Từ / Ngữ Thể Hiện Chức Năng Giao Tiếp Đơn Giản

--- Bài mới hơn ---

  • Luyện Thi Đại Học, Cao Đẳng Tiếng Anh Các Khối D, Khối A1 – Giảng Viên Hồng Lê
  • Mẫu Câu Giao Tiếp Tiếng Anh Cơ Bản, Thông Dụng, Hàng Ngày
  • Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Cuộc Sống
  • Kỹ Năng Điều Khiển, Điều Chỉnh Trong Quản Lý
  • Vai Trò Của Phi Ngôn Ngữ
  • Mark the  letter  $A, B,  C$  or  $D$  on your answer sheet to indicate the best sentence that is made with the words give

    $1.$ but for/ televisions/ human being/ not/ widen/ knowledge/.

    $A.$ But for televisions, human being are not able to widen their knowledge.

    $B.$ But for televisions, human beings could not have widened their knowledge.

    $C.$ But for televisions, human beings cannot widen their knowledge.

    $D.$ But for televisions, human beings could not widen their knowledge.

    $2.$ The ship/ ignore/ warning/ messages/ send/ hit/ iceberg/ sink/.

    $A.$ The ship, which had ignored the warning messages sent to it, hit an iceberg and sank.

    $B.$ The ship, that had ignored the warning messages sent to it, hit an iceberg and sank.

    $C.$ The ship, which had ignored the warning messages that sent to it, hit an iceberg and sank.

    $D.$ The ship, which had ignored the warning messages sending to it, hit an iceberg and sank.

    $3.$ I/ wish/ refrigerator/ stop/ make/ horrible noise/./you/ can’t/ hear/ anyone/ speak/.

    $A.$ I wish my refrigerator had stop to make that horrible noise. You can’t hear anyone speak.

    $B.$ I wish my refrigerator had stop making that  horrible noise. You can’t hear anyone speak.

    $C.$ I wish my refrigerator would stop making that horrible noise. You can’t hear anyone speak.

    $D.$ I wish my refrigerator would stop to make that horrible noise. You can’t hear anyone speak.

    $4.$ say/ partially repair/ damage/ cause/ lack/ technical knowledge/.

    $A.$ They say that they have partially repaired the damage which is caused by the lack of technical knowledge.

    $B.$  They say that they have partially repaired the damage which caused by the lack of technical knowledge.

    $C.$ They say that they have partially repaired the damage to be caused by the lack of technical knowledge.     

    $D.$ They say that they have partially repaired the damage  caused by the lack of technical knowledge.

     

    $5.$ supposes/ you/ be/ situation/ what/ do/?

    $A.$ Supposes that you were in that situation, what should you do?

    $B.$ Supposes that you had been in that situation, what would do?

    $C.$ Supposing you had been in that situation, what would you have done?

    $D.$ Supposing that you were in that situation, what would you have done?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Chú Ý Về Chức Năng Giao Tiếp
  • Vai Trò Của Yếu Tố Giáo Dục Đối Với Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách
  • Vị Trí, Vai Trò Và Nhiệm Vụ Của Giáo Viên Tiểu Học. – Trung Tâm Đất Việt
  • Thành Lập Hội Đồng Giáo Dục Quốc Phòng Và An Ninh
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Trung Tâm
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Chức Năng Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phong Cách Chức Năng Của Ngôn Ngữ
  • Bản Chất Xã Hội Của Ngôn Ngữ
  • Tiểu Luận Quan Niệm Của Mình Về Tính Chất Giao Tiếp Của Hoạt Động Văn Học Trên Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Giao Tiếp Ngôn Ngữ
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Thế Nào Để Giao Tiếp Tốt Trong Mọi Trường Hợp
  • Chức Năng Của Giao Tiếp Văn Hóa Nơi Công Cộng Là Gì?
  • Giao tiếp phi ngôn ngữ là cách gửi và nhận thông điệp từ những gì mà chúng ta thể hiện ra bên ngoài trong quá trình giao tiếp. Nó bao gồm tất cả những thao tác của từng bộ phận trên cơ thể như cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười, giọng điệu, dáng đứng, khoảng cách…

    Vai trò của giao tiếp phi ngôn ngữ

    Trong xã hội hiện đại, nhất là công việc kinh doanh, giao tiếp phi ngôn ngữ lại có tầm quan trọng rất lớn. Nó giúp cho mỗi người trở nên tinh tế hơn, biết tự kiềm chế cảm xúc, tự ý thức và điều khiển được ngôn ngữ cơ thể. Đồng thời, giao tiếp phi ngôn ngữ cũng giúp chúng ta hiểu rõ đối tác mà ta đang tiếp cận để đưa ra những định hướng đúng đắn.

    Tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ còn được thể hiện trong những tình huống khi chúng ta tiếp xúc lần đầu với một người khác. Ngoài việc để ý các cử chỉ, điệu bộ và nội dung của người đối diện, bạn còn phải học cách đọc và hiểu ý nghĩa của những chúng. Từ đó, bạn sẽ có được kinh nghiệm, giúp bạn nhận biết được người đối diện, nhận ra chính mình và học cách kiểm soát bản thân trong giao tiếp tốt hơn.

    Những điều cần lưu ý về giao tiếp phi ngôn ngữ

    Ở mỗi quốc gia, mỗi cử chỉ trong giao tiếp phi ngôn ngữ mang những ý nghĩa khác nhau. Và nó khiến bạn phải chủ động tìm hiểu về văn hóa giao tiếp của họ để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.

    Nụ cười được xem là vũ khí lợi hại mang đến sự thoải mái, vui vẻ, cởi mở trong giao tiếp. Thế nhưng, trong nhiều trường hợp nụ cười lại có nhiều ý nghĩa khác. Nụ cười của người Mỹ mang xu hướng biểu lộ cảm xúc rõ ràng hơn người Nga hay người châu Á. Và với người Nhật, họ cười để thể hiện lòng kính trọng hoặc che giấu sự buồn phiền.

    Với chúng ta, lắc đầu có nghĩa là không, gật đầu là có, thì với đất nước Hy Lạp hay Bulagria, bạn sẽ không khỏi bất ngờ khi thấy mọi thứ đều ngược lại hoàn toàn. Gật đầu trong văn hóa của họ là “không” còn lắc đầu lại mang ý nghĩa là “Có”. Vì thế, hãy cẩn thận khi sử dụng cử chỉ của cái để tránh gây ra những hiểu nhầm ngớ ngẩn.

    Khoảng cách giữa những người trong cuộc trò chuyện cũng mang những ý nghĩa khác biệt. Nếu như ở Trung Đông, các nước Mỹ Latinh, người nói chuyện có xu hướng gần nhau để thể hiện sự thân mật, thì ở Mỹ hay một vài nước châu Âu, người ta sẽ giữa khoảng cách xa hơn để thể hiện sự tôn trọng.

    Đối với quan niệm của người châu Âu, khi trò chuyện và nhìn chăm chăm vào người đối diện sẽ thể hiện sự thành thật, không cố che giấu điều gì đó. Ngược lại, ở các nước châu Á, nhìn vào người đối diện sẽ bị cho rằng vô lễ và làm mất lòng người khác.

    Với những thông tin trên, hy vọng bạn đã hiểu rõ giao tiếp phi ngôn ngữ là gì cũng như tầm quan trọng của nó. Mong rằng bạn sẽ vận dụng thật tốt vào cuộc sống và công việc hằng ngày!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Và Chức Năng Của Ngôn Ngữ
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Huyện 1 Năm Tuyển Được 3 Học Sinh
  • Những Cố Gắng Trong Công Tác Gd
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Tiếng Anh Là Gì?
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Hiện Nay Có Thật Sự Tốt?
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì
  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Cách Sử Dụng
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Giải Thích Các Chức Năng Của Các Thành Phần Máu Tính Câu Hỏi 1428247
  • Chức Năng Và Hình Thức Truyền Thông Giao Tiếp Của Các Tổ Chức
  • Theo lý thuyết động lực học của clayton Alderfer xây dựng trên cơ sở đánh giá lại các yếu tố của bậc thang nhu cầu Maslow. Ông cho rằng con người có ba nhu cầu chính:

    Trong đó nhu cầu giao tiếp là nhu cầu cơ bản nhất của của con người. Vậy giao tiếp là gì mà nó trở thành nhu cầu thiết yếu của con người. Có rất nhiều định nghĩa về nhu cầu giao tiếp nhưng với tôi thì giao tiếp là:” Sự trao đổi, truyền đạt giữa người với người các nội dung tư tưởng tình cảm, tri thức , thông tin khác nhờ ngôn ngữ và các quy định bởi các yếu tố văn hóa ,xã hội và đặc trự tâm lý cá nhân. Giao tiếp thỏa nản nhu cầu vật chất và tinh thần của con người là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông ton, cảm xúc, định hướng và điều chỉnh nhận thức , hành vi của bản thân nhau, tạo dựng quan hệ, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau. ”

    Vậy giao tiếp phi ngôn ngữ là gì? Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua cử chỉ, hành động của cơ thể, nét mặt, điệu bộ, cử chỉ, khoảng cách giao tiếp …… ( Charles Robert Darwin).

    Giao tiếp phi ngôn từ có những đặc điểm sau:

    Giao tiếp phi ngôn ngữ luôn có giá trị giao tiếp cao. Điều này bạn thường thấy ở những buổi thuyết trình hay buổi giảng thầy cô trên lớp. Những buổi giảng trên lớp sẽ vô cùng nhàm chán nếu như giáo viên cứ ngồi và giảng bài bằng giọng đọc đều đều các học sinh sẽ rất dễ buồn ngủ hay không hứng thú mà làm việc riêng. Hay những buổi diễn thuyết, bạn mở đầu bằng một vài cử chỉ như vẫy tay chào mọi người với nụ cười tươi trên mặt thay vì đi thẳng lên mục và bắt đầu giọng nói thì chắc chắn buổi diễn thuyết sẽ khác hẵn.

    Giao tiếp phi ngôn ngữ chuyển tải thông điệp một cách không rõ ràng. Điều này xảy ra khi hai người tham gia giao tiếp không hiểu được cử chỉ của nhau.

    Giao tiếp phi ngôn từ là diễn tả liên tục.

    Giao tiếp phi ngôn ngữ chủ yếu biểu lộ thái độ

    Sự giao tiếp bằng lời chỉ xảy ra khi lời nói được cất lên và kết thúc ngay khi âm thanh của lời nói đó kết thúc, trong khi đó giao tiếp cơ thể xảy ra và kéo dài cho tới khi nào người bạn đang giao tiếp vẫn còn nằm trong tầm mắt của bạn.

    Giao tiếp phi ngôn từ mang tín đa kênh.

    Chúng ta tiếp nhận những giao tiếp bằng lời trong cùng một lúc và chúng chỉ được thể hiện bằng ngôn ngữ nói hoặc bằng ngôn ngữ viết. Tuy nhiên, với giao tiếp phi ngôn từ, chúng ta có thể chấp nhận thông tin bằng nhiều cách như nhìn nghe cảm nhận, ngửi hoặc nếm và có thể tất cả dấu hiệu thông tin này cùng được thể hiện cùng một lúc.

    Mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa có hệ thống ngôn ngữ riêng biệt mà những người đến từ nền văn hóa khác khó có thể hiểu được . Ngược lại trong học thuyết tâm lý tinh thần các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người dù ở bất cứ mỗi nền văn hóa nào cũng đều có sáu trạng thái tâm lý ( hạnh phúc, buồn khổ, giận dữ, sợ hãi, ghét, ngạc nhiên) và tất cả các trạng thái tâm lý đều do sự chi phối của não , tạo ra những thay đổi trên mặt và có chung cách biểu lộ cảm xúc trên mặt như vui buồn, giận dữ, sợ hãi, ghét hay ngạc nhiên.

    Phi ngôn từ chịu ảnh hưởng của văn hóa. Hành vi, cử chỉ phù hợp với địa phương này nhưng ngược lại.

    Chức năng của phi ngôn từ.

    Phi ngôn từ có chức năng đặc biệt quan trọng đó là chức năng điều tiết. Cả cơ thể chính ta là một thể thống nhất, dáng chững chạc thì giọng nói chững chạc, dáng lỏng lẻo thì dọng nói cũng lỏng lẻo.

    Hãy thử ta dơ hai tay lên trên cao quá đầu, từ từ nắm đấm thật chặt, gồng cứng tay và người. Rồi, hãy thả lỏng cơ thể, thả lỏng tay và thử hô ” quyết tâm ” xem ta có hô được không?

    Từ cư tới nay cứ tưởng đầu óc ảnh hưởng đến cơ thể. Thực thế, cơ thể là một thể thống nhất, tay chân có linh hoạt, thưỡi mái thì đầu óc mới minh mẩn nhiều ý đẹp lời hay.

    Kỹ năng giao tiếp phi ngôn

    Giao tiếp phi ngôn ngữ còn biểu hiện ở cách phát âm như: Chất giọng, độ cao thấp ( lên giọng , xuống giọng) , nhịp điệu , âm thanh, tính kịch liệt, cách chuyển tông điệu điệu. Hơn nữa tăng quốc phiên cho rằng khi nghe tiếng nói và nhận ra nét độc đáo của âm thanh thì chính ta có thể hình dung được một người, tựa như người đó đang hiện diện….

    Qua giọng nói ta có thể nhận biết được giới tín, tuổi tác, quê quán. Giọng nói cũng thể hiện trình độ học vấn của người thuyết trình.

    Âm lượng: giọng nói cần phải rõ ràng, đủ nghe. Giọng nói ta cũng như một nhạc cụ và thuyết trình là một bản nhạc.

    Phát âm: Âm vực phải chuẩn, tròn vành rõ chữ, không méo tiếng hay nốt chữ, không nhầm lẫn giữa các âm.

    Độ cao: Giọng nói phải có lúc cao lúc thấp lúc đẩy lúc kéo.

    Chất lượng: Âm này cộng hưởng trong khoang miệng rồi bắn ra ngoài. Cũng giống như chúng ta hét trong hang động, ta thấy tiếng vọng âm, vang rền

    Tốc độ: trong khi giao tiếp , tốc độ hoàn toàn phụ thuộc vào người nghe.

    Điểm dừng: Văn nói khác văn viết. Nhưng với văn nói, cùng một câu nhưng cách nói khác nhau.

    Điểm nhấn: Một là độ nghĩa là kéo dài âm lượng ra. Hai là cường độ nghĩa là tập trung năng lượng vào một từ ngữ nào đó một cách mạnh mẽ dứt khoát.

    Giáng điệu, cử chỉ và bắt tay.

    ” nhất dáng, nhì da, thứ ba nét mặt “. Hai mươi giây đầu tiên khi gặp mặt, gây ấn tượng với người nghe bằng hình ảnh ta xuất hiện. Dáng điệu chững chạc đàng hoàng .Thì gây sự kính trọng tự nhiên, còn ngược lại sẽ gây ác cảm.

    Bí quyết là dáng điệu uyển chuyển , năng động là đứng trụ lên chân trước và dồn 80% trọng lượng cơ thể vào chân trụ, và phải đổi chân liên tục. Khi ta đứng trụ trên một chân thì mắt nó mới có thể ” dắt cả người ” , ta nhìn theo hướng nào, chân mới theo xoay theo hướng đó thì ta dễ dàng quan sát hơn. Luôn nhớ rằng ” nhất dáng, nhì da, thứ ba nét mặt “. ” Vạn sự khởi đầu nan ” . Ấn tượng ban đầu của người thuyết trình đó là dáng .

    Thông thường sau khi chào hỏi xã giao, người có kinh nghiệm bắt đầu chú ý đến cử chỉ phi ngôn ngữ của người đối diện.

    Đó là cử chỉ vốt mái tóc hay là lấy tay che miệng khi cười,…. Ở phái nữ những cử chỉ như khua tay, nói cà vạt,….. Khi cuộc nói chuyện đang lên cao traofmaf người ta thường thấy ở phía nam….

    Có thể nói , trong rất nhiều tìn huống, cử chỉ trợ giúp đắc lực cho lời nói. Nói kèm theo cử chỉ phù hợp sextacs động hiệu quả hơn tới người giao tiếp. Ngược lại hiểu được ngôn ngữ cử chỉ còn giúp ta nhìn thấy thái độ không lời của đối phương trước khi họ nói ra. Điều này giúp ta thay đổi tình thế kịp thời. Tuy nhiên việc hiểu ý nghĩa của cử chỉ không phải là dễ. Những nghiên cứu thực tế cho thấy rằng: bàn tay đưa lên ngực khi nói là biểu hiện của sự chân thật chân thành.

    Ngón tay cái đưa lên cằm là cử chỉ biểu lộ thái độ chỉ trích và tiêu cực. Cử chỉ xoa cằm chỉ sự kiên định, quả quyết. Khi ai đó xoa mũi có nghĩa alf họ không muốn đề cập vấn đề này. Cử chỉ đặt cặp kính lên môi có nghĩa là người đó đang do dự hay trì hoãn việc ra quyết định .

    Khi một người nhìn lướt nhanh qua cặp kính của anh ta, có nghĩa là anh ta đang có ý chỉ trích , phê b8njf và cần xem xét vấn đề một cách tỷ mĩ và kĩ lưỡng hơn. Những cử chỉ như nói qua , những ngón tay , xoa mắt , xoa tai, nhăn mũi không nhìn vào mắt người trực diện đều thể hiện sự lừa dối. Đặc biết cử chỉ của đôi tay được sử dụng nhiều nhất khi giao tiếp . Với sự hỗ trợ của hai bàn tay, hai cánh tay trong từng ngữ cảnh khác nhau, lời nói được minh họa rất rõ nét. Tay chống nạnh biểu thị người đó đang có ưu thế về quyền lực.

    Khi nói lòng bàn tay biểu lộ sự cởi mở và thẳng thắn, không dấu diếm điều gì. Bàn tay nắm lại biểu thị một sự không thân thiện. Cử chỉ gõ nhẹ các ngón tay xuống bàn khi nói chuyện là thể hiện sự cân nhắc suy nghĩ trước khi ra quyết định. Đối với một số người, cử chỉ bắt tay là một thủ tục nghi lễ. Nhưng đô8s với hầu hết nhiều người thì cử chỉ bắt tay không chỉ là dấu hiệu của tình bạn mà cách bắt tay của bạn là một khẳng định sâu xa về tính cách con người bạn, nó chứng minh hùng hồn về bạn là ai với tư cách của một con người. Thể hiện sức mạnh và độ đáng tin cậy của bạn nữa.

    Cử chỉ bắt tay được sử dụng khá rộng rãi trong giao tiếp chính thức của phương tây cũng như ở Việt Nam ngày nay. Bắt tay là chìa bàn tay phải, lòng bàn tay mở, nắm tay phải của đối tượng giao tiếp và kèm với câu chào. Cử chỉ bắt tay đáp lễ cũng cần được thực hiện một cách cẩn thận, đúng cách, tránh do sơ ý, không nắm bàn tay mà chỉ nắm ngón tay hoặc không nắm chặt chỉ nắm hờ hửng bàn tay đối tượng giao tiếp cho, gây ra cảm giác xấu hổ hoặc bị xúc phạm ở chủ thể giao tiếp .

    Cùng với cái bắt tay, có thể thực hiện cùng lúc nhiều cử chỉ, điệu bộ bày tỏ tình cảm khác .

    • Có thể dơ tay ra bắt thay lời chào
    • Có thể vừa chào vừa giơ tay ra bắt
    • Vừa chào vừa giơ tay ra bắt, vừa mỉm cười
    • Vừa chào vừa giơ tay ra bắt, vừa mỉn cười với ánh mắt cười hoặc trao tình cảm ấm áp , thân thiện

    Có thể thấy cử chỉ, điệu bộ trong lời chào được sử dụng rất linh hoạt đa dạng trong giao tiếp chính thức và không chính thức , thể hiện tín lịch sự, xã giao và thân mật.

    Khi bạn bắt tay với một người, bạn đang làm nhiều hơn là nói ” xin chào ” đấy. Đó là khi bạn khẳng định rằng: ” Đây chính là con người tôi “. Một cái bắt tay lỏng lẻo có thể chỉ ra sự bất an, yếu đối, không thật sự quan tâm đến người bạn đang bắt tay. Một cái bắt tay thật nhanh có thể truyền đạt sự kiêu ngạo. Nhưng ngược lại một cái bắt tay mạnh mẽ có thể truyền đạt sự tự tin, ổn định và đáng tin cậy.

    Điều quan trọng khi chọn trang phục là chúng ta mặc sang trong hơn thính giả một bậc. Tại sao lại như vậy? Thứ nhất đó là bày tỏ sự tôn trong thính giarvaf cũng chính là tọa sự tôn trọng cho chính mình. Thứ hai chỉ nên mặc sang hơn một bậc, nếu sang quá so với thính giả thì tạo nên sự khoảng cách giữa người thuyết trình với thính giả, khó lôi kéo được sự đồng cảm của thính giả.

    Một nguyên tắc vô cùng quan trọng nữa mà chúng ta không thể bỏ qua, đó là : kiểm tra trang phục trước khi gặp gỡ, giao tiếp với đối tác trước khi thuyết trình ta nên xem lại đầu tóc, chỉnh trang từ trên xuống dưới , đằng trước đằng sau, sơ suất có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Bẫy luôn nhớ rằng không có cơ hội thứ hai để gây ấn tượng ban đầu.

    Trong hội nghị hay đàm phán , cách ăn mặc của mỗi nhân vật đều mang giá trị thông báo thông tin. Bởi nó không chỉ là phong cách thời trang thể hiện cá tính riêng của mỗi người, mà còn thể hiện địa vị và tầm vóc của cuộc đàm phán hay hội nghị.

    Dù là vật vô tro vô giác , nhưng trang phục lại là ấn tượng đầu tiên khi tiếp xúc với đối tác cũng như là lần ra mắt đầu tiên với nhà tuyển dụng. Nó là một nhân tố quan trọng trong việc lấy lòng đối phương.

    Ngoài ra trang phục là phương tiện để thể hiện phong cách ăn mặc xua hướng thời trang, đẳng cấp của mỗi con người. Cách ăn mặc cũng giúp đoán được trạng thái tình cảm và các phong cách tâm lý con người. Chẳng hạn người mặc áo rực rỡ có tâm trạng vui vẽ. Cách ăn mặc cũng phản ánh nghề nghiệp, địa vị , lứa tuổi. Trang phục phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp là diện mạo gây được niềm tin và tâm trạng tích cực cho cả hai phía trong giao tiếp.

    Ánh mắt xó sứ mạng to lớn, qua ánh mắt người ta có thể biết đực tư tưởng tình cảm của đối diện. Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận biết được tình cảm con người , đôi mắt tiết lộ thông tin và có thể chuyển tải lượng thông tin lớn nhất 83% và có sức truyền cảm lớn nhất.

    Đôi mắt là ” cửa sổ tâm hồn ” , là yếu tố bộc lộ rõ nhất cảm xúc của con người , trong giao tiếp ánh mắt đóng vai trò đồng bộ hóa câu chuyện. Khi một người phụ nữ đang nói hay nghe nàng nói qua đôi mắt của nàng. ( Victor – Huygo)

    Những suy nghĩ thầm kín và trạng thái cảm xúc của con người bộc lộ tự nhiên qua con mắt. Chỉ cần nhìn vào ánh mắt của một người chúng ta có thể hiểu được phần nào suy nghĩ trong đầu họ. Đôi mắt tiết lộ rất trung thực tâm tư tình cảm của một người dù họ có muốn hay không . Nó là dấu hiệu cho thấy sự quan tâm của mình đối với người khác và làm gia tăng uy tín của người nói cũng như hiểu được cảm xúc của người khác thông qua ánh mắt để có cách ứng xử phù hợp . chẳng hạn bình thường ánh mắt nhìn thẳng vào đối phương để thể hiện sự trang trọng, ngước nhìn thể hiện sự tìm tòi suy nghĩ và tôn trọng, liếc xéo thể hiện sự khinh nhược . nhìn xuống là thể hiện sự sĩ nhục. Khi nhìn thấy người hoặc vật mà mình thích thì đồng tử sẽ dãn ra, trường hợp người lại sẽ thu nhỏ.

    Nếu nhà kinh doanh khẳng định với bạn rằng chính đôi mắt truyền tải nhiều nhất về con người bạn trong suốt thời điểm ban đầu gặp gỡ. Nếu bạn nhìn xuống đất, bạn đang nói vố người đối diện rằng tôi ngại ngùng, hồi hộp và thậm chí không đáng tin cậy. Mắt nhìn về một hướng mi mát và tròng mắt hơi cụp xuống biểu hiện một nỗi buồn . Còn tròng mắt mở to hai mắt nhìn mạnh vào người khác là biểu hiện sự tức dận. Người nào không hiểu bạn đang nói gì thì thường hay nheo mắt kèm theo dướn đầu ra nghe hay ghé tai ra phía trước biểu thị muốn nghe rõ hơn.

    Việc tránh giao tiếp qua mắt thường biểu hiện điển hình ở những người làm điều sai trái và cảm giác mặc cảm, tội lỗi. Nhìn thẳng vào mắt ai đó chỉ ra rằng bạn đang dành sự chú ý chi họ. Nó thể hiện quan tâm của bạn trong cuộc gặp gỡ.

    Người biết dùng ” đôi mắt trong giao tiếp ” thường khiến cuộc giao tiếp trở nên cởi mỡ hơn và chuyển tải được sự thích thú chú tâm, nhiệt tình và độ đáng tin cậy của mình đến người tiếp nhận. Ánh mắt hỗ trợ ngôn ngữ nói, đi kèm theo lời nói sẽ làm cho lời nói truyền cảm hơn tự tin hơn. Ánh mắt có thể thay thế cho lời nói trong hoàn cảnh người ta không cần hay không thể nói mà vẫn làm cho người giao tiếp hiểu được điều chỉnh muốn nói. Ánh mắt bộc lộ rõ nhất ( cửa sổ tâm hồn) , sắc nhất ( dao cau) và nhanh nhất ( tia chớp ) sắc thái biểu cảm của các đối tượng tham gia giao tiếp. Khi chào mắt cần nhìn vào nhau tỏ sắc thái xã giao lịch sự .

    Những điều cần thiết khi giao tiếp bằng mắt.

    Hãy kết bạn. Khi bạn chuẩn bị cho bài thuyết trình của mìn hãy tranh thủ kết bạn với những thính giả đến sớm có thể chào hỏi những người đầu tiên bước vào phòng và tự giới thiệu mình là diễn giả hay hỏi những câu hỏi đơn giản như ” tại sao bạn biết đến hội thảo này?…. Việc này sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều .

    Khi thuyết trình bạn có thể hướng mắt của mình ra những người bạn của bạn để tìm sự tự tin thoải mãi . sau khi tìm kiếm một vài người quen hãy bắt đầu trải rộng tầm mắt đến khắp phòng.

    Các lỗi cơ bản giao tiếp bằng mắt mà chính ta hay gặp.

    Tránh ánh mắt của người khác : Thể hiện sự nhu nhược của bạn

    Tránh chớp mắt quá nhiều: khiến lời nói thiếu tin cậy.

    Mắt nhìn dao dác bất định: thể hiện sự hời hợt , đôi khi mang yếu tố phản trắc.

    Mắt lờ đờ vô hồn : thể hiện sự khờ khạo ngốc nghếch

    Những lưu ý khi giao tớp bằng mắt.

    Khi nói chuyện, hãy nhìn thẳng vào người đối diện, song đừng nhìn chằm chằm. Hãy đưa mắt nhìn phạm vi xung quanh họ để giảm tải căng thẳng.

    Không đảo mắt liên hồi nhìn xéo sang một người trong khi nói chuyện với người khác nữa.

    Không đá lông nheo với người khác giới , trừ khi đó là cử chỉ tạo ra hài hước cho mọi người vui vẻ.

    Không hướng mắt nhìn xuống chân vì người bi quan, thiếu tự tin , kẻ phạm tội thường có cử chỉ này.

    Khi nhờ ai đó trong khi chờ họ ra quyết định, không nên nhìn chằm chằm vào họ. Vô tình ánh mắt của bạn tạo áp lực bắt họ đồng ý giúp đỡ bạn. Khi ăn cơm không nhìn người khác gắp thức ăn khiến họ lúng túng.

    Dù bất cứ ởđâu, người ta đều thích làm việc với những người mà họ cảm thấy thoải mái. Mặc sù bạn không học hết các cử chỉ , nét mặt của mọi người ở mọi nơi trên thế giới nhưng bạn có thể tìm hiểu thêm và tôn trọng nét văn hóa đó . đó là thái độ ứng xử mang lại hiệu quả bất ngờ trong cuộc giao tiếp.

    Biểu cảm trên khuôn mặt là một trong những đặc trưng trực tiếp của biểu hiện cảm xúc con người. Trong giao tiếp nét mặt biểu lộ thái độ, cảm xúc của con người. Nét mặt có thể biểu hiện 6 cảm xúc: vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận và căm ghét. Vì vậy nét mặt trở thành ngôn ngữ không lời thể hiện trong giao tiếp giữ các đối tượng giao tiếp với nhau. Nhăn trán , nhướng mày, cau mày…. Là dấu huệ thể hiện thái độ của con người trong các tỉnh huống cụ thể.

    Biểu cảm trên khuôn mặt bộc lộ thế giới nội tâm của một người. Khuôn mặt là nguồn thông tin quan trọng nhất để biểu đạt tình cảm, thái độ và tính cách. Bởi vì khi thay đổi nữa cảm xúc khuôn mặt bên trái dễ bộc lộ thay đổi cảm xúc phong phú hơn đồng thời lưu lại ấn tượng sâu sắc hơn.

    Nụ cười là phương tiện giao tiếp phi ngôn từ biểu lộ tình cảm, thái độ của mình. Có rất nhiều kiểu cười, mỗi kiểu cười nói lên rất nhiều thái độ của các chủ thể và khách thể khi giao tiếp. Cười mỉm, cười to, cười thành tiếng, cười nhếch mép đều biểu lộ tình cảm và thái độ của các đối tượng giao tiếp và làm tăng thêm ý nghiaxnooij dung của câu chuyện. Khi chúng ta cười nét mặt chúng ta tràn ngập niềm hân hoan tình thân mến.

    Nụ cười là cách biểu lộ thái độ , tình cảm tự nhiên, bẩm sinh nhất của con người. Trong chào hỏi, nụ cười là tín hiệu muốn bộc lộ, thiết lập hay duy trì mối quan hệ thân thiện. Trong hoàn cảnh nhất định để chào đối tượng giao tiếp, chỉ nụ cười là đủ. Nụ cười có thể đi kèm với bắt tay và lời chào..

    Những ai biết mỉm cười đều có thiên hướng biết cách quản lý, bán hàng hiệu quả, tạo ra hạnh phúc và nuôi dạy con cái nên người. Người Trung Quốc có câu nổi tiếng: “Nếu không có nụ cười tươi tắn thì đừng có mở hiệu buôn”. Nụ cười là sứ giả thiện chí của bạn truyền đi những thông điệp không lời hơn hẳn bất kì câu nói nào. Nụ cười làm bừng sáng cả cuộc đời nếu ai nhìn thấy nosvaf không ngẫu nhiên một nhà thơ viết: “Khi cười gương mặt chúng ta nở hoa”.

    Con người có thể hiện chính mình hoặc biểu lộ cảm xúc , biểu lộ cái tôi thông qua sự biểu cảm khuôn mặt. Những trạng thái khác nhau biểu cảm trên khuôn mặt sẽ giúp bản thân mình tự tin hơn và dễ thành công hơn trong giao tiếp . Khi trong lòng thấy vui thì khuôn mặt bạn thấy rực rỡ. Các cơ trên mặt của bạn giãn căng.

    Ngược lại khi buồn bực, trong lòng buồn bực thì các cơ trên mặt của bạn bị trùng xuống cho dù bạn cố tình dấu đi tâm trạng đó nhưng ngôn ngữ không lời trên khuôn mặt bạn cho thấy tất cả. Nụ cười được xem là trang sức trong giao tiếp . cười là một dấu hiệu rất mạnh mẽ giúp truyền tải sự vui vẻ thân thiện.

    Nhìn chung người có tính cách hướng ngoại rất hay cười . Do tính tình hòa đồng , cởi mở nên họ dễ cười theo người khác và đó là nụ cười chân thật. Nếu người khác đang gặp chuyện buồn , họ sẽ an ủi với vẻ mặt không quá sầu muộn. Người có tính cách hướng nội ít khi cười , tiếng cười của họ thường nhỏ , có vẻ thiếu sức sống , thiếu tự tin.

    Động tác tay thường thống nhất với lời nói, điều này có thể là cửa ngõ để chúng ta nhìn thấu tâm can qua ngôn ngữ cơ thể. Ở phần trên ta đã biết lượng thông tin thu nhận được qua đôi mắt là 83% và qua tai là 11% , lượng giây thần kinh từ mắt lên não nhiều gấp 25 lần dây thần kinh từ tai lên não. Vì vậy thính giả dễ thuyết phục và chăm chú hơn tới bài nói của ta khi có hình ảnh và nhiều dẫn chứng cụ thể.

    Do đó muốn thu hút được chú ý của thính giả, chuyển động cơ thể của ta phải càng linh hoạt năng động. Mà trên cơ thể người đôi tay là linh hoạt nhất. Cử động của tay được sử dụng một cách có ý thức để miêu tả, nhấn mạnh hoặc chỉ dẫn nhằm hỗ trợ ngôn ngữ nói. Với người khiếm thị việc sử dụng tay được mã hóa chung và hoàn toàn thay ngô ngữ.

    Các cử chỉ bổ trợ cho nội dung giao tiếp và thể hiện tính cách của mỗi cá nhân, người ta có thể dùng các cử chỉ để điều khiển hãy nói chậm lại hay đừng nói nữa..

    Có thể dùng cử chỉ để biểu lộ thái độ hay cảm xúc như kìm nén hành động khi giận dữ, thể hiện sự ngạc nhiên vui mừng, cảnh giác chưa tin tưởng mìn hoặc có bí mật muốn che giấu.

    Nguyên tắc trong cả kho thuyết trình và giao tiếp là luôn để tay trong khoảng từ trên thắt lưng và dưới cằm. Hẳn là có câu:” Giàu hai con mắt khó hai bàn tay”, đã dùng cách ẩn dụ đã dùng con mắt nhìn chỉ cách nhìn cách nghĩ của con người, bàn tay là để nói sức lao động. Vậy nên vế thứ nhất của câu chỉ sự giàu có mà con người đạt được là do có tầm nhìn, suy nghĩ thấu đáo, có trí tuệ. Còn vế thứ hai chỉ ra nếu bàn tay không chịu khó làm lụng thì dẫn đến nghèo khó.

    Trong những động tác cơ thể , con người khá chú ý đến biểu cảm , trên khuôn mặt của bản thân, nhưng lại xem nhẹ động tác của đôi chân khi đứng hoặc ngồi, cũng là bộ bận dễ nhìn thấy tâm can qua ngôn ngữ cơ thể.

    Khi nói chuyện vố người khác nếu vị trí chân của đối phương có sự thay đổi chẳng hạn chân đối phương không hướng về phía bạn mà chuyển động về hướng khác . Nếu bàn chân chuyển động vô thức về một hướng nào đó, có thể đối phương muốn rời đi. Nếu chân đối phương không ngừng lắc lư, có nghĩa là đối phương không muốn rời đi nhưng buộc phải đi.

    Khi ngồi hai chân dang rộng, dĩ nhiên phụ nữ không quá rộng, những người như vậy rất hào phóng. Nếu hai đùi hai chân khép chặt vào nhau, hai tau đặt lên đầu gối một cách quy cũ, những người như vậy tương đối ôn hòa . Nếu hai chân vắt chéo khi ngồi người như vậy tương đối chín chắn.

    Còn tư thế đứng? Một số người đứng rất thẳng, chứng tỏ anh ta tự ti làm việc xông xáo; một người khi đứng đặt trông tâm lên một chân, chứng tỏ anh ta sống coa trách nhiệm, những ai khoanh tay trước ngực khi đứng, ý thức để phòng khá cao.

    Khi ta nói hòa hùng thuyết phục người khác thì dáng phải vững chải năng động. Điều quan trọng nhất của dáng đứng trong thuyết trình đó là thể hiện sự năng động và nhiệt tình của người thuyết trình. Cơ thể con người là một thể thống nhất, thì trong ngôi nhà cơ thể đó dáng là bộ khung, là cấu trúc của ngôi nhà. Cơ thể dẻo dai thì đầu tiên dáng phải dẻo . Nếu cái khung đã cứng thì tổng thể không có mền mại uyển chuyển được.

    Thông thường khi giao tiếp với công chúng hay khi đang thuyết trình ta thường hay mất bình tĩnh , khi căng thẳng như vậy lúc đó các cơ bắp cứng lại, người thuyết trình đứng ” như trời troongf” đứng như chôn chân một chổ. Tại sao lại như vậy ? Vì chúng ta đứng trụ hai chân. Đứng trụ hai chân thì dễ mỏi và khó di chuyển được. Bí quyết của dáng điệu uyển chuyển là đứng trụ lên chân trước và dồn 80% trọng lượng cơ thể lên chân trụ và đổi chân liên tục. Dáng có uyển chuyển thì do hông và tay linh hoạt. Nguyên tắc cơ bản nhất của khi thuyết trình hay giao tiếp là. Nếu ta không quan tâm tới người nghe thì họ sẽ không quan tâm tới ta. Nếu đứng yên một chổ thì ta không thể quan sát bao quát hội trường được. Khi ta đứng trụ trên một chân thì mắt nó dắt cả người ta nhìn theo hướng nào thì chân xoay theo hướng đó thì ta có thể quan sát tốt hơn. Luôn nhớ rằng ấn tượng ban đầu của người thuyết trình đó là dáng.

    Trong khi nghe thuyết trình tại sao nghe nhiều nhưng không chú ý thậm chí có cảm giác buồn ngủ . vậy thì người thuyết trình trước hội trường không đứng yên một chổ hãy liên tục di chuyển tạo góc nhìn góc nghe cho thín giả.

    Cách di chuyển đơn giản là ta di chuyển theo hình tam giác , đảo sang hai góc của hội trường quan tâm tới góc trái góc phải. Lùi lại nói với hội trường và hút cả hội trường về phía mình, tiến lên tạo khoảng cách gần gũi với khán giả.

    Khi di chuyển tốc độ bước của ta giống như giọng nói nếu bước chân mạnh mẽ thì giọng nói nhanh mạnh mẽ. Ngược lại, bước chân nhẹ nhàng thì giọng nói nhẹ nhàng, khoang thai.

    Khoảng cách giữ những người có văn hóa ứng xử khác nhau sẽ cho biết mức độ thoải mái của họ khi giao tiếp. Một số người có tói quen tự tách mình khi giao tiếp với người khác chỉ lại gần khi bắt tay hay trao đổi nhanh.

    Khoảng cách giữ hai người giao tiếp có thể phụ thuộc vào từng bối cảnh cụ thể . chẳng hạn khi nói chuyện với người yêu, người thân mà khoảng cách quá xa thì tạo nên khoảng cách . Bạn sẽ nhận ra ngay dấu hiệu không thoãi mái khi đang xâm phạm đến khoảng không gian người khác như là: đu đưa, móc chân ngoáy tay, quấn lấy , nhìn chằm chằm…

    Trong giao tiếp nói chung trong thuyết trình nói riêng. Khoảng cách giữ ta và thính giả thể hiện mối quan tâm quan hệ. Vố mối quan hệ khác nhau thì người có xu hướng tạo khoảng cách khác nhau. Trên lý thuyết khoảng cách được quy định như sau.

    Nhưng trên thực tế khoảng cách được quy định chủ yếu dựa trên cái bắt tay. Trong quan hệ xã giao hai người đứng cách xa nhau vừa đủ một tầm bắt tay. Khoảng cách đó vừa mang lại một khôn vừa đủ cho mỗi người đứng thoãi mái , khi vung tay không chạm vào nhau. Và một người thứ ba có thể di chuyển qua giữ hai người . còn khi đứng nói ở công cộng thì tùy thuộc vào đám đông mà ta chọn cho mình khoảng cách phù hợp.

    Ôm hôn nhau tín hiệu này ở nước ta ” còn khó đưa vài mã giao tiếp” có thể thấy cử chỉ ôm hôn được sử dụng khá dè dặt, thường ở các thành phố lớn giữ các người thân, bạn bè lâu ngày gặp nhau. Ở các nước phương tây khi bạn bè thân thuộc gặp nhau và dịp đầu năm mới người ta chúc nhau bằng những nụ hôn nồng nàn. Tuy nhiên nụ hôn lúc nào cũng phải đặt đúng chổ, không phải hôn ở đâu cũng được. Cha mẹ hôn con ở trên trán, bạn bè hôn nhau ở hai bên má, trai gái yêu nhau thì hôn môi…..

    Tóm lại cử chỉ điệu bộ đi kèm với lời chào rất phong phú . các tín hiệu cử chỉ kết hợp hài hòa với nhau và với tín hiệu ngôn ngữ giúp bộc lộ nét đặc trưng và nét đẹp ngôn ngữ. Văn hóa của từng dân tộc.

    Danh thiếp – cách trao và nhận.

    Danh thiếp giao dọc trong kinh doanh là cách giới thiệu những thông tin cá nhân, thông tin liên lạc. Bạn hãy đảm bảo trên danh thiếp có đầy đủ các chi tiết , bố trí trình bày sao cho chuyên nghiệp, phù hợp với loại hình kinh doanh của công ty mình.

    Trong thế giới doanh nghiệp, danh thiếp đóng vai trò như lý lịch trích ngang của một người. Bạn trao danh thiếp cho ai đó , nghĩa là bạn muốn cho họ biết bạn là ai, bạn đang làm việc ở đâu và làm cách nào để họ liên lạc với bạn.

    Danh nhân trong công việc thường phải đưa và nhận danh thiếp, cách đưa và nhận có thỏa đáng hay không sẽ ảnh hưởng đến ấn tượng của hai bên.. Vì vậy hiểu rõ cách trao và nhận danh thiếp như thế nào là vô cùng quan trọng đối với các danh nhân.

    Khi trao danh thiếp nên theo một trong ba cách sau:

    1. Khép bàn tay lại , để danh thiếp vào lòng bàn tay dùng ngón tay cái kẹp bên trái tấm danh thiếp, đưa danh thiếp đến trức ngực người nhận. Tên trên danh thiếp ngược với bản thân, hướng về phía họ, giúp người nhận danh thiếp có thể đọc được ngay, không cần phải quay ngược lại.
    2. Dùng ngón trỏ và ngón cái kẹp danh thiếp để đưa.
    3. Dùng ngón trỏ và ngón cái của cả hai tay cầm lấy hai bên danh thiếp để đưa.

    Nhận danh thiếp như thế nào cho đúng cách.

    Nhận danh thiếp cũng là một nghệ thuật. Khi đối tac kinh doanh nhã ý đưa danh thiếp cho bạn, bạn phải tỏ vẻ vui vẻ đón nhận thật lòng. Đưa hia tay lên nhận thiếp , cầm xem thật cẩn thận rồi mới cho vào túi áo hoăc là cặp. Khi xem có thể hỏi cho rõ trên danh thiếp thể hiện sự quan tâm của mình với đối tác. Nếu bạn không xm qua danh thiếp của họ, nhất là gấp đôi hoặc làm nhăn nhúng, thì hành động đó được biểu thị là coi thường đối tác.

    Những hành vi giao tiếp đặc biệt.

    Những hành vi giao tiếp đặc biệt là những động tác ôm hôn, vỗ vai, xoa đầu… Gọi là hàn vi đặc biệt vì trong mối quan hệ đặc biệt người ta mới sử dụng chúng. Thường những hành vi này được sử dụng trong mối quan hệ đặc biệt về tình cảm thân thiết trong hoàn cảnh cụ thể và được xem cả hai bên đồng tình.

    Ý nghĩa của ngôn ngữ cử chỉ ở một số nền văn hóa khác nhau.

    Cử chỉ chào hỏi phổ biến là các danh nhân trên thế giới sử dụng là bắt tay, nhưng ngay trong bắt tay cũng thể hiện nét văn hóa khác nhau. Ở Mĩ người ta thường siết và lắc tay đối phương để thể hiện sự tự tin. Người nah hay lắc tay từ ba đến năm lần. Ở Đức và Pháp bóp nhẹ và lắc tay ột đến hai lần là đủ. Người châu Á bắt nhẹ và từ tốn .

    Gật đầu – ” có ” hay ” không”

    Thường thì nhiều nơi gật đầu mang ý nghĩa ” có ” và lắc đầu mang ý nghĩa ” không ” . tuy nhiên với người Ấn Độ lắc đầu với biên độ khoảng 270 độ thì cử chỉ có thể mang ý nghĩa có hoặc không.

    Ở Nhật Bản gật đầu không nhất thiết là đồng ý mà có thể là dấu hiệu người nghe hiểu bạn đang nói gì. Người Bungary gật đầu là không lắc đầu là có . Hất đầu ra sau có nghĩa là đồng ý ở Thái Lan, Philippines, Ấn Độ và Lào.

    Việc dơ hai tay lên dang hai ngón tay trỏ và tay giữa sang hai bên tạo thành hình chữ V ngữa lòng bàn tay ra ngoài với các ngón tay còn lại khum vào được hiểu là thắng lợi, chúc thành công. Nhưng mà quay mu bàn tay ra ngoài thì đó là cử chỉ tục tỉu chỉ bộ phận giới tính của nữ.

    Giao tiếp phi ngôn ngữ phản ánh chân thật và đầy đủ các mối quan hệ, do đó chúng ta cần tuân thủ các nguyên tắc để tận dụng hiệu quả của giao tiếp phi ngôn ngữ. Nhằm không chỉ giúp người ta hiểu được nhau, mà còn giúp hoàn thiện các mối quan hệ, giúp con người sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn.

    Phan Mỹ Duân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Loại Ngôn Ngữ Có Sức Mạnh Đặc Biệt
  • Kỹ Năng Phi Ngôn Ngữ
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Trong Nghệ Thuật Giao Tiếp
  • Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ
  • Hiện Tượng Chêm Xen Từ Ngữ Ngoại (Tiếp Cận Văn Hoá

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Phân Tích Bài Thơ Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Đọc Đoạn Thơ Trong Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Sau
  • Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Chiều Tối
  • Phân Tích Nghệ Thuật Miêu Tả Thiên Nhiên Trong Cảnh Ngày Xuân
  • Trong lời ăn tiếng nói, trong văn bản tiếng Việt hiện nay rất phổ biến hiện tượng chêm xen từ ngữ ngoại (chủ yếu là tiếng Anh), kiểu như: “Mày fair play quá”, ” Download xong chưa?”, “Nhiều fan hâm mộ ghê”, ” Open tour này dành cho nhóm khách teen“, “Lập trình viên là một hot-job nhất bây giờ”, thậm chí có thể gồm cả cách nói có từ viết tắt như: “Khu công nghiệp này xây bằng vốn ODA“, “Mức độ tăng trưởng GDP là 8,5%”… Đáng chú ý là có những từ gốc ngoại đã được Việt hoá từ lâu, nay trong không khí cởi mở thời mở cửa, hội nhập, lại “vô tư” phục hồi nguyên dạng: xe bus (so sánh: xe buýt), vải line (lanh), tole Hoa Sen (tôn lợp mái), bếp gas (ga), may complete (com lê), gatau sinh nhật (bánh ga tô)…

    Đã có một số bài viết trên báo chí về vấn đề này. Có tác giả gọi hiện tượng này là “trộn mã”, có người gọi là “từ vay mượn”, hoặc “đệm”, “đá”, “pha” tiếng nước ngoài. Chúng tôi gọi là “chêm xen” với nghĩa: dùng các từ, ngữ riêng lẻ nguyên dạng gốc tiếng nước ngoài trong lời ăn tiếng nói, trong văn bản tiếng mẹ đẻ tiếng Việt. Bài này sẽ khảo sát hiện tượng trên (qua ngữ liệu tiếng Anh) từ góc độ văn hoá – xã hội học ngôn hành, chủ yếu để tìm ra căn nguyên tâm lí xã hội của thói quen này.

    2. Cách tiếp cận

    Với hiện tượng chêm xen, ta có thể tiếp cận nó từ nhiều phía, nhiều góc độ. Chẳng hạn, có thể xem xét từ góc độ tĩnh, coi những từ ngữ đệm xen đó là những ký hiệu ngôn ngữ và tìm hiểu chúng về các vấn đề như: các dạng thức ngữ âm, chữ viết, ngữ pháp, ngữ nghĩa, khả năng kết hợp, phạm vi sử dụng, sự biến đổi theo thời gian…

    Cũng có thể xét hiện tượng chêm xen từ góc từ độ động, coi chúng là hành động của con người khi giao tiếp bằng ngôn ngữ. Hành động theo một kiểu như thế nào đấy gọi là ứng xử. Đấy là biểu thị của một cá nhân con người hay các nhóm người trong mọi hoạt động sống. Theo cách nhìn nhận của xã hội học văn hóa, trong một cộng đồng xã hội, khi có nhiều người thường xuyên lặp lại một ứng xử nào đó tương đối như nhau trong một thời gian dài thì ta có thể nói đấy là một tính cách có tính cộng đồng hay còn gọi là tính cách cộng đồng, tính cách tộc người. Tính cách tộc người là một biểu hiện của văn hóa của một tộc người, một cộng đồng.

    Với tính cách một ứng xử, ngôn ngữ được xếp cùng loại với các ứng xử trong ăn ở, ăn uống, ăn làm, ăn học, ăn chơi. Với nghĩa đó ta gọi là ứng xử ăn nói. Các loại “ăn” này đều là những biểu hiện của văn hóa dân tộc: văn hóa ăn ở, văn hóa ăn uống (văn hóa ẩm thực), văn hóa ăn mặc (văn hóa trang phục), văn hóa ăn làm, văn hóa ăn học, văn hóa ăn chơi (các thú chơi), văn hóa ăn nói (văn hóa ngôn hành).

    Để giải quyết vấn đề chêm xen tiếng Anh trong lời ăn tiếng nói, văn bản tiếng Việt thì, muốn có hiệu quả, có lẽ phải tiếp cận vấn đề không phải từ cách xem ngôn ngữ như một hệ thống kí hiệu tĩnh, mà phải từ cách xét nó như là một cách ứng xử của con người, cụ thể là văn hóa ăn nói (nói năng, viết lách) hay còn gọi là văn hóa ngôn hành mang tính chất cộng đồng.

    Cách tiếp cận này giả định phải nhìn nhận hiện tượng ngôn hành chêm xen cả từ góc độ ngôn ngữ học xã hội lẫn góc độ văn hóa học. Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội nghĩa là ta xem xét ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội của nó, tính đến tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ, đến các đặc điểm của ngôn hành. Từ góc độ văn hóa học nghĩa là xem xét ngôn ngữ chẳng những như một thành tố của văn hóa, một biểu hiện của văn hóa của một cộng đồng, một tộc người, mà còn như một nội dung của ứng xử với môi trường xã hội của cộng đồng, một tộc người nào đó, bên cạnh các ứng xử trong ăn ở, ăn uống, ăn mặc, ăn làm, ăn học, ăn chơi… Trong ứng xử đó, đặc điểm tâm lí của cộng đồng và cá nhân là một nhân tố rất quan trọng. Kết hợp cả hai góc độ này, ta sẽ có một cách tiếp cận gọi là ” tiếp cận văn hóa – xã hội học ngôn hành ” mà nội dung chủ yếu là xem xét những nhân tố xã hội, những nhân tố văn hóa đã ảnh hưởng đến ngôn hành chêm xen như thế nào.

    3. Tác dụng của chêm xen

    Chêm xen ngôn từ là chuyện tất yếu của văn hóa ngôn hành trong bối cảnh giao tiếp, tiếp xúc văn hóa ngày càng rộng khắp. Và cũng như trong các biểu hiện văn hóa khác như: văn hóa ăn ở, ăn mặc, ăn uống, ăn chơi, ăn học, ăn làm… trong sự chêm xen văn hóa luôn luôn có sự đồng hành của cả mặt tốt lẫn mặt xấu. Cái hại của nó là, nếu lạm dụng sẽ gây khó hiểu cho đối tác giao tiếp, ảnh hưởng đến thể diện của họ, làm chuyện “chướng tai gaimắt”, phá vỡ tính chuẩn mực của ngôn ngữ mẹ đẻ… Nhưng chêm xen ngôn từ gốc ngoại trong tiếng mẹ đẻ không phải là chuyện hoàn toàn xấu. Nó giúp tiếng mẹ đẻ được thêm phong phú, đa dạng. Chẳng hạn, dùng từ “toilet” (nói là “toalet”) thì lịch sự hơn “nhà vệ sinh”, vì không gợi gì đến những cái bẩn thỉu, tránh nói. Hơn nữa, đi “toalet” có vẻ “thành phố” hơn, “tây” hơn, và do đó “oai” hơn, chứ không “quê mùa” như “đi cầu”, “đi đồng”, “đi vệ sinh”, “đi đại tiện”, “đi tiểu tiện”. Còn “shop” không phải là cửa hàng, cửa hiệu, tiệm “tầm thươờg”, “lúi xùi”, mà là loại “có đẳng cấp”, bán những thứ hàng hóa làm tôn địa vị xã hội và vẻ giàu sang của khách hàng và do đó cũng làm tăng thể hiện và sự hãnh diện của chủ cửa hàng, cửa hiệu, tiệm. Người ta đến “shop” để mua hàng thời trang, nhất là hàng hiệu, đồ mĩ phẩm, đồ lưu niệm, các vật dụng đắt tiền (như máy ảnh, camêra, điện thoại di động, máy nghe nhạc…), đồ dùng văn phòng, sách báo… Và ở Việt Nam hiện nay cũng chưa thấy ai treo biểu “shop dưa mắm muối”, “shop lòng lợn”… trong khi ở các nước nói tiếng Anh, các tấm biểu “butcher’s shop” (cửa hàng thịt), “sweet shop” (cửa hàng kẹo).. là chuyện bình thường. Còn các bà các chị ở thành phố, nhất là giới công chức, giáo viên, nhân viên công ty, khi rủ nhau “đi shopping” là ý họ muốn đi xem hoặc đi mua đồ thời trang, mĩ phẩm chứ không phải là “đi chợ” để mua rau thịt, tôm cá. Như thế là các từ chêm xen như “toilet”, “shop”, “shopping” có những sắc thái nghĩa và phong cách mới, chứ không phải “tầm thường”, “dung tục” như các từ ngữ tương ứng vốn có trong tiếng Việt là “nhà xí”, “nhà vệ sinh”, “cửa hàng”, “cửa hiệu”, “hiệu”, “tiệm”, “đi chợ”, “đi mua sắm”. Các từ “đồ ngoại”, “hàng xịn” này rõ ràng đã làm phong phú thêm tiếng Việt, chí ít cũng thỏa mãn được nhu cầu “tỏ ra là người sành điệu” của những người dùng các từ chêm xen đó.

    Đấy là ngày nay, còn ngày xưa việc dùng chêm xen tiếng Hán là một cách để làm phong phú từ vựng tiếng Việt lúc đó vốn còn tương đối chưa phát triển. Chẳng hạn việc dùng từ “nguyệt” (một cách đọc Hán Việt, tức là một cách phiên âm kiểu Việt Nam cho từ “yuè” của Hán) trong thơ Nôm “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi thế kỉ 15. Theo nghiên cứu của Chu Huy (1996, N 06, tr 10), trong số 254 bài thơ quốc âm, Nguyễn Trãi đã dùng chêm xen từ “nguyệt” trong hơn sáu chục bài thơ: ” Nguyệt mọc đầu non kình dội”, “Đêm thanh hớp nguyệt nghiên chén”, “Một tiếng chày đâu đâm cối nguyệt“, … Việc chêm xen từ “nguyệt” và đặt nó vào các vị trí cú pháp các nhau đã làm cho nó được Việt hóa, tạo ra một cặp đối lập “trăng”, “nguyệt” về phong cách sử dụng và sắc thái ngữ nghĩa, khiến Tiếng Việt thêm giàu. Vấn đề chỉ là mức độ sử dụng sao cho phù hợp.

    4. Căn nguyên của cách ứng xử

    Từ cách tiếp cận văn hóa – xã hội học ngôn hành ta dễ dàng thấy chêm xen tiếng nước ngoài trong lời ăn tiếng nói và trong văn bản tiếng ta là một hiện tượng có tính truyền thống lâu đời (chêm xen chữ Nho, từ ngữ Hán – Việt, từ ngữ Pháp: hoành phi, câu đối chữ Hán trong nhà, tục thách đối, tục xin chữ và câu đối treo Tết, từ ngữ gốc Hán trong thơ ca, ca dao, tục ngữ, từ ngữ Pháp trong lời ăn tiếng nói và văn bản thời Pháp thuộc…).

    Hành động chêm xen từ ngữ ngoại trong ngôn hành là kết quả tổng hợp của một số tính cách tộc người của người Việt . Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, tâm lí tộc người và các học giả đã nêu lên nhiều tính cách tộc người của chúng ta, cả tốt lẫn xấu.

    Ở đây chúng tôi chỉ xin nêu một số ý kiến của các nhà nghiên cứu để tham khảo.

    Trong số nhận xét của học giả Đào Duy Anh (1938, tr 21) về “tính chất tinh thần” của người Việt, do mục đích của bài này, ta chú ý đến các tính cách sau đây: ” thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt động“,” ít người mộng tưởng, mà phán đoán thương có vẻ thiết thực lắm“, ” tính khí cũng hơi nông nổi“, ” hay khoe khoang trang hòang bề ngoài“, ” ưa hư danh“, ” bắt chước, thích ứng và dung hòa thì rất tài“, ” có não tinh vặt “…

    Ông Bùi Quốc Châu, tiến sĩ khoa học danh dự Sri – Lanka (2000, tr 171 – 173), cho rằng tính cách của người Việt nói chung có 37 nét, trong đó có 11 nét nhược. Trong số các nét ưu, ta đọc thấy: N 0 1. Tính vừa phải, N 0 2. Tính linh động, N 0 4. Chuộng thực tế hơn viển vông. Một số nét nhược là: N 0 13. Tự ái nhiều hơn tự trọng, N014. Thường nghĩ đến cái lợi trước mắt, N0 16. Giỏi bắt chước, N0 20. Trọng hư danh, ưa nịnh hót. N0 28. Vọng ngoại, N0 31. Tính tùy tiện, cẩu thả, N0 33. Tính coi trời bằng vung. N0 37. Tính thích danh hơn thích làm giàu.

    Tác giả Nguyễn Xuân Tư (2003, tr 143 – 147) chỉ ra các nguyên nhân sau đây của tệ tùy tiện sử dụng từ ngữ tiếng nước ngoài trên báo chỉ tiếng Việt hiện nay:

    1. Do tinh thần tự ti, 2. Do thói khoe khoang, 3. Do sự lười nhác suy nghĩ, 4. Do ý thức thiếu tôn trọng người khác.

    Chúng tôi cho rằng lối ứng xử chêm xen từ ngữ ngoại trong ngôn hành không phải là hậu quả riêng rẽ của một tính cách tộc người nào, mà tất cả các tính cách đó đều có phần tham gia tạo nên cách ứng xử này, tức đây là kết quả tổng hợp của nhiều tính cách. Hơn nữa trong danh sách các tính cách đã tổng kết được ở trên, cần phải xử lí lại theo một cách thống nhất, trong đó có phân biệt chính – phụ và thấy rõ tác động của cả nét ưu lẫn nhược.

    1/ Tính không từ chối

    2/ Đầu óc không thành kiến

    3/ Óc thực tế/ thực dụng/ thiết thực

    4/ Thói a dua/ học đòi người quyền quý

    5/ Thói sĩ diện

    Về tính không chối từ. Nước Việt ta có một vị trí địa – chính trị khá đặc biệt. Là một nước thuộc vùng văn hóa Đông Nam Á, giáp biển Đông, so với nước Lào, nước ta có thể coi như ngôi “nhà mặt tiền” nằm ở ngã tư đường, có hai mặt phố. Cái vị trí địa – chính đó làm người dân nước ta có cơ hội tiếp xúc được với nhiều nền văn hóa khác nhau và hiển nhiên là, so với các cộng đồng người ở vùng sâu, vùng xa, không tiện giao thông đi lại, người Việt Nam, đặc biệt là người Kinh, cũng có đầu óc cởi mở hơn, sẵn sàng tiếp thu, học hỏi từ các nền văn hóa lạ. Các nhà nghiên cứu ngoài thích thú nhận xét rằng văn hóa Việt (Kinh) có tính không chối từ rất đặc biệt. Cứ nhìn cách ăn ở, ăn mặc, ăn uống, ăn chơi (thể thao, âm nhạc, lễ tết, giải trí…) là ta thấy rõ người Việt như một bức tranh khảo (mô da ích) trong đó trên cái nền gốc Đông Nam Á có rất nhiều mảnh ghép có gốc gác từ nhiều nền văn hóa khác từ nhiều phương trời. Trong khi văn hóa của các dân tộc anh em cùng chung sống trên một dải đất Việt Nam còn tương đối mộc mạc đầy bản địa, thì văn hóa của người Việt lại rất phức tạp với nhiều nét ngoại lai do tiếp xúc đa phương mạnh mẽ.

    Về đầu óc không thành kiến. Trong cuộc sinh tồn, chúng ta từng đụng độ với rất nhiều kẻ thù không đội trời chung, nhưng mặc dù ghét chúng như đào đất đổ đi, oái oăm thay, mặt khác, ta lại rất vui vẻ tiếp thu rất nhiều cái hay và cả cái dở của kẻ thù. Nói riêng, trong lĩnh vực ngôn ngữ, một thời rất dài, chúng ta sử dụng chữ Hán như một ngôn ngữ quốc gia, trong hành chính quản lí đất nước lẫn trong giáo dục và văn hóa. Tiếng Pháp cũng được sử dụng rất rộng rãi gần trăm năm. Và bây giờ tiếng Anh – Mĩ. Không thành kiến, mà “khép lại quá khứ, nhìn về tương lai” quả là một tính cách hay, chứ không cực đoan, cố chấp. Đấy chẳng phải là một biểu hiện của tính không chối từ sao?

    Về óc thực tế/ thực dụng/ thiết thực. Vốn là những người thuộc nền văn hóa gốc nông nghiệp lạc hậu, luôn chạy gạo từng bữa, người Việt tiểu nông luôn chỉ nghĩ đến những cái rất cần thiết cho cuộc sinh tồn hàng ngày, chứ mấy khi tơ tưởng đến những cái xa xôi, cao xa. Đối với nhiều thứ ở đời, chúng ta luôn tự nghĩ “liệu có mài ra mà ăn được không”. Nếu không có lợi cho sự mưu sinh hằng bữa, hằng ngày thì không làm. Lâu đời, dẫn đến đầu óc vụ lợi, hời hợt. Ở đây chúng ta sẽ không bàn đến việc đó là hay hoặc dở, bởi còn tùy thuộc vào sự việc cụ thể, vào phương diện xem xét. Óc thực tế, thực dụng, thiết thực, vụ lợi đó làm người ta đua nhau đi học tiếng Anh, tiếng Mĩ (chứ không nô nức đi học tiếng Trung, tiếng Lào, tiếng Khơme là tiếng nói của các cộng đồng láng giềng ngay sát nách) vì biết được tiếng Anh – Mĩ thì sẽ có nhiều cơ hội thành đạt, xuất ngoại đi Tây, kiếm tiền hơn. Đấy chẳng phải một phần là do có tính không chối từ và đầu óc không thành kiến.

    Về thói a dua, học đòi người quyền quý. Từ năm 1929, trong số bốn tính di truyền của dân tộc ta, cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhà yêu nước có nhân cách lớn, đã kể ra thói a dua người quyền quý. Nói riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ, những kẻ có học, các quan lại ngày xưa dùng chữ Hán, làm thơ chữ Hán, các vị trí thức, công chức ở Tây, học sinh, sinh viên dùng chữ Pháp, và ngày nay, các nhà học giả, viên chức nhà nước, nhân viên các công ti nước ngoài liên doanh, nhân viênvăn phòng các tổ chức nước ngoài dùng tiếng Anh – Mĩ, thì các nhà báo trẻ, những người buôn bán, nhữung người dân thường, nếu không thành thạo tiếng Anh – Mĩ, thì cũng chêm xen dăm ba chữ trong bài viết, trong danh thiếp, trên biển hiện, để được người đời xếp vào loại thượng lưu, quyền quý và ngưỡng mộ. Như thế thì chẳng oai, chẳng oách hơn sao? Đấy chẳng phải là một biểu hiện của tính không chối từ, đầu óc không thành kiến, óc thực tế, thực dụng, thiết thực, vụ lợi đó sao?

    Về thói sĩ diện. Thói a dua, học đòi người quyền quý còn dẫn đến một hệ quả trong ứng xử là tuy nội lực không đủ tương xứng, nhưng bề ngoài luôn có xu hướng muốn tỏ ra mình không phải thuộc loại hèn kém, mà cũng quyền quý như ai. Từ thế kỷ 19, các giáo sĩ nước ngoài đã nhận thấy người Đàng Ngoài “rất hào phóng trong các vụ chi tiền vì danh vọng như trong các đám cưới, đám ma, các ngày lễ và trong các đám ăn hỏi”, “ham thích ngôi thứ và phô trương của cải” (xem: Nguyễn Văn Kiệm, 2003). Trong ứng xử ngôn hành, thấy người ta viết tiếng Tây trên báo, trên biển hiệu thì mình cũng viết tiếng Tây, tiếng Tàu. Các cụ ta chả đã nói: “Con gà tức nhau tiếng gáy” và hơn nữa: “Câm hay hói, ngọng hay hớt”. Xem ra, thói sĩ diện chẳng phải là một biểu hiện của óc thực tế, vụ lợi và a dua học đòi người quyền quý đó sao?

    Trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi các định hướng giá trị văn hóa – xã hội còn ở tình trạng nước đôi, cái cũ vẫn còn, cái mới chưa ổn định, tốt xấu chưa rõ ràng, thì hiện tượng chêm xen, thái quá, một cách vô lối, còn có điều kiện phát triển mạnh.

    5. Kết luận

    Chêm xen ngôn từ ngoại trong ngôn hành là một biểu hiện của cách ứng xử văn hóa trong xã hội. Nên, đối với hiện tượng này, ta cần có thái độ không nôn nóng, không giải quyết theo kiểu “pháp trị” (áp đặt bằng chế tài pháp lí), không đánh đồng mọi trường hợp mà có phân biệt theo hoàn cảnh giao tiếp. Để giải quyết vấn đề này, cần phân biệt hai quy mô: Ở quy mô văn hóa – xã hội chung của cả cộng đồng: phải hình thành những giá trị văn hóa – xã hội mới, thích hợp với xã hội thị trường thời thế giới phẳng. Đây là việc lâu dài. Ở quy mô, phạm vi ngành ngôn ngữ học: phải phối hợp với các ngành hữu quan để cụ thể hóa chuẩn mực ngôn ngữ văn hóa trong xã hội hiện đại bằng những văn bản chính thức thích hợp.

    Tài liệu tham khảo

    Tiếng Anh

    Wardhaugh R. (1989), An Introduction to Sociolinquistics. , Basil Blackwell.

    Tiếng Nga

    Beliko V.I., Kyssin L.P (2001), Sociolongvisstika. Mosa, RGGU.

    Tiếng Việt

    Bùi Quốc Châu (2000), Một số suy nghĩ về đặc tính dân tộc Việt . Trong “Tâm lí người Việt nhìn từ nhiều góc độ”. Tp Hồ Chí Minh, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 171, 174.

    Chu Huy (1996), Từ “nguyệt” trong thơ nôm Nguyễn Trãi. Trong t/c Ngôn ngữ & Đời sống, N 0 6, tr 10.

    Dương Kỳ Đức (2003), Chuẩn ngôn ngữ và văn hoá ngôn hành. Trong Nội san Nhân dân, N 0 3, tr 53 – 56.

    Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn – hoá sử – cương. Quan hải tùng thư.

    Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hoá. Hà Nội, Nxb Văn hoá – Thông tin.

    Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội. Những vấn đề cơ bản Hà Nội. nxb Khoa học xã hội.

    Nguyễn Văn Kiệm (2003), Tính cách người dân Đàng Ngoài qua sự đánh giá của người ngoại quốc (thế kỷ XIX). Trong “Xưa & Nay, N 0 137, tr 20 – 21, 40 – 41.

    Trần Đình Hượu (2002), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông, Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia. In lần thứ hai.

    Vũ Hạnh (2002), Tìm hiểu một số biểu hiện tâm lí dân tộc qua những di chứng nô lệ. Trong “Tâm lí người Việt nhìn từ nhiều góc độ”. Tp Hồ Chí Minh, Nxb Tp HCM, tr 88 – 98.

    X.T.T (Huỳnh Thúc Kháng) (1929), Cái tánh di truyền của dân tộc ta. Trong báo Tiếng dân, N 0 179. Đăng lại trong: Tia sáng, 2003, N 0 15, tr 45.

    Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, 4 – 2008, tr 33

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp, Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp: Đảo Ngữ, Lặp Cấu Trúc, Chêm Xen, Câu Hỏi Tu Từ, Phép
  • Đề Ii: Trong Văn Bản ” Vượt Thác “, Nhà Văn Võ Quảng Đã Viết: … “những Động Tác Thả Sào, Rút Sào Rập Ràng Nhanh Như Cắt. Thuyền Cố Lấn Lên. Dượng Hương Thư Như
  • Nghệ Thuật Miêu Tả Phong Cảnh Qua Sông Nước Cà Mau Và Vượt Thác
  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Dượng Hương Thư Trong Đoạn Trích Vượt Thác
  • Khái Quát Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật Bài Vượt Thác
  • Chức Năng Giao Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • 1 Số Chú Ý Về Chức Năng Giao Tiếp Trong Đề Thi Đại Học Post 1 Docx
  • Chức Năng Giao Tiếp Trong Tâm Lý
  • Lớp Từ Ngữ Giữ Chức Năng Định Danh, Xưng Hô Trong Hồi Kí Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc Của Phạm Khắc Hòe
  • Các Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ Trong Văn Bản
  • Đánh Giá Vai Trò Của Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Cuộc Sống Của Con Người
  • A. It’s my pleasure. B. I don’t know what time that person comes.

    C. I’d love to come. What time? D. Do you have time for some gossip?

    A. Maybe I’m not going to the doctor’s. B. Not very well. Thanks.

    C. Maybe you should take a rest. D. Not bad. I’m not going to the doctor’s.

    A. Of course, not for me. B. No, I can’t help you now.

    C. No, those aren’t mine. D. No, I can manage them myself.

    A. It’s interesting to travel to Manchester. B. It depends on how to go.

    C. I always go by train. D. I don’t like to go by train.

    A. Could you do me a favour? B. Oh, dear. What a nice shirt!

    C. May I help you? D. White, please!

    A. I’ll have a soup, please. B. There’s a great restaurant at the corner of the street.

    C. I usually eat lunch at twelve. D. Twelve would be convenient.

    A. Nothing special B. You’re welcome.

    C. It’s very expensive. D. I don’t think so. I’m teaching all summer.

    A. I love it. B. My brother gave it to me.

    C. It was a gift from my brother. D. I always put it there.

    A. It’s too late now. B. Pretty busy, I think.

    C. By bus, I think. D. No, I’ll not be busy.

    A. No, I’ll just use a frying pan. B. No, I’ll just use chopsticks.

    C. No, I’ll just use a can opener. D. No, I’ll use a cooker.

    A. Thanks, that’s nice of you to say so. B. Thanks. Have a nice trip.

    C. I’m fine, thanks. D. I know. I have trouble controlling my temper.

    A. I’m sorry I can’t. Let’s go now. B. Sure. I’d love to.

    C. Sure. But please be careful with it. D. I’m sorry. I’m home late.

    A. Do you smoke? B. What’s the matter?

    C. Anything else? D. Well, you should stop smoking.

    A. Yes, I used to play tennis. B. I don’t play very often.

    C. No, I don’t play very well. D. Pretty well, I think.

    A. Did you watch the live show last weekend? B. Did you do anything special last weekend?

    C. Did you have a great time last weekend? D. Did you go anywhere last weekend?

    A. No, I went there with my friends. B. That sounds nice, but I can’t.

    C. Don’t worry. I’ll go there. D. I did, but I didn’t stay long.

    A. What would you like? B. It’s very kind of you to help me.

    C. Would you like anything else? D. What kind of food do you like?

    A. A fashion hat B. It depends on the situation.

    C. Several times. D. I think it’s OK.

    A. No problem. B. Don’t worry. I’m all right.

    C. I usually drive home at five. D. It’s me.

    A. I’m afraid she’s not here at the moment. B. No, she’s not here now.

    C. She’s leaving a message to you now. D. Yes, I’ll make sure she gets it.

    A. Yes, he really wants to get ahead. B. Yes, he’s quite gentle.

    C. Really? I’ve never seen him lie. D. Right. He ‘s so quiet.

    A. Yes, it’s the most expensive. B. What an expensive dress!

    C. You are paying for the brand. D. That’s a good idea.

    A. Yes, it’s hard to think of the answers. B. Yes, I wish she’d hurry up.

    C. Yes, she would know the answers. D. Yes, she speaks too quickly.

    A. It’s my favourite sport. B. I worked.

    C. Do you like it? D. Would you like to come with me?

    A. He always comes late. He is not very well. B. Thank you. Good bye.

    C. I’m afraid he is not in. Can I take a message? D. I’m afraid not. He works very hard.

    A. It has good facilities. B. It’s convenient to see it.

    C. You can find it very convenient. D. You can see it from the back.

    A. I think it is bad condition. B. I can’t see anything.

    It’s a little hot in here. D. It’s a good idea.

    A. Great. Let’s go. B. I’m not a real fan of hers.

    C. Don’t mention it. D. Thanks. I’d love to.

    A. What do you think of tennis? B. Do you like sports?

    C. Do you pfer tennis or badminton? D. How often you play tennis?

    A. How are you? B. Are you feeling OK?

    C. Is there anything wrong? D. What’s the matter?

    A. Probably to the beach. B. The beach is nice, isn’t it?

    C. Probably I won’t think of. D. I have a four-day vacation.

    A. Can I help you? B. Why is it so expensive?

    C. What is it? D. What’s wrong with it?

    A. I get a high salary, you know. B. I want to be a doctor, I guess.

    C. I work in a bank. D. It’s hard work, you know.

    A. It depends on what it is. B. What’s it like?

    C. No, thanks. D. I’m afraid I won’t come.

    A. I’m not sure. Really? B. I will, the first thing in the afternoon.

    C. I’m with you there. D. I can get a paper for you right now.

    A. I know. He is a good manager. B. Sure. He will do that.

    C. I know. He must like green. D. He’d rather do that.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu Của Giao Tiếp Và Nhiệm Vụ, Chức Năng
  • Chức Năng Và Hình Thức Truyền Thông Giao Tiếp Của Các Tổ Chức
  • Giải Thích Các Chức Năng Của Các Thành Phần Máu Tính Câu Hỏi 1428247
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Cách Sử Dụng
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì
  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Cách Sử Dụng
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Giải Thích Các Chức Năng Của Các Thành Phần Máu Tính Câu Hỏi 1428247
  • Ngôn ngữ cơ thể là việc sử dụng các hành vi vật lý, biểu hiện, phong thái để giao tiếp phi ngôn ngữ, thường được thực hiện theo bản năng hơn là có ý thức.

    Cho dù bạn có nhận ra hay không, khi bạn tương tác với người khác, bạn sẽ liên tục đưa ra và nhận lại các tín hiệu không lời. Tất cả các hành vi phi ngôn ngữ của bạn, các cử chỉ bạn thực hiện, tư thế, giọng nói, mức độ giao tiếp bằng mắt của bạn khiến cho các thông tin rõ ràng hơn. Chúng có thể khiến mọi người thoải mái tạo dựng niềm tin và thu hút sự chú ý của người khác về phía bạn. Chúng cũng có thể xúc phạm, gây nhầm lẫn và làm sai lệch đi những gì bạn đang cố gắng truyền đạt. Ngay cả khi bạn im lặng, bạn vẫn đang giao tiếp phi ngôn ngữ.

    Trong một số trường hợp, những gì phát ra từ miệng bạn và những gì bạn giao tiếp qua ngôn ngữ cơ thể có thể không thực sự đồng nhất. Nếu bạn nói một điều, nhưng ngôn ngữ cơ thể của bạn lại nói điều khác, đối phương có thể cảm nhận được. Ví dụ, nếu bạn nói ” Vâng, anh đi đi” nhưng trong ánh mắt bạn lại như nũng nịu, sắp khóc và cái đầu hơi lắc. Khi phải đối mặt với tình huống như vậy, người nghe sẽ khó khăn để nhận thông tin và đáp trả thông tin lại. Tuy nhiên, bằng cách cải thiện cách hiểu và sử dụng giao tiếp phi ngôn ngữ, bạn có thể bày tỏ ý định thực sự của mình, kết nối với người khác và xây dựng mối quan hệ tốt hơn.

    Tại sao giao tiếp phi ngôn ngữ lại quan trọng?

    Nếu bạn muốn trở thành người giao tiếp tốt hơn, điều quan trọng là bạn cần nhạy bén hơn không chỉ với ngôn ngữ cơ thể và tín hiệu phi ngôn ngữ của người khác mà còn với chính bạn.

    Lặp lại: Nó lặp lại và thường củng cố thông điệp bạn đang thực hiện bằng lời nói

    Mâu thuẫn: Nó có thể mâu thuẫn với thông điệp bạn đang cố gắng truyền tải, khiến người nghe suy luận bạn đang nói không đúng sự thật

    Thay thế: Nó có thể thay thế cho một thông điệp bằng lời nói. Ví dụ, biểu cảm khuôn mặt của bạn thường truyền tải một thông điệp nào đó sống động hơn nhiều so với các từ ngữ biểu đạt.

    Bổ sung: Nó có thể thêm hoặc bổ sung cho lời nói của bạn. Là một ông chủ, nếu bạn vỗ vai một nhân viên, ngoài việc khen ngợi, nó có thể làm tăng tác động thông điệp bạn gửi gắm.

    Dấu nhấn: Bạn có thể nhấn mạnh tầm quan trọng bằng việc nói to hơn, chậm hơn.

    Các loại giao tiếp phi ngôn ngữ

    Biểu cảm khuôn mặt: Khuôn mặt con người vô cùng biểu cảm, có thể truyền tải vô số cảm xúc mà không cần nói gì. Và không giống như một số hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ khác, biểu cảm trên khuôn mặt được cho là phổ quát. Các biểu hiện hạnh phúc, buồn, giận dữ, sợ hãi, … là giống nhau trên các nền văn hóa.

    Chuyển động cơ thể và tư thế: Cách bạn di chuyển cũng truyền đạt thông tin đến người khác. Kiểu giao tiếp phi ngôn ngữ này bao gồm tư thế, sức chịu đựng và các động tác tinh tế mà bạn thực hiện.

    Cử chỉ: Cử chỉ được hình thành trong cuộc sống hàng ngày. Bạn có thể vẫy tay, chỉ tay, vẫy gọi hoặc dùng tay khi tranh luận hoặc khi nói một cách sinh động. Tuy nhiên, ý nghĩa của một số cử chỉ có thể khác nhau giữa các nền văn hóa. Ví dụ, khi dấu hiệu ” OK ” được thực hiện bằng tay truyền tải thông điệp tích cực ở các quốc gia nói tiếng Anh, thì nó lại gây khó chịu ở các quốc gia khác như Đức, Nga, Brazil. Do vậy, bạn cần có sự tìm hiểu và cẩn thận hơn khi sử dụng cử chỉ để tránh hiểu lầm.

    Giao tiếp bằng mắt: Vì cảm giác thị giác chiếm ưu thế đối với hầu hết mọi người, giao tiếp bằng mắt là một loại giao tiếp phi ngôn ngữ đặc biệt quan trọng. Cách bạn nhìn vào ai đó cũng có thể giải thích được sự quan tâm, tình cảm, sự thù địch hay sự hấp dẫn,… Giao tiếp bằng mắt cũng rất quan trọng trong việc duy trì dòng chảy của cuộc trò chuyện và để đo lường sự quan tâm và phản ứng của người khác.

    Chạm: Hãy thử suy nghĩ về những thông điệp khác nhau được đưa ra bởi một cái bắt tay yếu ớt/ một cái ôm ấm áp/ một cái vỗ nhẹ vào đầu,…

    Không gian: Bạn đã bao giờ cảm thấy khó chịu trong một cuộc trò chuyện vì người kia đang đứng quá gần và xâm chiếm không gian của bạn? Tất cả chúng ta đều có nhu cầu về không gian vật lý, mặc dù nhu cầu đó khác nhau và tùy thuộc vào văn hóa, tình huống và sự gần gũi của mối quan hệ. Bạn có thể sử dụng không gian vật lý để giao tiếp nhiều thông điệp phi ngôn ngữ khác nhau, bao gồm các tín hiệu của sự thân mật, tình cảm, sự gây hấn hoặc sự thống trị.

    Ngữ điệu: Không chỉ là những gì bạn nói, đó còn là cách bạn nói. Khi bạn nói, ngoài việc lắng nghe nội dung, đối phương còn chú ý tới tốc độ, âm lượng, giọng điệu, âm sắc, … mà bạn truyền đạt.

    Giao tiếp phi ngôn ngữ là một quá trình qua lại nhanh chóng đòi hỏi bạn phải tập trung hoàn toàn vào trải nghiệm từng khoảnh khắc. Nếu bạn đang lên kế hoạch cho những gì bạn sẽ nói tiếp theo, khi bạn sử dụng điện thoại hoặc suy nghĩ về một điều khác, bạn chắc chắn sẽ bỏ lỡ các tín hiệu phi ngôn ngữ và không hiểu đầy đủ về sự tinh tế của những gì được truyền đạt. Bạn có thể cải thiện cách giao tiếp phi ngôn ngữ bằng cách quản lý căng thẳng và phát triển nhận thức cảm xúc của bạn.

    Học quản lý căng thẳng

    Căng thẳng làm ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của bạn. Khi bạn căng thẳng, bạn có nhiều khả năng đọc sai ý của người khác, gửi các tín hiệu không lời hoặc gây nhầm lẫn và đưa đưa vào các kiểu hành vi không lành mạnh. Và nên nhớ rằng cảm xúc có tính lan truyền, nếu bạn buồn bã, nó rất có thể khiến cho người nghe của bạn buồn theo.

    Nếu bạn cảm thấy quá tải vì căng thẳng, hãy dành thời gian ra ngoài. Dành một khoảng không để bình tĩnh trước khi trò chuyện.

    Phát triển nhận thức cảm xúc của bạn

    Để gửi tín hiệu phi ngôn ngữ chính xác, bạn cần nhận thức được cảm xúc của mình và cách chúng ảnh hưởng đến bạn. Bạn cũng cần có khả năng nhận ra cảm xúc của người khác và cảm xúc thật đằng sau những tín hiệu mà họ gửi.

    Nhận thức về mặt cảm xúc cho phép bạn:

    • Đọc chính xác những thông tin mà họ gửi
    • Tạo niềm tin trong các mối quan hệ bằng cách gửi tín hiệu phi ngôn ngữ phù hợp với lời nói của bạn
    • Trả lời theo cách cho người khác thấy rằng bạn hiểu và quan tâm.

    Giao tiếp phi ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong cách chúng ta truyền đạt ý nghĩa và thông tin cho người khác, cũng như cách chúng ta diễn giải hành động của những người xung quanh. Điều quan trọng cần nhớ khi nhìn vào những hành vi phi ngôn ngữ như vậy là xem xét các hành động trong nhóm. Những gì một người thực sự nói cùng với biểu cảm, ngoại hình và giọng nói của người đó có thể cho bạn biết rất nhiều về những gì người đó đang thực sự muốn nói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Loại Ngôn Ngữ Có Sức Mạnh Đặc Biệt
  • Kỹ Năng Phi Ngôn Ngữ
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Trong Nghệ Thuật Giao Tiếp
  • Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ
  • Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Và Ngôn Ngữ Học
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Cách Sử Dụng
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Giải Thích Các Chức Năng Của Các Thành Phần Máu Tính Câu Hỏi 1428247
  • Chức Năng Và Hình Thức Truyền Thông Giao Tiếp Của Các Tổ Chức
  • Mục Tiêu Của Giao Tiếp Và Nhiệm Vụ, Chức Năng
  • Giao tiếp không lời có sức mạnh hơn ngôn từ

    Theo các nhà phân tích ngôn ngữ, để biểu đạt thông tin, chúng ta sử dụng 7% ngữ điệu, 38% âm thanh nhưng đến 55% là ngôn ngữ cơ thể, còn gọi là “phi ngôn ngữ”.

    Theo các nhà phân tích ngôn ngữ, để biểu đạt thông tin, chúng ta sử dụng 7% ngữ điệu, 38% âm thanh nhưng đến 55% là ngôn ngữ cơ thể, còn gọi là “phi ngôn ngữ”.

    Sự kết hợp hài hòa của giao tiếp phi ngôn ngữ

    Công sở là nơi diễn ra giao tiếp khá đa dạng và giao tiếp “phi ngôn ngữ” được đánh giá là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên thành công trong giao tiếp của giới văn phòng.

    Ánh mắt

    Trong giao tiếp, ánh mắt là yếu tố bộc lộ rõ nhất cảm xúc của con người. Người ta vẫn thường nói “liếc mắt đưa tình”, nhưng với công sở là “liếc mắt đưa tin”…

    Công sở cũng như một xã hội thu nhỏ, có nhiều kiểu giao tiếp với nhiều mối quan hệ đan xen… Hãy giữ một ánh mắt biết cười, nó sẽ giúp bạn hạn chế bất đồng trong giao tiếp để thành công hơn trong công việc.

    Nụ cười

    Nụ cười được xem là trang sức trong giao tiếp và cũng là phương tiện làm quen hay xin lỗi rất tinh tế và ý nhị.

    Đến công sở mỗi ngày với nụ cười thân thiện sẽ tạo được kết quả giao tiếp tốt hơn bao giờ hết, bởi nụ cười là dấu hiệu có tác động rất mạnh, giúp truyền tải sự vui vẻ, thân thiện, nhiệt tình và thích thú. Cười thường dễ “lây” từ người này sang người khác và khiến phản ứng giữa người với người thuận lợi hơn. Nhân viên luôn cảm thấy thoải mái và lắng nghe nhiều hơn với những người lãnh đạo có nụ cười thân thiện.

    Trang phục

    Quần áo, trang phục cũng là hành vi phi ngôn ngữ, có sức biểu cảm mạnh mẽ trong giao tiếp nơi công sở. Qua trang phục, mọi người có thể đoán biết được tính cách, “gu” thẩm mỹ cũng như xuất thân của bạn. Do vậy, nó đôi khi còn là cầu nối cho những ai “hợp gu” dễ dàng thân thiết và bắt chuyện với nhau khi có cùng sở thích. Công sở dễ dàng làm thân hơn khi cùng “gu” thời trang.

    Trang phục chính là một trong những nhân tố quan trọng để “lấy lòng” người đối diện. Hãy ăn mặc đẹp và phù hợp với công việc của bạn, bởi điều đó sẽ giúp bạn tự tin giao tiếp thành công và hơn thế nữa, đó còn là biểu hiện thái độ tôn trọng người khác.

    Tư thế, điệu bộ

    Hàng tá thông điệp được truyền tải thông qua việc phát ngôn và chuyển động cơ thể.

    Một tư thế đứng thẳng, bước chân nhanh nhẹn, nhẹ nhàng khiến mọi người xung quanh đều cảm nhận được sự năng động, nhiệt huyết trong con người bạn, từ đó sinh ra sự quý mến hay cảm giác ngưỡng mộ, tin tưởng…

    Ngược lại, sẽ không ai có cảm tình hay ngợi khen những tư thế ngỗ ngược, mất mỹ quan hay dáng đi hiện rõ sự “luồn lách” xu nịnh, sự khép nép, thiếu tự tin… Mọi người phần nào đoán biết tính cách và con người bạn thông qua các tư thế của bạn, do đó hãy cẩn thận nếu không muốn ai đó nắm được yếu điểm của mình.

    Đằng sau những cử chỉ giao tiếp phi ngôn ngữ – chúng tôi (vi)

    Hãy học cách tìm kiếm những ứng cử viên tài năng thông qua để ý tới những cử chỉ, hành động và lời nói của họ trong suốt quãng thời gian phỏng vấn.

    Trước khi một ứng cử viên tài năng bước vào phòng phỏng vấn, bạn nên có những hình dung nhất định về người bạn sẽ lựa chọn. Bạn có thể sử dụng những dấu hiệu giao tiếp phi ngôn ngữ hỗ trợ mình trong quá trình tuyển dụng. Rất nhiều người có những hồ sợ tốt nhưng thực tế thì lại không có nhiều kĩ năng trong khi làm việc thực tế. Vào thời điểm ứng viên bước vào phòng phỏng vấn, bạn có thể biết nhiều hơn về họ thông qua sự tự tin, cái tôi, và những tính cách chìa khóa khác bằng cách họ thể hiện chính bản thân mình và cách họ giao tiếp với bạn. Hãy học cách tìm kiếm những ứng cử viên tài năng thông qua để ý tới những cử chỉ, hành động và lời nói của họ trong suốt quãng thời gian phỏng vấn.

    Ăn mặc để tạo ấn tượng

    Tạo tương tác trực tiếp với những nhân nhân viên tiềm năng của bạn

    Sau khi bạn đánh giá sự chuyên nghiệp của những ứng viên thông qua cách ăn mặc của họ, bạn nên chú ý tới cách họ chào đón bạn. Họ nắm tạy bạn thật chặt, thật hờ hững hay là vừa phải? Những chi tiết này cũng sẽ cho bạn những hình dung nhất định về cái tôi của ứng cử viên. Một cái bắt tay chắc chắn, nhưng không phải là cái bắt tay thể hiện quyền lực. Những cái nắm tay quá chặt là dấu hiệu của tính cách hống hách và hung hăng. Những cái nắm tay yếu ớt là dấu hiệu của sự thiếu tự tin, hay những điểm khác có thể có tác động tiêu cực tới môi trường làm việc của bạn.

    Để ý tới cách họ giao tiếp

    Bây giờ chính là lúc bạn để ý những yếu tố nào đã tạo nên tính cách của ứng viên, không chỉ qua những gì họ nói, mà cả cách họ thể hiện điều đó nữa. Họ nên nói trong một tông giọng vừa phải và rõ ràng, không lẩm bẩm. Nếu như bạn tuyển dụng một ai đó có thói quen lẩm bẩm hay là thì thầm trong buổi phỏng vấn, bạn có thể tưởng tượng ra một nhân viên thụ động nhu mì trong công việc. Trái lại, những ai đó nói quá to trog buổi phỏng vấn có thể là những người hung hăng, hống hách.

    Giao tiếp thông qua ánh mắt

    Hãy chú ý tới hướng nhìn của ứng viên trong quá trình phỏng vấn. Họ nên tạo những giao tiếp thông qua ánh mắt với bạn và tập trung vào những câu hỏi phỏng vấn xuyên suốt buổi phỏng vấn. Nếu như họ nhìn xung quanh phòng, điều đó có nghĩa là họ không tập trung và dễ dàng bị tác động. Mặt khác, nếu một ai đó nhìn chằm chằm vào bạn, họ có thể là một người có tính cách hung hăng. Nếu như bất kỳ ai không nhìn thẳng vào mắt bạn khi giao tiếp, đó là một người không đáng tin tưởng. Yama Jewayni, một trong những chủ sở hữu của nhà hàng Eighteenth Street Lounge, Dragonfly and Local 16 đã nói rằng: ” Khi chúng tôi tuyển dụng, tôi thường chú ý tới cách ứng viên nhìn tôi trong suốt quãng thời gian phỏng vấn. Tôi muốn cho họ biết rằng họ có thể nhìn tôi khi nói chuyện. Điều nay khiến tôi nghĩ rằng tôi có thể tin họ và họ có thể làm giao tiếp tốt với khách hàng”.

    Quan sát ngôn ngữ cơ thể

    Có một vài những dấu hiệu đơn giản mà bạn có thể sử dụng để đánh giá ứng viên thông qua ngôn ngữ cơ thể. Những ứng cử viên tài năng nhất sẽ là những người có dáng ngồi ngay thẳng, tư thế tốt, nhưng vấn khá thoải mái. Buông thõng vai xuống chính là dấu hiệu của sự tùy tiện và bạn chắc chắc sẽ nhìn thấy điểm tiêu cực này trong quá trình làm việc. Những tư thế tốt sẽ thể hiện được sự tự tin và cái tôi. Những ai đó có thói quen cho tay sau đầu hay tì toàn bộ tay lên bàn với ghi chú của họ chính là những người có tính cách hống hách. Một ứng cử viên an toàn chính là những người từ tốn trong việc ghi chú và có tư thế ngồi gọn gàng. Hãy sử dụng đôi mắt và đôi tai để đánh giá ứng viên, đó chính là phương thức dễ dàng nhất để tìm kiếm những ứng viên tài năng nhất.

    Nguồn:

    http://www.hcareers.com/us/resourcecenter/tabid/306/articleid/301/default.aspx

    Ảnh: soompi.com/topstarnews.net

    Dịch : B.H.D

    Liệu rằng bạn có nhận ra nó hay không thì vài thứ vẫn xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Và khi bạn khám phá nhiều hơn về nó, bạn có thể tạo ra sự tương tác xung quanh bạn tốt hơn.

    Giao tiếp phi ngôn ngữ thực ra giúp bạn bày tỏ bản thân tốt hơn

    Cả thế giới đã bị sốc khi vụ bê bối tình dục của Bill Clinton với Monica Lewinsky được chứng minh – sau khi ông ta cương quyết phủ nhận vụ bê bối này! Nhưng nhiều dấu hiệu đã cho thấy ông ta đang nói dối, như việc ông ta chạm vào mũi của mình nhiều hơn mức bình thường ba lần. Đấy là bởi vì khi người ta nói dối, căng thẳng sẽ làm tăng huyết áp và lần lượt khiến các dây thần kinh xung quanh mũi bị kích thích hay cảm thấy ngứa ngáy. Hiểu được giao tiếp không dùng lời nói có thể giúp bạn không chỉ tương tác và giao tiếp với người khác tốt hơn mà còn cải thiện được khả năng để bày tỏ cảm xúc bản thân.

    Có nhiều kiểu giao tiếp phi ngôn ngữ khác nhau và vài loại có thể dễ dàng bị lãng quên

    Các cuộc nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn ngữ bắt đầu với sự xuất bản của Những biểu hiện cảm xúc ở người và động vật của Charles Darwin năm 1872. Kể từ đó, các chuyên gia cho rằng một phần quan trọng của cuộc đối thoại và tương tác của chúng ta không dựa vào lời nói:

    1. Động tác của bàn tay truyền tải nhiều thông tin

    Hành động bàn tay đặt trên má hay vuốt cằm cho thấy rằng người đó đang đắm chìm trong suy nghĩ. Cắn móng tay hay hành động nghịch tóc cho thấy sự lo lắng hay sự bất an.

    Loại này chiếm đa số trong giao tiếp phi ngôn ngữ.

    Hãy xem xét có bao nhiêu kiểu cười khác nhau mà bạn đã từng nhìn thấy; sự khác nhau của nụ cười có thể cho thấy sự hạnh phúc, sự nhớ nhung, hồi tưởng, sự khó chịu hay thậm chí sự buồn bã.

    Hạ thấp đầu và gương mặt hướng xuống dưới có thể hiểu là người đó đang trốn tránh thứ gì đó hoặc đơn giản là mắc cỡ, ngại ngùng.

    Cách một người giữ tư thế khi đứng hay ngồi thể hiện nhiều điều.

    Khoanh tay trước ngực có thể ám chỉ sự phòng thủ. Vắt chéo chân khi ngồi hay đứng cho thấy sự lo âu.

    Người ta nói rằng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Có nhiều thứ mà đôi mắt có thể tiết lộ ra – thậm chí là không có khả năng giao tiếp bằng mắt cũng nói lên nhiều điều.

    Mọi người có xu hướng nhìn lên trên và hướng qua phải khi họ không trung thực và họ ngước mắt lên trên qua bên trái khi họ đang nhớ điều gì đó. (Điều này có thể ngược lại với những người thuận tay trái.)

    Truyền thông xã hội đã khai sinh ra một hình thức mới của giao tiếp không dùng lời nói. Làn sóng mới này bao gồm các biểu tượng cảm xúc (emoticons) mà mọi người sử dụng đến việc cố tình đăng những dòng trạng thái cập nhật hay những bức ảnh để tạo phản ứng.

    Mọi người có thể chắc chắn hiểu được họ cảm thấy như thế nào mà không dùng lời nói chỉ bằng một cú nhấn chuột đơn giản để thể hiện một khuôn mặt đang cười hay đang buồn.

    Đầu tiên, nếu bạn nhận thức nhiều hơn về những dấu hiệu không dùng lời nói xung quanh bạn, điều này ngay lặp tức sẽ cải thiện sự tương tác của bạn.

    Cũng có nhiều thứ nhỏ nhặt bạn có thể làm để giao tiếp tốt hơn mà thậm chí không cần nói một lời.

    Hãy chú ý tới những điệu bộ, cử chỉ nhỏ nhặt của bạn

    Hãy xem xét ngôn ngữ cơ thể của bạn thể hiện như thế nào.

    Ví dụ, khi bạn gặp ai đó lần đầu tiên thì bạn có cười không? Nếu có thì nụ cười của bạn nói lên điều gì? Một cái bắt tay chắc nịch cùng sự giao tiếp bằng mắt và một nụ cười đáng tin cậy sẽ giúp bạn tự tin hơn.

    Hãy nhận biết bất kì sự mâu thuẫn nào trong ngôn ngữ cơ thể

    Liệu rằng với bản thân hay với người khác, lời nói luôn hòa hợp với biểu hiện của cơ thể?

    Hãy xem các các nghĩa khác nhau khi bạn nói “Tôi vẫn ổn” với một nụ cười toe toét và khi bạn nói câu này với một tiếng thở dài lớn. Nói câu này với một nụ cười ấm áp sẽ cho thấy sự chân thành và bạn thực sự cảm thấy “ổn, tốt”. Nếu câu nói đi kèm với sự thở dài hay tâm trạng chán ngán thì nó cho thấy điều ngược lại.

    Đừng hiểu nhầm sự căng thẳng với sự không trung thực

    Bao nhiêu lần bạn biết về người mà đọc rất nhiều tin nhắn và nhận nhiều cuộc điện thoại, đơn giản bởi vì người ở đầu dây bên kia đang có một ngày căng thẳng và vì vậy họ trở nên giận dữ?

    Rất dễ đọc vị sai người khác hay bị hiểu nhầm khi đang căng thẳng, vì vậy hãy nhận thức về điều này khi bạn đang có một ngày đầy khó khăn. Lần tới, lúc bạn nhận tin nhắn hay email khi bạn bị căng thẳng, có lẽ cách tốt nhất là trì hoản sự phản hồi của bạn cho đến khi bạn bình tĩnh hơn.

    Chú ý những phản ứng của người khác

    Chú ý nhiều hơn về giao tiếp phi ngôn ngữ với người khác sẽ có thể giúp bạn tương tác với người khác thành công hơn.

    Ví dụ, nếu bạn đi cùng ai đó đang đan tay vào nhau, hành động của họ cho thấy họ cảm thấy dễ bị tổn thương hay không đang thoải mái. Sau đó hãy xem xét việc bạn có thể làm để họ cảm thấy thư giản, thoải mái hơn.

    Hãy luyện tập những kỹ xảo nhỏ này mỗi ngày và mọi lúc khi bạn đang nói chuyện với người khác và bạn cũng sẽ giỏi hơn trong việc giao tiếp với ngôn ngữ cơ thể của chính bạn.

    Nguồn ảnh bìa: Flaticon từ flaticon.com

    Tài liệu tham khảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Loại Ngôn Ngữ Có Sức Mạnh Đặc Biệt
  • Kỹ Năng Phi Ngôn Ngữ
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Trong Nghệ Thuật Giao Tiếp
  • Hành Vi Phi Ngôn Ngữ Trong Giao Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?
  • 7 Chức Năng Giao Tiếp Quan Trọng Nhất / Văn Hóa Chung
  • Mục Tiêu Của Giao Tiếp Trong Cuộc Sống Hằng Ngày
  • Giáo Trình Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Chuyên Đề Giáo Dục Hoà Nhập
  • “Nếu không biết sức mạnh của ngôn từ, ta không thể biết được con người đó”. (Khổng Tử)

    Để việc truyền tải thông tin có sức tác động mạnh mẽ, bạn nên dùng hành vi phi ngôn ngữ.

    1. Giao tiếp bằng mắt: Eye Contact

    “Ngôn ngữ của đôi mắt” giúp điều chỉnh buổi giao tiếp. Nó là dấu hiệu cho thấy sự quan tâm của mình đối với người khác và làm gia tăng uy tín của người nói. Người biết dùng “đôi mắt trong giao tiếp” thường khiến buổi trao đổi thêm cởi mở và chuyển tải được sự thích thú, chú tâm, nhiệt tình và độ đáng tin cậy nơi mình đến người tiếp nhận.

    2. Gương mặt biểu cảm: Facial Expssions

    Cười là dấu hiệu có tác động rất mạnh giúp truyền tải sự vui vẻ, thân thiện, nhiệt tình và thích thú. Vì thế, nếu bạn cười thường xuyên bạn sẽ đổi lấy được sự thích thú, thân thiện, nhiệt tình và gần gũi. Cười thường dễ “lây” từ người này sang người khác và khiến phản ứng giữa người & người được thuận lợi hơn. Người khác sẽ cảm thấy thoải mái khi ở cạnh bạn và muốn lắng nghe bạn hơn.

    Nếu bạn không biểu lộ cử chỉ hay diễn tả không đạt trong khi nói, bạn có thể bị cho là nhàm chán và cứng nhắc, không thân thiện. Lối nói chuyện sinh động thu hút sự chú ý của khách hàng và làm cho buổi đàm thoại thú vị, thuận lợi và hiểu nhau hơn.

    4. Tư thế và Điệu bộ: Posture & Body Orientation

    Người ta chuyển tải được hàng tấn thông điệp thông qua việc phát ngôn và chuyển động cơ thể. Ví dụ : khi tư thế đứng thẳng lưng và ngã người về trước, người ta sẽ hiểu bạn là người dễ gần, dễ tiếp thu và thân thiện.

    Tính thân mật trong giao tiếp chỉ thật sự có kết quả khi bạn và người nghe đối mặt với nhau. Và tránh đừng bao giờ nói mà xoay lưng lại hoặc nhìn sàn nhà, trần nhà vì điều này khiến giao tiếp trở nên thờ ơ.

    5. Giữ khoảng cách: Proximity

    Tiêu chuẩn văn hóa đòi hỏi một khoảng cách thoải mái nhất định trong giao tiếp. Bạn nên nhận ra ngay những dấu hiệu không thoải mái khi đang xâm phạm đến khoảng không của người khác như là: đu đưa, móc chân mó tay, quấn lấy, nhìn chằm chặp.

    6. Phát âm: Vocal

    Giao tiếp phi ngôn ngữ còn biểu hiện ở cách phát âm như:

    1. chất giọng

    2. độ cao thấp (lên giọng, xuống giọng)

    3. nhịp điệu

    4. âm sắc

    5. tính kịch liệt (hưởng ứng hay phản kháng)

    6. cách chuyển tông điệu.

    Để tối ưu hóa việc giao tiếp, hãy thực hành 6 cách biến tấu vừa nêu. Đa phần các diễn giả thường mắc một lỗi chung là thuyết trình với chất giọng đều đều (hay còn gọi là “tiến sĩ gây mê”). Khán thính giả sẽ cho rằng họ thuộc tuýp diễn giả nhàm chán và tẻ nhạt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giao Tiếp Sư Phạm
  • Giao Tiếp Sư Phạm Là Điều Kiện Tiên Quyết Để Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Của Thầy Và Trò
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 39: Làm Văn: Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ
  • 06 Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản Và Cách Phân Biệt
  • Phi Ngôn Ngữ Có Thực Sự Quan Trọng Trong Giao Tiếp
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Trong Nghệ Thuật Giao Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Năng Phi Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Loại Ngôn Ngữ Có Sức Mạnh Đặc Biệt
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì
  • Cẩm nang nghề nghiệp

    Vai trò của giao tiếp phi ngôn ngữ trong nghệ thuật giao tiếp

    Ngôn ngữ dùng để biểu lộ suy nghĩ, ý định hoặc trạng thái của mỗi người và cũng còn có thể để che giấu, đánh lạc hướng người khác. Vì ngôn ngữ gắn liền với ý thức, nó được sử dụng một cách có chủ định của ý thức.

    Ngoài ra, có một loại “ngôn ngữ” khác ít hoặc không gắn liền với ý thức, nó có thể được biểu lộ một cách tự động, máy móc mà người khác chưa chắc đã hiểu ra. Đó là ngôn ngữ của cơ thể, được thể hiện bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt… trong quá trình giao tiếp và có hệ mã riêng. Chúng ta gọi là giao tiếp phi ngôn ngữ.

    Giao tiếp Phi ngôn ngữ có vai trò quan trọng như thế nào?

    Ngày nay khi thế giới dần dần bị thu nhỏ lại, phẳng ra thì sự va chạm giữa các nền văn hóa khác nhau được nhận thấy rõ ràng nhất trong quá trình giao tiếp. Là doanh nhân, hẳn đã có lần bạn phải cân nhắc trước khi gặp gỡ các đối tác quốc tế: nên giao tiếp theo phong tục của ta hay của họ, cư xử như thế nào cho đúng mực… vì ngôn ngữ là rào một cản không nhỏ.

    Các chuyên gia nói rằng trong cuộc đàm phán kéo dài 30 phút, hai người có thể biểu hiện hơn 800 thông điệp phi lời nói khác nhau.

    Nếu cả hai người đều không hiểu hoặc không nhận ra những thông điệp này, thì cả hai chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp thấp. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi kết quả của nhiều cuộc đàm phán thương lượng không đến đích.

    Một lần, trong một cuộc họp thân mật tại phòng khách sạn của vị chủ tịch tập đoàn một công ty đa quốc gia, với sự có mặt của nhiều đồng nghiệp các nước Đông Nam Á, một nữ doanh nhân trẻ có gương mặt dễ nhìn và trang phục sang trọng đã lôi cuốn thiện cảm của mọi người trong phòng họp ngay giây phút đầu tiên. Khi ngài chủ tịch phát biểu thì mọi người giật mình vì tiếng chuông điện thoại phát ra từ túi xách của nữ doanh nhân nọ. Ngay lập tức mọi ánh mắt đổ dồn nhìn về phía chị ta và như hiểu được rằng mình đang được mọi người chú ý, nữ doanh nhân này bắt đầu cuộc đàm thoại bằng giọng nói hết sức ngọt ngào, trong trẻo với âm thanh vừa đủ nghe cho cả mọi người.

    Kỹ năng giao tiếp tốt sẽ giúp bạn tự tin trong công việc cũng như cuộc sống

    Trong xã hội hiện đại và nhất là trong môi trường kinh doanh quốc tế, rất cần thiết cho mỗi chúng ta trở nên tinh tế hơn, có những kỹ năng sống tự nhận thức và tự kiềm chế được ngôn ngữ cơ thể cũng như tập cách quan sát ngôn ngữ này thông qua những hình ảnh xung quanh để hiểu rõ đối tác mà ta đang giao tiếp.

    Trong kỹ năng giao tiếp chuyên nghiệp, ngoài việc để ý đến các cử chỉ điệu bộ và thông điệp của người đối diện, bạn còn phải biết cách đọc được những cử chỉ của người ấy và ý nghĩa của chúng. Khi có được kinh nghiệm đó, bạn sẽ nhận biết người đối diện, nhận biết bản thân và kiểm soát bản thân cũng như người đối diện bằng hành động phi ngôn ngữ.

    Thông thường sau khi chào hỏi xã giao, người có kinh nghiệm bắt đầu chú ý đến những cử chỉ phi ngôn ngữ của người đối diện. Anh ta bắt chéo chân tay trong khi nói chuyện? Anh ta nhìn thẳng vào mắt mình? Anh ta che miệng khi đặt câu hỏi? Quan sát và hệ thống các cử chỉ đó lại, có thể đánh giá người đó có thực tình khi giao tiếp không, đang chán nản, tức giận hay đang nghi ngờ. Ban đầu, có thể bạn không nhận biết được 100% những cử chỉ đó, nhưng ít nhất cũng có thể nhận ra được một điều gì đó đang diễn ra ở người đối diện. Khi kiểm soát hành vi, cử chỉ của mình và của người đối diện, chúng ta sẽ thấy được những cái lợi của ngôn ngữ cơ thể. Ngôn ngữ của cơ thể phản ánh cảm xúc thực sự bên trong nên hiểu được nó, bạn có thể sử dụng chúng một cách có lợi nhất khi gặp đối tác hoặc khi

    thuyết trình trước đám đông.

    Tìm hiểu 6 dấu hiệu giao tiếp phi ngôn ngữ của các nước trên Thế giới

    Mỗi một cử chỉ trong giao tiếp phi ngôn ngữ ở mỗi quốc gia, lãnh thổ khác nhau lại mang những ý nghĩa khác nhau. Điều này có nghĩa rằng, khi bạn chuẩn bị tiếp cận với một người đến từ đất nước khác, bạn nên tìm hiểu một chút về văn hóa giao tiếp của nước họ, để cho việc giao tiếp đạt hiệu quả một cách cao nhất. Tham khảo ý nghĩa của những dấu hiệu thông dụng sau đây.

    1. Biểu hiện nét mặt

    Nụ cười là một ví dụ điển hình cho loại ngôn ngữ không lời biểu thị qua nét mặt người giao tiếp. Mỗi một đất nước, nụ cười lại có những nét đặc trưng rất riêng biệt. Đó là nụ cười của người Mỹ mang xu hướng biểu lộ cảm xúc rõ ràng hơn người Nga hay người Trung Quốc. Hay đó là sự mỉm cười của người Nhật khi họ muốn tỏ lòng kính trọng với ai đó hoặc che giấu đi sự muộn phiền.

    2. Cái gật đầu

    3. Cử chỉ ngón tay

    Dùng ngón tay để giao tiếp cũng là một loại ngôn ngữ không lời phổ biến ở các đất nước. Và hẳn là, có những sự khác biệt rất lớn về mặt ý nghĩa trong từng cử chỉ ngón tay của các nước khác nhau. Ví dụ như khi bạn giơ ngón cái thể hiện sự đồng ý (Thumbs up), ở Mỹ sẽ là sự đồng tình hay khích lệ, trong khi ở Sardiana hay một số nước Tây Phi, điều đó có nghĩa là đồ dở hơi.

    4. Khoảng cách

    Khoảng cách đứng, khoảng cách ngồi giữa những người trong cuộc trò chuyện cũng mang những đặc khác biệt trong từng đất nước. Nếu như ở các nước Mỹ Latinh, hay Trung Đông, những người nói chuyện thường có xu hướng đứng gần nhau hơn để thể hiện sự thân mật thì ở các Mỹ hay một số nước châu Âu, người ta sẽ giữa khoảng cách xa một chút để thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau.

    5. Sự đụng chạm

    Bắt tay là hành động phổ biến khi mọi người gặp nhau và bắt đầu cuộc trò chuyện, ngay cả với người lạ. Song có một số hành động như hôn má, hay ôm thắm thiết thì không nhiều nơi được áp dụng, đặc biệt ở các nước châu Á, đôi khi nó sẽ mang ý nghĩa khiếm nhã. Vậy nên, việc sử dụng những hành động này trong giao tiếp cần cẩn thận, đặc biệt là với những người lạ nói chuyện lần đầu.

    6. Giao tiếp bằng ánh mắt

    Tương tác bằng ánh mắt là một loại ngôn ngữ giao tiếp không lời nói, có sự khác biệt theo quan niệm của từng đất nước. Ở những nước Mỹ Latinh hay Mỹ, khi nói chuyện bạn nên nhìn vào đôi mắt người đối diện, nếu không đối phương sẽ nghĩa rằng có điều gì không tốt mà bạn đang cố gắng che dấu đi. Ngược lại, ở một số nền văn hóa, đặc biệt là văn hóa của người châu Á, bạn nên tránh nhìn chằm chằm vào mắt người đối diện, nếu không bạn sẽ bị cho rằng vô lễ và làm mất lòng người khá

    Chỉ cần tinh tế một chút trong giao tiếp chúng ta sẽ nhận ra ngay chúng ta không chỉ giao tiếp bằng lời nói mà bằng cả ngôn ngữ của cơ thể. Martin Luther đã từng nói “đừng nghe những gì anh ta nói mà hãy nghe những gì bàn tay anh ta nói”. Phải đến thế kỉ 20 giao tiếp phi ngôn ngữ mới được quan tâm một cách thực sự. Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua các cử chỉ hành động của cơ thể như nét mặt, cách nhìn, điệu bộ,và khoảng cách giao tiếp. Vì thế, đầu tư vào kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ là một đầu tư thực sự khôn ngoan. Nó sẽ giúp bạn tăng thêm sức mạnh, hiệu quả trong giao tiếp với mọi người xung quanh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ
  • Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Và Ngôn Ngữ Học
  • 8 Dạng Bài Trong Đề Thi Tiếng Anh Thpt Quốc Gia
  • Giao Tiếp Và Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Quản Trị Kinh Doanh. Ứng Dụng Trong Thực Tê
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Kinh Doanh
  • Mẫu Câu Giao Tiếp Tiếng Anh Cơ Bản, Thông Dụng, Hàng Ngày

    --- Bài mới hơn ---

  • Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Cuộc Sống
  • Kỹ Năng Điều Khiển, Điều Chỉnh Trong Quản Lý
  • Vai Trò Của Phi Ngôn Ngữ
  • Phong Cách, Cấu Trúc, Chức Năng Và Nguyên Tắc Cơ Bản
  • Khái Niệm Giao Tiếp – Kipkis
  • {{ Theindochinaproject.com }}.

    Your level :

    {{level}}

    {{ completedSteps }}%

    Khả năng giao tiếp tiếng Anh (Communication Skill) được hiểu là một tập hợp quy tắc, nghệ thuật ứng xử và đối đáp được mọi người sử dụng khi trao đổi, tương tác với người khác bằng tiếng Anh. Cũng như tiếng Việt, để giao tiếp tốt, bạn cần có kỹ năng:

    Các lỗi học tiếng Anh giao tiếp dẫn đến không hiệu quả

    1. Không học cách phát âm tiếng Anh chuẩn khiến giao tiếp không hiệu quả

    Để giao tiếp tiếng Anh hiệu quả, bạn phải học cách phát âm Tiếng Anh chuẩn. Tuy nhiên, rất nhiều người đã bỏ qua bước này hoặc không xem trọng khi học tiếng Anh. Để biết được bản thân đã phát âm chuẩn hay chưa, bạn cần có sự rèn luyện lặp đi lặp lại, kiểm tra lại độ chính xác bao nhiêu để điều chỉnh giọng của bản thân.

    Bạn có thể luyện phát âm bằng các app phát âm tiếng Anh nhận diện giọng nói và so sánh giọng nói. Hoặc xem phim, nghe các mẩu hội thoại audio để điều chỉnh âm vực của mình.

    2. Phát âm thiếu âm cuối (final sound)

    Lỗi chung nhất mà người học tiếng Anh hay gặp phải chính là lỗi không phát âm âm cuối. Đặc biệt là âm “s và es” “ed”. Người Việt hay Việt hóa tiếng Anh theo cách của riêng mình để đọc dễ nhất. Thật không may, điều này ảnh hưởng xấu đến quá trình luyện nói và luyện nghe sau này của bạn.

    Nếu bạn không phát âm âm cuối, người nghe rất khó phân biệt bạn đang nói gì, thậm chí, nghiêm trọng hơn có thể hiểu sai vấn đề bạn nói.

    3. Nhấn không đúng trọng âm hoặc không nhấn trọng âm (Sentence Stress)

    Nếu bạn nói đoạn dài hoặc muốn nhấn mạnh vấn đề, ý nghĩa của sự việc mà không có nhấn trọng âm, người nghe cảm thấy rất nhàm chán và thiếu tập trung vào lời bạn nói. Hoặc, một số từ giống nhau nhưng lại nhấn âm khác nhau. Chẳng hạn:

    REcord (v) Ghi âm – reCord (n) Bản ghi âm.

    Hoặc:

    PREsent (n) Món quà – pSENT (v) Trình bày.

    4. Cố gắng sử dụng những từ vựng khó

    Bước đầu học tiếng Anh giao tiếp, bạn sẽ chăm chăm vào việc làm sao để trau dồi nhiều từ vựng nhiều nhất có thể, trong đó có từ vựng khó. Bạn cố gắng diễn đạt khi giao tiếp bằng từ vựng khó nhưng lại bị vấp khi nói vì phải nhớ lại từ đó. Nếu bạn đang làm vậy thì hãy dừng lại ngay! Học từ vựng khó và sử dụng được chúng lại là một vấn đề khác.

    Trước tiên, bạn hãy luyện tập nhuần nhuyễn những từ/cụm từ tiếng Anh đơn giản để diễn đạt nội dung của bản thân. Sau đó, tăng cấp độ luyện nói tiếng Anh lên dần với từng vựng khó hơn. 

    5. Nói chuyện bị ngắt quãng khi giao tiếp bằng tiếng Anh

    Đây là trường hợp phổ biến thường thấy ở nhiều bạn đang học giao tiếp tiếng Anh. Bị ngắt quãng khi giao tiếp do chưa có sự chuẩn bị trước khi nói hoặc phản xạ kém khi nghe. Muốn khắc phục vấn đề này, bạn chỉ cần nói chậm rãi, điều tiết cảm xúc và suy nghĩ và trả lời liền mạch.

    Cách học tiếng Anh giao tiếp hiệu quả tại nhà, bạn đã biết?

    Học tiếng Anh giao tiếp không hề khó nếu như bạn có sự chuẩn bị và vạch ra lộ trình rõ ràng. Để học hiệu quả hơn và nhanh chóng hơn, bạn có thể áp dụng một số cách làm sau:

    Hãy luyện giao tiếp tiếng Anh thật nhiều

    Chẳng ai có thể nói tiếng Anh trôi chảy mà không phải qua một quá trình luyện nói đầy gian nan. Trên thực tế, tập diễn đạt bằng tiếng Anh ở bất cứ đâu, bất cứ cái gì bạn thấy là phương pháp cải thiện phản xạ kỹ năng nói hiệu quả nhất cho dù vốn từ có hạn hẹp đến mức nào. Bạn có thể luyện tập chủ động như nói chuyện với bản thân trước gương, giao tiếp với bạn bè, người nước ngoài,… hoặc luyện tập thụ động bằng cách nói nhại, nói cùng lúc với âm thanh đang phát ở video tiếng Anh. 

    Luyện nghe và tập phản xạ nghe – đáp lại

    Nghe tốt tạo khả năng nói tốt. Luyện tập nghe hàng ngày sẽ giúp tai bạn nhạy hơn khi giao tiếp tiếng Anh. Từ đó, có thể hiểu người đối diện đang muốn đề cập đến việc gì để phản hồi ngay lập tức thay vì trả lời với gương mặt ú ớ. Hay “Can you speak again?” Do đó, hãy tập cho đôi tai của mình phản xạ kỹ năng nghe ít nhất 15 phút mỗi ngày.

    Tạo môi trường luyện nói tiếng Anh hiệu quả

    Tìm kiếm cho bản thân một môi trường luyện nói tiếng Anh đa dạng là một cách giúp bạn luôn hứng thú với giao tiếp tiếng Anh. Một môi trường bao quanh tiếng Anh là cơ hội vàng giúp việc luyện nói luôn được cọ xát và tôi luyện ngày qua ngày. Du học ngắn hạn, chủ động giao tiếp với khách Tây ở công viên hay quán cafe, phản biện ở lớp học,… được xem là một số ý tưởng thú vị giúp phản xạ giao tiếp của bạn luôn được vận hành cực hiệu quả mà không gây cảm giác mệt mỏi.

    App học tiếng Anh giao tiếp miễn phí và trả phí

    Không có khả năng chi trả các chi phí khi đến các lớp hay trung tâm Anh ngữ để có lộ trình học, bạn có thể lựa chọn hình thức học online như sử dụng app học tiếng Anh giao tiếp miễn phí và có trả phí để rèn luyện ngay tại nhà.

    Thông thường, các app học này có mức phí khả rẻ và linh hoạt. Bạn có thể học từ vựng, phát âm, luyện nói và nghe trên app ngay tại nhà đơn giản.

    Học nói tự nhiên hơn với 122 mẫu câu giao tiếp tiếng Anh cơ bản thông dụng, hàng ngày

    Những mẫu câu học giao tiếp tiếng Anh thông dung cơ bản 3: Saying Goodbye/Tạm biệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Thi Đại Học, Cao Đẳng Tiếng Anh Các Khối D, Khối A1 – Giảng Viên Hồng Lê
  • Từ / Ngữ Thể Hiện Chức Năng Giao Tiếp Đơn Giản
  • Những Điều Cần Chú Ý Về Chức Năng Giao Tiếp
  • Vai Trò Của Yếu Tố Giáo Dục Đối Với Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách
  • Vị Trí, Vai Trò Và Nhiệm Vụ Của Giáo Viên Tiểu Học. – Trung Tâm Đất Việt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100