Top 17 # Xem Nhiều Nhất Vai Trò Chức Năng Kiểm Toán / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Vai Trò, Chức Năng Kiểm Toán Độc Lập Trong Nền Kinh Tế / 2023

Kiểm toán độc lập (Independent Audit) là một loại kiểm toán được phân chia từ kiểm toán nói chung theo chức năng và chủ thể kiểm toán. Kiểm toán độc lập được ra đời theo yêu cầu của cơ chế thị trường. Qua quá trình phát triển của kiểm toán nói chung, kiểm toán độc lập được tách ra phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường.

Hoạt động kiểm toán độc lập đã được hình thành và phát triển ở nước ta từ trước ngày giải phóng miền Nam, gồm: Các văn phòng hoạt động độc lập với các kế toán viên công chứng hoặc các giám định viên kế toán và cả văn phòng kiểm soát quốc tế như SGV, Arthur Andersen… Tuy nhiên, sau ngày thống nhất đất nước, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, kiểm toán độc lập không còn tồn tại. Từ sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, với việc thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình sở hữu, các loại hình đầu tư đã đặt ra những đòi hỏi của kiểm toán độc lập. Ngày 13/5/1991, theo Giấy phép số 957/PPLT của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định thành lập hai công ty kiểm toán là: Công ty Kiểm toán Việt Nam, với tên giao dịch là VACO (QĐ 165-TC/QĐ/TCCB) và Công ty Dịch vụ Kế toán Việt Nam, với tên giao dịch là ASC (QĐ164-TC/QĐ/TCCB), sau này được đổi tên thành Công ty Dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán – AASC (Quyết định 639-TC/QĐ/TCCB ngày 14/9/1993). Là công ty đầu ngành, VACO và AASC đã có nhiều đóng góp không chỉ trong việc phát triển công ty, mở rộng địa bàn kiểm toán, mà cả trong việc cộng tác với các công ty và tổ chức nước ngoài để phát triển sự nghiệp kiểm toán Việt Nam. Cũng trong năm 1991, còn có Công ty Ernst and Young là công ty kiểm toán nước ngoài đầu tiên được Nhà nước Việt Nam cho chấp nhận lập văn phòng hoạt động tại Việt Nam.

Kiểm toán độc lập có vai trò to lớn trong nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế quản lý và điều hành sản xuất – kinh doanh cần phải có thông tin chính xác, kịp thời và tin cậy. Để đáp ứng yêu cầu này, cần phải có bên thứ ba độc lập khách quan có trình độ chuyên môn cao, được pháp luật cho phép cung cấp thông tin tin cậy cho các bên quan tâm. Bên thứ ba này chính là kiểm toán độc lập.

Thứ nhất: đánh giá lại tính chính xác, minh bạch của thông tin để tạo niềm tin cho những người sử dụng thông tin. Dù hoạt dộng trong bất kỳ lĩnh vực kinh tế nào, thì kết quả hoạt động hàng năm của DN đều không thể hiện trên báo cáo tài chính (gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, bảng lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính). Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán. Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và được thể hiện trên nhiều giác độ khác nhau tuỳ đối tượng cụ thể của kiểm toán là bảng khai tài chính hay nghiệp vụ kinh tế cụ thể hoặc toàn bộ tài liệu kế toán phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các chủ doanh nghiệp – người có trách nhiệm lập báo cáo tài chính đều muốn che giấu các khuyết điểm, yếu kém hoặc khuyếch trương kết quả kinh doanh của mình trên bảng báo cáo tài chính. Ngược lại, những người quan tâm đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của DN lại đòi hỏi sự trung thực, chính xác của bản báo cáo tài chính mà DN đưa ra, vì thế cần có sự kiểm tra xác nhận của người thứ 3. Những người quan tâm đến báo cáo kiểm toán độc lập, cụ thể gồm:

– Các cơ quan nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để xem xét các DN sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản quốc gia để hoạt động kinh doanh có đem lại hiệu quả, có phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước hay không? Về nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, các DN thông thường muốn nộp ít để chiếm dụng phần lợi nhuận còn lại, nên họ sẽ khai tăng các khoản chi phí để giảm lợi nhuận và nộp thuế ít, tuy nhiên nếu thực hiện kiểm toán thì sai phạm này sẽ bị phát hiện và điều chỉnh.

– Các cổ đông góp vốn kinh doanh hoặc mua cổ phiếu của DN: Mặc dù, không có trình độ để kiểm tra kỹ lưỡng bản báo cáo tài chính của DN, nhưng với bản bản báo cáo tài chính đã được kiểm toán viên độc lập xác nhận, các cổ đông có thể yên tâm về lợi tức và quyết định tiếp tục đầu tư hoặc không đầu tư vào DN.

– Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho DN vay vốn: Để có thể ra được các quyết định cho vay, thu hồi vốn hoặc không cho vay, ngân hàng và các tổ chức tín dụng buộc phải nắm chắc tình hình kinh doanh và khả năng trả nợ của DN. Kiểm toán độc lập, kiểm toán viên sẽ giúp ngân hàng nhận diện và xác thực những vấn đề này, do đó, kiểm toán viên độc lập phải có đủ năng lực uy tín với cả chủ DN và người quan tâm đến bản báo cáo tài chính.

– Đối với người lao động: Báo cáo tài chính cũng rất quan trọng, bởi trong kinh tế thị trường người lao động có quyền lựa chọn nơi làm việc ổn định và có mức thu nhập cao. Bản báo cáo tài chính của một DN làm ăn có lãi được kiểm toán viên xác nhận sẽ thu hút hơn với người lao động có chuyên môn trình độ và năng lực.

– Các nhà đầu tư nước ngoài: Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hoá đầu tư không chỉ trong nước mà còn nước ngoài, tuy nhiên, nhà đầu tư nước ngoài luôn đòi hỏi một báo cáo tài chính được kiểm toán xác nhận về tình hình kinh tế – xã hội của nước sở tại, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của DN mà họ dự định đầu tư.

– Các nhà quản trị DN và các nhà quản lý khác: Các đối tượng này cũng cần thông tin trung thực để đưa ra những quyết định trong mọi giai đoạn quản lý, kể cả tiếp nhận vốn liếng, chỉ đạo và điều hành và những thông tin này chỉ có được thông qua kiểm toán.

Thứ hai, kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét của mình về đối tượng kiểm toán trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán đã thu thập. Chức năng bày tỏ ý kiến có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp lý. hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán: Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính đều bao gồm những mối quan hệ đa dạng, luôn luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế, trong đó các quan hệ tài chính, chế độ kế toán có nhiều thay đổi. Trong khi đó, công tác kiểm tra, kiểm soát chưa kịp thời, dẫn tới tình trạng vi phạm các nguyên tắc chế độ tài chính kế toán. Thực tế này cho thấy, chỉ có triển khai tốt hơn công tác kiểm toán mới có thể đưa hoạt động tài chính, kế toán đi vào nề nếp. Kiểm toán độc lập không chỉ có chức năng xác minh mà còn có chức năng tư vấn. Các chủ doanh nghiệp không thể kiểm soát hàng ngàn, hàng vạn nghiệp vụ tài chính, kế toán đã xảy ra trong DN. Vì vậy, để có thể xác thực tình hình tài chính kế toán của mình vào kỳ hạn nào đó, người chủ DN thường mời các kiểm toán viên chuyên nghiệp độc lập có uy tín thực hiện việc kiểm tra và nhận xét bảng báo cáo tài chính của DN mình. Những nhận xét của kiểm toán viên sẽ giúp cho các chủ DN kịp thời phát hiện những sai sót, lãng phí hoặc vi phạm pháp luật do cố ý hay vô ý để xử lý kịp thời, hay ngăn ngừa các tổn thất có thể xảy ra. Tóm lại, kiểm toán độc lập là công cụ giúp DN hạn chế được những rủi ro và phát hiện thế mạnh những tiềm năng tài chính nội tại có trong DN.

Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, ngành Kiểm toán độc lập Việt Nam đứng trước những vận hội lớn để phát triển mạnh mẽ hơn nữa, cũng như yêu cầu đòi hỏi phải đổi mới để hội nhập bền vững. Mặc dù, ngành Kiểm toán đã đạt được những kết quả quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống các tổ chức kiểm toán độc lập ở Việt Nam, song thực tiễn vẫn còn nhiều tồn tại.

Giáo trình kiểm toán căn bản, Nxb Tài chính, 2013

Luật kiểm toán độc lập

Bộ Tài chính, 15 năm tổng kết hoạt động kiểm toán độc lập (2001-2006)

Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 11/2019

Kiểm Tra (Checking) Là Gì? Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Tra / 2023

Định nghĩa

Kiểm tra trong tiếng Anh là Checking. Kiểm tra là việc đo lường quá trình thực hiện kế hoạch trên thực tế, qua đó phát hiện những sai lệch nhằm đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời để đảm bảo rằng tổ chức sẽ thực hiện được các mục tiêu kế hoạch đề ra.

Hình thức kiểm tra

– Kiểm tra có vai trò quan trọng, bao trùm toàn bộ quá trình quản lí bởi vậy thường được triển khai trước quá trình (kiểm tra lường trước), trong quá trình (kiểm tra đồng thời) và sau khi thực hiện kế hoạch (kiểm tra phản hồi).

Sự cần thiết của chức năng kiểm tra

– Chức năng kiểm tra bao gồm việc đo lường và điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các mục tiêu của tổ chức đã được đặt ra trong kế hoạch được hoàn thành.

– Trong quá trình thực hiện kế hoạch thường xảy ra những vấn đề phát sinh ngoài dự kiến khiến tổ chức đi chệch hướng khỏi kế hoạch hoặc hoàn thành kế hoạch không đúng tiến độ.

– Bởi vậy, nhà quản lí cần thực hiện chức năng kiểm tra để dự đoán và phát hiện những trục trặc có thể nảy sinh và đưa ra biện pháp khắc phục đưa tổ chức hoàn thành mục tiêu của kế hoạch đã đề ra.

– Kiểm tra là chức năng cơ bản của mọi nhà quản lí, từ nhà quản lí cấp cao đến các nhà quản lí cấp cơ sở.

Vai trò của chức năng kiểm tra

– Chức năng kiểm tra giúp các nhà quản lí đảm bảo cho kế hoạch được thực hiện với hiệu quả cao thông qua việc xác định lại các nguồn lực của tổ chức (ở đâu, ai sử dụng, sử dụng như thế nào) để từ đó sử dụng hiệu quả hơn những nguồn lực này.

– Kiểm tra giúp các nhà quản lí đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch, tìm kiếm nguyên nhân và biện pháp khắc phục.

– Kiểm tra giúp các nhà quản lí kịp thời ra các quyết định cần thiết để đảm bảo thực thi quyền lực quản lí và hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Ngoài ra chức năng kiểm tra còn giúp tổ chức theo sát và ứng phó với sự thay đổi của môi trường.

Luận Văn Vai Trò Và Chức Năng Của Kiểm Toán Tài Chính Trong Nền Kinh Tế Việt Nam / 2023

Sự chuyển nền kinh tế ViệtNam từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, cũng đồng nghĩa với sự chấp nhận cạnh tranh gay gắt trong phạm vi toàn quốc và trên thị trường quốc tế. Vì vậy, có rất nhiều vấn đề bức xúc cần giải quyết về mặt lý luận thực tiễn từ quản lý vĩ mô đến quản lý vi mô của nền kinh tế. Một trong những vấn đề cấp bách đó là phải đảm bảo thông tin kinh tế trung thực, đáng tin cậy và có sự đảm bảo về mặt pháp lý. Thực chất hoạt động kiểm toán trong nền kinh tế là hoạt động nhằ thẩm định độc lập độ tin công cậy của các thông tin kinh tế tài chính và được thực hiên bởi những kiểm toán viên có trình động kỹ năng chuyên môn cao, tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực kiểm toán đá xây dựng. Những thông tin đã được kiểm toán sẽ là căn cứ, cơ sở cho việc đề ra các quyết định quản lý, lập các dự án từ cấp cơ sở cho đến quản lý vĩ mô của nhà nước và của các thành phần khác trong nèen kinh tế xã hội. Chính vì vậy, kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng đã ra đời và ngày càng khẳng định vị thế và tầm quan trọng của mình trong nền kinh tế thị trường. Kết cấu của bài viết gồm 3 phần chính: Phần 1: Lý luận cơ bản về chức năng và vai trò của kiểm toán tài chính. Phần 2: Vai trò và chức năng của kiểm toán tài chính đối với nền kinh tế Việt Nam. Phần 3: Phương hướng hoàn thiện và phát huy vai trò của kiểm toán tài chính.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Ban Kiểm Soát (Board Of Supervisors) Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Ban Kiểm Soát / 2023

Ban kiểm soát trong tiếng Anh gọi là Board of Supervisors.

Ban kiểm soát công ty là tổ chức phụ thuộc công ty được lập ra bởi Hội đồng quản trị nhằm giúp Hội đồng quản trị kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong việc quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh, ghi chép sổ sách kế toán thuế doanh nghiệp , báo cáo tài chính và việc chấp hành điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Cơ cấu của Ban kiểm soát

Ban kiểm soát mỗi công ty thường có cơ cấu khác nhau, tuy nhiên đều bao gồm:

– Trưởng ban kiểm soát

– Thành viên ban kiểm soát chuyên trách

– Thành viên ban kiểm soát không chuyên trách

Nội bộ và nhiệm kì Ban kiểm soát

– Ban kiểm soát thường có nhiệm kì từ 3-5 năm trùng với nhiệm kì của Hội đồng quản trị và phải do Đại hội cổ đông bầu ra sau đó Ban kiểm soát tự bầu ra các chức danh cụ thể trong nội bộ ban.

– Các thành viên trong Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kì không hạn chế.

Điều kiện của thành viên Ban kiểm soát

– Phải có ít nhất một thành viên có nghiệp vụ kế toán, kiểm toán

– Có tuổi đời từ 21 trở lên, đủ năng lực và hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp cũng như quản lí doanh nghiệp.

– Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong doanh nghiệp và người quản lí khác, điểm này sẽ hạn chế các thông đồng hoặc hành vi không chuẩn của thành viên Ban kiểm soát.

– Các thành viên trong Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lí trong công ty.

– Thành viên Ban kiểm soát không nhất thiết phải là cổ đông hay người lao động trong công ty.

Quyền hạn và nghĩa vụ của Ban kiểm soát

Ban kiểm soát có những quyền hạn và nghĩa vụ như sau:

– Kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty: kiểm tra tính hợp lí, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.

Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kì của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lí của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.

– Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lí, điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông.

– Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu.

– Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần: Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

– Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông, Tổng giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lí công ty phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

Vị thế của Ban kiểm soát trong công ty

Ban kiểm soát có vị thế độc lập trong công ty, có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban giám đốc. Tuy nhiên trên thực tế Ban kiểm soát thường có vị trí dưới Ban giám đốc do các thành viên trong Ban kiểm soát thường có ít cổ phần trong công ty, gần như không bao giờ là cổ đông lớn của công ty.