Top 8 # Xem Nhiều Nhất Vai Trò Của Chức Năng Hoạch Định Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Hoạch Định Là Gì? Vai Trò Và Các Hình Thức Hoạch Định Bạn Nên Biết!

Việc làm Hoạch định – Dự án

1. Hoạch định là gì? Một số thông tin về hoạch định cho bạn

1.1. Định nghĩa về hoạch định là gì?

Hoạch định được hiểu là một trong những chức năng quan trọng mà một quản trị viên cần thực hiện. Đây cũng được xem là công việc nền tảng, mang tính chiến lược của những nhà quản trị, những quản lý cấp cao. Từ khái niệm này có thể thấy rằng, hoạch định bao gồm quá trình phức tạp từ xem xét quá khứ và những quyết định trong hiện tại để đề xuất ra những định hướng trong tương lai. Bởi vậy nên hoạch định có vai trò quan trọng trong việc hệ thống các tư duy và tiên liệu các tình huống có thể xảy ra; phố hợp và nỗ lực để đem lại hiệu quả cho tổ chức; tập trung cao độ vào mục tiêu và các chính sách của doanh nghiệp; nắm vững những nhiệm vụ cơ bản của tổ chức đó trong các mối quan hệ hợp tác đồng thời trong sự phối hợp với các quản trị viên khác.

Các doanh nghiệp, tổ chức đều phải đối mặt với những bất ổn, những thay đổi liên tục trong môi trường quản trị từ kinh tế – chính trị – xã hội – kỹ thuật, … hay những kế hoạch trong tổ chức. Chưa kể tới là một số hạn chế trong tài chính doanh nghiệp bắt buộc họ phải vạch ra những hoạch định cho mình. Hoạch định thường được phân loại theo quy mô như: tính lặp lại, thời gian, phạm vi, cấp độ. Hay phân loại hoạch định mật độ sử dụng về chính sách và quy trình, các chương trình, dự án, …

Việc làm hoạch định – dự án tại Hồ Chí Minh

Tùy vào mục tiêu cụ thể của hoạch định mà những định hướng chiến lược này sẽ được chia thành các loại hình khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản hoạch định gồm chiến lược và tác nghiệp.

– Hoạch định chiến lược là những kế hoạch mang tính dài hạn, mục tiêu của hoạch định chiến lược thường có ý nghĩa lớn trong kinh doanh, đối với sự phát triển của doanh nghiệp hay các biện pháp có vai trò quan trọng. Bởi thế nên hoạch định chiến lược thường được đưa ra bởi các quản trị viên cấp cao.

– Hình thức thứ hai là hoạch định tác nghiệp, loại hình này mang tính ngắn hạn, với mục tiêu chủ yếu là xác định nâng cao hiệu quả các các đơn vị cơ sở. Hoạch định tác nghiệp thường được tạo và đưa ra bởi các quản trị viên cấp cơ sở.

Đôi khi, hoạch định chiến lược cũng được chia thành hoạch định dài hạn và hoạch định ngắn hạn, Về cơ bản, hai loại hình hoạch định này cũng tương tự như hoạch định chiến lược và hoạch định tác nghiệp.

1.2. Hoạch định – những lợi ích và hạn chế mà nó đem lại

Định hướng sẵn những kế hoạch có thể xảy ra không phải lúc nào cũng đem lại lợi ích, trong một số trường hợp nó có thể vô hình chung kéo theo một số hệ quả không mong muốn. Vậy những lợi ích và hạn chế mà hoạch định đem lại là gì?

Việc vạch sẵn một chiến lược hoạch định chặt chẽ, đem lại những hiệu quả quan trọng trong quá trình làm việc cũng như có những giải pháp cụ thể khi có vấn đề đột xuất xảy ra. Bởi vậy nên nhìn chung, việc hoạch định kế hoạch, chiến lược đem lại rất nhiều lợi ích mà tiêu biểu trong đó phải kể đến những lợi ích sau:

– Tạo nền tảng cho sự phối hợp các hoạt động được trơn chu, khoa học khi phân định rõ ràng nhiệm vụ của từng cá nhân, từng bộ phận. Đồng thời giúp định hướng hoạt động và quá trình nỗ lực của các thành viên trong nhóm bạn luôn đi đúng hướng. Từ đó đem lại hiệu quả cuối cùng trong quá trình phối hợp.

– Hoạch định các chiếc lược trong tương lai giúp tạo ra những nguồn lực quan trọng và cần thiết. Đồng thời xác định những phương án đối phó trong trường hợp rủi ro cơ thể xảy ra. Từ đó chuẩn bị cho quá trình vận hành hiệu quả, trơn chu.

– Thu hút các thành phần tham gia từ việc phân rõ từ đầu việc và các yêu cầu công việc cụ thể cho từng cá nhân. Từ nền tảng chuyên môn vững chắc, hệ thống các kiến thức rộng giúp hỗ trợ nhân viên làm việc hiệu quả hơn trong quá trình làm việc.

– Cuối cùng, đây được xem là nền tảng đánh giá sau khi đã tiến hành xong công việc và yêu cầu công việc cơ bản.

Song song với những lợi ích, việc hoạch định có thể để lại một số hạn chế như sau:

– Hoạch định sẽ giúp hạn chế những rủi ro nhưng không phải là có thể hạn chế được tất cả. Trong khi đó, giả sử có tình huống bất ngờ xảy ra thì kế hoạch có thể sẽ bị đảo lộn, khó tìm được giải pháp nhanh chóng cho vấn đề.

– Tương đối gò bó: những hoạch định được đề ra có thể đem lại sự gò bó trong quá trình thực hiện cũng như gò bó với các nhân viên tham gia.

– Chưa kể tới, đôi khi kết quả đạt được chưa thực sự phản ánh được giá trị sản phẩm cuối cùng có thể không phản ánh đúng những tiềm năng vốn có của doanh nghiệp. Ngoài ra, còn một số bất cập như kế hoạch cũ với những số liệu chưa chính xác, các bất cập về cơ sở vật chất, lao động trong hoạch định, …

Việc làm chuyên viên hoạch định tài chính

1.3. Các bước tiến hành hoạch định chiến lược

Để tiến hành hoạch định chiến lượng bạn sẽ cần xây dựng cho mình một quy trình hoạch định chiến lược chi tiết như:

– Xác định tầm nhìn và sứ mệnh của doanh nghiệp mang lại

– Phân tích các nhân tố tác động từ bên trong và bên ngoài

– Lập và chọn lựa những chiến lược

– Tạo mục tiêu và phân bố các nguồn lực thực hiện mục tiêu đó.

2. Một số loại hình hoạch định tiêu biểu

2.1. Hoạch định hành chính văn phòng

Những hoạch định hành chính văn phòng thường xoay quanh các vấn đề về: hội họp, lịch công tác, văn phòng phẩm, thiết bị văn phòng, cơ sở vật chất và kinh phí. Hoạch định hành chính văn phòng thường được lấy nguồn thông tin từ các kế hoạch hàng tuần, hàng tháng, hàng quý. Cùng với đó là những thông tin phát sinh thêm từ bên ngoài. Hoạch định hành chính văn phòng thường được tiến hành trong các cơ quan nhà nước, hay các phòng ban hành chính nhân sự của doanh nghiệp.

2.2. Hoạch định chiến lược kinh doanh

Việc hoạch định các chiến lược kinh doanh là rất quan trọng, nó đảm bảo những điều kiện thuận lợi nhất để đem đến sự thành công cho doanh nghiệp. Hoạch định chiến lược kinh doanh sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy, các nhà lãnh đạo cấp cao thường có những nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đưa ra các hoạch định chiến lược cụ thể cho mình.

2.2.1. Các bước để hoạch định chiến lược kinh doanh

Lập kế hoạch chiến lược là một quá trình nhìn vào tương lai và xác định các xu hướng và vấn đề để phù hợp với các ưu tiên tổ chức. Đối với mọi người, hoạch định chiến lược là tìm hiểu những thách thức,xu hướng và vấn đề; hiểu ai là người thụ hưởng chính hoặc khách hàng và những gì họ cần; và xác định cách hiệu quả và hiệu quả nhất có thể để đạt được nhiệm vụ. Một chiến lược tốt thúc đẩy sự tập trung, trách nhiệm và kết quả.

Quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh được thực hiện thông qua 5 bước chính là:

– Bước 1: Xây dựng và thiết lập những mục tiêu mà doanh nghiệp đưa ra. Điều quan trọng nhất là các mục tiêu này phải rõ ràng và thực tế. Ngoài ra, nó cũng thể hiện một cách chính xác những gì doanh nghiệp muốn đạt được. Để thực hiện tốt điều này, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc kỹ các nguyện vọng, năng lực tài chính và cơ hội phát triển.

– Bước 2: Đánh giá vị trí hiện tại. Việc này sẽ bao gồm đánh giá năng lực doanh nghiệp và đánh giá về môi trường kinh doanh. Điều này giúp đưa ra những định hướng chiến lược sẵn sàng trong kinh doanh.

– Bước 3: Sau khi tiến hành việc đánh giá vị trí doanh nghiệp cũng như xác định được vị trí đó, bạn sẽ cần xây dựng các chiến lược, để từ đó chọn lựa, cân nhắc giác pháp. Tuy nhiên, để có những lựa chọn chuẩn xác nhất cho doanh nghiệp mình thì bạn đặc biệt phải chú trọng khâu đánh giá tiềm lực, thực trạng, … của doanh nghiệp.

– Bước 4: Những kế hoạch chiến lược cần được chuẩn bị kỹ càng trong bước này. Chuẩn bị chiến lược sẽ bao gồm các chiến lược trong chính sách, tổ chức, … các nguồn lực và sự lựa chọn phù hợp cho doanh nghiệp.

– Bước 5: Cuối cùng là việc kiểm soát và đánh giá kế hoạch về kết quả đạt được so với mục đích đề ra.

2.2.2. Những điều cần chú ý khi hoạch định chiến lược kinh doanh

Bạn muốn mang nó đi đâu? Ở đây bạn cần đặt ra các mục tiêu cấp cao nhất của bạn. Thực hiện tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu, giá trị, kỹ thuật và mục tiêu của bạn. Nơi nào bạn nhìn thấy doanh nghiệp của bạn trong năm hoặc mười năm? Bạn muốn trở thành tâm điểm của doanh nghiệp và là nguồn lợi thế cạnh tranh của bạn so với các đối thủ trên thị trường? Bước này nên là nền tảng cho kế hoạch cuối cùng và thúc đẩy thay đổi.

Bạn cần làm gì để đạt được điều đó? Những thay đổi nào bạn sẽ cần thực hiện để thực hiện các mục tiêu chiến lược của mình? Cách tốt nhất để thực hiện những thay đổi đó – những thay đổi nào đối với cấu trúc và tài chính của doanh nghiệp của bạn sẽ được yêu cầu và những mục tiêu và thời hạn nào bạn sẽ cần đặt ra cho bản thân và những người khác trong doanh nghiệp? Hãy suy nghĩ về toàn bộ doanh nghiệp, ví dụ như xem xét đa dạng hóa, tăng trưởng hiện có, kế hoạch mua lại, cũng như các vấn đề chức năng trong các lĩnh vực quan trọng.

Hoạch định được hiểu là một trong những chức năng quan trọng mà một quản trị viên cần thực hiện. Đây cũng được xem là công việc nền tảng, mang tính chiến lược của những nhà quản trị, những quản lý cấp cao. Hy vọng rằng, qua bài viết trên bạn đã nắm rõ về khái niệm hoạch định cùng những thông tin bổ ích khác cho mình.

Vai Trò Chức Năng Của Gan

Gan là một cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể và đồng thời một tuyến lớn nhất trong cơ thể. Cơ quan này đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và một số các chứa năng khác trong cơ thể như dự trữ glycogen, tổng hợp protein huyết tương và thải độc.

Giải phẫu gan

Gan là một cơ quan của các động vật có xương sống, bao gồm cả con người. Cơ quan này đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và một số các chức năng khác trong cơ thể như dự trữ glycogen, tổng hợp protein huyết tương và thải độc. Gan cũng sản xuất dịch mật, một dịch thể quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Gan được coi là nhà máy hóa chất của cơ thể vì nó đảm trách cũng như điều hòa rất nhiều các phản ưng hóa sinh mà các phản ứng này chỉ xảy ra ở một số tổ chức đặc biệt cơ thể mà thôi.

Cấu tạo của Gan

Tùy theo kích thước và trọng lượng của mỗi cá nhân, gan có sức nặng từ 1.100 đến 1.800 gram. Gan phụ nữ nhỏ hơn gan đàn ông. Gan nằm dưới lồng ngực phải, cách phổi bởi hoành cách mô (diaphram). Theo truyền thống, gan vẫn được chia thành 2 thùy chính (lober), thùy phải và thùy trái, dựa theo vị trí của dây chằng liềm (falciform ligament). Dây chằng này nối liền gan với hoành cách mô và thành bụng trước. Tuy nhiên, sự phân chia này không tương ứng với cơ cấu của lá gan, nên ngày nay, người ta chia lá gan thành 8 khúc (segment) dựa vào những phân phối của mạch máu.

Gan được bao bọc chung quanh bởi vỏ bên ngoài chứa đựng nhiều dây thàn kinh, tên là Gibson’s Capsule. Với một cơ cấu và hệ mạch phức tạp, gan được xem là một cơ quan kỳ diệu (wonder organ).

Tuy thế, tế bào gan không có dây thần kinh cảm giác, nên nếu gan bị tổn thương, bệnh thường không gây ra một triệu chứng nào cả. Chỉ trừ trong trường hợp, khi gan bị ” sưng phồng” lên, vỏ Gibson sẽ bị kéo căng ra, gây ra những cơn đau ” tưng tức” hoặc khó chịu ở vùng bụng trên nằm bên phải, giáp giới với lồng ngực dưới. Đây là một số trường hợp của viêm gan cấp tính hoặc khi lá gan ” sưng lớn” vì bị suy tim bên phải (right heart failure). Gan được che chở và bảo vệ bởi xương sườn, nên nếu trong trường hợp bị té ngã hoặc tai nạn, sẽ đỡ bị dập nát hơn những cơ quan khác trong bụng như tụy, lá lách,…

Gan là cơ quan duy nhất trong cơ thể cùng một lúc tiếp nhận máu từ 2 nguồn khác nhau: 30% từ tim và 70% từ tĩnh mạch cửa (portal vein). Màu từ tim với các dưỡng khí và nhiên liệu sẽ nuôi dưỡng các tế bào gan. Máu đến từ tĩnh mạch cửa nhận máu từ những cơ quan như dạ dày, lá lách, tụy tạng, túi mật, ruột non, ruột già, cũng như các cơ quan khác nhau trong bụng. Vì gan là cơ quan đầu tiên, tiếp nhận các chất dinh dưỡng và hóa tố khác nhau từ hệ thống tiêu hóa, gan đã trở thành “nhà máy lọc máu” chính và quan trọng nhất trong cơ thể. Thức ăn và tất cả các nhiên liệu, vì thế , sẽ phải đi qua gan trước để được thanh lọc và biến chế thành những vật liệu khác nhau. Đây cũng là nguyên nhân chính mà ung thư từ nhiều cơ quan và bộ phận khác có thể lan sang gan một cách dễ dàng.

Gan là một tạng lớn nhất của cơ thể, vừa có chức năng ngoại tiết, vừa có chức năng nội tiết, vừa là kho dự trữ của nhiều chất, vừa là trung tâm chuyển hóa quan trọng của cơ thể và có tính chất sinh mạng.

a) Chức năng chuyển hóa

Sự chuyển hóa các chất cơ bản (glucid, lipid, proid) diễn ra ở nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau trong c ơ thể, nhưng ở gan quá trình chuyển hóa này diễn ra rất mạnh mẽ.

Chuyển hóa glucid

Glucid cung cấp năng lượng sống cho cơ thể (nó đảm bảo 2/3 toàn bộ năng lượng sống trong cơ thể). Chuyển hóa glucid tại gan thông qua quá trình tổng hợp glycogen dự trữ cho cơ thể và tăng phân giải glycogen cung cấp năng lượng cho cơ thể.

Chuyển hóa lipid

Chuyển hóa lipid chủ yếu xảy ra ở gan. Các acid béo đến gan phần lớn tổng thợp thành triglyceride, phospholipid, cholesterol ester. Từ các chất này gan tổng hợp tạo lipoprotein và đưa vào máu để vận chuyển đến các tổ chức, tế bào khắp cơ thể.

Chuyển hóa protid

Với protein, gan là một trung tâm chuyển hóa quan trọng đồng thời cũng là một kho dự trữ quan trọng nhất của cơ thể.

Protein được dự trữ ở gan dưới dạng nhiều protein enzyme và một số protein chức năng. Các protein này khi phân giải sẽ tạo thành các acid amin đưa vào máu cung cấp cho các tế bào khác trong cơ thể.

b) Chức năng chống độc

Gan được xem như là một lá chắn của cơ thể có tác dụng ngăn chặn các chất độc xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, đồng thời làm giảm độc tính và thải trừ một số chất cặn bã do chuyển hóa chất trong cơ thể tạo nên. Gan thực hiện chức năng chống độc bằng 2 cách như sau:

Bằng các phản ứng hóa học: đây là cơ chế chủ yếu để biến các chất độc hại thành các chất không độc hoặc ít độc hơn rồi đào thải qua đường thận. Các phản ứng hóa học bao gồm: phản ứng tạo ure, phản ứng liên hợp và phản ứng oxy hóa khử.

Bằng cách cố định và thải trừ một số kim loại nặng, các chất màu đến gan sẽ bị giữ lại không biến đổi gì và đào thải ra ngoài qua đường mật.

c) Chức năng tạo mật

Mật được sản xuất liên tục từ tế bào gan và được dự trữ cô đặc ở túi mật rồi từ đó được bơm xuống ruột non trong các bữa ăn. Mật có tác dụng giúp tiêu hóa thức ăn tan trong dầu, giúp hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể.

d) Chức năng dự trữ

Dự trữ các vitamin tan trong dầu : Gan vừa có tác dụng làm tăng hấp thu các vitamin tan trong dầu nhờ chức năng bài tiết mật, vừa là nơi dự trữ các vitamin ấy. Một số vitamin tan trong dầu được dự trữ tại gan như : vitamin A, vitamin D, vitamin E ..

Dự trữ vitamin B12: Vitamin B12 sau khi được hấp thụ sẽ được vận chuyển về gan và dự trữ ở đó rồi được giải phóng dần cho cơ thể sử dụng. Lượng dự trữ vitamin B12 ở gan rất lớn, có thể dùng cho cơ thể khoảng 2 năm ở điều kiện bình thường .

Dự trữ sắt: Sắt được dự trữ tại gan dưới dạng liên kết với apoferritin. Từ gan, sắt được vận chuyển dần tới tủy xương, tham gia vào quá trình tạo hồng cầu.

Dự trữ máu: gan là cơ quan nhận được nhiều máu nhất trong cơ thể. Do đặc điểm cấu tạo của gan, các tế bào nội mạc của các xoang mạch nam hoa không gắn chăt vào nhau mà chỉ xếp chồng lên nhau, khiến cho các xoang này dễ giãn và giãn to hơn bình thường và như vậy sẽ chứa được nhiều máu hơn ở các mạch khác trong cơ thể, thực hiện chức năng dự trữ máu.

Các nguyên nhân gây men gan cao

Tuy là một cơ quan lớn, hoạt động bền bỉ nhưng gan cũng là cơ quan dễ bị rối loạn và dễ “mắc bệnh” nhiều nhất do phải làm việc quá sức khi ta đưa vào cơ thể nhiều chất độc hại. Những bữa ăn thiếu sự cân bằng với lượng dư lipid (dầu, mỡ…), những món ăn kém vệ sinh, thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, cà phê, thuốc lá…, lao động quá sức, việc sử dụng các thuốc như thuốc kháng lao, kháng virus, quá liều paracetamol… hay những công việc phải thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại đều là những yếu tố nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của lá gan, gây suy giảm chức năng gan.

Khi bị tổn thương, gan không còn khả năng lọc và thải chất độc trong máu gây tích tụ các chất độc, giảm sức đề kháng của cơ thể, đồng thời sẽ kéo theo hệ quả ảnh hưởng đến một loạt các hoạt động sống trong cơ thể làm suy giảm chất lượng cuộc sống.

Nếu không biết cách bảo vệ, những căn bệnh mà lá gan bạn sẽ mắc phải có thể kể đến: rối loạn chức năng gan, viêm gan, suy gan, gan nhiễm mỡ, nhiễm siêu vi hay những căn bệnh phức tạp và rất nguy hiểm như xơ gan, ung thư gan…

Hạn chế rượu bia, thuốc lá: Nếu có sử dụng rượu bia hay trong hoàn cảnh phải sử dụng rượu bia thì nên dùng với lượng vừa phải theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): 25 ml/ngày (rượu 40 độ), tuyệt đối không nên uống rượu khi mắc các bệnh về gan. Hạn chế hay tốt nhất là không hút thuốc lá.

Dinh dưỡng hợp lý: Chọn thực phẩm đảm bảo vệ sinh và ăn uống đầy đủ, cân bằng các loại chất đạm, chất béo, vitamin, khoáng chất, ăn nhiều thực phẩm tươi, giàu chất xơ: rau xanh, trái cây,…tránh ăn nhiều đồ chiên, nướng, uống đủ nước mỗi ngày (khoảng 2,5 lít/ngày).

Tăng cường vận động: Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên và điều độ là một trong những phương pháp tuyệt vời vì tính đơn giản, hiệu quả, ít tốn kém để giữ cho cơ thể luôn được khỏe mạnh mỗi ngày.

Khám sức khỏe định kỳ: Thường xuyên khám sức khỏe định kỳ (6 tháng/lần) để biết tình trạng của gan đồng thời sẽ được bác sĩ tư vấn tiêm phòng vaccin khi chưa bị viêm gan do virus hayđiều trị kịp thời nếu mắc các bệnh về gan.

Minh họa vai trò, cấu tạo của Gan

Thẩm Định Giá Và Vai Trò Của Thẩm Định Giá

Trong kinh tế thị trường, hoạt động định giá và thẩm định giá tài sản là những hoạt động khách quan, quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia quan hệ tài sản, của tổ chức, cá nhân kinh doanh, của người tiêu dùng, bảo đảm trật tự xã hội và lợi ích công cộng, các quan hệ xã hội.

1. Định nghĩa thẩm định giá:

Thẩm định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế. (Điều 4 – Pháp lệnh giá số 40 khoản 3 trong Pháp lệnh Giá)

Cũng có thể định nghĩa thẩm định giá (Valuation hay Appraisentment) là việc ước tính hay xác định giá trị của một tài sản, hoặc đó là cách thức mà giá trị một tài sản được ước tính tại một thời điểm và một địa điểm nhất định. Nó chính là việc xác định giá trị để tìm ra giá cả của tài sản định bán trong một tập hợp giả định các điều kiện trên thị trường nhất định. Công việc thẩm định giá do các nhà chuyên môn được đào tạo, có kiến thức, kinh nghiệm, có tính trung thực, nghề nghiệp về giá thực hiện.

Cũng có thể hiểu hoạt động thẩm định giá là một nghệ thuật định giá tài sản (động sản và bất động sản), trên cơ sở xem xét những đặc điểm riêng biệt của từng tài sản với những đặc điểm chung của từng tài sản đó (ví dụ như hình dạng của thửa đất, kích thước của ngôi nhà…) cũng như xem xét các yếu tố rủi ro vô hình (rủi ro gắn với khả năng sinh lời tương lai…) và những yếu tố luật pháp (quyền sở hữu, giấy phép…) ảnh hưởng đến giá trị tài sản.

2. Cơ sở của thẩm định giá:

Cơ sở của thẩm định giá được chia làm hai phần, bao gồm cơ sở thị trường và cơ sở phi thị trường.

Cơ sở thị trường: Giả định các giao dịch trên thị trường không bị hạn chế bởi các lực lượng phi thị trường.

3. Vai trò của thẩm định giá:

Trong kinh tế thị trường, thẩm định giá đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực, được áp dụng cho nhiều mục đích kinh tế khác nhau như mua bán, thế chấp, cho thuê, bảo hiểm, tính thuế, thanh lý, đầu tư… Tương ứng với từng mục đích kinh tế trên, với cùng một tài sản, cùng một thời điểm thẩm định sẽ cho kết quả giá trị tài sản thẩm định là không giống nhau. Do vậy, kết quả thẩm định giá sẽ được sử dụng để ra quyết định trong nhiều tình huống khác nhau.

ØVai trò của thẩm định giá hiện nay:

Định giá đúng giá trị thị trường của các nguồn lực góp phần để cơ chế thị trường tự động phân bổ tối ưu các nguồn lực và nền kinh tế đạt hiệu quả.

Góp phần làm minh bạch thị trường, thúc đẩy sự phát triển thị trường tài sản trong nước cũng như trên toàn thế giới.

Tạo điều kiện thuận lợi cho toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới.

  Các tin khác cùng chuyên mục

Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ

I.VAI TRÒ CỦA TIỀN TỆ :Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:-Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta khổng thể tiến hàng sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó.Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy. Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanhTiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiêu để thực hiện yêu cầu quy luật giá trị. Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu được để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa.-Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát huy vai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.-Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệ kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiênh tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử l‎ và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.II.CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆBản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệcó 5 chức năng:- Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá.Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệlàm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá khôngcần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởngtượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoátrong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hộicần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiềngọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hànghoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:+ Giá trị hàng hoá.+ Giá trị của tiền.+ ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường.Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kimloại dùng làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệvà các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêuchuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thướcđo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đolường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sựthay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoátiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó,mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.- Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môigiới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải cótiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổihàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian vàkhông gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảngkinh tế.Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dầndần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dầnvà mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủgiá trị.Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tìnhtrạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hànglấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiềnkhông nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìmcách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngàycàng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy.Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhậntrong phạm vi quốc gia.- Phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thôngđi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xãhội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chứcnăng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữlàm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cholưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưuthông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rútkhỏi lưu thông đi vào cất trữ.- Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ,nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đếntrình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trướctiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bánchịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán.Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cáchthanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịungười mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợphát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽgây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tănglên.- Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làmchức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hìnhthái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiệnmua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xãhội.Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết vớinhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưuthông hàng hoá.