồng nghĩa với Public Relations nhưng cái đó là sai vì Publicity chỉ là một phần của các hoạt động về PR – Branding.

Vai trò và vị trí của digital marketing trong promotion mix / marketing communications

Lúc này chúng ta mới tới phần kênh truyền tải. Các kênh digital, bên cạnh các kênh truyền thống đóng vai trò như phương tiện để truyền tải thông điệp đến khách hàng. Việc lựa chọn kênh nào để truyền tải là phụ thuộc vào công cụ mà thương hiệu sử dụng, đối tượng muốn hướng tới và loại nội dung họ tạo ra. Dù là truyền tải trên kênh nào thì cũng đều có 3 bước cần phải làm:

Khái niệm integrated marketing communications (IMC) như được nói đến trong The Principles of Marketing chính là việc truyền tải các thông điệp đến người dùng một cách đồng nhất bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn các công cụ của Promotion Mix và các kênh truyền tải dù là digital hay truyền thống. Như bạn có thể thấy trên hình, phần IMC chính là nguyên phần Promotion Mix phía trên.

Đương nhiên, như đã nói, đây là một góc nhìn. IMC với một số người khác lại sẽ theo góc nhìn khác, đi từ concept, brand images hoặc cắt lớp theo các hướng khác nhau. Cái Tú trình bày đây là IMC được hiểu theo nghĩa cơ bản, phân chia theo các chuẩn mực và marketing mix model được giảng dạy.

Bạn có thể thấy digital marketing lúc này là một phần của IMC dưới dạng là các kênh truyền tải thông điệp và nó là một phần của chiến lược tổng thể từ trên xuống đi cùng với các yếu tố khác như Product, Price, Place, People, Process hay Physical Environment chứ nó không tồn tại một cách đơn lẻ hay tách biệt.

Marketing Là Gì? Vai Trò Và 3 Chức Năng Của Marketing

Marketing là gì? Hiểu rõ Marketing liệu có quá khó.

1.

Khái niệm Marketing.

Định nghĩa của

John H.Crighton

(Australia)

“ Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh hay luồng hàng, đúng thời gian và đúng vị trí”

Định nghĩa của

Wolfgang J.Koschnick

( Dictionary of Marketing):

Định nghĩa Marketing theo tổ chức Hiệp Hội Marketing Mỹ (1985):

“Marketing là tiến trình hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định gin, xúc tiến và hn phải những ý tưởng hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những mục tiêu của cả nhân và tổ chức

Định nghĩa của

Philip Kotler

:

Marketing là một quá trình xã hội mà trong đó những cả nhân hay nhóm có thể nhận được những thứ mà họ cần thông qua việc tạo ra và trao đổi tự do những sản phẩm, dịch vụ có giá trị với người khác”.

Định nghĩa của

William M.Pride

:

“Marketing là quá trình sáng tạo, phần phối, định giá, cổ động cho sản phẩm, dịch v, ý tưởng để tháo măn những mối quan hệ trao đổi trong mỗi trường năng động”.

Định nghĩa của Viện Marketing Anh Quốc (The Chartered Institute of Marketing – CIM):

“Marketing là chức năng tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc phát hiện và biển sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về mặt hàng cụ thể đến việc sản xuất và dưa làng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng nhắm đâm vào cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận dr kiến”.Dù các tác giả khác nhau cố gắng đưa ra các định nghĩa khác nhau về Marketing, nhưng họ lại khá thống nhất khi đề cập đến bản chất của nó. Có quá nhiều khái niệm trả lời cho câu hỏi Marketing là gì ? Vậy khái niệm nào là chính. Qua vậy, một sự vật hiện tượng có thể biểu hiện ra bên ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau, có thể được nhìn nhận, Xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng bản chất sâu xa của nó thì chỉ có một. Đưa một số các định nghĩa mẫu trên, và ở các định nghĩa khác nữa, có thể rút ra bản chất của hoạt động Marketing:

Marketing là:

Nếu gọi Marketing là tiếp thị thì nó chỉ mang ý nghĩa hẹp không thể bao hàm toàn bộ hoạt động marketing. Marketing là một hệ thống của hoạt động kinh tế: đó thực chất là tổng thể các giải pháp của một công ty, một tổ chức nhằm đạt mục tiêu của mình, chứ không phải một hoạt động đơn lẻ, biệt lập trong doanh nghiệp.

2.

Phạm vi hoạt động Marketing

Marketing có phạm vi hoạt động rất rộng.

3.

Marketing thị trường và doanh nghiệp

Marketing chi cung cấp cải mà thị trường cần chứ không cung cấp cải mà doanh nghiệp sẵn có.

Marketing chỉ cung cấp những hàng hoá và dịch vụ, ý tưởng mà thị trường cần chứ không cung cấp cái mà mình sẵn có, hay có khả năng cung cấp. Bản chất này thế hiện tính hướng ngoại của Marketing, diều này có nghĩa rằng Marketing tạo ra cái mà doanh nghiệp có thể bán dược trên thị trường.Do điểm bắt đầu trong Marketing không phải là sản phẩm mà là nhu cầu, trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, ai hiểu thị trường rõ hơn và nắm được thị trường và hành động theo thị trường thì doanh nghiệp đó thành công.

Trong một nghiên cứu vào đầu những năm 90 về các công ty thành công nhất như Hewlett Packard, Procter & Gamble, McDonald’s, IBM,.. người ta nhận thấy rằng các công ty này đều có chung các nguyên lý Marketing cơ bản đó là: hiểu rõ khách hàng. Xác định chính xác thị trường và có khả năng thúc đẩy nhân viên sản xuất và cung ứng các hàng hoá và dịch vụ có chất lượng caocho khách hàng. Để thoả mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn, hãng IBM dã thu thập các phiếu góp ý của khách hàng về nhân viên bán hàng và dịch vụ đồng thời tặng thưởng cho các nhân viên phục vụ khách hàng tốt nhất; hãng TOYOTA đã thành công nhờ có khả năng duy trì được sự hài lòng, thỏa mãn của khách hàng trong một thời gian dài. Mặc dù có nhiều nhân tố có thể tạo nên sự thành công của một doanh nghiệp như – chiến lược sáng suốt, nhân viên tận tụy, hệ thống thông tin tốt, quản lý tuyệt vời, nhưng yếu tố cốt lõi nhất dẫn đến thành công mà các nhà kinh doanh cũng như các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh là sự nhận biết, đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong một thị trường mục tiêu đã được nghiên cứu kỹ. Bán cái thị trường cần có nghĩa là mục đích của Marketing là tìm ra nhu cầu của khách hàng và thỏa mãn nhu cầu đó để thu được lợi nhuận.Marketing luôn đặt nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu và tìm mọi cách để đáp ứng được tối đa nhu cầu đó để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận lâu dài.

4.

Marketing là một quá trình liên tục

Khái niệm Marketing của Hiệp hội Marketing Mỹ 1985 đã nhấn mạnh Marketing là một quá trình liên tục chứ không phải là một hành động biệt lập. Quá trình này bắt đầu tự nghiên cứu thị trường và khách hàng, sau đó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng để đạt được mục tiêu lợi nhuận lâu dài của công ty, Quá trình này thế hiện rõ ràng ở 4 bước vận động hay 4 bước tiến hành chung của Marketing. Marketing vận động theo bốn bước sau:–Thu thập thông tin: Đây là những thông tin đầy đủ và cần thiết về thị trường đặc biệt là thông tin về nhu cầu và lượng cầu.      –Kế hoạch hóa chiến lược: Là việc xây dựng kế hoạch Marketing với những mục tiêu cần phải thực hiện.      –Hành động: Thực thi toàn bộ kế hoạch Marketing. Sự thành công của công ty phụ thuộc phần lớn ở bước này.      –Kiểm tra: Toàn bộ hoạt động Marketing từ khâu thu thập thông tin cho đến bước lập kế hoạch, triển khai thực hiện đều phải được kiểm tra. Trong đó kiểm tra hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan trọng nhất.     

5. Vai trò và chức năng của marketing

Trước hết, Marketing giúp doanh nghiệp hiểu rõ nhu cầu phong phủ, phức tạp hay thay đổi nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Từ nhận thức được nhu cầu này, doanh nghiệp mới có cơ sở để đề ra biện pháp thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất.Thứ hai, Marketing giúp doanh nghiệp tìm ra đúng những biện pháp để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Nho vậy sẽ đạt mục tiêu đề ra.Thứ ba, chính việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất sẽ giúp doanh nghiệp có thể tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường. Để thích ứng với những thay đổi của thị trường và môi trường bên ngoài.Thứ tư, Marketing tạo ra sự kết nổi hoạt động của doanh nghiệp với thị trường, bao gồm thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường đâu ra. Marketing như một công cụ kết nối thông tin đa chiều, giúp doanh nghiệp nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ khách hàng…Ngoài ra. Marketing còn được xem là chức năng quản trị quan trọng nhất của doanh nghiệp. Nó đóng vai trò kết nối hoạt động cho các chức năng khác như sản xuất, nhân sự, tài chính theo những chiến lược đã định. Tất nhiên, Marketing chỉ có thể hoạt động có hiệu quả nếu có sự phối hợp của các bộ phận khác.

Vai trò – chức năng của Marketing đối với người tiêu dùng

Hoạt động Marketing không chỉ làm lợi cho doanh nghiệp mà còn mang lại rất nhiều tiện lợi đối với người tiêu dùng. Một doanh nghiệp chi tồn tại và phát triển chừng nào còn cung cấp được lợi ích về mặt kinh tế cho khách hàng của nó. Ích lợi về mặt kinh tế đối với khách hàng là ở chỗ họ nhận được giá trị cao hơn chi phí mà họ bỏ ra để mua hàng hóa đó. Một sản phẩm thỏa mãn người mua là sản phẩm cung cấp nhiều tính hữu ích hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Có 5 kiểu lợi ích đối với người tiêu dùng:

Hữu ích về hình thức sản phẩm: nhờ có Marketing mà người tiêu dùng sẽ nhận được món hàng với kiểu dáng, mẫu mã, thậm chí là chất lượng đúng như mình mong muốn.Hữu ích về địa điểm: nhờ có Marketing mà người tiêu dùng có thể tiếp cận sản phẩm một cách dễ dàng, sản phẩm có mặt đúng nơi mà người tiêu dùng muốn. Tiết kiệm được chi phí tìm kiếm, đi lại…Hữu ích về mặt thời gian: Hàng hóa đến với người tiêu dùng nhanh hơn.Hữu ích về mặt sở hữu: Người mua có toàn quyền sở hữu và sử dụng sản phẩm.Hữu ích về thông tin: Người tiêu dùng còn nhận được những thông điệp như quang cáo, khuyến mãi.. nhờ đó mà có thể biết sản phẩm đang ở đâu, khi nào, giá bao nhiêu, những công dụng mà sản phẩm mang đến…

Vai trò – Chức năng của Marketing đối với xã hội

Khái Niệm Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Quốc Tế.

Marketing quốc tế là việc thực hiện các hoạt động nhằm định hướng, nắm bắt nhu cầu thị trường nước ngoài để xác lập các biện pháp thỏa mãn tối đa nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.

Như vậy ta thấy thực chất Marketing quốc tế chỉ là sự vận dụng nguyên lý, nguyên tắc các phương pháp và kỹ thuật tiến hành của Mareking trong điều kiện thị trường nước ngoài. Sự khác biệt của Marketing quốc tế và Marketing nói chung chỉ ở chỗ là hàng hoá và dịch vụ được tiêu thụ không phải trên thị trường nội địa mà là ở thị trường nước ngoài. Sự khác biệt này chỉ là thứ yếu và càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Marketing trong những điều kiện mới.

Việc nghiên cứu Marketing quốc tế là chìa khóa để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp ở đây có thể là mua bán hay đầu tư sản xuất… tại các thị trường nước ngoài mà doanh nghiệp muốn nắm bắt. Và khi mà chúng ta nghiên cứu Marketing quốc tế trong trường hợp chỉ áp dụng cho các sản phẩm được sản xuất trong nước nhưng được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài thì đó chính là Marketing – xuất khẩu.

Với vai trò làm thích ứng các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với điều kiện của môi trường quốc tế, xuất phát từ sự khác biệt to lớn giữa thị trường nước ngoài với thị trường nội địa và giữa thị trường nước ngoài với nhau, để đảm bảo lợi nhuận tôi đa cho doanh nghiệp, Marketing quốc tế thực hiện được những chức năng cơ bản:

– Thiết lập một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trường để nhận biết một cách nhanh chóng các biến động thị trường và nếu có thể thì dự báo trước các biến động đó.

– Xác lập khả năng phản ứng nhanh đối với các điều kiện đặc biệt và đồng thời với nó là khả năng thiết ghi nhanh chóng từ phía dịch vụ hành chính.

– Thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả của các hoạt động đã cam kết bất chấp những khó khăn sinh ra do sự khác biệt về môi trường kế toán, sự biến động về tiền tệ và sự khác biệt về “văn hoá” trong quản lý doanh nghiệp.

– Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật thu nhập thông tin và kỹ thuật hoạt động trên thị trường để bao quát được mọi trường hợp riêng biệt.

Thực hiện được những chức năng trên là điều kiện cần thiết cho sự phát triển quốc tế lâu dài và có hiệu quả của doanh nghiệp.