Top 13 # Xem Nhiều Nhất Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Tra / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Kiểm Tra (Checking) Là Gì? Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Tra / 2023

Định nghĩa

Kiểm tra trong tiếng Anh là Checking. Kiểm tra là việc đo lường quá trình thực hiện kế hoạch trên thực tế, qua đó phát hiện những sai lệch nhằm đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời để đảm bảo rằng tổ chức sẽ thực hiện được các mục tiêu kế hoạch đề ra.

Hình thức kiểm tra

– Kiểm tra có vai trò quan trọng, bao trùm toàn bộ quá trình quản lí bởi vậy thường được triển khai trước quá trình (kiểm tra lường trước), trong quá trình (kiểm tra đồng thời) và sau khi thực hiện kế hoạch (kiểm tra phản hồi).

Sự cần thiết của chức năng kiểm tra

– Chức năng kiểm tra bao gồm việc đo lường và điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các mục tiêu của tổ chức đã được đặt ra trong kế hoạch được hoàn thành.

– Trong quá trình thực hiện kế hoạch thường xảy ra những vấn đề phát sinh ngoài dự kiến khiến tổ chức đi chệch hướng khỏi kế hoạch hoặc hoàn thành kế hoạch không đúng tiến độ.

– Bởi vậy, nhà quản lí cần thực hiện chức năng kiểm tra để dự đoán và phát hiện những trục trặc có thể nảy sinh và đưa ra biện pháp khắc phục đưa tổ chức hoàn thành mục tiêu của kế hoạch đã đề ra.

– Kiểm tra là chức năng cơ bản của mọi nhà quản lí, từ nhà quản lí cấp cao đến các nhà quản lí cấp cơ sở.

Vai trò của chức năng kiểm tra

– Chức năng kiểm tra giúp các nhà quản lí đảm bảo cho kế hoạch được thực hiện với hiệu quả cao thông qua việc xác định lại các nguồn lực của tổ chức (ở đâu, ai sử dụng, sử dụng như thế nào) để từ đó sử dụng hiệu quả hơn những nguồn lực này.

– Kiểm tra giúp các nhà quản lí đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch, tìm kiếm nguyên nhân và biện pháp khắc phục.

– Kiểm tra giúp các nhà quản lí kịp thời ra các quyết định cần thiết để đảm bảo thực thi quyền lực quản lí và hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra chức năng kiểm tra còn giúp tổ chức theo sát và ứng phó với sự thay đổi của môi trường.

Ban Kiểm Soát (Board Of Supervisors) Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Ban Kiểm Soát / 2023

Ban kiểm soát trong tiếng Anh gọi là Board of Supervisors.

Ban kiểm soát công ty là tổ chức phụ thuộc công ty được lập ra bởi Hội đồng quản trị nhằm giúp Hội đồng quản trị kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong việc quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh, ghi chép sổ sách kế toán thuế doanh nghiệp , báo cáo tài chính và việc chấp hành điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Cơ cấu của Ban kiểm soát

Ban kiểm soát mỗi công ty thường có cơ cấu khác nhau, tuy nhiên đều bao gồm:

– Trưởng ban kiểm soát

– Thành viên ban kiểm soát chuyên trách

– Thành viên ban kiểm soát không chuyên trách

Nội bộ và nhiệm kì Ban kiểm soát

– Ban kiểm soát thường có nhiệm kì từ 3-5 năm trùng với nhiệm kì của Hội đồng quản trị và phải do Đại hội cổ đông bầu ra sau đó Ban kiểm soát tự bầu ra các chức danh cụ thể trong nội bộ ban.

– Các thành viên trong Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kì không hạn chế.

Điều kiện của thành viên Ban kiểm soát

– Phải có ít nhất một thành viên có nghiệp vụ kế toán, kiểm toán

– Có tuổi đời từ 21 trở lên, đủ năng lực và hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp cũng như quản lí doanh nghiệp.

– Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong doanh nghiệp và người quản lí khác, điểm này sẽ hạn chế các thông đồng hoặc hành vi không chuẩn của thành viên Ban kiểm soát.

– Các thành viên trong Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lí trong công ty.

– Thành viên Ban kiểm soát không nhất thiết phải là cổ đông hay người lao động trong công ty.

Quyền hạn và nghĩa vụ của Ban kiểm soát

Ban kiểm soát có những quyền hạn và nghĩa vụ như sau:

– Kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty: kiểm tra tính hợp lí, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.

Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kì của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lí của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.

– Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lí, điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông.

– Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu.

– Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần: Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

– Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông, Tổng giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lí công ty phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

Vị thế của Ban kiểm soát trong công ty

Ban kiểm soát có vị thế độc lập trong công ty, có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban giám đốc. Tuy nhiên trên thực tế Ban kiểm soát thường có vị trí dưới Ban giám đốc do các thành viên trong Ban kiểm soát thường có ít cổ phần trong công ty, gần như không bao giờ là cổ đông lớn của công ty.

Kiểm Tra Chức Năng Gan / 2023

Các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan được thực hiện để xác định tình trạng sức khỏe gan thông qua nồng độ protein, men gan và nồng độ bilirubin trong máu. Kiểm tra chức năng gan là một thủ thuật phức tạp, do đó người bệnh cần tìm hiểu một số thông tin cơ bản để có sự chuẩn bị phù hợp.

Kiểm tra chức năng gan là gì?

Gan là cơ quan lớn trong cơ thể và đóng vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động của cơ thể. Gan có thể hỗ trợ phá vỡ thức ăn, làm sạch máu, sản xuất protein và lưu trữ năng lượng cần thiết. Nếu gan hoạt động không bình thường, người bệnh có thể gặp một loạt các triệu chứng như vàng da, mệt mỏi hoặc thay đổi giọng nói.

Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan có thể xác định sức khỏe của gan thông qua nồng độ protein và các loại enzym trong máu. Enzyme gan hay men gan, là một loại protein đặc biệt có thể giúp tăng tốc độ phản ứng của cơ thể. Bên cạnh đó, một số xét nghiệm có thể được thực hiện để xác định các tổn thương gan hoặc các dấu hiệu bệnh lý cần điều trị.

Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan thường được thực hiện trong một số trường hợp như:

Kiểm tra các dấu hiệu nhiễm trùng gan, chẳng hạn như viêm gan B hoặc viêm gan C

Theo dõi tác dụng phụ của một số loại thuốc có thể gây ảnh hưởng đến gan

Ở bệnh nhân mắc các bệnh về gan, kiểm tra chức năng gan có thể được thực hiện để kiểm tra hiệu quả của các phương pháp điều trị và diễn tiến của bệnh

Xác định và kiểm tra các điều kiện y tế như bệnh tiểu đường, huyết áp cao hoặc thiếu máu

Xác định chức năng gan ở bệnh nhân uống nhiều rượu

Kiểm tra chức năng gan ở bệnh nhân bị bệnh về túi mật

Khi nào cần thực hiện kiểm tra chức năng gan?

Nước tiểu sẫm màu hoặc phân có màu sáng

Chán ăn hoặc cảm thấy ăn không ngon miệng

Buồn nôn hoặc nôn

Sưng ở bụng

Yếu hoặc cảm thấy mệt mỏi

Vàng da hoặc vàng tròng mắt

Tuy nhiên, thông thường các bệnh về gan có thể không có dấu hiệu nhận biết đặc trưng. Do đó, bác sĩ có thể đề nghị thực hiện xét nghiệm ở các đối tượng có nguy cơ tổn thương gan như:

Người nghiện rượu năng hoặc thường xuyên sử dụng rượu trong một thời gian dài

Có tiền sử gia đình có bệnh lý về gan

Béo phì, đặc biệt là những đối tượng bị tiểu đường hoặc huyết áp cao

Sử dụng các loại thuốc có thể gây ảnh hưởng đến gan

Các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan phổ biến

Khi gan bị tổn thương, nồng độ men gan và một số hóa chất trong cơ thể sẽ thay đổi. Do đó, việc thực hiện chức năng gan được phân thành các nhóm cụ thể như:

1. Kiểm tra chức năng gan tổng hợp

– Kiểm tra tổng số protein Albumin:

Gan tạo ra hai loại protein chính là albumin và globulin. Albumin thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể, bao gồm:

Ngăn ngừa chất lỏng rò rỉ ra khỏi mạch máu

Nuôi dưỡng các tế bào mô

Vận chuyển hormone, vitamin và các hóa chất khác trong cơ thể

Phạm vi bình thường của albumin là 3,5 – 5.0 gram mỗi decilit (g / dL). Tuy nhiên, nồng độ albumin thấp có thể là dấu hiệu của các vấn đề như dinh dưỡng kém, bệnh thận, nhiễm trùng hoặc viêm trong cơ thể.

– Kiểm tra Globulin huyết thanh:

Tương tự như albumin, Globulin được sản xuất ở gan và hệ thống miễn dịch.

Thông thường, mức trung bình của globulin là 20 – 35 g / L. Tuy nhiên, nồng độ globulin quá cao có thể là dấu hiệu của bệnh xơ gan, viêm gan tự miễn hoặc xơ gan ứ mật nguyên phát.

– Xét nghiệm thời gian Prothrombin (PT):

Thời gian Prothrombin là thuật ngữ chỉ khoảng thời gian chuyển đổi prothrombin thành Thrombin, cụ thể là thời gian đông máu thành cục máu đông.

Nếu một người mất nhiều thời gian để đông máu, có thể là dấu hiệu của các tổn thương gan, bởi vì gan là cơ quan tạo ra các yếu tố đông máu. Bên cạnh đó, một số loại thuốc chống đông máu hoặc thuốc làm loãng máu có thể kéo dài thời gian prothrombin.

2. Xét nghiệm chức năng bài tiết và khử độc

– Xét nghiệm bilirubin:

Bilirubin được tạo thành từ quá trình phá vỡ hồng cầu. Thông thường, gan sẽ làm sạch bilirubin ra khỏi cơ thể. Do đó, nếu nồng độ bilirubin trong máu cao, điều này có thể là dấu hiệu tổn thương chức năng gan, bệnh xơ gan, xơ gan ứ mật, tắc nghẽn đường mật hoặc ung thư gan.

Nồng độ bilirubin cao có thể dẫn đến một số dấu hiệu như vàng da hoặc vàng tròng mắt.

Bên cạnh đó, nếu Urobilinogen tăng cao, có thể là dấu hiệu của các bệnh lý về đường tiêu hóa hoặc các bệnh về gan.

– Xét nghiệm Amoniac (NH3) trong máu:

Amoniac được sản xuất bởi vi khuẩn đại tràng và một số protein trong máu. Nồng độ bình thường của NH3 trong máu là 5 – 69 mg / dL

Gan là cơ quan có trách nhiệm khử nồng độ NH3 trong máu, do đó nồng độ NH3 cao có thể là dấu hiệu người bệnh đang có vấn đề về gan. Trong một số trường hợp, nồng độ NH3 cao có thể làm tăng áp lực lên các tĩnh mạch, dẫn đến teo cơ.

– Xét nghiệm phosphatase kiềm (ALP):

ALP là một loại enzyme tự nhiên được tìm thấy ở gan, ống mật và xương. Nồng độ ALP cao có thể là dấu hiệu của bệnh viêm gan, tắc nghẽn ống mật hoặc các bệnh lý về xương khớp.

Bên cạnh đó, trẻ em và thanh thiếu niên thường có nồng độ ALP cao, do xương đang trong giai đoạn phát triển. Phụ nữ mang thai cũng có nồng độ ALP cao hơn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nếu nồng độ ALP cao hơn 120 U / L ở người trưởng thành, người bệnh nên đến bệnh viện để được chẩn đoán phù hợp.

3. Xét nghiệm đánh giá mức độ hoại tử của gan

Các xét nghiệm xác định mức độ hoại tử tế bào gan được sử dụng để xác định các tổn thương và mức độ tổn thương ở gan. Các xét nghiệm này thường bào gồm:

– Xét nghiệm Alanine transaminase (ALT):

Xét nghiệm Alanine transaminase (ALT) là hoạt chất cơ thể sử dụng để giải phóng một số loại protein. Nếu gan bị tổn thương hoặc hoạt động không đúng cách, ALT sẽ bị giải phóng vào máu, điều này khiến nồng độ ALT trong máu tăng cao. Do đó, nồng độ ALT tăng bất thường có thể là dấu hiệu tổn thương gan.

Theo các chuyên gia, nồng độ ALT trên 25 IU / L (đơn vị quốc tế) ở nữ và 33 IU / L ở nam có thể là dấu hiệu bệnh lý và càn tiến hành kiểm tra chuyên sâu.

– Xét nghiệm Aspartate aminotransferase (AST):

Xét nghiệm Aspartate aminotransferase (AST) là một loại enzyme được tìm thấy ở nhiều bộ phận cơ thể, bao gồm tim, gan và cơ bắp.

Không giống như ALT, bồng độ AST thường không phải là đặc hiệu của các tổn thương gan. Do đó, khi xét nghiệm AST, bác sĩ thường kiểm tra kết hợp với ALT để xác định các tổn thương ở gan.

Khi gan bị tổn thương, AST có thể được giải phóng vào máu. Điều này cũng có thể dẫn đến một số rối loạn về cơ bắp.

– Xét nghiệm Lactate Dehydrogenase (LDH):

LDH hay LD là một loại enzyme có thể tăng cao khi gan bị tổn thương. Tuy nhiên, nồng độ LDH tăng cao đột ngột có thể là dấu hiệu của các bệnh lý về tim, gan, xương, cơ, thận, hồng cao, tiểu cầu hoặc các hạch bạch huyết.

Chỉ số bình thường của LDH là 5 – 30 UI / L. Do đó, khi chỉ số này tăng cao có thể là dấu hiệu hoại tử tế bào hoặc các mô gan.

– Xét nghiệm kiểm tra Ferritin:

Ferritin là một loại protein được dự trữ và hấp thụ ở hệ thống tiêu hóa. Thông thường, nồng độ Ferritin ở nam giới khoảng 100 – 300 mg / L và ở nữ giới khoảng 50 – 200 mg/ L.

Mặc dù không phổ biến nhưng nồng độ Ferritin tăng cao có thể là dấu hiệu hoạt tử tế bào gan cấp tính hoặc mạn tính và bệnh viêm gan C.

Bên cạnh đó, một số tình trạng như thiếu máu thiếu sắt, người ăn chay trường, người thường xuyên hiến máu, bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo có thể gây ảnh hưởng đến nồng độ Ferritin. Bên cạnh đó, nồng độ Ferritin tăng cao có thể là dấu hiệu của bệnh ứ mô sắt, một số bệnh ung thư, ngộ độc rượu, nhiễm trùng hoặc viêm trong cơ thể.

4. Kiểm tra định lượng chức năng gan

Bên cạnh các xét nghiệm phổ biến, bác sĩ có thể đề nghị một số xét nghiệm kiểm tra chức năng gan cụ thể khác. Thông thường, các xét nghiệm này được đề nghị thực hiện trước khi phẫu thuật như cắt, ghép gan hoặc xác định các bệnh lý nghiêm trọng.

Các xét nghiệm được sử dụng để định lượng chức năng gan thường bao gồm:

Kiểm tra khả năng thanh lọc BSP (Bromosulfonephtalein)

Xác định khả năng lọc Indocyanine Green

Đo khả năng lọc Antipyrine

Kiểm tra nồng độ Aminopyrine trong hơi thở

Kiểm tra khả năng lọc caffeine trong máu

Kiểm tra khả năng thải Galactose

Các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan khác

Một số xét nghiệm bổ sung có thể được chỉ định để xác định các nguyên nhân cụ thể có thể gây ảnh hưởng đến gan bao gồm:

1. 5 ‘Nucleotidase

5 ‘ Nucleotidase (5’NTD) là một glycoprotein được tìm thấy trên khắp cơ thể, trong màng tế bào chất, chịu trách nhiệm xúc tác cho sự chuyển đổi nucleoside-5-phosphate thành phosphat vô cơ. Thông thường, mức độ bình thường của 5’NTD là 0,3-2,6 Bondasky / dL.

Nồng độ 5’NTD tăng cao có thể là dấu hiệu của bệnh gan như vàng da tắc mật, bệnh mô gan thô, ung thư gan di căn gan và các bệnh xương khớp.

2. Xét nghiệm Đồng và Ceruloplasmin

Ceruloplasmin là một loại protein được tổng hợp ở gan, chịu trách nhiệm chuyển hóa đồng. Thông thường, nồng độ ceruloplasmin tăng cao có thể là dấu hiệu nhiễm trùng, viêm khớp dạng thấp, mang thai và vàng da tắc mật.

Bên cạnh đó, khi nồng độ ceruloplasmin giảm có thể là dấu hiệu của bệnh rối loạn chuyển hóa đồng (bệnh Wilson). Tình trạng này có thể dẫn đến tích tụ đồng trong các mô của cơ thể.

3. Xét nghiệm Alpha fetoprotein (AFP)

AFP là một loại protein huyết tương có nồng độ cao ở máu ở thai nhi. Thông thường AFP được tạo ra bởi các tế bào gan chưa trưởng thành ở thai nhi. AFP không được tổng hợp ở người trưởng thành.

Do đó, ở người trưởng thành chỉ có một lượng AFP rất nhỏ. Nồng độ AFP tăng đột biến có thể là dấu hiệu của các bệnh về gan, bao gồm ung thư gan.

AFP có thể đạt tới 400 FPV 500 g / L ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan. Nồng độ AFP trên 400 g / L có thể là dấu hiệu của các khối u có kích thước lớn, xâm lấn tĩnh mạch cửa và có thể dẫn đến tử vong.

4. Kiểm tra khả năng đông máu

Gan chịu trách nhiệm sản xuất phần lớn các yếu tố đông máu. Do đó, ở những bệnh nhân có các bệnh về gan, thời gian sẽ chậm hơn bình thường.

5. Glucose huyết thanh

Xét nghiệm glucose huyết thanh là phương pháp đo lượng đường trong máu và được sử dụng để chẩn đoán bệnh tiểu đường.

Xét nghiệm glucose huyết thanh cũng được thực hiện để đo khả năng sản xuất glucose của gan, thường là chức năng cuối cùng bị mất ở bệnh gan tối cấp.

6. Lactate dehydrogenase (LDH)

Lactate dehydrogenase (LDH) được tìm thấy trong nhiều mô cơ thể, bao gồm cả gan. Nồng độ LDH tăng cao có thể là dấu hiệu tổn thương gan, tim hoặc thận.

Xét nghiệm chức năng gan được thực hiện như thế nào?

Để thực hiện xét nghiệm kiểm tra chức năng gan, bác sĩ sử dụng một cây kim mỏng để lấy một lượng máu nhỏ, thường là ở cánh tay, gần khuỷu tay để tiến hành các xét nghiệm cần thiết. Người bệnh có thể bị bầm tím hoặc đau nhức nhẹ ở vị trí lấy máu.

Thông thường các xét nghiệm chức năng gan sẽ được thực hiện vài lần trong ngày hoặc vài ngày trong tuần. Bác sĩ có thể kiểm tra mức độ thay đổi của gan để xác định tình trạng và khả năng hoạt động của gan.

Những rủi ro của xét nghiệm kiểm tra chức năng gan

Xét nghiệm máu là một thủ tục đơn giản, phổ biến và hiếm khi dẫn đến các tác dụng phụ không mong muốn. Tuy nhiên, đôi khi việc lấy máu có thể dẫn đến một số rủi ro như:

Chảy máu dưới da hoặc tụ máu bầm

Chảy máu quá nhiều tại khu vực Lấy máu

Ngất xỉu

Nhiễm trùng

Chi phí xét nghiệm kiểm tra chức năng gan

Chi phí thực hiện xét nghiệm kiểm tra chức năng gan phụ thuộc vào loại xét nghiệm, địa điểm thực hiện và các yếu tố khác. Cụ thể, chi phí tham khảo như sau:

Xét nghiệm HBsAg và kiểm tra viêm gan B HBsAg: 80.000 đồng / lần

Anti – HBs: 90.000 đồng / lần

Anti – HBc: 120.000 đồng / lần

Kiểm tra định lượng virus Anti Bee: 90.000 đồng / lần

DNA – HBV (định tính): 500.000 đồng / lần

DNA – HBV (định lượng): 500.000 đồng / lần

Kiểm tra men gan SGOT, SGPT: 50.000 đồng / lần

GGT: 50.000 đồng / lần

Bilirubin TT, GT: 50.000 đồng / lần

Chi phí này chỉ mang tính chất tham khảo, có thể thay đổi mà không báo trước. Do đó, để xác định mức giá cụ thể, người bệnh vui lòng liên hệ với bệnh viện hoặc phòng khám để được tư vấn phù hợp. Ngoài ra, chi phí này cũng không bao gồm các chi phí phát sinh như khám bệnh lâm sàng, siêu âm hoặc sinh thiết gan.

Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan có cần nhịn ăn không?

Các xét nghiệm chức năng gan thường không yêu cầu nhịn ăn, trừ khi bác sĩ chỉ định. Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác của kết quả xét nghiệm, người bệnh có thể cần tránh sử dụng thực phẩm trước khi thực hiện xét nghiệm.

Thông thường trước khi thực hiện kiểm tra chức năng gan, bác sĩ thường yêu cầu người bệnh tránh một số loại thức ăn trước 6 tiếng. Việc lấy máu thường được thực hiện vào buổi sáng và khi người bệnh đang đói, đây là lúc thành phần sinh hóa trong máu tương đối ổn định. Do đó, kết quả xét nghiệm thường chính xác, ít sai lệch.

Nếu lấy máu sau khi ăn, thành phần sinh hóa trong máu có thể bị ảnh hưởng hoặc thay đổi tạm thời. Điều này có thể cản trở quá trình chẩn đoán lâm sàng thông qua kết quả xét nghiệm.

Gan chỉ chịu trách nhiệm về chuyển hóa protein, carbohydrate và chất béo. Do đó, một số loại thức ăn có thể ảnh hưởng đến nồng độ enzyme và gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Thực phẩm ăn ngay cả vào đêm trước của xét nghiệm chức năng gan có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Thực hiện xét nghiệm vào buổi sáng và ăn sáng ngay sau khi thực hiện xét nghiệm. Nếu bác sĩ yêu cầu, người bệnh cần thông báo về các loại thức ăn đã sử dụng trước khi thực hiện xét nghiệm.

Một số loại thực phẩm có thể ảnh hưởng đến xét nghiệm kiểm tra chức năng gan có thể bao gồm:

Rượu: Rượu có thể ảnh hưởng đến lượng đường và chất béo trong máu, điều này làm cho kết quả không chính xác. Tránh uống rượu trong vòng 12 – 24 giờ trước khi thực hiện kiểm tra chức năng gan.

Tránh ăn chế độ ăn giàu protein: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiêu thụ một chế độ ăn giàu protein trong thời gian ngắn trước khi xét nghiệm kiểm tra chức năng gan dẫn đến tăng transaminase và gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Tránh thực phẩm carbohydrate: Các loại thực phẩm này có thể dẫn đến tăng Transaminase (men gan SGOT và SGPT).

Tránh ăn thực phẩm giàu Vitamin K: Các loại thực phẩm như rau bina, bông cải xanh có thể làm tăng thời gian prothrombin (thời gian đông máu) tạm thời. Do đó, tránh ăn quá nhiều các loại thực phẩm này trước khi kiểm tra chức năng gan.

Tránh ăn bữa ăn lớn: Điều này có thể làm tăng nồng độ enzyme, chất dinh dưỡng, chất điện giải và vitamin trong máu, gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Thông báo cho bác sĩ nếu người bệnh vô tình sử dụng một trong các loại thực phẩm có thể gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Phụ thuộc vào thời gian tiêu thụ thức ăn, bác sĩ có thể đề nghị dời lịch kiểm tra để tránh dẫn đến kết quả xét nghiệm và chẩn đoán sai lệch.

Lưu ý trước khi thực hiện xét nghiệm chức năng gan

Xét nghiệm kiểm tra chức năng gan thường có nhiều yêu cầu đối với người bệnh. Do đó, người bệnh cần lưu ý một số vấn đề để đảm bảo tính chính xác của xét nghiệm.

Bác sĩ có thể khuyên người bệnh ngừng sử dụng một số loại thuốc (nếu người bệnh đang dùng bất kỳ loại nào) trước khi thử nghiệm. Điều này là do một số loại thuốc có xu hướng gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Bác sĩ cũng có thể đề nghị ngừng bổ sung thực phẩm bảo vệ sức khỏe ít nhất 12 – 24 giờ trước khi kiểm tra chức năng gan.

Uống nhiều nước trước khi xét nghiệm để tĩnh mạch ngậm nước tốt và dễ dàng tìm thấy để lấy mẫu máu.

Trước xét nghiệm, người bệnh cũng không được sử dụng thuốc, thuốc bổ, vitamin, thực phẩm chức năng và loại dược phẩm bổ sung khác.

Không hút thuốc trước khi xét nghiệm, để tránh gây ảnh hưởng đến kết quả.

Xét nghiệm chức năng gan thường được chỉ định để xác định tổn thương gan và các bệnh về gan. Trao đổi với bác sĩ chuyên môn để được tư vấn và chỉ định thực hiện xét nghiệm phù hợp.

Kiểm Tra Chức Năng Hô Hấp Của Mũi / 2023

Một người bị vi phạm thở mũi, bạn có thể xác định khi lần đầu tiên nhìn vào nó. Nếu lỗi này được đi kèm với thời thơ ấu (adenoids mãn tính), có dấu hiệu mũi suy hô hấp được phát hiện tại một cuộc kiểm tra lướt qua của một người: mở miệng, phát triển bất thường của bộ xương của phần phía trước của hộp sọ ( nhô ra và kém phát triển của hàm dưới), phát triển bất thường của răng và kim tự tháp mũi, phẳng của nếp gấp mũi má, đóng twang (khó phát âm vang xa “en” âm thanh, “en”, “anh ấy”, vv …) – do vi phạm chức năng cộng hưởng của mũi. Nó có thể được quan sát và hội chứng Vokeza phát sinh trong trẻ trung làm biến dạng tái phát polyposis mũi biểu hiện dấu hiệu mũi sáng cản trở, dày và kéo dài sống mũi. Những dấu hiệu thở mũi được xác nhận bởi khách quan nguyên nhân của nó, phát hiện trong quá phía trước và phía sau (gián tiếp) rinoskopii hoặc bằng rinoskopii hiện đại được cung cấp với thấu kính đặc biệt. Thông thường, phát hiện rào cản “vật lý” trong khoang mũi hoặc vào mũi hầu, vi phạm các hoạt động bình thường của hệ thống mũi khí động học (khối u, turbinate hypertrophied, độ lệch của vách ngăn mũi, khối u và vân vân. D.).

Có rất nhiều cách đơn giản để đánh giá tình trạng hít phải mũi, cho phép bạn có được những dữ liệu cần thiết mà không cần phải sử dụng các phương pháp phức tạp và tốn kém, chẳng hạn như tính rhinomanometer của máy tính. Ví dụ, bệnh nhân hít thở chỉ qua mũi, bác sĩ quan sát anh ta. Với khó thở mũi, tần số và độ sâu thở thay đổi, tiếng ồn đặc trưng xuất hiện ở mũi, cử động của cánh mũi đồng bộ với các giai đoạn hô hấp được quan sát; bị nghẹt thở mũi, bệnh nhân chuyển qua miệng bằng hô hấp có các dấu hiệu đặc trưng khó thở sau vài giây.

Những bất lợi của phương pháp với sương mù là họ cho phép bạn chỉ đánh giá chất lượng của thở ra, trong khi giai đoạn truyền cảm hứng không được ghi lại. Trong khi đó, hít mũi, theo nguyên tắc, bị quấy rầy ở cả hai hướng và thường ít hơn trong một pha duy nhất, ví dụ như là do “cơ chế van” với một polyp di động của khoang mũi.

Đối tượng của chức năng hô hấp của mũi là cần thiết vì một số lý do. Đầu tiên là đánh giá hiệu quả của việc điều trị. Trong một số trường hợp, bệnh nhân sau khi điều trị tiếp tục phàn nàn về khó khăn trong việc thở mũi, giải thích rằng họ ngủ với miệng mở, họ có một khô miệng, và vân vân. N. Trong trường hợp này chúng ta có thể nói về những thói quen của bệnh nhân ngủ với cái miệng đang mở, và không phải về điều trị không thành công. Các dữ liệu khách quan thuyết phục bệnh nhân rằng hít phải mũi sau khi điều trị là khá đầy đủ và chỉ là vấn đề cần phải cơ cấu lại hơi thở trên mũi.

Trong một số trường hợp, ozen hoặc cấu trúc endonasal teo khi đường mũi rất rộng, bệnh nhân vẫn phàn nàn về khó khăn trong việc thở mũi, mặc dù tầm quan trọng của vết bẩn ngưng tụ trên bề mặt gương chỉ thấm tốt của hốc mũi. Như nghiên cứu sâu hơn cho thấy, đặc biệt là sử dụng các khiếu nại rhinomanometry phương pháp, những bệnh nhân này là do một áp suất không khí rất thấp trong hốc mũi rộng, sự vắng mặt của hệ thống “sinh lý” chuyển động hỗn loạn và thụ thể teo niêm mạc mũi, mà trong tổng số dẫn đến sự mất mát của người bệnh cảm thấy sự di chuyển của không khí chảy qua khoang mũi và ấn tượng chủ quan về việc không có hơi thở mũi.

Nói về phương pháp đơn giản để đánh giá hơi thở mũi, chưa kể đến những “thử nghiệm với khuẩn” V.I.Voyacheka, mà thể hiện rõ bác sĩ và bệnh nhân, mức độ tắt ống đường mũi là gì. Hai miếng vải dài 1-1,5 cm làm từ sợi bông len cùng lúc mang đến lỗ mũi. Với thở mũi tốt, những chuyến đi dã ngoại, do một luồng khí hít vào và thở ra, là đáng kể. Với thở mũi không đủ, phong trào fluff là flaccid, biên độ nhỏ hoặc không có gì cả.

Để phát hiện vi phạm thở mũi do những trở ngại trước mũi (gọi là van mũi trước) được sử dụng thử nghiệm Cottle gồm trong đó trong hơi thở yên tĩnh, thực hiện thông qua mũi, được kéo má mô ra phía ngoài mềm tại và gần mũi của cánh, đặt sau này trong bên cạnh vách ngăn của mũi. Nếu thở mũi trở nên tự do hơn, sau đó Cottle thử nghiệm được đánh giá là tích cực và tin rằng chức năng của van mũi trước là bị hỏng. Nếu phương pháp này không cải thiện đáng kể thở mũi trong sự hiện diện của các mục tiêu của sự thất bại của nó, là nguyên nhân của vi phạm các chức năng hô hấp của mũi được tìm thấy trong các phần sâu hơn. Nhận Cottle có thể được thay thế tiếp nhận Kohl, trong đó ngưỡng của mũi tiêm chip bằng gỗ hoặc thăm dò, trong đó cánh của mũi đẩy ra ngoài.

Rinomanometry

Trong thế kỷ XX. Nhiều thiết bị đã được đề xuất để thực hiện rhinomanometer khách quan với việc đăng ký các thông số vật lý khác nhau của luồng không khí đi qua các đường mũi. Trong những năm gần đây, phương pháp rhinomanometer máy tính ngày càng được sử dụng, làm cho nó có thể có được các chỉ số số khác nhau về trạng thái hơi thở mũi và dự trữ của nó.

Dự trữ bình thường hô hấp thở mũi được thể hiện bằng tỷ số giữa các giá trị đo được của áp suất trong và không khí trong các pha khác nhau của một chu kỳ hô hấp với thở bình thường. Trong trường hợp này, thí sinh nên ngồi ở một vị trí thoải mái và nghỉ ngơi mà không có bất kỳ tải trọng thể chất hoặc cảm xúc nào tối thiểu. Quy định mũi kháng hô hấp được biểu thị bằng van mũi để luồng không khí tại thở mũi và được đo bằng đơn vị SI là một kilopascals mỗi lít mỗi giây – kPa / (l-c).

Hiện đại Rhinomanometry – một thiết bị điện tử phức tạp mà được sử dụng trong việc xây dựng các vi cảm đặc biệt – bộ chuyển đổi áp lực mũi và tốc độ dòng chảy không khí vào thông tin kỹ thuật số, và các chương trình máy tính đặc biệt với việc tính toán các chỉ số hô hấp phân tích mũi toán học, một phương tiện thông số hiển thị đồ họa điều tra. Trong đồ thị được trình bày cho thấy trong khối lượng bình thường hô hấp mũi cùng không khí (trục y) đi qua đường mũi trong một thời gian ngắn hơn khi dòng không khí áp suất thấp hơn 2-3 lần (hoành độ).

Phương pháp rhinomanometry cung cấp ba phương pháp để đo hơi thở mũi: đo áp suất trước, sau và tư thế hồi quy.

Mặt trận Rhinomanometry bao gồm trong đó một nửa số tiền sảnh mũi qua ống của nó được lắp với một cảm biến áp lực, trong đó kín qua mũi này bịt nửa loại khỏi hành động của hơi thở. Với sự “chỉnh sửa” tương ứng được giới thiệu bởi chương trình máy tính, có thể thu được đầy đủ dữ liệu chính xác với nó. Những nhược điểm của phương pháp này bao gồm một thực tế là giá trị đầu ra (tổng kháng mũi) được tính bằng định luật Ohm cho hai điện trở song song (như thể mô phỏng cuộc kháng chiến của hai nửa mở của mũi), trong khi trên thực tế là một trong những nửa bị chặn bởi các cảm biến áp lực. Ngoài ra, như chúng tôi lưu ý (1989), những thay đổi xảy ra ở những bệnh nhân mukovaskulyarnoy hệ thống mũi trong khoảng thời gian giữa các nghiên cứu phải và trái tay, giảm độ chính xác của phương pháp này.

Trở lại Rhinomanometry bao gồm việc đặt cảm biến – áp lực logger trong vùng hầu họng qua miệng với đôi môi kẹp chặt, kết thúc của ống phải được cài đặt giữa lưỡi và vòm miệng để nó không chạm vào khu phản xạ và không gây ra không thể chấp nhận đối với thủ tục này, các phản xạ gag. Để thực hiện phương pháp này, bệnh nhân cần sự kiên nhẫn, quen biết và thiếu phản xạ thắt cổ cao. Những điều kiện này đặc biệt quan trọng khi kiểm tra trẻ em.

Khi retronazalnoy hoặc chreznosovoy rhinomanometry (thủ tục F.Kolya) áp dụng đối với họ trong bệnh đường hô hấp phường nhi Bệnh viện Toronto), như một áp lực dẫn ống thông được sử dụng cho trẻ sơ sinh ăn (№ 8 Fr) với phía chuyển hướng gần cực, đảm bảo tín hiệu vận hành trôi chảy áp lực cho cảm biến. Một ống thông bôi trơn gel lidocain được thực hiện trên một 8 cm ở dưới cùng của mũi vào khoang mũi. Kích thích nhẹ, và lo lắng của trẻ biến mất ngay sau khi ống thông được cố định bằng phương pháp băng keo để môi trên. Sự khác biệt trong ba cách này là không đáng kể và chủ yếu phụ thuộc vào khối lượng của luồng không khí và đặc điểm khí động học của sâu răng ở vị trí của vị trí của phần cuối của ống.

Các nhà tiên phong của phương pháp này là hai nhà khoa học từ Copenhagen O.Hilberg và O.Peterson, người vào năm 1989 đã đề xuất một phương pháp mới để kiểm tra khoang mũi bằng cách sử dụng nguyên tắc trên. Sau đó, SRElectronics (Đan Mạch) đã tạo ra một máy đo huyết áp âm thanh “RHIN 2000”, được sử dụng cho các quan sát lâm sàng hàng ngày và cho nghiên cứu khoa học. Việc cài đặt bao gồm một ống đo và một adapter mũi đặc biệt gắn liền với kết thúc của nó. Bộ chuyển đổi âm thanh điện tử ở cuối ống gửi tín hiệu âm thanh băng rộng liên tục hoặc hàng loạt các khu vực âm thanh không liên tục và ghi lại âm thanh phản ánh từ các mô nội mạc từ trở lại ống. Ống đo được nối với hệ thống máy tính điện tử để xử lý tín hiệu phản xạ. Liên hệ với vật đo được thực hiện thông qua đầu xa của ống bằng một bộ chuyển đổi mũi đặc biệt. Một đầu của adapter tương ứng với đường viền của lỗ mũi; niêm phong các tiếp xúc để ngăn chặn “rò rỉ” của tín hiệu âm thanh phản ánh được thực hiện với sự trợ giúp của Vaseline y tế. Điều quan trọng là không áp dụng lực vào ống, do đó không làm thay đổi thể tích tự nhiên của khoang mũi và vị trí của cánh. Bộ điều hợp cho một nửa bên phải và bên trái của nách có thể tháo rời và phải được khử trùng. Đầu dò âm thanh và hệ thống đo lường cung cấp sự chậm trễ nhiễu và chỉ phát tín hiệu không bị biến dạng cho các hệ thống ghi âm (màn hình và máy in tích hợp). Máy được trang bị một máy tính mini với ổ cứng 3.5-inch tiêu chuẩn và đĩa lưu trữ vĩnh viễn tốc độ cao. Một đĩa bổ sung là một bộ nhớ vĩnh viễn với dung lượng 100 MB. Hiển thị hình ảnh các thông số của phép đo độ rung âm được thực hiện liên tục. Màn hình hiển thị ở chế độ tĩnh cố hiển thị cả đường cong đơn cho mỗi khoang mũi và một loạt các đường cong phản ánh sự năng động của các thông số thay đổi theo thời gian. Trong trường hợp thứ hai, chương trình phân tích đường cong cung cấp cả trung bình các đường cong và lập bản đồ các đường cong xác suất với độ chính xác ít nhất là 90%.

Các thông số sau được đánh giá (trong đồ hoạ và hiển thị kỹ thuật số): vùng ngang của mũi, thể tích khoang mũi, sự khác biệt về diện tích và khối lượng giữa hai bên trái và bên phải của mũi. Với khả năng của RHIN 2000, một adapter điện tử được điều khiển bằng điện tử và bộ kích thích cho phép đo hàm lượng và chất kích thích được kiểm soát bằng điện tử được mở rộng để tiến hành các mẫu dị ứng và histamine dị ứng bằng cách tiêm các chất thích hợp.

Giá trị của thiết bị này là nó có thể xác định chính xác các tham số định lượng không gian của khoang mũi, tài liệu của họ và nghiên cứu động lực học. Ngoài ra, cơ sở cung cấp nhiều cơ hội để thực hiện các xét nghiệm chức năng, xác định hiệu quả của thuốc được sử dụng và lựa chọn cá nhân của họ. Máy tính cơ sở dữ liệu, máy vẽ màu, lưu trữ trong bộ nhớ đã nhận được thông tin với dữ liệu hộ chiếu được khảo sát, cũng như một số khả năng khác cho phép quy định phương pháp này rất có triển vọng trong nghiên cứu khoa học thực tiễn.