Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ?

--- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì Công Dân 11?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ: Phân Tích Cụ Thể Mỗi Chức Năng Của Tiền
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Bản chất của tiền tệ

    • Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá.
    • Bản chất của tiền tệ còn được thể hiện qua các chức năng của nó.

    Chức năng của tiền tệ

    • Thước đo giá trị: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của hàng hoá, bản thân tiền cũng phải có giá trị. Vì vậy tiền tệ làm chức năng giá trị phải là tiền vàng. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá hay nói cách khác giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá.
    • Giá cả hàng hoá chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây: Giá trị hàng hoá, giá trị của tiền, quan hệ cung – cầu về hàng hoá. Nhưng vì giá trị hàng hoá là nội dung của giá cả, nên trong 03 nhân tố trên thì giá trị vẫn là nhân tố quyết định giá cả.
    • Phương tiện lưu thông: Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá đòi hỏi phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá. Công thức lưu thông hàng hoá là: H-T-H.
    • Tiền là hình thức biểu hiện giá trị của hàng hoá, nó phục vụ cho sự vận động của hàng hoá. Lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ là hai mặt của quá trình thống nhất với nhau. Số tiền trong lưu thông được tính bằng công thức:

    T = (Gh * H) / N = G / N.

    Trong đó:

    * Gh là giá cả tb của 1 hàng hoá.

    * T là lượng tiền cần cho lưu thông

    * H là số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường

    * G là tổng số giá cả của hàng hoá

    * N là số vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại

    • Giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó.
    • Phương tiện cất giữ: Tiền được rút khỏi lưu thông và đi vào cất trữ. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc.
    • Phương tiện lưu thông:
      • Tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu.
      • Trong điều kiện tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán thì công thức số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông
    • Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ? (Ch62)
  • Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ Và Lạm Phát
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì Công Dân 11?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ: Phân Tích Cụ Thể Mỗi Chức Năng Của Tiền
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ

    Trường phái thứ hai cho rằng: tiền tệ ra đời bắt nguồn từ tâm lý của con người. Đại diện cho trường phái phái này là hai nhà kinh tế học người Đức – V. Gheclop và C. Smondet. Họ cho rằng: tiền xác định đẳng cấp xã hội là thuộc về bản tính con người, vì đàn ông là danh vọng xã hội còn ham muốn làm đẹp với nhiều loại trang sức là bản tính của phụ nữ! Với cách lập luận mang tính duy tâm, trường phái này đã đứng trên quan điểm tâm lý để nghiên cứu một phạm trù kinh tế nên hoàn toàn thiếu thuyết phục.

    Quan điểm về bản chất và chức năng của tiền tệ: có hai trường phái là trường phái tiền tệ kim loại và trường phái tiền tệ duy danh (tiền danh nghĩa).

    Trường phái tiền kim loại:

    Có nguồn gốc từ chủ nghĩa trọng thương với những đại biểu như Thomas Mun (1571-1641), Antoine Montchsetien (1575-1629), Jean Baptiste Colbert (1618-1683)… Quan điểm của trường phái này là: vàng, bạc tự nhiên đã là tiền tệ, vàng bạc và tiền tệ là một – đó là của cải duy nhất của quốc gia và tiêu chuẩn đánh giá sự giàu có của nước đó…

    Với quan điểm nêu trên, trường phái kim loại đã lẫn lộn giữa kim loại quý và tiền tệ mà không thấy rằng vàng bạc cũng là hàng hóa và chỉ trở thành tiền trong những điều kiện lịch sử nhất định qua quá trình chọn lọc và cố định dần vai trò vật ngang giá chung. Mặt khác, của cải xã hội không phải chỉ có tiền mà còn bao gồm các dạng tài sản vật chất khác. Có thể thấy học thuyết này ra đời sớm nên nội dung đơn giản và cách nhìn phiến diện nên chỉ thấy được các chức năng đòi hỏi tiền phải có đủ giá trị mà không thấy được tiền dấu diệu cũng có thể đảm nhiệm một số chức năng của tiền tệ.

    Trường phái tiền duy danh:

    Ra đời trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh trong giai đoạn thế kỉ XVIII. Bên cạnh tiền đủ giá, các loại dấu hiện giá trị như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng… cũng đáp ứng nhu cầu thanh toán, trao đổi hàng hóa. Trước thực tế khách quan đó, tiền kim loại càng bộc lộ sự phiến diện, từ đấy thuyết tiền tệ duy danh ra đời. Với các đại diện nổi bật như: Adam Smith (1723-1790), D. Ricardo (1772-1823), J. Say (1767-1823)… Với quan điểm: tiền tệ là phương tiện kĩ thuật làm cho trao đổi được thực hiện, tiền chỉ là các chỉ tiêu của tỷ lệ, tiền không phải là hàng hóa mà là sản phẩm sáng tạo của Nhà nước, là đơn vị tính toán dùng trong lưu thông… Nói cách khác, trường phái này lại đứng ở góc nhìn phiến diện nghiêng về tiền dấu hiệu nên chỉ nghiên cứu tiền tệ qua chức năng phương tiện lưu thông và phủ nhận tính chất hàng hóa của tiền đủ giá cũng như không thấy được mối quan hệ giữa giá trị danh nghĩa của tiền dấu hiệu với giá trị tiền thực mà nó thay thế.

    Nằm trong số các nhà kinh tế học cổ điển, song K. Marx với cách nhìn của một nhà duy vật biện chứng đã đưa ra các quan điểm khoa học về các vấn đề tiền tệ như:

    Về nguồn gốc của tiền tệ: ông lý giải sự phát triển qua 4 hình thái giá trị một cách logic để chức minh rằng tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của trao đổi hàng hóa.

    Về bản chất tiền tệ: ông không phiến diện như các nhà kinh tế theo trường phái kim loại hay trường phái duy danh khi đưa ra quan điểm “Vàng, bạc về bản chất là hàng hóa nhưng trong những điều kiện khách quan nhất định vàng, bạc được tách ra khỏi thế giới hàng hóa trở thành hàng hóa đặc biệt với giá trị sử dụng đặc biệt là: vật ngang giá chung đo lường và biểu thị giá trị của các hàng hóa khác”. Như vậy trong lớp áo là tiền tệ thì vàng, bạc mang bản chất là hàng hóa. Không chỉ tập trung vào chức năng phương tiện lưu thông của tiền tệ như đa số các nhà kinh tế học trước đó, K. Marx nêu lên 5 chức năng của tiền đủ giá và trong quá trình nghiên cứu các chức năng phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, ông đã lý giải nguyên nhân ra đời của các loại tiền dấu hiệu, đồng thời đưa ra “quy luật về số lượng tiền cần thiết trong lưu thông” ghi cột mốc quan trọng cho hệ thống các quy luật về số lượng tiền trong kinh tế học hiện đại.

    2. Các trường phái kinh tế hiện đại

    Sau K. Marx, các nhà kinh tế học thuộc trường phái tân cổ điển, trường phái Keynes… về cơ bản thống nhất với nhau các vấn đề như nguồn gốc của tiền, các chức năng của tiền, tuy nhiên các trường phái này nhấn mạnh hơn đến chức năng phương tiện lưu thông hơn là phương tiện cất trữ tiền.

    Vào những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng kết hợp của các nhà kinh tế theo trường phái Keynes và trường phái tân cổ điển hình thành nên trường phái hiện đại và hiện đang giữ vai trò thống trị ở Mỹ, Nhật và Tây Âu với các đại biểu như: “Kinh tế học” P. A Samuelson và W. Nordhaus, “Kinh tế học hiện đại” của Milton Spencer, “Kinh tế học” của D. Begg, S. Fisher và R. Dornbusch. Đặc biệt trong bối cảnh các năm cuối thế kỷ XX các nhà kinh tế học hiện đại tập trung nghiên cứu sâu hơn về sự phát triển đa dạng của các loại tiền dấu hiệu, phát huy vai trò điều tiết vĩ mô của tiền chống chu kỳ khủng hoảng và thất nghiệp, bên cạnh đó, phát triển thêm về các quy luật về số lượng tiền tệ dưới nhiều góc độ khác nhau tạo điều kiện vận dụng tốt nhất phục vụ cho chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ.

    Tóm lại: các học thuyết tiền tệ đã phát triển vô cùng phong phú, mỗi trường phái đều có những ưu thế riêng nhưng điều cốt lõi các nhà kinh tế học đã đúc kết những tư duy của mình đóng góp cho khoa học kinh tế nói tiêng và cho kho tàng tri thức nhân loại nói chung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ? (Ch62)
  • Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ Và Lạm Phát
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Chức Năng Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Bài Giảng Tài Chính Tiền Tệ
  • Trường Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An
  • Chức Năng Nào Dưới Đây Là Một Trong Những Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 2: Hàng Hóa
  • TIỀN là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ.

    – BẢN CHẤT:

    TIỀN là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hóa dịch vụ, là phương tiện giúp cho quá trình trao đổi đượcthực hiện dễ dàng hơn. Thể hiện rõ qua 2 thuộc tính: giá trị sử dụng và sức mua tiền tệ.

    – CHỨC NĂNG TIỀN TỆ:

    + Thước đo giá trị: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng.

    .+ Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

    + Phương tiện cất trữ: Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    + Phương tiện thanh toán: Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt.

    + Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm

    chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

    + chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Cất Trữ Giá Trị (Store Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Đâu Không Phải Là Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ (Chuc Nang Cua Tien Te)
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam
  • Câu Hỏi Và Đáp Án Lý Thuyết Tiền Tệ
  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bai 2 Hàng Hóa Thị Trường Tiền Tệ Bai2 Tiet1 Ppt
  • Hàng Hóa Tiền Tệ Bai2Hanghoatientethitruongphaniitiente Ppt
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Giao An Dien Tu Giao An Gdcd 11 Tron Bo 3 Cot
  • Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ

    Nguồn gốc của tiền tệ

    K. Marx là một trong những người nghiên cứu về tiền tệ đầy đủ và sâu sắc nhất. Ngoài ra quan điểm của K. Marx còn được kế thừa và ảnh hưởng rất nhiều bởi nhà kinh tế học Trong thương W. Petty. Riêng về nguồn gốc và bản chất của tiền tệ chúng tôi đã dành hẳn một chương trong bộ Tư bản và Người chỉ ra rằng đây là phạm trù kinh tế lịch sử, gắn liền với sự hình thành, tồn tại và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Sự phát triển của tiền tệ phải qua bốn hình thái.

    + Hình thái 1: hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: Là hình thái đầu tiên của tiền tệ với hình thức vật đổi vật.

    + Hình thái 2: hình thái giá trị mở rộng hay toàn bộ.

    Không chỉ đổi 01 rìu = 20kg thóc mà là tập hợp hàng hóa khác nhau.

    + Hình thái 3: hình thái chung của giá trị.

    + Hình thái 4: hình thái tiền tệ

    Đây là hình thái cuối cùng của quan hệ trao đổi.

    “Bản chất của tiền tệ là gì?

    Với câu hỏi này, học viên cần so sánh quan điểm của K. Marx với một vài quan điểm khác:

    · Quan điểm của K.Marx: Tiền là “hàng hóa đặc biệt” bởi lẽ: Tiền có giá trị sử dụng đặc biệt (giá trị sử dụng là công dụng có ích của hàng hóa); Tiền tệ thỏa mãn hầu hết nhu cầu của người sở hữu.

    · Quan điểm của P. Samuelson: “Tiền là thứ dầu bôi trơn” trong guồng máy luân chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng.

    · Quan điểm của M. Friedman và các nhà kinh tế học hiện đại:” Tiền là các phương tiện thanh toán” có thể thực hiện được các chức năng làm trung gian trao đổi, đơn vị tính toán và có thể tích lũy của cải. Tiền tệ ra đời kết quả tất yếu của sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại.

    Như vậy, điểm chung nhất trong các quan điểm trên là dù khác nhau về thời đại nghiên cứu, điều kiện nghiên cứu… thì đều chỉ ra rằng tiền tệ là phương tiện thông qua đó con người đạt được mục đích.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 1310417
  • Tháp Nhu Cầu Maslow Là Gì? Khái Niệm Và Phân Tích Chi Tiết
  • Bài 5. Prôtêin Bai 5 Protein 1 Ppt
  • Cấu Trúc Và Tính Chất Vật Lý, Hóa Học Của Protein
  • Top 5 Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Dinh Dưỡng Của Mỹ Tốt Hiện Nay
  • Tiểu Luận Môn Kinh Tế Chính Trị Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ Và Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ? (Ch62)
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì Công Dân 11?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ: Phân Tích Cụ Thể Mỗi Chức Năng Của Tiền
  • Đơn vị đánh giá 10

    Phương tiện dự trữ giá trị 11

    Ý nghĩa nghiên cứu 13

    Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế 14

    Mở rộng phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa 14

    Biểu hiện trị giá quan hệ xã hội 14

    Phục vụ mục đích của người sở hữu 14

    Lạm phát 15

    Khái niệm và các chỉ số 15

    Nguyên nhân 16

    Tác động của lạm phát 17

    Tác động tích cực 17

    Tác động tiêu cực 17

    Các biện pháp ổn định thị trường 19

    Ảnh hưởng của lạm phát tại Việt Nam 21

    Nhóm 3 2

    Nguồn gốc và bản chất tiền tệ

    I. Nguồn gốc xuất hiện:

    Theo Mác, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và các hình thái giá

    trị. Quá trình phát triển của các hình thái giá trị để đi đến hình thái giá trị diễn ra như sau:

    − Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:

    1 tấm bò = 2 cái rìu

    Hình thái giá trị tương đối vật ngang giá chung

    Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị

    của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình

    thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá

    khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.

    − Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất

    – bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng

    vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật

    mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác

    Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)

    − Hình thái giá trị chung khi sự phân công lao động lần thứ 2, thủ công nghiệp tách rời

    khỏi nông nghiệp  Sản xuất hàng hóa phát triển thì hình thức trao đổi trực tiếp bộc lộ những

    nhược điểm của nó , đòi hỏi phải có một loại hàng hoá đặc biệt giữ vai trò vật ngang giá chung

    của quá trình trao đổi

    Ví dụ: 10 kg thóc

    2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)

    0,1 chỉ vàng

    − Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ? Cho 3 Ví Dụ Về Chức Năng Cơ Bản Của Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ (Currency) Là Gì? Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Dưới Quan Điểm Của Nhà Đầu Tư
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời Sống?
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ. Em Đã Vận Dụng Được Những Chức Năng Nào Của Tiền Tệ Trong Đời
  • Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Tiền Tệ Là Gì? Tìm Hiểu Ngay!
  • Có 5 chức năng của tiền tệ:

    – Thước đo giá trị

    VD: Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một chiếc bánh có giá trị bằng 5 xu (tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu. Vì thế có thể nói Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

    – Phương tiện lưu thông

    VD:

    Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đếm. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    – Phương tiện cất trữ

    VD: Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

    – Phương tiện thanh toán

    VD: Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

    – Tiền tệ thế giới

    VD: Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tý giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236
  • Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?
  • Giải Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd Lớp 11
  • Lịch Sử Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế Imf
  • Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (Imf)
  • Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế Là Gì? Vai Trò Của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế
  • Vụ Chính Sách Tiền Tệ Nhnn Thực Hiện Thắng Lợi Các Mục Tiêu Ngành Ngân Hàng
  • Đặc Điểm, Chức Năng Của Thị Trường Tiền Tệ
  • Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị. Về mặt giá trị sử dụng, tức hình thái tự nhiên của hàng hóa, ta có thể nhận biết trực tiếp được bằng các giác quan. Nhưng về mặt giá trị, tức hình thái xã hội của hàng hóa, nó không có một nguyên tử vật chất nào nên đủ cho người ta có lật đi lật lại mãi một hàng hóa, thì cũng không thể sờ thấy, nhìn thấy giá trị của nó. Giá trị chỉ có một tính hiện thực thuần túy xã hội, và nó chỉ biểu hiện ra cho người ta thấy được trong hành vi trao đổi, nghĩa là trong mối quan hệ giữa các hảng hóa với nhau. Chính vì vậy, thông qua sự nghiên cứu các hình thái biểu hiện của giá trị, chúng ta sẽ tìm ra nguồn gốc phát sinh của tiền tệ, hình thái giá trị nổi bật và tiêu biểu nhất.

    a)Sự phát triển các hình thái giá trị

    Sự phát triển các hình thái giá trị trong nền kinh tế hàng hóa được biểu hiện thông qua bốn hình thái cụ thể sau đây:

    -Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên:

    Đây là hình thái phôi thai của giá trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hóa, khi trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp vật này lấy vật khác.

    Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc.

    Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở thóc. Còn thóc là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của vải. Với thuộc tính tự nhiên của mình, thóc trở thành hiện thân giá trị của vải. Sở dĩ như vậy vì bản thân thóc cũng có giá trị.

    Trong ví dụ, giá trị của 1m vải, bản thân nó nếu đứng một mình thì không thể phản ánh được hay biểu hiện được giá trị của bản thân nó là bao nhiêu. Muốn biết được giá trị của 1m vải đó cần đem so sánh với giá trị của 10kg thóc, do đó hình thái giá trị của lm vải ở đây là hình thái tương đối, còn 10kg thóc không biểu hiện giá trị của bản thân nó được, trong mối quan hệ với vải, nó chỉ biểu hiện giá trị của vải nên nó là hình thái ngang giá của giá trị của vải. Nếu thóc muốn biểu hiện giá trị của mình, thì phải đảo ngược phương trình lại: l0kg thóc = 1m vải.

    – Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng:

    Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau phân công lao động xã hội lần thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hóa này có thể quan hệ với nhiều hàng hóa khác. Tương ứng với giai đoạn này là hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.

    Đây là sự mở rộng hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên. Trong ví dụ trên, giá trị của 1m vải được biểu hiện ở 10kg thóc hoặc 2 con gà hoặc 0,1 chỉ vàng. Như vậy, hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra ở nhiều hàng hóa khác nhau. Tuy nhiên, vẫn là trao đổi trực tiếp, tỷ lệ trao đổi chưa cố định.

    – Hình thái chung của giá trị

    Với sự phát triển cao hơn nữa của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hàng hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa dạng và nhiều hơn. Nhu cầu trao đổi do đó trở nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi thóc, nhưng người có thóc lại không cần vải mà lại cần thứ khác. Vì thế, việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp và gây trở ngại cho trao đổi. Trong tình hình đó, người ta phải đi con đường vòng, mang hàng hóa của mình đổi lấy thứ hàng hóa mà nó được nhiều người ưa chuộng, rồi đem hàng hóa đó đổi lấy thứ hàng hóa mà mình cần. Khi vật trung gian trong trao đổi được cố định lại ở thứ hàng hóa được nhiều người ưa chuộng, thì hình thái chung của giá trị xuất hiện.

    Ở đây, tất cả các hàng hóa đều biểu hiện giá trị của mình ở cùng một thứ hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá chung. Tuy nhiên, vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hóa nào. Các địa phương khác nhau thì hàng hóa dùng làm vật ngang giá chung cũng khác nhau.

    – Hình thái tiền tệ:

    Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó dẫn đến đòi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất. Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị.

    Lúc đầu có nhiều kim loại đóng vai trò tiền tệ, nhưng về sau được cố định lại ở kim loại quý: vàng, bạc và cuối cùng là vàng. Sở dĩ bạc và vàng đóng vai trò tiền tệ là do những ưu điểm của nó như: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, khôns hư hỏng, với một lượng và thể tích nhỏ nhưng chứa đựng một lượng giá trị lớn. Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa được phân thành hai cực: một bên là các hàng hóa thông thường; còn một bên là hàng hóa (vàng) đóng vai trò tiền tệ. Đến đây giá trị các hàng hóa đã có một phương tiện biểu hiện thống nhất. Tỷ lệ trao đổi được cố định lại.

    b) Bản chất của tiền tệ

    Tiền tệ là một hình thái giá trị của hàng hóa, là sản phẩm của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa. Các nhà kinh tế trước C.Mác giải thích tiền tệ từ hình thái phát triển cao nhất của nó, bởi vậy đã không làm rõ được bản chất của tiền tệ. Trái lại, C.Mác nghiên cứu tiền tệ từ lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, từ sự phát triển của các hình thái giá trị hàng hóa, do đó đã tìm thấy nguồn gốc và bản chất của tiền tệ.

    Vậy, tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa.

    Ban chất của tiền tệ còn được thể hiện qua các chức năng của nó.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nguyên Lý Cơ Bản 2 Chủ Đề Nguồn Gốc Chức Năng Của Tiền Tê
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân 11
  • Chức Năng Của Tiền Tệ Những Điều Bạn Nên Biết
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Hàng Hóa
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 2: Hàng Hóa
  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giao An Dien Tu Giao An Gdcd 11 Tron Bo 3 Cot
  • Trả Lời Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd 11
  • Tác Động Của Chính Sách Tiền Tệ Đến Tăng Trưởng Kinh Tế
  • Nêu Tên Các Chức Năng Của Tiền Câu Hỏi 29782
  • Fân Tích Các Chức Năng Và Hình Thái Biểu Hiện Của Tiền Tệ. Júp E Với!!
  • Tiền là hình thái không thể thiếu trong thời đại ngày nay. Nhờ có sự xuất hiện của tiền mà mỗi cá nhân, doanh nghiệp và nền kinh tế có thể thỏa mãn các mục đích của mình một cách đơn giản. Hình dạng của tiền ngày nay rất hoàn thiện và ngày càng đa dạng bởi sự phát triển của khoa học công nghệ. Tuy nhiên để có thể có được các dạng tiền tệ như ngày hôm nay thì tiền đã trải qua một quá trình ra đời và hoàn thiện rất là lâu dài.

    Từ thời xa xưa, khi mà người dân trên trái đất sống theo từng bộ lạc trong thời công xã nguyên thủy, mọi của cải vật chất đều được dùng chung, không có sở hữu cá nhân. Vì vậy, họ không cần có sự trao đổi mà vẫn có được những thứ mình muốn theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

    Khi chế độ công xã nguyên thủy tan ra, sự tư hữu về của cải và tư liệu sản xuất bắt đầu xuất hiện. Lúc này, để có cái ăn, mỗi cá nhân đều phải tự lao động để làm ra của cải. Tuy nhiên, mỗi cá nhân trong xã hội đều không thể tự làm ra hết của cải mà mình muốn hưởng thụ. Vì vậy, người ta phải trao đổi của cải với nhau để đáp ứng nhu cầu về các của cải, vật chất mà họ không làm ra.

    Đầu tiên, các cá nhân trong xã hội thực hiện trao đổi trực tiếp giữa các hàng hóa với nhau. Ví dụ như người nông dân có gạo nhưng không nuôi bò thì lấy gạo đổi với bò, người trồng khoai nhưng không trồng sắn hoặc chè thì dùng khoai để trao đổi trực tiếp với sắn hoặc chè. Việc trao đổi trực tiếp giữa hàng với hàng đã giải quyết nhu cầu cần thiết trong những giai đoạn đầu tiên khi bắt đầu có sở hữu cá nhân.

    Tuy nhiên, việc trao đổi trực tiếp giữa hàng với hàng có những nhược điểm là trao đổi mang tính giản đơn, ngẫu nhiên mà không có sự đồng nhất. Bên cạnh đó, trao đổi vẫn là trực tiếp giữa hàng với hàng. Vì vậy, việc trao đổi trực tiếp này đã gây nhiều khó khăn cho các cá nhân khi tham gia trao đổi dẫn tới hệ quả kìm hãm sự phát triển của các nền kinh tế.

    Khi các nền kinh tế phát triển ở giai đoạn cao hơn, số lượng các giao dịch về trao đổi hàng hóa ngày càng được gia tăng và diễn ra thường xuyên hơn. Điều này đòi hỏi phải có vật trung gian trong trao đổi nhằm khuyến khích trao đổi hàng hóa. Lúc này, người dân ở các địa phương đã biết sử dụng các sản vật quý hiếm của địa phương như muối, vỏ sò, lông cừu,… làm vật trung gian trong trao đổi hàng hóa. Khi đó, tất cả cá nhân tại các địa phương sẽ bán các sản phẩm do mình làm ra để đổi lấy các vật trung gian (muối, vỏ sò, lông cừu,…) rồi lại sử dụng các vật trung gian này để mua các sản phẩm khác mà mình có nhu cầu.

    Việc sử dụng vật trung gian trong trao đổi đã giúp các trao đổi không còn mang tính ngẫu nhiên nữa. Tuy nhiên, hạn chế của vật môi giới trung gian trong trao đổi này là những sản vật này không bền, bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện tự nhiên, khí hậu như muối, chè, lông cừu,.. và khi chia nhỏ thì đôi khi sẽ làm giảm giá trị vốn có của nó như lông cừu,..

    Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển hơn nữa, đặc biệt là khi mở rộng giữa các vùng đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thống nhất thì hình thái tiền được ra đời. Giá trị của tất cả các hàng hoá ở đây đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò tiền tệ. Khi con người bắt đầu biết sử dụng các kim loại thì tiền bằng kim loại bắt đầu được tạo ra.

    Cuối cùng, các kim loại là vàng và bạc được dùng làm tiền trong lưu thông. Lúc đầu khi vàng còn hạn chế, con người đã sử dụng thêm bạc là kim loại thứ 2 dùng làm tiền trong lưu thông, gọi là chế độ song bản vị. Về sau, do lượng vàng được khai thác nhiều hơn và do vàng có những ưu thế hơn hẳn như thuần nhất, ít pha trộn, dễ chia nhỏ, lâu hư hại, dễ mang theo nên vàng được chọn làm tiền tệ – chế độ bản vị vàng được ra đời.

    Tuy nhiên, việc dùng vàng làm tiền trong lưu thông có những hạn chế là khó mang theo, khó chia nhỏ để mua những sản phẩm có giá trị nhỏ như mớ rau, cân gạo,… và các kim loại rất quý hiếm, được sử dụng nhiều trong công nghiệp. Vì vậy, dần dần con người đã biết sử dụng các tín tệ (giấy xác nhận gửi vàng trong ngân hàng) để làm tiền trong lưu thông. Khi này, các cá nhân sẽ gửi những đồng vàng, bạc của mình vào ngân hàng và nhận lại các tờ tín tệ. Tín tệ khi này được tự do chuyển đổi ra vàng. Điều này đã giúp cho các cá nhân dễ mang theo mình và việc trao đổi, mua bán những hàng hóa có giá trị thấp được dễ dàng hơn.

    Nhưng hạn chế của việc sử dụng vàng hay tín tệ trong lưu thông đó là lượng vàng trên trái đất là có hạn, khả năng khai thác hàng năm không lớn (theo các nhà nghiên cứu thì tổng lượng vàng trên trái đất là khoảng 250 nghìn tấn, trong đó lượng vàng đã khai thác tính đến giữa năm 2022 là khoảng 190 nghìn tấn, nhưng chủ yếu có được trong thế kỷ 20 đến nay). Tín tệ chỉ được phát hành khi có thêm lượng vàng gửi vào ngân hàng. Vì vậy, khi các nền kinh tế ngày càng phát triển, lượng hàng hóa làm ra ngày càng nhiều nhưng lượng vàng thì lại không tăng lên tương xứng dẫn tới mất cân đối giữa tiền và hàng. Điều này dẫn tới giá cả hàng hóa sẽ bị giảm đi, không khuyến khích các cá nhân, tổ chức mở rộng sản xuất và về lâu dài sẽ kìm hãm sự phát triển của các nền kinh tế.

    Vì những lý do trên, tiền pháp định như ngày nay được ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu mới về trao đổi hàng hóa đó là có thể phát hành thêm tiền để đưa vào lưu thông khi có sự gia tăng của hàng hóa dịch vụ. Tiền pháp định khi này do nhà nước in ấn và phát hành, có giá trị trên toàn lãnh thổ quốc gia. Tuy nhiên, tiền pháp định là loại tiền chỉ có giá trị danh nghĩa mà không có giá trị nội tại như vàng. Vì vậy, lượng tiền pháp định này chỉ được phát hành thêm khi hàng hóa mới được tạo ra hay tiền pháp định này được phát hành dựa trên cơ chế tín dụng có sự đảm bảo bằng lượng hàng hóa dịch vụ mới tạo ra. Vàng chỉ được dùng để thanh toán các khoản nợ quốc tế, nó bị rút khỏi lưu thông trong nước vì không dùng làm tiền tệ và tiền giấy khi này không được tự do chuyển đổi ra vàng.

    Từ đây giá trị thực tế của đồng tiền các nước phụ thuộc vào sức mua của nó, tức là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà nó có thể mua được. Giá trị của một đơn vị tiền tệ được xác định bằng sức mua của nó và được đo bằng số nghịch đảo của mức giá chung. Như vậy, mức giá cả chung càng cao thì giá trị hay sức mua của một đơn vị tiền tệ càng thấp và ngược lại.

    Từ đây chúng ta rút ra các kết luận như sau:

    * Do các xã hội có sự mua bán rộng rãi không thể vượt qua được các cản trở quá lớn của hình thức trao đổi hiện vật, nên việc sử dụng một vật trụng gian làm phương tiện trao đổi được mọi người chấp nhận, đó là tiền tệ

    * Nguồn gốc của tiền bắt nguồn từ sự hình thành và phát triển của các quan hệ trao đổi

    * Tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ

    * Bản chất của tiền tệ là vật ngang giá chung, làm phương tiện để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ

    Đón xem bài viết kỳ tới vào tuần 1 tháng 12/2018: “Đồng tiền hai mặt”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Hàng Hóa Tiền Tệ Bai2Hanghoatientethitruongphaniitiente Ppt
  • Bai 2 Hàng Hóa Thị Trường Tiền Tệ Bai2 Tiet1 Ppt
  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 1310417
  • Lịch Sử Hình Thành Và Bản Chất Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Chuyên Đề 1
  • Hệ Thống Tiền Tệ Châu Âu Là Gì?
  • Richard E. Cytowic: Bạn Sử Dụng Bao Nhiêu Phần Trăm Bộ Não?
  • Chuyên Đề 5: Prôtêin Và Quá Trình Dịch Mã
  • 12 Thuốc Tăng Cường Sinh Lý Nam Của Nhật Tốt Nhất 2022
  • NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA TIỀN TỆ

    Tiền là hình thái thiết yếu trong thời đại hiện nay. Nhờ có sự có mặt của tiền mà mỗi cá nhân, công ty và nền kinh tế có khả năng thỏa mãn các mục tiêu của mình một cách đơn giản. Hình dạng của tiền ngày nay cực kì hoàn thiện và càng ngày đa dạng bởi sự phát triển của khoa học công nghệ. Tuy vậy để có khả năng sở hữu các dạng tiền tệ như ngày hôm nay thì tiền đã trải qua một chu trình ra đời và hoàn thiện rất là lâu dài.

    Từ thời xa xưa, khi mà người dân trên trái đất sống theo từng bộ lạc trong thời công xã nguyên thủy, mọi của cải vật chất đều được sử dụng chung, không có có được cá nhân. Vì vậy, họ không không thể thiếu sự trao đổi mà vẫn sở hữu những thứ mình mong muốn theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

    Khi chế độ công xã nguyên thủy tan ra, sự tư hữu về của cải và tư liệu sản xuất bắt đầu có mặt. Lúc này, để sở hữu cái ăn, mỗi cá nhân đều phải tự lao động để làm ra của cải. tuy vậy, mỗi cá nhân trong xã hội đều không thể tự làm ra hết của cải mà mình muốn hưởng thụ. Vì vậy, người ta phải trao đổi của cải với nhau để đáp ứng mong muốn về các của cải, vật chất mà họ không làm ra.

    Đầu tiên, các cá nhân trong xã hội hành động trao đổi trực tiếp giữa các hàng hóa với nhau. Ví dụ như người nông dân có gạo tuy nhiên không nuôi bò thì lấy gạo đổi với bò, người trồng khoai nhưng không trồng sắn hoặc chè thì dùng khoai để trao đổi trực tiếp với sắn hoặc chè. Việc trao đổi trực tiếp giữa hàng với hàng đã xử lý nhu cầu thiết yếu trong những giai phần mở đầu khi tiếp tục có có được cá nhân.

    Tuy vậy, việc trao đổi trực tiếp giữa hàng với hàng có nhiều điểm không tốt là trao đổi mang tính dễ dàng, ngẫu nhiên mà không hề có sự đồng nhất. ngoài ra, trao đổi vẫn là trực tiếp giữa hàng với hàng. Do đó, việc trao đổi trực tiếp này đã gây nhiều khó khăn cho các cá nhân khi tham gia trao đổi gây ra hệ quả kìm hãm sự tăng trưởng của các nền kinh tế.

    Khi các nền kinh tế phát triển ở giai đoạn cao hơn, số lượng các giao dịch về trao đổi hàng hóa ngày càng được gia tăng và diễn ra đều đặn hơn. Điều này đòi hỏi phải có vật trung gian trong trao đổi nhằm khuyến khích trao đổi hàng hóa. Lúc này, người dân ở các địa phương đã biết sử dụng các sản vật quý hiếm của địa phương như muối, vỏ sò, lông cừu,… làm vật trung gian trong trao đổi hàng hóa. Khi đó, tất cả cá nhân tại các địa phương sẽ bán các mặt hàng do mình tạo ra để đổi lấy các vật trung gian (muối, vỏ sò, lông cừu,…) rồi lại sử dụng các vật trung gian này để mua các sản phẩm khác mà mình có mong muốn.

    + Hình thái thành quả đầy đủ hay mở rộng:

    * Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, một khi có phân công lao động xã hội lần thứ nhất, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hoá này có thể quan hệ với nhiều hàng hoá khác. Tương ứng với giai đoạn này là hình thái thành quả đầy đủ hay mở rộng.

    XEM THÊM Tổng hợp những cách kiếm tiền nhanh nhất 2022

    + Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên:

    * Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc

    * Gọi là giản đơn hay ngẫu nhiên, vì khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã, trong thời kỳ ban đầu của trao đổi, hàng hóa bất kỳ, tỷ lệ trao đổi bất kỳ, miễn là hai chủ thể của hàng hóa thừa nhận trao đổi.

    * Vế trái của phương trình (1 m vải) tự nó không thể nói lên được thành quả của nó, giá trị của nó chỉ được biểu hiện và phải nhờ hàng hóa đứng đối diện với nó (10 kg thóc) nói hộ thành quả của nó, thế nên nó được gọi là hình thái tương đối.

    Vế phải của phương trình (10 kg thóc) là hình thái vật ngang giá, vì thành quả dùng của nó được sử dụng để biểu hiện thành quả của hàng hóa khác (1 m vải). Hình thái vật ngang giá là mầm mống phôi thai của tiền tệ.

    * Điểm không tốt của hình thái thành quả dễ dàng hay ngẫu nhiên: trao đổi vật thu thập vật, tỷ lệ trao đổi ngẫu nhiên, vật ngang giá chưa cố định, thành quả của một hàng hóa chỉ được phát hiện ở một hàng hóa nhất định khác với nó, chứ không đại diện ở mọi hàng hóa khác. Khi trao đổi hàng hóa tăng trưởng cao hơn, có nhiều mặt hàng hơn. Đòi hỏi thành quả của một hàng hóa phải được biểu hiện ở nhiều hàng hóa khác với nó. thế nên, hình thái thành quả giản đơn tự nó chuyển sang hình thái thành quả đầy đủ hay mở rộng.

    * Đây chính là sự mở rộng hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên. Trong ví dụ trên, giá trị của 1 m vải được biêu hiện ở 10 kg thóc hoặc 2 con gà hoặc 0,1 chỉ vàng. Như vậy, hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra ở nhiều hàng hoá không giống nhau.

    * Nhược điểm: trao đổi vật lấy vật, vật ngang giá chưa cố định…

    XEM THÊM Bí quyết xây dựng chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp

    BẢN CHẤT CỦA TIỀN TỆ

    Tiền tệ là một hình thái giá trị của hàng hoá, là sản phẩm của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Các nhà kinh tế trước C. Mác giải thích tiền tệ từ hình thái phát triển cao nhất của nó, bởi vậy đã không làm rõ được bản chất của tiền tệ. Trái lại, C. Mác nghiên ứu tiền tệ từ lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, từ sự phát triển của các hình thái giá trị hàng hoá, do đó đã tìm thấy nguồn gốc và bản chất của tiền tệ.

    Từ đây chúng ta rút ra các kết luận như sau:

    * Do các xã hội có sự mua bán phổ biến không thể vượt qua được các cản trở quá lớn của hình thức trao đổi hiện vật, nên việc dùng một vật trụng gian làm phương tiện trao đổi được mọi người chấp thuận, đấy là tiền tệ

    * Nguồn gốc của tiền bắt nguồn từ sự tạo ra và phát triển của các quan hệ trao đổi

    * Tiền là bất cứ cái gì được chấp thuận trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ

    * Thực chất của tiền tệ là vật ngang giá chung, làm phương tiện để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ

    NGUỒN TỔNG HỢP

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ?
  • Ktct. Câu 2 Ng, Bc, Cn Tien Te
  • Top 10 Thực Phẩm Bổ Sung Tăng Cơ Bắp Tốt Nhất Cho Người Tập Gym
  • Whey Protein Tăng Cơ Được Yêu Thích Ở Nhật
  • Kể Mặt Điểm Tên 10 Protein Được Yêu Thích Nhất Tại Nhật Bản
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Hình Thành Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Đề Cương Ôn Tập Chuyên Đề 1
  • Hệ Thống Tiền Tệ Châu Âu Là Gì?
  • Richard E. Cytowic: Bạn Sử Dụng Bao Nhiêu Phần Trăm Bộ Não?
  • Chuyên Đề 5: Prôtêin Và Quá Trình Dịch Mã
  • Gà con

    Trả lời 12 năm trước

    a.Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ?

    *Nguồn gốc: Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất, trao đổi hàng hoá và của các hình thái giá trị. Có bốn hình thái giá trị phát triển từ thấp đến cao dẫn đến sự ra đời của tiền tệ:

    + Hình thái giá trị đơn giản hay ngẫu nhiên.

    + Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.

    + Hình thái giá trị chung.

    + Hình thái tiền tệ.

    *Bản chất: Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị; đồng thời, tiền tệ biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá.

    b.Các chức năng của tiền tệ:

    -Thước đo giá trị.

    – Phương tiện lưu thông.

    -Phương tiện cất trữ.

    – Phương tiện thanh toán

    -Tiền tệ thế giới.

    c. Quy luật lưu thông của tiền tệ:

    Nội dung quy luật lưu thông tiền tệ là xác định số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông hàng hoá ở mỗi thời kì nhất định. Quy luật được thể hiện như sau:

    Trong đó:

    M: là số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông.

    P: là mức giá cả của đơn vị hàng hoá.

    Q: là số lượng hàng hoá đem ra lưu thông.

    V: là số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ.

    Như vậy, lượng tiền cần thiết cho lưu thông tỉ lệ thuận với tổng số giá cả của hàng hoá đem ra lưu thông ( P x Q ) và tỉ lệ nghịch với vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ ( V ).

    3.Thị trường:

    a.Thị trường là gì?

    Thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ.

    b.Các chức năng cơ bản của thị trường:

    -Chức năng thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá.

    -Chức năng thông tin.

    -Chức năng điều tiết, kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng.

    Kết luận toàn bài: Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa.Đó là một kiểu tổ chức kinh tế, trong đó toàn bộ quá trình sản xuất và tái sản xuất gắn chặt với thị trường. Việc sản xuất ra những hàng hóa gì? Cần có những dịch vụ nào? Đều xuất phát từ nhu cầu thỉ trường. Mọi sản phẩm đi vào sản xuất trao đổi, tiêu dùng phải thông qua thị trường. Hàng hóa -tiền te ä- thị trường là những vấn đề quan trọng quyết định của quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Chúng ta cần hiểu và vận dụng tốt để phát triển sản xuất nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung.

    Để hiểu rõ hiện tượng lạm phát cũng như các hiện tượng tài chính – tiền tệ trong các nền kinh tế, tôi cho rằng trước hết chúng ta cần phải hiểu được bản chất của tiền tệ và các chức năng của nó. Không phải ngẫu nhiên mà nội dung Tiền tệ thường được các sách Kinh tế học (kể cả Kinh tế Chính trị học, Tài chính – Tiền tệ) bàn đến đầu tiên. Trong giới hạn bài viết này tôi không trình bày lại thế nào là bản chất và nội dung các chức năng của tiền tệ, tôi cũng không có ý định cũng như tham vọng đưa ra một định nghĩa chính thống về lạm phát nhằm thống nhất các định nghĩa khác. Tôi chỉ muốn chia sẻ một suy nghĩ nhỏ của mình về vấn đề nhìn nhận lạm phát. Rất mong nhận được sự chỉ bảo của các nhà nghiên cứu kinh điển lẫn kinh nghiệm.

    Có lẽ cũng không kém hơn vào giữa thập niên 80 của thế kỷ thứ XX vấn đề lạm phát lại được đưa ra bàn thảo sôi nổi như lúc này tại Việt Nam. Từ các nhà hoạch định chính sách đến các doanh nghiệp, từ các giáo sư đến các sinh viên, từ các nhà nghiên cứu kinh tế đến những người thực hành, từ anh kỹ sư đến cô nội trợ, từ anh công nhân đến bác nông dân, từ người giàu đến kẻ nghèo và đến cả bản thân tôi, mỗi người bàn đến vấn đề lạm phát từ những góc độ khác nhau và cũng xuất phát từ những mục đích khác nhau. Trong các bàn luận đó có người hoan hỉ hoặc bàng quan nhưng cũng có kẻ căm phẫn, tỏ ra bực tức rồi lo lắng… Có sự đồng thuận về quan điểm nhưng cũng có không ít những bất đồng xoay quanh cách hiểu lạm phát và cách điều hành chính sách tiền tệ.

    Cho đến nay ở Việt Nam, về cách hiểu và định nghĩa lạm phát, có thể chia ra hai trường phái: Lạm phát Giá cả và Lạm phát Tiền tệ. Nội dung cơ bản của hai dòng quan điểm này là: những người theo trường phái Lạm phát Giá cả cho rằng hiện tượng Lạm phát là do giá cả tăng lên, nói chính xác là mức giá cả chung tăng lên theo thời gian; trong khi đó người theo trường phái Lạm phát Tiền tệ cho rằng lạm phát có căn nguyên là tiền tệ, hay nói chính xác là do sức mua của tiền tệ giảm theo thời gian. Như vậy, một quan điểm thì cho rằng lạm phát so sức mua của tiền tệ giảm theo thời gian, còn quan điểm kia thì lại “đổ lỗi” cho mức giá cả chung tăng lên theo thời gian. Nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

    Chúng ta chắc phải biết, tiền tệ là vật ngang giá chung dùng để đo lường, biểu thị giá trị của hàng hoá (chức năng thước đo giá trị – standard of value) và qua đó giúp cho hàng hoá có thể lưu thông (chức năng phương tiện trao đổi – medium of exchange). Hàng hoá sản xuất ra yêu cầu cần phải lưu thông, trao đổi, tức để bán. Để có thể trao đổi được thì cần phải xác định được giá trị trao đổi. Như vậy, chức năng phương tiện trao đổi ra đời là yêu cầu khách quan của tiền tệ, góp phần làm cho lưu thông hàng hoá được diễn ra một cách thuận lợi, thông suốt và dễ dàng. Song trước khi thực hiện chức năng phương tiện trao đổi thì đòi hỏi tiền tệ phải làm tốt chức năng thước đo giá trị. Chức năng thước đo giá trị phải có trước, sau đó mới có chức năng phương tiện trao đổi. Song chức năng phương tiện trao đổi là mục đích chính để từ đó phải có chức năng thước đo giá trị. Kinh tế chính trị học đã chỉ rõ, để tiền làm chức năng thước đo giá trị của hàng hoá thì bản thân tiền phải có giá trị. Điều này cũng giống như yêu cầu về tư chất đạo đức của người làm công việc đánh giá tư chất đạo đức của người khác. Nếu người làm công việc này bị xã hội cho rằng kém đạo đức thì những đánh giá của ông ta cũng không đáng tin cậy, không có ý nghĩa, thiếu thuyết phục.

    Ban đầu, tiền là hàng hoá (hoá tệ) bởi hàng hoá tự nó phải có giá trị (và giá trị sử dụng). Hàng hoá khi được dùng làm tiền, nó đã tỏ ra là người có năng khiếu bẩm sinh. Hàng hoá dùng làm tiền tồn tại dưới hình thức là vàng (chế độ Bản vị Vàng – gold standard) đã xoá bỏ mọi tranh cãi về lạm phát. Đây là một trong những nội dung cốt lõi để hiểu về lạm phát. Sự sụp đổ của chế độ Bản vị Vàng với nhiều nguyên nhân đã chỉ rõ trong các sách kinh tế và sự ra đời của chế độ tiền dấu hiệu (fiat money) từ chế độ Bản vị bảng Anh đến chế độ đồng USD (Bretton Woods) rồi chế độ tiền giấy pháp định ngày nay. Quá trình này làm cho các hệ thống tiền tệ luôn đứng trước khả năng (chính xác hơn là một hiện thực) “lún sâu” vào các cuộc lạm phát.

    Vấn đề được dẫn dụ như thế này. Giả sử trước đây có một loại hàng hoá có giá trị 100.000 đồng/sp thì với một tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng, chúng ta có thể mua được 1 sản phẩm. Nay vì lý do gì đó, tờ tiền này bị mất giá trị 50%, nghĩa là mệnh giá của tờ tiền vẫn 100.000 đồng nhưng để mua được cùng loại hàng hoá trên ta phải bỏ ra 2 tờ cho 1 sản phẩm như trước. Lưu ý rằng hàng hoá trên giá trị vẫn không đổi bởi đã không hề có một yếu tố nào tác động đến giá trị của nó cả. Giá trị không đổi thì giá cả cũng phải không đổi vì xét theo lý thuyết (thị trường cạnh tranh hoàn hảo) giá cả chỉ là hình thức biểu hiện cho giá trị (không có điều ngược lại mà phải là giá trị là nội dung của giá cả). Vì vậy, nếu nhìn vào hiện tượng thì bạn chỉ thấy giá cả hàng hoá này là 200.000 đồng do người mua hàng phải trả 2 tờ mệnh giá 100.000 đồng để đổi lấy nó thì chớ có lầm tưởng giá trị của hàng hoá này đã tăng lên 200.000 đồng. Về bản chất thì giá trị hàng hoá không đổi trong khi sức mua của tờ tiền giảm sút. Từ đây có thể kết luận rằng khái niệm lạm phát là hiện tượng (tình trạng) mức giá chung tăng lên không sai nhưng như chính bề mặt (câu từ) khái niệm này đã nói lên rằng nó chỉ cho thấy hiện tượng của lạm phát mà chưa thấy được bản chất. Cũng giống như không ai nhìn thấy được bản chất của con người mà chỉ nhìn thấy được hiện tượng của họ để từ đó nhận thức được bản chất mà thôi. Nếu bản chất của ai đó được xã hội đánh giá xấu (tất nhiên chỉ mới trong suy nghĩ của ai đó) thì tạm thời hiện tượng có thể phản ánh sai lệch bản chất do tính chủ quan của con người. Song không sớm thì muộn bản chất đó phải “lòi” ra qua hiện tượng chứ không có điều ngược lại rằng bản chất sẽ phải thay đổi theo hiện tượng. Nghĩa là không thể giá trị của loại hàng hoá trên phải tăng lên 200.000 đồng cho đúng bằng giá cả mà cái mức giá 200.000 đồng kia phải được điều chỉnh về 100.000 đồng. Hơn nữa, điều chỉnh giá cả từ 200.000 đồng về mức giá để phản ánh đúng trị là 100.000 đồng không phải từ chính hàng hoá đó mà phải chính từ loại hàng hoá đặc biệt làm vật ngang giá, tức là tiền.

    Vấn đề chưa thể dừng lại ở đây mà sẽ được giải quyết khi chúng ta lý giải được vì sao tờ tiền trên bị mất giá trị 50%. Chúng ta biết rằng, tờ tiền ban đầu đảm trách tốt chức năng thước đo giá trị và do vậy cũng thực hiện hoàn hảo chức năng phương tiện trao đổi thông qua hình thức biểu hiện là giá cả. Điều này chỉ có được khi tiền bản thân nó có giá trị nội tại (như vàng), còn với tiền dấu hiệu thì giá trị của tờ giấy làm tiền (chi phí làm ra tờ tiền) không thể bằng sức mua của nó hay cái giá trị của hàng hoá (vàng) mà nó là đại diện. 100.000 đồng kia không phải là giá trị của bản thân tờ tiền mà là cái giá trị đại diện cho một lượng giá trị hàng hoá. Khi chúng ta nói giá trị của tờ tiền giảm 50% tức nói cái giá trị đại diện kia giảm 50%. Lý do từ đâu? Lý do được tìm thấy ở chính quy luật lưu thông tiền tệ và chính sách tiền tệ của NHTW. Với 100 bao gạo định sẵn thì với 50 người vác thì mỗi người sẽ vác 2 bao, nhưng tăng cường thêm 50 người nữa thì không thể nói ngược rằng mỗi người vẫn vác 2 bao để có thể 100 người vác được 200 bao gạo mà phải nói xuôi là mỗi người chỉ vác 1 bao mà thôi. Còn nếu muốn vẫn duy trì mỗi người vác 2 bao thì cần tăng thêm 100 bao gạo nữa vậy, tức phải tăng thêm một lượng giá trị hàng hoá tương ứng bằng việc sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá tăng thêm.

    Vậy, lạm phát là một thuật ngữ kinh tế mà bản chất của nó là giá trị danh nghĩa (mệnh giá) của tiền bị suy giảm một cách tương đối so với cái giá trị mà đáng lẽ nó phải đại diện tốt khi nó “dám” xung phong làm đại diện. Khi con người “đẻ” ra tiền dấu hiệu thì họ cũng phải chịu trách nhiệm “nuôi dạy” và “chỉ bảo” nó. Chính chính sách tiền tệ mới là thủ phạm chính gây ra tội lạm phát vì nó có thể làm ảnh hướng đến cung tiền và từ đó là sức mua của tiền tệ. Mục tiêu của chính sách tiền tệ một lần nữa khẳng định là kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của tiền tệ. Lạm phát là một vấn đề thuộc về tiền tệ. Chính sách tiền tệ phải có nhiệm vụ đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát và phải chịu trách nhiệm trước tình trạng lạm phát trong nền kinh tế.

    Lạm phát là một hiện tượng ngẫu nhiên tồn tại khách quan trong các nền kinh tế có lưu thông tiền dấu hiệu. Diệt hẳn lạm phát là điều cực kỳ khó khăn nếu không muốn nói là không thể khi vẫn còn tiền dấu hiệu. Xóa bỏ tiền dấu hiệu buộc con người phải nghĩ ra một chế độ tiền tệ mới. Chừng nào “họ” nghĩ ra thì đó cũng là thời điểm đánh dấu sự chín muồi cho một sự quá độ từ chế độ tiền tệ này sang một chế độ tiền tệ khác như nó đã từng diễn ra trong lịch sử.

    Kiềm chế lạm phát để ổn định kinh tế ở nước ta đang là vấn đề bức xúc. Lạm phát đang diễn ra do nhiều nguyên nhân, trong đó, đặc biệt quan trọng là nguyên nhân tỷ giá, là yếu tố phản ánh biến động kinh tế cả trong nước và quốc tế. Trên cơ sở nhấn mạnh định lượng về lạm phát, tác giả đã kiến nghị một số giải pháp để góp phần kiềm chế lạm phát ở nước ta.

    Lạm phát không chỉ gây ra rối loạn kinh tế, ngừng trệ sản xuất, và bóp méo hoạt động phân bổ nguồn lực xã hội, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của mọi tầng lớp nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của người nghèo và người có thu nhập thấp trong xã hội, do thu nhập không thay đổi kịp với tốc độ thay đổi giá. Lạm phát giá lương thực có thể xóa tan thành quả công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong nhiều năm qua của các nước đang phát triển trên thế giới.

    Lạm phát là một vấn đề phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, việc nghiên cứu nguyên nhân và tìm kiếm các biện pháp đối phó với lạm phát luôn thu hút các nhà kinh tế thế giới và là công việc thường niên của chính phủ các nước. Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, việc nghiên cứu tìm nguyên nhân và biện pháp để giải quyết lạm phát ở Việt Nam là một việc hết sức cấp thiết. Việc nghiên cứu định lượng để tìm ra nguyên nhân và lời giải cho bài toán lạm phát ở Việt Nam sẽ giúp chúng ta nhanh chóng ổn định kinh tế vĩ mô, đưa nền kinh tế quay trở lại guồng tăng trưởng.

    1 – Chế độ tỷ giá hiện hành là nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam

    Năm 2007, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng ấn tượng đạt 8,48%, cao hơn mức trung bình 5 năm giai đoạn 2003 – 2007 (8%/năm), là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008, cùng với đà suy thoái kinh tế thế giới, đồng USD mất giá, giá dầu thô tăng cao, giá cả lương thực và nguyên nhiên vật liệu tăng đột biến cộng với tác động của thiên tai, dịch bệnh đã làm cho nền kinh tế Việt Nam bộc lộ những nhược điểm cố hữu của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi.

    Trong các báo cáo gần đây, Chính phủ đã chỉ ra được hầu hết những nguyên nhân gây ra những yếu kém kinh tế trong thời kỳ này. Cụ thể là, “cơ cấu kinh tế chậm cải thiện; công nghiệp khai thác tài nguyên và gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, phần lớn vật tư, nguyên liệu trung gian cho sản xuất phải nhập khẩu; giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp thấp. Tình trạng đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước vẫn còn dàn trải, không bảo đảm tiến độ, còn nhiều thất thoát, hiệu quả thấp… kéo dài, chậm được khắc phục. Quản lý tài chính, tiền tệ, thị trường, giá cả, xuất nhập khẩu chưa chặt chẽ. Công tác dự báo và dự kiến các biện pháp, kế hoạch ứng phó với những tác động tiêu cực của kinh tế thế giới trong điều kiện hội nhập chưa được quan tâm đúng mức; các cơ quan nghiên cứu, tham mưu của Đảng và Nhà nước phát hiện tình hình còn chậm; khi tình huống xảy ra, do chưa có kinh nghiệm và chủ động trong việc ứng phó nên chỉ đạo, xử lý của một số ngành chức năng có lúc còn lúng túng, chưa kịp thời, thiếu phối hợp đồng bộ, thiếu linh hoạt. Có chính sách, giải pháp chưa tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội.”(1)

    Chỉ ra được nguyên nhân, nhưng chúng ta vẫn lúng túng trong điều hành ổn định kinh tế vĩ mô là do chưa có một đánh giá định lượng cụ thể để lượng hóa tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới các biến số kinh tế vĩ mô, từ đó sử dụng các công cụ chính sách phù hợp để điều hành nền kinh tế.

    Lạm phát trong kinh tế học được hiểu là sự tăng giá chung. Lạm phát thường có nguyên nhân từ tiền tệ do ngân hàng nhà nước cung ứng quá nhiều tiền trong lưu thông. Lạm phát cũng có thể có nguyên nhân từ việc tăng giá do cầu tăng mạnh đột biến lớn hơn khả năng sản xuất của nền kinh tế tạo ra lạm phát do cầu kéo. Chi phí sản xuất gia tăng cũng đẩy giá hàng hóa lên cao tạo ra lạm phát do chi phí đẩy. Có thể nói lạm phát ở Việt Nam hiện nay hội tụ đủ các nguyên nhân do cả cầu kéo lẫn chi phí đẩy và tiền tệ.

    Nhóm nguyên nhân thứ hai có nguồn gốc từ các yếu tố bên ngoài, đó là giá cả các loại hàng hóa trên thế giới đã tăng nhanh, tỷ lệ nghịch với sự mất giá danh nghĩa của đồng USD đẩy mặt bằng giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, đặc biệt là dầu thô, lên cao gấp 2 đến 3 lần so với năm 2003. Giá dầu lửa đã tăng từ 53,4 USD/thùng tháng 1-2007 lên 89,4 USD/thùng tháng 12-2007, và đạt đỉnh mới 125,96 USD/thùng vào ngày 9-5-2008. Tốc độ tăng giá năng lượng, đặc biệt là giá lương thực trong nửa cuối năm 2007 và đầu năm 2008 là nguyên nhân dẫn tới tình trạng lạm phát trên diện rộng ở tất cả các nước trên thế giới. Đến cuối năm 2007, lạm phát so với cùng kỳ năm trước của Việt Nam là 12,63% và đến tháng 4-2008, tỷ lệ này đã là 21,42%. Nhìn vào hình 1, có thể nhận thấy tỷ lệ lạm phát của Việt Nam luôn cao hơn gấp đôi mức lạm phát của một số nước trong khu vực.

    Tác động của lạm phát do chi phí đẩy ở Việt Nam thường cao hơn gấp đôi các nước khác trong khu vực là do Việt Nam thực thi chính sách neo giá đồng nội tệ với USD(3). Các nước trong khu vực như Ma-lai-xi-a và Thái Lan theo đuổi chính sách thả nổi có điều tiết đồng nội tệ và đã điều chỉnh lên giá nội tệ theo giá trị danh nghĩa của đồng USD trong thời gian qua. Kể cả Trung Quốc là nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong việc thực thi chính sách tỷ giá cũng đã điều chỉnh lên giá danh nghĩa nội tệ trong thời gian qua. Kết quả là, trong khoảng thời gian từ tháng 1-2004 đến nay, đồng Việt Nam có xu hướng mất giá danh nghĩa, trong khi đồng tiền của các nước khác trong khu vực có xu hướng lên giá danh nghĩa so với đồng USD.

    Giá hàng hóa, nguyên liệu trên thế giới tăng mạnh trong thời gian gần đây là do tăng trưởng cầu thế giới tăng nhanh hơn tốc độ tăng cung với bằng chứng là lượng hàng tồn kho hàng hóa nguyên liệu giảm mạnh. Đồng USD mất giá danh nghĩa làm cho giá hàng hóa tính theo đồng tiền khác như EUR, GBP giảm tương đối và càng khuyến khích cầu. Bên cạnh đó, các quỹ đầu tư trên thế giới gia tăng mua hàng hóa đề phòng vệ rủi ro mất giá USD. Kết quả là giá hàng hóa nguyên liệu tăng lên cao hơn mức bình thường, tăng do tăng cầu và tăng do USD mất giá.

    Các nước trong khu vực có điều chỉnh nâng giá nội tệ tương ứng với mức mất giá danh nghĩa của Mỹ (đo bằng chỉ số tỷ giá hiệu lực danh nghĩa NEER) sẽ điều chỉnh giảm được tác động tăng giá do mất giá đồng USD. Hình 3 minh họa mức biến động giá lương thực theo nội tệ của các nước so với giá danh nghĩa của đồng USD và tỷ giá hiệu lực danh nghĩa (NEER). Có thể nhận thấy, giá lương thực thế giới tính theo VNĐ cao hơn mức giá tính theo USD do đồng Việt Nam mất giá so với USD. Giá lương thực theo bạt (Thái Lan) và nhân dân tệ (Trung Quốc) còn có phần rẻ hơn mức tỷ giá hiệu lực danh nghĩa (NEER) của Mỹ. Chính nhờ chính sách tỷ giá linh hoạt, Thái Lan và Trung Quốc giảm được tác động sốc giá lương thực từ nước ngoài. Việt Nam thi hành chính sách neo tỷ giá và vì vậy đã nhập khẩu lạm phát giá lương thực theo USD. Đây có thể là nguyên nhân chính làm cho lạm phát ở Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực.

    Nhóm nguyên nhân tiếp theo gây ra lạm phát ở Việt Nam là yếu tố tiền tệ với tốc độ tăng trưởng tín dụng của Việt Nam tăng quá nhanh trong những năm vừa qua. Trong ba năm từ 2005 đến 2007, cung tiền tăng 135% nhưng GDP chỉ tăng 27%. Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng năm 2007 tăng gấp đôi so với tốc độ tăng của năm 2006. Tính đến 31-12-2007, tổng phương tiện thanh toán tăng 46,7% so với 31-12-2006. Tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế năm 2007 tăng 57,53% so với năm 2006(4). Nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng đột biến là do tổng lượng ngoại tệ ròng chảy vào nền kinh tế trong năm 2007 ước chừng lên tới 22 tỉ USD, tương đương 30% GDP. Để duy trì tỷ giá USD, Ngân hàng nhà nước đã tăng dự trữ ngoại hối từ 11,5 tỉ USD (năm 2006) lên 21,6 tỉ USD (năm 2007) và đẩy một lượng lớn nội tệ ra thị trường(5).

    Mặc dù không thể phủ nhận yếu tố tiền tệ là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng lạm phát hiện tại, nhưng cũng cần khẳng định rằng, nguyên nhân chủ yếu là do thiên tai, dịch bệnh lây lan và giá nguyên liệu đầu vào tăng đột biến dẫn đến giá lương thực tăng cao. Trong những năm 1999, 2000, mức cung ứng tiền tệ M2 đã có lúc lên tới 56,2% nhưng Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng thiểu phát. Hơn nữa, độ trễ của chính sách tiền tệ là từ 6-36 tháng, nên không phải cung tiền tăng lập tức dẫn tới lạm phát. Trong tình hình hiện nay, tốc độ tăng trưởng cung ứng tiền tệ M2 chỉ đóng vai trò xúc tác cho quá trình nhập khẩu lạm phát từ nước ngoài. Trên thực tế, ở bảng 1 chúng ta có thể thấy do lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng tới 42,7% trong chỉ số CPI, nên phần đóng góp của giá lương thực thường chiếm tới 70% động thái của chỉ số giá tiêu dùng CPI (được coi là tỷ lệ lạm phát). Trong quý III năm 2007, phần đóng góp của các yếu tố phi lương thực vào lạm phát chỉ là 3,5%. Con số này là 4% cho quí IV năm 2007, và ngay cả khi lạm phát lên tới 15,7% vào tháng 2-2008, thì lương thực thực phẩm góp tới 10,8%. Tháng 3 và tháng 4, tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ năm trước là 19,4% và 21,4%, phần đóng góp của lạm phát giá lương thực, thực phẩm là 13,1% và 14,6%.

    2 – Thử bàn thêm về giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam

    Lạm phát tiền tệ có thể được giải quyết thông qua thắt chặt tín dụng, nhưng lạm phát do cầu kéo hoặc chi phí đẩy chỉ có thể được giải quyết thông qua điều chỉnh cơ cấu và ổn định hóa. Việc thi hành chính sách thắt chặt tiền tệ trong những tháng đầu năm 2008 thông qua điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và phát hành tín phiếu bắt buộc nhằm thu hút bớt tiền từ lưu thông về, giảm áp lực đối với lạm phát, kiểm soát quy mô tăng trưởng tín dụng bộc lộ nhiều vấn đề có tính hệ thống, cơ cấu, đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính.

    Cần phải xác định xem lạm phát có nguyên nhân từ vấn đề tiền tệ hay không, nếu có thì ở mức độ như thế nào, và quá trình can thiệp của Chính phủ phải diễn ra bao lâu. Việc thắt chặt tín dụng đột ngột trong những tháng đầu năm đã gây sốc cho hệ thống tài chính, đặt hệ thống tài chính trước nguy cơ khủng hoảng, và nền kinh tế có thể rơi vào tình trạng đình trệ, suy thoái. Nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam cần chỉ ra khi nào có thể sử dụng công cụ tiền tệ, khi nào cần phải giải quyết vấn đề cơ cấu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ktct. Câu 2 Ng, Bc, Cn Tien Te
  • Top 10 Thực Phẩm Bổ Sung Tăng Cơ Bắp Tốt Nhất Cho Người Tập Gym
  • Whey Protein Tăng Cơ Được Yêu Thích Ở Nhật
  • Kể Mặt Điểm Tên 10 Protein Được Yêu Thích Nhất Tại Nhật Bản
  • Top 10 Protein Được Yêu Thích Nhất Ở Nhật 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100