Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng

--- Bài mới hơn ---

  • 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng
  • Một Số Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Chú Trọng Triển Khai Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Chủ Động Triển Khai Những Biện Pháp Phòng Và Chống Tham Nhũng Có Hiệu Quả
  • Tội Phạm Tham Nhũng Và Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Tham nhũng là một thực trang rất nghiêm trọng ở nước ta hiện nay. Tham nhũng gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, cản trở sự phát triển của đất nước trong tiến trình hội nhập với thế giới, làm xí mòn long tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tệ nạn này diễn ra trên mọi lĩnh vực, từ cấp Trung ương đến địa phương. Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đồng bộ thể hiện sự quyết tâm trong việc đấu tranh chống tham nhũng. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua. Với tư cách là một giáo viên, giữ vai trò quan trong trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật Phòng chống tham nhũng đến học sinh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ” Những vấn đề cơ bản về pháp luật phòng, chống tham nhũng. Liên hệ thực tiễn về thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện nay” để nâng cao hiểu biết, giúp công tác giảng dạy của bản thân đạt kết quả tốt hơn.

    – Nâng cao hiểu biết của bản thân về pháp luật Phòng, chống tham nhũng.

    – Nâng cao ý thức tự giác chấp hành các nội dung pháp luật Phòng, chống tham nhũng của bản thân

    – Nắm nội dung cơ bản của pháp luật Phòng, chống tham nhũng để phục vụ giảng dạy tốt hơn.

    3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

    3.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp:

    Trên cơ sở kinh nghiệm giảng dạy của bản thân qua nhiều năm công tác giảng dạy và quá trình nghiên cứu tài liệu sách báo, tôi tiến hành phân tích, lựa chọn một số phương pháp nâng cao nhận thức pháp luật có hiệu quả.

      Nội dung nghiên cứu đề tài

    – Những vần đề cơ bản của pháp luật phòng chống tham nhũng.

    – Liên hệ thực tiễn về việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng, chống tham nhũng hiện nay.

    NỘI DUNG

      KHÁI NIỆM THAM NHŨNG

      1. Định nghĩa

      Tại khoản 2, Điều I của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi . Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước. Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu.

      2. Những đặc trưng cơ bản

      Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau:

      2.1. Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn

      Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó (khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005).

      2.2. Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao

      “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Chủ thể tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng.

    2.3. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi

    Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.

      Biểu hiện của hành vi tham nhũng

      Theo điều 3 Luật Phòng chống tham nhũng quy những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng:

      – Tham ô tài sản.

      – Nhận hối lộ.

      – Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

      – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

      – Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

      – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.

      – Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.

      – Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.

      – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.

      – Nhũng nhiễu vì vụ lợi.

      – Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

      – Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

      – Về hành vi “đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi”: Đây là một biểu hiện mới của tệ tham nhũng. Do vẫn còn tồn tại cơ chế “xin – cho” trong nhiều lĩnh vực nên có nhiều cá nhân đại diện cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương đã tìm cách hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn phụ trách việc phê duyệt chương trình, dự án, cấp kinh phí, ngân sách để được lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình và thông qua đó để đạt được các lợi ích cá nhân. Hành vi này được coi là hành vi tham nhũng. Điều cần lưu ý là hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự không thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng mà thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ. Còn hành vi đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ được thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi thì mới được coi là hành vi tham nhũng. Hành vi này vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự với tội danh tương ứng (nếu hành vi đó cấu thành tội phạm), vừa là hành vi tham nhũng theo sự điều chỉnh của pháp luật về tham nhũng.

      – Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản nhà nước vì vụ lợi”: Đây là hành vi lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sản của nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vì phục vụ cho lợi ích công. Biểu hiện cụ thể của hành vi này thường là cho thuê tài sản như: nhà xưởng, trụ sở, xe ôtô và các tài sản khác nhằm vụ lợi. Số lượng tài sản cho thuê nhiều khi lớn. Hành vi này diễn ra khá phổ biến hiện nay.

      – Về hành vi “nhũng nhiễu vì vụ lợi”: Nhũng nhiễu là hành vi đã được mô tả trong phần thuật ngữ khái niệm. Cần nhấn mạnh thêm hành vi này xuất hiện trong hoạt động của một số cơ quan công quyền, nhất là tại các cơ quan hành chính, nơi trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp.

    – Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”. Hành vi tham nhũng nhiều khi được che chắn thậm chí là có sự đồng lõa của những người có chức vụ, quyền hạn ở cấp cao hơn. Vì vậy, việc phát hiện và xử lý tham nhũng là hết sức khó khăn. Việc bao che cho người có hành vi tham nhũng, việc cản trở quá trình phát hiện tham nhũng có khi được che đậy dưới rất nhiều hình thức khác nhau như: thư tay, điện thoại, nhắc nhở, tránh không thực hiện trách nhiệm của mình hoặc có thái độ, việc làm bất hợp tác với cơ quan có thẩm quyền…

    – Hành vi “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” là hành vi thường được gọi là “bảo kê” của những người có trách nhiệm quản lý, đặc biệt là một số người làm việc tại chính quyền địa phương cơ sở, đã “lờ” đi hoặc thậm chí tiếp tay cho các hành vi vi phạm để từ đó nhận lợi ích từ những kẻ phạm pháp. Đây là hiện tượng hết sức nguy hại cần phải loại bỏ.

    II- NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA THAM NHŨNG

    Những nghiên cứu về tham nhũng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cũng cho thấy tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn với sự xuất hiện chế độ tư hữu, sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước, quyền lực nhà nước và các quyền lực công khác. Tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ với những mức độ khác nhau.

    Cùng với sự phát triển của các hình thái nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ chính trị – kinh tế tạo ra những tiền đề khách quan quan trọng làm cho tham nhũng phát triển. Lợi ích là yếu tố chủ quan dẫn đến tham nhũng. Khi còn điều kiện để lợi ích kết hợp với sự lạm quyền của những người có chức vụ, quyền hạn thì vẫn còn có khả năng xảy ra tham nhũng.

    Có nhiều nguyên nhân và điều kiện phát sinh tham nhũng, trong đó có những nguyên nhân, điều kiện cơ bản sau:

    1. Nguyên nhân và điều kiện khách quan

    – Hệ thống chính trị chậm được đổi mới, trình độ quản lý còn lạc hậu, mức sống thấp, pháp luật chưa hoàn thiện, tạo ra các kẽ hở cho tệ tham nhũng nảy sinh và phát triển.

    – Cơ chế chính sách pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, việc phân cấp quản lí giữa Trung ương và địa phương, phân biệt quản lí nhà nước và quản lí sản xuất, kinh doanh có phần chưa rõ.

    Quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải có thời gian, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tiếp tục hoàn

    – Do ảnh hưởng của tập quán văn hoá như biếu và quà tặng bị lợi dụng để thực hiệ hành vi tham nhũng.

    2. Nguyên nhân và điều kiện chủ quan

    – Phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị suy thoái; công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên còn yếu kém

    Cải cách hành chính vẫn còn chậm và lúng túng, cơ chế “xin – cho” trong hoạt động công vụ còn phổ biến; thủ tục hành chính phiền hà, nặng nề, bất hợp lý

    – Sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong một số trường hợp chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên; xử lý chưa nghiêm đối với hành vi tham nhũng

    – Thiếu các công cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu

    Những năm qua, hoạt động điều tra, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát đã thu được một số kết quả tích cực nhưng trên thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Về pháp luật, chúng ta chưa có những quy định cho phép các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp đặc biệt để có thể phát hiện các hành vi tham nhũng nên hiệu quả phát hiện tham nhũng chưa cao.

      Tác hại về xã hội

      Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

      LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CÔNG TÁC PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG HIỆN NAY

    Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) nói chung, pháp luật về phòng chống tham nhũng nói riêng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Trong những năm qua, việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng được chú trọng và không ngừng nâng cao. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng được Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 8 thông qua, trong đó có quy định cụ thể các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lí các hành vi tham nhũng. Ngay sau luật này ra đời,chính phủ đã tiến hành chỉ đạo các cấp, các ngành quán triệt nội dung của Luật, đồng thời chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tập trung tuyên truyền, phổ biếp pháp luật về Phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Chính phủ ban hành nhiều quyết định, chỉ thị yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tiến hành các kế hoạch tuyên truyền, phổ bến pháp luật về phòng chống tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, học sinh, sinh viên và các tầng lớp khác trong xã hội. Chẳng hạn, ngày 02 tháng 12 năm 2009, Thủ tướng chính phủ ra Quyết định 137/2009/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng; chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12 tháng 6 nam 2013 của Thủ tướng hính phủ về việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo từ năm học 2013-2014…Chính phủ và các Bộ, ngành, các cơ quan từ trung ương đến địa phương đưa đưa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng thành nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, thông qua nhiều hình thức, nhiều biện pháp. Việc phổ biến pháp luật Phòng chống tham nhũng đã tạo sự đồng thuận trong xã hội, góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. Kết quả thực hiện phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng bước đầu đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận.

    Tuy nhiên, mặc dù đạt được một số kết quả, song qua thực tế cho thấy việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng vẫn còn nhiều hạn chế. việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa đáp ứng được sự kì vọng của Nhà nước và xã hội. Nhiều địa phương, nhiều cơ quan chưa thấy được tầm quan trọng của việc thực hiện công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng, dẫn đến việc thực hiện còn mang tính đối phó, có lệ. Hình thức phổ biến chưa phong phú và linh hoạt, thời lượng tuyện truyền còn hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tế. Trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng còn mang tính lí thuyết, tuyên truyền suông. Chính vì vậy, chưa góp phần thay đổi lớn trong nhận thức và ý thức trong công tác phòng chống tham nhũng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới hiệu quả của công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng cũng như công tác phòng chống tham nhũng đạt kết quả chưa cao.

    KẾT LUẬN

    Từ khi ban hành vào năm 2005, Luật Phòng chống tham nhũng đã trải qua nhiều lần lần sửa đổi, bổ sung (cụ thể vào các năm 2007 và năm 2012 với mục đích làm cho những quy định của Luật phù hợp hơn với thực tiễn của đời sống xã hội.Nó tạo ra một cơ chế phòng, ngừa, phát hiện tham nhũng toàn diện và sâu rộng, mang tính phòng ngừa sớm trong xã hội, qua đó góp phần xây dựng một cơ chế quản lý nhà nước, quản lý xã hội “nói không với tham nhũng”, “không thể tham nhũng”, giảm thiểu các nguy cơ phát sinh tham nhũng hoặc dễ dàng phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý kịp thời đối với các hành vi có dấu hiệu tham nhũng. Tuy nhiên, để công tác phòng chống tham nhũng có hiệu quả, bên cạnh vai trò của Đảng, của Nhà nước cần có sự hành động chung tay tích cực của cả hệ thống chính trị, cơ quan, đoàn thể, ban ngành, đặc biệt là vai trò của quần cúng nhân dân. Với thực trạng tham nhũng hiện nay có thể xem tham nhũng là một thứ giặc cực kì nguy hiểm, cản trở nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và để chống lại loại giặc ” nội xâm” ấy, phải huy động sức mạnh của nhân dân. Để làm được điều đó, nhà nước ta cần tăng cường thực hiện công tác phổ biến pháp luật phòng chống tham nhũng thông qua nhiều hình thức như thông qua báo chí, thành lập tổ tư vấn pháp luật, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thống, pa-nô, áp phích, tranh cổ động, tổ chức thi tìm hiểu pháp luật, lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị, đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở…. nhằm nâng hiểu biết của nhân dân đối với pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đồng thời có ý thức tốt hơn trong việc thực hiện pháp luật và thực hiện các hoạt động tố cáo những hành vi tham nhũng, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

    LÊ THỊ THANH TÂM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Học Hỏi Kinh Nghiệm Chống Tham Nhũng Của Các Thành Viên Apec
  • Nhiều Giải Pháp Phòng Ngừa Trong Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Cần Xây Dựng Các Biện Pháp Có Tính Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Tăng Cường Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
  • Tiểu Luận Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Trần Đề Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phòng Ngừa, Quyết Tâm Không Để Xảy Ra Tham Nhũng
  • Đề Ra Các Giải Pháp Để Phòng, Chống, Ngăn Chặn Kịp Thời Hành Vi Tham Nhũng
  • Tập Trung Thực Hiện 6 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Trong Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng(*)
  • Phòng, Chống Tham Nhũng::thực Hiện Đồng Bộ Các Nhóm Nhiệm Vụ, Giải Pháp Trong Phòng, Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Tập Trung Thực Hiện Đồng Bộ Và Có Hiệu Quả Các Nhóm Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tiểu Luận Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng, Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng, Đáp án Tìm Hiểu Pháp Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Vai Trò Của Pháp Luật Trong Phòng Chống Tham Nhũng, Giáo Trình Pháp Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Muc Tieu Phuong Cham Giai Phap Phong Chong Chong Dich Loi Dung Dan Toc Ton Giao , Luận Văn Phòng Chống Tham Nhũng, Thể Lệ Giải Báo Chí Toàn Quốc Báo Chí Với Công Tác Đấu Tranh Phòng Chống Tham Nhũng Lãng Phí, Báo Cáo Giải Trình Tiếp Thu ý Kiến Thẩm Định Của Bộ Tư Pháp Về Dự án Phòng Chống Ma Túy, Báo Cáo Giải Trình Tiêp Thu ý Kiến Thẩm Định Của Bộ Tư Pháp Về Dự án Luật Phòng Chông Ma Tuy (sử Đổ, Báo Cáo Giải Trình Tiếp Thu ý Kiến Thẩm Định Của Bộ Tư Pháp Về Luật Phòng Chống Ma Túy, Báo Cáo Giải Trình Tiêp Thu ý Kiến Thẩm Định Của Bộ Tư Pháp Về Dự án Luật Phòng Chông Ma Tuy (sử Đổ, Phuong Huong Va Giai Phap Co Ban Phong Chong Dien Bien Hoa Binh Va Phong Chong Bao Loan, Tiểu Luận Pháp Luật Đại Cương Về Tham Nhũng, Các Văn Bản Chỉ Đạo Về Phòng Chống Tham Nhũng, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Phòng Chống Tham Nhũng, Văn Bản Chỉ Đạo Về Phòng Chống Tham Nhũng, Hợp Tác Phòng Chống Tham Nhũng, Chỉ Thị Phòng Chống Tham Nhũng, Báo Cáo Phòng Chống Tham Nhũng, Bản Cam Kết Phòng Chống Tham Nhũng, Mẫu Báo Cáo Phòng Chống Tham Nhũng, Chỉ Thị Về Phòng Chống Tham Nhũng, Báo Cáo Kết Quả Phòng Chống Tham Nhũng, Văn Bản Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng, Sổ Tay Phòng, Chống Tham Nhũng, Đáp án Phòng Chống Tham Nhũng, Chỉ Thị Số 10 Về Phòng Chống Tham Nhũng, Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Về Phòng Chống Tham Nhũng, Văn Bản Chỉ Đạo Công Tác Phòng Chống Tham Nhũng, Bộ Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Bài Thu Hoạch Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Đã Sửa Đổi, Báo Cáo Kết Quả Công Tác Phòng Chống Tham Nhũng, Hướng Dẫn Về Phòng, Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Của Bộ Y Tế, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Ra Đời Khi Nào, Báo Cáo Kế Hoạch Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng 55, Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Kế Hoạch Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng.doc, Dự án Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Mục Đích Của Phòng Chống Tham Nhũng, Báo Cáo Tổng Kết 5 Năm Phòng Chống Tham Nhũng, Đáp án Cuộc Thi Phòng Chống Tham Nhũng, Dự Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Pdf, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Số 55, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Sửa Đổi, Góp ý Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Xem Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Mẫu Báo Cáo Phòng Chống Tham Nhũng Năm 2022, Giải Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Địch Lợi Dụng Vấn Đề Dân Tộc, Ttoon Giáo Chống Phá Cách Mạng Nươcs T, Giải Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Địch Lợi Dụng Vấn Đề Dân Tộc, Ttoon Giáo Chống Phá Cách Mạng Nươcs T, Điều 3 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng 2005, Điều 1 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Điều 4 Chương 4 Phòng Chống Tham Nhũng, Điều 10 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Nghị Quyết Số 82 Về Phòng Chống Tham Nhũng, Giáo án Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng 2007, Luật Phòng Chống Tham Nhũng ở Việt Nam, Luật Phòng Chống Tham Nhũng ở Singapore, Điều 6 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Hợp Nhất, Điều 54 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Năm 2012, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Năm 2011, Điều 5 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Năm 2005, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Mới Nhất, Điều 44 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Điều 43 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Năm 2007, Điều 70 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Góp ý Dự Thảo Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Điều 37 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng 2012, Luật Phòng Chống Tham Nhũng 2013, Luật Phòng Chống Tham Nhũng 2022, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Download, So Kết Công Tác Đấu Tranh Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Đã Sửa Đổi Bổ Sung, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Điều 37, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Việt Nam, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Và Văn Bản Hướng Dẫn, Điều 4 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Điều 32 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Tiếng Anh, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Sửa Đổi Năm 2007, Điều 42 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Quy Định Của Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Điều 38 Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Sua Doi Bo Sung, ý Nghĩa Luật Phòng Chống Tham Nhũng, ý Nghĩa Của Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Kế Hoạch Phòng Chống Tham Nhũng 2022,

    Tiểu Luận Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng, Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng, Đáp án Tìm Hiểu Pháp Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Vai Trò Của Pháp Luật Trong Phòng Chống Tham Nhũng, Giáo Trình Pháp Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Muc Tieu Phuong Cham Giai Phap Phong Chong Chong Dich Loi Dung Dan Toc Ton Giao , Luận Văn Phòng Chống Tham Nhũng, Thể Lệ Giải Báo Chí Toàn Quốc Báo Chí Với Công Tác Đấu Tranh Phòng Chống Tham Nhũng Lãng Phí, Báo Cáo Giải Trình Tiếp Thu ý Kiến Thẩm Định Của Bộ Tư Pháp Về Dự án Phòng Chống Ma Túy, Báo Cáo Giải Trình Tiêp Thu ý Kiến Thẩm Định Của Bộ Tư Pháp Về Dự án Luật Phòng Chông Ma Tuy (sử Đổ, Báo Cáo Giải Trình Tiếp Thu ý Kiến Thẩm Định Của Bộ Tư Pháp Về Luật Phòng Chống Ma Túy, Báo Cáo Giải Trình Tiêp Thu ý Kiến Thẩm Định Của Bộ Tư Pháp Về Dự án Luật Phòng Chông Ma Tuy (sử Đổ, Phuong Huong Va Giai Phap Co Ban Phong Chong Dien Bien Hoa Binh Va Phong Chong Bao Loan, Tiểu Luận Pháp Luật Đại Cương Về Tham Nhũng, Các Văn Bản Chỉ Đạo Về Phòng Chống Tham Nhũng, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Phòng Chống Tham Nhũng, Văn Bản Chỉ Đạo Về Phòng Chống Tham Nhũng, Hợp Tác Phòng Chống Tham Nhũng, Chỉ Thị Phòng Chống Tham Nhũng, Báo Cáo Phòng Chống Tham Nhũng, Bản Cam Kết Phòng Chống Tham Nhũng, Mẫu Báo Cáo Phòng Chống Tham Nhũng, Chỉ Thị Về Phòng Chống Tham Nhũng, Báo Cáo Kết Quả Phòng Chống Tham Nhũng, Văn Bản Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng, Sổ Tay Phòng, Chống Tham Nhũng, Đáp án Phòng Chống Tham Nhũng, Chỉ Thị Số 10 Về Phòng Chống Tham Nhũng, Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Về Phòng Chống Tham Nhũng, Văn Bản Chỉ Đạo Công Tác Phòng Chống Tham Nhũng, Bộ Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Bài Thu Hoạch Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Đã Sửa Đổi, Báo Cáo Kết Quả Công Tác Phòng Chống Tham Nhũng, Hướng Dẫn Về Phòng, Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Của Bộ Y Tế, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Ra Đời Khi Nào, Báo Cáo Kế Hoạch Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng 55, Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Kế Hoạch Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng.doc, Dự án Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Mục Đích Của Phòng Chống Tham Nhũng, Báo Cáo Tổng Kết 5 Năm Phòng Chống Tham Nhũng, Đáp án Cuộc Thi Phòng Chống Tham Nhũng, Dự Luật Phòng Chống Tham Nhũng, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Pdf, Luật Phòng Chống Tham Nhũng Số 55,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Đấu Tranh Phòng Và Chống Tham Nhũng Hiệu Quả
  • Không Có Vùng Cấm Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Cần Có Giải Pháp Đột Phá Nâng Cao Hiệu Quả Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tphcm: Đề Xuất 6 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kiểm Soát Quyền Lực Trong Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tp.hcm Kiến Nghị 6 Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trong Phòng, Chống Tham Nhũng
  • 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Chú Trọng Triển Khai Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Chủ Động Triển Khai Những Biện Pháp Phòng Và Chống Tham Nhũng Có Hiệu Quả
  • Tội Phạm Tham Nhũng Và Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Luận Văn Tội Phạm Tham Nhũng
  • Tham nhũng là vấn đề toàn cầu chứ không riêng gì tại Việt Nam. Tham nhũng ngăn cản ngăn cản đất nước phát triển, ngăn cản vượt qua các thách thức nghiêm trọng. Nó còn cản trở đầu tư trong và ngoài nước, làm lung lay, giảm niềm tin của Nhân dân đối với cán bộ.

    Download tài liệu

    Sinh viên sau khi học lớp Thanh viên viên chính tại Trường cán bộ thanh tra đã thực hiện đề tài: Một số vấn đề chung và tham nhũng và thực trạng công tác phòng chống tham nhũng. Trong phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận, sinh viên chỉ nêu những vấn đề chung (quan điểm của đảng, nhà nước trong vấn đề này)… Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa công tác, hiệu quả phòng chống tham nhũng.

    Đề tài: Phòng, chống tham nhũng tại Việt nam trong giai đoạn hiện nay và kiến nghị biện pháp phòng chống tham nhũng. Bài tiểu luận này của sinh viên đại học bách khoa thành phố Hồ Chí Minh. Trong khuôn khổ bài tiểu luận nhưng học sinh nêu lên những nội dung hết sức phong phú và đầy đủ về vấn đề này. Bài tiểu luận được đánh giá cao bởi việc nghiên cứu chi tiết. Cấu trúc bao gồm:

    Download tài liệu

    • Tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay
    • Những thách thức đặt ra trong công tác phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
    • Kiến nghị về công cuộc phòng, chống tham nhũng

    Đây là luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật. Phải nói rằng chuyên môn, mức độ nghiên cứu của bài luận này rất chuyên sâu. Bởi vì là luận án tiến sĩ nên việc nghiên cứu cũng phải kỹ lưỡng.

    Download tài liệu

    Không chỉ đưa ra những cơ sở lý luận của pháp luật về phòng chống, tham nhũng. Nghiên cứu sinh còn phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ về thực trạng pháp luật tại Việt Nam hiện nay. Từ cơ sở lý luận và thực trạng thì mới đưa ra quan điểm của mình và đề xuất yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật phòng chống tham nhũng.

    Đây là một công trình nghiên cứu khoa học cấp trường của sinh viên đại học luật tp Hồ Chí Minh. Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích nội dung.

    Nhóm sinh viên thực hiện nghiên cứu các bộ luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Singapore và tiến hành so sánh trên nhiều tiêu chí khác nhau. Ví dụ như: tên gọi của Luật, đối tượng, hiệu lục, thẩm quyền cơ quan điều tra, hình phạt…

    Download tài liệu

    Từ những đánh giá này để thấy được những điều cần phải cải tiến. Và đưa ra kiến nghị, kết luận nâng cao công cuộc phòng tham nhũng tại Việt Nam

    Download tài liệu

    Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng còn nhiều vấn đề phức tạp và kéo dài. Cần phải biết rõ nguyên nhân của nó để xem xét, đánh giá và lý giải nghiêm túc. Từ những nhìn nhận đó thì mới có bài học, kiến nghị với Tỉnh ủy phù hợp nhất. Đề tài này được thực hiện nhằm nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác chống tham nhũng tại tỉnh. Đồng thời đưa ra những kế hoạch phòng chống tham nhũng hiệu quả.

    Đấu tranh đẩy lùi, ngăn chặn tham nhũng là nhiệm vụ cấp bách của cả nước. Bài tiểu luận cao học này được tiến hành nhằm góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của công tác tư tưởng trong việc phòng, chống tham nhũng. Những điều đã làm rõ trong đề tài đó là:

    Download tài liệu

    • Khảo sát làm rõ thực trạng
    • Làm rõ các nội dung về mặt lý luật
    • Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong việc ngăn chặn tệ nạn tham nhũng của nước ta.

    Download tài liệu

    Đề tài khóa luận tốt nghiệp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Vấn đề chống tham nhũng luôn được đề cao trong thời xưa và nay. Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, nhiệm vụ chống tham nhũng quan trọng thế nào, bao gồm những nội dung chi tiết nào; thì trong bài luận này sẽ được làm rõ.

    Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm bởi mang tính thực tiễn và thời sự. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên qua các giai đoạn, thực trạng sẽ có vấn đề khác nhau.

    Download tài liệu

    Bài luận văn này với mục đích làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn. Đánh giá thực trạng cũng như đề xuất giải pháp thiết thực, hiệu quả, khai thi nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng.

    Download tài liệu

    Thanh tra đóng vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả của việc tham nhũng. Chính vì vậy, cần phải hiểu rõ vấn đề này để nâng cao Trách nhiệm, công tác thanh tra.

    Trong phạm vi bài báo cáo, sinh viên chỉ nghiên cứu trên sách báo, internet và thực tế, đưa ra những vấn đề lý luận, thực trạng và những ảnh hưởng tới nền kinh tế. Từ đó đề xuất các biện pháp đấu tranh phòng chống phù hợp nhất.

    Download tài liệu 100+ Tiểu luận phòng chống tham nhũng hay

    Mặc dù chỉ nghiên cứu, phân tích nội dung là chính nhưng bài tiểu luận được đánh giá rất cao bởi sự chi tiết, thông tin chính xác. Ngoài ra, các giải pháp đưa ra đều rất thiết thực và mới mẻ, khả thi.

    II. Các vấn đề về phòng, chống tham nhũng cần biết

    1. Giải pháp chống tham nhũng cần tập trung thực hiện

    • Cần phải rà soát, sửa đổi và bổ sung những văn bản quy phạm về pháp luật quản lý kinh tế – xã hội
    • Đẩy mạnh cải cách hành chính và nỗ lực hoàn thiện những quy định trong xây dựng. Ngoài ra, các dự án đấu thầu cần phải công khai và minh bạch
    • Việc đánh giá cũng như hoàn thiện quy định về công tác cán bộ cũng phải chặt chẽ, có tính đảm bảo, thống nhất giữa các khâu với nhau.
    • Đẩy mạnh tuyên truyền thực tiễn, phải chú trọng tính gương mẫu của cán bộ lãnh đạo
    • Tập trung việc thanh tra, kiểm toán kỹ lưỡng những lĩnh vực có nguy cơ về tham nhũng.

    2. Vai trò của việc phòng chống tham nhũng

    Phòng, chống tham nhũng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Cụ thể như sau:

    • Giảm tình hình vi phạm pháp luật nói chung và những vấn đề về tội phạm tham nhũng nói riêng.
    • Bảo vệ sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
    • Tạo lòng tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng và nhà nước.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển vững mạnh

    III. Những vấn đề cần phải lưu ý khi thực hiện làm tiểu luận

    Phòng chống tham nhũng và là vấn đề nhạy cảm. Chính vì vậy, khi thực hiện tiểu luận, luận văn cần phải lưu ý những vấn đề sau:

    • Các số liệu, thông tin cần phải đảm bảo chính xác tuyệt đối, có nguồn và trích, ghi rõ ràng.
    • Cơ sở lý luận cần phải đầy đủ, phân tích chi tiết. Có thể tham khảo thực trạng phòng, chống tham nhũng tại nước ngoài và so sánh với Việt Nam để đưa ra những đề xuất, biện pháp phù hợp.
    • Từ thực trạng để đề xuất các biện pháp sát thực tế, phù hợp. Tuy nhiên, những biện pháp phải có tính căn cứ, khả năng thực thi tốt.
    • Tùy vào phạm vi nghiên cứu, trong khuôn khổ để mở rộng vấn đề một cách phù hợp. Vấn đề tham nhũng cần thời gian dài, kéo dài nhiều năm để giải quyết. Chính vì vậy, không nên quá kham phạm vi để khi nghiên cứu bị hời hợt, không tập trung được vào nội dung chính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng
  • Việt Nam Học Hỏi Kinh Nghiệm Chống Tham Nhũng Của Các Thành Viên Apec
  • Nhiều Giải Pháp Phòng Ngừa Trong Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Cần Xây Dựng Các Biện Pháp Có Tính Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Luận Văn: Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Thực Hiện Đồng Bộ Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phòng Chống Tham Nhũng
  • Phải Coi Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Là Một Trọng Tâm Lớn
  • Hội Thảo Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành luật: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng – từ thực tiễn tỉnh Gia Lai, cho các bạn tham khảo

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BÙI MINH PHÚC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG – TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH ĐẮK LẮK – NĂM 2022
    2. 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA BÙI MINH PHÚC PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG – TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 60 38 01 02 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ THANH THÚY ĐẮK LẮK – NĂM 2022
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Các thông tin, số liệu và kết quả trong đề tài này hoàn toàn trung thực, nguồn gốc rõ ràng và xuất phát từ thực tế nghiên cứu về công tác phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai. Tên luận văn không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã được công bố. Tác giả Bùi Minh Phúc
    4. 5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG…………………………………………………………….12 1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng…………..12 1.2. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng và tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng………………………………………………………………………….19 1.3. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam …………………………………………………………….43 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH GIA LAI………54 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Gia Lai …………………………….54 2.2. Thực trạng pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai…56 2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai……………………………………………………………………………………..61 2.4. Đánh giá chung …………………………………………………………………………74 Chương 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH GIA LAI………82 3.1. Dự bào tình hình và phương hướng hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng……………………………………………………………………………82 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh Gia Lai……………………………………………………………………………………..86 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………….. 112
    5. 6. DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT CTN Chống tham nhũng PCTN Phòng, chống tham nhũng UBND Ủy ban nhân dân HĐND Hội đồng nhân dân CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức TTHC Thủ tục hành chính
    6. 7. 1 MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Qua hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng, chúng ta đã đạt những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới, chúng ta lại gặp nhiều khó khăn trong đó có sự hoành hành của nạn tham nhũng. Tham nhũng cùng với ô nhiễm môi trường đang là hai căn bệnh ác tính chung của thế giới. Trong nước cùng với “tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, diễn biến hòa bình” và tham nhũng được Đảng ta xác định là bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của một chế độ. Ngày nay, cùng với sự năng động của nền kinh tế thị trường, tham nhũng ngày càng phát triển và đã vượt qua phạm vi lãnh thổ của một quốc gia và trở thành một thách thức mang tính toàn cầu – đó là một nhận định được cả thế giới thừa nhận. Nó là một trong những trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng và giảm đói nghèo. Ở Việt Nam, tham nhũng cũng đã được nhận thức khá sâu sắc rằng đó là một trở lực nghiêm trọng. Bởi vì tham nhũng len lỏi vào mọi ngóc ngách của quan hệ quyền lực lây lan nhanh chóng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm tha hóa không ít cán bộ, đảng viên. Tham nhũng cùng với lãng phí đã gây thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, làm băng hoại đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xâm hại trực tiếp công lý và công bằng xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, là nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta. Tham nhũng cản trở quá trình phát triển kinh tế. Tham nhũng làm đảo lộn các giá trị đạo đức. Tham nhũng làm vẩn đục các quan hệ xã hội. Nguy hiểm hơn là tham nhũng đang hình thành một thói quen tồn tại như một thứ
    7. 8. 2 luật bất thành văn trong đời sống xã hội diễn ra trên diện rộng và trở thành một nét ứng xử bị “vật chất hóa”, “tiền bạc hóa” đến nỗi ai cũng lên án nó nhưng ít ai thoát được khỏi vòng xoáy của nó. Và thế là tham nhũng tiếp tục hoành hành và trở nên trầm trọng hơn, bất chấp các thể chế mà Đảng và Nhà nước đưa ra để đối phó với nó. Nếu không kịp thời ngăn chặn thì đến một chừng mực nào đó tham nhũng cùng với những tác động khác sẽ gây mất ổn định chính trị, kinh tế – xã hội, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng và những hậu quả nguy hại của tham nhũng, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đấu tranh nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định: Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội phải quyết tâm thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế, hình sự trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng để từng bước đẩy lùi tham nhũng. Về phía Nhà nước, để có cơ sở pháp lý trongviệc đấu tranh PCTN ngày 29-11-2005, Quốc hội đã thông qua Luật PCTN;Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 30 nghị định, quyết định, chỉ thị để cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) và Luật PCTN, qua đó đã quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện hầu hết các quy định của Luật PCTN. “Các bộ, ngành, địa phương cũng đã ban hành 42.168 văn bản mới; sửa đổi, bổ sung trên 55.416 văn bản để thực hiện Luật PCTN và các văn bản hướng dẫn thi hành” . Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ, những tác hại và biến quyết tâm chính trị thành những biện pháp cụ thể để ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng. Cùng chung tình trạng như cả nước, trong những năm gần đây, tình trạng tham nhũng ở Gia Lai có những biểu hiện phức tạp, việc tổ chức thực hiện pháp luật về tham nhũng còn nhiều bất cập, chưa kiên quyết, triệt để. Vì thế, nghiên cứu đề tài “Pháp luật về phòng, chống tham nhũng – từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
    8. 12. 6 tích thực trạng về PCTN (đến năm 2011); nêu lên quan điểm, phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về PCTN ở Việt Nam. – Luận văn thạc sĩ Luật học: “Tổ chức và hoạt động của cơ quan phòng, chống tham nhũng ở Việt nam” của Ngô Kiều Dâng, nghiên cứu thực trạng tổ chức bộ máy các cơ quan PCTN ở nước ta và nêu các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan này trong PCTN. – Luận văn thạc sĩ Luật học: “Phòng chống tham nhũng từ phương diện giáo dục pháp luật đối với cán bộ, công chức bộ máy hành chính nhà nước” của Nguyễn Thị Kim Nhung, nghiên cứu thực trạng giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức về PCTN ở nước ta và nêu các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật trong PCTN. – Đề tài khoa học cấp nhà nước “Đấu tranh PCTN ở nước ta” của Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nghiên cứu thực trạng tham nhũng, nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng tham nhũng ở Việt Nam, kiến nghị các giải pháp nhằm đấu tranh PCTN ở nước ta. – Đề tài khoa học cấp bộ: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng của các cơ quan thanh tra nhà nước theo Luật PCTN” do TS. Trần Ngọc Liêm, Phó Vụ IV, TTCP làm Chủ nhiệm, nghiên cứu thực trạng, hiệu quả và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác PCTN của các cơ quan thanh tra nhà nước. – Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Một số vấn đề về tham nhũng trong khu vực tư và PCTN trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay” do ThS. Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm, Viện Khoa học Thanh tra, TTCP làm Chủ nghiệm, đề cập đến khái niệm, lý luận và thực tiễn tham nhũng trong khu vực tư, đưa ra dự báo và giải pháp PCTN trong khu vực tư ở Việt Nam. – Đề tài khoa học cấp cơ sở: “Tham nhũng và phòng chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam”do Tiến sĩ Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng
    9. 15. 9 – Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai; đánh giá kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật PCTN ở Gia Lai. – Đề xuất phương hướng cùng một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai nói riêng và cả nước nói chung. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về PCTN và việc tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau: – Phạm vi nội dung Pháp luật về phòng, chống tham nhũng được nghiên cứu ở 02 góc độ: Quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN. – Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai. – Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2006 đến nay. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Phương pháp luận Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời, dựa trên quan điểm, chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ của Đảng về PCTN hiện nay, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 3 (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của đối với công tác PCTN, lãng phí; Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy
    10. 16. 10 lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biển hiện “tự diễn biến”, „tự chuyển hóa” trong nội bộ. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp thống kê; phương pháp khảo cứu tài liệu; phương pháp so sánh – đối chiếu; phương pháp phân tích – tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, tổng kết thực tiễn ban hành các quy định về PCTN và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai trong thời gian qua. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Về phương diện lý luận Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về tham nhũng và PCTN, đề tài góp phần làm rõ các quy định pháp luật về tham nhũng và PCTN. Đánh giá các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai, bên cạnh mặt ưu điểm còn có những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Gia Lai. 6.2. Về phương diện thực tiễn Đề tài có thể được Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng, nhà quản lý, hoạch định chính sách nói chung tham khảo để vận dụng vào công tác đấu tranh PCTN; Trường Chính trị tỉnh và các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ở Gia Lai nói riêng và các cơ sở đào tạo nói chung trên cả nước tham khảo để phục vụ cho công tác giảng dạy pháp luật về PCTN trong các chương trình đào tạo hoặc bồi dưỡng.
    11. 18. 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1.1.1. Những vấn đề chung về tham nhũng 1.1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tham nhũng Tham nhũng là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, luôn gắn bó chặt chẽ hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước. Tham nhũng không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà diễn ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế như thế nào, tham nhũng diễn ra ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, nó tồn tại và phát triển thường xuyên hàng ngày, hàng giờ, nó len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội và đụng chạm hầu hết đến lợi ích của người dân. Ở nước ta hiện nay thuật ngữ tham nhũng được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về quan niệm. Theo Đại Từ điển Tiếng việt giải thích, “Tham nhũng là hành động lợi dụng quyền hành để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân” . Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu
    12. 19. 13 vực nhà nước (các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước). Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn. Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: “Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó” (Điều 3, Luật PCTN). Thứ hai, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng. Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác.
    13. 20. 14 Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợi ích. 1.1.1.2. Các hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật Luật PCTN đã liệt kê 12 hành vi tham nhũng. Theo đó, những hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi tham nhũng: “Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”. Nghị quyết số 14 ngày 15-5-1996 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng đã nêu khái quát tác hại của tệ tham nhũng như sau: Tình trạng tham nhũng đã và đang gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm xói mòn bản chất của Đảng và Nhà nước, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, đảng viên, tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta, uy hiếp sự tồn vong của chế độ”. “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”. Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2022 đặt ra yêu cầu: Đẩy mạnh việc xây dựng, công bố công khai các quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức và tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định của pháp luật. – Vấn đề chuyển đổi vị trí công tác của CBCCVC. Việc chuyển đổi vị trí công tác được coi là một giải pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa hiện tượng cấu kết, móc nối hình thành “êkíp”, “đường dây” tiêu cực, tham nhũng. Luật PCTN quy định một số nguyên tắc chung về chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Để đảm bảo sự ổn định của quản lý và tính chất chuyên sâu của công việc, việc chuyển đổi chỉ là chuyển đổi về vị trí, mang tính chất địa lý, cơ học chứ không phải chuyển đổi về nội dung, tính chất công việc; đồng thời việc chuyển đổi chỉ
    14. 35. 29 – Phân định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức với cấp phó được giao phụ trách các lĩnh vực; theo đó, người đứng đầu chịu trách nhiệm chung và chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực do mình quản lý, cấp phó chịu trách nhiệm trực tiếp đối với lĩnh vực được giao phụ trách. – Phân cấp trách nhiệm rõ ràng cho người đứng đầu đơn vị, phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị mình. Luật PCTN đã khẳng định lại nguyên tắc: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Trên cơ sở nguyên tắc chung như trên, Luật cũng quy định tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định mức độ trách nhiệm khác nhau của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, có trường hợp họ phải chịu trách nhiệm trực tiếp, có trường hợp thì liên đới chịu trách nhiệm. Cụ thể những quy định trên của Luật PCTN, ngày 22-9-2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; quy định mức độ của vụ, việc tham nhũng làm căn cứ để xác định trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Sáu là, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán. Quản lý là phương diện hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nước, diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng đến quyền lợi của mọi người dân. Đây cũng là nơi tình trạng tham nhũng xảy ra nhiều nhất. Đó là lý do mà cải cách hành chính luôn là mối quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình cải cách bộ máy nhà nước,
    15. 37. 31 Thứ hai, pháp luật về phát hiện tham nhũng. Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan có chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát cũng như sự tham gia tích cực của công dân. Pháp luật về PCTN quy định: việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu sau: Một là, thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Kiểm tra là một hoạt động không thể thiếu trong quản lý nhà nước. Các hành vi tham nhũng có thể diễn ra trong mọi lĩnh vực quản lý. Vì vậy, công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định tính chất và mức độ của vụ việc tham nhũng cũng như trách nhiệm của những người vi phạm đòi hỏi có nhiều thời gian và công sức, thường thuộc về trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, điều tra nhưng những dấu hiệu ban đầu của các các vi phạm, những dấu hiệu không bình thường trong hoạt động quản lý lại thường do các cơ quan quản lý phát hiện. Vì vậy, pháp luật về PCTN nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc thường xuyên tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan mình. Tuỳ từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ của nó mà có thể xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng xử lý. Mặc dù pháp luật đề cao công tác kiểm tra của các cơ quan nhằm phát hiện tham nhũng nhưng để tránh tình trạng kiểm tra tràn lan, hoặc lợi dụng việc kiểm tra để gây khó khăn cho đồng nghiệp và công dân, Luật cũng quy
    16. 38. 32 định các hình thức kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm cũng như trường hợp kiểm tra đột xuất phải có những điều kiện nhất định.”Việc kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch, tập trung vào lĩnh vực, hoạt động thường phát sinh hành vi tham nhũng. Việc kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng” . Việc phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát được pháp luật về PCTNquy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật” . – Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và những người có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân đối với hành vi tham nhũng. Pháp luật về PCTN quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe doạ trả thù, trù dập. Đây là vấn đề rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, người bị tố cáo là những người có chức vụ, quyền hạn, thậm chí giữ chức vụ, quyền hạn rất cao nên họ có nhiều cách
    17. 41. 35 Nếu hành vi vi phạm đến mức độ nguy hiểm cao gây thiệt hại lớn về tiền và tài sản của Nhà nước thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Chương XXI, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Các tội phạm về chức vụ. Bao gồm: bảy tội danh tham nhũng và bảy tội danh khác về chức vụ. Hai là, quy định về xử lý tài sản tham nhũng. Tham nhũng về bản chất là một hành vi có tính chất vụ lợi và một trong những hậu quả mà tham nhũng gây ra là tài sản công bị chiếm đoạt. Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng của đấu tranh chống tham nhũng là phải bảo vệ được lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích của tập thể và cá nhân. Chống tham nhũng cần quan tâm đến việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến việc xử lý người vi phạm về kỷ luật hay hình sự mà chưa quan tâm hoặc có biện pháp hữu hiệu để thu hồi lại số tài sản mà kẻ tham nhũng đã chiếm đoạt và có được từ việc thực hiện hành vi tham nhũng. Việc xử lý tài sản tham nhũng phải tuân thủ các nguyên tắc sau: “Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để, thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng. Tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước.Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ.Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” . 1.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1.2.2.1. Khái niệm Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là các yếu tố cấu thành cơ bản để duy trì sự tồn tại của đời sống pháp luật, đồng thời thể hiện sự phân công quyền lực nhà nước theo các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước pháp quyền. Các yếu tố này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống chủ yếu thuộc về trách nhiệm và là chức năng của cơ quan hành pháp. Tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN là chức năng chính của cơ quan hành pháp trong quá trình hướng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực (con người, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất để thực hiện từng văn bản pháp luật) bảo đảm sẵn sàng, phù hợp ngay từ khi tổ chức học tập, quán triệt, vận dụng để mọi hành
    18. 44. 38 nhiệm vụ của riêng một cơ quan hay tổ chức nào mà là của cả hệ thống chính trị tức là của mọi cơ quan nhà nước, của Đảng, của mọi tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Vấn đề đặt ra ở đây là phòng, chống tham nhũng có phải là chức năng của mọi cơ quan nhà nước, của Đảng, của mọi tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp hay không? Chức năng của một cơ quan, tổ chức là những nhiệm vụ chủ yếu, thường xuyên của cơ quan, đơn vị đó và cơ sở để thực hiện phải là những thẩm quyền, quyền hạn được giao. Như vậy, phòng chống tham nhũng là nhiệm vụ nhưng không phải là chức năng của mọi cơ quan, tổ chức. Chỉ những cơ quan, tổ chức nào được pháp luật quy định nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên, chủ yếu đồng thời trao những thẩm quyền, quyền hạn cụ thể để thực hiện việc phòng, chống tham nhũng mới là những cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, chức năng phòng, chống tham nhũng được trao cho các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, toà án. – Trách nhiệm của cơ quan thanh tra Theo Luật Thanh tra 2010:”Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm: 1. Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý; 2. Xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng” . – Trách nhiệm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động điều tra tội phạm về tham nhũng”
    19. 46. 40 Thực hiện quy định trên, Vụ Thực hành công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao được thành lập và đi vào hoạt động năm 2007, gồm có Vụ trưởng, 03 Phó Vụ trưởng, 04 phòng nghiệp vụ, với tổng số 22 người. Vụ có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra án tham nhũng, chức vụ; giúp Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Cơ quan điều tra của Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao trong công tác PCTN; phối hợp thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về PCTN. Chiến lược Phòng, chống tham nhũng đến năm 2022 cũng đặt ra mục tiêu là “Tính trách nhiệm, tính chuyên nghiệp, sức chiến đấu và hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng được nâng cao, giữ vai trò nòng cốt trong phát hiện và xử lý tham nhũng”. Vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong phòng, chống tham nhũng lại tiếp tục được nhấn mạnh một lần nữa. Thứ hai, triển khai thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Một là, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của CBCCVC và nhân dân về công tác PCTN; tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về PCTN. Đưa nội dung của Luật PCTN và chương trình giáo dục. Mở chuyên mục tuyên truyền, giáo dục pháp luật vè PCTN trên các báo, đài. Hai là, thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.
    20. 47. 41 Công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Hình thức công khai bao gồm: công bố tại cuộc họp; niêm yết tại trụ sở làm việc; thông báo bằng văn bản; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nội dung công khai minh bạch trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước như: mua sắm, xây dựng cơ bản; quản lý dự án đầu tư xây dựng; tài chính và ngân sách nhà nước; huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân; quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ… Tiến hành xây dựng và triển khai thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Tổ chức thực hiện các quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện những việc CBCCVC không được làm, các quy định về việc tặng quà và nhận quà tặng của CBCCVC; thực hiện kê khai, xác minh, giải trình về tài sản, thu nhập của CBCCVC; thực hiện chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; thực hiện cải cách hành chính, đổi mới công nghệ và phương thức thanh toán. Ba là, thực hiện các biện pháp phát hiện tham nhũng. Thực hiện công tác kiểm tra hành chính của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng, kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền. Các cơ quan thanh tra, Kiểm toán nhà nước, điều tra, Việc kiểm sát, Tòa án thông qua hoạt động của mình chủ động phát hiện tham nhũng xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quay định của pháp luật. Quốc hội, Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Nguồn Gốc Tham Nhũng Để Xây Dựng Giải Pháp Phòng, Chống Hiệu Quả
  • Bộ Xây Dựng: Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Ninh Thuận: Thực Hiện Các Nhóm Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Lạng Sơn Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Quan Điểm Của Đảng Và Nhà Nước Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Luận Văn Tiểu Luận Biện Pháp Phòng Chống Về Tham Nhũng Và Vấn Đề Tụt Hậu Xa Hơn Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Tăng Cường Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Cần Xây Dựng Các Biện Pháp Có Tính Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Nhiều Giải Pháp Phòng Ngừa Trong Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Việt Nam Học Hỏi Kinh Nghiệm Chống Tham Nhũng Của Các Thành Viên Apec
  • Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Việc mở cửa hội nhập về kinh tế – xã hội là điều mà rất nhiều người đang hướng tới. nhưng ngoài những mặt tích cực rất rõ nét của chúng. Nó còn để lại ở đây những nguy cơ vô cùng to lớn: Đó là tham nhũng và tụt hậu xa hơn về kinh tế. Nó có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả một quốc gia. Do đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định việc đấu tranh chống tham nhũng và tụt hậu xa hưn về kinh tế là vấn đề hết sức khó khăn và nó có ảnh hưởng rất lớn đối với việc phát triển kinh tế đất nước ta. Với tham nhũng, được nhân dân Việt Nam coi là quốc nạn, là một nguy cơ làm tàn hại đất nước. Đây là một căn bệnh của xã hội loài người. Nó xảy ra ở những quốc gia và khu vực rất khác biệt về hệ tư tưởng, lịch sử, văn hoá, chế độ chính trị, xã hội. Còn việc tụt hậu xa hơn về kinh tế, đây cũng là vấn đề rất nan giải và là bài toán khó cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình bắt kịp với đà phát triển của nền kinh tế thế giới. Từ những năm 1975, nước ta đi theo con đường kế hoạch hoá tập trung. Nhưng nhìn thấy mặt tiêu cực của nó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa nước ta phát triển theo kinh tế thị trường và có những thành tựu đáng kể. Nhưng để bắt kịp được với đà phát triển của thế giới thì đó là cả vấn đề cực kỳ khó khăn. Vì vậy, việc tìm hiểu và các biện pháp phòng chống về tham nhũng và vấn đề tụt hậu xa hơn về kinh tế đã trở thành vấn đề trung tâm thu hút sự chú ý của cộng đồng thế giới hiện nay

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Biện Pháp Phòng Chống Về Tham Nhũng Và Vấn Đề Tụt Hậu Xa Hơn Về Kinh Tế
  • Tóm Tắt Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học: Phòng Ngừa Các Tội Phạm Về Tham Nhũng Ở Việt Nam
  • Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng Theo Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Chống Tham Nhũng Và Yêu Cầu Hoàn Thiện Pháp Luật Của Việt Nam
  • Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Chủ Yếu Về Phòng, Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Nâng Cao Hơn Nữa Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Tình Hình Mới
  • Tiểu Luận Biện Pháp Phòng Chống Về Tham Nhũng Và Vấn Đề Tụt Hậu Xa Hơn Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Tiểu Luận Biện Pháp Phòng Chống Về Tham Nhũng Và Vấn Đề Tụt Hậu Xa Hơn Về Kinh Tế
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Tăng Cường Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Cần Xây Dựng Các Biện Pháp Có Tính Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Nhiều Giải Pháp Phòng Ngừa Trong Phòng, Chống Tham Nhũng
  • TIỂU LUẬN:

    Biện pháp phòng chống về tham nhũng

    và vấn đề tụt hậu xa hơn về kinh tế

    A. Lời nói đầu

    Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Việc mở cửa hội nhập về

    kinh tế – xã hội là điều mà rất nhiều người đang hướng tới. nhưng ngoài những mặt tích

    cực rất rõ nét của chúng. Nó còn để lại ở đây những nguy cơ vô cùng to lớn: Đó là tham

    nhũng và tụt hậu xa hơn về kinh tế. Nó có thể ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả một quốc

    gia. Do đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định việc đấu tranh chống tham nhũng và tụt hậu

    xa hưn về kinh tế là vấn đề hết sức khó khăn và nó có ảnh hưởng rất lớn đối với việc phát

    triển kinh tế đất nước ta.

    Với tham nhũng, được nhân dân Việt Nam coi là quốc nạn, là một nguy cơ làm tàn

    hại đất nước. Đây là một căn bệnh của xã hội loài người. Nó xảy ra ở những quốc gia và

    khu vực rất khác biệt về hệ tư tưởng, lịch sử, văn hoá, chế độ chính trị, xã hội.

    Còn việc tụt hậu xa hơn về kinh tế, đây cũng là vấn đề rất nan giải và là bài toán khó

    cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình bắt kịp với đà phát triển của nền kinh

    tế thế giới. Từ những năm 1975, nước ta đi theo con đường kế hoạch hoá tập trung. Nhưng

    nhìn thấy mặt tiêu cực của nó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa nước ta phát triển theo kinh tế

    thị trường và có những thành tựu đáng kể. Nhưng để bắt kịp được với đà phát triển của thế

    giới thì đó là cả vấn đề cực kỳ khó khăn.

    Vì vậy, việc tìm hiểu và các biện pháp phòng chống về tham nhũng và vấn đề tụt

    hậu xa hơn về kinh tế đã trở thành vấn đề trung tâm thu hút sự chú ý của cộng đồng thế

    giới hiện nay.

    B. Nội dung

    Chương I: Tham nhũng và tụt hậu xa hơn về kinh tế

    1.1. Nguyên nhân ra đời và sự gia tăng của nạn tham nhũng

    1.1.1. Tham nhũng

    1.1.1.1. Khái niệm về tham nhũng

    Tham nhũng là hiện tượng kinh tế – xã hội gắn liền với sự hình thành giai cấp và sự

    ra dời và phát triển của bộ máy Nhà nước. Tệ nạn tham nhũng diễn ra ở tất cả các quốc gia

    không kể giàu nghèo, đang ở trình độ phát triển như thế nào. Nó xảy ra ở mọi lĩnh vực

    kinh tế, xã hội, văn hoá nó tồn tại và phát triển thường xuyên hàng ngày hàng giờ, nó len

    lỏi vào mọi mặt đời sống xã hội và đụng chạm tới lợi ích của hầu hết dân cư. Tham nhũng

    là một căn bệnh nguy hiểm, nó gây ra các hậu quả hết sức tai hại về mặt kinh tế, chính trị,

    văn hoá, xã hội, nó cản trợ sự phát triển đi lên của xã hội. Và có thể dẫn đến sự sụp đổ của

    cả một thể chế. Và nhìn từ góc độ pháp luật: Điều 1, pháp lệnh chống tham nhũng quy

    định “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ quyền

    hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố làm trái ý với pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại

    cho tài sản nhà nước và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.

    1.1.1.2. Nguyên nhân của tham nhũng

    Những năm gần đây tình hình tham nhũng ở nước ta diễn biến hết sức phức tạp.

    Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách pháp luật để đấu tranh

    kiên quyết với hiện tượng này, song tham nhũng cũng chưa có nhiều thuyên giảm. Để đấu

    tranh có hiệu quả với tình trạng này, một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu đó là

    tìm được các nguyên nhân làm phát sinh tham nhũng và tìm các biện pháp khắc phục, loại

    trừ những nguyên nhân đó. Trước hết phải khẳng định ràng, hệ thống pháp luật và cơ chế

    áp dụng nó có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng tham nhũng. Hay nói cách khác tình trạng

    tham nhũng ở một quốc gia tại một thời điểm xác định phản ánh mức độ hoàn thiện của hệ

    thống pháp luật cũng như thực trạng áp dụng pháp luật. Từ đó ta có thể nhìn ra các nguyên

    nhân sau:

    – Thứ nhất: Nguyên nhân đầu tiên có tính sâu xa, bản chất là do chế độ người bóc lột

    người sinh ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là những xấu xa

    của xã hội cũ. Nó do lòng tự tư tự lợi, ích kỷ hại dân mà ra, nó do chế độ người bóc lột

    người sinh ra”.

    – Thứ hai: đó là do bản chất của cơ chế thị trường, của việc tự do hoá cạnh tranh tạo

    ra.

    – Thứ ba: Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng

    viên và sự yếu kém của công tác quản lý, giáo dục đào tạo cán bộ đảng viên của các tổ

    chức Nhà nước và Đảng.

    Trước đây, trong cơ chế cũ tập trung, quan liêu bao cấp đã có tham nhũng nhưng ở

    phạm vi hẹp hơn và mức độ thấp hơn. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở rộng

    giao lưu với bên ngoài, do tác động bởi yếu tố vật chất của cơ chế đó và do không chịu

    thường xuyên rèn luyện tu dưỡng nhiều cán bộ đảng viên, công chức đã sa ngã, thoái hoá,

    chạy theo lối sống chủ nghĩa cá nhân, bị lợi ích vật chất cám dỗ, sống đồi truỵ xa hoa, đã

    trượt vào cùng bùn tham nhũng, tội lỗi. Trong khi đó công tác quản lý, giáo dục kiểm tra

    cán bộ Đảng, cán bộ và công chức bị buông lỏng, yếu kém, không chuyển kịp trước tình

    hình mới.

    – Thứ tư: Cơ chế, chính sách, pháp luật chưa đầy đủ, thiếu sự đồng bộ, chưa thực sự

    chuyển mạnh sang cơ chế thị trường.

    Mặc dù nước ta đã trải qua hàng chục năm đổi mới, nhưng chúng ta chưa xây dựng

    được một hệ thống cơ chế, chính sách quản lý kinh tế vĩ mô đồng bộ và hoàn chỉnh phục

    vụ cho sự nghiệp đổi mới.

    – Thứ năm: Sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước có lúc, có nơi còn thiếu sâu

    sát, chặt chẽ, chưa quyết tâm cao, cơ chế tổ chức và giải pháp phòng ngừa tham nhũng

    chưa hiệu quả.

    Tuy Đảng và Nhà nước có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phòng, chống, tham nhũng

    nhưng việc triển khai cụ thể chưa bàn kỹ, thiếu những giải pháp có hiệu quả, tổ chức chỉ

    đạo chưa chặt chẽ.

    Tóm lại, tình trạng tham nhũng phổ biến và nghiêm trọng ở nước ta xét về mặt chủ

    quan là hệ quả tổng hợp của 5 nguyên nhân trên, trong đó nguyên nhân về sự suy thoái về

    phẩm chất đạo đức của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là nguyên nhân chủ yếu.

    1.1.1.3. Sự gia tăng hơn của nạn tham nhũng

    ở vào thời điểm mở đầu của thiên niên kỷ mới, hầu hết tất cả các nước trên thế giới,

    không phân biệt giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển phải đối diện một cách gay gắt

    với căn bệnh nan y nhức nhối, đó là nạn tham nhũng. ở nhiều nước, tham nhũng đã trở

    thành quốc nạn, không chỉ gây những hiệu quả to lớn về mặt kinh tế mà còn để lại những

    hậu quả xã hội nặng nề, làm băng hoại đến nền tảng đạo đức và tinh thần xã hội. Với quy

    mô rộng lớn, tính chất phức tạp và nhiều tác dụng tiêu cực mang tính đa chiều của nó,

    tham nhũng đang thực sự nổi lên như một đại dịch – một vấn đề mang tính toàn cầu xuyên

    thế kỷ. Bởi vậy cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi những nỗ lực to lớn và kiên quyết

    không chỉ trên phạm vi một quốc gia mà cả sự phối hợp trên quy mô toàn cầu. Theo đánh

    giá của ngân hàng phát triển châu á (ADB), tham nhũng đang có xu hướng gia tăng tại

    nhiều châu lục, ở nhiều nước số thiệt hại do tham nhũng gây ra vượt quá tổng số nợ nước

    ngoài của họ. Nhiều nước Đông Nam á vốn đã phải gồng mình vật lộn với cơn bão táp

    khủng hoảng tài chính – tiền tệ lại phải đương đầu với sự tàn phá không kém của tệ nạn

    tham nhũng, hối lộ và rửa tiền, khiến cho công cuộc phục hưng kinh tế đang trở ngại lại

    càng thêm phần gian nan.

    Đối với Việt Nam, Đảng và Chính phủ ta luôn khẳng định chống tham nhũng một

    cách kiên quyết và triệt để. Nhằm làm trong sạch bộ máy đảng, chính quyền và đoàn thể.

    Báo cáo Chính trị Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần

    thứ IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh tham nhũng quan liêu là một trong những nguy cơ

    không thể xem thường. Với sự gia tăng của tệ nạn tham nhũng hiện nay thì cuộc đấu tranh

    chống tham nhũng phải được tiếp cận như là cuộc đấu tranh loại trừ một quốc nạn nguy

    hiểm. Và trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay, Đảng cũng dành sự quan tâm

    đặc biệt đến việc giải quyết vấn nạn này. Văn kiện Đại hội IX ĐCSVN nêu rõ: “Hiện nay,

    cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đang hết sức quan tâm đến cuộc đấu tranh chống tham

    nhũng. Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là

    một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta. Phải tăng cường về tổ chức và cơ chế,

    tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy Nhà nước và toàn bộ hệ

    thống chính trị, ở các cấp, các ngành, từ TW đến cơ sở?

    1.1.2. Tụt hậu xa hơn về kinh tế, mặt yếu kém của sự phát triển

    Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị

    trường trong bối cảnh kinh tế – chính trị thế giới đang trong quá trình cơ cấu lại một cách

    sâu sắc. Hơn nữa, Việt Nam nằm trong khu vực châu á với nền văn minh Trung Hoa đặc

    sắc và có sự phát triển kinh tế năng động nhất trong thập kỷ qua. Liệu Việt Nam có phát

    triển vượt lên được theo con đường phương Đông, con đường Việt Nam riên của mình hay

    không?

    So với nhiều nước trong khu vực, sự phát triển của Việt Nam đang bị chậm vài thập

    kỷ, Việt Nam đã bị tụt hậu khá xa về kinh tế, là một trong những nước nghèo nhất thế giới

    và có nguy cơ tụt hậu mạnh hơn nữa nếu không có một đường lối, chiến lược thông minh

    và có một quyết tâm cao.

    Đó là sự nhìn nhận với nền kinh tế Việt Nam. Còn nhìn vào sự tụt hậu xa hơn về

    kinh tế giữa các nước trên thế giới. Với xu thế càng ngày càng phát triển hiện nay thì

    khoảng cách giữa các nền kinh tế, các nước ngày càng được gia tăng. Song, có không ít

    những thăng trầm trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử. Với điểm xuất phát rất cao,

    các cường quốc như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản (các nước phát triển) rất thuận lợi.

    Trong quá trình phát triển kinh tế nhưng với điểm xuất phát thấp như Việt Nam, Lào,

    Campuchia và một số nước châu Phi, châu Mỹ (các nước chậm và kém phát triển) thì việc

    phát triển kinh tế là vấn đề rất nan giải. Trong những năm 90, thế giới đã chứng kiến sự

    thay đổi lớn lao chưa từng có kể từ đầu thế kỷ đến nay. Sự kiện nổi bật nhất là sự sụp đổ

    của mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội Xô viết, kéo theo đó là sự sụp đổ của cả hệ thống

    xã hội chủ nghĩa. Tác động của những sự kiện đó đối với nền kinh tế thế giới rất to lớn,

    chúng đã, đang và sẽ diễn ra có thể cho đến nay chúng ta vẫn chưa lường trước được.

    Thực vậy, trong thập kỷ 90 chiều hướng giảm sút nhịp độ tăng kinh tế toàn cầu có

    thể tiếp tục. Bảng số liệu mức tăng tổng sản phẩm xã hội (% so với năm trước) sau đây cho

    ta rõ chiều hướng giảm sút đó.

    Nước

    1986

    1987

    1988

    1989

    1990

    1991

    1992

    – Các nước XHCN trước đây

    2,9

    2,0

    4,1

    1,3

    -2,2

    -9,7

    -16,8

    – Các nước phát triển

    2,7

    3,3

    4,4

    3,3

    2,9

    1,6

    1,0

    – Các nước đang phát triển

    2,6

    2,9

    3,7

    4,4

    3,3

    3,2

    3,0

    Theo đánh giá của cơ qua dự báo quốc tế, trong những năm tới, mức tăng tổng thu

    nhập quốc dân của hầu hết các nước phát triển đều chỉ đạt 0,1% còn ở một số nước khác là

    âm còn mức tăng trưởng của các nước đang phát triển và kém phát triển còn tồi tệ hơn nữa.

    Từ đó cho thấy, ngay trong những giai đoạn suy sụp nhất của nền kinh tế thế giới, nhưng

    các nước phát triển vẫn giữ được mức tăng trưởng dương dù là nhỏ. Còn các nước khác là

    âm. Từ đó cho thấy khoảng cách (hay tụt hậu xa hơn về kinh tế) giữa các nước trên thế

    giới là không thể tránh khỏi.

    1.2. Thực trạng và những vấn đề tồn tại của tham nhũng ở nước ta

    1.2.1. Thực trạng của tham nhũng

    Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng phòng, chống tham nhũng.

    Ngay từ năm 1945 sau khi dành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chăm lo giáo

    dục cán bộ, đảng viên nâng cao đạo đức cách mạng, thực hành “cần kiệm, liêm chính”.

    Người đã chỉ rõ : Tham ô lãng phí, quan liêu là giặc “nội xâm”. Trong thời kỳ xây dựng

    XNXH ở miền Bắc. Đảng ta đã tiến hành cuộc vận động “3 xây, 3 chống”. Bước vào công

    cuộc đổi mới, Đại hội Đảng VI của Đảng đã yêu cầu tiến hành cuộc vận động làm trong

    sạch và nâng cao hiệu lực quản lý của cán bộ bộ máy nhà nước, đẩy lùi và xoá bỏ các hiện

    tượng tiêu cực, làm lành manh hoá các quan hệ xã hội. Bộ chính trị đã có Nghị quyết số:

    04/NQ/TW (12-9-1987) để chỉ đạo cuộc vận động này. Sau đó Ban bí thư đã có chỉ thị số:

    64-CT và Hội đồng Bộ trưởng có quyết định số: 240/HĐBT (26-6-1990) về đấu tranh

    chống tham nhũng: Đại hội VIII trong Văn kiện Đại hội ghi rõ nội dung của nhiệm vụ đấu

    tranh chống tham nhũng. Tháng 2-1998, Uỷ ban thường vụ quốc hội đã thông qua Pháp

    lệnh chống tham nhũng. Tháng 2-1999 Hội nghị TW 6 (lần 2) khoá VIII đã đề ra nghị

    quyết về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đại hội Đảng IX (tháng 4-2001) đã quyết định thực

    hiện nghị quyết về xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết TW 6 (lần 2) khoá VIII, tập trung

    làm tốt công tác giáo dục chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá

    nhân, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Tháng11-2001 Hội nghị trung ương lần

    thứ 4 (khoá IX) đã ra kết luận số: 04/KL-TW về tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây

    dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, lãng phí. Kết luận của Trung

    ương đã xác định chống tham nhũng lãng phí là nhiệm vụ trước mắt, đồng thời cần nhận rõ

    đây là cuộc đấu tranh khó khăn, quyết liệt lâu dài, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo

    vệ tổ quốc.

    Trong quá trình thực hiện chủ trương chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, các

    tổ chức, chính quyền đoàn thể TW – địa phương đã bền bỉ, tích cực đấu tranh và đạt được

    một số kết quả như: Đã phát hiện và xử lý được nhiệm vụ tham nhũng, trừng trị nghiêm

    khắc những kẻ đục khoét tài sản của Nhà nước, tập thể và của dân; thu hồi lại cho nhà

    nước và trả lại cho dân một giá trị tài sản rất lớn, đã xây dựng và hoàn thiện nhiều cơ chế

    chính sách quản lý có tác dụng hạn chế một phần tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng.

    Những việc đó đã góp phần vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy

    Nhà nước, đảm bảo an ninh chính trị xã hội đất nước. Mặc dù có những cố gắng quyết tâm

    nhưng cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta đạt kết quả còn thấp, hiệu quả rất hạn

    chế. Có nhiều lĩnh vực và thậm chí ngày càng nghiêm trọng hơn trước. Tham nhũng xảy ra

    rộng khắp trong bộ máy nhà nước, ở hầu hết các ngành các cấp từ trên xuống dưới với

    quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn. Đã có nhiều doanh

    nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân thua lỗ, phá sản vì tệ nạn tham nhũng. Tệ nạn

    tham ô, ăn cắp của công, cố ý làm trái vì động cơ vụ lợi cá nhân, báo cáo sai sự thật để

    thanh quyết toán khống, bòn rút công quỹ trong các lĩnh vực để làm giàu bất chính, lạm

    dụng chức quyền để nhũng nhiễu… đã lan rộng khắp các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo

    dục, y tế, thương binh xã hội. Tham nhũng đã xâm nhập ngay vào các cơ quan bảo vệ,

    pháp luật, là những công cụ chủ yếu trong đấu tranh chống tham nhũng và giữ gìn an ninh

    trật tự, xã hội.

    Một câu hỏi được đặt ra: Vì sao tham nhũng lại diễn ra phổ biến và nghiêm trọng

    như vậy? Mặc dù Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chỉ thị, Nghị quyết, đã tiến hành

    nhiều cuộc vận động lớn, đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ rất nghiêm khắc, mặc dù bị cả xã hội

    lên án, ai ai cũng căm ghét phẫn nộ, nhưng tệ nạn tham nhũng chưa bị đẩy lùi, ngăn chặn,

    thậm chí còn phát triển hơn, nghiêm trọng hơn.

    Trước câu hỏi này đặt ra rất nhiều vấn đề như cơ chế chính sách chưa hoàn thiện,

    còn sơ hở, về đời sống khó khăn, lương thấp, có người cho rằng vì phẩm chất đạo đức suy

    thoái, công tác giáo dục đào tạo cán bộ đảng viên kém, người thì cho rằng các nhà lãnh

    đạo không gương mẫu, chưa chống đều khắp từ trên xuống dưới, công tác điều tra còn bị

    coi nhẹ, kém hiệu quả, việc xử lý các vụ tham nhũng chưa nghiệm… Theo báo cáo của

    Chính phủ tại kỳ họp thứ 10 khoá IX đã phát hiện và xử lý trên 500 vụ tham nhũng với

    tổng số tài sản thiệt hại trên 1,2 tỷ đồng và 34 triệu USD. Đặc biệt năm 1996 ta đã phát

    hiện 10 vụ tham nhũng lớn trên 100 tỷ đồng/vụ. Theo báo cáo của Chánh án Toà án Nhân

    dân tối cao trước Quốc hội, từ năm 1992 – 1997 toà án xét xử 3621 vụ tham nhũng với

    6315 bị cáo, trong đó có 64,5% số bị cáo bị tù, 10 tên bị tuyên phạt tử hình. Và đến nay

    vẫn liên tiếp xảy ra các vụ án lớn nghiêm trọng gây thiệt hại lớn đến tiền của của Nhà nước

    và nhân dân, gây mất ổn định về kinh tế xã hội. Tiêu biểu như việc phát hiện thu hồi về

    cho Nhà nước hàng nghìn tỉ đồng, hàng chục ngàn héc ta đất, cùng nhiều tài sản có giá trị

    khác, xử lý hàng chục nghìn cán bộ sai phạm, công chức sai phạm như EPCO – Minh

    Phụng; Tân Trường Sanh; Nhà máy dệt Nam Định. Gần đây tiếp tục làm rõ các vụ án lớn

    như: Công ty thương mại Đồng Tháp; Công ty lương thực an Giang; Công ty dược xuất

    nhập khẩu Cà Mau, vụ Năm Cam… cũng đã có tác dụng phòng ngừa, răn đe giáo dục mọi

    người trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

    1.2.2. Những vấn đề tồn tại

    Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, quan liêu tham nhũng là những hiện tượng xã

    hội gắn liền với sự hình thành xã hội có giai cáp và sự ra đời và phát triển của bộ máy Nhà

    nước… Chúng là những căn bệnh đồng hành đặc trưng của mọi nhà nước, là khuyết tật

    bẩm sinh của quyền lực, là biểu hiện của sự tha hoá “quyền lực nhà nước”, tệ nạn tham

    nhũng, quan liêu diễn ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị xã hội,

    không kể quốc gia đó giàu nghèo, ở trình độ phát triển thấp hay cao. Chúng len lỏi vào mọi

    mặt của đời sống xã hội, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, làm xói mòn

    đạo đức, phẩm chất con người, gây ra sự cản trở đi lên và phát triển của xã hội. Tuy nhiên,

    hình thức, tính chất và mức độ quan liêu, tham nhũng không mang tính cố định, bất biến

    mà thay đổi tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế chính trị xã hội và trình độ dân trí, khả năng

    quản lý xã hội của Nhà nước.

    Với việc tham nhũng ngày càng gia tăng, và có quy mô ngày càng lớn như hiện nay.

    Và với các biện pháp phòng ngừa đang dần dần có hiệu quả. Nếu như những yếu tố của

    các chiến dịch chống tham nhũng thành công cho đến nay đã được hiểu tương đối đầy đủ,

    thì việc thực hiện và duy trì chúng lại cực kỳ khó khăn. Bất kỳ yếu tố nào cũng đều có thể

    góp phần đưa chúng đến chỗ thất bại. Hơn nữa, những nơi mà tham nhũng hoành hành và

    ăn sâu vào toàn bộ bộ máy chính phủ, thì các cơ hội để bắt đầu cải cách sẽ rất hiếm hoi và

    hàng loạt cản trở sẽ xuất hiện.

    Thêm vào đó, áp lực cải cách bắt nguồn từ những đẳng cấp thấp hơn trong bộ máy

    quan liêu có thể bị cản trở do sự thiếu vắng ý chí hay sự quan tâm chính trị trong những

    công chức ở cấp cao hơn và các quan chức chính trị. Tại bất cứ trong tiến trình này, sự

    thiếu vắng một cam kết từ cấp cao nhất hay tầng thấp nhất đều có thể thực sự phá hỏng

    tên phá hoại từ bên trong của hệ thống hành chính quốc gia. Tham nhũng là căn bệnh mãn

    tính của nhiều quốc gia, khi các viên chức xấu đã mất lương tri và đạo đức của mình. Văn

    kiện Đại hội VIII của Đảng ta cũng một lần nữa khẳng định: Nạn tham nhũng đang là một

    nguy cơ trực tiếp quan hệ đến sự sống còn của hệ thống chính trị. Đảng, Nhà nước và nhân

    dân ta đã có các biện pháp khắc phục song hiệu quả còn thấp. Phải tién hành đấu tranh

    kiên quyết, thường xuyên và hiệu quả chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước, những

    biện pháp cấp bách với những giải pháp có tầm chiến lược nhằm hoàn thiện cơ chế chính

    sách, kiện toàn tổ chức, chấn chỉnh công tác quản lý, khắc phục sơ hở, vừa xử lý nghiêm

    kịp thời mọi vi phạm, tội phạm, huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lượng đấu tranh.

    Làm ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ tham nhũng. Thủ trưởng các cơ quan đơn vị chủ chốt

    các cấp phải gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham nhũng, trước hết là đối với bản

    thân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền với đấu tranh chống buôn lậu, lãng phí,

    quan liêu, tập trung vào các hành vi tham ô, chiếm đoạt làm thất thoát tài sản nhà nước, đòi

    hối lộ, đưa và nhận hối lộ.

    Tham nhũng

    Chức quyền

    Ký kết móc

    ngoặt với

    nước ngoài

    Tài nguyên

    Phá hoại

    công trình

    di tích

    Tài sản

    khác

    Tiền Thông Phương

    tin tiện làm

    việc

    Chương II: Vấn đề tụt hậu xa hơn về kinh tế ở nước ta

    2.1. Các vấn đề của tụt hậu kinh tế

    Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị

    trường trong bố cảnh kinh tế – chính trị thế giới đang trong quá trình cơ cấu lại một cách

    sâu sắc. Hơn nữa, Việt Nam nằm trong khu vực châu á với nền văn minh Trung Hoa đặc

    sắc và có sự phát triển kinh tế năng động nhất trong mấy thập kỷ qua. Liệu Việt Nam có

    phát triển vượt lên theo con đường phương Đông, con đường Việt Nam riêng có của mình

    hay không?

    So với nhiều nước trong khu vực, sự nghiệp phát triển của Việt Nam bị chậm vài

    thập kỷ. Việt Nam đã bị tụt hậu khá xa về kinh tế, là một trong những nước nghèo nhất thế

    giới và có nguy cơ sẽ còn tụt hậu mạnh hơn nữa nếu không có đường lối, chiến lược thông

    minh và một quyết tâm cao.

    Nước và lãnh

    Năm xuất phát

    Dân số (Triệu

    thổ

    cất cánh

    người)

    Đài Loan

    1960

    11

    11

    1000

    Hàn Quốc

    1960

    25

    18

    700

    Thái Lan

    1960

    26

    8

    300

    Inđônêxia

    1967

    111

    17

    150

    Việt Nam

    1990

    66

    10-14

    150-200

    GN1* (tỷ USD)

    GDP/người

    USD

    Bảng I: So sánh xuất phát điểm kinh tế của Việt Nam và một số nước

    và lãnh thổ trong khu vực

    Để tránh tụt hậu, chắc chắn Việt Nam phải hội nhập vào cộng đồng thế giới, nhưng

    hội nhập thế nào, theo hướng nào, theo phương thức nào, tiếp thu cái gì là một vấn đề lựa

    chọn mang tính quyết định. Trong khi đang tiếp tục tiến hành mới và phát triển kinh tế

    Việt Nam phải đối mặt với chính mình với quá khứ và di sản của mình.

    Khi đất nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    thực chất là một cuộc giải phóng xã hội lần thứ 2, theo đó mỗi tiềm năng của môi cá nhân,

    mỗi tổ chức kinh tế, xã hội, mỗi địa phương và vùng lãnh thổ được “giải phóng”. Sự kết

    nối, tác động tương hỗ giữa chúng sẽ được thực hiện thông qua một cơ chế mới là cơ chế

    thị trường kết hợp với các chuẩn mực đạo đức, văn hoá và xã hội mang bản sắc Việt Nam.

    Trên một thập kỷ qua, công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đa đưa đất

    nước ta thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội, đạt được sự tăng trưởng cao và liên tục

    từ năm 1991, đời sống nhân dân đã ngày được cải thiện, nhiều mặt của đời sống xã hội đã

    được thay đổi tích cực; nền kinh tế đã được mở cửa với thế giới gúp Việt Nam sử dụng

    được các lợi thế so sánh của mình có được nguồn tăng trưởng quan trọng bên ngoài… Tuy

    nhiên, cũng đã xuất hiện nhiều vấn đề mới khiến chúng ta phải suy ngẫm. Các quan hệ

    kinh tế thị trường một mặt phá vỡ những cơ cấu và cơ chế kìm hãm phát triển, nhưng mặt

    khác cũng gây ra những vấn đề mới, mặt tiêu cực, mặt trái cần phải được xem xét và xử lý.

    2.2. Nguyên nhân của tụt hậu xa hơn về kinh tế

    Kể từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua

    hết các khó khăn này tới khó khăn khác. Nhân dân ta đã đánh bại tên thực dân Pháp, đế

    quốc Mỹ… để xây dựng lên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Và kể từ khi đất nước được

    hoàn toàn giải phóng Đảng lại lãnh đạo nhân dân ta trong công cuộc phát triển kinh tế.

    Song, ngoài những thành tựu rất đáng kể, chúng ta còn có những khó khăn riêng. Đó là sự

    tụt hậu hơn so với đà phát triển của thế giới. Mà sự tụt hậu này ngoài những nguyên nhân

    chủ quan, còn có những nguyên nhân khách quan của nó.

    Thứ nhất, do hậu quả của 2 cuộc chiến tranh kéo dài đã tàn phá những thành tựu của

    dân tộc ta. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã phải chống đỡ với rất nhiều khó khăn: khó

    khăn về đất nước mất chủ quyền, và nền kinh tế bị lạm phát và Đảng và nhân dân ta đã

    phải gồng mình chống đỡ. Năm 1954 thì miền Bắc mới hoàn toàn giải phóng để đi lên phát

    triển kinh tế, nhưng miền Nam vẫn bị đô hộ của đế quốc Mỹ. Do đó lúc bấy giờ việc quan

    trọng nhất là giải phóng miền Nam. Và khi đó miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội

    với các khẩu hiệu: “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “tất cả vì miền Nam thân yêu”.

    Nhưng không chỉ đơn thuần phát triển kinh tế, miền Bắc cũng phải chịu những cuộc rải

    thảm bằng bom rất ác liệt, nó được ví như “Điện Biên Phủ trên không”, đế quốc Mỹ đã

    ném xuống miền Bắc hàng triệu tấn bom để ngăn cản miền Bắc đi lên và sự chi viện của

    miền Bắc cho miền Nam. Khi đó hàng trăm ngàn tấn bom đạn của Mỹ đã tàn phá rất nhiều

    những thành tựu của miền Bắc, nhưng không vì thế mà miền Bắc không phát triển, không

    viện trợ cho miền Nam ruột thịt. Miền Bắc vẫn phát triển và ngày càng viện trợ nhiều về

    người và tài sản cho miền Nam. Và đến năm 1975 đã chứng kiến cuộc một nước thuộc địa

    nhỏ đã đánh bại một tên trùm đế quốc xâm lược lớn. Kể từ đó nước ta hoàn toàn thống

    nhất, và nhân dân ta bây giờ chỉ còn việc bắt tay vào phát triển kinh tế. Nhưng nhìn vào

    toàn cảnh đất nước ta năm đó, thì Việt Nam bị tàn phá hết sức nặng nề mà để xây dựng lên

    các cơ sở hạ tầng như vậy để phục vụ cho phát triển thì ta cần rất nhiều thời gian, tiền của

    và công sức.

    Thứ hai, ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, đặc biệt là ngay sau khi miền

    Bắc đi vào xây dựng xã hội mới. Khi đang tìm tòi con đường nối tiếp hợp lý với lịch sử và

    bứt ra khỏi quá khứ thì do hoàn cảnh của lịch sử lúc đó, chúng ta đã thu nhập mô hình kế

    hoạch hoá tập trung của Liên Xô và Trung Quốc cùng với việc nhận thức và vận dụng

    chưa sáng tạo tư tưởng Mác – Lênin trong mô hình xây dựng kinh tế phù hợp với điều kiện

    ở nước ta. Khi đang còn mò mẫm với mô hình kinh tế du nhập nói trên và đang bắt đầu

    trăn trở với các vấn đề nảy sinh trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước làm gián đoạn

    con đường tìm tòi, sáng tạo mô hình kinh tế mới, mô hình tổ chức xã hội mới. Như vậy, ở

    Việt Nam có một sự kết hợp giữa tư tưởng Nho giáo, tư tưởng Mác – Lênin đã có phần bị

    giáo điều hoá và được nhận thức, được nuôi dưỡng trong môi trường chiến tranh lâu dài.

    Vì vậy mô hình kinh tế Việt Nam là một mô hình rất đặc trưng, pha trộn nhiều màu sắc,

    phản ánh nhiều xu thế và rất phức tạp.

    Lý luận Mác – Lênin là học thuyết khoa học có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự

    phát triển xã hội, trong đời sống chính trị thế giới và phong trào công nhân quốc tế. Nó là

    nền tảng cho sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, thể hiện sự khát vọng cao cả

    của nhân loại, hướng tới một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn theo nghĩa đầy đủ nhất

    của từ này. Việc sụp đổ của hệ thống XHCN vừa qua không có nghĩa đơn giản là sự sụp đổ

    của tư tưởng Mác – Lênin. Với tư cách là một học thuyết khoa học. Tuy nhiên cần ý thứuc

    rằng một học thuyết khoa học thì không thể coi nó như kinh thánh và cũng không thể giáo

    điều; nó có sự sáng tạo và có những hạn chế tất yếu mang tính lịch sử. Do vậy, một nhà

    yêu nước chân chính phải là người có trách nhiệm, và sứ mệnh làu giàu học thuyết đó về

    khoa học và thực tiễn để nó tiếp tục có sức sống như một tinh hoa của nhân loại.

    Nhưng đáng tiếc trong quá trình vận dụng tư tưởng Mác – Lênin đã có sự nhầm lãn

    giữa mục tiêu và phương tiện, có một sự trái ngược giữa lời nói và việc làm, có sự xa rời

    giữa triết lý nền tảng và phương pháp luận khoa học của nó. Đảng và Nhà nước ta sở dĩ

    trình và những hiện tượng này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến sự suy đồi về văn hoá,

    xã hội, cản trở sự phát triển ổn định và bền vững của đất nước.

    2.3. Sự tụt hậu xa hơn của Việt Nam so với các nước trên thế giới

    Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu số 1 của nhiều quốc gia và Việt Nam cũng

    không ngoại lệ. Mặc dù, trong những năm đổi mới kinh tế, Việt Nam đã đạt được tỷ lệ tăng

    trưởng tương đối cao so với các nước trong khu vực, song chất lượng tăng trưởng vẫn là

    một khâu yếu, cần phải đánh giá trên các bình diện khác nhau và đưa ra các giải pháp

    nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, tránh tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế. Đánh giá vềkt

    năm 1999 của Việt Nam, có ý kiến cho rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã

    vượt qua đây; ngược lại cũng có ý kiến cho rằng nền kinh tế chưa chặn được đà sút giảm

    của tốc độ tăng trưởng. Năm 1989: 4,69%; 1990: 5,10%; 1991: 5,96%; 1992: 8,56%;

    1993: 8,07%; 1994: 8,83%; 1995: 9,54%; 1996: 9,34%; 1997: 8,15%; 1998: 5,8%; 1999:

    4,7%.

    Trong khi đó, cũng vào những năm cuối cùng của thể kỷ XX Tây Âu đang nhanh

    chóng trở thành một cực đặc biệt thu hút nền kinh tế thế giới và có sức mạnh kinh tế. Vớ

    hơn 340 triệu dân, tổng sản phẩm xã hội hơn 5,5 nghìn tỷ USD, các nước Tây Âu chiếm

    1/3 sản phẩm công nghiệp của thế giới TBCN. Đặc biệt trong những năm đầu của thập kỷ

    90, quá trình liên kết chính trị đang diễn ra ở Tây Âu đã giúp cho việc ổn định tình hình

    kinh tế khu vực, tạo điều kiện cho Tây âu phát triển về chất.

    Với khu vực kinh tế châu á – Thái Bình Dương thập kỷ 90 thì được dự báo là tiếp

    tục tăng nhanh. Đại đa số cho rằng, kinh tế các nước đang phát triển ở Đông á tiếp tục duy

    trì tốc độ tăng trưởng cao trong những năm 90. Trong đó, đặc biệt chú ý là cộng hoà dân

    chủ nhân dân Triều Tiên, Thái Lan, Mailaixia, Trung Quốc.

    Chương III: Tham nhũng và tụt hậu xa hơn về kinh tế

    trên thế giới

    3.1. Tình trạng một số nước trên thế giới

    3.1.1. Tandania:

    Thực trạng tham nhũng không bắt đầu với việc giành độc lập từ sự thống trị của

    thực dân, mà nó cũng không phản ánh một khuynh hướng của châu Phi về hành vi sai như

    đôi khi người ta vẫn cho là thế. Trên thực tế, tham nhũng và sự thiếu vắng tinh minh bạch

    trong chính phủ được ghi nhận là những đặc điểm của sự thống trị thực dân ở Tandania,

    cũng như tình trạng chung trên toàn châu Phi. Trách nhiệm đối với người dân địa phương,

    gần như chắc chắn là thiếu vắng trong suốt thời kỳ thuộc địa. Chính phủ có tính chất đàn

    áp và nó nhận được quyền lực từ sự ưng thuận của những người bị cai trị.

    Nền độc lập của Tandinia năm 1964 không thông báo sự gia tăng rõ rệt của các

    thông lệ tham nhũng. Trong những năm qua ngay sau độc lập, tham nhũng có chiều hướng

    bị hạn chế trong những quan chức cấp thấp. Tham nhũng chưa tràn lan tới những cấp cao

    hơn trong khu vực công chức và tác động của nó vẫn còn đủ nhẹ để không làm xói mòn

    hiệu quả tổng thể của khu vực công chức Nhà nước. Sự tồn tại về bộ luật về ban lãnh đạo

    xã hội chủ nghĩa và cam kết mạnh mẽ của tổng thống đấu tranh chống tham nhũng, kết

    hợp với mức lương trả cao cho công chức nhà nước và tốc độ tăng trưởng kinh tế vững

    chắc, đã giúp cho việc hạn chế tình trạng tham nhũng quá quắt và kiểm soát ở mức độ lớn

    hơn những hành vi tồi tệ.

    Tuy nhiên, cuối những năm 1960 và những năm 1970 là thời kỳ bắt đầu suy giảm

    mạnh và phải trả giá đắt về các phương diện hiệu quả tính chuyên nghiệp và sự toàn vẹn

    của dịch vụ công cộng của Tandania. Nhiều nhân tố kết hợp lại đã tạo ra một môi trường

    thích hợp cho sự phát triển và tràn lan của tham nhũng trên quy mô lớn. Người ta cho rằng

    một trong các nguyên nhân quan trọng nhất của tình trạng lan tràn tệ nạn tham nhũng trong

    những năm 1970 là chương trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được đề xướng trong tuyên bố

    chính thức Arusha tháng 2 năm 1967 và theo đó là sự bành trướng của nhà nước trong hầu

    như mọi khu vực đời sống ở Tandania. Khu vực công cộng ở Tandania phát triển với tốc

    độ nhanh, buộc vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế tương ứng phải thu hẹp. Từ

    năm 1966-1979 con số các cơ quan, tổ chức công cộng ở Tandania tăng từ 43 lên 380.

    Uganda ngày nay là một xã hội đang chuyển đổi, sau 2 thập kỷ nội chiến dữ dội,

    tham nhũng nghiêm trọng, mất ổn định và suy thoái kinh tế, giờ đây Uganda có vẻ như

    đang chuyển động hướng đến khôi phục lại sự tăng trưởng kinh tế và một nền dân chủ cao

    hơn. Giới báo chí giừo được tự do và ồn ào. Các cuộc bầu cử được tổ chức từ năm 1996,

    một bản Hiến pháp mới được ban hành vào T10/1995 sau vài năm tranh luận kịch liệt, một

    chương trình cải cách khu vực công cộng có ảnh hưởng sâu rộng đang được tiến hành.

    Những thách thức to lớn vẫn còn nằm ở phía trước. Một chính phủ minh bạch có trách

    nhiệm, là cơ sở cho việc xây dựng một nhà nước dân chủ chưa từng có trong lịch sử của

    đất nước Uganda độc lập. Từ thời kỳ thực dân sự áp bức và tham nhũng đã là đặc trưng rõ

    ràng của sự cai trị. Chính quyền thực dân Anh, không có trách nhiệm giải trình trước nhân

    dân Uganda và không điều hành công việc theo nguyên tắc công khai, minh bạch và trách

    nhiệm. Các chính sách thực dân cũng làm tăng thêm những căng thẳng xã hội và sắc tộc

    trong nước, từ đó góp phần khuấch động xung đột và sẽ xác định tính chất nền chính trị ở

    Uganda trong ba thập kỷ sau đó.

    Kể từ khi giành độc lập, tháng 10 năm 1962, Uganda trở thành một đất nước độc

    lập, nhưng không hoàn toàn, với một nền văn hoá chính trị không thích hợp cho sự tồn tại

    của một hệ thống chính quyền công khai và dân chủ. Vào năm 1996 khi tổng thông mới

    Obate lên nắm quyền kéo theo đó là sự tăng lên nhanh chóng các đơn vị quốc doanh đã

    báo trước sự gia tăng của tệ nạn tham nhũng lan tràn khắp Uganda. Các hợp tác xã quốc

    doanh thâu tóm các tổ chức độc quyền chế biến và tiếp thị nông sản phẩm vốn đã nằm

    trong các công ty Châu Âu, cũng như hàng loạt các hoạt động chủ yếu trong cung cấp điện

    năng, sản xuất xi măng, và du lịch. Thậmchí trong một số trường hợp còn bị xếp vào loại

    “khu vực tư nhân” nhưng, các hợp tác xã này vẫn được nhà nước bao cấp và những người

    quản lý hợp tác xã do chính phủ bổ nhiệm. Với sự kiểm soát trực tiếp đối với giá cả của

    nhà sản xuất, thuế đánh vào các loại hàng hoá và dịch vụ, giấy phép xuất nhập khẩu, mua

    bán ngoại tệ và vô số các loại giấy phép khác được đòi hỏi với ngay cả những khía cạnh

    trần tục nhất của cuộc sống hàng ngày, các đơn vị quốc doanh và các cơ quan và các cơ

    quan nhà nước khác đều ngả về phía tham nhũng. Và những năm sau đó sự tham ô và

    những hành động cướp đoạt trắng trợn không hề bị kiểm soát. Với chính sách trục xuất

    những người châu á không phải là công dân Uganda, tịch thu tài sản cá nhân và doanh

    nghiệp của họ rồi phân phát chúng cho giới quân nhân, những kẻ có thế lực và các đơn vị

    quốc doanh. Từ đó dẫn đến trong vòng chưa đến một thập kỷ, giá trị thực của tiền công,

    tiền lương bị mất đi đến 90% (do lạm phát). Cuộc khủng hoảng thu nhập được phản ánh

    qua sự xuất hiện của nền kinh tế song song, hay là kinh tế ngầm.

    Công chức Uganda chiếm một tỷ lệ lớn trong những người làm công ăn lương và tỷ

    lệ lạm phát tăng vọt buộc nhiều người phải tìm kiếm những nguồn thu nhập phụ thêm. Một

    số hoạt động thậm chí còn rõ ràng là bất hợp pháp hơn. Các kho dự trữ do chính phủ sở

    hữu bị bán đi một cách kín đáo. Tài sản công được cung cấp cho việc sử dụng tư để đổi lấy

    một khoản kinh phí, và những khoản lại quả 10-15% trở thành thông lệ trên các bản hợp

    đồng ký với doanh nghiệp nước ngoài và trong các dự án viện trợ. Không mấy lo sợ về

    chuyện bị truy tố, các quan chức trao hợp đồng xây dựng các công trình công cộng cho

    những công ty tư nhân do chính bản thân họ đứng ra làm chủ hoặc thuộc sở hữu của gia

    đình, bạn bè họ.

    3.1.3. Xiera Leôn

    Ngày nay, đối với người dân Xiera Leôn thì tham nhũng là một cách để sống, bất

    chấp vô số sự thay đổi trong chính phủ, cả công dân lẫn quân sự, nạn tham nhũng và

    những hoạt động phi đạo đức đang hoành hành và lan tới tất cả các cấp chính quyền thì

    hầu như không có sự thay đổi. Trong cả khu vực công cộng lẫn khu vực tư nhân, những

    hoạt động phi đạo đức đã khiến cho các cuộc khủng hoảng kinh tế vốn đã nghiêm trọng và

    kéo dài của đất nước lại càng nghiêm trọng thêm. Kể từ những năm 1980, Xiera Leôn đã

    trải qua tình trạng suy thoái kinh tế và khắc nghiệt nhất trong lịch sử quốc gia này.

    Nhiều người ở những vị trí có trọng trách đã đặt quyền lợi cá nhân của họ lên trên

    hết và đặt quyền lợi chung của đất nước xuống hàng cuối cùng. Thất bại liên tiếp của các

    chiến lược cải cách trước đây, ở một mức độ lớn là do sự thiếu hiểu biết về những căn

    nguyên và động lực của tham nhũng. Những biện pháp được sử dụng trước đây đều thiếu

    sự phối hợp, ý chí chính trị, sự lãnh đạo và sự tham gia của công chúng.

    Năm 1992 Xiera Leôn đã thành lập các uỷ ban điều tra để nhận diện những quan

    chức nhà nước và doanh nhân, nhừng người đáng lên án do cực kỳ thiếu trung thực, tắc

    trách và lạm dụng chức quyền để mưu lợi ích riêng. Các uỷ ban đã phanh phui vô số vụ

    tham nhũng móc nối chằng chịt, trong đó có cái gọi là cướp ngày của các chính khách và

    công chức nhà nước, trộm cắp và lừa đảo các bên ký hợp đồng của chính phủ và âm mưu

    của các doanh nghiệp nước ngoài, trong nước, của các nhà chính trị, công ty xuyên quốc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học: Phòng Ngừa Các Tội Phạm Về Tham Nhũng Ở Việt Nam
  • Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng Theo Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Chống Tham Nhũng Và Yêu Cầu Hoàn Thiện Pháp Luật Của Việt Nam
  • Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Chủ Yếu Về Phòng, Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Nâng Cao Hơn Nữa Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Tình Hình Mới
  • 7 Giải Pháp Trong Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Của Chính Phủ
  • Thảo Luận Về Tình Hình Tham Nhũng Và Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Cục Hải Quan Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Chủ Động Đề Xuất Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Tổng Bí Thư Nhấn Mạnh 6 Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Tiểu Luận Những Giải Pháp Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Có thể nói, những năm qua, công tác phòng, chống tham nhũng có sự chuyển biến rõ nét với nhiều kết quả nổi bật. Thể chế chính sách về phòng, chống tham nhũng được hoàn thiện hơn, công khai, minh bạch; công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời nghiêm minh hơn; các biện pháp tuyên truyền giáo dục, phòng ngừa được đẩy mạnh; hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng được được mở rộng. Không còn tình trạng “Giơ cao, đánh khẽ” mà “giơ cao đánh trúng”, và khó có chuyện bao che cho nhau, né tránh, sợ “Rút dây động rừng”. Tạo được niềm tin trong người dân, ngăn chặn được điểm nóng tham nhũng trong xã hội. Hiện Đảng còn ban hành Quy định về nêu gương đảng viên.

    Cần nhận thức được rằng Đảng, Quốc hội và chính phủ đang tập trung và sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng và có nhiều giải pháp tích cực phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, tham nhũng là một phạm trù lịch sử, là hiểm họa của nhiều nước trên thế giới, do đó chỉ có thể ngăn chặn, đẩy lùi, hạn chế làm giảm thiểu sự lây lan và tác hại của nó. Không thể xóa bỏ hoàn toàn, tiêu diệt tận gốc ngay tức khắc, vì thế không thể nôn nóng, ảo tưởng muốn diệt hết nạn tham nhũng trong một thời gian ngắn, thậm chí là phải nhanh, gọn… Cần thấy rằng những kẻ tham nhũng đang trà trộn, ẩn nấp trong hàng ngũ Đảng ta là thiểu số. Cơ chế của Đảng vẫn là khỏe mạnh, đại bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn trung thành với Đảng, hết lòng tận tâm, tận lực vì nước, vì dân và tích cực phòng, chống tham nhũng. Không cho đại bộ phận cán bộ, đảng viên là tha hóa biến chất. Khẩn trương triển khai các chủ trương của Ðảng, theo hướng nâng cao vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên để kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời, công khai tổ chức, cán nhân tham nhũng, lãng phí. Một cán bộ lão thành tuổi đã cao vẫn còn đến gặp tôi và đề nghị: “Anh kiến nghị với Đảng, Quốc hội và Chính phủ chống tham nhũng chỉ cần chọn và nêu gương được người đứng đầu gương mẫu, liêm khiết thì cả bộ máy liêm khiết”. Người đứng đầu phải tỏ rõ quyết tâm, cam kết không tham nhũng, không để bố mẹ, vợ (chồng), con, anh, chị, em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để trục lợi, làm ăn bất chính; bản thân cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu đi đầu trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm dụng, vay, mượn tiền, tài sản của đối tượng trực tiếp quản lý trái quy định. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của Đảng và Nhà nước. Luật Phòng, chống tham nhũng cần tập trung xử lý việc tài sản không chứng minh được nguồn gốc. Hy vọng Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố, các cơ quan pháp luật sẽ chung tay góp sức để hưởng ứng chủ trương của Đảng trong phòng, chống tham nhũng, từng bước đẩy lùi nạn tham nhũng, xây dựng lại niềm tin trong cử tri và nhân dân, tạo đà cho sự phát triển KT-XH, nhằm thực hiện thành công mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

    Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Thảo Khoa Học “phòng, Chống Tham Nhũng
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Thái Bình Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Hội Thảo Chuyên Đề: “phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Các Giải Pháp Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Đề Tài Một Số Vấn Đề Lý Luận, Thực Tế Và Những Ảnh Hưởng Tới Nền Kinh Tế, Một Số Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tham Nhũng
  • Luận Văn: Các Biện Pháp Hành Chính Phòng, Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Diện, Phát Hiện Và Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng Vặt
  • Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Doanh Nghiệp
  • Phòng Chống Tham Nhũng: Một Số Biện Pháp Còn Hình Thức, Hiệu Quả Thấp
  • Vấn Đề Bạo Lực Học Đường Hiện Nay Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Một Số Giải Pháp Về Phòng Ngừa Bạo Lực Học Đường Ở Nước Ta Hiện Nay
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành luật hiến pháp với đề tài: Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN HỮU HOÀI BẢO CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2022
    2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN HỮU HOÀI BẢO CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 60.38.01.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC chúng tôi LƢƠNG THANH CƢỜNG HÀ NỘI, năm 2022
    3. 4. LỜI CẢM ƠN Qua 2 năm học tập và nghiên cứu tại học viện Khoa học xã hội, được chúng tôi Lương Thanh Cường hướng dẫn khoa học, Tôi đã nỗ lực để hoàn thành công trình nghiên cứu “Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”. Trước hết, Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, Phòng Đào tạo, Văn phòng Khoa Luật, Cơ sở học viện Khoa học xã hội tại Thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ tích cực cho chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu, cung cấp cho chúng tôi hệ thống kiến thức và nhiều kinh nghiệm bổ ích. Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình. Học viên Nguyễn Hữu Hoài Bảo
    4. 5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG …………………………………………………………………………….6 1.1. Khái quát chung về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng………………………6 1.2. Các biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng …………………………………14 1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng………………………………………………………………………………………………………….33 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM ………………………………….38 2.1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Quảng Nam tác động đến biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng …………………………………………………………….38 2.2. Thực trạng tình hình phòng, chống tham nhũng và phòng, chống tham nhũng bằng các biện pháp hành chính tại tỉnh Quảng Nam ……………………………….40 2.3. Nhận xét chung về các biện pháp hành chính Phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Quảng Nam …………………………………………………………………………………………..57 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM .64 3.1. Giải pháp chung bảo đảm biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam………………………………………………………………………….64 3.2. Các giải pháp riêng bảo đảm biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng đối với tỉnh Quảng Nam………………………………………………………………………78 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………..80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
    5. 6. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1. CB,CC,VC: Cán bộ, công chức, viên chức 2. HĐND: Hội đồng nhân dân 3. Luật PCTN: Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 4. PCTN: Phòng, chống tham nhũng 5. TTHC: Thủ tục hành chính 6. UBND: Ủy ban nhân dân 7. UBMTTQVN: Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam
    6. 7. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tham nhũng là một hiện tượng có tính lịch sử, đang là vấn đề nhức nhối không chỉ ở các nước có tỷ lệ tham nhũng cao mà còn là vấn nạn của tất cả các nước trên thế giới. Theo Thống kê của Tổ chức minh bạch quốc tế năm 2022 (Transparency International), Việt Nam xếp hạng 112 trong số 167 nước được điều tra về tham nhũng . 1.1.2.3. Vai trò của phòng, chống tham nhũng Thứ nhất, PCTN góp phần bảo vệ chế độ, xây dựng Nhà nước pháp quyền Hoạt động PCTN luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt. Trong những năm gần đây, hoạt động PCTN ở Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên kết quả của hoạt động này vẫn chưa được như mong muốn. Tham nhũng vẫn được coi là “quốc nạn” của đất nước, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
    7. 31. 25 – Việc xác minh tài sản được tiến hành trong một số trường hợp nhất định. Đây là một điểm mới so với Pháp lệnh chống tham nhũng. Khi xem xét đề bạt, bổ nhiệm, bầu cử hoặc có hành vi tham nhũng thì thủ trưởng cơ quan tổ chức việc xác minh tài sản để xem cán bộ, công chức có kê khai trung thực hay không. – Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai trong một số trường hợp nhất định theo yêu cầu và trên cơ sở quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. – Người có nghĩa vụ kê khai tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật nếu kê khai không trung thực, nếu là người ứng cử thì sẽ bị loại khỏi danh sách bầu cử, người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn thì sẽ không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ dự kiến. Luật PCTN còn quy định việc xác minh tài sản là để đánh giá về tính trung thực của việc kê khai, góp phần đánh giá cán bộ, công chức hoặc người tham gia ứng cử vào các cơ quan quyền lực để bảo đảm bộ máy nhà nước có một đội ngũ cán bộ trung thực, liêm chính, không tham nhũng. Qua xác minh, nếu người bị kết luận là không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật sau: khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; hạ ngạch. Đối với người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực là người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, người dự kiến được phê chuẩn, bổ nhiệm thì bị xử lý như: bị xoá tên khỏi danh sách người ứng cử, không được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm. Thứ năm, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng Luật PCTN đã khẳng định lại nguyên tắc: “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách” Có thể thấy rằng, hoạt động thanh tra, kiểm toán đã phát hiện ra rất nhiều sai phạm kinh tế có dấu hiệu tham nhũng hoặc có nguy cơ dẫn đến tham nhũng nếu không được ngăn chặn kịp thời. Chính vì vậy, các hoạt động này được quy định rất chặt chẽ và đầy đủ trong các văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước. Một mặt, pháp luật trao cho các cơ quan này quyền hạn lớn để có thể đấu tranh với những vi phạm pháp luật, mặt khác cũng quy định chặt chẽ để hoạt động của các cơ quan này phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm tính chính xác, khách quan trong khi đánh giá, kết luận những vụ việc và người có hành vi vi phạm để tránh oan sai. Thứ ba, tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, các nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Tố cáo là một kênh quan trọng trong phát hiện hành vi tham nhũng. Luật PCTN quy định những nguyên tắc chung và nội dung cơ bản của tố cáo hành vi tham nhũng. Luật quy định cơ chế bảo vệ người tố cáo, quyền và nghĩa vụ của người tố cáo và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tiếp nhận và xử lý tố cáo hành vi tham nhũng, khen thưởng người tố cáo… Vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật nói chung đã được quy định trong Luật tố cáo năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật PCTN quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng với hai nhóm nội dung sau: – Quyền của công dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng, trách nhiệm của công dân khi thực hiện quyền tố cáo. Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật [25, tr 47-48].
    8. 38. 32 Đối với người đứng đầu đơn vị, khi để xảy ra tham nhũng thì có thể chịu các hình thức kỷ luật: – Hình thức khiển trách được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. – Hình thức cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. – Hình thức cách chức được áp dụng trong trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng hoặc nhiều vụ, việc tham nhũng rất nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Thứ hai,, xử lý tài sản tham nhũng Tham nhũng về bản chất là một hành vi có tính chất vụ lợi và một trong những hậu quả mà tham nhũng gây ra là tài sản công bị chiếm đoạt. Chính vì vậy, mục tiêu quan trọng của đấu tranh chống tham nhũng là phải bảo vệ được lợi ích của Nhà nước cũng như lợi ích của tập thể và cá nhân. Chống tham nhũng cần quan tâm đến việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến việc xử lý người vi phạm về kỷ luật hay hình sự mà chưa quan tâm hoặc có biện pháp hữu hiệu để thu hồi lại số tài sản mà kẻ tham nhũng đã chiếm đoạt và có được từ việc thực hiện hành vi tham nhũng. Điểm mới khá quan trọng trong việc xử lý tài sản của người đưa hối lộ đó là khuyến khích người đưa hối lộ khai báo, phát giác hành vi nhận hối lộ. Mặc dù, còn khá nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề xử lý đối với người có hành vi hối lộ nhưng nhìn chung đều nhất trí rằng, cần có quy định theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm cho người đưa hối lộ để khuyến khích họ phát giác hành vi nhận hối lộ.
    9. 39. 33 Luật quy định về nguyên tắc tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước. Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi hành vi đưa hối lộ bị phát giác thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ. Theo Điều 71 về thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài thì trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp. 1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện biện pháp hành chính phòng, chống tham nhũng 1.3.1. Điều kiện về pháp luật Từ năm 2005, Việt Nam ban hành Luật PCTN (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012). Trước khi có Luật, Pháp lệnh chống tham nhũng đã được ban hành năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000). Cùng với đó là các giải pháp PCTN được đưa ra như cải cách thủ tục hành chính; công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan nhà nước, tài sản và thu nhập cá nhân của cán bộ, công chức; tăng cường áp dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt… Nhưng thực tế từ năm 1998 đến nay, tình hình tham nhũng diễn ra ngày càng nhiều và nghiêm trọng cả về số vụ, tính chất, quy mô. Dưới góc độ quản lý nhà nước, hệ thống văn bản, quy phạm pháp luật phục vụ công tác PCTN ở nước ta còn thiếu đồng bộ, trên một số lĩnh vực còn sơ hở, chưa theo kịp sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Đặc biệt là trong lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản; xây dựng đầu tư cơ bản; quản lý ngân sách; thu thuế, phí; quản lý, sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; tín dụng, ngân hàng; công tác tổ chức cán bộ; quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân và doanh nghiệp; hợp tác đầu tư với nước ngoài; sử dụng các nguồn vốn vay nước ngoài… Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng còn bất cập, kéo dài, nặng dưới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Tài Chính Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng, Tiêu Cực Từ Xây Dựng Đảng
  • 6 Giải Pháp Trọng Tâm Phòng Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Cục Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội
  • Tham Nhũng Và Phòng, Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng, Lãng Phí
  • Đề Tài Một Số Vấn Đề Lý Luận, Thực Tế Và Những Ảnh Hưởng Tới Nền Kinh Tế, Một Số Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tham Nhũng
  • Các Giải Pháp Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Hội Thảo Chuyên Đề: “phòng, Chống Tham Nhũng Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Ở Thái Bình Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Trong khoảng chừng 30 năm nay, nhiều quốc gia, nhiều khu vực đã hao tâm, tổn trí rất nhiều vào việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu, đưa ra những tuyên bố cứng rắn và mở những chiến dịch rộng rãi để ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, song hiệu quả còn xa với yêu cầu của sự phát triển và đòi hỏi của nhân loại tiến bộ.

    Những hành vi tham nhũng rất đa dạng, phổ biến là hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ, dùng tài sản công để biếu xén, hối lộ; lừa đảo chiếm tài sản của Nhà nước, của nhân dân; lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu cho tổ chức, cá nhân để vụ lợi, thu vén quyền lợi cá nhân; lập quỹ trái phép, sử dụng ngân sách không đúng quy định để hưởng lợi. Các hành vi tham nhũng đã và đang xảy ra ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai, quản lý và sử dụng ngân sách, thuế, ngân hàng, hải quan, xuất nhập khẩu, tư pháp, giáo dục, y tế, thực hiện chính sách xã hội trong quản lý hành chính, công tác xã hội…

    Về quy mô của tham nhũng. Có đủ loại, đủ mức độ tham nhũng của cá nhân, của tập thể; tham nhũng không có tổ chức và tham nhũng có tổ chức gồm nhiều đối tượng tham gia.

    Những thiệt hại do tham nhũng gây ra rất lớn, có vụ tham nhũng về kinh tế làm thiệt hại cho Nhà nước, nhân dân tới hàng trăm, hàng nghìn tỉ đồng; làm thoái hóa, biến chất hàng loạt cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Cái thiệt hại đáng kể hơn, nặng nề hơn là tham nhũng đã làm xấu chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào tương lai của một chế độ tốt đẹp mà Đảng ta đang phát động xây dựng.

    Đấu tranh phòng, chống tham nhũng

    Cũng như các nước khác, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã diễn ra từ khá sớm và được đặc bieejt coi trọng dưới chế độ xã hội mới. Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về nạn tham nhuxng, coi đó là một loại “giặc nội xâm”; trong vài thập kỷ gần đây, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã coi tham nhũng là “quốc nạn” và rất tích cực đấu tranh chống tham nhũng.

    Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lên án mạnh mẽ tệ tham nhũng, quyết tâm đấu tranh phòng ngừa và chặn đứng, đẩy lùi tham nhũng. Nhận xét, đánh giá về tình hình tham nhũng và những quốc sách phòng, chống tham nhũng đã được nhiều lần nêu lên trong các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quyết định của các cơ quan chức năng, đoàn thể quần chúng. Những chủ trương, biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước đã liên tục được tuyên truyền đến người dân bằng các phương tiện thông tin đại chúng, bằng học tập, hội nghị, hội thảo chuyên đề ở từng cấp, từng ngành, từng khu vực. Tình hình tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trở thành đề tài thường xuyên trong các báo cáo chỉ đạo định kỳ của Chính phủ, của các cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm chính về vấn đề này. Đồng thời, nó cũng là những câu chuyện thường ngày phản ánh sự bất bình, bức xúc của mỗi người dân cả ở thành thị lẫn nông thôn, không phân biệt vùng, miền nào.

    Các biện pháp phòng, chống tham nhũng đã được triển khai toàn diện, thường xuyên, đợt này nối tiếp đợt khác. Nhiều biện pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được sử dụng, như biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục – cảm hoá, trừng trị bằng pháp luật,… Tuy vậy, tình hình tham nhũng ở nước ta vẫn không giảm.

    Vừa qua, cùng với việc Nhà nước ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ngày 1- 6 – 2006; rồi sự ra đời của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, Hội nghị Trung ương 3, khoá X đã ra Nghị quyết chuyên đề “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Nghị quyết đã nhận diện một cách khá đầy đủ thực trạng của công tác phòng, chống tham nhũng và những nguyên nhân chủ yếu của những thiếu sót, khuyết điểm trong công tác này. Đồng thời, Nghị quyết đưa ra những mục tiêu, quan điểm phòng, chống tham nhũng, lãng phí; những chủ trương, giải pháp và cách tổ chức thực hiện một cách toàn diện, sâu sắc.

    Những việc làm đó tỏ rõ sự quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong công tác phòng, chống tham nhũng, để làm cho mọi người có đủ bốn điều kiện: 1- không cần tham nhũng, 2- không thể (hoặc rất khó) tham nhũng, 3- không muốn tham nhũng, 4- không dám tham nhũng. Tuy nhiên, tính hiệu quả của các giải pháp này chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Hiện nay, ở nước ta, tình hình “tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”(1).

    Kết quả chưa khả quan về công tác phòng, chống tham nhũng vừa qua không thể phủ nhận được tính toàn diện, sâu sắc của các biện pháp phòng, chống tham nhũng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang sử dụng. Điều đó nói lên rằng, liều lượng của những biện pháp ấy chưa đủ mạnh và chưa nhằm trúng khâu đột phá để công tác phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

    Theo tôi, nếu chúng ta tìm đúng được khâu đột phá để phòng, chống tham nhũng thì chắc chắn sẽ mang lại những hiệu quả rất lớn.

    Việc Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực triển khai những biện pháp phòng, chống tham nhũng nhằm tạo ra đủ 4 điều kiện trên để công tác phòng, chống tham nhũng có hiệu quả là rất cần thiết, rất toàn diện. Bởi lẽ:

    Để có điều kiện khiến cho người ta không cần tham nhũng thì phải làm cho Nhà nước giàu mạnh, có thể đáp ứng, thoả mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần cho mọi người dân. Muốn vậy, phải đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, phát triển khoa học – công nghệ tiên tiến, xây dựng nền sản xuất có năng suất, chất lượng cao, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Đó là cả một quá trình lâu dài, cần phải mất nhiều thời gian, không thể có trong một sớm, một chiều.

    Để người ta không thể (hoặc rất khó) tham nhũng thì bộ máy tổ chức, quản lý của Đảng, Nhà nước phải rất khoa học, bao gồm cả cơ chế, cả con người và hệ thống luật pháp chặt chẽ không có kẽ hở để tham nhũng không thể luồn lọt. Đồng thời, đời sống dân chủ trong xã hội phải được nâng cao, mọi hành vi tham nhũng đều không lọt nổi con mắt làm chủ của nhân dân. Để đạt được điều đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân phải có sự đổi mới và cố gắng rất lớn trong công cuộc đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…

    Để người ta không muốn tham nhũng thì, hoặc là, phải có một quá trình với thời gian lâu dài để tạo đủ điều kiện thỏa mãn về vật chất và tinh thần cho mọi người dân khiến họ không cần phải tham nhũng như đã phân tích ở trên; hoặc là, xã hội phải tạo ra nếp sống không có tham nhũng, coi tham nhũng là xấu xa, tội lỗi, bất cứ ai tham nhũng cũng đều bị lên án, trừng trị… để gây áp lực tâm lý làm cho người ta không muốn và không dám tham nhũng. Trong hai phương án ấy, chỉ có phương án thứ hai là phù hợp với hoàn cảnh xã hội nước ta hiện nay. Muốn thực hiện được phương án thứ hai này, chúng ta phải ra sức xây dựng một xã hội dân chủ mà ở đó, mọi người sống có đạo đức, trong sạch, liêm khiết.

    Để người ta không dám tham nhũng thì, thứ nhất, phải xây dựng được một xã hội đạo đức, thực sự dân chủ, phát huy được tinh thần làm chủ của nhân dân, có thể tố giác và ngăn chặn được mọi hành vi tham nhũng, dù chúng có được che đậy tinh vi đến mấy. Thứ hai, một khi kẻ tham nhũng đã bị tố giác và có những bằng chứng không thể chối cãi thì Nhà nước phải xử lý nghiêm, xử lý nặng, buộc đương sự phải bồi thường thiệt hại, đồng thời tạo được làn sóng phê phán, lên án họ trong từng cộng đồng, trong toàn xã hội.

    Như vậy, xét một cách tổng thể hoàn cảnh kinh tế, chính trị và xã hội của nước ta hiện nay, có thể nói, chúng ta chưa đủ sức để triển khai đồng loạt các biện pháp nhằm đưa lại cho mọi người đủ cả 4 điều kiện để không cần tham nhũng, không thể (hoặc khó) tham nhũng, không muốn tham nhũng và không dám tham nhũng. Tuy nhiên, về mặt nhận thức, vẫn phải khẳng định việc tạo đủ 4 điều kiện trên là phương hướng đúng đắn để diệt trừ tận gốc tham nhũng, dù đó là một quá trình lâu dài và đầy gian khổ. Vậy, chúng ta phải làm gì để có thể “hạ nhiệt được cơn sốt” tham nhũng đang ở vào giai đoạn nguy kịch như hiện nay? Theo tôi, chúng ta cần phải thực hiện ngay những biện pháp cần thiết nhằm thoả mãn 2 điều kiện để người ta không muốn tham nhũng không dám tham nhũng. Trước mắt, chúng ta phải chọn được khâu đột phá và tập trung tác động vào đó tạo động lực cho việc hoàn thành cả hệ thống các biện pháp.

    Khâu đột phá phòng, chống tham nhũng

    Như đã phân tích ở trên, để thỏa mãn 2 điều kiện khiến cho người ta không muốn tham nhũngkhông dám tham nhũng, nếu chờ đợi đến khi nền sản xuất phát triển có khả năng thoả mãn được nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi người và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng hoàn thiện, có hệ thống luật pháp chặt chẽ, hoàn chỉnh không còn kẽ hở cho tham nhũng tồn tại thì sẽ quá lâu. Do vậy, trước mắt chúng ta có thể ưu tiên sử dụng ba biện pháp phù hợp hơn cả là: 1- Phát động xây dựng một nếp sống đạo đức xã hội đói cho sạch, rách cho thơm, tẩy chay tham nhũng, coi tham nhũng là trộm cắp, là nhục nhã và hèn hạ; 2- Trên cơ sở những thành tựu thu được của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng trong xã hội một nếp sống dân chủ, khuyến khích mọi người nói lên sự thật, có cơ chế bảo vệ những người dũng cảm tố cáo, phát hiện bọn tham nhũng; 3- Khi đã phát hiện được tham nhũng, cần phải trừng phạt nghiêm; đặc biệt với những kẻ tham nhũng là cán bộ, đảng viên. Cần xác định đây là khâu đột phá để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

    Cần phải nói thêm rằng, ba biện pháp này chúng ta đã làm và đang làm, nhưng làm một cách dàn trải cùng với các biện pháp phòng, chống tham nhũng khác, chứ chưa coi đó là biện pháp ưu tiên để tập trung giải quyết, tạo đà cho việc thực hiện các biện pháp khác.

    Để thực hiện tốt ba biện pháp này, phải xác định khâu đột phá như đã phân tích. Khâu đột phá đó sẽ tác động mạnh vào đối tượng là đảng viên – cán bộ, làm cho họ luôn tự giác, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng. Muốn thực hiện được khâu đột phá này, theo tôi, cần tập trung vào hai nhiệm vụ chính sau đây.

    Thứ nhất, phải tăng cường chỉnh đốn Đảng, giáo dục cho đảng viên “có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật. Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác”(2). Điều này cũng được ghi rõ trong mục 2, Điều 2 của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Thiết nghĩ, trong xã hội ta, nếu các đảng viên chấp hành nghiêm Điều lệ thì chắc hẳn nạn tham nhũng khó có đất sống. Bởi vì, người đảng viên luôn là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Nhưng, hiện nay, có một thực tế đau đớn là, hầu hết các vụ tham nhũng ở nước ta đều dính dáng trực tiếp, hoặc gián tiếp đến đảng viên – những người có chức, có quyền. Dù những hành động tham nhũng này có được biện bạch thế nào chăng nữa thì cũng là vô đạo, phi nhân tính, bất nghĩa mà người đảng viên không được phép làm. Do vậy, mấu chốt là ở chỗ, chúng ta cần tăng cường chỉnh đốn Đảng, đổi mới công tác đảng, kiên quyết đưa ra khỏi hàng ngũ của Đảng những đảng viên mắc vào tham nhũng, dù đó là đảng viên thường, hay đảng viên có chức, có quyền ở bất cứ cương vị nào. Chúng ta phải làm mạnh, mạnh từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra ngoài Đảng. Kinh nghiệm của Trung Quốc, như nguyên Tổng bí thư Giang Trạch Dân chỉ rõ: “Dưới soát tận đáy, trên không bịt trần”. Làm không sợ “đụng chạm”, không sợ “liên lụy” như một số người e ngại – hữu khuynh – ngụy biện cho rằng, sẽ làm mất ổn định chính trị nội bộ và các thế lực thù địch sẽ lợi dụng, khoét sâu phá hoại ta từ bên trong.

    Đối với người đảng viên – cán bộ, chúng ta phải làm cho họ nâng cao tính tiên phong, gương mẫu, biết “lo trước thiên hạ”, nhận khó khăn về mình và biết nhường nhịn, “hưởng sau thiên hạ”. Làm như thế là đúng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa. Người đảng viên phải nêu gương trước để trở thành con người xã hội chủ nghĩa có nếp sống trong sáng. Điều này không phải là hô hào, duy ý chí hoặc thần thánh hóa người đảng viên. Ai đó đã ngụy biện rằng, đảng viên cũng là con người, cũng có những nhu cầu, những ham muốn như những người bình thường khác, không thể đòi hỏi ở họ những gì quá đáng; cho nên, họ vẫn có thể có những hành động tham nhũng, tiêu cực! Nếu quả người đảng viên không hơn những người bình thường khác, vẫn có thể tham nhũng, tiêu cực và luôn đặt lợi ích cá nhân của mình lên trên lợi ích của nhân dân, của dân tộc thì tốt nhất, hãy ra khỏi hàng ngũ của Đảng; bởi vì, mục đích của Đảng, Điều lệ của Đảng không cho phép họ làm như vậy. Người đảng viên, nhất thời do hoàn cảnh này, nọ, có thể mắc khuyết điểm, nhưng phải giữ được lòng tự trọng, tự xấu hổ, tự đấu tranh, chuộc lại những lỗi lầm.

    Mọi tổ chức đảng, đặc biệt là các tổ chức đảng ở cơ sở, như tổ đảng, chi bộ đảng – nơi mà từng đảng viên trực tiếp sinh hoạt, phải xây dựng được môi trường dân chủ thực sự, có tinh thần đấu tranh nội bộ mạnh mẽ, thẳng thắn phê bình và tự phê bình, tự tìm ra những kẻ tham nhũng, không cần phải nhờ đến cơ quan chức năng hoặc lực lượng nào khác.

    Thứ hai, khi đã phát hiện tham nhũng thì phải xử phạt nghiêm minh với mọi đối tượng và có hình thức tăng nặng đối với đảng viên – cán bộ. Điều này, đất nước ta đã có những kinh nghiệm bổ ích. Ngay từ thế kỷ XV, dưới triều Hồng Đức (Vua Lê Thánh Tông), tại Điều 138 của Bộ Quốc triều Hình luật đã ghi: “Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì xử tội chém. Những bậc công thần, quý thần cùng những người có tài được giữ vào hàng bát nghị mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan thì phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên thì xử tội đồ và những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho”(3). Còn đối với chế độ ta hiện nay, thiết tưởng, cùng tội trạng như nhau, những đối tượng là đảng viên – cán bộ phải bị xử phạt nặng hơn dân thường; người ở ngôi vị càng cao, càng phải xử nặng. Bởi lẽ, “thượng bất chính, hạ tắc loạn”; nếu không thì quần chúng nhân dân sẽ không phục.

    Đối với toàn xã hội, cần đẩy mạnh thực hành dân chủ để mọi người dân có điều kiện kiểm tra, giám sát lẫn nhau, giám sát công việc của các tổ chức, cơ quan mà kịp thời ngăn chặn, phát hiện những hành động tham nhũng. Đẩy mạnh hoạt động của báo chí trong công tác phòng, chống tham nhũng, từ đó có thể tạo ra dư luận và tâm lý xã hội tích cực đối với việc phòng, chống tham nhũng. Cần xây dựng một nếp sống trong sáng, lành mạnh trong xã hội, “phát động tư tưởng quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu có chỗ ẩn nấp”(4). Vi ệc tạo ra một dư luận xã hội mạnh mẽ để tẩy chay tham nhũng có tác dụng răn đe rất lớn đối với những kẻ có hành vi tham nhũng. Tác dụng của việc răn đe này nhiều khi còn cao hơn cả sự răn đe của pháp luật.

    Thiết nghĩ, thực hiện được khâu đột phá này để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, chúng ta vẫn có thể xây dựng được một xã hội tốt đẹp, có đời sống văn hóa lành mạnh, khi mà nền kinh tế của chúng ta còn chưa phát triển như cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã từng nói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đấu Tranh Chống Suy Thoái Về Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống, Góp Phần Ngăn Ngừa Tham Nhũng
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Công Khai, Minh Bạch Để Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Luật Phòng, Chống Tham Nhũng Năm 2022
  • Luật Phòng, Chống Tham Nhũng 2005
  • Một Số Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chú Trọng Triển Khai Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Chủ Động Triển Khai Những Biện Pháp Phòng Và Chống Tham Nhũng Có Hiệu Quả
  • Tội Phạm Tham Nhũng Và Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Tham Nhũng
  • Luận Văn Tội Phạm Tham Nhũng
  • 6 Cách Để Phòng Chống Tham Nhũng
  • nhũng ngăn cản nhiều nớc vợt qua những thách thức nghiêm trọng nhất của phát

    triển, cản trở đầu t trong nớc và nớc ngoài, làm xói mòn niềm tin trong các tổ

    chức công cộng, niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ, và làm tồi tệ thêm

    vấn đề ngân sách bằng cách lấy đôi của Chính phủ các khoản thuế quan và thuế

    thu nhập đáng kể.

    Mặc dù tội phạm tham nhũng là một loại tội phạm nguy hiểm và có tính

    chất truyền thống nhng việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng chống

    loại tội phạm này luôn là một vấn đề bức xúc đối với mọi nền kinh tế trên thế

    giới và đối với sự phát triển của nền Việt Nam nói riêng. Đó là một nhiệm vụ

    cấp thiết đang đặt ra cho các nhà luật học nói chung và ngời nghiêm cứu khoa

    học luật hình sự nói riêng.

    Dù vẫn đang là sinh viên nhng thông qua các phơng tiện thông tin đại

    chúng cũng nh trong thực tế đời sống xã hội, tôi cảm thấy rất quan tâm và bức

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    2

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    xúc về vấn đề tội phạm tham nhũng hiện nay. Tôi đã tiến hành nghiên cứu trên

    sách báo, internet và thực tế để hoàn thành báo cáo khoa học này. Trong phạm

    vi một báo cáo kho học sinh viên chỉ xin đề cập về vấn đề này trên một số khía

    cạnh nh sau: tội phạm tham nhũng – một số vấn đề lý luận, thực tế và những

    ảnh hởng tới nền kinh tế, một số biện pháp đấu tranh phòng chống, tơng ứng

    với 3 chơng trong nội dung của báo cáo.

    Do tầm kiến thức còn hạn chế của sinh viên và thời gian thực hiện ngắn

    nên báo cáo này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận đợc

    những ý kiến phê bình và đóng góp của thầy cô cùng các bạn.

    Trong quá trình thực hiện báo cáo tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình

    của các thầy cô giáo và bạn bè. Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới

    ThS Chu Thị Trang Vân- giảng viên bộ môn LHS, ngời đã hớng dẫn tôi hoàn

    thành báo cáo này.

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    3

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Chơng 1

    Tội phạm tham nhũng – Một số vấn đề lý luận

    1. Khái niệm tham nhũng

    Tham nhũng là một hiện tợng xã hội tiêu cực xuất hiện cùng với sự phát

    triển của Nhà nớc, nó là biểu hiện của sự tha hoá của một bộ phận các quan

    chức đợc giao cho các quyền về chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội. Do vậy

    hiện tợng tiêu cực này đợc đề cập, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau ở

    nhiều lĩnh vực khác nhau: chính trị – pháp lý – kinh tế -xã hội Mỗi ngành khoa

    học đều có cách hiểu và tiếp cận riêng về quốc nạ này nhng tất cả đều nhắm đến

    một mục đíhc chung là nhận diện tham nhũng để từ đó tìm ra những giải pháp

    khả thi để có thể ngăn chặn, khắc phục và giảm thiểu đến mức thấp nhất hiện t-

    ợng này.

    Nhìn từ góc độ xã hôi, tham nhũng phải đợc đánh giá là một hiện tợng xã

    hội chứ không phải là hiện tợng nhất thời của một ngời hay một nhóm ngời

    nhất định trong xã hội. Trạng thái, hình thức và mức độ của tệ tham nhũng phụ

    thuộc vào những thay đổi đang diễn ra trong xã hội, xã hội càng hiện đại thì tệ

    nạn này càng có môi trờng phát triển, mức độ nguy hiểm cho xã hội sẽ cao hơn

    và thu đoạn phạm tội cũng ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

    Dới góc độ chính trị, tham nhũng thể hiện sự tha hoá của một bộ phận

    không nhỏ các cán bộ công chức Nhà nớc mà biểu hiện rõ nhất của nó là tình

    trạng quan liêu, mua bán chức quyền để vụ lợi.

    Còn từ góc độ kinh tế thì tham nhũng không chỉ gây ra thiệt hại, thất

    thoát tài sản của Nhà nớc của nhân dân mà nó còn phá hoại cản trở các giải

    pháp kinh tế xã hội, kìm hãm sự phát triển kinh tế.

    Dới góc độ pháp luật hình sự thì tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã

    hội bị coi là tội phạm. Các hành vi này do chủ thể đặc biệt (ngời có chức vụ,

    quyền hạn) thực hiện với lỗi cố ý, động cơ và mục đích phạm tội là vì vụ lợi cá

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    4

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    nhân, có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích vật chất xâm phạm vào các

    quan hệ xã hội đợc pháp luạt bảo vệ.

    Hiện nay ở Việt Nam khái niệm về tham nhũng đang là một vấn đề gây

    tranh luận, ở đây chỉ xin đề cập đến một số quan điểm sau:

    – Theo “Từ điển Tiếng Việt” thì “Tham nhũng là lợi dụng quyền hạn để

    nhũng nhiễu dân và lấy của”

    – Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947) Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ

    rõ: “Tham nhũng là hành vi của những ngời đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích

    của Đảng, của dân tộc” do đó mà chỉ tự t, tự lợi dùng công việc trên dựa vào

    thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình.

    – Còn dới góc độ tội phạm học, Giáo s – Tiến sĩ Đỗ Ngọc Quang đa ra

    khái niệm: “Tham nhũng là hiện tợng xã hội tiêu cực có tính lịch sử xuất hiện

    và tồn tại trong xã hội đợc phân chia giai cấp và hình thành nhà nớc, đợc thể

    hiện bằng những hành vi của ngời có chức vụ quyền hạn để trục lợi cho cá nhân

    hoặc cho ngời khác dới bất kỳ hình thức nào, gây thiệt hại tài sản của Nhà nớc,

    của tập thể, của công dân hoặc đe doạ gây thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của

    cơ quan Nhà nớc, tổ chức xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân”.

    – Theo Pháp lệnh chống tham nhũng có hiệu lực từ 1/5/1998 thì “tham

    nhũng là hành vi của ngời có chức vụ quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn

    đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi gây thiệt hại

    cho tài sản Nhà nớc, của tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của

    cơ quan, tổ chức”.

    Nh vậy, có khá nhiều khái niệm khác nhau để giải thích tệ nạn xã hội

    nguy hiểm này, nhng nhìn chung đều cho chúng ta thấy một cách hiểu về bản

    chất của tham nhũng, rằng đó chính là hiện tợng xã hội, tiêu cực đợc thể hiện

    bằng những hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi cho cá nhân hoặc

    cho ngời khác dới bất cứ hình thức nào, gây thiệt hại cho tài sản của tập thể, của

    công dân hoặc gây thiệt hại cho hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nớc, tổ

    chức xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    2. Khái niệm tội phạm tham nhũng

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    5

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Cho tới nay, tham nhũng một hiện tợng xã hội tiêu cực đã trở thành một

    quốc nạn của toàn xã hội, nó gây tác động tiêu cực, không nhỏ đối với xã hội,

    gây trong lòng dân làn sóng bất bình, nó là biểu hiện của sự suy thoái đạo đức,

    vi phạm pháp luật khi mà những hành vi tham nhũng đó gây ra thiệt hại đáng

    kể cho xã hội đủ các dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì phải bị truy cứu trách

    nhiệm hình sự. Theo Bộ luật Hình sự 1999 thì loại tội phậm này đợc quy định ở

    Mục A – Chơng XXI, bao gồm các tội sau:

    – Tội tham ô tài sản (Điều 278)

    – Tội nhận hối lộ (Điều 279)

    – Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản (Điều 280)

    – Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281)

    – Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282)

    – Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hởng với ngời khác để trục lợi

    (Điều 283)

    – Tội giả mạo trong công tác (Điều 284)

    Muốn đa ra đợc khái niệm về tội tham nhũng, trớc hết chúng ta phải nắm

    đợc khái niệm tội phạm nói chung. Theo khoản 1 – Điều 8 – Bộ luật Hình sự quy

    định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật

    Hình sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc

    vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;

    xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh,

    trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; xâm phạm

    những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.

    Qua khái niệm về tội phạm nói chung và phần các tội phạm về tham

    nhũng đợc ghi nhận tại Mục A – Chơng XXI có thể hiểu khái niệm về tội phạm

    tham nhũng nh sau: “Các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm

    cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật Hình sự, do ngời có chức vụ, quyền hạn

    đã lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn của mình thực hiện trong khi thi

    hành công vụ một cách cố ý trực tiếp xâm phạm vào hoạt động đúng đắn và uy

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    6

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    tín của cơ quan Nhà nớc hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của

    công dân nhằm trục lợi”.

    3. Các dấu hiệu pháp lý đặc trng của tội phạm tham nhũng

    3.1. Khách thể của tội phạm tham nhũng

    Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp luật

    nói chung cũng nh của Luật Hình sự nói riêng khẳng định: “Khách thể của tội

    phạm gây thiệt hại là hệ thống những quan hệ xã hội của chế đội có giai cấp đợc

    Luật Hình sự của chế độ đó bảo vệ”. Nh vậy có thể hiểu khách thể của tội phạm

    là quan hệ xã hội đợc Luật Hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.

    Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố quan trọng cấu thành tội

    phạm, xác định đúng khách thể của tội phạm cũng đồng nghĩa với việc xác định

    đợc tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. ở đây, khách thể của

    tội phạm tham nhũng là những hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nớc, tổ

    chức xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân.

    Hoạt động đúng đắn của bộ máy Nhà nớc, tổ chức xã hội là khái niệm rất

    chung để chỉ mỗi cơ quan tổ chức thực hiện đúng nhiệm vụ của mình của pháp

    luật quy định. Tuỳ theo nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức đợc Nhà nớc giao

    phó mà hoạt động đúng đắn đó thể hiện ở một lĩnh vực khác nhau. Để bảo vệ có

    hiệu quả hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nớc, tổ chức xã hội Luật Hình sự

    chia chúng thành các nhóm quan hệ xã hội khác nhau, ví dụ: nhóm các tội xâm

    phạm sở hữu (Chơng XIV – BLHS 1999), nhóm các tội xâm phạm hoạt động t

    pháp (Chơng XXII – BLHS 1999), nhóm các tội phạm về chức vụ thì đợc quy

    định tại Chơng XXI, trong đó các tội phạm về tham nhũng đợc quy định tại mục

    A.

    Tuy nhiên, khách thể của tội phạm tham nhũng còn bao gồm cả các

    quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và uy tín của các cơ quan Nhà nớc, tổ

    chức xã hội.

    3.2. Mặt khách quan của tội phạm tham nhũng

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    7

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm

    những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách

    quan mà con ngời có thể trực tiếp nhận biết đợc đó là:

    – Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội

    – Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

    – Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

    – Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (Công cụ,

    phơng tiên, phơng pháp, thủ đoạn, thời gian địa điểm phạm tội)

    Hành vi tham nhũng là một dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

    Nếu không có hành vi thực hiện tội phạm thì không có những dấu khác và cũng

    không có tội phạm. Hành vi ở đây có thể là hành động hoặc không hành động.

    Nhng nó đợc gắn chặt với ngời có chức vụ quyền hạn và chỉ do ngời có chức vụ

    quyền hạn thực hiện trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc giao

    cho.

    Hành vi phạm tội qua hành động là sự tác động trái pháp luật, gây thiệt

    hại đáng kể cho hoạt động đúng đắn của các cơ qua Nhà nớc và tổ chức xã hội,

    quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đợc Luật Hình sự bảo vệ.

    Hành vi phạm tội không qua hành động là cách xử sự tiêu cực của ngời có

    chức vụ quyền hạn. Họ không thực hiện chức năng nhiệm vụ đợc giao hoặc có

    thực hiện nhng không đầy đủ nên đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích Nhà

    nớc, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Dấu hiệu tiếp theo thuộc mặt khách quan của tội phạm tham nhũng là hậu

    quả của hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn của những ngời có chức vụ quyền

    hạn để phạm tội. Hậu quả do tội tham nhũng gây ra có thể chia thành hai trờng

    hợp:

    + Hậu quả vật chất: là sự hao hụt về tiền, hành hoá, vật t Thiệt hại này

    có thể đợc xác định bằng các đại lợng cụ thể, có thể nhìn thấy và tính toán đợc.

    + Hậu quả phi vật chất: là những thiệt hại không thể đo đếm, xác định đ-

    ợc bằng các đại lợng cụ thể, đó là sự suy giảm lòng tin của nhân dân, mất uy tín

    với nhân dân của các cơ quan Nhà nớc, tổ chức xã hội.

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    8

    Trần Thị Mai Báo cáo khoa học sinh viên

    Một dấu hiệu bắt buộc khác trong mặt khách quan của tội phạm tham

    nhũng cũng có cấu thành vật chất là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm

    tội của ngời có chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và hậu quả do

    tội phạm đó gây ra. Hành vi phạm tội phải là nguyên nhân trực tiếp làm phát

    sinh hậu quả, ngời phạm tội chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi xác

    định hậu quả xảy ra là hậu quả tất yếu phát sinh từ hành vi đó.

    3.3. Chủ thể của tội phạm tham nhũng

    Nh chúng ta đã biết, chủ thể của tội phạm tham nhũng là một loại chủ thể

    đặc biệt, đòi hỏi đó phải là những ngời có chức vụ, quyền hạn. ở đây, ngoài hai

    dấu hiệu thông thờng là độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự, bắt buộc phải

    có dấu hiệu thứ ba là ngời có chức vụ, quyền hạn. Điều 277 – BLHS 1999 quy

    định: ” Ngời có chức vụ là ngời do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do

    một hình thức khác, có hởng lơng hoặc không hởng lơng, đợc giao thực hiện

    một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”.

    Có thể thấy ngời có chức vụ quyền hạn có một só đặc điểm nh sau:

    – Là ngời đợc giữ chức vụ thờng xuyên hoặc tạm thời trong cơ quan Nhà

    nớc, tổ chức xã hội. Chức vụ này có thể do bổ nhiệm hoặc do bầu cử, hợp đồng

    hay hình thức khác (uỷ quyền, đại diện), có hởng lơng hoặc không hởng lơng

    của Nhà nớc.

    – Là ngời thực hiện một trong các chức năng: đại diện quyền lực Nhà nớc,

    tổ chức điều hành quản lý hành chính; hoặc chức năng tổ chức sản xuất kinh

    doanh theo công vụ đã đợc giao cho họ.

    – Là những ngời thực hiện trách nhiệm nhất định theo thẩm quyền chuyên

    môn mà họ đảm nhận.

    3.4. Mặt chủ quan của tội phạm tham nhũng

    Trong khoa học Luật Hình sự thì tội phạm là thể thống nhất của hai mặt

    khách quan và chủ quan. Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của

    tội phạm. Vậy mặt chủ quan là: hoạt động tâm lý bên trong của ngời phạm tội

    và nó luôn đợc gắn liền với các biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Nội dung của

    mặt chủ quan bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.

    Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

    9

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Bài Tiểu Luận, Luận Văn Về Phòng Chống Tham Nhũng
  • Tiểu Luận Phòng Chống Tham Nhũng
  • Việt Nam Học Hỏi Kinh Nghiệm Chống Tham Nhũng Của Các Thành Viên Apec
  • Nhiều Giải Pháp Phòng Ngừa Trong Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Cần Xây Dựng Các Biện Pháp Có Tính Đột Phá Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100