Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Tổ Chức Hội Nông Dân Vững Mạnh

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Hội Vững Mạnh
  • Xây Dựng Tổ Chức Hội Sinh Viên Việt Nam Vững Mạnh
  • Giải Pháp Xây Dựng Trường Mầm Non Hạnh Phúc, Nói Không Với Bạo Hành Trẻ Em
  • Hà Nội Xây Dựng Trường, Lớp Mầm Non Hạnh Phúc: Nâng Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Trường Mầm Non Hạnh Phúc, Huyện Thọ Xuân Xây Dựng ” Cơ Quan, Đơn Vị Kiểu Mẫu” Theo Lời Dạy Của Bác Hồ Kính Yêu !
  • Với quan điểm “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội, nhất là cán bộ Hội cơ sở của Hội Nông dân tỉnh thời gian qua được quan tâm toàn diện hơn, nội dung được đổi mới theo từng năm với hình thức đa dạng, phong phú.

    Hàng năm, Hội Nông dân tỉnh và các huyện, thành hội tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác Hội cho 100% cán bộ Hội. 5 năm qua, Hội Nông dân tỉnh đã tổ chức được 20 lớp tập huấn nghiệp vụ cho khoảng 2.800 cán bộ chuyên trách các huyện, thành phố và Ban thường vụ Hội nông dân cơ sở. Ngoài ra, Hội nông dân các cấp còn bố trí cho cán bộ đi học các lớp về chính trị, chuyên môn, ngoại ngữ, tin học với các hình thức tập trung, tại chức, ngoài giờ để nâng cao năng lực cán bộ. Đặc biệt, Hội Nông dân tỉnh đã chỉ đạo triển khai kế hoạch, hướng dẫn, đề ra tiêu chuẩn để bầu cán bộ Hội chủ chốt, nhất là Chủ tịch Hội nông dân cơ sở nhiệm kỳ 2012-2017 phải là cấp ủy hoặc đảng viên có trình độ văn hóa tối thiểu từ trung học phổ thông, có năng lực trong công tác vận động quần chúng, am hiểu nông nghiệp, nông dân và nông thôn, được quần chúng tín nhiệm. Chi hội trưởng, tổ trưởng phải là người thực sự có năng lực, nhiệt tình với tổ chức hội… Đến nay, toàn tỉnh đã có 143 Chủ tịch Hội nông dân cơ sở với chất lượng được nâng lên rõ rệt, độ tuổi được trẻ hóa, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị cao hơn rất nhiều so với những nhiệm kỳ trước. Ban chấp hành Hội nông dân cơ sở có 1.985 người, trong đó 165 đồng chí tham gia cấp ủy, hơn 1 nghìn đảng viên…

    Giải pháp quan trọng không kém mà các cấp Hội nông dân trong tỉnh đã triển khai là gắn việc xây dựng tổ chức hội vững mạnh với đẩy mạnh các phong trào thi đua ở cơ sở, từ đó thu hút hàng vạn hộ nông dân tham gia. Nổi bật là phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau giảm nghèo và làm giàu chính đáng. Được sự hỗ trợ của Trung ương Hội và một số ngành trong tỉnh, Hội nông dân đã triển khai hàng chục dự án với hàng chục tỷ đồng hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề, tạo việc làm cho nông dân. Bên cạnh đó, các cấp Hội đã tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân liên kết với nhau thành các tổ hợp tác, HTX ngành nghề, chi hội ngành nghề để nông dân hỗ trợ nhau trong sản xuất.

    Đồng thời phối hợp và trực tiếp tổ chức được gần 8 nghìn lớp tập huấn KHKT, xây dựng được 507 mô hình trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Nhiều mô hình đã được nhân rộng và mang lại hiệu quả thiết thực. Ngoài ra ở các buổi sinh hoạt Hội đã khéo léo lồng ghép vào những nội dung thiết thực như chuyển giao KHKT, thông tin thị trường, tìm hiểu về pháp luật, hòa giải và giải đáp những khúc mắc trong cuộc sống, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của hội viên nông dân. Đồng thời đổi mới phương thức hoạt động của các chi hội theo hướng bám sát cơ sở, tăng cường các hình thức hỗ trợ, tín chấp cho hội viên nông dân vay vốn, vật tư, máy móc nông nghiệp trả chậm, tạo điều kiện cho nông dân phát triển sản xuất…

    Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới được triển khai trong vài năm gần đây cũng đã thu hút đông đảo nông dân tham gia với vai trò chủ thể của mình ở từng công việc lớn nhỏ của địa phương. Có thể nói, Hội nông dân các cấp đã đi tiên phong tham gia tuyên truyền cho cán bộ, hội viên về mục đích, ý nghĩa, nội dung xây dựng nông thôn mới… Tỉnh hội mở chuyên mục “Xây dựng nông thôn mới” trên bản tin công tác hội, các cấp hội tổ chức hàng nghìn hội nghị tuyên truyền về nước sạch, vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, dân số – KHHGĐ, phòng, chống tệ nạn xã hội tại cơ sở và chi hội. Đi đôi với công tác tuyên truyền, vận động, Hội nông dân các cấp đã tập trung huy động các nguồn lực xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, xây dựng nếp sống văn minh. Hội Nông dân tỉnh đã triển khai một số dự án đầu tư nguồn vốn cho 25 xã được tỉnh chọn xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 với số tiền trên 6 tỷ đồng.

    Nhờ các giải pháp này, đến nay số hội viên nông dân trong toàn tỉnh có hơn 130 nghìn người, chiếm 45% số lao động nông nghiệp, tỷ lệ sinh hoạt thường xuyên đạt 85%…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Tổ Chức Hội Vững Mạnh
  • Các Giải Pháp Thu Hút Hội Viên, Xây Dựng Tổ Chức Hội Vững Mạnh Của Hội Lhpn Thị Xã Ninh Hòa
  • Xây Văn Phòng, Khách Sạn
  • Tư Vấn Thiết Kế Hồ Bơi, Giải Pháp Xây Dựng Hồ Bơi Khách Sạn Giá Tốt
  • Biện Pháp Đầu Tư Cơ Sở Vật Chất Trường Mầm Non
  • Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Và Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân Các Cấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Hội
  • Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên Nông Dân
  • Phát Triển Văn Hóa, Con Người Là Nhiệm Vụ Quan Trọng, Thường Xuyên Của Cả Hệ Thống Chính Trị
  • Xây Dựng Tp Thanh Hóa Giàu Đẹp, Văn Minh, Hiện Đại, Là Động Lực Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Giải Pháp Thực Hiện Nhiệm Vụ Quốc Phòng
  • Thứ năm – 09/08/2018 05:05

    Những năm qua, công tác xây dựng và nâng cao chất lượng tổ chức hội luôn được các cấp Hội nông dân trong tỉnh xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, được thực hiện hiệu quả ngay từ cơ sở.

    Với phương châm phát triển hội viên mới đi đôi với nâng cao chất lượng hội viên, nhiệm kỳ vừa qua Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo hướng dẫn các cấp hội triển khai nhiều loại hình thu hút, tập hợp nông dân vào tổ chức hội. Nổi bật là việc hình thành các tổ, nhóm sản xuất theo ngành nghề, tổ vay vốn, nhóm liên kết, tổ hợp tác, câu lạc bộ, đã mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân. Đồng thời các cơ sở hội trong nhiệm kỳ đã tiến hành rà soát để nâng cao chất lượng hội viên. Trong 5 năm, toàn tỉnh đã kết nạp được 15.626 hội viên mới, đến nay toàn tỉnh có 130.363 hội viên, bằng 88% so với hộ nông dân.

    Đồng chí Đinh Hồng Thái, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh cho biết: Để công tác hội và phong trào nông dân đi vào nền nếp, công tác xây dựng tổ chức, bộ máy được các cấp Hội quan tâm, trọng tâm là xây dựng Chi hội, cơ sở hội vững mạnh. Đã thực hiện nghiêm đánh giá xếp loại Chi hội, cơ sở hội theo tiêu chí cụ thể. Đồng thời sắp xếp bộ máy giúp việc cơ quan chuyên trách Hội nông dân cấp huyện, tỉnh theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Hiện nay, toàn tỉnh có 8 Hội nông dân cấp huyện, 143 cơ sở hội, 1.612 Chi hội. Bên cạnh đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của BCH, BTV Hội nông dân các cấp và Chi hội đã trở thành việc làm thường xuyên. Thực tế, hoạt động của BCH Hội nông dân các cấp đã đi vào những nội dung thiết thực, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, hướng mạnh về cơ sở, phát huy vai trò chủ động của các đồng chí ủy viên BCH, BTV, nêu cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu.

    Các cấp hội cũng đã triển khai nhiều giải pháp xây dựng chi hội vững mạnh, trong đó phải kể đến mô hình đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi hội, phân công mỗi quý mỗi cán bộ chuyên trách cấp tỉnh, huyện, ủy viên BTV cơ sở dự sinh hoạt ít nhất 3 Chi hội, Hội Nông dân tỉnh định hướng nội dung sinh hoạt Chi hội hàng quý.

    Ngoài ra, việc xây dựng mô hình Chi hội, tổ hội nghề nghiệp theo Đề án 24 của Trung ương Hội đã được triển khai làm điểm để rút kinh nghiệm, đến nay toàn tỉnh thành lập được 16 tổ hội nghề nghiệp. Hoạt động của các tổ hội nghề nghiệp bước đầu cho thấy mô hình đã giúp cho các thành viên trao đổi, hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh, làm cho hoạt động của hội thêm phong phú, thiết thực hơn với hội viên nông dân.

    Đặc biệt, trong nhiệm kỳ qua, Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh đã chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở hội vùng đồng bào có đạo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Toàn tỉnh có 88 xã, phường, thị trấn có nông dân là người có đạo và dân tộc thiểu số, đến nay các địa phương này đều đã có tổ chức Hội với 481 Chi hội, 201 cán bộ từ cấp chi hội trở lên là người có đạo và dân tộc thiểu số, 18.198 hội viên. Hoạt động của các tổ chức hội đã đóng góp tích cực vào việc tham gia vận động nông dân chấp hành tốt các quy định của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, dân tộc. Các cấp hội đã triển khai 35 mô hình, dự án; 857 buổi tập huấn KHKT, 58 lớp dạy nghề cho 2.030 hội viên nông dân vùng giáo, vùng dân tộc. Trong nhiệm kỳ qua, Hội nông dân các cấp đã giúp 22 hộ xây mới, 45 hộ sửa chữa nhà dột nát, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho 100% cán bộ hội; phân công cán bộ dự sinh hoạt chi hội tại các xã vùng giáo, vùng dân tộc.

    Xác định công tác cán bộ là khâu then chốt quyết định chất lượng công tác hội và phong trào nông dân, các cấp hội đã chủ động tham mưu, phối hợp kiện toàn tổ chức, bộ máy cán bộ kịp thời, đúng quy định, đảm bảo số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đến nay 99,3% Chủ tịch Hội Nông dân cơ sở có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên; 70,4% có trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên, 100% cán bộ chuyên trách cấp tỉnh, cấp huyện có trình độ chuyên môn đại học. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ Hội tiếp tục được quan tâm thực hiện và có nhiều đổi mới. Hội Nông dân các cấp đã tăng cường công tác quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tổ chức và cán bộ; thực hiện Quyết định số 2045/QĐ-TTg ngày 20/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội Nông dân Việt Nam, giai đoạn 2022 – 2022”. Xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng, chú trọng tới đội ngũ cán bộ hội cơ sở. Toàn tỉnh đã tổ chức 59 lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho 10.486 lượt cán bộ Hội.

    Nhờ các giải pháp đồng bộ đó, kết quả phân loại tổ chức hội, chất lượng hoạt động của các cơ sở hội, chi hội được nâng lên rõ nét, số cơ sở hội xếp loại vững mạnh năm 2022 đạt 88%, tăng 3% so với năm 2013; 8/8 huyện, thành phố hàng năm đều được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Kiến Trước Thềm Đại Hội:chú Trọng Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Hội Nông Dân Các Cấp
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu 5 Năm 2022
  • Trinh Bày Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực An Ninh Quốc Phòng? Liên Hệ Thực Tế
  • Trình Bày Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh ? Liên Hệ Thực Tế?
  • Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh Của Đảng Ta 2022
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Trọng Tâm Và Giải Pháp Thực Hiện Xây Dựng Nông Thôn Mới Năm 2022
  • Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Trọng Tâm Và Giải Pháp Thực Hiện Xdntm
  • Một Số Giải Pháp Cho Xây Dựng Nông Thôn Mới Ở Các Xã Khó Khăn
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Và Giảm Nghèo
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thuc Trang Xay Dung Nong Thon Moi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Sử Dụng Lao Động Nông Thôn ở Hải Dương, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Thực Tập Xây Dựng Nông Thôn Mới, Hướng Dẫn Thực Hiện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Thu Hoạch Thực Tế Vè Tieu Chi Số 19 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Giải Pháp Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Nòng Cốt, Đánh Giá Thực Trạng áp Dụng Các Mô Hình Nông Nghiệp Tại 3 Xã, Thực Hiện Dân Chủ ở Cấp Xã Thực Trạng Và Giải Pháp, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Th, Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Thị Văn Mi, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Th, Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Thị Văn Mi, Thực Trạng, Nguyên Nhân Hậu Quả Giải Pháp, Thất Nghiệp ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Thôn Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Thực Trạng Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội, Thuc Trang Va Giai Phap Kham Chua Benh, Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp., Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Đia Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Cơ Quan, Khoa Học, Công Nghệ Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam. Thực Trạng Giải Pháp, Công Tác Tham Mưu Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp, Thuc Trang Va Giai Phap Ve Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong, Quan Điểm, Thực Trạng, Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Việt Nam, Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Biện Pháp Tổ Chức Thực Hiện Xây Dựng Thôn Bản Vững Mạnh, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Tiểu Luận Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Làm Theo Hcm, Vvai Trò Của Nông Dân Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ, Công Viên Chức ở Cơ Quan, Thuc Trang Va Giai Phap Cong Tac Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong Cap Huyen, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh, Hoi Nong Xa Voi Xay Dung Nong Thon Moi, Đồng Chí Hãy Phân Tích, Đánh Giá Thực Trạng Và Đưa Ra Các Kiến Nghị, Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượn, Đồng Chí Hãy Phân Tích, Đánh Giá Thực Trạng Và Đưa Ra Các Kiến Nghị, Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượn, Thực Trạng, Phân Tích Và Đề Xuất Những Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấ, Thực Trạng, Phân Tích Và Đề Xuất Những Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấ, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Thực Trạng Giải Quyết Tranh Chấp Quyền Sử Dụng Đất, Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực , Nhập Khẩu Tư Bản Trong Điều Kiện Việt Nam- Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Nguồn Lực, Thực Trạng Và Những Giải Pháp Chính Nhằm Kiện Toàn Hệ Thống Bảo Tàng Trong Phạm Vi Cả Nước, Noi Dung 19 Tieu Chi Xay Dung Nong Thon Moigiai Doan 2022,2020, Xây Dựng Đề Cương Tuyên Truyền Miệng Về Xây Dựng Nông Thôn Mới , Nội Dung Thảo Luận Xây Dưng Nông Thôn Mới Kiểu Mẩu, Báo Cáo Sơ Kết Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Chỉ Thị Xây Dựng Nông Thôn Mới, Mẫu Báo Cáo Sơ Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Sơ Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Văn Bản Chỉ Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới, Các Văn Bản Chỉ Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Kết Quả Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bản Cam Kết Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đề án Xây Dựng Nông Thôn Mới, Chu De Xay Dung Nong Thon Moi, Sổ Tay Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Kết Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Mẫu Báo Cáo 10 Năm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Lời Mở Đầu Xây Dựng Nông Thôn Mới, Quy ước Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Xã, Đề Tài Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Thu Hoạch Biện Pháp Tổ Chức Thực Hiện Xây Dựng Thôn Bản Vững Mãnh Mạnh , Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Quản Trị Nhân Lực Công Ty, Kế Hoạch Xây Dựng Nông Thôn Mới, Sử Dụng Lao Động Nông Thôn, 9 Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Văn Bản Hướng Dẫn Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Xây Dựng Nộng Thôn, Tiêu Chí 5 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Nội Dung Đề án Đào Tạo Nghề Nông Thôn, Báo Cáo Tiến Độ Xây Dựng Nông Thôn Mới, Mẫu Báo Cáo Tiến Độ Xây Dựng Nông Thôn Mới, Các Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Thu Hoạch Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 20 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thông Tư Số 41 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Nghệ An, Tiêu Chí 06 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Cẩm Nang Xây Dựng Nông Thôn Mới,

    Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thuc Trang Xay Dung Nong Thon Moi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Sử Dụng Lao Động Nông Thôn ở Hải Dương, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Thực Tập Xây Dựng Nông Thôn Mới, Hướng Dẫn Thực Hiện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Thu Hoạch Thực Tế Vè Tieu Chi Số 19 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Giải Pháp Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Nòng Cốt, Đánh Giá Thực Trạng áp Dụng Các Mô Hình Nông Nghiệp Tại 3 Xã, Thực Hiện Dân Chủ ở Cấp Xã Thực Trạng Và Giải Pháp, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Th, Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Thị Văn Mi, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Th, Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Thị Văn Mi, Thực Trạng, Nguyên Nhân Hậu Quả Giải Pháp, Thất Nghiệp ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Thôn Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Thực Trạng Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội, Thuc Trang Va Giai Phap Kham Chua Benh, Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp., Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Đia Phương, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Cơ Quan, Khoa Học, Công Nghệ Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam. Thực Trạng Giải Pháp, Công Tác Tham Mưu Của Phòng Tổ Chức Cán Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp, Thuc Trang Va Giai Phap Ve Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong, Quan Điểm, Thực Trạng, Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Việt Nam, Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Về Thực Trạng Sản Xuất Và Khả Năng ứng Dụng Công Nghệ Cao Trong Nông Nghiệp Hiện Nay ở Nước Ta, Biện Pháp Tổ Chức Thực Hiện Xây Dựng Thôn Bản Vững Mạnh, Thực Trạng áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay, Tiểu Luận Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Làm Theo Hcm, Vvai Trò Của Nông Dân Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ, Công Viên Chức ở Cơ Quan, Thuc Trang Va Giai Phap Cong Tac Cai Cach Hanh Chinh Tai Dia Phuong Cap Huyen, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Tiếp Tục Cuộc Vận Động Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh, Hoi Nong Xa Voi Xay Dung Nong Thon Moi, Đồng Chí Hãy Phân Tích, Đánh Giá Thực Trạng Và Đưa Ra Các Kiến Nghị, Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượn,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Xã Thanh Lâm, Huyện Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang Giai Đoạn 2012
  • Nhiều Nhiệm Vụ, Giải Pháp Xây Dựng Ntm Trong 6 Tháng Cuối Năm
  • Các Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Về Nông Thôn Mới
  • Nghệ An Tăng Cường Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Thôn, Bản
  • Thái Nguyên Triển Khai Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp Tiến Hành Xây Dựng Xã Ntm Kiểu Mẫu
  • Nông Sản Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nào Cho Xuất Khẩu Nông Sản
  • 4 Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Nông Sản Việt
  • ‘giải Cứu’ Nông Sản Nhưng Cũng Cần Các Giải Pháp Căn Cơ Cho Nông Nghiệp
  • 8 Giải Pháp Thúc Đẩy Sản Xuất Và Tiêu Thụ Nông Sản Năm 2022
  • Đề Án Giải Pháp Đầu Ra Cho Thị Trường Nông Sản Việt Nam
  • Tìm hiểu thêm: Cập nhật giá cả nông sản hiện nay 2022

    Thực trạng thị trường Nông sản tại Việt Nam

    Nông sản Việt Nam chiếm phần lớn trong tổng công việc cũng như doanh thu của người dân đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tuy khu vực nông thôn là nơi làm ra nhiều nông sản nhưng nơi tiêu thụ nông sản chính lại là khu vực thành thị và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. Tại Việt Nam thì những phành phố tiêu thụ nông sản chủ yếu là các thành phố lớn nơi có mật độ dân số sinh sống và làm việc nhiều.

    Nông sản được tiêu thụ chủ yếu ở khu vực thành thị

    Hiện nay hàng nông sản Việt Nam có mặt ở hầu hết các thị trường trên thế giới bởi sản phẩm được đưa đi xuất khẩu nhiều. Tuy nhiên thì lượng tiền thu về thông qua những cuộc giao dịch nhập khẩu hay mức thu nhập của bà con nông dân lại không cao do nông sản được đưa ra thị trường quốc tế với mức giá không cao. Bài toán nông sản Việt Nam thực trạng và giải pháp vẫn là nỗi băn khoăn của nhiều doanh nghiệp.

    Trong khi nông sản Việt Nam còn bị ảnh hưởng khá lớn khá lớn bởi điều kiện tự nhiên như thời tiết, đất đai, địa hình, nguồn nước thì những bất cập về nông sản đang còn diễn ra như:

    • Tính thời vụ của nông sản: do khí hậu Việt Nam chia làm 4 mùa rõ rệt nên mỗi loại cây sẽ phù hợp với mỗi mùa khác nhau nên lượng sản phẩm nông sản thu hoạch trong năm là không đồng đều.
    • Tính phân tán của nông sản: mỗi loại cây sẽ phù hợp với mỗi khu vực trồng khác nhau nên không có sự phân bố đồng đều giữa các cây.
    • Tính tươi sống của nông sản: phần lớn các loại nông sản cần phải được bảo quản tươi sống nên khó khăn trong việc vận chuyển cũng như bảo quản.

    Giải pháp cho hàng nông sản Việt Nam

    Để giải quyết bài toán nông sản Việt Nam thực trạng và giải pháp như trên ta cần phải thay đổi một số những điểm sau:

    • Đẩy mạnh việc chế biến nông sản để tạo ra những sản phẩm chất lượng, đạt yêu cầu nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường đặc biệt là thị trường quốc tế.
    • Thúc đẩy việc trồng các loại cây có chất lượng cao, được thị trường nước ngoài ưa chuộng.

    Nên trồng các loại cây chất lượng

    • Nhân giống, lai tạo ra các loại nông sản có chất lượng tốt.
    • Tìm ra những cách bảo quản nông sản tốt nhất để chất lượng nông sản không bị biến đổi.

    Tổng kết.

    Qua một số vấn đề nông sản Việt Nam thực trạng và giải pháp bên trên ta có thể thấy thị trường nông sản tại Việt Nam đang còn nhiều những bất cập cần phải giải quyết. Đây sẽ là cả một chặng đường dài, phải chiến đấu trên nhiều mặt trận chứ không phải là chuyện có thể giải quyết trong một sớm một chiều.

    Cảm ơn các bạn đã theo dõi chúng tôi của chúng tôi !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Tuyển Dụng Mywork Chính Thức Về Tay Siêu Việt Group
  • Tuyển Dụng Kế Toán Tại Tp. Hcm Lương Cực Cao
  • Mywork Ra Sao Khi Về Tay Siêu Việt Group?
  • Tìm Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Cà Phê Bền Vững
  • Cần Giải Pháp Chiến Lược Cho Ngành Cà Phê
  • Xây Dựng Tổ Chức Hội Sinh Viên Việt Nam Vững Mạnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Trường Mầm Non Hạnh Phúc, Nói Không Với Bạo Hành Trẻ Em
  • Hà Nội Xây Dựng Trường, Lớp Mầm Non Hạnh Phúc: Nâng Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Trường Mầm Non Hạnh Phúc, Huyện Thọ Xuân Xây Dựng ” Cơ Quan, Đơn Vị Kiểu Mẫu” Theo Lời Dạy Của Bác Hồ Kính Yêu !
  • Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • Chú Trọng Xây Dựng Tổ Chức Công Đoàn Vững Mạnh
  • 03:14 10/12/2018 2227

    Nhiệm vụ xây dựng tổ chức Hội thực sự vững mạnh luôn được coi là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Hội. Trong nhiệm kỳ vừa qua, công tác xây dựng tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam vững mạnh đã có chuyển biến tích cực.

    Công tác tuyên truyền, giới thiệu tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam trong sinh viên và toàn xã hội được các cấp bộ Hội quan tâm đầu tư, qua các chương trình, hoạt động phong trào, nhất là thông qua mạng xã hội và các sản phẩm tuyên truyền trực quan như: bảng tin, pano, áp phích.

    Trong nhiệm kỳ, Hội Sinh viên Việt Nam đã thành lập thêm 05 tổ chức Hội cấp tỉnh, 07 tổ chức Hội cấp trường trực thuộc Trung ương, 03 tổ chức Hội ở ngoài nước. Hiện nay, Hội Sinh viên Việt Nam có 28 Hội Sinh viên cấp tỉnh, 44 tổ chức Hội Sinh viên cấp trường trực thuộc Trung ương, 08 Hội Sinh viên Việt Nam ở ngoài nước. Trong nhiệm kỳ, các cấp bộ Hội đã kết nạp được 1.478.369 hội viên. Hiện nay, cả nước có 1.367.544 hội viên. Việc quản lý hội viên có nhiều tiến bộ, phù hợp với thực tế hiện nay, áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý hội viên, thông tin hội viên, quản lý việc tham gia hoạt động…

    Hệ thống các chi hội, câu lạc bộ, đội, nhóm phát triển mạnh; thể hiện rõ ưu thế, linh hoạt của tổ chức Hội trong điều kiện chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ.

    Công tác cán bộ Hội từng bước được đổi mới, chú trọng lựa chọn đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận, kịp thời bổ sung để tăng cường sức mạnh chỉ đạo và tổ chức hoạt động của Hội. Tổ chức cơ sở Hội có bước phát triển mới về chất lượng và số lượng, trở thành hạt nhân tập hợp, đoàn kết sinh viên, xây dựng nên hệ thống tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam vững mạnh…

    Tuy nhiên, công tác xây dựng Hội Sinh viên Việt Nam trong nhiệm kỳ vừa qua vẫn tồn tại một số hạn chế như: Nội dung và hình thức sinh hoạt chi hội chưa thu hút hội viên; tỷ lệ hội viên trên tổng số sinh viên chưa cao; vẫn còn nhiều trường chưa có tổ chức Hội; đội ngũ cán bộ Hội ở một số đơn vị còn hạn chế về kỹ năng nghiệp vụ công tác; công tác tập huấn, đào tạo cán bộ Hội các cấp chưa thực hiện thường xuyên, nội dung tập huấn chưa thiết thực. Chế độ thông tin báo cáo còn chậm; việc ứng dụng công nghệ thông tin, Internet trong xây dựng và sử dụng cơ sở dữ liệu quản lý về tổ chức, cán bộ, hội viên sinh viên còn chậm…

    Đổi mới phương thức truyền thông

    Tại diễn đàn, nhiều đại biểu cho rằng, công tác truyền thông hiện nay mới chỉ tập trung trong nội bộ tổ chức Hội, chưa được lan toả nhiều trong cộng đồng.

    Theo đại biểu Lại Văn Hoàng – Phó Chủ tịch Hội Sinh viên Đại học Kinh tế Đà Nẵng, hiện nay hình ảnh Hội Sinh viên chưa thực sự phổ biến, hầu hết chỉ phủ sóng tại các thành phố lớn như TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội. Còn tại khu vực miền Trung, phong trào Hội chưa thực sự ghi được dấu ấn.

    Phó Chủ tịch Hội Sinh viên Đại học Kinh tế Đà Nẵng cho rằng, để đổi mới phương pháp tuyên truyền rộng rãi hình ảnh Hội Sinh viên thì hình thức truyền thông nhanh chóng nhất là sử dụng các video clip. Trung ương Hội nên phát động những cuộc thi sáng tác video clip giới thiệu về tổ chức Hội Sinh viên; lan toả những clip này trên mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng, như vậy vừa tạo sân chơi bổ ích để sinh viên được phát huy sức sáng tạo; đồng thời góp phần giới thiệu rộng rãi hình ảnh Hội Sinh viên tới cộng đồng.

    Chia sẻ về mô hình truyền thông hiệu quả tại đơn vị mình, đại biểu Ngô Thị Kiều Nhi – Đại học Bách Khoa TP.Hồ Chí Minh cho biết: “Xác định đối tượng nên tập trung đẩy mạnh truyền thông về Hội là học sinh THPT cuối cấp, tại trường Đại học Bách Khoa TP.Hồ Chí Minh luôn có một đội ngũ gồm những tình nguyện viên là cán bộ Đoàn, Hội. Sau khi tốt nghiệp ra trường, các tình nguyện viên đã quay trở lại trường vào mùa tư vấn tuyển sinh để giới thiệu tới các bạn học sinh tại các trường THPT về Hội và các hoạt động của Hội Sinh viên của trường”.

    Đồng tình với đại biểu Ngô Thị Kiều Nhi, đại biểu Đặng Thanh An – Chủ tịch Học viện Hành chính TP.Hồ Chí Minh đề xuất: “Lực lượng học sinh cấp 3 sẽ những hội viên chính của tổ chức Hội sau khi bước chân vào các trường Đại học, Cao đẳng. Vì vậy, Hội Sinh viên cấp trường nên cùng lãnh đạo Nhà trường tham gia các kỳ tiếp xúc tuyển sinh để giới thiệu về Hội Sinh viên tới học sinh, vừa là để truyền thông rộng rãi tới những đối tượng hội viên mới, đồng thời giảm bớt được một khâu giới thiệu về Hội sau khi sinh viên nhập trường”.

    Cần cơ chế cho sinh viên làm cán bộ Hội

    Trăn trở về những khó khăn của sinh viên làm cán bộ Hội, đại biểu Lý Văn Đạt – Hội Sinh viên Việt Nam tỉnh Hưng Yên cho biết, để lôi kéo được sinh viên tham gia hoạt động và phát triển tổ chức Hội thì người Chủ tịch Hội phải rất nhiệt huyết, đặc biệt với sinh viên làm Chủ tịch Hội càng cần cố gắng và nỗ lực nhiều hơn. Tuy nhiên, hiện nay còn nhiều khó khăn trong việc xây dựng uy tín của một sinh viên làm Chủ tịch Hội đối với sinh viên. Đó cũng là rào cản dẫn đến tâm lý e ngại và nhụt chí trong một số sinh viên tham gia công tác Hội”.

    “Vì vậy, cần có cơ chế để phát huy vai trò, khẳng định vị trí của sinh viên làm Chủ tịch Hội; đồng thời cần giải quyết triệt để cơ chế hỗ trợ cho các sinh viên tham gia công tác Hội, tạo điều kiện thuận lợi để các bạn phát huy sở trường, thúc đẩy phong trào Hội Sinh viên”, đại biểu Đạt đề nghị.

    Đồng quan điểm với đại biểu Lý Văn Đạt, đại biểu La Thị Mỹ Ngọc – Phó Chủ tịch Hội Sinh viên Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng nhận định: “Một sinh viên làm cán bộ Hội hiện nay vừa phải đi học, vừa tham gia các hoạt động Hội và có thể đi làm thêm, vì thế nên quỹ thời gian sẽ rất hạn chế. Vì thế, bản thân mỗi cán bộ Hội là sinh viên đều phải nỗ lực và tận tâm với hoạt động của Hội thì mới có thể đảm nhận được vai trò của người cán bộ Hội. Tuy nhiên, những ưu tiên dành cho các cán bộ Hội hiện nay vẫn chưa tương xứng với những tâm huyết và thời gian hoạt động của mỗi cá nhân”.

    Dịp này, Phó Chủ tịch Hội Sinh viên Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng đề nghị Trung ương Hội xem xét tạo quyền lợi để sinh viên làm cán bộ Hội có thêm động lực, tiếp tục cống hiến và xây dựng, phát triển tổ chức Hội.

    Nâng cao năng lực nguồn cán bộ Hội

    Trăn trở về công tác cán bộ Hội, đại biểu Ngô Tuấn Sơn – Phó Chủ tịch Hội Sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân thẳng thắn chia sẻ, Trung ương Hội đã có các đợt tập huấn cho cán bộ Hội Sinh viên, tuy nhiên đa số các đồng chí tham gia tập huấn đều sắp kết thúc nhiệm kỳ và có thể sẽ thôi không tham gia BCH. Vì vậy, nên quan tâm bồi dưỡng, tập huấn thêm cho đội ngũ các sinh viên có tiềm năng; từ đó tạo nguồn quy hoạch các vị trí, chức danh quan trọng của Hội Sinh viên cấp trường”.

    Chia sẻ quan điểm về vấn đề này, đại biểu Đặng Thanh An – Chủ tịch Học viện Hành chính TP.Hồ Chí Minh đề xuất: “Các cấp bộ Hội cần có một biểu đồ lộ trình đào tạo, tập huấn cho nguồn cán bộ Hội qua các giai đoạn để có sự đối chiếu và điều chỉnh kịp thời. Bên cạnh đó, các Tỉnh, Thành Đoàn nên quan tâm, giới thiệu, bồi dưỡng các cán bộ Đoàn trường phổ thông, là những bạn trẻ đã có kinh nghiệm công tác phong trào và có tố chất thủ lĩnh để quy hoạch vào BCH Hội Sinh viên cấp trường”.

    Phạm Linh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Hội Vững Mạnh
  • Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Tổ Chức Hội Nông Dân Vững Mạnh
  • Xây Dựng Tổ Chức Hội Vững Mạnh
  • Các Giải Pháp Thu Hút Hội Viên, Xây Dựng Tổ Chức Hội Vững Mạnh Của Hội Lhpn Thị Xã Ninh Hòa
  • Xây Văn Phòng, Khách Sạn
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Trọng Tâm Và Giải Pháp Thực Hiện Xây Dựng Nông Thôn Mới Năm 2022
  • Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Trọng Tâm Và Giải Pháp Thực Hiện Xdntm
  • Một Số Giải Pháp Cho Xây Dựng Nông Thôn Mới Ở Các Xã Khó Khăn
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Và Giảm Nghèo
  • Nam Định: Nghiên Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Kh&cn Nhằm Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam. Thực Trạng Giải Pháp, Thuc Trang Xay Dung Nong Thon Moi, Tiểu Luận Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Sử Dụng Lao Động Nông Thôn ở Hải Dương, Bài Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đề Tài Tiểu Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tiểu Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Thu Hoạch Thực Tế Vè Tieu Chi Số 19 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Việt Nam, Tiểu Luận Thanh Niên Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận, Luận án: Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Phân Tích Chủ Trương Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Vài Trò Của Thanh Niên Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Thôn Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Bài Tiểu Luận Về Xây Dựng Cơ Sở Hạ Tầng Hệ Thống Giao Thông Nông Thôn, Tiểu Luận Xây Dưng Nông Thôn Huyện Huyện Bảo Thắng, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 12 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Các Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 06 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 17 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, 9 Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí Số 19 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 20 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 5 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Noi Dung 19 Tieu Chi Xay Dung Nong Thon Moigiai Doan 2022,2020, Tiểu Luận Hiện Trạng Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật, Tieu Luan Nong Thon Moi, Bộ Tiêu Chí Quốc Gia Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí Y Tế Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 3.2 Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Tiêu Chí Văn Hóa Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Báo Cáo Thực Tập Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí Môi Trường Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Lý Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Xây Dựng Nộng Thôn, Văn Bản Số 117/bxd-qhkt Hướng Dẫn Thực Tiêu Chí Về Nhà ở Nông Thôn, Hướng Dẫn Thực Hiện Tiêu Chí Nông Thôn Mới, Hướng Dẫn Thực Hiện 19 Tiêu Chí Nông Thôn Mới, Nội Dung Thảo Luận Xây Dưng Nông Thôn Mới Kiểu Mẩu, Thuyết Trình Về 19 Tiêu Chí Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí An Ninh Trật Tự Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Thạc Sĩ Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Tham Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận án Tiến Sĩ Xây Dựng Nông Thôn Mới, Báo Cáo Tham Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khóa Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tham Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tham Luận Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới, Khóa Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thảm Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Moi, Bài Tham Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Hướng Dẫn Thực Hiện Bộ Tiêu Chí Quốc Gia Về Nông Thôn Mới, Hướng Dẫn Thực Hiện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Luận án Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Nghệ An, Khóa Luận Tốt Nghiệp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tham Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Mẫu Bài Tham Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Thị Văn Minh, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiễu Mẫu, Khoa Luan Xay Dung Nong Thon Moi O Cac Xa Diem, Bài Thu Hoạch Trung Cấp Lý Luận Chính Trị Về Kết Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Xã, Tham Luận Dân Vận Khéo Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bao Cao Tham Luan Truong Tring Xay Dung Nong Thon Moi, Tiểu Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Hiện Nay, Bai Tham Luan Ve Phang Trao Xay Dung Nong Thon Moi ,do Thi Van Minh, Khóa Luận Xây Dựng Đường Giao Thông Nông Thôn, Bài Thu Hoạch Trung Cấp Lý Luận Hành Chính Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Giải Pháp Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Nòng Cốt, Bài Phát Biểu Tham Luan Lãnh Đạo Chỉ Đạo Huy Động Nội Lực Của Nhân Dân Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đánh Giá Thực Trạng áp Dụng Các Mô Hình Nông Nghiệp Tại 3 Xã, Bài Tham Luận Về Nông Nghiệp Nông Dân Nông Thôn, Tiểu Luận Nội Dung Và Biện Pháp Để Thực Hiện Nhiệm Vụ Tổ Chức Quản Lý Xã Hội Trong Tác Phẩm Những Nh, Thực Hiện Dân Chủ ở Cấp Xã Thực Trạng Và Giải Pháp, Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Thị Văn Mi, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Th, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Th, Kết Quả Triển Khai, Thực Hiện Phong Trào Đảng Viên Tình Nguyện Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đô Thị Văn Mi, Thất Nghiệp ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Thực Trạng, Nguyên Nhân Hậu Quả Giải Pháp, Bài Phát Biểu Tham Luận Đại Hội Nông Dân Về Đào Tạo Nghề Cho Lao Động Nông Thôn, Thuc Trang Va Giai Phap Kham Chua Benh, Thực Trạng Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội, Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Đia Phương, Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp., Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Cán Bộ ở Cơ Quan,

    Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam. Thực Trạng Giải Pháp, Thuc Trang Xay Dung Nong Thon Moi, Tiểu Luận Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Tiểu Luận Về Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay Thực Trạng Và Giải Pháp, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Sử Dụng Lao Động Nông Thôn ở Hải Dương, Bài Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Đề Tài Tiểu Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Tiểu Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bài Thu Hoạch Thực Tế Vè Tieu Chi Số 19 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Việt Nam, Tiểu Luận Thanh Niên Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận, Luận án: Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Phân Tích Chủ Trương Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiểu Luận Vài Trò Của Thanh Niên Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Thực Trạng Giải Pháp Xây Dựng Khu Vực Phogphongf Thủ Huyện, Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Tại Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Bài Tham Luận Về Xây Dựng Thôn Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Bài Tiểu Luận Về Xây Dựng Cơ Sở Hạ Tầng Hệ Thống Giao Thông Nông Thôn, Tiểu Luận Xây Dưng Nông Thôn Huyện Huyện Bảo Thắng, Văn Bản Pháp Luật Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 12 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Các Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 06 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 17 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, 9 Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí Số 19 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 20 Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 5 Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Noi Dung 19 Tieu Chi Xay Dung Nong Thon Moigiai Doan 2022,2020, Tiểu Luận Hiện Trạng Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật, Tieu Luan Nong Thon Moi, Bộ Tiêu Chí Quốc Gia Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí Y Tế Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí 3.2 Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Tiêu Chí Văn Hóa Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Bộ Tiêu Chí Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Báo Cáo Thực Tập Xây Dựng Nông Thôn Mới, Tiêu Chí Môi Trường Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới, Lý Luận Về Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Xây Dựng Nông Thôn Mới, Luận Văn Xây Dựng Nộng Thôn,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Xã Thanh Lâm, Huyện Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang Giai Đoạn 2012
  • Nhiều Nhiệm Vụ, Giải Pháp Xây Dựng Ntm Trong 6 Tháng Cuối Năm
  • Các Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Về Nông Thôn Mới
  • Nghệ An Tăng Cường Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Thôn, Bản
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Thái Nguyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Huyện Hàm Yên, Tỉnh Tuyên Quang
  • Thái Nguyên Triển Khai Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp Tiến Hành Xây Dựng Xã Ntm Kiểu Mẫu
  • Nghệ An Tăng Cường Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Thôn, Bản
  • Các Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Về Nông Thôn Mới
  • Nhiều Nhiệm Vụ, Giải Pháp Xây Dựng Ntm Trong 6 Tháng Cuối Năm
  • Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) là chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nguồn: Internet

    Những kết quả nổi bật trong xây dựng nông thôn mới ở Thái Nguyên

    Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) là chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, với mục tiêu: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội từng bước hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; Gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; An ninh trật tự được giữ vững; Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.

    Năm 2011, khi bắt đầu triển khai thực hiện chương trình xây dựng NTM, Thái Nguyên có tới 138/143 xã (96,5%) đạt dưới 10 tiêu chí, chỉ có 05/143 xã (3,5%) đạt từ 10 tiêu chí trở lên. Thu nhập bình quân ở khu vực nông thôn là 14,28 triệu đồng/người/năm; Tỷ lệ hộ nghèo cao (20,57%). Sau 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, đến hết năm 2022, số xã đạt 19 tiêu chí của tỉnh Thái Nguyên là 40 xã, số xã đạt từ 15 – 18 tiêu chí (32 xã), số xã từ 10 – 14 tiêu chí (65 xã), số xã từ 6 – 9 tiêu chí (6 xã), không còn xã dưới 5 tiêu chí.

    Trong thực hiện xây dựng NTM, chính quyền tỉnh Thái Nguyên đã triển khai hiệu quả nhiều chương trình, như: Hỗ trợ cho các xã điểm (giai đoạn 2013 – 2022) 2 tỷ đồng/xã, xã còn lại 600 triệu đồng/xã xây dựng các công trình hạ tầng NTM. Từ 2012, mỗi năm, Tỉnh hỗ trợ từ 50.000 – 60.000 tấn xi măng để làm đường giao thông nông thôn. Hỗ trợ cho các mô hình phát triển sản xuất quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ. Ban hành và thống nhất thực hiện các thiết kế mẫu, thiết kế điển hình: Đường giao thông nông thôn; kênh mương thủy lợi; Nhà văn hóa xã, xóm; thủ tục, thanh quyết toán… Thực hiện đồng bộ Đề án 2037 “Phát triển kinh tế – xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc H’Mông sinh sống tỉnh Thái Nguyên đến năm 2022″…

    Sau 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến hết năm 2022, số xã đạt 19 tiêu chí của tỉnh Thái Nguyên là 40 xã, số xã đạt từ 15 – 18 tiêu chí (32 xã), số xã từ 10 – 14 tiêu chí (65 xã), số xã từ 6 – 9 tiêu chí (6 xã), không còn xã dưới 5 tiêu chí.

    Qua 5 năm triển khai, kết quả xây dựng NTM ở Thái Nguyên đã tác động rất tích cực đến đời sống người dân nông thôn, thu nhập bình quân/đầu người tăng từ 14,28 triệu đồng (năm 2010) lên 22 triệu đồng (năm 2022); tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 20,57% còn 7,06 %; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 56%. Hàng năm, tỉnh Thái Nguyên bố trí trên 50 tỷ đồng để thực hiện các Chương trình, Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp. Ngoài nguồn vốn của Trung ương và của Tỉnh, mỗi năm cấp huyện đã có nghị quyết hỗ trợ cho nông nghiệp trên 30 tỷ đồng.

    – Về giao thông: Xây dựng, cải tạo và nâng cấp đường giao thông nông thôn được 4.075 km (trong đó xây mới: 1.195 km; cải tạo, nâng cấp: 2.881 km); đã có 51 xã đạt chuẩn tiêu chí (35,7%), tăng 50 xã so với năm 2011.

    – Về thủy lợi: Xây mới và cải tạo 207,5 km kênh mương thuỷ lợi do xã quản lý (trong đó xây mới 97,1 km; cải tạo, nâng cấp: 110,4 km); đã có 78 xã đạt chuẩn tiêu chí (54,5%), tăng 54 xã so với năm 2011.

    – Xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp 204 trạm điện, 686 km đường điện; 11 điểm bưu điện văn hoá xã; 313 trường học; 75 trạm y tế xã; 77 trụ sở xã; 57 nhà văn hoá và khu thể thao xã; 498 nhà văn hoá và khu thể thao xóm; 16 chợ nông thôn; 41 khu xử lý rác thải; 72 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; 55 công trình vệ sinh tại các trường học; 28.284 công trình vệ sinh hộ gia đình.

    – Về giáo dục: Nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học: 114 xã đạt tiêu chí trường học (79,7%, tăng 83 xã so với năm 2011); 107 xã đạt tiêu chí giáo dục (74,8%, tăng 74 xã so với năm 2011).

    – Về y tế: Mạng lưới y tế cơ sở được quan tâm đầu tư, nâng cấp, cơ bản đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ở khu vực nông thôn. Từ năm 2011 đến nay, đã có 93/143 xã (65%) đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020, 50 xã còn lại đã đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2001 – 2010 (nhưng chưa đạt tiêu chí quốc gia giai đoạn 2011-2020). Như vậy, tính cả xã đạt chuẩn cũ và tiêu chí mới, đến nay 143/143 xã đã đạt chuẩn quốc gia về y tế (năm 2011, có 125/143 xã đạt chuẩn,chiếm 87%); tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 92%.

    – Về văn hóa: Các hoạt động văn hóa, thể thao quần chúng được đẩy mạnh và đa dạng hóa, sinh hoạt cộng đồng đã được quan tâm, từng bước đi vào nề nếp; Nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với phong trào thi đua “Thái Nguyên chung sức xây dựng NTM”, động viên, khơi dậy trong các tầng lớp nhân dân tinh thần đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, chung sức xây dựng NTM.

    – Về môi trường: Chương trình đã tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, giao nhiệm vụ cụ thể cho các đoàn thể xóm như: Đẩy mạnh các phong trào xây dựng “Gia đình 5 không, 3 sạch”; “Nhà sạch, ngõ đẹp”; phong trào “Vệ sinh môi trường đường làng, ngõ xóm”. Đến nay, có 47 xã (32,9%) đạt tiêu chí về môi trường, tăng 29 xã so với năm 2011 (18 xã).

    Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng nông thôn mới ở Thái Nguyên

    Mặc dù đạt được kết quả khá toàn diện nhưng tiến độ thực hiện Chương trình xây dựng NTM ở tỉnh Thái Nguyên vẫn còn chậm, một số chỉ tiêu chưa đạt so với mục tiêu đề ra (tại Quyết định 1282/QĐ-UBND của UBND tỉnh); mức độ đạt tiêu chí về cơ sở hạ tầng thấp, nhất là một số hạ tầng thiết yếu như giao thông tỷ lệ cứng hóa còn thấp và chưa đạt chuẩn về các thông số kỹ thuật, cơ sở vật chất văn hóa chưa đạt theo chuẩn quốc gia, tiêu chí môi trường tỷ lệ đạt thấp và kém bền vững. Cụ thể như về xây dựng đường trục xã, kế hoạch đặt ra đạt 100%, tuy nhiên kết quả thực hiện mới đạt 60,3%; đường trục xóm theo kế hoạch đạt 50%…

    Bên cạnh đó, công tác cắm mốc chỉ giới quy hoạch của các xã còn chậm (mới đạt 44,75%); việc huy động mọi nguồn lực nhất là đối với các doanh nghiệp và nhân dân để xây dựng NTM đạt thấp. Thu nhập bình quân đầu người đạt thấp. Hiện nay, tỉnh có 84 xã đạt tiêu chí thu nhập, vẫn còn 79 xã đạt tiêu chí hộ nghèo.

    Các truyền thống văn hóa tốt đẹp ở nông thôn chưa được phát huy; một số tệ nạn xã hội chưa có xu hướng giảm. Vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao.

    Trong khi đó, các xã mới chỉ chú trọng đầu tư xây dựng hạ tầng, chưa quan tâm hỗ trợ, định hướng phát triển sản xuất. Trình độ sản xuất của nhiều hộ nông dân còn thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế; nhiều địa phương còn lúng túng trong việc lựa chọn xây dựng mô hình sản xuất những sản phẩm phát huy lợi thế. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển hình thức tổ chức sản xuất, tuy đã đạt nhiều kết quả nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

    Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên, có thể kể đến như:

    Thứ nhất, xây dựng NTM là một chương trình mới địa bàn rộng, điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, nhiều nội dung ở khu vực nông thôn, với nhiều mục tiêu đề ra rất cao, trong khi nguồn lực đầu tư của nhà nước còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu theo kế hoạch được duyệt, lại thường xuyên thay đổi (từ chỗ nhà nước hỗ trợ 100% đối với 7 nội dung giảm xuống còn 3 nội dung); thu nhập của người dân còn thấp.

    Thứ hai, xuất phát điểm nông thôn của tỉnh Thái Nguyên còn thấp; thiên tai, dịch bệnh xảy ra đã ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế – xã hội và đời sống nhân dân.

    Thứ ba, một số sở, ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ, còn lúng túng trong chỉ đạo, điều hành, vận dụng cơ chế, chính sách, thiếu chủ động, sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện; vẫn còn tư tưởng chông chờ, ỷ lại. Cán bộ trực tiếp làm công tác NTM vẫn còn hạn chế nhất định về kinh nghiệm và trình độ.

    Thứ tư, một số cấp ủy, chính quyền chưa xác định rõ tiềm năng, lợi thế, khó khăn của địa phương; Đánh giá thực trạng nông thôn chưa sát với thực tế, việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, đề án chưa được quan tâm kịp thời; Trình độ của một số cán bộ còn hạn chế, sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn của một số ban chỉ đạo các cấp chưa thường xuyên, sâu sát.

    Thứ năm, công tác chỉ đạo điều hành còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Một số địa phương thực hiện chưa đúng theo chỉ đạo, hướng dẫn của Tỉnh; Việc công khai dân chủ còn hạn chế; Hiệu quả giám sát cộng đồng nhìn chung còn thấp, còn để xuất hiện tiêu cực, khiếu nại của nhân dân.

    Thứ sáu, một số cán bộ, người dân nông thôn chưa xác định rõ xây dựng NTM là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình chưa nhận thức đúng về quan điểm: “Nhà nước hỗ trợ, nhân dân làm là chính”, vai trò trách nhiệm của người hưởng lợi trong xây dựng NTM chưa được phát huy đầy đủ.

    Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở Thái Nguyên

    Phát huy các kết quả đạt được và khắc phục những bất cập trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Thái Nguyên cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

    Một là, tiếp tục xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ trung tâm, bao trùm. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, đoàn thể.

    Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, người dân bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng để nâng cao tính tự giác, chủ động, sáng tạo trong quá trình tổ chức thực hiện. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Thái Nguyên chung sức xây dựng NTM” và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM” gắn với xây dựng NTM.

    Ba là, kiện toàn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của ban chỉ đạo, bộ phận giúp việc ban chỉ đạo; Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với với quy hoạch xây dựng NTM, các mô hình sản xuất hàng hóa tập trung theo Đề án tái cơ cấu nông nghiệp và hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhu cầu của thị trường lao động.

    Bốn là, xây dựng và nhân rộng những cách làm hay, mô hình điểm về xây dựng NTM; Khen thưởng, động viên kịp thời các tổ chức và cá nhân làm tốt, có nhiều đóng góp cho Chương trình.

    Năm là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vào khu vực nông nghiệp, nông thôn; thực hiện tốt việc công khai dân chủ, phát huy vai trò chủ thể của người dân; Tăng cường, nâng cao hiệu quả giám sát cộng đồng, đặc biệt là giám sát trong đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn.

    Sáu là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách thực hiện Chương trình, đặc biệt là cơ chế hỗ trợ đối với các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa; Hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ cao, tạo sự liên kết giữa nông dân với nông dân và nông dân với hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất theo chuỗi, phân phối lợi ích hợp lý giữa các tác nhân trong chuỗi sản xuất. Xây dựng xuất xứ, nhãn hiệu hàng hóa để nâng cao giá trị sản phẩm, thu nhập cho người dân.

    Bảy là, khuyến khích phát triển các hợp tác xã, các doanh nghiệp ở nông thôn phát triển theo mô hình liên kết trong sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản, gắn kết giữa các tác nhân: nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – nhà khoa học – Nhà nước; Hướng dẫn đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, phát triển thương hiệu để tạo giá trị gia tăng.

    Tám là, nâng cao chất lượng các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế; Xây dựng, củng cố các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao; Xây dựng nếp sống văn minh, phát huy các truyền thống văn hóa tốt đẹp, tình làng nghĩa xóm, tổ chức nhân dân tham gia bảo đảm an ninh trật tự, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường, xây dựng xóm làng xanh, sạch đẹp.

    1. UBND tỉnh Thái Nguyên (2016), Đề án Xây dựng NTM tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2022-2020, định hướng đến năm 2030; 2. UBND tỉnh Thái Nguyên (2016), Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2022; 3. Trương Thị Thùy Liên (2016), Xây dựng NTM ở Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí lý luận chính trị; 4. http://sonvnpt.thainguyen.gov.vn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Huy Động Và Quản Lý Nguồn Lực Tài Chính Giải Pháp Thúc Đẩy Quá Trình Xây Dựng Nông Thôn Mới Ở Địa Phương
  • Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao Ở Xã Nga Trường
  • Giải Pháp Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao Ở Hải Bắc
  • Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Vững Mạnh Ở Sa Thầy
  • Xây Dựng Đảng Và Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch Vững Mạnh
  • Hội Nông Dân Việt Nam Tỉnh An Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Đúng Về Tiêu Chuẩn Thiết Kế Kiến Trúc Xanh Hiện Nay
  • Kiến Trúc Truyền Thống Và Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Không Khí Trong Nhà Ở
  • Một Số Giải Pháp Cải Thiện Kiến Trúc Mái Ở Hà Nội
  • Du Lịch Cộng Đồng: Cần Chính Sách Hỗ Trợ Để Phát Triển Bền Vững
  • Giải Pháp Nhân Rộng Mô Hình Du Lịch Cộng Đồng Ở Vùng Ven Biển Tỉnh Thanh Hóa Hướng Tới Bền Vững
  • 09/01/2018

    UBND tỉnh An Giang đã ban hành chương trình hành động về phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn từ nay đến năm 2022, định hướng đến năm 2025 nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

    Vừa thu hút, vừa giữ chân du khách

    Thời gian qua, du lịch An Giang đạt được một số thành tựu nhất định. Số lượng du khách đến tỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước. Nếu năm 2010, An Giang đón 4,7 triệu lượt khách, năm 2022 đón 6,3 triệu lượt thì đến năm 2022 đã tăng lên khoảng 6,7 triệu lượt khách. Các sản phẩm dịch vụ du lịch từng bước được quan tâm đầu tư phát triển như: cáp treo Núi Cấm, công viên văn hóa Núi Sam, bến tàu du lịch Tân Châu… góp phần thu hút ngày càng nhiều du khách đến với An Giang.

    Mới đây, UBND tỉnh An Giang đã ban hành chương trình hành động về phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn từ nay đến năm 2022, định hướng đến năm 2025. Theo đó, mục tiêu đến năm 2022 tỉnh đề ra là “vừa thu hút, vừa giữ chân du khách” với các chỉ tiêu cụ thể như đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, tỷ trọng đóng góp trực tiếp trong GDP là 8,8%; dự kiến ngành du lịch đón trên 10 triệu lượt khách (tỷ trọng khách lưu trú chiếm 20%); có ít nhất một khu du lịch văn hóa tâm linh hỗn hợp quy mô lớn; có nhà hàng, khách sạn đạt chuẩn 3 – 4 sao; có các khu vui chơi, giải trí quy mô vừa; khai thác tốt tuyến du lịch kết nối nội vùng, ngoại vùng và tuyến du lịch xuyên biên giới Việt Nam – Campuchia – Thái Lan – Lào.

    Trong giai đoạn 2022 – 2025, mục tiêu đề ra là “giữ chân du khách”, với các chỉ tiêu như tăng tỷ lệ đóng góp trực tiếp của ngành du lịch trong lên 15,3%; tốc độ tăng trưởng số lượt khách bình quân 5%/năm, dự kiến đón 12,9 triệu lượt khách vào năm 2025. Theo kế hoạch, An Giang sẽ có thêm ít nhất một khu du lịch văn hóa tâm linh hỗn hợp quy mô lớn; có nhà hàng, khách sạn đạt chuẩn 5 sao; có khu vui chơi, giải trí quy mô lớn tại các khu du lịch trọng điểm và các thành phố lớn như Long Xuyên, Châu Đốc.

    Các giải pháp đột phá

    Để thu hút du khách, UBND tỉnh xác định cần tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ và đường thủy; thu hút đầu tư nhanh vào lĩnh vực xây dựng nhà hàng, khách sạn đạt chuẩn từ 4 sao trở lên; xây dựng trung tâm thương mại, trung tâm hội nghị, khu vui chơi, giải trí tại các trung tâm, thành phố lớn của tỉnh; nâng cấp chỉnh trang đô thị, tôn tạo cảnh quan, xây dựng hình ảnh môi trường xanh – sạch – đẹp tại chúng tôi Xuyên và TP.Châu Đốc. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh thu hút đầu tư tại các khu, điểm du lịch được quy hoạch, chủ yếu tập trung vào 4 khu trọng điểm, có lợi thế cạnh tranh cao trong vùng như: Khu du lịch Núi Sam – miếu Bà Chúa Xứ (TP.Châu Đốc), Khu du lịch Núi Cấm – rừng tràm Trà Sư (H.Tịnh Biên), Khu du lịch Mỹ Hòa Hưng – cồn Phó Ba (TP.Long Xuyên) và Khu di tích văn hóa Óc Eo – Ba Thê (H.Thoại Sơn); đồng thời xây dựng khu du lịch nhà vườn kết hợp du lịch sinh thái vùng sông nước tại cù lao Ông Hổ – cồn Phó Ba.

    Trong chương trình trên, UBND tỉnh An Giang còn đưa kèm các giải pháp như thuê tư vấn nước ngoài xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển đối với các địa bàn du lịch trọng điểm của tỉnh; ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù đối với doanh nghiệp, tổ chức đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng du lịch; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh; thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch của tỉnh; xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương hiệu và slogan cho du lịch An Giang. Ngoài ra còn đề ra các giải pháp về môi trường và đảm bảo an ninh trật tự tại các khu – điểm du lịch như: xây dựng môi trường du lịch an toàn, văn minh, thân thiện cho du khách; thành lập đường dây nóng, trung tâm hỗ trợ du khách, hỗ trợ cộng đồng và kiện toàn bộ máy ban quản lý các khu, điểm du lịch trọng tâm của tỉnh…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Hóa Đơn Điện Tử C
  • Ưu Việt Của Hệ Thống Hoá Đơn Điện Tử My
  • Hóa Đơn Điện Tử
  • Trung Tâm Điều Hành An Ninh – Security Operations Center (Soc) Là Gì?
  • Saobacdau Hitek & Nessar Giới Thiệu Giải Pháp Bảo Mật Toàn Diện Soc
  • Chính Sách Tài Chính Đối Với Sự Phát Triển Của Nông Nghiệp, Nông Dân Và Nông Thôn Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Hàng Hoá, Dịch Vụ Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Và Tiêu Thụ Sản Phẩm
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Bán Hàng Bằng Hình Thức Thương Mại Điện Tử Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Đối Với Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại Khách Sạn Sao Biển
  • Đề Tài: Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại Khách Sạn Sao Biển, Hay
  • Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch

    ThS. Trường Đại học Lâm nghiệp

    an ninh quốc phòng; Giải quyết vấn đề nông

    nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của

    cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”. Các

    chính sách phát triển “tam nông” trong đó có

    chính sách tài chính luôn được đặt lên hàng

    đầu và có sự điều chỉnh cho phù hợp trong mỗi

    thời kỳ. Thời gian qua, có nhiều chính sách tài

    chính được triển khai một cách đồng bộ đã góp

    phần giải quyết vấn đề nguồn lực đầu tư tài

    chính cho việc thực hiện các mục tiêu phát

    triển nông nghiệp hiện đại; xây dựng kết cấu

    hạ tầng KT – XH nông thôn; đảm bảo tài chính

    cho việc phát triển khoa học – công nghệ trong

    nông nghiệp; đào tạo nghề nghiệp và nâng cao

    trình độ cho nông dân; nâng cao đời sống vật

    chất, tinh thần của dân cư nông thôn và nông

    dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các

    vùng, giữa nông thôn và thành thị. Bên cạnh

    những thành tựu trên thì trong quá trình thực

    thi chính sách cũng đã tồn tại những bất cập

    không nhỏ.

    Vì vậy, để những chính sách tài chính đó

    thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả,

    đạt được yêu cầu, mục tiêu phát triển của

    ngành NN&PTNT thì chính sách cần phải

    được đánh giá hiệu quả và đưa ra những định

    TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 – 2012

    125

    126

    hay gián tiếp, thúc đẩy hay kìm hãm sự phát

    triển của “tam nông” là tùy thuộc vào quan

    điểm sử dụng chính sách của mỗi quốc gia

    trong từng giai đoạn lịch sử và tùy thuộc vào

    tính khoa học, sự phù hợp của chính sách cũng

    như quá trình tổ chức thực thi. Mặc dù chính

    sách thuế của chúng ta đã sử đổi nhiều lần, bổ

    sung cho phù hợp với thực tiễn nhưng đến năm

    2008 với sự ra đời của Nghị quyết 26-NQ/TW

    thì chính sách thuế đối với “tam nông” mới

    thành một thể thống nhất. Song trong suốt gần

    70 năm qua, chính sách thuế đối với “tam nông”

    vẫn theo một quan điểm xuyên suốt là tạo điều

    kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông

    nghiệp; điều tiết thu nhập một cách công bằng,

    giảm bớt gánh nặng thuế cho nông dân nghèo,

    nhất là ở những vùng đặc biệt khó khăn.

    – Về thuế sử dụng đất nông nghiệp: Chính

    phủ đã ban hành Nghị định 129/2003/NĐ-CP

    ngày 03/11/2003 về miễn, giảm thuế sử dụng

    đất nông nghiệp; Nghị định 61/2010/NĐ-CP

    ngày 4/6/2010 về chính sách khuyến khích

    doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông

    thôn trong đó có miễn giảm thuế sử dụng đất

    nông nghiệp. Đặc biệt, ngày 23/3/2011, Chính

    phủ ban hành Nghị định 20/2011/NĐ-CP về

    miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp trong

    giai đoạn 2011- 2022. Trong đó, quy định các

    đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông

    nghiệp, được giảm 50% số thuế…Bằng việc

    miễn thuế này, mỗi năm nông dân và khu vực

    nông nghiệp được gia tăng thu nhập khoảng

    gần 2.000 tỷ đồng theo giá năm 1999.

    – Về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (thuế

    đất): Miễn thuế cho các đối tượng sau: Đất ở

    trong hạn mức địa bàn có điều kiện kinh tế – xã

    hội đặc biệt khó khăn; Đất ở trong hạn mức

    của hộ nghèo theo quy định của Chính phủ.

    Giảm 50% số thuế phải nộp đối với đất ở trong

    hạn mức tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã

    hội khó khăn.

    – Về thuế thu nhập doanh nghiệp: Áp dụng

    TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 – 2012

    Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch

    thuế suất ưu đãi về thuế suất và miễn thuế,

    giảm thuế có thời hạn cho dự án đầu tư vào địa

    bàn kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó

    khăn. Miễn thuế, giảm thuế có thời hạn cho dự

    án đầu tư vào kết cấu hạ tầng đặc biệt quan

    trọng. Miễn thuế đối với thu nhập từ hoạt động

    trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của

    tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã;

    miễn thuế đối với thu nhập từ dịch vụ kỹ thuật

    phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

    – Về thuế thu nhập cá nhân: Miễn thuế cho

    phần thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực

    tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm

    muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua

    chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế

    thông thường. Miễn thuế đối với thu nhập từ

    chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá

    nhân được Nhà nước giao đất để sản xuất.

    – Về thuế giá trị gia tăng: Mặc dù có điều

    chỉnh giảm đối tượng không chịu thuế và thay

    đổi thuế suất, song các mặt hàng rất thiết yếu

    là sản phẩm nông nghiệp vẫn quy định không

    chịu thuế, các mặt hàng thiết yếu vẫn áp dụng

    thuế suất thấp 5%

    – Về các loại phí: Miễn giảm thủy lợi phí là

    một “cú hích” quan trọng đối với “tam nông”.

    Thủy lợi phí được miễn cho các hộ gia đình, cá

    nhân có đất, mặt nước dùng vào sản xuất nông,

    lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối

    trong hạn mức và diện tích đất 5% công ích do

    địa phương quản lý mà hộ gia đình, cá nhân

    được giao hoặc đấu thầu chuyển quyền sử

    dụng từ 01/01/2008.

    Nhìn chung, trong những năm gần đây,

    chính sách thuế, phí đối với “tam nông” đã tạo

    động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào

    địa bàn kinh tế xã hội khó khăn để tiêu thụ sản

    phẩm nông nghiệp và tạo công ăn việc làm cho

    nông dân; ưu đãi đầu tư vào kết cấu hạ tầng

    nông thôn; ưu đãi để thúc đẩy “dồn điền, đổi

    thửa” từng bước phát triển nông nghiệp theo

    hướng sản xuất hàng hóa lớn.

    1.2. Nhiều chính sách tín dụng cho phát

    triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân

    luôn được triển khai thực hiện đồng bộ

    trong cả nước

    a. Nhóm các chính sách tín dụng thương

    mại đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

    Chính sách tín dụng là một trong những

    công cụ quan trọng được Ðảng, Nhà nước đặc

    biệt quan tâm để phát triển nông nghiệp, nông

    thôn đối với một nước nông nghiệp truyền

    thống như nước ta. Với sự ra đời của Quyết

    định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của

    Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách tín

    dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông

    nghiệp và nông thôn, tín dụng nông nghiệp

    nông thôn đã đạt được một số kết quả. Dòng

    vốn tín dụng ngân hàng chảy vào khu vực nông

    nghiệp, nông thôn đã được khơi thông, cơ cấu

    kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, góp

    phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã

    hội và nâng cao đời sống nhân dân… Tuy

    nhiên, quá trình triển khai Quyết định bộc lộ

    một số bất cập, cần thiết phải được sửa đổi, bổ

    sung và nâng lên thành Nghị định cho phù hợp

    với tình hình đất nước sau 10 năm phát triển.

    Ngày 12/4/2010, Chính phủ đã ban hành

    Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín

    dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông

    thôn, thay thế Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg.

    Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số

    14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 hướng dẫn

    đầy đủ, chi tiết các điểm mới của Nghị định

    41/2010/NĐ-CP so với Quyết định số

    67/1999/QĐ-TTg.

    Nghị định 41/2010/NĐ-CP quy định cụ thể

    các đối tượng được vay vốn phát triển nông

    nghiệp, nông thôn. Mặt khác, Nghị định trên

    cũng cho phép các tổ chức tín dụng được cho

    vay không có tài sản đảm bảo tối đa đến 50

    triệu đồng đối với cá nhân, hộ sản xuất; tối đa

    đến 200 triệu đồng đối với hộ kinh doanh, sản

    xuất phục vụ nông nghiệp, nông thôn; tối đa

    TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 – 2012

    127

    Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch

    đến 500 triệu đồng đối với hợp tác xã, chủ

    trang trại. Trong trường hợp có thiên tai, dịch

    bệnh trên diện rộng, tổ chức tín dụng được

    thực hiện khoanh nợ không tính lãi cho người

    vay tối đa là 2 năm đối với dư nợ hiện còn tại

    thời điểm khoanh nợ và số lãi tổ chức tín dụng

    đã khoanh được giảm trừ vào lợi nhuận trước

    thuế của tổ chức tín dụng.

    Có thể thấy rằng bên cạnh việc tạo ra một

    hành lang pháp lý hoàn thiện hơn, Nghị định

    41/2010/NĐ-CP đã tạo nhiều ưu đãi giúp khu

    vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân tiếp

    cận dễ dàng hơn với nguồn vốn tín dụng ngân

    hàng, được bảo đảm bởi các chính sách hỗ trợ

    khi gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất

    khả kháng, đồng thời, tạo điều kiện cho sự phát

    triển, tăng trưởng mạnh mẽ tín dụng ngân hàng

    cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

    b. Nhóm các chính sách tín dụng hỗ trợ

    nông dân sản xuất kinh doanh

    Bên cạnh việc triển khai Nghị định

    41/2010/NĐ-CP thì các chính sách tín dụng hỗ

    trợ người nông dân trong hoạt động sản xuất

    kinh doanh liên tục được triển khai. Điển hình

    là một số chính sách sau:

    – Hỗ trợ lãi suất, vốn mua máy móc thiết bị:

    Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại

    Quyết định 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 (và

    các Quyết định sửa đổi) về hỗ trợ lãi suất vốn

    vay mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản

    xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở

    khu vực nông thôn, Ngân hàng Nhà nước đã

    ban hành Thông tư số 02/2010/TT-NHNN ngày

    22/01/2010 quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ

    lãi suất vay vốn ngân hàng trong năm 2010.

    – Chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu

    hoạch: Do thiếu vốn để đầu tư máy móc, thiết

    bị, kho bãi để thực hiện tốt việc bảo quản nông

    sản sau thu hoạch nên tỷ lệ tổn thất sau thu

    hoạch trong nông nghiệp còn cao 12 – 13%. Để

    giảm thiểu những tổn thất trên, Thủ tướng

    128

    Chính phủ đã ban hành Quyết định

    63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 về chính

    sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch đối với

    nông sản, thủy sản và Quyết định 65/2011/QĐTTg ngày 02/12/2011 sửa đổi, bổ sung Quyết

    định 63; Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư

    65/2011/TT-BTC ngày 16/5/2011 hướng dẫn

    hỗ trợ lãi suất vay vốn và cấp bù chênh lệch lãi

    suất do thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm giảm

    tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy

    sản; Ngân hàng Nhà nước cũng có Thông tư

    03/2011/TT-NHNN ngày 08/3/2011, Thông tư

    22/2012/TT-NHNN ngày 22/6/2012 hướng dẫn

    thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm giảm thiệt

    hại sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản…

    với mục tiêu đề ra đến năm 2022 giảm được tối

    thiểu 50% tổn thất đối với nông sản, thủy sản

    so với hiện nay. Đây là một chính sách đúng

    đắn và hợp lòng dân, rất cần thiết đối với nền

    nông nghiệp nước ta.

    c. Nhóm các chính sách tín dụng hỗ trợ cho

    mục tiêu an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo,

    xây dựng nông thôn mới

    Kết quả từ cuộc điều tra mức sống hộ gia

    đình mới nhất năm 2010 cho thấy tỷ lệ hộ

    nghèo ở khu vực nông thôn là 17,4%. Vì vậy,

    chính sách tín dụng xóa đói, giảm nghèo là cần

    thiết để nâng cao mức sống người nông dân.

    Trong những năm qua, nhiều chính sách tín

    dụng đã được hình thành để thực hiện công tác

    an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng

    nông thôn mới trên toàn quốc như chính sách

    tín dụng cho các đối tượng thuộc diện chính

    sách xã hội theo tinh thần Nghị định

    78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính

    phủ; Chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ cận

    nghèo được cụ thể hóa tại Nghị quyết số

    80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ.

    Theo đó, giảm 15% lãi suất cho vay khu vực II

    miền núi, giảm 30% lãi suất cho vay khu vực

    III miền núi, hải đảo, vùng đồng bào khơ me

    TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 – 2012

    Kinh tÕ & ChÝnh s¸ch

    tập trung và các xã đặc biệt khó khăn thuộc

    chương trình 135, giảm lãi suất cho vay 20%

    đối với thương nhân vay vốn để dự trữ, bán lẻ

    các mặt hàng thiết yếu, thu mua hàng nông,

    lâm sản ở khu vực II, III miền núi, hải đảo,

    vùng đồng bào dân tộc.

    1.3. Chính sách bảo hiểm nông nghiệp đã

    được triển khai thực hiện thí điểm ở một số

    địa phương trên một số cây trồng, vật nuôi

    điển hình

    Hiện nay, giá trị sản xuất nông nghiệp ở

    nước ta chiếm khoảng trên 20% GDP nhưng

    do vị trí địa lý đặc thù cùng với cơ sở hạ tầng

    còn nhiều hạn chế nên sản xuất nông nghiệp ở

    nước ta vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của thiên

    tai, dịch bệnh. Thời gian qua, một số doanh

    nghiệp như Bảo Việt, Bảo Minh cũng đã triển

    khai một số nghiệp vụ bảo hiểm trên một số

    loại cây trồng, vật nuôi nhưng do nhiều nguyên

    nhân như số người tham gia bảo hiểm ít, phí

    bảo hiểm cao, tổn thất phải bồi thường lớn.

    Mặt khác, lại không nhận được sự hỗ trợ của

    nhà nước nên hoạt động bảo hiểm trong nông

    nghiệp chưa đạt được kết quả như mong muốn.

    Để giúp người nông dân hạn chế được

    những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với hoạt

    động nông nghiệp Bộ Tài chính ban hành

    Thông tư số 121/2011/TT-BTC có hiệu lực thi

    hành từ ngày 1/10/2011 hướng dẫn Quyết

    định 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ

    tướng Chính phủ. Theo đó, Nhà nước hỗ trợ

    100% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân

    nghèo sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ 80% phí

    bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo

    sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ 60% phí bảo

    hiểm cho hộ nông dân, cá nhân không thuộc

    diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp;

    hỗ trợ 20% phí bảo hiểm cho tổ chức sản xuất

    nông nghiệp.

    2. Những tác động tích cực của chính sách

    tài chính đối với sự phát triển của nông

    nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam

    Với các chính sách tài chính đối với phát

    triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn được

    triển khai mạnh mẽ và đồng bộ trong thời gian

    qua đã đem lại những thành quả đáng kể góp

    phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển “tam

    nông” được thể hiện trên các mặt sau:

    Tổng vốn đầu tư dành cho “tam nông” tăng

    lên đáng kể: Cụ thể vốn đầu tư vào lĩnh vực nông

    nghiệp đã tăng liên tục từ 22.323 tỷ đồng năm

    2006 lên đến khoảng 52.495 tỷ đồng năm 2011.

    Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm

    2009,2010,2011-NXB Thống kê

    Vốn đầu tư toàn xã hội dành cho lĩnh vực

    nông nghiệp tăng lên thể hiện chính sách tài

    chính thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp

    phần nào đã phát huy tác dụng. Có được điều

    này, bên cạnh những chính sách tài chính kịp

    thời thì không thể phủ nhận vai trò định hướng

    cũng như sự dẫn đầu của khu vực kinh tế Nhà

    nước trong việc đẩy mạnh đầu tư vào nông

    nghiệp. Số vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà

    nước vào nông nghiệp liên tục tăng trong giai

    đoạn 2006 – 2011 từ 11.939 tỷ đồng năm 2006

    đến 19.127 tỷ đồng năm 2011.

    TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 – 2012

    129

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Các Htx Nông Nghiệp Của Nước Ta Hiện Nay
  • Thực Trạng Tuyển Dụng Nhân Sự Ở Việt Nam Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Bán Hàng Tại Công Ty Cổ Phần Việt Bỉ
  • Đề Tài Thực Trạng Công Tác Bán Hàng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bán Hàng Tại Công Ty Cổ Phần Phát Triển Phú Mỹ
  • Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Điều Lệ Hội Nông Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Phát Triển Hội Nông Dân Việt Nam
  • Hội Nông Dân Tỉnh Nam Định
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Tuyên Giáo Xã Đông Minh
  • Quyết Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Ban Tuyên Giáo Trung Ương
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy Nghệ An
  • Chức năng, nhiệm vụ của hội nông dân Việt Nam

    1. Khái niệm Hội nông dân Việt Nam

    Hội Nông dân Việt Nam (tên cũ: Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam trước 1991) là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Điều lệ hội nông dân Việt Nam

    NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

    Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng và dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới.

    Mục đích của Hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

    Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng Hội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động; nâng cao vai trò đại diện, phát huy quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân.

    Phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần cách mạng, lao động sáng tạo, cần kiệm, tự lực, tự cường, đoàn kết của nông dân; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng văn hoá, giữ vững quốc phòng, an ninh, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Chương I. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA HỘI Điều 1: Chức năng

    1. Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt.

    2. Đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    3. Chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất, kinh doanh và đời sống.

    Điều 2: Nhiệm vụ

    1. Tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân hiểu và tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội. Khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của nông dân.

    2. Vận động, tập hợp, làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh; xây dựng nông thôn mới.

    3. Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân. Trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn. Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ, dạy nghề, khoa học công nghệ giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường.

    4. Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên. Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    5. Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế; tham gia xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân. Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội.

    6. Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăng cường hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quảng bá hàng hoá nông sản, văn hoá Việt Nam với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới.

    2. Uỷ viên ban chấp hành từ cơ sở trở lên đương nhiên là hội viên Hội Nông dân Việt Nam.

    Điều 4: Nhiệm vụ của hội viên

    1. Chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Hội, sinh hoạt và đóng hội phí đầy đủ theo quy định của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

    2. Gương mẫu và tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội; đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư; gia đình văn hoá; thực hiện nghĩa vụ công dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    3. Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh; tuyên truyền, vận động phát triển hội viên; tham gia các hoạt động và phong trào nông dân ở địa phương, xây dựng quỹ hoạt động Hội.

    2. Được Hội hướng dẫn, giúp đỡ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng.

    3. Được ứng cử, đề cử, bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội.

    Điều 6: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

    Hội Nông dân Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội được bầu cử trực tiếp bằng phiếu kín.

    Điều 7: Hệ thống tổ chức của Hội

    Hội Nông dân Việt Nam gồm bốn cấp:

    – Trung ương;

    – Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương);

    – Cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh);

    – Cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và tương đương).

    Điều 8: Đại hội Hội Nông dân các cấp

    Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội Nông dân Việt Nam là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi cấp là đại hội cấp đó.

    1. Số lượng và cơ cấu đại biểu đại hội cấp nào do ban chấp hành cấp trên trực tiếp hướng dẫn và do ban chấp hành cấp đó quyết định. Đại hội chỉ hợp lệ khi có mặt hai phần ba (2/3) tổng số hội viên (nếu là đại hội toàn thể hội viên) hoặc hai phần ba (2/3) tổng số đại biểu được triệu tập trở lên (nếu là đại hội đại biểu).

    2. Đại biểu chính thức của đại hội gồm: Uỷ viên ban chấp hành đương nhiệm của cấp đó, đại biểu do đại hội cấp dưới bầu lên, đại biểu do ban chấp hành cấp triệu tập đại hội chỉ định. Số đại biểu chỉ định không quá năm phần trăm (5%) tổng số đại biểu được triệu tập.

    4. Nhiệm kỳ Đại hội các cấp là 5 năm. Trường hợp đặc biệt, đại hội nhiệm kỳ có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn thời gian quy định, nhưng không quá một năm và phải được Hội cấp trên trực tiếp đồng ý bằng văn bản.

    Điều 9: Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp

    1. Số lượng và cơ cấu ban chấp hành cấp nào do ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp hướng dẫn và do đại hội cấp đó quyết định. Trong nhiệm kỳ, nếu số lượng uỷ viên ban chấp hành khuyết thì hội nghị ban chấp hành hoặc hội nghị đại biểu bầu bổ sung. Số uỷ viên ban chấp hành được bầu cử bổ sung cấp tỉnh và Trung ương không quá một phần hai (1/2) so với số uỷ viên ban chấp hành do đại hội quyết định; cấp huyện và cấp cơ sở được bổ sung đủ số lượng uỷ viên ban chấp hành mà đại hội đã quyết định. (24/08/2012)

    2. Ban chấp hành là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội, ban chấp hành cấp dưới phải được ban chấp hành cấp trên trực tiếp công nhận. Ban chấp hành bầu ban thường vụ, bầu chủ tịch, các phó chủ tịch trong số uỷ viên ban thường vụ. Số lượng và cơ cấu ban thường vụ do ban chấp hành quyết định, tổng số uỷ viên ban thường vụ không quá một phần ba (1/3) tổng số uỷ viên ban chấp hành, trường hợp khuyết được bầu bổ sung cho đủ số lượng. Thường trực (không phải là một cấp) gồm chủ tịch, các phó chủ tịch thay mặt ban thường vụ giải quyết công việc giữa hai kỳ hội nghị ban thường vụ theo nghị quyết, chủ trương của ban chấp hành, ban thường vụ.

    3. Trường hợp cần thiết, ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp có quyền chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, các chức danh chủ chốt của Hội cấp dưới.

    Nhiệm kỳ của ban chấp hành, ban thường vụ, các chức danh chủ chốt được chỉ định không nhất thiết đủ 5 năm.

    4. Ban Thường vụ Trung ương Hội thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Hội chỉ đạo các cấp Hội tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội và các nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội. Ban Thường vụ Trung ương Hội thành lập Văn phòng, các Ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp làm tham mưu, giúp việc. Ban Thường vụ tỉnh, thành Hội thành lập Văn phòng và các Ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp theo hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội. Cấp huyện và cơ sở phân công cán bộ phụ trách các mặt công tác của Hội, hoặc thành lập các bộ phận, tổ chức kiêm nhiệm giúp việc khi cần.

    5. Ban chấp hành từ cấp huyện trở lên họp thường kỳ một năm hai lần, Ban chấp hành cơ sở họp thường kỳ một tháng một lần. Ban thường vụ cấp tỉnh, huyện và cơ sở họp thường kỳ một tháng một lần, Ban Thường vụ Trung ương Hội họp ít nhất ba tháng một lần. Khi cần thiết ban chấp hành, ban thường vụ các cấp họp bất thường. Hội nghị ban chấp hành, ban thường vụ chỉ hợp lệ khi có mặt hai phần ba (2/3) số uỷ viên được triệu tập trở lên. Nghị quyết ban chấp hành, ban thường vụ có giá trị khi quá một phần hai (1/2) tổng số uỷ viên ban chấp hành hay ban thường vụ được triệu tập biểu quyết đồng ý. Uỷ viên ban chấp hành nghỉ hưu, nghỉ công tác hoặc chuyển công tác khác đương nhiên không còn là uỷ viên của ban chấp hành.

    6. Ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ xin rút khỏi ban chấp hành ở cấp nào do ban chấp hành cấp đó xem xét, đề nghị lên ban thường vụ cấp trên trực tiếp quyết định; đối với ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương quyết định.

    Điều 10: Nhiệm vụ của Ban chấp hành từ cấp huyện trở lên

    1. Tổ chức thực hiện và hướng dẫn Hội cấp dưới thực hiện Điều lệ và nghị quyết của Hội; nghiên cứu thi hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt.

    2. Phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tổ chức hướng dẫn hội viên, nông dân thi đua thực hiện các phong trào phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng nông thôn mới.

    3. Chuẩn bị nội dung, nhân sự ban chấp hành và tổ chức đại hội cấp mình khi hết nhiệm kỳ.

    4. Xem xét, quyết định việc thành lập, sáp nhập, chia tách, chấm dứt hoạt động tổ chức Hội cấp dưới trực tiếp.

    Điều 11: Tổ chức cơ sở Hội

    Tổ chức cơ sở Hội Nông dân là nền tảng của Hội, là nơi trực tiếp với hội viên, nông dân. Tổ chức cơ sở Hội theo đơn vị xã, phường, thị trấn. Những đơn vị kinh tế nông, lâm trường, hợp tác xã nếu có nhu cầu thành lập tổ chức Hội Nông dân và được Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định thì thành lập tổ chức Hội phù hợp.

    Điều 12: Nhiệm vụ của ban chấp hành cơ sở Hội

    1. Hướng dẫn các chi Hội, tổ Hội học tập, thực hiện Điều lệ và nghị quyết, chỉ thị của Hội; các nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền cơ sở.

    2. Thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động; phối hợp với chính quyền, các ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể ở cơ sở tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện các phong trào phát triển kinh tế- xã hội, tham gia kinh tế hợp tác và hợp tác xã, làng nghề, trang trại và các loại hình kinh tế tập thể khác. Tổ chức hoạt động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ giúp nông dân phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân.

    3. Nâng cao chất lượng hội viên; xem xét, quyết định kết nạp hội viên; bồi dưỡng cán bộ Hội; duy trì nề nếp sinh hoạt với nội dung thiết thực; xây dựng quỹ Hội, thu nộp hội phí đúng quy định.

    4. Kiểm tra việc thực hiện Điều lệ, chỉ thị, nghị quyết của Hội; phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể giám sát thực hiện chính sách, pháp luật ở nông thôn; tham gia thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; bồi dưỡng và giới thiệu với Đảng những cán bộ, hội viên ưu tú để Đảng xem xét, kết nạp.

    5. Thường xuyên phản ảnh tình hình tổ chức hoạt động của Hội, tình hình sản xuất, đời sống, tâm tư nguyện vọng và những kiến nghị của hội viên, nông dân với cấp uỷ Đảng, chính quyền cùng cấp và Hội cấp trên.

    6. Chuẩn bị nội dung, nhân sự ban chấp hành và tổ chức Đại hội khi hết nhiệm kỳ.

    Điều 13: Chi Hội

    Chi Hội là đơn vị hành động, cầu nối của ban chấp hành cơ sở với hội viên, nông dân. Chi Hội tổ chức theo thôn, ấp, bản, làng, khu phố, hợp tác xã và theo nghề nghiệp. Chi Hội có thể chia thành nhiều tổ Hội. Chi Hội tổ chức hội nghị bầu chi Hội trưởng, chi Hội phó, nhiệm kỳ hai năm rưỡi và bầu đại biểu đi dự đại hội Hội Nông dân cấp cơ sở. Việc bầu cử tiến hành bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết. Chi Hội họp ba tháng một lần, khi cần thiết có thể họp bất thường.

    Điều 14: Nhiệm vụ của chi Hội

    1. Tổ chức học tập, phổ biến chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Hội cấp trên đến hội viên, nông dân. Chi Hội phối hợp với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở thôn, ấp, bản, làng, khu phố…, vận động nông dân thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và nghĩa vụ công dân với Nhà nước. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, vận động hoà giải tranh chấp trong nội bộ nông dân; nòng cốt trong các phong trào phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới.

    2. Hướng dẫn các tổ Hội học tập nâng cao chất lượng và phát triển hội viên, sinh hoạt tổ Hội, thu nộp hội phí, xây dựng quỹ Hội; đoàn kết tương trợ giúp nhau trong sản xuất và đời sống.

    3. Hàng tháng chi Hội phải báo cáo với ban chấp hành cơ sở và tổ chức Đảng cùng cấp về tình hình tổ chức, hoạt động của Hội, sản xuất, đời sống và tâm tư nguyện vọng của hội viên, nông dân.

    Điều 15: Tổ Hội

    Tổ Hội là đơn vị dưới chi Hội, được thành lập theo địa bàn dân cư, theo nghề nghiệp, đơn vị kinh tế, tổ hợp tác,… cho phù hợp và thuận tiện sinh hoạt. Tổ Hội có tổ trưởng và tổ phó do hội viên cử. Mỗi tháng tổ Hội họp một lần.

    Điều 16: Nhiệm vụ của tổ Hội

    Nhiệm vụ của tổ Hội là tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân đoàn kết, tương trợ, hợp tác lao động sản xuất, thực hiện nghĩa vụ công dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân, vận động hội viên, nông dân xây dựng gia đình văn hoá, giữ gìn an ninh trật tự, hoà giải những vụ tranh chấp của hội viên, nông dân; thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển hội viên, xây dựng quỹ Hội, thu nộp hội phí theo quy định.

    Điều 17: Công tác kiểm tra

    Ban Chấp hành, Ban Thường vụ các cấp thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra nhằm phục vụ yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức và hoạt động của Hội. Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp nào lập ra ban kiểm tra của Hội cấp đó.

    Điều 18: Ban kiểm tra

    Ban kiểm tra giúp ban chấp hành, ban thường vụ thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Hội gồm những nội dung sau:

    1. Kiểm tra, giám sát cán bộ, hội viên, tổ chức Hội cấp dưới về chấp hành Điều lệ Hội, thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Hội.

    2. Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính Hội, thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội của Hội cùng cấp và cấp dưới.

    3. Tham gia hoà giải và giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của nông dân; giải quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền của Hội.

    4. Giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở nông thôn.

    Điều 19: Khen thưởng

    Tổ chức Hội, cán bộ, hội viên và những người có công với tổ chức Hội, với giai cấp nông dân tuỳ theo thành tích, được Hội khen thưởng hoặc đề nghị Nhà nước khen thưởng.

    Các hình thức khen thưởng của Hội do Ban chấp hành Trung ương Hội quy định.

    Điều 20: Kỷ luật

    1. Tổ chức Hội, cán bộ, hội viên có sai phạm, tuỳ theo mức độ mà Hội có các hình thức kỷ luật sau đây:

    – Đối với tổ chức: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

    – Đối với cán bộ: khiển trách, cảnh cáo, cách chức.

    – Đối với hội viên: khiển trách, cảnh cáo, xoá tên và thu hồi thẻ hội viên.

    2. Thẩm quyền thi hành kỷ luật do Ban Thường vụ Trung ương Hội quy định.

    Tài chính của Hội chi cho các hoạt động của Hội.

    Điều 22: Quản lý, sử dụng tài chính của Hội

    Các cấp Hội thực hiện chế độ quản lý, sử dụng tài chính theo quy định của Nhà nước và của Trung ương Hội.

    Điều 23: Chấp hành Điều lệ Hội

    Các cấp Hội và cán bộ, hội viên có nhiệm vụ chấp hành Điều lệ Hội. Ban Chấp hành Trung ương Hộicó trách nhiệm hướng dẫn thi hành Điều lệ này.

    Điều 24: Sửa đổi Điều lệ Hội

    Việc sửa đổi Điều lệ Hội do Đại hội đại biểu toàn quốc hoặc Hội nghị đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam quyết định./.

    3. Hướng dẫn thi hành điều lệ hội nông dân Việt Nam

    HƯỚNG DẪN Một số vấn đề cụ thể về thi hành Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam

    Căn cứ Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam (đã được Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII thông qua ngày 12/12/2018) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (khóa VII) ngày 23/7/2019; Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số điều của Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam như sau:

    1. Điều 3: Đối tượng và điều kiện trở thành hội viên 1.1- Đối tượng, điều kiện kết nạp (khoản 1):

    – Tính đến thời điểm kết nạp, người được kết nạp vào Hội phải đủ 18 tuổi.

    + Những người đang lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch…

    + Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp… cấp xã trở lên (bao gồm cả cán bộ không chuyên trách cấp xã).

    + Cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động nghỉ hưu sống ở nông thôn hoặc nơi có tổ chức Hội.

    + Các nhà khoa học, các doanh nhân, giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại; cán bộ kỹ thuật, nghệ nhân…..

    + Học sinh đang học các trường trung học phổ thông; học sinh, sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học là con em nông dân hoặc xuất thân từ nông thôn gắn bó với nông nghiệp, nông thôn.

    1.2- Xét kết nạp hội viên trong một số trường hợp:

    Hội Nông dân các cấp có trách nhiệm tuyên truyền, vận động để kết nạp:

    – Học sinh trong các trường trung học phổ thông từ đủ 18 tuổi có nguyện vọng vào Hội, tích cực, tự nguyện tham gia các hoạt động do Hội tổ chức thì chi Hội hoặc Hội cơ sở nơi học sinh đó cư trú xem xét kết nạp trên cơ sở trao đổi, thống nhất với ban giám hiệu nhà trường nơi học sinh đó đang học tập và cấp ủy nơi cư trú.

    – Học sinh, sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học có nguyện vọng vào Hội, tích cực, tự nguyện tham gia các hoạt động do Hội tổ chức thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương nơi trường đó đóng trên địa bàn xem xét kết nạp, sau khi có sự thống nhất với cấp ủy và ban lãnh đạo nhà trường trên cơ sở phù hợp với nguyện vọng và điều kiện cư trú, học tập của học sinh, sinh viên vào Hội.

    – Các nhà khoa học, các doanh nhân, trí thức trẻ có nguyện vọng vào Hội, tích cực tham gia và đóng góp cho các hoạt động của Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở hoặc cấp huyện, cấp tỉnh, cấp trung ương xem xét kết nạp trên cơ sở phù hợp với nguyện vọng, điều kiện cư trú, làm việc của người vào Hội.

    – Giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại…do ban thường vụ Hội cấp cơ sở xem xét, kết nạp.

    – Trường hợp người có nguyện vọng xin vào Hội nhưng nơi đó chưa có chi Hội hoặc tổ Hội thì việc kết nạp hội viên do ban thường vụ Hội cấp cơ sở hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương xem xét và kết nạp.

    1.3- Thủ tục kết nạp hội viên (khoản 1):

    – Người xin vào Hội phải tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện có đơn gửi chi Hội hoặc tổ Hội (nơi có tổ Hội).

    – Được phổ biến, quán triệt về Điều lệ Hội và những kiến thức cơ bản về Hội trước khi kết nạp.

    – Chi Hội tổ chức hội nghị toàn thể hội viên hoặc hội nghị ban chấp hành chi Hội mở rộng (đối với chi Hội có đông hội viên và được chia thành các tổ Hội) để xem xét, lựa chọn người đủ điều kiện, tiêu chuẩn và lập danh sách đề nghị lên ban thường vụ Hội cơ sở xét và ra quyết định kết nạp.

    – Khi nhận được văn bản đề nghị xét kết nạp hội viên của chi Hội, ban thường vụ Hội cơ sở có trách nhiệm xem xét kết nạp vào cuộc họp gần nhất và ra quyết định kết nạp hội viên. Nếu có trường hợp không được xét kết nạp thì phải trả lời bằng văn bản lý do không được kết nạp cho chi Hội để chi Hội thông báo cho người xin vào Hội biết.

    – Khi có quyết định kết nạp hội viên, chi Hội mời những người có tên trong danh sách được kết nạp dự cuộc họp chi Hội gần nhất và công bố quyết định kết nạp hội viên mới (nơi có tổ Hội thì công bố tại tổ Hội nhưng phải thông báo cho toàn thể chi Hội biết vào kỳ họp gần nhất). Thời gian được công nhận là hội viên tính từ ngày ghi trên quyết định kết nạp.

    1.4- Công tác quản lý hội viên

    – Chi Hội, tổ Hội, ban chấp hành Hội cơ sở phải có Sổ danh sách hội viên theo dõi kết nạp hội viên, sự biến động hội viên và phát Thẻ hội viên theo mẫu của Trung ương Hội ban hành.

    – Các cấp Hội, nhất là cơ sở Hội có thể áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hội viên phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay.

    – Các cấp Hội có trách nhiệm báo cáo đầy đủ tình hình biến động hội viên của cấp mình đối với Hội cấp trên trực tiếp. Đối với tổ Hội, chi Hội, cơ sở Hội thực hiện báo cáo hàng quý; đối với cấp huyện, cấp tỉnh thực hiện báo cáo 6 tháng, 1 năm.

    – Khi hội viên thay đổi nơi cư trú thì báo cáo chi Hội nơi đi, chi Hội có trách nhiệm báo cáo ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp. Đến nơi cư trú mới, hội viên báo cáo, xuất trình thẻ hội viên hoặc giấy giới thiệu của Hội theo mẫu của Trung ương Hội ban hành với tổ chức Hội cơ sở nơi đến cư trú để được tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

    1.4.2- Quản lý hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định; hội viên đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài; hội viên trở thành công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp ở nông thôn

    Hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định là những hội viên rời khỏi địa phương nơi đăng ký hộ khẩu thường trú đến địa phương khác để lao động với việc làm và thời gian không ổn định, không có điều kiện sinh hoạt Hội thường xuyên nơi cư trú.

    a) Trách nhiệm của hội viên:

    – Đối với hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định:

    + Trước mỗi đợt đi lao động ở xa phải báo cáo với ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) về địa chỉ nơi đến để chi Hội, Hội cơ sở hướng dẫn thủ tục chuyển sinh hoạt Hội tạm thời hoặc báo cáo chi Hội xin tạm dừng sinh hoạt (trong trường hợp nơi đến lao động không có tổ chức Hội và không thể tham gia sinh hoạt Hội được).

    + Khi đến nơi lao động, hội viên liên hệ với chi Hội, Hội cơ sở nơi đến để đăng ký tham gia sinh hoạt Hội; được dùng thẻ hội viên hoặc giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt để sinh hoạt tạm thời.

    + Trường hợp hội viên đi lao động, hoặc làm ăn xa nhưng vẫn đi, về thường xuyên và đảm bảo sinh hoạt với chi Hội hoặc tổ Hội ít nhất 02 lần/năm, đóng hội phí đầy đủ, có đóng góp cho các hoạt động của chi Hội, tổ Hội thì vẫn là hội viên được tính vào số hội viên hiện có của chi Hội, tổ Hội.

    – Đối với hội viên đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, trước khi đi phải báo cáo ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) để được tạm dừng sinh hoạt Hội và số hội viên này không tính vào số hội viên hiện có của chi Hội khi báo cáo Hội cấp trên. Khi hội viên trở lại sinh sống ở địa phương thì báo cáo chi Hội để được xem xét tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

    – Hội viên làm công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp (đi khỏi nơi cư trú) không thể tham gia sinh hoạt Hội được thì trước khi đi làm phải báo cáo ban chấp hành chi Hội (qua chi hội trưởng) để được tạm dừng sinh hoạt Hội và số hội viên này không tính vào số hội viên hiện có của chi Hội khi báo cáo Hội cấp trên. Khi thôi làm công nhân, trở lại địa phương lao động, sản xuất, kinh doanh thì báo cáo chi Hội để được tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội.

    b) Trách nhiệm của cơ sở Hội nơi hội viên đi:

    Chi Hội lập sổ theo dõi danh sách hội viên kèm theo địa chỉ nơi đến của số hội viên đi lao động ở xa, thời gian không ổn định; hội viên đi xuất khẩu lao động; hội viên làm công nhân trong các khu công nghiệp, trong các doanh nghiệp và báo cáo cho Hội cơ sở để theo dõi. Hội cơ sở chuyển sinh hoạt hội tạm thời cho hội viên bằng giấy giới thiệu hoặc hướng dẫn hội viên dùng thẻ hội viên để đăng ký sinh hoạt tạm thời. Số hội viên này không tính vào số hội viên thực tế hiện có của chi Hội khi báo cáo với cấp trên.

    c) Trách nhiệm của cơ sở Hội nơi hội viên đến:

    – Hội cơ sở tiếp nhận thủ tục sinh hoạt tạm thời và giới thiệu hội viên về các chi Hội. Số hội viên này được tính vào số hội viên hiện có của chi Hội tiếp nhận khi báo cáo với Hội cấp trên.

    – Những địa bàn tập trung đông hội viên là lao động tự do và đã có đăng ký tạm trú thì Hội cơ sở ở nơi đó có thể thành lập chi Hội hoặc tổ Hội trực thuộc để tổ chức sinh hoạt và các hoạt động cho hội viên.

    1.4.3- Sinh hoạt của hội viên:

    – Việc tổ chức sinh hoạt cho hội viên phải phù hợp với từng đối tượng, điều kiện lao động, công tác và học tập của hội viên.

    + Hội viên sinh sống và lao động ở nông thôn thì tham gia sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội được tổ chức theo địa bàn dân cư, theo nghề nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác…

    + Hội viên là học sinh thuộc trường trung học phổ thông sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội tại địa bàn nông thôn nơi đang sinh sống.

    + Hội viên là ủy viên ban chấp hành Hội Nông dân cấp huyện trở lên sinh hoạt tại các kỳ họp của ban chấp hành và các cuộc hội thảo, hội nghị…cấp mình tham gia.

    + Hội viên là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp (nơi không có chi Hội, tổ Hội) thì tham gia sinh hoạt Hội tại cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương tổ chức.

    + Hội viên là sinh viên các trường trung cấp, cao đẳng, đại học sinh hoạt tại chi Hội, tổ Hội được thành lập trong trường hoặc sinh hoạt tại cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp cơ sở/cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương trực tiếp quản lý.

    + Hội viên là giám đốc hoặc chủ tịch hội đồng quản trị hợp tác xã trong các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại sinh hoạt tại tổ chức Hội nơi cư trú.

    – Cách thức và nội dung sinh hoạt đối với hội viên là các nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, học sinh, sinh viên, trí thức trẻ do cơ quan chuyên trách Hội Nông dân cấp trực tiếp quản lý lựa chọn và chuẩn bị.

    1.4.4- Xem xét miễn sinh hoạt:

    – Đối với hội viên tuổi cao, sức yếu, hội viên ốm đau dài ngày, nếu vì lý do sức khỏe không tham gia sinh hoạt và các hoạt động của Hội được nhưng vẫn có nguyện vọng gắn bó với tổ chức Hội thì báo cáo chi Hội xem xét để được miễn sinh hoạt và các hoạt động của Hội. Chi Hội báo cáo ban thường vụ Hội cơ sở biết theo dõi.

    * Nhiệm vụ, quyền lợi của hội viên được miễn sinh hoạt và hoạt động Hội.

    + Nhiệm vụ: Thực hiện nhiệm vụ của hội viên được quy định tại Điều 4, Điều lệ Hội phù hợp với sức khỏe.

    + Quyền lợi: Được mời dự Hội nghị toàn thể hội viên. Được hưởng quyền lợi đầy đủ như hội viên đang tham gia sinh hoạt và hoạt động của Hội.

    + Nếu vi phạm tư cách hội viên vẫn bị xử lý kỷ luật theo quy định của Điều lệ Hội.

    1.4.5- Trường hợp đưa ra khỏi danh sách hội viên và tổ chức Hội:

    Đối với những hội viên không gắn bó, thiết tha với Hội và làm đơn xin ra khỏi Hội thì chi Hội báo cáo ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp để đưa ra khỏi danh sách hội viên và tổ chức Hội. Hội viên đã xin ra khỏi Hội thì không xem xét kết nạp lại.

    1.4.6- Sử dụng huy hiệu Hội

    Cán bộ, hội viên đeo huy hiệu Hội vào ngày lễ lớn của Hội, các hoạt động mang ý nghĩa chính trị – xã hội và các buổi sinh hoạt tập thể của Hội.

    – Thẻ hội viên có giá trị chứng nhận tư cách, trách nhiệm và quyền lợi chính trị – xã hội của hội viên, được cấp để thực hiện nhiệm vụ của hội viên và của Hội Nông dân Việt Nam. Thẻ hội viên do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam quy định và phát hành.

    – Hội viên được phát Thẻ trong lễ kết nạp hoặc chậm nhất không quá 3 tháng kể từ ngày được kết nạp vào Hội. Việc cấp Thẻ hội viên do ban thường vụ Hội Nông dân các tỉnh, thành phố quyết định. Thẻ có dán ảnh và đóng dấu nổi của Hội Nông dân tỉnh, thành phố. Hội viên được nhận Thẻ hội viên phải thực hiện đúng những quy định về sử dụng và bảo quản thẻ hội viên.

    – Thẻ hội viên chỉ được sử dụng trong công tác và sinh hoạt nội bộ Hội Nông dân và xuất trình khi cần.

    – Hội viên không được cho người khác mượn thẻ; Thẻ hội viên không còn giá trị khi hội viên không còn tham gia tổ chức Hội.

    – Hội viên bị xóa tên thì thu hồi thẻ. Ban thường vụ Hội cơ sở có trách nhiệm thu hồi thẻ và báo cáo Hội cấp trên trực tiếp.

    – Khi thẻ bị mất hoặc hư hỏng thì phải báo cho chi Hội biết; chi Hội lập danh sách và có văn bản báo cáo lên Hội cấp trên đề nghị cấp lại hoặc đổi thẻ hội viên.

    1.4.8- Trách nhiệm của các cấp Hội trong việc phát và quản lý thẻ hội viên

    a) Hội cơ sở: Lập danh sách hội viên được đề nghị cấp thẻ và làm thủ tục đề nghị Hội cấp trên trực tiếp xem xét phát thẻ hội viên, cấp lại thẻ hội viên bị mất hoặc bị hỏng. Sau khi có quyết định phát thẻ của cấp Hội có thẩm quyền, chi Hội tổ chức phát thẻ hội viên tại cuộc họp chi Hội hoặc tổ Hội.

    b) Hội cấp trên trực tiếp của tổ chức Hội cơ sở: Chỉ đạo, hướng dẫn, xem xét và lập danh sách đề nghị ban thường vụ Hội cấp tỉnh cấp thẻ hội viên; lập danh sách hội viên được phát thẻ và quản lý sổ phát thẻ hội viên.

    c) Hội Nông dân tỉnh, thành phố: Ra quyết định phát thẻ hội viên, cấp lại thẻ hội viên bị mất hoặc bị hỏng; tổ chức viết thẻ hội viên. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra Hội cấp dưới thực hiện việc phát và quản lý thẻ hội viên. Hằng năm báo cáo Trung ương ương Hội.

    d) Đối với hội viên thuộc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương quản lý thì cấp đó có trách nhiệm đề nghị hoặc quyết định cấp thẻ cho hội viên.

    2. Điều 4. Nhiệm vụ của hội viên

    – Thực hiện theo 3 nhiệm vụ quy định trong Điều lệ Hội.

    – Hội viên sinh hoạt tại đâu thì có trách nhiệm đóng hội phí tại đó.

    3. Điều 5: Quyền lợi của hội viên 3.1- Quyền ứng cử, đề cử, bầu cử (Khoản 3):

    – Hội viên có quyền ứng cử để bầu vào ban chấp hành các cấp của Hội, dù hội viên đó là đại biểu hay không là đại biểu của đại hội.

    – Việc ứng cử, đề cử, bầu cử thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

    – Người tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử là đảng viên thực hiện theo Quy định của Đảng cộng sản Việt Nam.

    – Đối với hội viên là sinh viên có đóng góp tích cực, hiệu quả cho hoạt động của Hội, khi tốt nghiệp loại giỏi hoặc xuất sắc thì được các cấp Hội giới thiệu để dự thi tuyển vào các cơ quan chuyên trách của Hội Nông dân ở các cấp theo quy định khi có nhu cầu.

    4. Điều 6: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động 4.1- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của cơ quan lãnh đạo Hội các cấp

    – Hội Nông dân Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên.

    – Hội nghị ban chấp hành, ban thường vụ chỉ hợp lệ khi có mặt hai phần ba (2/3) số uỷ viên được triệu tập trở lên. Nghị quyết ban chấp hành, ban thường vụ chỉ có giá trị khi quá một phần hai (1/2) tổng số uỷ viên ban chấp hành hay ban thường vụ được triệu tập biểu quyết đồng ý.

    Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Thành viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu ý kiến và được báo cáo với Hội cấp trên trực tiếp. Khi chưa có ý kiến của Hội cấp trên trực tiếp, thành viên đó phải chấp hành nghị quyết của tập thể và không được truyền bá ý kiến cá nhân và làm trái với nghị quyết. Khi thi hành, phải thực hiện nghị quyết của tập thể.

    4.2- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội được bầu cử trực tiếp bằng phiếu kín.

    Việc bầu cử thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

    – Trong trường hợp bầu không có số dư, khi bầu lần thứ nhất chưa đủ số lượng cần bầu, nếu đại hội hoặc hội nghị quyết định tiếp tục bầu lần thứ hai để bổ sung đủ số lượng còn thiếu, thì lựa chọn và giới thiệu nhân sự trong diện số dư mà ban chấp hành cấp triệu tập đại hội hoặc hội nghị đã chuẩn bị (nếu có); không giới thiệu nhân sự vừa bầu không trúng cử ở lần thứ nhất.

    – Trường hợp những người bầu không trúng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội các cấp tại Đại hội hoặc hội nghị thì ít nhất phải 6 tháng sau nếu đủ tiêu chuẩn, uy tín thì mới giới thiệu để bầu lại.

    4.3- Công tác bầu cử của Hội

    Thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

    4.3.1- Việc bỏ phiếu kín áp dụng trong các trường hợp:

    a) Bầu ban chấp hành trong đại hội, bầu ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch hoặc bầu bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ và chức danh chủ tịch, phó chủ tịch.

    b) Bầu đại biểu đi dự đại hội Hội Nông dân cấp trên trực tiếp.

    c) Bầu ủy viên ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

    4.3.2 – Bầu cử tại Hội nghị ban chấp hành, hội nghị ủy ban kiểm tra

    – Triệu tập phiên họp đầu tiên của ban chấp hành khóa mới là đồng chí chủ tịch hoặc phó chủ tịch khóa trước được bầu tái cử. Nếu chủ tịch và phó chủ tịch khóa trước không tái cử thì Đoàn chủ tịch đại hội chỉ định triệu tập viên là một đồng chí mới được bầu vào ban chấp hành, chủ trì phiên họp cho đến khi bầu xong chủ toạ hội nghị.

    – Hội nghị ban chấp hành bầu ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch, ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Hội nghị ủy ban kiểm tra bầu phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

    – Ban chấp hành có quyền quyết định số lượng ủy viên ban thường vụ, phó chủ tịch, ủy viên ủy ban kiểm tra, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Số lượng ủy viên ban thường vụ không quá một phần ba (1/3) ủy viên ban chấp hành; số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra không nhiều hơn số lượng ủy viên ban thường vụ và thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp nhiệm kỳ 2022 – 2023 của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

    4.4- Quy trình, thủ tục công nhận kết quả bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch

    Ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh chủ tịch, các phó chủ tịch Hội từ cấp tỉnh trở xuống phải được ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp công nhận.

    – Trong vòng 15 ngày làm việc, ban thường vụ khóa mới báo cáo lên ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp các biên bản bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch kèm theo danh sách trích ngang và tờ trình đề nghị công nhận kết quả bầu cử. Tờ trình do chủ tịch hoặc phó chủ tịch (đối với nơi chưa bầu chủ tịch) mới được bầu tại Hội nghị ban chấp hành lần thứ nhất ký.

    – Đồng chí chủ tịch, phó chủ tịch điều hành và ký các văn bản theo thẩm quyền ngay sau khi công bố kết quả bầu cử tại đại hội. Riêng kiện toàn bổ sung tại hội nghị ban chấp hành được điều hành các công việc ngay, nhưng chỉ khi có quyết định chuẩn y của ban thường vụ Hội cấp trên thì đồng chí chủ tịch, phó chủ tịch mới được ký các văn bản theo thẩm quyền.

    – Trường hợp phát hiện có sự vi phạm Điều lệ Hội và nguyên tắc, thủ tục bầu cử thì ban thường vụ cấp trên trực tiếp có quyền không công nhận kết quả bầu cử và chỉ đạo tiến hành bầu lại; hoặc thấy có một hoặc một số chức danh đã được bầu nhưng không đảm bảo nguyên tắc, tiêu chuẩn quy định thì có quyền không công nhận một hoặc một số chức danh đó.

    – Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ của cấp dưới, ban thường vụ Hội cấp trên phải ra quyết định công nhận. Nếu không công nhận phải thông báo và nêu rõ lý do cho Hội cấp dưới biết bằng văn bản.

    – Trường hợp đã có quyết định công nhận của ban thường vụ Hội cấp trên, sau đó mới phát hiện có sự vi phạm Điều lệ Hội và nguyên tắc, thủ tục bầu cử của Hội thì ban thường vụ cấp ra quyết định công nhận có quyền thu hồi và hủy quyết định công nhận đối với tất cả danh sách hoặc của một/một số người trong danh sách.

    5. Điều 7: Hệ thống tổ chức của Hội

    5.1- Hệ thống tổ chức Hội được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước.

    5.2- Tổ chức Hội được xác định tương đương với tổ chức Hội cơ sở được thành lập theo đơn vị hành chính là những tổ chức do ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thống nhất thành lập trong một số nông trường, lâm trường, hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ…mà thực hiện chức năng, nhiệm vụ tương đương Hội Nông dân cấp cơ sở, được cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp đồng ý.

    6. Điều 8: Đại hội Hội Nông dân các cấp 6.1- Đại biểu đại hội 6.1.1- Số lượng đại biểu (khoản 1):

    Ban chấp hành cấp triệu tập đại hội xem xét, quyết định số lượng đại biểu dự đại hội căn cứ vào số lượng, đơn vị trực thuộc, số lượng hội viên và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương trên cơ sở hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

    Ở những nơi có số lượng hội viên dưới 100 thì tổ chức đại hội toàn thể hội viên trừ trường hợp đặc biệt sẽ do ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp quyết định trên cơ sở thống nhất ý kiến với cấp ủy của cấp triệu tập đại hội.

    – Ủy viên ban chấp hành thuộc cấp triệu tập đại hội ở đơn vị nào là đại biểu chính thức của đoàn đại biểu đơn vị đó. Đối với ủy viên ban chấp hành cơ cấu, không chuyên trách thì thuộc đoàn đại biểu của cơ quan Hội chuyên trách cấp triệu tập đại hội.

    – Đại biểu do đại hội, hội nghị đại biểu cấp dưới bầu lên theo phân bổ số lượng của ban chấp hành cấp triệu tập đại hội. Ban chấp hành cấp triệu tập đại hội phân bổ số lượng đại biểu đại hội theo những căn cứ chủ yếu sau:

    + Số lượng hội viên.

    + Số lượng tổ chức Hội trực thuộc cấp đó.

    + Tính đặc thù, những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo, dân tộc…

    – Đại biểu chỉ định: Đại biểu chỉ định là những đại biểu do ban chấp hành cấp triệu tập đại hội quyết định ngoài số đại biểu đương nhiên và đại biểu bầu. Chỉ chỉ định những trường hợp cần thiết và phải bảo đảm tiêu chuẩn đại biểu. Không chỉ định những người đã bầu cử ở cấp dưới không trúng cử chính thức hoặc dự khuyết làm đại biểu của đại hội. Số lượng đại biểu được chỉ định không quá 5% số lượng đại biểu chính thức của đại hội.

    6.1.3- Bầu đại biểu chính thức và đại biểu dự khuyết dự đại hội cấp trên

    Việc bầu cử đại biểu dự đại hội cấp trên (cả chính thức và dự khuyết) thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

    6.1.4- Thay thế đại biểu

    Việc chuyển đại biểu dự khuyết thành đại biểu chính thức do ban thường vụ cấp triệu tập đại hội quyết định.

    – Nguyên tắc thay thế đại biểu:

    + Đại biểu dự khuyết được bầu thuộc đoàn đại biểu nào thì được thay thế đại biểu chính thức của đoàn đại biểu đó.

    + Đại biểu dự khuyết được chuyển thành đại biểu chính thức theo thứ tự số phiếu bầu từ cao xuống thấp; nếu phiếu bầu bằng nhau thì người có thành tích nổi trội, có quá trình cống hiến cho tổ chức Hội và phong trào nông dân nhiều hơn sẽ được ưu tiên lựa chọn và trên cơ sở có tính đến yếu tố cơ cấu của đề án đoàn đại biểu.

    – Khi đại biểu chính thức đã được bầu tại đại hội vắng mặt có lý do chính đáng thì đại biểu dự khuyết thay thế. Ban thường vụ Hội nơi có sự thay đổi đại biểu phải có tờ trình báo cáo lý do và đề cử đại biểu dự khuyết thay thế gửi ban thường vụ Hội cấp triệu tập đại hội và phải được ban thường vụ Hội cấp triệu tập đại hội đồng ý bằng văn bản.

    Trường hợp đã thay thế hết số đại biểu dự khuyết mà số đại biểu chính thức đã được bầu vẫn thiếu, nếu cần thiết thì ban chấp hành cấp triệu tập đại hội xem xét, quyết định chỉ định bổ sung theo đề nghị của ban thường vụ Hội cấp dưới nhưng với điều kiện tổng số đại biểu chỉ định vẫn nằm trong giới hạn tỉ lệ 5% so với tổng số đại biểu được triệu tập.

    6.1.5- Bác tư cách đại biểu

    Đại hội cấp triệu tập có trách nhiệm xem xét bác bỏ tư cách đại biểu trong các trường hợp sau:

    – Đại biểu đang trong thời gian bị cơ quan pháp luật khởi tố, truy tố. Đại biểu được bầu đang trong thời gian bị thi hành kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

    – Đại biểu được bầu không đúng quy định của Điều lệ Hội.

    – Trong thời gian đang diễn ra đại hội, đại biểu vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nội quy đại hội gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Hội.

    6.2- Về kéo dài hoặc rút ngắn thời gian nhiệm kỳ đại hội (khoản 4)

    – Các trường hợp đặc biệt có thể tổ chức đại hội sớm hoặc muộn hơn nhưng không được quá một năm (mười hai tháng), bao gồm:

    Khi có thay đổi địa giới hành chính (chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới) theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp có quyền quyết định điều chỉnh thời gian nhiệm kỳ đại hội lần thứ nhất để phù hợp với thời gian nhiệm kỳ đại hội Hội cùng cấp trong cả hệ thống Hội. Nhiệm kỳ của tổ chức Hội mới không nhất thiết phải đủ 5 năm.

    – Ban Thường vụ Trung ương Hội xem xét, quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ đại hội Hội cấp tỉnh khi cần. Ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh xem xét, quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ đại hội Hội Nông dân cấp huyện và cấp cơ sở để phù hợp với nhiệm kỳ chung.

    – Trước khi quyết định việc kéo dài hoặc rút ngắn thời gian nhiệm kỳ đại hội phải báo cáo và được sự đồng ý (bằng văn bản) của ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp và cấp ủy cùng cấp của cấp triệu tập đại hội.

    6.3- Hội nghị đại biểu 6.3.1- Số lượng đại biểu:

    Không nhiều hơn số lượng đại biểu của đại hội nhiệm kỳ. Việc phân bổ số lượng đại biểu của hội nghị đại biểu như căn cứ phân bổ số lượng đại biểu đại hội.

    6.3.2- Thành phần đại biểu của Hội nghị đại biểu:

    – Ủy viên ban chấp hành cấp triệu tập hội nghị không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên mà chưa hết thời hạn áp dụng (Kể cả kỷ luật đảng, chính quyền, đoàn thể).

    – Các đại biểu do ban chấp hành cấp dưới cử lên, gồm:

    + Cán bộ chủ chốt của ban chấp hành cấp dưới.

    + Một số cán bộ Hội chuyên trách, không chuyên trách.

    + Hội viên tiêu biểu.

    7. Điều 9: Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp 7.1- Xây dựng ban chấp hành khóa mới (khoản 1)

    Xây dựng ban chấp hành phải bảo đảm các yếu tố, tiêu chuẩn do Ban Chấp hành Trung ương Hội quy định.

    7.1.2- Cơ cấu ban chấp hành

    – Cán bộ chuyên trách, không chuyên trách, chủ chốt các cấp Hội; nhà khoa học, giám đốc hợp tác xã/chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã, chủ trang trại, hội viên tiêu biểu có điều kiện và khả năng hoàn thành nhiệm vụ.

    – Chú trọng cán bộ trưởng thành từ phong trào nông dân, từ cơ sở. Đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội…

    – Những cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị – xã hội, các doanh nghiệp, nếu có đủ điều kiện và tín nhiệm, được cấp uỷ Đảng và ban chấp hành Hội cùng cấp giới thiệu thì được đề cử để đại hội bầu vào ban chấp hành hoặc hội nghị ban chấp hành bầu bổ sung vào ban chấp hành Hội các cấp.

    7.1.3- Số lượng ủy viên ban chấp hành Hội các cấp

    – Trước mỗi kỳ Đại hội căn cứ vào chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội, Ban Thường vụ Trung ương Hội hướng dẫn cụ thể việc chuẩn bị và tiến hành đại hội hội nông dân các cấp, trong đó có quy định về số lượng (tối đa, tối thiểu) của ban chấp hành các cấp. Ban chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh căn cứ vào hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội để cụ thể hoá và hướng dẫn ban chấp hành Hội Nông dân cấp dưới thực hiện.

    – Số lượng uỷ viên ban chấp hành cấp nào do đại hội cấp đó quyết định, nhưng phải đảm bảo số lượng tối thiểu và không vượt quá số lượng tối đa do ban thường vụ cấp trên trực tiếp hướng dẫn.

    7.2- Bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch (khoản 2)

    Chỉ bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch khi khuyết các chức danh đó.

    7.2.1- Các trường hợp bầu bổ sung

    – Bầu chưa đủ số lượng do đại hội hoặc hội nghị quyết định.

    – Khi ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác (không thuộc cơ cấu ban chấp hành, ban thường vụ), bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

    – Trong trường hợp khi sáp nhập, hợp nhất số ủy viên ban chấp hành khuyết so với đề án thì có thể xem xét để bầu bổ sung.

    7.2.2- Nguyên tắc bầu bổ sung

    – Bầu bổ sung ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch phải đảm bảo đúng cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được đại hội hoặc hội nghị thông qua.

    – Trước khi bầu bổ sung uỷ viên ban chấp hành, uỷ viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch ở mỗi cấp, ban thường vụ cấp đề nghị phải có văn bản báo cáo cụ thể và phải được sự thống nhất, đồng ý của cấp ủy cùng cấp theo quy định phân cấp quản lý cán bộ và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp bằng văn bản. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

    – Bổ sung người chưa là ủy viên ban chấp hành vào ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của cấp đó: ban chấp hành tiến hành bầu bổ sung người đó vào ban chấp hành sau đó bầu vào ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch.

    – Trong cùng một cuộc họp, người vừa được bầu bổ sung trúng cử vào ban chấp hành được quyền ứng cử, đề cử và bầu cử các chức danh khác tại cuộc họp đó.

    Quy trình, thủ tục, hồ sơ kiện toàn nhân sự và công nhận kết quả bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch

    Bước 2: Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, cho ý kiến và trả lời bằng văn bản.

    Bước 3: Khi có ý kiến đồng ý của cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp, ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ban chấp hành và tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

    Bước 4: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện thủ tục, hồ sơ trình ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định công nhận.

    * Hồ sơ kiện toàn: – Hồ sơ xin chủ trương kiện toàn, bổ sung nhân sự

    + Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung xin chủ trương kiện toàn ban chấp hành, ban thường vụ (cần nêu rõ lý do và tình hình ban chấp hành, ban thường vụ ở thời điểm kiện toàn).

    + Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

    + Đối với nhân sự là ủy viên ban thường vụ phải có thêm lý lịch theo mẫu 2C/TCTW-98 của Ban Tổ chức Trung ương quy định.

    – Hồ sơ đề nghị công nhận các chức danh kiện toàn, bổ sung

    + Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung đề nghị công nhận chức danh kiện toàn.

    + Trích biên bản Hội nghị ban chấp hành (phần điều hành kiện toàn nhân sự).

    + Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

    Bước 2: Thực hiện quy trình công tác cán bộ theo quy định, có thể thực hiện một trong các trường hợp sau:

    – Căn cứ giới thiệu của ban thường vụ cấp ủy về nhân sự cụ thể để thực hiện quy trình kiện toàn.

    – Tùy theo tình hình thực tế của địa phương, tổ chức Đảng, ban thường vụ Hội Nông dân cấp kiện toàn có thể lựa chọn nhân sự phù hợp để tham mưu với cấp ủy cho thực hiện quy trình công tác cán bộ.

    Bước 3: Sau khi có phương án nhân sự cụ thể:

    – Đối với Hội Nông dân các tỉnh, thành phố: Đảng đoàn Hội Nông dân tỉnh/thành phố tham mưu cho ban thường vụ tỉnh/thành ủy có văn bản trao đổi với Đảng đoàn Hội Nông dân Việt Nam về chủ trương và nhân sự cụ thể dự kiến kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch của Hội Nông dân tỉnh/thành phố.

    – Đối với Hội Nông dân cấp huyện, cấp cơ sở: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện, cấp cơ sở tham mưu cho cấp ủy cùng cấp có văn bản trao đổi với ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên về chủ trương và nhân sự cụ thể dự kiến kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch của cấp huyện hoặc cấp xã.

    Bước 4: Trên cơ sở chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp và ý kiến đồng ý bằng văn bản về chủ trương kiện toàn nhân sự của Đảng đoàn (hoặc ban thường vụ) Hội cấp trên trực tiếp, ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn triệu tập hội nghị ban chấp hành tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

    Bước 5: Ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn hoàn thiện thủ tục, hồ sơ trình ban thường vụ cấp trên trực tiếp xem xét quyết định công nhận.

    * Hồ sơ đề nghị kiện toàn và công nhận các chức danh: – Hồ sơ xin ý kiến kiện toàn, bổ sung nhân sự:

    + Đề nghị cấp ủy có văn bản gửi Đảng đoàn (đối với trung ương, tỉnh, thành phố), ban thường vụ Hội Nông dân (đối với cấp huyện, cấp xã) trao đổi về công tác cán bộ để thống nhất chủ trương và nhân sự cụ thể kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (Kèm theo trích ngang lý lịch nhân sự dự kiến giới thiệu).

    + Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn gửi ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp báo cáo tình hình ban chấp hành, ban thường vụ, nhân sự chủ tịch, phó chủ tịch. Trên cơ sở đó, xin ý kiến và chủ trương kiện toàn chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (Kèm theo sơ yếu lý lịch cán bộ theo mẫu 2C/TCTW-98; Văn bản điều động, phân công công tác của cấp ủy đối với nhân sự được luân chuyển (nếu có).

    – Hồ sơ đề nghị công nhận chức danh được kiện toàn, bổ sung

    + Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân nơi kiện toàn đề nghị công nhận chức danh được kiện toàn, bổ sung.

    + Trích biên bản Hội nghị ban chấp hành (phần điều hành kiện toàn nhân sự).

    + Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

    7.3- C hỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch và phó chủ tịch các cấp Hội (khoản 3):

    – Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ và các chức danh chủ chủ tịch, phó chủ tịch trong trường hợp tổ chức Hội mới được thành lập hoặc được thành lập mới do có sự thay đổi về địa giới hành chính như chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ mới cho phù hợp.

    – Trong trường hợp thực hiện kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ ở cơ sở theo chỉ đạo của cấp ủy, số lượng ủy viên ban chấp hành Hội cấp xã hoặc của chi Hội còn dưới 50% so với tổng số ủy viên ban chấp hành theo Đề án được Đại hội thông qua, thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện có quyền chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành Hội Nông dân cấp xã; ban thường vụ Hội Nông dân cấp xã có quyền chỉ định bổ sung ủy viên ban chấp hành chi Hội. Số lượng ủy viên ban chấp hành cấp xã hoặc của chi Hội sau khi đã được chỉ định bổ sung không được vượt quá 2/3 tổng số ủy viên ban chấp hành theo đề án đã được đại hội thông qua.

    Quy trình chỉ định

    – Trường hợp chia tách, ban thường vụ Hội khóa đương nhiệm nơi có sự thay đổi về địa giới hành chính báo cáo về dự kiến nhân sự phù hợp với cơ cấu tổ chức mới với Hội cấp trên trực tiếp sau khi có sự thống nhất của cấp ủy cùng cấp; ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành khóa đương nhiệm và cấp ủy nơi có sự thay đổi về địa giới hành chính dự kiến nhân sự để chỉ định.

    – Trường hợp sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới tổ chức Hội, ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành Hội và cấp ủy của các tổ chức Hội được sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới.

    – Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp ra quyết định chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch và phó chủ tịch.

    7.4- Việc đương nhiên không còn là ủy viên ban chấp hành; cho rút tên khỏi ban chấp hành, ban thường vụ, thôi giữ chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (khoản 5, 6):

    – Uỷ viên ban chấp hành có quyết định nghỉ hưu hoặc có thông báo nghỉ công tác (kể từ thời điểm quyết định nghỉ hưu hoặc thông báo nghỉ công tác có hiệu lực thi hành) thì đương nhiên không còn là uỷ viên ban chấp hành và các chức vụ khác do ban chấp hành bầu.

    – Uỷ viên ban chấp hành chuyển công tác khác mà vị trí công tác mới không thuộc thành phần cơ cấu tham gia ban chấp hành kể từ thời điểm quyết định chuyển công tác có hiệu lực thi hành thì đương nhiên không còn là uỷ viên ban chấp hành.

    – Đối với ủy viên ban chấp hành chuyển công tác trong hệ thống Hội:

    + Trường hợp ủy viên ban chấp hành Hội cấp dưới (không là ủy viên ban chấp hành Hội cấp trên) khi chuyển công tác lên cơ quan chuyên trách Hội cấp trên thì đương nhiên thôi tham gia ban chấp hành Hội cấp dưới.

    + Trường hợp ủy viên ban chấp hành Hội cấp dưới đồng thời là ủy viên ban chấp hành Hội cấp trên nếu chuyển công tác lên cơ quan chuyên trách Hội cấp trên thì đương nhiên thôi tham gia ban chấp hành Hội cấp dưới; việc tham gia hay không tham gia ban chấp hành Hội cấp trên do ban chấp hành Hội cấp trên quyết định.

    – Ủy viên ban chấp hành giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc thành phần cơ cấu tham gia ban chấp hành khi có quyết định thôi giữ chức vụ cũng đương nhiên không còn là ủy viên ban chấp hành.

    – Đối với người tham gia ban chấp hành nhiều cấp: Nếu bị kỷ luật cách chức hoặc rút tên khỏi ban chấp hành cấp dưới thì không còn là ủy viên ban chấp hành của các cấp trên.

    – Đối với các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch Hội các cấp trước khi cho rút tên hoặc thôi tham gia ban chấp hành phải báo cáo bằng văn bản và được sự đồng ý của cấp ủy đảng cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp.

    – Nếu rút tên trong ban chấp hành thì không còn là ủy viên ban thường vụ và không còn giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch (nếu có). Nếu chỉ rút tên trong ban thường vụ thì không còn giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch (nếu có) nhưng vẫn còn là ủy viên ban chấp hành. Nếu chỉ thôi giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch thì vẫn còn là ủy viên ban thường vụ, uỷ viên ban chấp hành.

    8. Khoản 4, Điều 10: Thành lập, chia tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động tổ chức Hội 8.1- Thành lập tổ chức Hội

    a) Thẩm quyền: Việc thành lập tổ chức Hội do Hội cấp trên trực tiếp quyết định sau khi hiệp y chủ trương thống nhất với cấp ủy cùng cấp.

    b) Quy trình, thủ tục:

    – Cấp ủy Đảng nơi dự kiến thành lập tổ chức Hội gửi hồ sơ đến tổ chức Hội có thẩm quyền thành lập, gồm:

    + Văn bản đề nghị thành lập tổ chức Hội tại địa phương.

    + Đề án thành lập tổ chức Hội.

    + Dự thảo phương hướng hoạt động của tổ chức Hội trong thời gian lâm thời.

    + Danh sách trích ngang ban chấp hành lâm thời dự kiến chỉ định.

    + Lý lịch theo mẫu quy định đối với các chức danh ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch.

    + Danh sách hội viên.

    – Tổ chức Hội có thẩm quyền tiếp nhận và thẩm định hồ sơ; làm việc với cấp ủy nơi thành lập .

    – Tổ chức Hội có thẩm quyền ra quyết định thành lập, phối hợp với cấp ủy tổ chức lễ công bố quyết định thành lập.

    Lưu ý: Trong trường hợp Hội cấp trên có chủ trương thành lập Hội cấp dưới thì chủ động làm việc với cấp ủy cấp dưới để thống nhất chủ trương thành lập.

    8.2- Chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội

    a) Chia tách tổ chức Hội trong các trường hợp: Có sự chia tách đơn vị hành chính thành các đơn vị (như chia tách một tỉnh, huyện, xã thành nhiều tỉnh, huyện, xã) theo đó, tổ chức Hội thuộc các đơn vị này cũng chia tách thành hai hay nhiều tổ chức Hội.

    b) Sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội trong các trường hợp: Có sự sáp nhập hoặc hợp nhất đơn vị hành chính thành một tổ chức Hội (như sáp nhập hoặc hợp nhất hai hay nhiều tỉnh, huyện, xã thành một tỉnh, huyện, xã) theo đó, tổ chức Hội thuộc các đơn vị này cũng sáp nhập, hợp nhất thành một tổ chức Hội.

    Việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội có thể diễn ra đồng thời trong trường hợp chia tách các bộ phận của hai hay nhiều đơn vị hành chính để sáp nhập hoặc hợp nhất các bộ phận đó lại thành một đơn vị (như tách một hay nhiều huyện của hai hay nhiều tỉnh để thành lập tỉnh mới; tách một hay nhiều xã của hai hay nhiều huyện để thành lập một huyện mới; tách một hay nhiều thôn, ấp, bản của một hay nhiều xã để thành lập một xã mới) theo đó tổ chức Hội của những đơn vị này cũng được chia tách để sáp nhập, hợp nhất thành một tổ chức Hội mới.

    Việc xác định cấp của tổ chức Hội được chia tách, sáp nhập, hợp nhất do Hội cấp trên trực tiếp quyết định.

    c) Thẩm quyền quyết định chia tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội – Chia tách tổ chức Hội:

    – Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét quyết định việc chia tách tổ chức Hội, sau khi thống nhất với cấp ủy Đảng của đơn vị chia tách.

    – Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của các tổ chức Hội mới chia tách.

    – Sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội:

    – Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét quyết định việc sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội sau khi thống nhất với cấp ủy Đảng của đơn vị mới sáp nhập, hợp nhất.

    – Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của các tổ chức Hội mới sáp nhập, hợp nhất

    d) Hồ sơ chia tách; sáp nhập, hợp nhất gồm:

    + Văn bản đề nghị của ban thường vụ Hội nơi được chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất các tổ chức Hội gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

    + Đề án chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất tổ chức Hội có ý kiến nhất trí của cấp ủy.

    + Bản sao quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc chia tách hoặc sáp nhập, hợp nhất đơn vị hành chính.

    b) Quy trình, thủ tục chấm dứt hoạt động:

    – Ban chấp hành tổ chức Hội đơn vị có nhu cầu chấm dứt hoạt động báo cáo thực trạng công tác Hội và phong trào nông dân, tình hình tổ chức Hội của đơn vị mình đồng thời đề xuất phương án giải quyết với Hội cấp trên trực tiếp và cấp ủy cùng cấp.

    – Có văn bản đề nghị được chấm dứt hoạt động gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

    – Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành tổ chức Hội nơi muốn chấm dứt hoạt động và cấp ủy trực tiếp quản lý, xác định rõ lý do chấm dứt hoạt động; đồng thời báo cáo cấp ủy cùng cấp về phương án giải quyết.

    a) Cấp chuyển giao, tiếp nhận:

    Chuyển giao và tiếp nhận một tổ chức Hội được tiến hành khi có sự thay đổi địa giới hành chính.

    – Ban thường vụ Hội cơ sở chuyển giao, tiếp nhận chi hội.

    – Ban thường vụ Hội cấp huyện chuyển giao, tiếp nhận Hội cơ sở.

    b) Thủ tục chuyển giao và tiếp nhận:

    – Ban thường vụ Hội cấp tỉnh chuyển giao, tiếp nhận Hội cấp huyện.

    – Công văn đề nghị của tổ chức Hội chuyển đi gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp và cấp Hội tiếp nhận

    – Công văn của Hội cấp trên trực tiếp có tổ chức Hội chuyển đi gửi cấp Hội tiếp nhận.

    – Danh sách ban chấp hành, cán bộ Hội chuyên trách.

    – Báo cáo số lượng, chất lượng hội viên.

    c) Nội dung chuyển giao và tiếp nhận:

    – Quyết định của cấp Hội có trách nhiệm tiếp nhận.

    – Tình hình tư tưởng của cán bộ, hội viên

    – Công tác tổ chức cán bộ.

    – Những nhiệm vụ công tác đang tiến hành cần tiếp tục giải quyết.

    8.5- Giải thể tổ chức Hội

    – Các loại văn bản, sổ sách.

    a) Trường hợp áp dụng: Khi các đơn vị đã giải thể về mặt hành chính theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    c) Quy trình, thủ tục giải thể tổ chức Hội:

    b) Thẩm quyền: Cấp nào có thẩm quyền quyết định thành lập thì cấp đó có thẩm quyền ra quyết định giải thể và báo cáo Hội cấp trên trực tiếp.

    – Tổ chức Hội phải giải thể có văn bản báo cáo cấp ủy đảng về việc đề nghị giải thể.

    – Hội cấp trên trực tiếp xem xét, làm việc với tổ chức Hội và cấp ủy đảng thống nhất chủ trương.

    + Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp ban hành quyết định giải thể.

    8.6- Cách tính nhiệm kỳ của tổ chức Hội thành lập mới, chia tách, sáp nhập, hợp nhất a) Thành lập mới, sáp nhập, hợp nhất:

    Trong trường hợp Hội cấp dưới không chủ động thực hiện quy trình giải thể tổ chức Hội, Hội cấp trên có quyền làm việc với cấp ủy cấp dưới để thống nhất chủ trương giải thể tổ chức Hội.

    Nhiệm kỳ (không nhất thiết phải đủ 5 năm) được tính từ thời điểm tiến hành đại hội, số thứ tự đại hội được tính là lần thứ nhất (trừ trường hợp sáp nhập tổ chức Hội cấp thấp hơn trở thành một bộ phận của tổ chức Hội cấp trên thì số thứ tự được tính theo nhiệm kỳ của tổ chức Hội cấp trên).

    b) Chia tách:

    Trường hợp sáp nhập 02 tổ chức Hội trở lên cùng cấp, có số nhiệm kỳ bằng nhau thì số nhiệm kỳ của tổ chức Hội mới được sáp nhập được giữ nguyên.

    – Các đơn vị không thay đổi tên gọi và cấp Hội thì nhiệm kỳ đại hội và số thứ tự đại hội được giữ nguyên.

    – Các đơn vị thành lập với tên gọi mới và mô hình tổ chức bộ máy có sự thay đổi thì nhiệm kỳ được tính từ thời điểm tiến hành đại hội. Số thứ tự đại hội được tính là lần thứ nhất.

    – Các đơn vị thay đổi tên gọi nhưng mô hình tổ chức bộ máy không có sự thay đổi thì nhiệm kỳ đại hội và số thứ tự đại hội được giữ nguyên, không thay đổi.

    9. Điều 11: Tổ chức cơ sở Hội

    8.7- Đối với chi Hội, tổ Hội: Ban thường vụ Hội cơ sở hoặc cấp trên trực tiếp quản lý quyết định việc thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất, chấm dứt hoạt động, giải thể chi hội trực thuộc. Quy trình được thực hiện như cấp cơ sở.

    9.1– Cơ sở Hội là nền tảng của Hội, là cấp trên trực tiếp của chi Hội, là nơi trực tiếp với hội viên, nông dân; đoàn kết, tập hợp, vận động, hướng dẫn hội viên nông dân tương trợ, giúp đỡ nhau thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống; là nơi trực tiếp thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, các phong trào của Hội.

    Cơ sở Hội được thành lập theo đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn).

    – Tổ chức Hội tương đương cấp cơ sở: Đối với những tổ chức Hội có tính chất đặc thù về nhiệm vụ chính trị, về đối tượng hội viên như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, có mối liên hệ với nhiều ngành, nhiều đơn vị trong công tác… ; nếu có nhu cầu và đủ điều kiện, được sự thống nhất của cấp uỷ cùng cấp và Hội cấp trên đồng ý thì thành lập tổ chức Hội tương đương Hội Nông dân cấp cơ sở và do ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện quyết định.

    Nếu tổ chức Hội tương đương cấp cơ sở có sự thay đổi, không còn đủ các điều kiện quy định thì ban thường vụ Hội cấp huyện xem xét, quyết định lại cho phù hợp và báo cáo lên ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh.

    9.2- Trường hợp đặc thù tổ chức Hội cấp dưới không còn tổ chức Hội cấp trên trực tiếp thì Hội cấp trên kế tiếp trực tiếp chỉ đạo tổ chức Hội cấp dưới đó. Cụ thể như sau:

    – Tại các quận, thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh, không có tổ chức Hội mà vẫn có cơ sở Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ của quận, thị, thành trực thuộc tỉnh để cử cán bộ theo dõi cơ sở Hội đó; việc công nhận uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ, chức danh chủ tịch, phó chủ tịch do ban thường vụ Hội cấp tỉnh quyết định.

    – Trường hợp tổ chức Hội cấp cơ sở không còn mà vẫn còn chi Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ của xã, phường, thị trấn cử cán bộ theo dõi chi Hội đó. Việc công nhận ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó do ban thường vụ Hội cấp huyện quyết định.

    9.3- Quy trình, thủ tục thành lập tổ chức cơ sở Hội :

    – Trường hợp cấp cơ sở Hội và quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh không còn tổ chức Hội mà còn chi Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ xã, phường, thị trấn cử cán bộ theo dõi chi Hội đó. Việc công nhận ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó do ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh quyết định.

    – Khi một đơn vị có đủ điều kiện và có nguyện vọng thành lập tổ chức cơ sở Hội, ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp làm việc với cấp ủy nơi có nhu cầu thành lập để thống nhất về việc thành lập tổ chức cơ sở Hội, kết nạp hội viên, xem xét, lựa chọn nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh chủ chốt.

    – Thủ tục:

    + Văn bản đề nghị thành lập của cấp uỷ nơi có nguyện vọng thành lập cơ sở Hội.

    + Đề án mô hình tổ chức cơ sở Hội và nhân sự cơ quan lãnh đạo mới.

    + Danh sách hội viên (nếu có); danh sách và đơn xin tham gia tổ chức Hội của nông dân và lao động khác.

    + Danh sách trích ngang đề cử ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh lãnh đạo.

    – Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận hội viên, quyết định thành lập tổ chức cơ sở Hội và chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh lãnh đạo của tổ chức Hội được thành lập.

    10. Điều 13: Chi Hội

    – Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập.

    10.1- Vai trò, vị trí của chi Hội: Chi Hội là đơn vị hành động, là tế bào của Hội và là hạt nhân nòng cốt đoàn kết, tập hợp hội viên, nông dân.

    10.2- Mô hình tổ chức chi Hội: Chi Hội tổ chức theo thôn, ấp, bản, làng, khu phố phù hợp với địa bàn dân cư và sự lãnh đạo của chi bộ; theo hợp tác xã, theo nghề nghiệp; chi Hội có thể được thành lập trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học.

    Chi Hội nghề nghiệp trực thuộc Hội cơ sở; chi Hội trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, trong các nhà khoa học, trí thức trẻ có thể trực thuộc cơ sở Hội hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp Trung ương quản lý.

    Chi Hội có 100 hội viên trở lên thì được chia thành các tổ Hội theo địa bàn, đối tượng, tổ hợp tác, nghề nghiệp, sở thích. Chi Hội theo địa bàn dân cư nhưng hội viên sinh sống phân tán trên địa bàn rộng, đi lại khó khăn thì dưới 100 hội viên vẫn có thể chia thành các tổ Hội để thuận tiện cho việc sinh hoạt và tổ chức các hoạt động của Hội.

    10.3- Quy trình, thủ tục thành lập chi Hội

    Ngoài mô hình trên, tại các cơ sở Hội, có thể hình thành các câu lạc bộ, nhóm/tổ hội viên nông dân có tính chất đặc thù thuộc sự quản lý, điều hành của ban chấp hành cơ sở Hội hoặc của ban chấp hành chi Hội.

    – Khi một đơn vị có đủ điều kiện và có nguyện vọng thành lập chi Hội, ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp quản lý trao đổi thống nhất với cấp uỷ quản lý của nơi có nhu cầu thành lập chi Hội; đồng thời xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp để thống nhất về việc thành lập chi Hội, kết nạp hội viên, lựa chọn nhân sự cán bộ chi Hội (ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó).

    – Thủ tục:

    + Văn bản của cấp uỷ đảng nơi có nguyện vọng thành lập chi Hội.

    + Danh sách trích ngang đề cử cán bộ chi Hội.

    – Ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận hội viên, quyết định thành lập chi Hội.

    – Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập.

    Đại hội chi Hội: Chi Hội tổ chức đại hội toàn thể hội viên hoặc đại hội đại biểu hội viên (đối với chi Hội có trên 100 hội viên trở lên) để bầu ban chấp hành và bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên (nếu có). Ban chấp hành tổ chức hội nghị bầu chi hội trưởng, chi hội phó.

    Trường hợp chi Hội có trên 100 hội viên mà vẫn có nguyện vọng tổ chức đại hội toàn thể hoặc chi Hội có dưới 100 hội viên nhưng muốn tổ chức đại hội đại biểu thì phải được sự đồng ý của cấp uỷ cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp. Số lượng đại biểu dự đại hội chi Hội (nếu là đại hội đại biểu), số lượng ban chấp hành, chi hội phó của chi hội do ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp quản lý hướng dẫn trên cơ sở được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp. Số lượng chi hội phó có thể từ 1 – 3, tùy thuộc vào quy mô tổ chức và số lượng hội viên của từng chi Hội.

    Ban chấp hành chi hội, chi hội trưởng, chi hội phó phải được ban thường vụ Hội cơ sở (hoặc ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp) ra quyết định công nhận.

    10.5- Chi Hội họp định kỳ 3 tháng 01 lần, khi cần thiết có thể họp bất thường, ban chấp hành chi Hội họp định kỳ 01 tháng 01 lần, khi cần thiết có thể họp bất thường.

    10.6 Nhiệm kỳ của chi Hội là 05 năm. Trường hợp đặc biệt có thể tổ chức sớm hơn hoặc muộn hơn nhưng không quá 12 tháng và phải được ban chấp hành cơ sở Hội (hoặc ban thường vụ Hội cấp trực tiếp quản lý) đồng ý.

    Trong nhiệm kỳ, chi Hội được bầu bổ sung ban chấp hành, kiện toàn chi hội trưởng, chi hội phó khi khuyết nhân sự và không giới hạn số lần bầu bổ sung.

    11. Điều 15: Tổ Hội

    10.7– Ban thường vụ hội cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên ban chấp hành chi hội và các chức danh chi hội trưởng, chi hội phó trong trường hợp tổ chức Hội mới được thành lập hoặc được thành lập mới do có sự thay đổi về địa giới hành chính như chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ mới cho phù hợp.

    – Tổ Hội là đơn vị trực thuộc chi Hội, thành lập trên cơ sở các hội viên có cùng địa giới hành chính, điều kiện công tác, học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp, đơn vị kinh tế, tổ hợp tác phù hợp và thuận tiện cho việc sinh hoạt, hoạt động của chi Hội. Tổ Hội có thể thành lập trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học khi có đủ kiện về số lượng hội viên và được sự đồng ý của cấp ủy và ban lãnh đạo nhà trường.

    Tổ Hội trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, trong các nhà khoa học, trí thức trẻ có thể trực thuộc cơ sở Hội hoặc cấp huyện/cấp tỉnh/cấp trung ương quản lý.

    12. Điều 17: Công tác kiểm tra

    – Tổ Hội có tổ trưởng và 1 – 2 tổ phó do hội viên bầu ra. Số lượng tổ phó do chi Hội quyết định trên sơ sở tình hình thực tế và điều kiện cụ thể của từng tổ Hội và phải được ban thường vụ Hội cơ sở (hoặc ban thường vụ Hội cấp quản lý trực tiếp) đồng ý. Tổ Hội họp 01 tháng 01 lần.

    13. Điều 18, 19, 20: Ủy ban kiểm tra của Hội

    Thực hiện theo Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành.

    13.1- Việc lập ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở và công nhận ủy ban kiểm tra:

    13.2- Về tổ chức bộ máy giúp việc ủy ban kiểm tra:

    Thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp; Hướng dẫn quy trình lập Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở nhiệm kỳ 2022 – 2023.

    13.3- Về nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc, chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra:

    Thực hiện theo Đề án Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp và Đề án cơ quan giúp việc Ủy ban kiểm tra Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

    – Về nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc làm việc của ủy ban kiểm tra: Thực hiện theo Đề án Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân các cấp; Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Hội, Ủy ban Kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội.

    13.4- Việc bổ sung và cho rút tên ủy viên, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra hội nông dân các cấp: 13.4.1- Bổ sung ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra a. Các trường hợp bầu bổ sung

    – Về chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra: Ủy ban Kiểm tra Trung ương Hội, ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện họp thường kỳ 6 tháng 1 lần, khi cần thiết thực hiện nhiệm vụ có thể họp đột xuất do thường trực ủy ban quyết định. Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp cơ sở họp thường kỳ 01 tháng 01 lần, khi cần thiết thực hiện nhiệm vụ có thể họp đột xuất do thường trực ủy ban quyết định. Thường trực ủy ban kiểm tra gồm chủ nhiệm, các phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Hội nghị ủy ban kiểm tra chỉ hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba (2/3) số ủy viên ủy ban kiểm tra được triệu tập có mặt; các kết luận, quyết định của ủy ban kiểm tra phải được trên 50% số ủy viên ủy ban kiểm tra được triệu tập đồng ý.

    – Bầu chưa đủ số lượng do hội nghị ban chấp hành quyết định.

    b. Nguyên tắc bầu bổ sung

    – Khi ủy viên ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác, bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

    – Bầu bổ sung ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải đảm bảo đúng thành phần, cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được hội nghị ban chấp hành thông qua.

    c. Quy trình, hồ sơ kiện toàn nhân sự và công nhận kết quả bầu cử ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra * Quy trình

    – Trước khi bầu bổ sung uỷ viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra ở mỗi cấp, ban thường vụ cấp đề nghị phải có văn bản báo cáo cụ thể với ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp bằng văn bản. Đối với nhân sự chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp theo quy định phân cấp quản lý cán bộ. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

    Bước 2: Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét và trả lời bằng văn bản.

    Bước 3: Khi có ý kiến đồng ý của cấp ủy cùng cấp và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp, Hội Nông dân cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ban chấp hành cùng cấp và tiến hành bầu bổ sung các chức danh theo quy định.

    Bước 4: Ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện hồ sơ trình ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định công nhận.

    * Hồ sơ kiện toàn – Hồ sơ xin chủ trương kiện toàn, bổ sung nhân sự:

    Bước 5: Báo cáo cấp ủy cùng cấp, ban thường vụ và ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp trên.

    + Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung xin chủ trương kiện toàn ủy ban kiểm tra (cần nêu rõ lý do và tình hình ủy ban kiểm tra ở thời điểm kiện toàn).

    + Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

    – Hồ sơ đề nghị công nhận các chức danh kiện toàn, bổ sung:

    + Đối với nhân sự là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải gửi thêm lý lịch theo mẫu 2C/TCTW-98.

    + Tờ trình của ban thường vụ Hội Nông dân cấp bầu bổ sung đề nghị công nhận chức danh kiện toàn.

    + Biên bản Hội nghị ban chấp hành về việc bầu ủy viên, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

    + Biên bản kiểm phiếu bầu từng chức danh.

    13.4.2- Bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra a. Các trường hợp bầu bổ sung

    + Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

    – Bầu chưa đủ số lượng do hội nghị ban chấp hành quyết định.

    b. Nguyên tắc bầu bổ sung

    – Khi phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác, bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

    – Bầu bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra phải đảm bảo đúng thành phần, cơ cấu, số lượng và tiêu chuẩn đã được hội nghị ban chấp hành thông qua.

    c. Quy trình, hồ sơ kiện toàn nhân sự và đề nghị phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra * Quy trình

    – Trước khi bầu bổ sung phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra ở mỗi cấp, ủy ban kiểm tra phải có văn bản báo cáo cụ thể và được sự đồng ý của ban thường vụ cùng cấp trực tiếp bằng văn bản. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

    Bước 1: Khi ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp nào khuyết phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra thì ủy ban kiểm tra cấp đó báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của ban thường vụ cùng cấp bằng văn bản.

    Bước 2: Ban thường vụ cùng cấp căn cứ đề án ủy ban kiểm tra đã được thông qua tại hội nghị ban chấp hành, tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra để xem xét, giới thiệu nhân sự bầu bổ sung chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra bằng văn bản.

    Bước 3: Khi có văn bản của ban thường vụ cùng cấp, ủy ban kiểm tra cấp bầu bổ sung triệu tập hội nghị ủy ban kiểm tra và tiến hành bầu bổ sung chức danh theo quy định.

    * Hồ sơ đề nghị phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra được kiện toàn, bổ sung:

    Bước 4: Ủy ban kiểm tra Hội Nông dân cấp bầu bổ sung hoàn thiện hồ sơ trình ban thường vụ cùng cấp phê chuẩn chức danh phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra và báo cáo ủy ban kiểm tra hội cấp trên.

    – Tờ trình của ủy ban kiểm tra cấp bầu bổ sung đề nghị phê chuẩn chức danh kiện toàn.

    – Biên bản hội nghị ủy ban kiểm tra về việc bầu phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

    – Biên bản kiểm phiếu bầu phó chủ nhiệm.

    13.4.3- Việc đương nhiên không còn là ủy viên ủy ban kiểm tra; cho rút tên ủy viên ủy ban kiểm tra, thôi giữ chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra

    – Danh sách trích ngang nhân sự cụ thể.

    – Uỷ viên ủy ban kiểm tra có quyết định nghỉ hưu hoặc có thông báo nghỉ công tác (kể từ thời điểm quyết định nghỉ hưu hoặc thông báo nghỉ công tác có hiệu lực thi hành) thì đương nhiên không còn là uỷ viên ủy ban kiểm tra và các chức danh khác của ủy ban kiểm tra do ban chấp hành và ủy ban kiểm tra bầu.

    – Đối với chức danh chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trước khi cho rút tên khỏi danh sách ủy ban kiểm tra phải báo cáo và được sự đồng ý của cấp ủy cùng cấp và Ban Thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

    14. Điều 21: Khen thưởng

    – Nếu rút tên khỏi chức danh ủy viên ủy ban kiểm tra thì không còn giữ chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm (nếu có). Nếu chỉ rút tên khỏi chức danh chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm thì vẫn còn là ủy viên ủy ban kiểm tra.

    15. Điều 22: Kỷ luật

    Thực hiện theo quy định về thi đua, khen thưởng trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

    16. Điều 24: Quản lý, sử dụng tài chính của Hội

    Thực hiện theo Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Hội do Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành.

    Thực hiện theo quy định của Nhà nước và quy định của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

    Hướng dẫn này được phổ biến trong toàn hệ thống Hội để thống nhất thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì chưa phù hợp các cấp Hội đề xuất, phản ánh về Trung ương Hội. Ban Chấp hành giao Ban Thường vụ Trung ương Hội xem xét sửa đổi, hướng dẫn bổ sung./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí Vai Trò Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trong Hệ Thống Chính Trị Và Đời Sống Xã Hội
  • Luật Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam 2022, Luật Số 75/2015/qh13 2022
  • Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Mối Quan Hệ Công Tác Của Các Đảng Bộ, Chi Bộ Cơ Sở Xã Phường, Thị Trấn
  • Cần Nghiên Cứu Chặt Chẽ, Kỹ Lưỡng Quy Định Về Ban Chỉ Huy Quân Sự Cấp Xã, Thôn Đội Trưởng Trong Dự Án Luật Dân Quân Tự Vệ (Sửa Đổi)
  • Người Xã Đội Trưởng Quên Mình Vì Nhiệm Vụ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100