Trình Bày Các Chức Năng Của Quản Lý Giáo Dục

--- Bài mới hơn ---

  • Các Chức Năng Quản Trị
  • Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Quản Trị
  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Nhà Quản Trị
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Bản chất của quá trình quản lý giáo dục được thể hiện ở các chức năng quản lý. Chức năng quản lý là một phạm trù chiếm vị trí then chốt trong các phạm trù cơ bản của kế hoạch khoa học quản lý, là những loại hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, là những loại hoạt động quản lý đã được tách riêng, chuyên môn hoá.

    Các chức năng quản lý là những hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích đến tập thể người. Các công trình nghiên cứu về kế hoạch khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống nhất về 4 chức năng quản lý giáo dục. Đó là: Chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ chức, chức năng lãnh đạo, chức năng kiểm tra.

    1. Chức năng kế hoạch hóa

    Kế hoạch hóa là hoạch định các công việc cần thực hiện một cách chủ động và khoa học. Kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, giúp trù liệu cho việc thực hiện đạt kết quả tốt. Kế hoạch hoá là chức năng quan trọng nhất của việc lãnh đạo, soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất. Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý và bị quản lý trong nhà trường. Tùy theo cách tiếp cận mà ta có thể phân loại kế hoạch GD:

    – Dựa vào yếu tố thời gian: có kế hoạch dài hạn (chiến lược GD) (10-15n), kế hoạch trung hạn ( 5-7 n), kế hoạch ngắn hạn (2-3n)

    – Quy mô quản lí: kế hoạch tổng thể, kế hoạch bộ phận

    – Nguồn lực GD: kế hoạch xây dựng đội ngũ, kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, kế hoạch quản lí tài chính…

    – Hoạt động giáo dục: kế hoạch dạy học, kế hoạch Ngoại khóa, kế hoạch bồi dưỡng GV.

    Lập kế hoạch là thiết kế các bước đi cho hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu nhưng nguồn lực đã có và sẽ khai thác. Lập kế hoạch có hai cấp: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Tuy nhiên, sự phân định kế hoạch vĩ mô hay vi mô tùy theo điều kiện, hoàn cảnh và theo thời gian cụ thể. Khi cần lập kế hoạch cần thực hiện theo các bước:

    B1: Nhận thức đầy đủ về yêu cầu của công việc cần thực hiện.

    B2: Phân tích trạng thái xuất phát của đối tượng quản lý.

    B3: Xác định nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch. Đây là điều kiện làm cho kế hoạch khả thi.

    B4: Xây dựng sơ đồ kế hoạch chung cho việc lập kế hoạch

    Việc lập kế hoạch tốt sẽ giúp nhà quản lý giáo dục có kế hoạch khả năng ứng phó với sự bất định và sự thay đổi và cho phép nhà quản lý tập trung chú ý vào các mục tiêu và tìm cách tốt nhất, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức để đạt được mục tiêu và giúp nhà quản lý dễ dàng kiểm tra trong quá trình thực hiện.

    Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?… Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp đại học. Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

    2. Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục

    Chức năng tổ chức của quản lý giáo dục là thiết kế cơ cấu, phương thức và quyền hạn hoạt động của các bộ phận (cơ quan) quản lý giáo dục sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Đây là chức năng phát huy vai trò, nhiệm vụ, sự vận hành và sức mạnh của tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của quản lý. Có thể nói tổ chức là một công cụ.

    Nhiệm vụ của nó càng chuyên sâu thì khả năng hoạt động có hiệu quả càng cao. Sản phẩm của một tổ chức chỉ tồn tại bên ngoài nó. Một tổ chức phải có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng như quy chế, quy định, nội quy…và coi đây là điều kiện để tổ chức hoạt động có hiệu quả. Tổ chức giáo dục phải có sự bình đẳng trong quan hệ.

    Một tổ chức tốt phải được xây dựng trên các nguyên tắc sau:

    1. Xác định cơ cấu của tổ chức phải gắn với mục đích, mục tiêu của hệ thống, phải gắn với nội dung công việc cụ thể. Vì cơ cấu tổ chức là công cụ để thực hiện mục tiêu của hệ thống.

    2. Việc xây dựng cơ cấu tổ chức phải bảo đảm nguyên tắc chuyên môn hóa, cân đối và dựa vào nhiệm vụ cụ thể. Con người trong cơ cấu tổ chức phải được sắp xếp phù hợp với chuyên ngành đào tạo. Phải cụ thể hóa nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của từng bộ phận, từng cá nhân.

    3. Xây dựng tiêu chuẩn hóa trong tổ chức giúp cho nhà quản lý và các thành viên đánh giá và tự đánh giá công việc của mình.

    Sự phát triển của quản lý đã dẫn đến việc hình thành các kiểu cơ cấu tổ chức quản lí kế hoạch khác nhau. Đó là: Kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến, kiểu chức năng, kiểu cơ cấu trực tuyến-chức năng; kiểu tổ chức chính thức và không chính thức; kiểu ma trận. Mỗi kiểu đều có ưu điểm, nhược điểm riêng. Tùy theo điều kiện cụ thể, có thể lựa chọn cho phù hợp để vận hành có hiệu quả.

    3. Chức năng điều khiển chỉ đạo thực hiện

    Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lí. Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển, chỉ đạo cho hệ thống hoạt động theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Người điều kiện hệ thống phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.

    Quyết định là công cụ chính để điều khiển hệ thống. Ra quyết định là quá trình xác định vấn đề và lựa chọn một phương án tối ưu trong số những phương án khác. Việc ra quyết định quyết định xuyên suốt trong quá trình quản lí, từ việc lập kế hoạch, xây dựng tổ chức cho đến việc kiểm tra đánh giá.

    4. Chức năng kiểm tra

    Chức năng kiểm tra là chức năng cố hữu của quản lý. Không có kiểm tra sẽ không có quản lý. Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý. Kiểm tra là hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định.

    Kiểm tra là một quá trình thường xuyên để phát hiện sai phạm, uốn nắn, giáo dục và ngăn chặn, xử lí. Mục đích của kiểm tra là xem xét hoạt động của cá nhân và tập thể có phù hợp với nhiệm vụ hay không và tìm ra ưu nhược điểm, nguyên nhân. Qua kiểm tra người quản lí cũng thấy được sự phù hợp giữa thực tế, nguồn lực và thời gian, phát hiện những nhân tố mới, những vấn đề đặt ra.

    Nhà quản lí có thể kiểm tra các vấn đề như: kiểm tra kế hoạch, tài chính hay chuyên môn.

    + Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục

    + Bản chất và vai trò của quản lý và quản lý giáo dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Chức Năng Của Nhà Quản Lý
  • Khái Niệm, Vai Trò Và Chức Năng Của Quản Lý
  • Bài 20. Cấu Tạo Trong Của Phiến Lá
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Vai Trò Phòng Nhân Sự
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Hành Chánh Nhân Sự
  • Bài 2: Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 3: Sự Phát Triển Các Hình Thái Tiền Tệ
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Theo Quan Điểm Của Nhà Kinh Tế Học Hiện Đại? Nêu Ý Nghĩa?
  • Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế
  • Tiền Tệ Và Chính Sách Tiền Tệ
  • Câu Hỏi Tự Ôn Tập Chương Tiền Tệ
  • Tóm tắt lý thuyết

    Dù tiền là vỏ sò, vải, muối, vàng hoặc giấy nền kinh tế, tiền cũng có bôn chức năng cơ bản là:

    • Phương tiện trao đổi,
    • Đơn vị đo lường giá trị
    • Phương tiện dự trữ về măt giá tri.
    • Tiền tệ thế giới

    Trong các chức năng trên, ba chức năng đầu mang tính chất truyền thông, chức năng thứ tư xuất hiện trong nền kinh tế hội nhập hiện nay.

    • Trong hầu hết các giao dịch trên thị trường trong nền kinh tế, tiền dưới dạng tiền mặt hoặc Séc là một phương tiện trao đổi; có nghĩa là nó được dùng để mua bán hàng hóa, dịch vụ, hoặc thanh toán các khoản nợ trong và ngoài nước.
    • Việc dùng tiền làm phương tiện trao đổi đã nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, bởi nó đã tiết kiệm được các chi phí quá lớn trong quá trình trao đổi trực tiếp (hàng đổi hàng). Thời gian tiêu hao khi gắng sức dùng để trao đổi hàng hóa dịch vụ được gọi là chi phí giao dịch (bao gồm chi phí thời gian và chi phí tài chính). Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp hàng đổi hàng, các chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí giao dịch thường rất cao. Bởi vì, người mua, người bán phải tim được những người trùng hợp về nhu cầu trao đổi, thời gian trao đổi, không gian trao đổi. Quá trình trao đổi chỉ được diễn ra khi có sự phù hợp đó. Người có hàng hóa bán lấy tiền, sau đó sẽ mua hàng mà họ cần. Bởi vậy, người ta coi tiền như một phương tiện cần thiết, tiện dụng, cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, khuyến khích chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội ngày một sâu rộng hơn.

    Ví dụ: Một người nông dân muốn bán ngũ cốc và cần dụng cụ. Một thợ thủ công muôn đổi dụng cụ để lấy thịt. Giữa hai người này sẽ không bao giờ có một cuộc mua bán trao đối, vì ý định bán của người nông dân không phù hợp với ý định mua của người thợ thủ công. Cả hai người có thể phải tìm kiếm rất lâu cho đến khi gặp được một người có ý định giao dịch phù hợp. Khi có tiền làm phương tiện trao đổi quá trình này được đơn giản hóa đi rất nhiều: Người nông dân thứ nhất có thể bán ngũ cốc cho một người thứ ba và dùng tiền thu được để mua dụng cụ tại người thợ thủ công. Người thợ thủ công có thể dùng tiền thu được mua thịt tại một người thứ tư.

    Việc dùng tiền làm một phương tiện trao đổi giúp đẩy mạnh hiệu quả của nền kinh tế, qua việc loại bỏ được nhiều thời gian dành cho việc đổi chác hàng hóa hay dịch vụ qua nhiều lần trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng.

    Để tiền làm tốt chức năng này tiền phải đạt được một số ưu điểm:

    • Phải được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng, có tính đồng nhất cao để thuận tiện cho việc xác định giá trị trong từng quốc gia.
    • Phải được chấp nhận một cách rộng rãi của những người trao đổi hàng hóa.
    • Có thể chia nhỏ được nhờ đó tạo thuận lợi cho người trao đổi.
    • Dễ chuyên chở, di chuyển.
    • Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng do tác động của khí hậu, thời tiết, môi trường…
    • Tiền tệ là đơn vị đo lường giá trị của hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi. Người ta đo giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như người ta đo trọng lượng của một vật bằng kilogram, đo chiều dài một vật bằng mét. Vì vậy, biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa chính là giá cả của hàng hóa đó.
    • Chức năng này là chức năng quan trọng của tiền tệ. Khi nền kinh tế có tiền tệ làm môi giới, thì người ta định giá bằng đơn vị tiền tệ cho tất cả các loại hàng hóa đem trao đổi trên thị trường. Trên thị trường có bao nhiêu hàng hóa đưa ra trao đổi thì có bấy nhiêu giá cả.
    • Chức năng này là chức năng quan trọng vì trong nền kinh tế có rất nhiều mặt hàng khác nhau, nếu không có chức năng này của tiền tệ, thì chúng ta phải trực tiếp định giá từng mặt hàng để trao đổi thứ này lấy thứ khác. Các nhà kinh tế Mỹ đã tính toán rằng nếu không có chức năng này của tiền tệ, thì với 10 mặt hàng chúng ta phải tính toán 45 giá để trao đổi một thứ hàng này với thứ hàng khác. Với 100 mặt hàng chúng ta cần phải tính toán được 4.950 giá, với 1.000 mặt hàng chúng ta cần tính 499.500 giá. (Ví dụ: 1 giờ lao động = 15 bánh mì; 1 giờ lao động = 01 cái áo; 1 giờ lao động = lkg thịt; 15 bánh mì = 01 cái áo; 01 cái áo = 1 kg thịt,…).

    Công thức cho biết số giá ta cần khi ta có N mặt hàng giống như công thức tính số cặp khi có N phần tử:

    Thời gian dùng để tính toán và chi phí giao dịch sẽ rất lớn.

    Khi đưa tiền vào nền kinh tế và định giá bằng đơn vị tiền cho tất cả các mặt hàng, chúng ta có thể định giá được tất cả các hàng hóa dịch vụ bằng đồng tiền. Bao nhiêu mặt hàng có bấy nhiêu giá chẳng hạn có 1.000 mặt hàng thì có 1.000 giá, thay vì là 499.500 giá như khi chưa có tiền. (Ví dụ: 5 đơn vị tiền = 1 giờ lao động = 15 bánh mì = 1 cái áo = 1 kg thịt =…), vì thế mà khi so sánh giá cả không còn phải tốn nhiều công sức nữa.

    Bảng 1.1: So sánh các mức giá trong một nền kinh tế trao đổi với các mức giá trong một nền kinh tế dùng tiền

    Từ bảng trên chúng ta có thể thấy rằng việc dùng tiền làm một đơn vị đánh giá giảm được chi phí thời gian để giao dịch trong nền kinh tế do giảm số giá cần phải xem xét.

    Khi nền sản xuất xã hội càng phát triển thì lợi ích của chức năng đo lường giá trị của tiền tệ càng tăng lên. Ngày nay, người ta đo lường giá trị hàng hóa, dịch vụ không phải chỉ bằng tiền mặt mà còn đo lường giá trị hàng hóa dịch vụ bằng Séc, hối phiếu, kỳ phiếu hoặc là các chứng từ có giá khác.

    • Một phương tiện trao đổi cần giữ được giá trị của nó. Vì thế, chỉ các loại hàng hóa không bị hư hỏng nhanh chóng mới làm phương tiện dự trữ về mặt giá trị. Nếu tiền không tồn tại, thì một người nông dân chỉ có khả năng trao đổi lương thực để lấy các hàng hóa khác cho đến khi lương thực này bị hư hỏng. Vì thế khi có tiền người nông dân có thể trao đổi lương thực để lấy tiền sớm hơn.
    • Tiền tệ làm phương tiện dự trữ về mặt giá trị, nghĩa là tiền tệ là nơi chứa giá trị; có nghĩa là nơi chứa sức mua hàng hóa trong một thời gian nhất định. Theo đó người ta có thể tách thời gian từ lúc có thu nhập đến lúc tiêu dùng. Chức năng này là quan trọng vì mọi người không muốn chi tiêu hết thu nhập của họ ngay khi nhận nó, mà dự trữ để sử dụng nó trong tương lai.
    • Tất nhiên, tiền không phải là vật duy nhất chứa đựng giá trị, mà các tài sản khác cũng là nơi chứa giá trị như cổ phiếu, thương phiếu bất động sản… Phần lớn trong số những loại tài sản này có lợi hơn so với tiền xét về mặt hàm chứa giá trị; trong tương lai chúng thường đem lại cho người chủ sở hữu chúng một lãi suất cao hơn lãi suất do tiền mang lại. Nhưng do tiền là tài sản có tính lỏng hay tính thanh khoản (liquidity) cao nhất. Nhờ vào đặc tính này một tài sản có thể chuyển đổi thành một phương tiện trao đổi và đấy là một tính chất nổi bật của tiền, tiền là phương tiện trao đổi, nó không cần phải chuyển đổi thành bất cứ cái gì khác với mục đích mua hàng hóa hoặc chi trả tiền dịch vụ và thanh toán các khoản nợ. Những tài sản khác đòi hỏi chi phí giao dịch khi cần chuyển sang tiền. Trong nền kinh tế hàng hóa, tiền đóng vai trò quan trọng do những tiện ích mà nó mang lại.

    Ví dụ như khi ta bán nhà, thường phải trả cho người môi giới một khoản phí môi giới, và nếu lại cần tiền mặt ngay để trả cho một nhu cầu khẩn cấp có thể buộc lòng phải bán giá thấp hơn để bán nhanh ngôi nhà. Nhưng nếu ta giữ tiền mặt thì ta sẽ không mất khoản phí môi giới và cũng không phải bán ngôi nhà với giá thấp hơn.

    • Vì vậy tiền là một phương tiện dự trữ về mặt giá trị có nhiều ưu điểm trong nền kinh tế hàng hóa. Tuy vậy nó phải tùy thuộc vào mức giá vì giá trị của tiền được ấn định theo mức giá. Nếu các giá đều tăng gấp hai (lạm phát 100%) thì nghĩa là giá trị của tiền đã sụt một nửa, ngược lại nếu các giá giảm đi một nửa thì giá trị tiền sẽ tăng lên hai lần. Trong một cuộc lạm phát khi mức giá tăng lên nhanh chóng, tiền mất giá nhanh chóng dân chúng sẽ bất đắc dĩ mới giữ tiền. Điều này thể hiện rõ nhất trong thời kỳ siêu lạm phát. Trong nền kinh tế thị trường thì mức độ quan trọng của tiền cũng thay đổi, vì các hàng hóa của thị trường tài chính lại không phải là tiền mặt, mà là các chứng từ có giá như thương phiếu, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu v.v…
    • Vị thế của tiền (tiền mặt và các loại tiền khác) cũng là một phạm trù lịch sử, có thể thay đổi theo sự phát triển của nền kinh tế xã hội trong các giai đoạn khác nhau của xã hội loài người.
    • Khi trao đổi hàng hóa vượt qua khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Tiền thế giới cũng thực hiện ba chức năng nêu trên.
    • Trong giai đoạn đầu của sự hình thành quan hệ kinh tế quốc tế, đồng tiền đóng vai trò là tiền tệ thế giới phải là vàng bạc. Sau này song song với chế độ thanh toán bằng vàng bạc (kim loại quý), tiền giấy được bảo lãnh bằng vàng cũng được dùng làm phương tiện thanh toán quốc tế. Cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, chế độ tiền giấy bảo lãnh bằng vàng bị xóa bỏ, nên một số đồng tiền quốc gia mạnh được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế. Nền kinh tế của một quốc gia càng phát triển, nhất là kinh tế đối ngoại, khả năng chuyển đổi của đồng tiền quốc gia đó càng cao. Những đồng tiền được sử dụng làm phương tiện thanh toán quốc tế ở phạm vi và mức độ thông dụng nhất định gọi là những đồng tiền có khả năng chuyển đổi.
    • Việc chuyển đổi tiền của nước này ra tiền của nước khác được hình thành thao tỷ giá hôi đoái. Đó là giá trị một đồng tiền của một quốc gia này bằng đồng tiền của một quốc gia khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 2 Gdcd Lớp 11 Trường Thpt Tân Trào.html
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Chức Năng Và Tầm Quan Trọng Của Tiền Tệ
  • Em Hãy Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường. Lấy Ví Dụ Mỗi Chức Năng. Nêu Mong Muốn Của Bản Thân Em Trong Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Chức Năng Phương Tiện Trao Đổi (Medium Of Exchange) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2. Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Theo C. Mác, tiền tệ có năm chức năng sau đây:

    Thước đo giá trị

    – Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức nâng thước đo giá trị phải là tiền vàng.

    – Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là điển mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó trong ý tưởng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó.

    – Giá trị hàng hoá đưọc biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Hay nói cách khác, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá.

    Giá cả hàng hoá chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây:

    + Giá trị hàng hoá.

    + Giá trị của tiền.

    + Quan hệ cung – cầu về hàng hoá.

    Nhưng vì giá trị hàng hóa là nội dung của giá cả, nên trong ba nhân tố nêu trên thì giá trị vẫn là nhân tố quyết định giá cả.

    – Để tiền làm được chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được quy định một đơn vị tiền tệ nhất định làm tiêu chuẩn đo lường giá cả của hàng hoá. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thưốc đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ.

    Phương tiện lưu thông

    – Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá đòi hỏi phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.

    Công thức lưu thông hàng hoá là: H – T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    – Ở mỗi thời kỳ nhất định, lưu thông hàng hoá bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông, số lượng tiền này được xác định bởi quy luật chung của lưu thông tiền tệ.

    Theo C. Mác, nếu xem xét trong cùng một thời gian và trên cùng một không gian thì khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông được xác định qua công thức:

    Trong đó: T là số lượng tiền tệ cần cho lưu thông, H là số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường, G h là giá cả trung bình của 1 hàng hóa, G là tổng số giá cả của hàng hóa, N là số vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại.

    – Quá trình hình thành tiền giấy: lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    Phương tiện cất trữ

    – Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    – Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải.

    – Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuât tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    Phương tiện thanh toán

    – Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng…

    – Làm phương tiện thanh toán có thể bằng tiền mặt, séc, chuyển khoản, thẻ tín dụng… Khi sản xuất và trao

    đổi hàng hoá phát triển đến một trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, ngươi bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    – Trong điều kiện tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán thì công thức số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông sẽ được triển khai như sau:

    Nếu ký hiệu:

    T là số lượng tiền tệ cần cho lưu thông.

    G là tổng số giá cả của hàng hóa.

    G c là tổng số giá cả hàng bán chịu.

    T k là tổng số tiền khấu trừ cho nhau.

    T tt là tổng số tiền thanh toán đến kỳ hạn trả.

    N là sô vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại.

    Ta có:

    Tiền tệ thế giới

    Khi quan hệ buôn bán giữa các quốc gia với nhau xuất hiện, thì tiền tệ làm chức năng tiền tệ thế giới, nghĩa là thanh toán quốc tế. Làm chức năng tiền tệ thế giới phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được thừa nhận thnanh toán quốc tế. Việc đổi tiền của một quốc gia này thành tiền của một quốc gia khác được tiến hành theo tỷ giá hối đoái – đó là giá cả đồng tiền của một quốc gia này so với đồng tiền của quốc gia khác.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Phương Tiện Trao Đổi (Medium Of Exchange) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Em Hãy Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường. Lấy Ví Dụ Mỗi Chức Năng. Nêu Mong Muốn Của Bản Thân Em Trong Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Tiền Tệ Là Gì? Chức Năng Và Tầm Quan Trọng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ
  • Bài 2 Gdcd Lớp 11 Trường Thpt Tân Trào.html
  • Kết quả

    Các Chức Năng Của Tiền Tệ:

    Dù biểu hiện dưới hình thức nào, tiền tệ cũng có ba chức năng cơ bản: chức năng phương tiện trao đổi, chức năng đơn vị đánh giá và chức năng phương tiện dự trữ giá trị.

    1. Chức năng phương tiện trao đổi

    Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong việc trao đổi các hàng hoá, dịch vụ. Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lý do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá .

    Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ bán và mua với một người khác. Điều đó là đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm kiếm như vậy quá cao. Vì vậy người ta cần sử dụng tiền làm môi giới trong quá trình này, tức là người ta trước hết sẽ đổi hàng hoá của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hoá mình cần. Rõ ràng việc thực hiện lần lượt các giao dịch bán và mua với hai người sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc thưc hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người.

    Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:

    – Được chấp nhận rộng rãi: nó phải được con người chấp nhận rộng rãi trong lưu thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hoá mới đồng ý đổi hàng hóa của mình lấy tiền;

    – Dễ nhận biết: con người phải nhận biết nó dễ dàng;

    – Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc đổi chác giữa các hàng hoá có giá trị khác nhau;

    – Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng hoá ở khoảng cách xa;

    – Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;

    – Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong trao đổi;

    – Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngang nhau.

    2. Chức năng đơn vị đánh giá.

    Chức năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để đo giá trị của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế. Qua việc thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối kượng bằng kg, đo độ dài bằng m…nhờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diễn ra thuận lợi hơn.

    Nếu giá trị hàng hoá không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ được định giá bằng tất cả các hàng hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hoá, do phần lớn thời gian đã dàng cho việc đọc giá hàng hoá. Khi giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch.

    Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm trung gian, các tỉ lệ trao đổi được hình thành theo tập quán – tức là ngay từ khi mới ra đời, việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá. Đầu tiên những phương tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hoá cũng có giá trị như các hàng hoá khác. Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hoá khác chính là tiền cũng có giá trị sử dụng như các hàng hoá khác (Theo phân tích của Marx về sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị hàng hoá: giá trị hàng hoá được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá chung). Vì vậy trong thời đại ngày nay, mặc dù các phương tiện được sử dụng là tiền không còn có giá trị như các hàng hoá khác nhưng nó được mọi người chấp nhận trong lưu thông (có giá trị sử dụng đặc biệt), do đó vẫn được sử dụng để đánh giá giá trị các hàng hoá. Trong bất kể nền kinh tế tiền tệ nào việc sử dụng tiền làm đơn vị đo lường giá trị đều mang tính chất trừu tượng, vừa có tính pháp lý, vừa có tính quy ước.

    3. Chức năng phương tiện dự trữ giá trị

    Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian. Khi người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải.

    Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện ngoài tiền như: Cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao về giá so với việc giữ tiền mặt. Tuy nhiên người ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang tiền. Những điều đó cho thấy, tiền là một phương tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác.

    Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng hoá mà nó có thể đổi được. Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại. Sự mất giá nhanh chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy ra khi lạm phát cao. Vì vậy để tiền thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sức mua của tiền phải ổn định.

    Nguồn: Th.S Trần Ái Kết (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Của Tiền Tệ: Phân Tích Cụ Thể Mỗi Chức Năng Của Tiền
  • Tiền Tệ Là Gì Công Dân 11?
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:

    1 tấm bò = 2 cái rìu

    Hình thái giá trị tương đối – vật ngang giá chung

    Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.

    – Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất – bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác

    Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)

    Ví dụ: 10 kg thóc

    2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)

    0,1 chỉ vàng

    – Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại (kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tư cách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ. Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi là một HH đặc biệt.

    Kết luận:

    – Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền KT – XH

    – Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi HH. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung.

    – Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt.

    Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.

    Theo Mac, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

    Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

    3.1 Chức năng thước đo giá trị (standard of value)

    Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.

    Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này.

    Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.

    Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N

    3.2 Chức năng phương tiện trao đổi (Medium of exchange)

    Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.

    Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

    Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:

    – Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền: H-T

    – Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H

    Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không di liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng.

    3.3 Chức năng phương tiện thanh toán (standard of deferred payment)

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    3.4 Chức năng phương tiện tích lũy (store of value or store of purchasing power)

    Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

    Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời.

    Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

    3.5 Chức năng tiền tệ thế giới (world currency)

    Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

    Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.

    Nguồn: trithuccongdong.net

    Trong các chức năng của tiền tệ trên thì chức năng phương tiện trao đổi chính là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Bởi vì, ngày nay tiền tệ luôn là phương tiện bôi trơn cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Trình Bày Đặc Điểm Cấu Tạo Và Chức Năng Của Các Loại Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuốc Bổ Thần Kinh Giúp Ngủ Ngon Của Nhật Orihiro Mẫu Mới 2022 Đang Hot Vừa Về
  • Top 18 Thuốc Bổ Não, Bổ Thần Kinh, Tăng Cường Trí Nhớ
  • Mua Thực Phẩm Chức Năng Bổ Thần Kinh, Bổ Não Giá Tốt
  • Top 12 Thực Phẩm Chức Năng Bổ Não Của Nhật Tốt, Giảm Đau Đầu Giá Từ 500K
  • 4 Thuốc Bổ Não Của Nhật Tăng Cường Trí Nhớ Giảm Đau Đầu Hỗ Trợ Điều Trị Tiền Đình
  • * Mô biểu bì:

    – Mô biểu bì (biểu mô) là một loại mô bao gồm các tế bào nằm lót trong các khoang trống và các bề mặt của các cấu trúc trong cơ thể. Nhiều tuyến của cơ thể cũng được cấu tạo chủ yếu bằng mô biểu bì. Nó luôn nằm tựa lên mô mô liên kết, và nằm giữa hai lớp mô này là màng đáy.

    – Trong cơ thể người, mô biểu bì được phân loại là một trong những mô căn bản, cùng với các mô khác như mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh.

    – Chức năng của các tế bào mô biểu bì bao gồm chế tiết, thẩm thấu chọn lọc, bảo vệ, vận chuyển giữa các tế bào và cảm thụ xúc giác.

    * Mô liên kết:

    – Mô liên kết là loại mô phổ biến nhất trong cơ thể. Mô liên kết có ở hầu hết khắp các bộ phận của cơ thể, xen giữa các mô khác, chúng gắn bó với nhau. Mô liên kết có nguồn gốc từ lá thai giữa, tức là từ trung mô. Trong cơ thể có nhiều loại mô liên kết. Mỗi loại mô đều được hình thành bởi:

    + Thành phần gian bào gồm phần lỏng gọi là dịch mô; phần đặc hơn, có tính đặc của một hệ keo gọi là chất căn bản

    + Các sợi liên kết vùi trong chất căn bản

    + Các tế bào liên kết nằm rải rác trong thành phần gian bào

    – Mô liên kết được gọi là loại mô giàu thành phần gian bào (được coi như môi trường bên trong cơ thể). Gồm ba loại lớn:

    + Mô liên kết chính thức, có mật độ mềm và có mặt ở khắp nơi trong cơ thể

    + Mô sun, chất căn bản có chứa cartilagein (chất sụn), có mật độ rắn vừa phải

    + Mô xương, chất căn bản có chứa ossein và muối canxi vì vậy mật độ rắn

    – Mô xương và mô sụn là bộ khung của cơ thể.

    * Mô cơ:

    – Mô cơ là một loại mô liên kết trong cơ thể động vật. Mô cơ có 3 chức năng chính: di chuyển cơ thể, chống chịu sức ép, và tạo nhiệt cho cơ thể. Gồm 3 loại: mô cơ vân, mô cơ tim, mô cơ trơn.

    – Các tế bào đều dài. Cơ vân gắn với xương, tế bào có nhiều nhân, có vân ngang. Cơ trơn tạo nên thành nội quan như dạ dày, ruột, mạch máu, bàng quang… Tế bào cơ trơn có hình thoi đầu nhọn và chỉ có 1 nhân. Cơ tim tạo nên thành tim. Tế bào cơ tim phân nhánh, có nhiều nhân.

    – Chức năng: co, dãn, tạo nên sự vận động

    * Mô thần kinh:

    – Mô thần kinh gồm các tế bào thần kinh gọi là neuron và các tế bào thần kinh đệm (còn gọi là thần kinh giao)

    – Chức năng của mô thần kinh là tiếp nhận kích thích, xử lí thông tin và điều hòa hoạt động các cơ quan đảm bảo sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan và sự thích ứng với môi trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Mạng Thần Kinh Bằng Thư Viện Java
  • Các Chức Năng Kích Hoạt Mạng Thần Kinh Từ Góc Nhìn Của Lập Trình Viên
  • Khoa Nội Thần Kinh Tổng Quát
  • Giải Phẫu Hạch Cơ Bản Và Chức Năng / Khoa Học Thần Kinh
  • Các Loại Hạch Thần Kinh Và Chức Năng Của Phần Này Của Hệ Thần Kinh / Khoa Học Thần Kinh
  • Trình Bày Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh: Thay Đổi Nhận Thức Và Hành Động
  • Tại Sao Cha Mẹ Phải Giáo Dục Con Cái
  • Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân 10
  • Bài Giảng Giáo Dục Gia Đình
  • Bài làm

    Văn học là sức sáng tạo của con người thể hiện quan niệm sống, thái độ sống trước những sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh cuộc sống của con người. Nó thường thể hiện những giá trị chân thực trong cuộc sống đời thường của con người.

    Đồng thời nó cũng thể hiện cái nhìn nhân sinh quan của tác giả. Văn học thường thể hiện tâm tư, tình cảm của người dân. Ngoài ra nó cũng có những chức năng riêng của mình.

    Chức năng nhận thức:

    Chức năng nhận thức là nhằm cung cấp kiến thức cho con người, giúp con người phát triển, tư duy, khả năng đánh giá sự vật hiện tượng, tìm hiểu về nguồn gốc lịch sử, vị trí địa lý của nhân loại.

    Trong chức năng nhận thức này chúng ta có thể thấy bất kỳ một bài thơ bài văn nào đều có những mục đích, ý nghĩa sâu xa nằm trong đó. Nó đưa tới người đọc, một giá trị nào đó, nhằm giúp người đọc hiểu sâu xa hơn về vấn đề.

    Chức năng thẩm mỹ:

    Chức năng thẩm mỹ là hướng con người tới cái đẹp. Hướng tới cái chân thiện mỹ, giúp con người sống tốt hơn. Phát huy tính nhân văn của mình. Văn học cũng như những môn nghệ thuật khác đều hướng con người tới giá trị thẩm mỹ của cuộc sống. Nhằm ca ngợi những cái hay, cái đẹp, làm tấm gương cho người khác noi theo.

    Bản chất sâu xa của văn học chính là chứa đựng cái đẹp trong những câu chuyện, những ngôn ngữ giàu hình ảnh của mình. Cho nên, văn học phải đáp ứng được tính thẩm mỹ của con người.

    Một tác phẩm văn học chân chính là tác phẩm hướng con người tới những giá trị đích thực của cuộc sống, phải hướng con người tới giá trị chân thiện mỹ, khơi sáng tâm hồn cho con người. Đó mới là tác phẩm văn học xuất sắc.

    Tính giáo dục:

    Trong bất kỳ một tác phẩm văn học nào đều có tính giáo dục riêng của nó. Với những bài thơ cách mạng thì giáo dục lòng yêu nước, tinh thần căm thù giặc.

    Với những tác phẩm văn học bình thường thì giáo dục tình cảm con người, sự chung thủy son sắc, sự anh dũng, hy sinh…Tất cả những tác phẩm văn học đều chứa một ý nghĩa giáo dục riêng của mình.

    Trong thực tế thì người đọc rất khó để có thể nhận thức rõ được ba chức năng này của văn học một cách rõ ràng tách biệt, bởi ba chức năng này thường gắn bó mật thiết với nhau tạo nên tính nghệ thuật cho văn chương. Tạo nên sự thành công cho mỗi tác phẩm.

    Văn mẫu lớp 10

    Từ khóa tìm kiếm:

      hay làm rõ các chức năng của văn học lớp 10

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Một Số Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Đời Sống Xã Hội.
  • Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh
  • Giáo Dục Học Sinh Thông Qua Bảo Tàng
  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Thuyết: Phép Toán, Biểu Thức, Câu Lệnh Gán Trang 24 Sgk Tin Học 11
  • Tin Học 11 Bài 6: Phép Toán, Biểu Thức, Câu Lệnh Gán
  • Những Hoạt Động Cơ Bản Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Bản Chất, Chức Năng Và Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước Nói Chung, Của Hà Giang Nói Riêng Trong Sự
  • Bài 3: Ngân Hàng Trung Ương
  • Cấu tạo da gồm 3 lớp : lớp biểu bì, lớp bì và lớp mỡ dưới da. Ngoài cùng là tầng sừng gồm những tế bào chết đã hóa sừng, xếp sít nhau, dễ bong ra. Dưới tầng sừng là lớp tế bào sống có khả năng phân chia tạo ra tế bào mới, trong tế bào có chứa các hạt sắc tố tạo nên màu da. Các tế bào mới sẽ thay thế các tế bào ở lớp sừng bong ra. Phần dưới lớp tế bào sống là lớp bì cấu tạo từ các sợi mô liên kết bền chặt trong đó có các thụ quan, tuyến mồ hôi, tuyến nhờn, lông và bao lông, cơ co chân lông, mạch máu. Lớp mỡ dưới da chứa mở dự trữ, có vai trò cách nhiệt.

    Lông, móng là sản phẩm của da. Lòng bàn tay và gan bàn chân không có lông. Lông, móng được sinh ra từ các túi cấu tạo bởi các tế bào của tầng tế bào sống.

    Chức năng của da gồm:

    -Bảo vệ da khỏi tác động bên ngoài môi trường, giữ độ ẩm cho da: ở lớp ngoài cùng biểu bì có chứa các nhân tố dưỡng ẩm tự nhiên (NMFs)- Những chất này gắn kết với nước và giúp duy trì được sự đàn hồi, sự vững chắc và mềm mại của da. Khi độ ẩm của lớp sừng xuống còn từ 8- 10%, da trở nên khô, sần sùi và có xu hướng bị nứt nẻ.

    -Đàn hồi, bảo vệ da: Các tế bào mỡ ở mô dưới da cung cấp lớp đệm hoạt động như thiết bị giảm va chạm, bảo vệ các mô cơ và các sợi mô bao quanh cơ ở phía dưới. Khả năng đệm của màng hydrolipid và axit bảo vệ giúp bảo về cơ thể khỏi các chất hóa học có tính kiềm gây hại.

    Bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn và vi rút: lớp sừng của biểu bì và các axit bảo vệ chống lại các loại vi khuẩn và nấm. Nếu có tác nhân nào đó vượt qua được rào cản đầu tiên thì hệ thống miễn dịch của da sẽ phản ứng lại.

    -Điều chỉnh nhiệt độ: Da đổ mồ hôi giúp làm mát cơ thể và thu nhỏ lại hệ thống các mạch máu ở hạ bì để giữ nhiệt.

    -Kiểm soát cảm xúc: Đầu các dây thần kinh ở da khiến da nhạy cảm với áp lực, chấn động, va chạm, nỗi đau và nhiệt độ .

    -Sự tái tạo: da có khả năng phục hồi các vết thương

    -Cung cấp dinh dưỡng: các tế bào chất béo ở mô dưới da cung cấp các chất dinh dưỡng quan trọng. Khi cơ thể cần, những chất này sẽ được di chuyển đến các mạch máu và đưa đến nơi cần thiết.

    -Da cũng đóng một vai trò quan trọng về tâm lý: Là chỉ số dễ thấy nhất của sức khỏe. Sở hữ một làn da khỏe mạnh, hồng hào, tươi nhuận sẽ luôn giúp bạn cảm thấy thoải mái và tự tin hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sinh Lý Hệ Tiêu Hóa
  • Ngân Hàng Trung Ương Nhà Nước Việt Nam
  • Ngân Hàng Thương Mại Và Vai Trò Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Việt Nam: Tạo Tế Bào Chức Năng Gan Từ Tế Bào Gốc
  • Agribank Triển Khai Nhiệm Vụ Kinh Doanh Năm 2022
  • Trình Bày Cấu Trúc Và Chức Năng Của Nst

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 5. Nst Và Đột Biến Cấu Trúc Nst Bi5Nstvtbincutrcnst Doc
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Nst
  • Sinh 9 T16 Adn Va Ban Chat Doc
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Dna Cautrucchucnangadn Ppt
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Dna (2) Cautrucchucnangadn1 Ppt
  • Câu 1: NST là cấu trúc có ở

    A. Bên ngoài tế bào B. Trong các bào quan

    C. Trong nhân tế bào D. Trên màng tế bào

    Câu 2: Trong tế bào ở các loài sinh vật, NST có dạng:

    A. Hình que B. Hình hạt C. Hình chữ V D. Nhiều hình dạng

    Câu 3: Trong quá trình nguyên phân, có thể quan sát rõ nhất hình thái NST ở vào kì:

    A. Vào kì trung gian B. Kì đầu C. Kì giữa D. Kì sau

    Câu 4: ở trạng thái co ngắn, chiều dài của NST là:

    A. Từ 0,5 đến 50 micrômet B. Từ 10 đến 20 micrômet

    C. Từ 5 đến 30 micrômet D. 50 micrômet

    Câu 5: Đường kính của NST ở trạng thái co ngắn là:

    A. 0,2 đến 2 micrômet B. 2 đến 20 micrômet

    C. 0,5 đến 20 micrômet. D. 0,5 đến 50 micrômet

    Câu 6: Khi chưa nhân đôi, mỗi NST bao gồm:

    A. Một crômatit B. Một NST đơn C. Một NST kép D. cặp crômatit

    Câu 7: Thành phần hoá học của NST bao gồm:

    A. Phân tử Prôtêin B. Phân tử ADN

    C. Prôtêin và phân tử ADN D. Axit và bazơ

    Câu 8: Một khả năng của NST đống vai trò rất quan trọng trong sự di truyền là:

    A. Biến đổi hình dạng B. Tự nhân đôi

    C. Trao đổi chất D. Co, duỗi trong phân bào

    Câu 9: Đặc điểm của NST trong các tế bào sinh dưỡng là:

    A. Luôn tồn tại thành từng chiếc riêng rẽ

    B. Luôn tồn tại thành từng cặp tương đồng

    C. Luôn co ngắn lại

    D. Luôn luôn duỗi ra

    Câu 10: Cặp NST tương đồng là:

    A. Hai NST giống hệt nhau về hình thái và kích thước

    B. Hai NST có cùng 1 nguồn gốc từ bố hoặc mẹ

    C. Hai crômatit giống hệt nhau, dính nhau ở tâm động

    D. Hai crômatit có nguồn gốc khác nhau

    Câu 11: Bộ NST 2n = 48 là của loài:

    A. Tinh tinh B. Đậu Hà Lan C. Ruồi giấm D. Người

    A. Có hai cặp NST đều có hình que

    B. Có bốn cặp NST đều hình que

    C. Có ba cặp NST hình chữ V

    D. Có hai cặp NST hình chữ V

    Câu 13: Trong tế bào sinh dưỡng của mỗi loài, số NST giới tính bằng:

    A. Một chiếc B. Hai chiếc C. Ba chiếc D. Bốn chiếc

    Câu 14: Giảm phân là hình thức phân bào xảy ra ở:

    A. Tế bào sinh dưỡng B. Tế bào sinh dục vào thời kì chín

    C. Tế bào mầm sinh dục D. Hợp tử và tế bào sinh dưỡng

    Câu 15: Điều đúng khi nói về sự giảm phân ở tế bào là:

    A. NST nhân đôi 1 lần và phân bào 2 lần

    B. NST nhân đôi 2 lần và phân bào 1 lần

    C. NST nhân đôi 2 lần và phân bào 2 lần

    D. NST nhân đôi 1 lần và phân bào 1 lần

    Câu 16: Kết thúc quá trình giảm phân, số NST có trong mỗi tế bào con là:

    A. Lưỡng bội ở trạng thái đơn B. Đơn bội ở trạng thái đơn

    C. Lưỡng bội ở trạng thái kép D. Đơn bội ở trạng thái kép

    Câu 17: Trong giảm phân, tự nhân đôi NST xảy ra ở:

    A. Kì trung gian của lần phân bào I B. Kì giữa của lần phân bào I

    C. Kì trung gian của lần phân bào II D. Kì giữa của lần phân bào II

    Câu 18. Giao tử là:

    A. Tế bào dinh dục đơn bội

    B. Được tạo từ sự giảm phân của tế bào sinh dục thời kì chín

    C. Có khả năng tạo thụ tinh tạo ra hợp tử

    D. Cả A, B, C đều đúng

    Câu 19: Trong quá trình tạo giao tử ở đông vật, hoạt động của các tế bào mầm là:

    A. Nguyên phân B. Giảm phân

    C. Thụ tinh D. Nguyên phân và giảm phân

    Câu 20: Từ một noãn bào bậc I trải qua quá trình giảm phân sẽ tạo ra được:

    A. 1 trứng và 3 thể cực B. 4 trứng

    C. 3 trứng và 1 thể cực D. 4 thể cực

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Cấu Trúc Hóa Học Và Chức Năng Của Phân Tử Atp
  • Nêu Đặc Điểm Cấu Tạo Hóa Học Của Adn
  • Nhân Đôi Adn Nhan Doi Adn Ppt
  • Sự Khác Biệt Giữa Topoisomerase I Và Ii
  • Trắc Nghiệm Môn Sinh Học 12 Bài 1
  • Các Tính Chất Của Tiền Bạc, Chức Năng Và Các Loại Của Nó. Cung Tiền

    --- Bài mới hơn ---

  • Xã Hội Học Về Tiền Bạc
  • Lên Kế Hoạch Chi Tiêu Thông Minh Với Chức Năng Ngân Sách Của Money Lover
  • Vai Trò Của Bộ Phận Tiền Sảnh Trong Khách Sạn Cần Biết
  • Tiền Sảnh Là Gì? Nhiệm Vụ Của Từng Bộ Phận Trong Tiền Sảnh!!
  • Giới Thiệu Khối Tiền Sảnh Trong Khách Sạn
  • Cung tiền trong lưu thông được trình bày trong hai hình thức. Đã gọi tiền xu và tiền giấy. tiền như mệnh giá (cho họ) tương ứng với sản. Xem xét chi tiết hơn nữa các chức năng và tính chất của đồng tiền.

    tiền cắc

    Hình thức của loại tiền này là khác nhau. Thứ nhất, nó đã được đóng hộp, sau đó – trọng. Coins của giai đoạn sau có điểm nổi bật của pháp luật thành lập. Các hình thức thuận tiện nhất của tiền kim loại – vòng. Ban đầu sử dụng bạc và vàng đồng xu. Sau đó di chuyển trong nửa thứ 2 của thế kỷ 19. Kiếm tiền ra vàng là do các đặc tính của kim loại. Chúng cho phép đồng tiền phù hợp với mục đích của họ. tính chất cơ bản của tiền kim loại nằm trong thực tế rằng họ có chi phí riêng của mình và không phải chịu khấu hao. tiền xu vàng được coi là công cụ tài chính đủ linh hoạt. Họ có thể được thích nghi với điều kiện hiện có, không ảnh hưởng đến các chủ sở hữu tương ứng của họ. Khi một quốc gia có rất nhiều tiền bằng vàng, có nghĩa là, số của họ vượt quá nhu cầu thực sự cho họ, họ được gửi đến khu bảo tồn. Trong trường hợp cần thiết đối với các đồng tiền đang trở lại và một lần nữa bắt đầu được sử dụng. Trong hoàn cảnh như vậy, nó không đòi hỏi bất kỳ biện pháp đặc biệt để điều chỉnh số tiền, vì nó xảy ra với tiền giấy, ví dụ. Tuy nhiên, có nhược điểm. Chúng bao gồm các yếu tố sau:

    1. khai thác vàng không có thời gian cho việc giải phóng hàng. Trong bối cảnh này, nó không cung cấp đầy đủ nhu cầu cho tiền.
    2. Đánh giá cao xu di động không thể được sử dụng trên doanh thu nhỏ.
    3. Tiền vàng là đắt hơn nhiều so giấy.

    hóa đơn

    tiền giấy của Nga xuất hiện để thay thế các đồng tiền vàng. Sự khác biệt giữa giá danh nghĩa và giá trị của sản lượng hình thành nên kho bạc lợi nhuận phát thải. Nó đóng vai trò như một yếu tố quan trọng thu nhập quốc dân. Tiền giấy phát hành đồng thời với các đồng tiền vàng, dần dần thay thế cuối cùng của điều trị. Với sự phát thải mở rộng xuất hiện và phát triển ngân sách. Giá trị của nó được xác định bởi nhà nước nhu cầu về tiền bạc. Lưu ý vấn đề không được quy định nhu cầu về kim ngạch. cơ chế tự động loại bỏ chúng trong dự trữ sẵn. Về vấn đề này, nó không thể đảm bảo tiền ổn định.

    sụt giá

    Khi một quốc gia có rất nhiều tiền ra giấy, họ có thể ở lại “trên tay” không phụ thuộc vào doanh thu. Kết quả là, họ bị choáng ngợp với các kênh buôn bán và bắt đầu giảm giá. Điều này xảy ra vì những lý do sau đây:

    Thuộc tính cơ bản của tiền giấy là họ là những dấu hiệu của giá trị và do nhà nước để trang trải thâm hụt trong ngân sách. Như một quy luật, họ không được quy đổi thành vàng và ưu đãi với lãi suất bắt buộc.

    dấu hiệu tín dụng

    Họ xuất hiện với sự khởi đầu của sự phát triển của sản xuất hàng hoá, trong trường hợp thực hiện đã được thực hiện trong lần (tín dụng). xảy ra họ có điều kiện về việc thực hiện các chức năng và tính chất của tiền như một phương tiện thanh toán. Họ đóng vai trò như một nghĩa vụ mà phải được giải quyết trong một thời gian nhất định. Mục đích kinh tế của ghi chú là:

    Tiền giấy được vay tiền để Nga. Chúng được phát hành bởi Ngân hàng Trung ương để thực hiện các hoạt động tương ứng của các khoản vay và tiến bộ trong các quy trình kinh doanh khác nhau. Cung cấp các tổ chức tín dụng ngân hàng có thể phân bổ quỹ riêng của khách hàng vay. Vào cuối giai đoạn vay sử dụng, họ sẽ được trả lại cho truy thu.

    đặc điểm nổi bật

    tiền giấy và tiền giấy được phân biệt cổ điển:

    Trong trường hợp vi phạm của các quỹ tín dụng do mất lợi ích của họ và trở thành thuộc tính chung tiền. Họ lần lượt trong các trường hợp như vậy chi phí trong những dấu hiệu giấy.

    tính tiền

    chi phí trong những dấu hiệu hoạt động như một tương đương phổ quát. Họ có một phức tạp ba đặc điểm:

    exchangeability ngay lập tức

    Người ta tin rằng đây là tài sản chính của tiền bạc. Nó thể hiện trong quá trình trao đổi hoặc bán. Một phần của dân Tài chính quy đổi ra sản phẩm khác nhau, như một quy luật, mặt hàng thiết yếu để sử dụng cá nhân. Các quỹ, được dùng để bù đắp cho chi phí sản xuất và mở rộng của nó, không thể được sử dụng để mua các mặt hàng đáp ứng nhu cầu cá nhân của họ. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, số tiền xuất hiện tính năng quan trọng – sự trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ.

    giá trị trao đổi

    Các biểu hiện của khách sạn này, số tiền đang trong quá trình sản xuất của công trình chứa trong sản phẩm bằng bằng cách so sánh giá của mình với chi phí của dấu hiệu. Mục biểu diễn theo tỷ giá hối thông số (giá cả). Trong trường hợp này, tiền bạc là một tương đương phổ quát. Họ có một phong trào độc lập nhất định. Quỹ có thể tích lũy tiết kiệm, tham gia vào việc duy trì các mối quan hệ kinh tế giữa những cá nhân cụ thể khác. Đồng thời các tính chất của tiền không cho phép họ trở thành giàu có tuyệt đối. Điều này là do thực tế là sự chuyển động của chi phí lao động trong mọi trường hợp đóng vai trò như giá thật của sản phẩm. Ví dụ, với chi phí vốn nên được đưa vào các xu hướng tài khoản và lạm phát ảnh hưởng đến quá trình phân phối lại.

    lao động xã hội

    cuộc hẹn

    Thuộc tính cho phép sử dụng tiền của họ cho:

    Tóm tắt các chức năng này, chúng ta có thể nói rằng số tiền được sử dụng để cung cấp kiểm soát đối với biện pháp của lao động và tiêu dùng, đánh giá các hoạt động tài chính, công nghiệp và kinh tế của công ty, kế toán, thống kê, phân tích. Một đặc điểm cụ thể của việc thực hiện các nhiệm vụ đóng vai trò như một sử dụng lý tưởng của các quỹ.

    giá

    khái niệm trong nước

    Ở Nga, hướng phổ biến nhất của sự phát triển trong những vấn đề tiền bạc như một biện pháp chi phí được coi là như sau:

    1. Hình thành giá của hàng hóa mà không cần sử dụng các quỹ là không thể.
    2. Giá đóng vai trò như một giá trị tiền tệ – giá trị của sản phẩm.
    3. chỉ số thị trường có giới hạn trên và dưới của độ lệch. Nó có thể được trình bày như là bình đẳng: thấp hơn ngưỡng = + chi phí doanh thu, ngưỡng trên = lợi nhuận + nhu cầu.
    4. Độ lệch cho phép để phân phối lại sản phẩm quốc dân giữa các lĩnh vực khác nhau và các lĩnh vực dân số.

    đặc tính

    kinh phí

    Việc sử dụng tiền như một phương tiện đếm đặc trưng của một nền kinh tế thị trường phát triển. Trong hoàn cảnh như vậy, thiết lập giá hoạt động như tinh thần hoạt động hoàn hảo được dựa trên truyền thống. Những thay đổi trong hệ thống tài chính theo hình thức cải cách tiền tệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các giáo phái không làm thay đổi chức năng. Trong những trường hợp này, việc điều chỉnh là tùy thuộc vào quy mô của giá cả.

    phương tiện kim ngạch

    Trong các điều kiện xử lý tiền được coi là một trung gian trao đổi trong quá trình chuyển động đồng thời của các dịch vụ và hàng hoá. Nhiệm vụ này được thực hiện bắt buộc bởi nhân vật có thật, nhưng không phải trong mọi trường hợp, cao cấp. Mục đích của chức năng này như sau:

    Trong trường hợp của xu hướng suy giảm số tiền mà không thực hiện chức năng này, kích thích sự trao đổi quốc tịch. Điều này, đến lượt nó, dẫn đến sự xuất hiện của nền kinh tế bóng.

    vấn đề

    Khi rối loạn trong hệ thống tài chính (ví dụ, do lạm phát phi mã, thiếu dấu hiệu “trên tay”) có nguồn gốc mục đích đông tiền đóng vai trò như một phương tiện. Điều này, đến lượt nó, khiêu khích sự phát triển của trao đổi, lưới. Có những người đại diện psevdodengi nền kinh tế bóng tăng lên. Tình trạng này dẫn đến giảm các khoản thanh toán ngân sách, chuyển không thanh toán, giảm trong khả năng thanh toán của người dân, cung cấp và tổng cầu.

    tích lũy quỹ

    Điều kiện tiên quyết để tích lũy

    Tăng trưởng tiết kiệm của công dân do:

    1. tăng thu nhập của người dân.
    2. Những thay đổi trong cấu trúc của nhu cầu tiêu dùng theo hướng hàng hóa tiêu thụ dài hạn.
    3. Mong muốn tạo điều kiện cho việc tiếp tục cuộc sống quen thuộc sau khi khuyết tật.
    4. Mong muốn loại bỏ những mâu thuẫn giữa tiêu dùng và thu nhập của những người trẻ (trong trường hợp này, các khoản tiết kiệm đang hướng đến việc duy trì trẻ em).

    loại tiết kiệm

    Các khoản tiết kiệm có thể được thừa hưởng thiên nhiên. Trong trường hợp này các quỹ được tổ chức tại các ngân hàng và tổ chức tài chính khác. Đây là loại tiết kiệm phù hợp với điều kiện thị trường, kể từ khi tổ chức tín dụng mất quỹ thặng dư phân bổ lại lợi ích kinh tế của họ. Tích trữ (tiết kiệm bằng tiền mặt) không có giá trị nào. Sự phát triển của hình thức này kích động nghịch lý của tiết kiệm. Trong trường hợp này, nhà nước mất quyền kiểm soát việc phân phối các dòng tài chính. Tiền bạc, thực hiện chức năng tích tụ, ảnh hưởng đến sức mua, thay đổi động lực của nó ảnh hưởng đến vị trí của nó tùy thuộc vào dân số và khối lượng của nó.

    phương tiện thanh toán

    Khi chức năng tiền như một phương tiện trao đổi, phong trào của họ xảy ra đồng thời với sự di chuyển của hàng hoá. Nếu thanh toán được thực hiện cụ nhiệm vụ được hình thành một khoảng cách tạm thời. Sự khác biệt giữa sự di chuyển của tiền bạc và hàng hóa được coi là đặc trưng chức năng này. thực hiện của nó được gắn liền với nghĩa vụ khác nhau và nhu cầu trả nợ. Tiền như một phương tiện thanh toán được sử dụng trong:

    1. Trả, dồn tích lương hưu.
    2. Trả nợ và lãi.
    3. Thi hành thuế, chuyển khoản thanh toán.
    4. Thực hiện thanh toán bảo hiểm.
    5. Thực hiện các quyết định tư pháp và hành chính.

    Trong số các tính năng của chức năng này, cần lưu ý:

    1. Tham gia các hình thức khác nhau của tiền – tiền mặt / không dùng tiền mặt – như tài chính thực sự.
    2. Khả năng tham gia của các xe bị lỗi.
    3. Không thực hiện các nhiệm vụ có thể kích hoạt tăng khả năng khủng hoảng thanh toán.

    tài chính toàn cầu

    Số tiền tham gia vào giao thông quốc tế. Sử dụng trạng thái khác nhau của họ và người nước ngoài (người không cư trú), làm cho chúng nguồn lực của thế giới. Tài chính, phục vụ quan hệ kinh tế quốc tế, gọi là tiền tệ. hành tiền tương đương chung có tính thanh khoản tuyệt đối. quỹ toàn cầu được sử dụng để bù đắp thâm hụt trong cán cân thanh toán trong khuôn khổ trao đổi quốc tế. Hôm qua, hợp đồng tại các thị trường nước ngoài là bằng đô la Mỹ. tệ Đây không phải là tính thanh khoản cao nhất và chuyển đổi.

    phần kết luận

    Ngày nay, cả giấy và kim loại tiền được sử dụng trong lưu thông. Tuy nhiên, điều này không phải là hoàn thành từ vàng. Khuôn mặt của tiền kim loại được gọi là mặt, phần đảo ngược được gọi là ngược lại. Mép của đồng xu được gọi là gốc. Để ngăn chặn các loại thiệt hại, bờ vực của tiền kim loại đã được rifling. Trong điều kiện hiện đại, các ngân hàng trung ương của các quốc gia thực hiện vấn đề tiền giấy có phẩm giá nhất định. Về bản chất, chúng hoạt động như một đồng tiền quốc gia hoạt động trên lãnh thổ của một quốc gia cụ thể. Giấy đặc biệt được sử dụng cho sản xuất. Bảo vệ được sử dụng để bảo vệ chống lại giả mạo. Tiền với sự phát triển của quan hệ thị trường có được ý nghĩa quan trọng nhất. Thời điểm hàng hóa được trao đổi cho hàng hoá, đã trở thành một điều của quá khứ. Tuy nhiên, ngày nay có một thực tế của các giao dịch trao đổi. Tuy nhiên, lưu thông tiền tệ được xem là ưu tiên trong các giao dịch kinh tế. Tài chính tạo ra rất nhiều cơ hội cho cả người dân và các tổ chức. Sự sẵn có của các quỹ đóng vai trò như một điều kiện bắt buộc đối với việc đăng ký các pháp nhân. Điều này đặc biệt áp dụng cho các tổ chức tài chính. Khối lượng vốn chủ sở hữu đánh giá sự ổn định của doanh nghiệp trên thị trường, khả năng thanh toán, sẵn sàng trả nợ. Quan trọng không kém là tiền cho dân cư. Nhiều công dân sử dụng phương tiện của họ để mua các sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Một phần dân số tìm kiếm để tích lũy tiền để đảm bảo độc lập về tài chính trong thời gian tới. Ưu tiên của tiết kiệm hoặc chi tiêu thường được thiết lập tùy thuộc vào tình hình kinh tế trong và ngoài nước. Quan trọng trong trường hợp này có các khóa học về tiền tệ “dự kiến” ổn định. Chúng bao gồm, đặc biệt là đồng euro và đồng USD. Không nghi ngờ gì nữa là khẳng định rằng tình trạng tài chính, mức độ khả năng thanh toán của người dân, doanh nghiệp, nhà nước nói chung phản ánh sự thịnh vượng chung của người dân, chất lượng cuộc sống, điều kiện làm việc trong nước. Càng cao thì càng có nhiều cơ hội của nhà nước, nền kinh tế càng bền vững thì càng dễ tồn tại bất cứ tác động tiêu cực nào.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiền Trong Nền Kinh Tế
  • Chức Năng Bất Of Money Là Gì? ·
  • Vì Sao Bitcoin Có Chức Năng Lưu Trữ Giá Trị?
  • Hỏi Đáp Mọi Thứ Về Chặng Đường Từ 0,01 Đến 11.000 Usd Của Tiền Điện Tử Bitcoin
  • Coins.ph Là Gì? Một Số Chức Năng Của Ví Bitcoin Philippines
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100