Top 19 # Xem Nhiều Nhất Vai Trò Đặc Trưng Chức Năng Của Gia Đình / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Những Đặc Trưng, Vai Trò Và Chức Năng Của Văn Học / 2023

Đề tài: Thường được sử dụng nhằm chỉ sự vật, hiện tượng đời sống được phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Như vậy thì đề tài chính là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.

Tư tưởng tác phẩm văn học: Thể hiện sự nhận thức, là những lí giải hay thái độ của chính tác giả trong nội dung tác phẩm.

Nhân vật văn học: Ở đây chính là con người cụ thể được thể hiện trong tác phẩm văn học. Thông thường nhân vật văn học có thể có hoặc không tên riêng.

Kết cấu: Theo định nghĩa, kết cấu trong văn học chính là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Bố cục trong văn học nhằm chỉ sự phân bố hay sắp xếp các bộ phận, chương đoạn của tác phẩm theo trình tự nhất định. Như vậy, bố cục chính là phương diện của kết cấu và khái niệm kết cấu cho thấy nội dung phức tạp hơn, rộng rãi hơn.

Văn học theo khái niệm chính là một loại hình của sáng tác giúp tái hiện những đề tài của đời sống xã hội cũng như con người. Có nhiều quan điểm về khái niệm văn học, tựu chung lại sự xuất hiện của văn học chính là dựa vào sự sáng tạo của việc hư cấu, và nội dung được thể hiện qua từng đề tài sáng tác.

Khái niệm văn học thường bị nhầm lẫn với văn chương. Tuy nhiên, về bản chất thì văn học mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm văn chương. Sự khác nhau rõ nhất giữa hai khái niệm này chính là bởi văn chương thường nhấn mạnh nhiều đến tính thẩm mỹ, sự sáng tạo hay phương diện ngôn ngữ cùng nghệ thuật của ngôn từ.

Các thể loại chính của văn học:

Một số khái niệm trong văn học

Chức năng nhận thức của văn học

Văn học giúp người đọc nhận thức rõ về bản thân mình. Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.

Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.

Chức năng thẩm mĩ của văn học

Chức năng thẩm mỹ của văn học là một chức năng đặc trưng. Thẩm mỹ chính là cái đẹp. Cái đẹp ở đây đến từ nhiều phương diện, nhưng tựu trung lại con người luôn thích chiêm ngưỡng cái đẹp. Đó chính là bản chất của con người, là nhu cầu mà con người luôn hướng đến.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Mỗi người sẽ có định nghĩa khác nhau về cái đẹp, nên không có một thước đo chuẩn xác cho cái đẹp, bởi lẽ nó khởi phát trong lòng người. Nhưng chức năng của cái đẹp, sự tác động của cái đẹp thì ta có thể thấy rõ và cảm nhận được. Cái đẹp xoa dịu tâm hồn con người, gạt bỏ mọi điều xấu xa khỏi tâm hồn con người chỉ để lại những gì thanh khiết trong tâm hồn con người.

Cái đẹp có chức năng cứu rỗi là vì thế. Chính nhờ có cái đẹp mà con người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc đời này, thấy cuộc sống có thêm ý nghĩa. Đó chính là giá trị chức năng đặc trưng của các loại hình nghệ thuật nói chung, của văn học nói riêng.

Cái đẹp của văn học đến từ cả hai phương diện hình thức và nội dung. Hình thức của văn học chính là thể loại chính là ngôn ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng. Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh, nhà điêu khắc dùng đường nét để khắc họa, nhạc sĩ dùng âm nhạc để nói nên nỗi lòng mình thì nhà văn lại dùng ngòi bút để tạo nên đứa con tinh thần của mình. Ngôn ngữ chính là chìa khóa vạn năng để thi nhân mở ra cánh cửa của muôn vàn cảm xúc. Nhà văn nhà thơ là người chắt lọc và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả nỗi lòng của mình. Cái đẹp ấy chính là ngôn ngữ.

Như câu thơ của Quang Dũng trong bài Tây Tiến dù cách đây đã lâu nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc mọi thời đại

Câu thơ với cách ngắt nhịp 4/3 cùng với sự lặp lại từ “dốc” ở đầu mỗi phần ngắt nhịp đã tạo nên một hình ảnh độc đáo. Sự bẻ đôi của câu thơ cũng đã phần nào diễn tả được độ dốc của địa hình. Và câu thơ có nhiều thanh trắc càng gợi được sự khó khăn trúc trắc trên bước đường hành quân của người lính.

Nhịp thơ như chính hơi thở của người lính trên hành trình leo dốc đầy gian nan này. Trên bước đường hành quân, khó khăn gian khổ là điều không thể tránh khỏi nhưng quan trọng là cách ta đối diện với khó khăn. Những người lính Tây Tiến cũng thế. Họ chấp nhận khó khăn và đối diện nó một cách đầy hiên ngang nhưng không kém phần tinh nghịch.

Biện pháp đảo ngữ đưa từ láy “heo hút” lên đầu đã nhấn mạnh sự vắng vẻ của khung cảnh nơi đây đồng thời còn nhấn mạnh sự hoang sơ của khung cảnh nơi đây không một bóng người. Thường với không gian hoang vắng như thế, con người sẽ oán than cuộc đời hoặc cảm thấy mình bé nhỏ cô độc nhưng những người lính không thế. Họ nhìn xa hơn vào cái hoang vắng ấy để thấy “súng ngửi trời”.

“Súng ngửi trời” là một hình ảnh nhân hóa đầy thú vị. Súng đeo trên vai luôn theo sát người lính ở mọi bước đường hành trình. Đi trên con dốc khiến người lính có cảm tưởng như chạm đến mây. HÌnh ảnh ấy gợi được độ cao của con dốc. Nhưng qua cái nhìn của người lính Tây Tiến khung cảnh hiện lên có cảm giác thật nhẹ nhàng, tinh nghịch như một bộ phim hoạt hình. Thế nhưng chính sự lạc quan tươi vui ấy lại là một phẩm chất cần có ở người lính. Bởi lẽ nó là chất xúc tác giúp người lính có thể vượt qua mọi khó khăn.

Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” là một nét phác họa gợi cho ta liên tưởng đến một bức tranh thủy mặc thời cổ của một thi sĩ nào đó. Chính nét phác họa ấy đã tạo nên một bức tranh nhiều chiều, dường như không chỉ là độ cao mà nó còn là độ sâu nữa. Dù hình ảnh người lính không xuất hiện trực tiếp nhưng trên phông nền hùng vĩ của thiên nhiên ấy, ta có thể tưởng tượng hình ảnh người lính xuất hiện hùng tráng biết bao như các chiến sĩ thời trung đại.

Có lẽ chính vì có lí tưởng, có mục đích chiến đấu cao cả nên người lính Tây Tiến không hề bé nhỏ cô đơn mà ngược lại. Kết thúc bức tranh núi rừng tây tiến hoang sơ nhưng hùng vĩ ấy là một hình ảnh thật nên thơ thơ mộng với “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến người đọc có một cảm giác thật nhẹ nhàng lãng mạn….

Trong những giây phút dừng chân hiếm hoi, người lính Tây Tiến phóng tầm mắt ra xa tìm kiếm một nơi ấm, một mái nhà ấm áp. Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ làm dấy lên trong lòng họ ngọn lửa ấm áp. Đó chính là cái đẹp mà văn học mang lại nhưng cái đẹp đó không đơn thuần là ở bên ngoài mà còn tác động đến tầng sâu cảm xúc làm lắng đọng những suy tư. Chính vì vậy, cái đẹp của văn học mới có thể tồn tại.

Chức năng giáo dục của văn học

Lý giải văn học với chức năng giáo dục

Giáo dục chính là một mục đích tuyệt vời của văn học. Chức năng giáo dục của văn học cũng là một trong những điều đặc biệt mà văn học mang lại. Sự giáo dục mà văn học mang lại không đơn thuần là những kiến thức sách vở mà đó là những bài học tác động đến tình cảm, cách ta nhìn nhận thế giới. Vì vậy, bên cạnh nhiều yếu tố khác, văn học chính là một trong những nhân tố giúp con người hình thành tam quan – thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan.

Văn học mang đến bài học giáo dục con người theo mỗi cách khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào người đọc giải mã tác phẩm thế nào. Mỗi người có một cách đọc, một cách nhìn nhận và lí giải tác phẩm khác nhau. Nhà văn sẽ mã hóa thông điệp của mình vào một hình ảnh, một chi tiết hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm của mình.

Như khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta nhận thấy Nguyễn Du gửi gắm sự đồng cảm đối với những bất công ngang trái mà những người tài hoa bạc mệnh phải gánh chịu. Thúy Kiều là một cô gái tài sắc nhưng phải chịu số phận hẩm hiu không chỉ rời xa gia đình êm ấm, mối tình đầu dang dở nhưng nàng lại phải chịu đựng kiếp làm lẽ, bị người đời chà đạp.

“Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy”.

Đời một người con gái tài hoa cuối cùng lại chỉ đành “khép cửa phòng tu” mà thôi. Bởi lẽ trong một xã hội đầy bất công, thế lực đồng tiền lên ngôi thì con người có tài hoa mấy rồi cuối cùng chỉ dang dở mà thôi. Chính vì vậy đọc truyện Kiều, ta không chỉ xót xa đồng cảm cho số phận của Kiều mà còn cảm thấy chán ghét bức bối trước xã hội thối nát.

Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, đọc những vần thơ về Kiều ta càng thêm khâm phục tài sắc và cả nhân cách của Kiều. Trân trọng ngợi ca cái đẹp cái tài cũng chính là một cách để thể hiện tấm lòng của tác giả đối với Nhưng bên cạnh đó còn là ước mơ về người anh hùng được gửi gắm qua nhân vật Từ Hải.

“Cháu chiến đấu hôm nay Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ”

Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi

Nhưng không chỉ có những tác phẩm lớn mà ngay những tác phẩm văn học thiếu nhi cũng đã hàm chứa chức năng giáo dục. Đó là giáo dục tình yêu thiên nhiên yêu quê hương đất nước. Chỉ một bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa cũng đã đủ để khơi dậy trong lòng người đọc nhiều ý nghĩ

Chỉ những hình ảnh đó thôi cũng đã khiến mọi người nhớ đến hình ảnh làng quê êm đềm với những hạt gạo mà bác nông dân phải một nắng hai sương xay giã giần sàng.

Văn học thiếu nhi tuy hướng đến đối tượng chính là thiếu nhi nhưng những bài học tác giả gửi gắm vào đó không hề giản đơn tùy tiện mà luôn chứa một chiều sâu vừa đủ để chạm đến tâm hồn của các độc giả trẻ tuổi cũng như vừa đủ để người lớn khi đọc lại vẫn cảm thấy vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị.

“Tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”

Chỉ vài dòng thơ trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân QUỳnh mà ta như sống lại với bao kỷ niệm ấu thơ về người bà hiền hậu tảo tần sớm hôm để lo cho đàn cháu nhỏ dại. Bà thắp lên những ngọn lửa không chỉ soi sáng không gian tăm tối mà còn soi sáng cả cuộc đời cháu…

“Làm sao giết được người trong mộng Để trả nợ duyên kiếp phũ phàng”

Chức năng giao tiếp của văn học

Văn học bên cạnh chức năng giáo dục, thẩm mỹ còn có chức năng giao tiếp. Chức năng giao tiếp của văn học không trực tiếp cụ thể mặt đối mặt như các kiểu giao tiếp thông thường trong cuộc sống mà nó là sự đối thoại đặc biệt giữa tác giả và người đọc. Tác giả sẽ truyền tải câu chuyện thông điệp vào trong từng trang viết.

“Em tưởng giếng nước sâu Em nối sợi gàu dài Ai ngờ giếng nước cạn Em tiếc hoài sợi dây”

Cuộc đời thi nhân dường như trải ra tâm trạng của người viết cũng được phơi bày một cách trung thực nhất không giấu giếm không lừa dối. Bởi lẽ thơ ca chỉ có thể tác động đến trái tim người đọc khi nó đi ra từ chính trái tim của người viết. Trái tim mới có thể đi đến trái tim. Nếu như những gì anh viết không phải là tình cảm nồng hậu chân thành thì làm sao có thể rung lên ở người đọc vô vàn xúc cảm. Như đọc những vần thơ của Xuân Diệu:

Hay những vần thơ của Hàn Mặc Tử:

Nếu đó không phải là những vần thơ xuất phát từ trái tim của thi nhân – một trái tim cô đơn khát khao tìm kiếm tình yêu thì làm sao những vần thơ ấy còn được lưu truyền đến ngày nay. Thời gian là dòng chảy khắc nghiệt nhất phũ phàng nhất có thể hủy hoại hết mọi thứ. Nhưng với tác phẩm văn học, thời gian lại chính là thước đo giá trị chính xác nhất.

Đặc trưng về đối tượng phản ánh.

Đặc trưng về nội dung phản ánh của văn học.

Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học.

Tính phi vật thể của ngôn từ nghệ thuật.

Nhưng sự đối thoại giữa người đọc và tác giả lại được diễn ra gián tiếp thông qua tác phẩm. Nếu như nhà văn là người mang đứa con tinh thần của mình đến với người đọc thì người đọc lại chính là người mang lại hơi thở, sự sống cho tác phẩm. Và lời hồi đáp của người đọc dành cho tác giả chính là những nỗi niềm trân quý, sự rung lên trong tâm hồn và sự thay đổi của người đọc. Tất cả đều góp phần kiến tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.

Văn học là thế, không cần những mĩ từ ngợi ca mà nó được người đời tung hô bởi những giá trị tự thân, mà giá trị ấy do nhiều yếu tố hợp thành như nhà văn, tư tưởng của tác phẩm, người đọc,… Một tác phẩm hội tụ đầy đủ những giá trị chwusc năng này ắt hẳn sẽ không phải là một tác phẩm nông cạn, trôi tuột trong kí ức người đọc mà ngược lại sẽ neo đậu trong lòng người đọc bao thế hệ.

Bản chất và đặc trưng của văn học

Bản Chất, Đặc Trưng, Vai Trò Của Nhà Nước / 2023

5

/

5

(

5

bình chọn

)

Bản chất nhà nước, đặc trưng và vai trò nhà nước là 03 yếu tố cơ bản để phân biệt nhà nước này với nhà nước khác. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Bản chất nhà nước

Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác khẳng định: nhà nước, xét về bản chất, trước hết là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác, là bộ máy duy trì sự thống trị giai cấp.

Tính giai cấp:

Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thể hiện trên 3 mặt: kinh tế, chính trị, tư tưởng.

Muốn đạt được hiệu quả thống trị, giai cấp thống trị sử dụng nhà nước như là một công cụ sắc bén nhất, thông qua nhà nước, quyền lực kinh tế đủ sức mạnh để duy trì quan hệ bóc lột. Có trong tay công cụ nhà nước, giai cấp chiếm ưu thế về kinh tế bảo vệ quyền sở hữu của mình, đàn áp được sự phản kháng của giai cấp bị bóc lột. Trở thành giai cấp thống trị về chính trị.

Thông qua nhà nước giai cấp thống trị tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của mình. Hợp pháp hóa ý chí của giai cấp mình thành ý chí của nhà nước, buộc các giai cấp khác phải tuân theo trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.

Nắm quyền lực kinh tế và chính trị bằng con đường nhà nước, giai cấp thống trị xây dựng hệ thống tư tưởng giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị xã hội buộc các giai cấp khác lệ thuộc về tư tưởng.

Nhà nước mang bản chất giai cấp sâu sắc vì nó củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.

Ví dụ:. Nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản: nhà nước có đặc điểm chung là bộ máy đặc biệt duy trì sự thống trị về chính trị, kinh tế, tư tưởng của thiểu số đối với đông đảo quần chúng lao động, thực hiện chuyên chính của giai cấp bóc lột.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là bộ máy củng cố địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đảm bảo sự thống trị của đa số đối với thiểu số. – Tính xã hội:

Một nhà nước không tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích, nguyện vọng, ý chí của các giai cấp khác trong xã hội. Ngoài tư cách là bộ máy duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, nhà nước còn là tổ chức quyền lực công, là phương thức tổ chức đảm bảo lợi ích chung của xã hội.

Nhà nước giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong xã hội, đảm bảo các giá trị xã hội đã đạt được, bảo đảm xã hội trật tự, ổn định và phát triển, thực hiện chức năng này hoặc chức năng khác phù hợp yêu cầu của xã hội, cũng đảm bảo lợi ích nhất định của các giai cấp trong chừng mực lợi ích đó không đối lập găy gắt với lợi ích giai cấp thống trị.

Trong bản chất nhà nước, tính giai cấp và xã hội của nhà nước luôn luôn thống nhất với nhau:

Trong các nhà nước khác nhau hoặc trong cùng một nhà nước, ở những giai đoạn phát triển khác nhau, tùy thuộc vào các yếu tố khách quan (tương quan lực lượng giai cấp, đảng phái…) và các yếu tố chủ quan (quan điểm, nhận thức, trình độ văn hóa…) bản chất nhà nước được thể hiện khác nhau.

Ví dụ: Trong nhà nước Việt Nam, trong điệu kiện đổi mới đất nước, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân nâng cao, nhà nước quan tâm thực hiện các chính sách xã hội nhiều hơn so với thời kỳ chiến tranh, thời kỳ bao cấp, chính sách đối với thương binh, liệt sỹ, xóa đói, giảm nghèo…

Tìm hiểu thêm: Biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính

Đặc trưng nhà nước

Đặc trưng nhà nước cho phép phân biệt nhà nước với tổ chức của xã hội thị tộc bộ lạc; phân biệt với tổ chức chính trị xã hội khác.

Đặc trưng nhà nước thể hiện vai trò, vị trí trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị (5 đặc trưng):

Thứ nhất: Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hòa nhập với dân cư trong chế độ thị tộc nữa mà hầu như tách rời khỏi xã hội. Quyền lực công cộng này là quyền lực chung. Chủ thể là giai cấp thống trị chính trị, xã hội.

Để thực hiện quyền lực quản lý xã hội, nhà nước phải có một tầng lớp người chuyên làm nhiệm vụ quản lý, lớp người này được tổ chức thành các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy đại diện cho quyền lực chính trị có sức mạnh cưỡng chế duy trì địa vị giai cấp thống trị, bắt giai cấp khác phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị.

Thứ hai: Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào chính kiến, nghề nghiệp, huyết thống, giới tính… Việc phân chia này quyết định phạm vi tác động của nhà nước trên quy mô rộng lớn nhất và dẫn đến hình thành cơ quan quản lý trong bộ máy nhà nước. Không một tổ chức xã hội nào trong xã hội có giai cấp lại không có lãnh thổ riêng của mình.

Lãnh thổ là dấu hiệu đặc trưng của nhà nước. Nhà nước thực thi quyền lực trên phạm vi toàn lãnh thổ. Mỗi nhà nước có một lãnh thổ riêng, trên lãnh thổ ấy lại phân thành các đơn vị hành chính như tỉnh, quận, huyện, xã,… Dấu hiệu lãnh thổ xuất hiện dấu hiệu quốc tịch.

Thứ ba: Nhà nước có chủ quyền quốc gia: Nhà nước là một tổ chức quyền lực có chủ quyền. Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý thể hiện ở quyền tự quyết của nhà nước về chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc yếu tố bên ngoài.

Chủ quyền quốc gia có tính tối cao, không tách rời nhà nước. Thể hiện quyền lực nhà nước có hiệu lực trên toàn đất nước, đối với tất cả dân cư và tổ chức xã hội, không trừ một ai.

Thứ tư: Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân. Là lực lượng đại diện xã hội, có phương tiện cưỡng chế. Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình đối với công dân của đất nước. Các quy định của nhà nước đối với công dân thể hiện trong pháp luật do nhà nước ban hành. Mối quan hệ nhà nước và pháp luật: Không thể có nhà nước mà thiếu pháp luật và ngược lại. Trong xã hội chỉ nhà nước có quyền ban hành pháp luật, các tổ chức khác không có quyền này và chính nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống.

Thứ năm: Nhà nước quy định và thực hiện thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc: quyết định và thực hiện thu thuế để bổ sung nguồn ngân sách nhà nước, làm kinh phí xây dựng và duy trì cơ sở vật chất kỹ thuật, trả lương cho cán bộ công chức. Dưới góc độ thuế nhà nước gắn chặt với xã hội và dân chứ không tách rời. Cần phải xây dựng một chính sách thuế đúng đắn, công bằng và hợp lý, đơn giản,tiện lợi.

Định nghĩa nhà nước: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong xã hội xã hội chủ nghĩa.

Vai trò của nhà nước

Nhà nước và kinh tế

Nhà nước được quy định bởi kinh tế, do điều kiện kinh tế quyết định. Từ sự xuất hiện của nhà nước, bản chất, chức năng, hình thức, bộ máy nhà nước đều phụ thuộc vào đòi hỏi khách quan của cơ sở kinh tế.

Không phụ thuộc tuyệt đối, chỉ tương đối thể hiện ở 2 phương diện:

Nhà nước cùng các bộ phận khác của kinh tế tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh thông qua các chính sách kinh tế có căn cứ khoa học và phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại trong chừng mực nó phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị.

Ví dụ: . Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước Tư sản trong giai đoạn đầu phát triển xã hội tư bản: xác lập và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Chính sách kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm cho kinh tế nước ta từ 1986 đến nay phát triển mạnh.

Nhà nước có thể đóng vai trò tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế. Thể hiện chính sách kinh tế lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển chung của thế giới,kìm hãm sự phát triển của quan hệ sản xuất tiến bộ.

Ví dụ: Nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến vào giai đoạn cuối trong quá trình phát triển lịch sử.

Trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhà nước đồng thời có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với kinh tế phụ thuộc vào khả năng nhận thức và nắm bắt kịp thời hoặc không kịp thời các phương diện khác nhau của quy luật vận động của kinh tế cũng như phụ thuộc vào lợi ích của giai cấp thống trị.

Nhà nước và tổ chức chính trị xã hội

Các tổ chức chính trị của xã hội là những hình thức và phương diện bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp.

Trong các tổ chức chính trị xã hội, nhà nước là trung tâm vì:

(i) Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, là tổ chức mà quyền lực của nó bắt buộc đối với mọi người trong quốc gia thông qua pháp luật.

(ii) Nhà nước là công cụ sắc bén nhất của quyền lực chính trị, là tổ chức có sức mạnh cưỡng chế đủ sức thực hiện những nhiệm vụ mà không một tổ chức chính trị nào làm nổi vì nhà nước có bộ máy chuyên cưỡng chế như: Tòa án, quân đội, cảnh sát, nhà tù… nắm trong tay nguồn tài nguyên, có quyền đặt ra và thu thuế…

(iii) Nhà nước là tổ chức chính trị độc lập có chủ quyền, thực hiện quyển đối nội, đối ngoại độc lập không phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào.

Nhà nước thực sự là trung tâm của đời sống chính trị của hệ thống chính trị xã hội, là bộ phận không thể thay thế được của bộ máy chuyên chính giai cấp, là tổ chức thực hiện chức năng quản lý xã hội hiệu quả nhất.

Trong các tổ chức chính trị, Đảng chính trị có vai trò đặc biệt, là lực lượng có vai trò lãnh đạo, định hướng sự phát triển xã hội. Các đảng chính trị là tổ chức của các giai cấp, thể hiện lợi ích giai cấp và gồm những đại biểu tích cực nhất đấu tranh cho lợi ích giai cấp mình. Đảng chính trị cầm quyền vạch ra chính sách lớn định hướng cho hoạt động của nhà nước, kiểm tra hoạt động Đảng viên trong việc thực hiện chính sách Đảng, các đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước.

Nhà nước và tổ chức xã hội: Tổ chức xã hội có vai trò quan trọng tùy thuộc vào quy mô, tính chất của tổ chức đó. Quan trọng nhất: công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội nông dân, mặt trận tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng nhiệm vụ khác nhau dưới sự lãnh đạo của đảng. Chúng có vai trò khác nhau trong đời sống chính trị. Nhà nước và tổ chức xã hội có quan hệ chặt chẽ theo nguyên tắc hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.

Nhà nước và chính trị

Chính trị với tư cách hiện tượng phổ biến xác định quan hệ giai cấp, tương quan lực lượng giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế trong xã hội có giai cấp. Trong xã hội, nó là sợi dây liên kết giữa nhà nước với cơ sở hạ tầng kinh tế với các bộ phận khác trong kiến trúc thượng tầng.

Các tổ chức chính trị đểu thông qua chính trị để tác động lẫn nhau, đồng thời tác động đến các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng như tác động đến cơ sở kinh tế của xã hội.

Nhà nước và pháp luật

Pháp luật là công cụ để nhà nước duy trì sự thống trị, thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

Quyền lực của nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật, được thực hiện thông qua pháp luật và bị hạn chế bởi pháp luật.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa / 2023

Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung, Khô âm Đạo, Đa Nang Buồng Trứng, Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Tăng Khả Năng Tập Trung, U Nang Buồng Trứng, Kỹ Năng Trùng Sinh 9, Kỹ Năng Trùng Sinh 6, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Công Văn 1972 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw-1998 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 04-hd/btctw 2014 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn Số 3692 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Trung ương 23 Hd Btctw Ban Tổ Chức, Công Văn Số 4741 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Đơn Đề Nghị Phê Duyệt Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu, Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu Cho Học Sinh Tiểu Học, Quy Dinh 104 Ve Tap Trung Dan Chu Trong To Chuc Dang, Huong Dan So 23 Nam 2003 Cua Ban To Chuc Trung Uong, Hướng Dẫn Số 23/2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Chức Trách Trung Đoàn Trưởng, Quyết Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số Pdf, Bài Giảng U Nang Buồng Trứng, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Số, Mổ Nội Soi U Nang Buồng Trứng Giá Bao Nhiêu, Chuyên Đề U Nang Buồng Trứng, Cẩm Nang Du Lịch Miền Trung, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Kỹ Năng Khẩu Ngữ Tiếng Trung, Sach Hoc Tang Kha Nang Trung Ve Xo, Kỹ Năng Nghe Tiếng Trung, Sách Học Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Chức Năng Gia Đình, Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Chức Năng Quản Lý, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Ky Nang To Chuc Su Kien, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, 3-hd/tctw Ngày 14-10-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Huong Dan 55 Cua Ban To Chuc Trung Uong Ngay 31 Thàngnam05, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương Ngày 14/10/2003, Quy Định Số 104-qĐ/qu Về Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Tổ Chức , Dẫn 23-hd/tctw Ngày 14- 03-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương,

Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung,

Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng, Vai Trò Của Thuế / 2023

Khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò của thuế-Phân loại thuế và yếu tố cấu thành một sắc thuế Người trình bày: Nguyễn Thị Cúc Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Web: chúng tôi Email: HoiTuVanThue@yahoo.com KẾT CẤU BÀI GiẢNG I. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò của thuế II.Phân loại thuế III. yếu tố cấu thành một sắc thuế I. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò của thuế 1. Khái niệm thuế 2. Đặc điểm của thuế 3. Chức năng, vai trò của thuế 1. Khái niệm thuế Sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và PT của NN. Về kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, NN sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công Về phân phối TN thì thuế là hình thức phân phối và phân phối lại TSPXH và TNQD Về người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc Vây: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội. 2. Đặc điểm của thuế 1. Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước 2. Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp 3. Chức năng, vai trò của thuế 1. Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Ở Việt Nam, tỷ lệ huy động GDP vào NSNN đạt tỷ lệ trên 20% qua các năm, cụ thể Tỷ lệ thu NSNN/GDP Năm 2004: 24,2%;2005:23,8%;2006:25,2% Tỷ lệ thuế, phí/GDP (%) Năm 2004:20,2 %; 2005 :21,1%; 2006 :22,6% Tỷ lệ bội chi NSNN không quá 5% 3. Chức năng, vai trò của thuế 2. Điều tiết vĩ mô nền kinh tế Điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý Điều chỉnh tích luỹ tư bản Thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước. Thay đổi thuế suất Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế 3. Chức năng, vai trò của thuế 3.Điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Thuế là công cụ để NN can thiệp vào quá trình phân phối TN, của cải XH, hạn chế sự chênh lệch lớn về mức sống, về TN giữa các tầng lớp dân cư trong XH. Điều hoà TN giữa các tầng lớp dân cư có thể được thực hiện thông qua các sắc thuế trực thu Ngoài ra việc điều hoà thu nhập, định hướng tiêu dùng còn có thể được thực hiện một phần thông qua các sắc thuế gián thu như thuế TTĐB II. Phân loại thuế 1. Phân loại theo phương thức đánh thuế 2. Phân loại theo cơ sở tính thuế 3. Phân loại theo mức thuế 4. Phân loại theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách 1.Phân loại theo phương thức đánh thuế 1.1. Thuế trực thu :là loại thuế đánh trực tiếp vào TN hoặc tài sản của người nộp thuế. Ưu điểm : động viên trực tiếp vào thu TN chịu thuế. Nhược điểm: dễ gây ra phản ứng từ phía người nộp thuế 1.2. Thuế gián thu : Thu một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ Ưu điểm: đối tượng chịu rộng. Thuế ẩn vào giá bán HHDV nên người chịu thuế thường không cảm nhận được gánh nặng của loại thuế này Nhược điểm :Do có tính chất luỹ thoái nên không đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế. Quan hệ hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu: Tuỳ theo đặc điểm trình độ PT KTXH của mỗi nước mà xác định một tương quan theo tỷ lệ giữa 2 loại thuế này 1. 2. Phân loại theo cơ sở tính thuế Thuế thu nhập Cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được Thuế tiêu dùng Cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại. Thuế tài sản Cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản. 3. Phân loại theo mức thuế Thuế đánh theo tỷ lệ % Thuế lũy tiến Thuế lũy thoái Thuế tỷ lệ cố định Thuế đánh trên mức tuyệt đối Ấn định một số thu bằng tiền trên một đơn vị tính thuế như trọng lượng, khối lượng, diện tích, đơn vị sản phẩm 4. Phân loại theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách Thuế trung ương Được Nhà nước ban hành luật pháp và thu trong phạm vi toàn quốc, NSNNTW hưởng. Thuế địa phương Thu trong phạm vi lãnh thổ vùng hoặc địa phương và NSNN ở địa phương hưởng Việt nam không có thuế TW, thuế ĐP III.CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH MỘT SẮC THUẾ 1. Tên gọi 2. Người nộp thuế 3. Đối tượng chịu thuế 4. Căn cứ tính thuế 5. Ưu đãi thuế 1. Tên gọi Phản ánh nội dung chính của từng loại thuế và để phân biệt với những loại thuế khác Thường đặt tên sắc thuế theo đối tượng đánh thuế (TNDN, TNCN…), theo từng mặt hàng (thuế rượu, thuế thuốc lá…) hoặc theo nội dung (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu…) 2. Người nộp thuế Xác định chủ thể có nghĩa vụ phải nộp thuế Người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước. phân biệt người nộp thuế và người chịu thuế. 3. Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra để đánh thuế Mỗi một sắc thuế có đối tượng chịu thuế riêng: VD : HH, DV, Thu nhập… Đối tượng chịu thuế thường được tính theo đơn vị giá trị hoặc theo đơn vị vật lý 4. Căn cứ tính thuế:căncứ tính thuế đối với một sắc thuế là cơ sở tính thuế và thuế suất Cơ sở tính thuế: Cơ sở tính thuế là số lượng đơn vị (theo giá trị hoặc theo đơn vị vật lý) của đối tượng chịu thuế Mỗi sắc thuế có một cơ sở tính thuế riêng Mức thuế : – Mức thuế thể hiện mức độ động viên của NN trên một đơn vị so với cơ sở tính thuế và được biểu hiện dưới hình thức thuế suất hay định suất thuế. – Các loại thuế suất thường áp dụng : – Nguyên tắc xây dựng thuế suất: phù hợp với khả năng thu thuế; ĐB nguồn lực cho NSNN và PTSXKD 5. Ưu đãi thuế Mục đích khuyến khích phát triển sản xuất, thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu KT… Ưu đãi về thuế suất: Áp dụng thuế suất thấp hơn trong thời gian nhất định với lĩnh vực, ngành nghề hoặc địa bàn đầu tư Ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế : Miễn, giảm thuế cho toàn bộ TN hoặc phần TN cần khuyến khích Bên cạnh ưu đãi thuế suất, miễn giảm còn có các hình thức khấu hao nhanh, chuyển lỗ.. Web: chúng tôi Email: HoiTuVanThue@yahoo.com