Tích Tụ Đất Đai: Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Đẩy Mạnh Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa, Cơ Cấu Lại Ngành Nông Nghiệp
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Sản Xuất Nông Nghiệp Hàng Hóa Trên Địa Bàn Huyện Hiệp Hòa Tỉnh Bắc Giang
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Hàng Hóa Trong Nước
  • 5 Bước Cơ Bản Nâng Cao Tinh Thần Làm Việc Nhóm Của Nhân Viên
  • Tinh Thần Làm Việc Nhóm Của Người Việt Nam
  • Nhìn lại công cuộc cải cách ruộng đất 1954, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp từ năm 1958, Chỉ thị số 100-CT/TW năm 1981, Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 1988 về khoán sản phẩm đến Nghị định số 64/CP năm 1993 về giao đất sản xuất lâu dài cho hộ nông dân đều là những quyết sách đúng đắn, phù hợp với mỗi thời kỳ cách mạng và sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, đến nay, chính sách đất đai đã bộc lộ nhiều bất cập, cản trở nông nghiệp vươn lên sản xuất lớn theo hướng công nghiệp, hiện đại. Ông Trần Minh Chiêu, Giám đốc HTX SXKD DVNN xã Điệp Nông (Hưng Hà) cho biết: Nếu cấy với diện tích nhỏ, phải thuê từ 250.000 – 300.000 đồng/sào, nhưng khi có diện tích lớn, áp dụng cấy bằng máy, mỗi sào chỉ mất 220.000 – 250.000 đồng/sào (đã bao gồm cả giống lúa). Còn gặt tay, thuê nhân công vào khoảng 300.000 đồng/sào, nhưng nếu gặt máy chỉ khoảng 130.000 – 150.000 đồng/sào mà còn giảm được công tuốt. Chỉ tính riêng cấy, gặt, làm thủ công mỗi sào chi phí tăng trên 200.000 đồng so với sản xuất cơ giới trên diện tích lớn. Dự báo thời gian tới sẽ còn rất ít lao động trực tiếp làm ruộng. Hơn nữa, hiện thu nhập từ sản xuất lúa sau khi trừ chi phí rất thấp. Với mức đó, nếu độc canh, nông dân chỉ thoát nghèo, không thể nói đến chuyện tích lũy, làm giàu trên đồng đất của mình.

    Đây không phải là hiện tượng cá biệt mà là thực trạng phổ biến ở các địa phương trong tỉnh. Để giải quyết thực trạng này, đòi hỏi phải có chiến lược, giải pháp, tạo “cú hích” mới, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển lên tầm cao mới. Và tích tụ ruộng đất, xóa bỏ tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ đang trở thành xu thế nhằm đáp ứng trình độ của lực lượng sản xuất ngày càng cao.

    Tích tụ, tập trung ruộng đất ở Thái Bình được triển khai thực hiện trên nhiều lĩnh vực: trồng trọt, thủy sản, chăn nuôi. Toàn tỉnh hiện có 17.409,28ha đất tích tụ, tập trung để sản xuất hàng hóa với quy mô lớn gắn với tiêu thụ sản phẩm, trong đó có 6.631,28ha đất nông nghiệp được tập trung theo hình thức thuê đất, góp đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất (lĩnh vực trồng trọt 3.260,8ha, lĩnh vực chăn nuôi 432,8ha, lĩnh vực thủy sản 2.937,68ha) và 10.778ha diện tích gieo trồng có hợp đồng liên kết. Nhờ đó, hình thức tổ chức sản xuất có nhiều đổi mới, đã và đang xuất hiện các mô hình tổ chức sản xuất mới như mô hình tích tụ, tập trung ruộng đất nông nghiệp để sản xuất hàng hóa lớn (lúa, rau màu, cây ăn quả, cây dược liệu…); phát triển các HTX, tổ hợp tác mới gắn kết giữa sản xuất với tiêu thụ nông sản.

    Cánh đồng thôn Đại Đồng, xã Tân Hòa (Vũ Thư) trước đây thường xuyên bị bỏ hoang do đồng đất chua, cấy lúa kém hiệu quả. Năm 2014, ông Vũ Khắc Bằng, thôn Đại Đồng mạnh dạn vận động người dân cho thuê 8ha với thời gian thuê 30 năm để cải tạo, chuyển đổi trồng các loại cây ăn quả: ổi, đu đủ, cam, bưởi, hồng xiêm… Đến nay, gia đình ông có thu nhập vài trăm triệu đồng mỗi năm từ mô hình chuyển đổi này. Ông Bằng cho biết: Tích tụ được ruộng đất, có trong tay tư liệu sản xuất với thời gian dài giúp tôi chủ động trong lựa chọn cây, con vật nuôi cũng như biện pháp canh tác; áp dụng máy móc, kỹ thuật vào canh tác góp phần giảm chi phí đầu tư; đặc biệt có thể trồng các loại cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo thuận lợi cho khâu tiêu thụ sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất. Không chỉ phát triển kinh tế cho gia đình, trang trại của tôi còn tạo việc làm ổn định cho 6 lao động với thu nhập từ 3 – 4 triệu đồng/người/tháng.

    Sản xuất với quy mô lớn đã và đang hình thành nên những “đại điền chủ” với tư duy sản xuất mới: tiếp cận và ứng dụng khoa học công nghệ trong canh tác, sản xuất an toàn, hình thành chuỗi khép kín từ sản xuất và tiêu thụ; đặc biệt, nông sản làm ra đã gắn với yêu cầu, đòi hỏi của thị trường.

    Điểm mới nữa trong tích tụ, tập trung ruộng đất đó là sự thay đổi về mô hình sản xuất. Thái Bình đã thực hiện chuyển đổi 100% hợp tác xã (HTX) nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã năm 2012. Sự chuyển đổi này đã từng bước ổn định, chất lượng hoạt động các dịch vụ được nâng cao; các liên kết với doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm cho các hộ thành viên mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Toàn tỉnh có 327 HTX hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, thủy sản; 1 liên hiệp HTX thuộc lĩnh vực nông nghiệp (đây là mô hình liên hiệp HTX hoạt động theo phương thức sản xuất gắn với chuỗi giá trị, có 4 HTX thành viên, với tổng số lao động là 3.000 người, vốn điều lệ 1,3 tỷ đồng). Trong số đó, có 236 HTX tham gia liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm với trên 20 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh với tổng diện tích gieo trồng có hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm hàng năm là 10.778ha đã đem lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao, thiết thực.

    Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mô hình HTX kiểu mới, mô hình tổ hợp tác cũng được Thái Bình quan tâm triển khai thực hiện. Hiện toàn tỉnh đã xây dựng được 51 tổ hợp tác, trong đó có 31 tổ hợp tác khai thác hải sản, 20 tổ hợp tác chăn nuôi. Nhìn chung, các tổ hợp tác đã phát huy được vai trò giúp đỡ, hỗ trợ nhau về vốn sản xuất, thức ăn chăn nuôi, nhân lực và công cụ sản xuất của các thành viên.

    Diện tích ruộng đất lớn cũng sẽ thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Thời gian qua, một số doanh nghiệp lớn đã và đang xây dựng, hoàn thiện thủ tục đầu tư vào nông nghiệp Thái Bình như: liên doanh Công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải – Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời, Công ty Cổ phần T&T 159… Năm 2022, có 2 dự án vào nghiên cứu, dự kiến đầu tư lĩnh vực phân bón hữu cơ, chế biến nông sản.

    Để khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất, thời gian tới, ngành Nông nghiệp phối hợp với các sở, ngành rà soát, xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù đối với doanh nghiệp, tập đoàn lớn có dự án đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn tại tỉnh; rà soát, đơn giản các thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn Thái Bình.

    Phan Lợi – Lưu Ngần

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Những Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa Ở Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất, Thúc Đẩy Xuất Khẩu
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Cổ Phần Vận Tải Biển Bắc
  • Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh Xuất Khẩu Tại Công Ty Tnhh Phúc Sinh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh Được Áp Dụng Nhiều Nhất
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Để Phát Triển Sản Xuất Rau An Toàn Nhanh Và Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Tinh Giản Biên Chế Ở Lào Cai
  • Thực Trạng, Nguyên Nhân Tăng Biên Chế Và Các Giải Pháp Tinh Giản Biên Chế
  • Tinh Giản Biên Chế Trong Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Thu Gọn Bộ Máy Hành Chính: Giải Pháp Hữu Hiệu Để Tinh Giản Biên Chế
  • Tinh Giản Biên Chế Và Những Khó Khăn Bất Cập
  • Rau sạch đang là sự quan tâm đặc biệt, là yêu cầu bức xúc của xã hội và mọi người, từ nhà sản xuất, người tiêu dùng, nhà khoa học cũng như nhà quản lý vì nó góp phần quan trọng trong việc phát triển sản xuất, hội nhập nông nghiệp, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

    Hơn mười năm nay, nước ta triển khai chương trình rau sạch, rau an toàn, buồn vui có, thành công có, thất bại có, thuận lợi có, khó khăn và triển vọng có. Chúng tôi xin nêu lên một số suy nghĩ, ý kiến về các giải pháp để có thể phát triển sản xuất rau an toàn (SXRAT) một cách nhanh và bền vững.

    Hiện trạng SXRAT hiện nay

    Nhà ước ta – từ Chính phủ đến các bộ ngành ở trung ương và các địa phương, đặc biệt từ năm 2005 tới nay đã có nhiều chủ trương, biện pháp, chính sách nhằm bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) nói chung và phát triển sản xuất rau quả sạch – rau quả an toàn nói riêng.

    Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 107/2008/QÐ-TTg ngày 30-7-2008 xác định mục tiêu đến năm 2010 có 20% số diện tích các vùng sản xuất tập trung rau – quả – chè đáp ứng yêu cầu sản xuất rau an toàn (SXRAT) theo Vietgap và 30% số sản phẩm rau quả an toàn (RQAT) phải được chứng nhận Vietgap. Ðến năm 2022 các chỉ tiêu nêu trên đạt 100%. Ngay sau đó, các bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), Y tế, Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ và các địa phương cũng có những văn bản pháp quy, những chương trình, dự án để phát triển SXRAT ở nước ta trong đó đáng chú ý nhất là các quy định của Bộ NN và PTNT về quản lý sản xuất, kinh doanh RQAT, về chứng nhận SXRAT và ban hành quy trình sản xuất nông nghiệp tốt Vietgap đối với RAT, cũng như các đề án phát triển của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

    Quốc hội cũng chuẩn bị thông qua và ban hành Luật VSATTP. Ðó là những cơ sở pháp lý, chương trình, kỹ thuật quan trọng góp phần thúc đẩy SXRAT trong cả nước thời gian qua cũng như sắp tới.

    Tuy nhiên, kết quả thực tế phát triển sản xuất RAT đến nay là quá thấp, quá chậm, không đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng, gây bức xúc trong dư luận.

    Theo Bộ NN và PTNT, năm 2008, cả nước có 722 nghìn ha rau trong đó miền bắc là 390 nghìn và đồng bằng sông Hồng là 160 nghìn ha với sản lượng ba triệu tấn. Trong đó vùng liên kết SXRAT ở đồng bằng sông Hồng là 100 nghìn ha với sản lượng 1,9 triệu tấn cho đến nay các vùng SXRAT tập trung được quy hoạch còn rất thấp mới đạt khoảng 8,5% tổng diện tích trồng rau, vùng đồng bằng sông Hồng đạt 14.816 ha, Hà Nội là 6.820 ha, TP Hồ Chí Minh 2.500 ha. Diện tích được chứng nhận đủ điều kiện SXRAT toàn vùng đồng bằng sông Hồng mới đạt 676 ha, Hà Nội 219 ha. Diện tích đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn Vietgap còn quá nhỏ, lẻ tẻ trên rau và một số loại cây ăn trái như: nho, thanh long… chắc chắn không quá 100 ha.

    Bộ NN và PTNT cũng đã thẩm định và chỉ định bảy tổ chức chứng nhận SXRAT theo Vietgap. Tuy vậy, trong hai năm qua, số tổ chức này cũng mới chỉ chứng nhận được vài chục ha vì rất ít cơ sở có yêu cầu. Nếu so sánh với mục tiêu mà Chính phủ đề ra cho năm 2010 và 2022 thì các kết quả trên còn quá thấp. Lấy ví dụ Hà Nội, địa phương có thể nói là dẫn đầu cả nước trong SXRAT. Nếu lấy chỉ tiêu qui hoạch vùng đủ điều kiện SXRAT đến năm 2010 thì Hà Nội mới đạt 219 ha/6.820 ha (tức 3,2% trong khi chỉ tiêu phải là 20%) và chỉ tiêu năm 2022 là 100%.

    Những khó khăn hạn chế chủ yếu

    Qua theo dõi thực tế chúng tôi thấy có những khó khăn, hạn chế chủ yếu sau cần được khắc phục trong việc triển khai SXRAT ở nước ta.

    Thứ nhất, SXRAT ở nước ta hiện quá manh mún (cho một vùng SXRAT khoảng ba ha có từ 70 đến 80 hộ gia đình), diện tích thành vùng tập trung, diện tích rau chuyên canh quá ít… dẫn đến những khó khăn cho việc đầu tư, huấn luyện, chuyển giao kỹ thuật, giám sát chất lượng, chứng nhận, tiêu thụ.

    Thứ hai, việc đầu tư cho SXRAT còn phân tán, hình thức, rất nhiều trường hợp không đúng, không trúng, nặng đầu tư về cơ sở vật chất kỹ thuật mà xem nhẹ đầu tư kỹ thuật, đầu tư huấn luyện, đầu tư khâu kinh doanh – tiêu thụ; trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật còn nặng về đầu tư xây dựng nhà lưới một cách hình thức trong khi phần lớn trường hợp là không cần thiết, chưa đầu tư nhiều cho việc quy hoạch và hệ thống tưới nước sạch. Ðầu tư chưa đồng bộ, chủ yếu đầu tư từ nguồn ngân sách, nguồn đầu tư của nông dân, doanh nghiệp rất ít.

    Thứ ba, về mặt kỹ thuật, chưa xây dựng được hoàn chỉnh quy trình Vietgap cho từng cây rau của từng vụ sản xuất, từng vùng sinh thái có tính khả thi, chưa nghiên cứu xây dựng được cơ cấu cây rau, chế độ canh tác hợp lý, hiệu quả cho các vùng rau chuyên canh làm cơ sở cho nội dung và phương pháp huấn luyện nông dân.

    Thứ tư, chưa có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho việc tổ chức chứng nhận Vietgap cho SXRAT. Chưa tạo được áp lực ngược từ người tiêu dùng đối với người kinh doanh, tiếp đó từ người kinh doanh đối với người sản xuất việc nhất thiết rau khi đưa vào lưu thông phải có chứng nhận SXRAT theo Vietgap. Trong thực tế, chứng nhận Vietgap chưa phải là bắt buộc cho nên buông lỏng khâu kiểm tra, nông dân không muốn bỏ thêm tiền cho việc chứng nhận, Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ việc chứng nhận SXRAT; chính vì vậy mặc dù Tổ chức chứng nhận rất ít (cả nước mới có bảy đơn vị) nhưng lại không có việc làm, hiệu quả hoạt động kém.

    Thứ năm, chưa xây dựng được mạng lưới tiêu thụ RAT đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân (cả cao cấp lẫn bình dân) và tạo được lòng tin với người tiêu dùng.

    4 giải pháp để phát triển SXRAT nhanh và bền vững

    Ðể đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của rau quả Việt Nam ở trong nước và khu vực, để SXRAT phát triển nhanh, bền vững theo chỉ tiêu đã đề ra, thời gian tới nên tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, cần tổ chức lại sản xuất rau đáp ứng điều kiện SXRAT, quy hoạch các vùng sản xuất rau tập trung ở các địa phương, phát triển rau theo mô hình trang trại, doanh nghiệp, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún;

    Thứ hai, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy đầu tư cho SXRAT theo hướng tập trung đầu tư cho việc quy hoạch sản xuất, cho hệ thống tưới nước sạch, cho huấn luyện kỹ thuật, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật Vietgap cho nông dân, cho việc tổ chức chứng nhận và xây dựng mạng lưới tiêu thụ hữu hiệu, đa dạng. Nên hạn chế đầu tư xây dựng nhà lưới, chỉ thực hiện khi thật cần thiết (như sản xuất rau giống, sản xuất ứng dụng công nghệ cao…), sử dụng vòm che lưới thay thế vừa tiết kiệm vừa hiệu quả;

    Thứ ba, hết sức coi trọng việc triển khai công việc chứng nhận SXRAT, trong thời gian đầu nên có cơ chế chính sách hỗ trợ kinh phí chứng nhận trực tiếp cho người sản xuất hoặc thông qua Tổ chức chứng nhận. Có cơ chế tạo áp lực về mặt pháp lý, từ người tiêu dùng đến người kinh doanh rồi đến người sản xuất về việc rau kinh doanh phải có chứng nhận Vietgap.

    Tạo điều kiện thuận lợi cho các Tổ chức chứng nhận hoạt động;

    Thứ tư, tăng cường hoạt động nghiên cứu, huấn luyện, chuyển giao kỹ thuật về SXRAT, nhất là xây dựng các quy trình Vietgap cho từng cây rau phù hợp từng vùng, xây dựng chế độ canh tác cho vùng rau chuyên canh.

    Xây dựng bộ thuốc bảo vệ thực vật và phân bón sử dụng trong SXRAT.

    Nếu được như vậy, chắc chắn SXRAT sẽ có bước phát triển mới, nhanh và bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Thúc Đẩy Sản Xuất Và Tiêu Thụ Rau An Toàn Trên Địa Bàn Huyện Gia Lâm
  • Chuyên Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Rau An Toàn Ở Việt Nam
  • Bài 3. Những Vấn Đề Đặt Ra Công Tác Quản Lý Đảng Viên Ở Chi Bộ Nông Thôn
  • Đề Án Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp Dệt May Việt Nam
  • Giải Pháp Nâng Cao Sức Cạnh Tranh Của Hàng Hoá Việt Nam
  • Chuyên Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Rau An Toàn Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Thúc Đẩy Sản Xuất Và Tiêu Thụ Rau An Toàn Trên Địa Bàn Huyện Gia Lâm
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Để Phát Triển Sản Xuất Rau An Toàn Nhanh Và Bền Vững
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Tinh Giản Biên Chế Ở Lào Cai
  • Thực Trạng, Nguyên Nhân Tăng Biên Chế Và Các Giải Pháp Tinh Giản Biên Chế
  • Tinh Giản Biên Chế Trong Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • 1.1. Khái niệm và vai trò của sản xuất rau an toàn 7

    1.1.1. Khái niệm rau an toàn và nguyên nhân khiến rau không an toàn 7

    1.1.2. Vai trò của việc sản xuất rau an toàn 9

    1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất rau an toàn 9

    1.2.1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên 9

    1.2.1.1. Điều kiện địa lý 9

    1.2.1.2. Điều kiện đất đai 10

    1.2.1.3. Điều kiện khí hậu 11

    1.2.2. Nhóm nhân tố về kinh tế – xã hội 12

    1.2.2.1. Đất đai 12

    1.2.2.2. Lao động 12

    1.2.2.4. Thị trường 13

    1.2.2.5. Chính sách, cơ chế quản lý 14

    1.2.2.6. Cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ 16

    1.3. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của sản xuất rau an toàn 17

    1.3.1. Chỉ tiêu kết quả 17

    1.3.2. Chỉ tiêu hiệu quả 17

    1.4. Kinh nghiệm sản xuất rau an toàn ở một số nước 18

    1.4.1. Kinh nghiệm sản xuất rau an toàn ở Australia 18

    1.4.2. Kinh nghiệm sản xuất rau an toàn ở Thái Lan 16

    Chương 2: Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Việt Nam 24

    2.1. Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Việt Nam 24

    2.1.1. Đánh giá thực trạng sản xuất rau ở Việt Nam 24

    2.1.2. Kim ngạch xuất khẩu rau, hoa quả của Việt Nam 28

    2.2. Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Hà Nội và chúng tôi 32

    2.2.1. Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Hà Nội 32

    2.2.1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng rau và kết cấu hạ tầng cho sản xuất rau an toàn 32

    2.2.1.2. Chất lượng rau an toàn 37

    2.2.1.3. Tiêu thụ rau an toàn 40

    2.2.2. Thực trạng sản xuất rau an toàn ở Thành phố Hồ Chí Minh 43

    2.2.2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng và kết cấu hạ tầng 43

    2.2.1.2. Chất lượng rau an toàn 46

    2.2.1.3. Tiêu thụ rau an toàn 48

    2.3. Đánh giá chung về tình hình sản xuất rau an toàn ở Việt Nam 52

    2.3.1. Thành tựu đạt được và nguyên nhân 52

    2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân 54

    Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển 58

    sản xuất rau an toàn ở Việt Nam đến 2022 58

    3.1. Phương hướng phát triển sản xuất rau an toàn trong những năm tới 58

    3.2. Một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau an toàn 59

    3.2.1. Các giải pháp về quản lý Nhà nước 59

    3.2.1.1. Tổ chức và quản lý đồng bộ 59

    3.2.1.2. Về cơ chế chính sách 60

    3.2.1.3.Về kiểm tra chất lượng rau an toàn 62

    3.2.1.3. Về giải pháp kỹ thuật 62

    3.2.2. Các giải pháp về những người sản xuất và các doanh nghiệp trong ngành hàng 63

    3.2.2.1. Cần tổ chức sản xuất có quy mô, cần có các doanh nghiệp tham gia vào sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 63

    3.2.2.2. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng và vốn đầu tư cho sản xuất rau an toàn 64

    3.2.2.3. Tăng cường nghiên cứu về giống và bảo tồn giống rau an toàn 65

    3.2.2.4. Tổ chức sản xuất rau an toàn theo đúng quy trình kỹ thuật 65

    3.2.2.5. Mở rộng diện tích, tăng năng suất sản xuất rau an toàn 66

    3.2.3.6. Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ rau an toàn 67

    Tài liệu tham khảo 70

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 3. Những Vấn Đề Đặt Ra Công Tác Quản Lý Đảng Viên Ở Chi Bộ Nông Thôn
  • Đề Án Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp Dệt May Việt Nam
  • Giải Pháp Nâng Cao Sức Cạnh Tranh Của Hàng Hoá Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Khả Năng Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp Dệt May Việt Nam
  • Nghiên Cứu Thực Trạng Hút Thuốc Lá Và Việc Thực Hiện Chính Sách Phòng Chống Tác Hại Thuốc Lá Trên Địa Bàn Thành Phố Đà Nẵng
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Và Tiêu Thụ Sản Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Bán Hàng Bằng Hình Thức Thương Mại Điện Tử Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Đối Với Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại Khách Sạn Sao Biển
  • Đề Tài: Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại Khách Sạn Sao Biển, Hay
  • Đề Tài: Thực Trạng Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại City View Hotel, 9 Điểm!
  • Công An Tp Hà Nội: Tăng Cường Quản Lý Một Số Ngành Nghề Đầu Tư, Kinh Doanh Có Điều Kiện
  • Những năm qua, tỉnh Bắc Kạn được sự hỗ trợ của Chính phủ, các Bộ ngành, các tổ chức tỉnh Bắc Kạn đã ban hành và thực thi nhiều quy hoạch, chính sách hỗ trợ phát triển, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất cùng với sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của người nông dân, người sản xuất, các doanh nghiệp.

    Nhiều chính sách khuyến khích đầu từ vào phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn.

    Những kết quả quan trọng

    Bắc Kạn là tỉnh miền núi nằm ở trung tâm vùng Đông Bắc cách thủ đô Hà nội 166 km, có diện tích tự nhiên là: 485.941 ha, trong đó: diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm 37.797 ha chiếm 7,8%, diện tích rừng và đất lâm nghiệp: 333.058 ha, chiếm 68,5%; với địa hình đồi núi cao, phân cắt mạnh hình thành các tiểu vùng khí hậu có thể phát triển cây trồng nhiệt đới và cận ôn đới, các sản phẩm đặc sản như: Hồng không hạt Bắc Kạn, Cam quýt Bắc Kạn, gạo bao thai Chợ Đồn, gạo nếp Khẩu nua lếch Ngân Sơn, khoai môn Bắc Kạn, mơ vàng Bắc kạn….; Dân số trên 31 vạn người, có 7 dân tộc sinh sống, trong đó hơn 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp chiếm trên 30% trong cơ cấu kinh tế.

    Đến nay sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh đạt được kết quả quan trọng: Đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn, năm 2022 lương thực bình quân đầu người đạt trên 559 kg/người/năm ; diện tích sản xuất giống lúa chất lượng là 4.108/3.750 ha đạt 110% kế hoạch 2022, trong đó diện tích gắn với tiêu thụ sản phẩm là 170/100 ha đạt 170% kế hoạch. Phát triển chăn nuôi năm 2022 chất lượng đàn gia súc, gia cầm từng bước được nâng cao; nhiều địa phương đã quan tâm cải tạo đàn vật nuôi, phương thức chăn nuôi được cơ cấu lại theo hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi quy mô lớn, chăn nuôi nông hộ nhưng áp dụng khoa học công nghệ hoặc phát triển chăn nuôi hữu cơ; thị trường tiêu thụ và giá bán các sản phẩm thịt trâu, bò, gia cầm ổn định. Tuy nhiên tổng đàn các loại vật nuôi giảm so với cùng kỳ năm 2022, đặc biệt là đàn lợn giảm mạnh do trên địa bàn tỉnh xảy ra dịch bệnh tả lợn Châu Phi, cụ thể: Đàn đại gia súc trâu, bò, ngựa 66.184/84.400 con, đạt 78% KH, Đàn lợn 123.299/193.800 con, đạt 64% KH; Đàn dê 19.431/35.400 con, đạt 55% kế hoạch; Đàn gia cầm 1.760.000/1.760.000 con, đạt 100% KH. Bên cạnh đó, công tác phát triển rừng và quản lý bảo vệ rừng được chú trọng góp phần đưa tỷ lệ che phủ rừng đạt: 72,56 % là một trong tốp những tỉnh có tỷ che phủ rừng cao nhất toàn quốc, có 921 ha rừng trồng đã được cấp chứng chỉ FSC. Đồng thời đã hình thành vùng sản xuất tập trung các cây trồng đặc sản, cây trồng cung cấp nguyên liệu chế biến có ưu thế như; cây cam, quýt, Hồng không hạt, dong giềng, cây chè, gạo Bao thai Chợ Đồn, gạo Nếp khẩu nua lếch, thuốc lá…tạo ra nguồn hàng hóa trao đổi của tỉnh, cụ thể: Cây cam, quýt: Diện tích hiện có 3.287 ha, diện tích cho thu hoạch 2.232/2.150 ha, đạt 104% kế hoạch, năng suất ước đạt 83,54 tạ/ha, sản lượng 18.645 tấn đạt 107% kế hoạch, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2022; Cây hồng không hạt: Diện tích hiện có 738 ha, diện tích cho thu hoạch 443/515 ha, đạt 86% kế hoạch, năng suất 44,33 tạ/ha, sản lượng ước đạt 1.964/2.348 tấn đạt 84% kế hoạch, bằng 88% so với cùng kỳ năm 2022.

    Về chế biến, bảo quản sau thu hoạch và cơ giới hóa nông nghiệp cùng với sự tác động của nhiều chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; công nghệ chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch đã từng bước được nâng cao năng lực, một số hợp tác xã đã chú trọng đầu tư vào chế biến sản phẩm nông nghiệp, giúp nâng cao chất lượng, mẫu mã và đa dạng các mặt hàng nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, nhờ vậy, mức độ tổn thất của nông sản đã giảm đáng kể. Mức độ cơ giới hóa ở khâu làm đất cây hàng năm (lúa, ngô, rau màu) đạt khoảng 90%; khâu thu hoạch lúa khoảng 85%, trong đó khoảng 30% sử dụng máy gặt đập liên hoàn; cơ giới hóa trong phun thuốc bảo vệ thực vật cho lúa, ngô là 10%, cho cây ăn quả là 80; cơ giới hóa chế biến chè khoảng 90%; cơ giới hóa trong khai thác gỗ khoảng 95%; trong chăn nuôi sử dụng máy thái, máy nghiền thức ăn trên 85%.

    Bên cạnh những thành quả đạt được sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh còn một số tồn tại, hạn chế và khó khăn: Một số diện tích cây trồng chính không đạt kế hoạch giao (cây dong riềng, cây thuốc lá). Sản xuất nông nghiệp phát triển chưa bền vững; cơ cấu kinh tế nông thôn các xã vùng sâu, vùng xa chuyển dịch chậm; chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; chuỗi liên kết sản xuất với tiêu thụ, mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp an toàn phát triển chưa mạnh; thị trường tiêu thụ, sức cạnh tranh của sản phẩm chưa ổn định; việc xây dựng và phát triển thương hiệu, giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông sản có thế mạnh của tỉnh còn hạn chế. Mức độ đầu tư thâm canh còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa thật sự đáp ứng yêu cầu cao của thị trường, chưa đảm bảo các điều kiện để phát triển bền vững. Năng suất nhiều loại cây trồng tuy có tăng, nhưng còn thấp so với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Các vùng chuyên canh cây trồng, vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung bước đầu đã hình thành, nhưng việc tổ chức thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc đầu tư hạ tầng. Việc chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm; công tác quản lý giống cây trồng vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu vẫn còn bất cập; các thông tin về giá cả thị trường đầu vào, đầu ra đến người nông dân còn chưa kịp thời; người dân thiếu kỹ năng phân tích, nắm bắt thị trường; sản xuất chủ yếu là nhỏ lẻ, vẫn còn tình trạng có lúc được mùa thì mất giá, được giá lại mất mùa. Một số địa phương chưa định hướng, chỉ đạo quyết liệt trong công tác phát triển chăn nuôi, phòng, chống dịch bệnh động vật, tổng đàn gia súc của nhiều địa phương giảm mạnh đặc biệt là đàn đại gia súc và đàn lợn do đó tỷ lệ tiêm phòng chưa đạt kế hoạch giao; chưa có vắc xin, thuốc đặc trị bệnh dịch tả lợn Châu Phi, chỉ áp dụng các biện pháp phòng bệnh là chính dẫn đến dịch lây lan trên diện rộng; chưa chủ động được nguồn con giống phục vụ tại chỗ; chưa có cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, việc giết mổ nhỏ lẻ tại các hộ dân dẫn đến việc kiểm soát và phòng bệnh cho vật nuôi gặp nhiều khó khăn.

    Mục tiêu và giải pháp năm 2022

    Năm 2022 ngành Nông nghiệp và PTNT xây dựng kế hoạch năm 2022 phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành nông lâm nghiệp, thủy sản 3,5%. Sản lượng lương thực có hạt đạt 175.000 tấn. Duy trì diện tích chuyển đổi trên đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây có giá trị kinh tế cao là 1.578ha. Duy trì, ổn định diện tích vùng sản xuất hàng hóa cây ăn quả đặc sản cam, quýt, hồng không hạt, cây mơ hiện có. Thực hiện thâm canh cải tạo 420 ha cây cam quýt, 90 ha cây hồng không hạt, 40 ha cây mơ và trồng mới 80 ha cây cam quýt, 60 ha cây hồng không hạt, 70 ha cây mơ. Tổng đàn đại gia súc (trâu, bò, ngựa) 70.725 con; đàn lợn 155.000 con; đàn dê 28.000 con; đàn gia cầm 1.700.000 con. Tổng sản lượng thịt hơi các loại 22.000 tấn. Tăng thêm 10 gia trại chăn nuôi. Trồng rừng sau khai thác 3.000 ha, trồng rừng phân tán 2.500 ha và trồng rừng theo các chương trình, dự án khác 400ha (trong đó có 3.000 ha trồng các loại cây gỗ lớn). Bảo vệ rừng tự nhiên, phòng hộ, đặc dụng 263.155 ha. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì ở mức ổn định 72,56%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Hàng Hoá, Dịch Vụ Ở Việt Nam
  • Chính Sách Tài Chính Đối Với Sự Phát Triển Của Nông Nghiệp, Nông Dân Và Nông Thôn Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Các Htx Nông Nghiệp Của Nước Ta Hiện Nay
  • Thực Trạng Tuyển Dụng Nhân Sự Ở Việt Nam Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Bán Hàng Tại Công Ty Cổ Phần Việt Bỉ
  • Đẩy Mạnh Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa, Cơ Cấu Lại Ngành Nông Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Sản Xuất Nông Nghiệp Hàng Hóa Trên Địa Bàn Huyện Hiệp Hòa Tỉnh Bắc Giang
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Hàng Hóa Trong Nước
  • 5 Bước Cơ Bản Nâng Cao Tinh Thần Làm Việc Nhóm Của Nhân Viên
  • Tinh Thần Làm Việc Nhóm Của Người Việt Nam
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1: Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Sản xuất nông nghiệp năm 2022 đối mặt với nhiều thách thức, từ dịch bệnh trong chăn nuôi, đến khó khăn trong trồng trọt khi diện tích một số cây trồng chính có xu hướng giảm. Phóng viên Báo Bắc Kạn có cuộc phỏng vấn Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nông Quang Nhất về những nỗ lực của ngành để hoàn thành mục tiêu sản xuất nông, lâm nghiệp và định hướng sản xuất trong năm 2022.

    PV: Năm 2022 là năm khó khăn đối với ngành Nông nghiệp của tỉnh. Đồng chí có những đánh giá như thế nào về những khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp trong năm qua?

    Đồng chí Nông Quang Nhất- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh: Năm 2022 là một năm được nhận định có nhiều khó khăn, thách thức, thời tiết diễn biến phức tạp, đã xảy ra các đợt mưa kèm theo tố lốc trên diện rộng, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân và sản xuất nông nghiệp, ước thiệt hại do thiên tai hơn 28 tỷ đồng. Đặc biệt là xảy ra bệnh dịch tả lợn châu Phi gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp; tính đến ngày 18/12/2019 dịch đã xuất hiện tại 116 xã, 705 thôn, 4.283 hộ, ước tính thiệt hại trên 53 tỷ đồng.

    Những hạn chế vốn có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất như: Mô hình sản xuất trong nông nghiệp ở tỉnh ta chủ yếu vẫn là quy mô nhỏ bé, manh mún, phân tán, người dân chưa thực sự thích nghi được với yêu cầu sản xuất theo hướng hàng hóa. Phần lớn nông sản của tỉnh chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường về chất lượng, số lượng nên gặp khó khăn trong quá trình tiêu thụ. Lực lượng lao động trong ngành Nông nghiệp thiếu hụt do một lực lượng lớn lao động chuyển dịch sang ngành nghề khác; nhất là lực lượng lao động trẻ có khả năng tiếp thu với các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất tại các địa phương.

    Dòng vốn đầu tư vào ngành Nông nghiệp còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Đơn cử như: Nguồn vốn trồng rừng và chi trả cho công tác bảo vệ và phát triển rừng còn thiếu và chưa kịp thời; vốn tự có của các hộ gia đình, cá nhân còn hạn chế; vốn vay để phát triển sản xuất cần tài sản thế chấp do đó cũng ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô sản xuất nông, lâm nghiệp… Đồng thời, hiệu quả đầu tư còn hạn chế, một số mô hình sản xuất đạt hiệu quả chưa cao; các cơ chế, chính sách thu hút vốn cho nông, lâm nghiệp còn hạn chế, chưa thực sự năng động.

    PV: Vượt qua những thách thức đó, ngành nông nghiệp tỉnh đã có những kết quả quan trọng nào, thưa đồng chí?

    Đồng chí Nông Quang Nhất- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh: Với nhiều khó khăn thách thức, tuy nhiên ngành Nông nghiệp đã có những kết quả khá quan trọng trong năm 2022, cụ thể: Tốc độ tăng trưởng nông, lâm nghiệp dự ước đạt 2,06%; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 177.982 tấn, đạt 102% kế hoạch. Các chỉ tiêu đạt và vượt so với kế hoạch như: Diện tích trồng rừng tăng 1.024ha; sản lượng khai thác gỗ tăng 60.931m3; diện tích trồng rau được chứng nhận ATTP hoặc công nghệ cao tăng 22ha, diện tích sản xuất lúa chất lượng tăng 72ha…

    Người dân từng bước thay đổi nhận thức chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát huy thế mạnh của địa phương, mở rộng quy mô phát triển thành vùng sản xuất hàng hoá. Các tiến bộ kỹ thuật và mô hình sản xuất tiên tiến tiếp tục được nhân rộng; hoạt động dịch vụ, phục vụ sản xuất được tăng cường; công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng ổn định, giảm số vụ vi phạm và tính chất, mức độ vi phạm.

    Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh, huyện tiếp tục được thực hiện và có vai trò tích cực trong hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất; nhiều huyện đã chủ động xây dựng các cơ chế, chính sách và hỗ trợ phù hợp với tình hình của địa phương tạo đà cho nông dân phát triển sản xuất.

    Sản lượng lúa vụ đông xuân và vụ mùa 2022 đều vượt kế hoạch

    (Trong ảnh: Nông dân huyện Chợ Đồn thu hoạch lúa vụ mùa).

    PV: Để đạt được những kết quả đó, ngành đã có những nỗ lực và giải pháp gì để hoàn thành các chỉ tiêu đề ra?

    Đồng chí Nông Quang Nhất- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh: Với chức năng là đơn vị quản lý nhà nước, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương tập trung mọi nguồn lực để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra tại Quyết định số 2099/QĐ-UBND, ngày 10/12/2019; đồng thời tham mưu cho UBND tỉnh ban hành phương án tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm 2022 tại Quyết định số 1475/QĐ-UBND, ngày 26/8/2019; phương án phát triển chăn nuôi các tháng cuối năm 2022.

    Trên cơ sở phương án, ngành đã có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện các mục tiêu của phương án đề ra; tích cực chỉ đạo, phối hợp hướng triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất; tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc bám sát cơ sở, nắm bắt những khó khăn vướng mắc tại cơ sở, để kịp thời tháo gỡ khó khăn. Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn thâm canh tăng năng suất trên diện tích các cây trồng, chăn nuôi theo hướng an toàn đảm bảo kế hoạch đề ra.

    PV: Xin đồng chí cho biết, để đạt được mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp trong năm 2022, ngành tập trung những giải pháp gì và có kế hoạch như thế nào?

    Đồng chí Nông Quang Nhất- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh: Để thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI và đúng với vai trò là trọng tâm trong kinh tế địa phương, thời gian tới, ngành sẽ tập trung thực hiện các giải pháp sau:

    Một là, tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 26/4/2016 của Tỉnh ủy về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường giai đoạn 2022-2020 và đề án cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

    Hai là, chỉ đạo quyết liệt việc chuyển đổi diện tích cây lương thực sang cây trồng có giá trị kinh tế cao, cải tạo, thâm canh, thực hiện theo quy trình VietGAP đối với cây ăn quả. Hàng năm chuyển đổi đất trồng lúa 1 vụ sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao; thực hiện vùng chuyên canh lúa hàng hóa; cải tạo thâm canh cây chè; thực hiện sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đối với các cây cam, quýt; phát triển dược liệu thành ngành sản xuất hàng hóa.

    Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu giống vật nuôi; chuyển đổi phương thức sản xuất chăn nuôi hàng hóa tập trung theo hướng trang trại, gia trại đảm bảo an toàn dịch bệnh; hỗ trợ tạo điều kiện để phát triển chăn nuôi nông hộ đạt hiệu quả.

    Bốn là, nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng; tập trung tuyên truyền vận động chuyển đổi sang chu kỳ kinh doanh trồng rừng gỗ lớn cung cấp cho công nghiệp chế biến; phấn đấu năm 2022 trồng cây gỗ lớn đạt 3.000ha.

    Năm là, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ. Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, doanh nghiệp về lĩnh vực nông, lâm nghiệp trên địa bàn; hình thành mối liên kết giữa người sản xuất với các doanh nghiệp trong khâu tiêu thụ sản phẩm; xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm tiêu biểu của tỉnh.

    Sáu là, tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; thực hiện có hiệu quả Đề án “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP); tập trung tuyên truyền để các hợp tác xã nông, lâm nghiệp tiếp cận đầy đủ với chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động HTX kiểu mới. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới; tập trung, lồng ghép các nguồn lực cho các xã phấn đấu đạt chuẩn giai đoạn 2022-2020.

    Bảy là, nâng cao hiệu quả công tác cảnh báo thiên tai, dịch bệnh. Chủ động, quyết liệt trong công tác chỉ đạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gây ra.

    Tám là, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo lao động nông nghiệp; tổ chức đào tạo theo nhu cầu, đặc biệt là nhu cầu của doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác, thị trường để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Gắn đào tạo nghề với chuyển giao công nghệ và quy trình sản xuất mới cho nông dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tích Tụ Đất Đai: Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa
  • Đề Tài Những Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa Ở Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất, Thúc Đẩy Xuất Khẩu
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Cổ Phần Vận Tải Biển Bắc
  • Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh Xuất Khẩu Tại Công Ty Tnhh Phúc Sinh
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Ngân Hàng Số Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Ngân Hàng Số
  • Giải Pháp Công Nghệ Giúp Số Hóa Ngân Hàng Việt
  • Tbs: Giải Pháp Tổng Số Ngân Hàng
  • Thiết Bị Chữ Ký Số Hsm
  • Sử Dụng Chữ Ký Số Hsm Và Usb Token Cho Việc Ký Hóa Đơn
  • Những lợi ích từ ngân hàng số

    Ngân hàng số là mô hình hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng và dữ liệu điện tử để kinh doanh sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT) kéo theo xu hướng phát triển ngân hàng số đã mang lại nhiều tiện ích cho cả ngân hàng và khách hàng.

    So với ngân hàng truyền thống, ngân hàng số giúp người tiêu dùng tiết kiệm thời gian, chi phí cũng như công sức khi thanh toán tiền điện, tiền nước trực tiếp, mua sắm trực tuyến mà không phải đến tận nơi.

    Đồng thời, với sự hỗ trợ từ công nghệ, dịch vụ ngân hàng số còn có thể phục vụ tốt hơn nhiều đối tượng khách hàng, thậm chí cả những khách hàng ở vùng sâu, vùng xa, giúp ngân hàng nâng cao lợi thế cạnh tranh hiệu quả so với đối thủ. Ngân hàng số cũng giúp tạo ra sản phẩm độc đáo, giá trị cao, đáp ứng được đa dạng đối tượng khách hàng.

    Việc phát triển và đưa vào sử dụng ngân hàng số mang đến nhiều lợi ích thiết thực cho ngân hàng. Khi thu nhập từ hoạt động tín dụng ngày càng giảm, phát triển các sản phẩm dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ số tạo điều kiện cho nhiều ngân hàng nâng tỷ trọng nguồn thu trong tổng lợi nhuận chung.

    Cụ thể, các chuyên gia cho rằng, việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động ngân hàng sẽ khiến chi phí tăng khoảng 31% nhưng cũng làm tăng lợi nhuận ròng khoảng 43%.

    Việc ứng dụng công nghệ số cũng giúp ngân hàng gia tăng 45% cơ hội lợi nhuận trong mảng bán lẻ, giảm thiểu chi phí, cải thiện chất lượng dịch vụ, nhờ đó duy trì bền vững lợi thế cạnh tranh so với những đối thủ không có khả năng cạnh tranh tính năng số hoá xuyên suốt.

    Xu hướng phát triển ngân hàng số tại Việt Nam

    Tận dụng lợi thế từ xu hướng ngân hàng số, nhiều ngân hàng Việt không kể quy mô lớn hay nhỏ đang từng bước nghiên cứu, đưa ra các dịch vụ hiện đại, tiện ích trong cuộc đua nâng sức cạnh tranh, thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần.

    Hơn 6 năm trước, TPBank (lúc đó là ngân hàng Tienphong Bank) – đang đứng trước nguy cơ bị tái cơ cấu thì hiện nay, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, ngân hàng này đã có cuộc “lột xác” trở thành một trong những ngân hàng phát triển với tốc độ đáng kinh ngạc và những chỉ số tài chính đầy hứa hẹn.

    Để làm được điều đó, một trong những chiến lược mà ngân hàng này đưa ra là tập trung phát triển ngân hàng số. Năm 2022, TPBank đã khai trương điểm giao dịch LiveBank (ngân hàng tự động) phục vụ 24/7, cho phép khách hàng có thể tương tác với các thiết bị để thực hiện nhiều loại giao dịch.

    Đồng thời, Ngân hàng này cũng tung ra ứng dụng đột phá QuickPay (thanh toán và chuyển tiền bằng mã QR trên điện thoại di động), giúp các nhà bán lẻ và người dùng có thể thực hiện giao dịch trên điện thoại di động một cách nhanh chóng, thuận tiện.

    TPBank còn dẫn đầu thị trường trong lĩnh vực thanh toán với mPOS (máy chấp nhận thanh toán thẻ di động) thế hệ mới, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế mới nhất về an toàn và bảo mật…

    Những rào cản đặt ra

    Dù ngân hàng số đã có những bước tiến và mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng đang đặt ra cho các ngân hàng nhiều thách thức, cụ thể:

    Thứ nhất, phát triển ngân hàng số ở Việt Nam mới đang ở giai đoạn đầu, hành lang pháp lý hiện hành còn nhiều quy định chưa tương thích với bối cảnh số hóa dịch vụ, chưa thực sự thúc đẩy cho phát triển ngân hàng số, thanh toán số.

    Đặc biệt, hành lang pháp lý cho những vấn đề mới như bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính, bảo vệ tính riêng tư dữ liệu người dùng, chuẩn kết nối mở, chia sẻ dữ liệu, nhận biết khách hàng điện tử (eKYC)… vẫn chưa được ban hành để tạo cho các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán an tâm đầu tư.

    Một số kiến nghị giải pháp Về phía cơ quan quản lý:

    – Cần hoàn thiện hành lang pháp lý khuyến khích phát triển ngân hàng số. Theo đó, cơ quan quản lý tập trung hoàn thiện quy định nhà nước về an ninh, an toàn, áp dụng tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, bảo mật thông tin, tăng cường kiểm tra giám sát công tác thanh toán thẻ, đẩy mạnh truyền thông về bảo mật, cảnh giác và cẩn trọng ở khách hàng.

    Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN và cơ quan Công an điều tra làm rõ nguyên nhân, hành vi gian lận, cảnh báo tổ chức tín dụng và người sử dụng để nâng tính bảo mật.

    Bài viết chi tiết mời độc giả xem trên Tạp chí Tài chính Kỳ 1 tháng 7/2018.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ii. Nội Dung, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Các Tiêu Chí Nông Thôn Mới
  • Giải Pháp Nâng Cao Các Tiêu Chí Nông Thôn Mới Ở Mậu Duệ
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Trình Giao Thông Ở Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Nâng Cấp Hệ Thống Kết Cấu Hạ Tầng Giao Thông, Bảo Đảm An Toàn Giao Thông
  • Giao Thông Nông Thôn (Bài 2): Thiếu Những Công Trình Đảm Bảo An Toàn
  • Đề Tài Những Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa Ở Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Tích Tụ Đất Đai: Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa
  • Đẩy Mạnh Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa, Cơ Cấu Lại Ngành Nông Nghiệp
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Sản Xuất Nông Nghiệp Hàng Hóa Trên Địa Bàn Huyện Hiệp Hòa Tỉnh Bắc Giang
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Hàng Hóa Trong Nước
  • 5 Bước Cơ Bản Nâng Cao Tinh Thần Làm Việc Nhóm Của Nhân Viên
  • MỤC LỤC CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG 1 1.1 Sản xuất tự cấp tự túc: 1 1.2 Sản xuất hàng hóa: 1 1.3 Ưu thế sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cấp, tự túc: 2 CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VÀ ƯU THẾ SXHH Ở NƯỚC TA 4 2.1 Tình hình nước ta từ sau giải phóng tới nay: 4 2.1.1 Tình hình nước ta từ sau giải phóng đến năm 2000: 4 2.1.2 Tình hình nước ta những năm gần đây: 8 2.2 Ưu thế của SXHH ở nước ta: 16 CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SXHH Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 19 3.1 Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu: 19 3.2 Đẩy mạnh phân công lao động xã hội: 24 3.3 Đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới: 25 3.4 Đẩy mạnh CNH, HDH, nâng cao năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất song song phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ: 26 3.5 Phát triển kinh tế ngành, vùng: 30 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG Sản xuất tự cấp tự túc: Sản xuất tự cấp, tự túc là kiểu tổ chức kinh tế trong đó những người sản xuất ra sản phẩm, chủ yếu để tiêu dùng cho bản thân và gia đình.Xuất hiện từ rất sớm, nền sản xuất tự cấp, tự túc không tránh khỏi sự thiếu sót và yếu điểm: – Là nền sản xuất khép kín, hướng vào thỏa mãn nhu cầu chật hẹp của bản thân người sản xuất. – Sản xuất với qui mô nhỏ, nhu cầu thấp và chủ yếu dựa vào nguồn lực tự nhiên. – Không có môi trường cạnh tranh nên không có động lực mạnh cho việc đổi mới, cải tiến kỹ thuật để phát triển sản xuất. – Trong nền sản xuất tự cấp tự túc do sản xuất khép kính, biệt lập nên vật chất, tinh thần, văn hóa của mỗi người, xã hội còn thấp. – Phân công lao động kém phát triển. 1.2 Sản xuất hàng hóa: SXHH là kiểu tổ chức kinh tế, trong đó, những người sản xuất ra sản phẩm khôn phải chủ yếu để tiêu dùng cho mình mà để trao đổi, mua bán trên thị trường. SXHH ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện: – Thứ nhất là phải có sự phân công lao động xã hội, tức là có sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động xã hội vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác. Sự phân chia lao động xã hội sẽ làm cho việc trao đổi sản phẩm trở nên tất yếu vì khi đó mỗi người chỉ sản xuất ra một hay một vài sản phẩm trong khi đó họ có nhu cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm khác nhau. Để thỏa mãn nhu cầu hàng ngày họ phải trao đổi sản phẩm do mình làm ra để lấy sản phẩm khác. Mặt khác, sự phân công lao động đã làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến. Các loại phân công lao động xã hội gồm: phân công lao động chung là phân chia nền kinh tế thành các ngành sản xuất khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ,… Phân công lao động riêng (phân công lao động đặc thù) là phân chia ngành sản xuất thành những phân ngành như ngành công nghiệp phân chia thành công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Trong công nghiệp nặng gồm: công nghiệp khai thác, công nghiệp tạo máy,…Công nghiệp nhẹ: chế biến,… Trong ngành nông nghiệp gồm: ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi…. Phân công lao động cá biệt là phân công trong nội bộ xí nghiệp như trong một xí nghiệp may phân theo dây chuyền cắt, dây chuyền ráp, dây chuyền ủi,… Điều kiện của sự phân công lao động xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Đến lượt nó, phân công lao động xã hội lại là nhân tố phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là tiền đề, cơ sở cho sản xuất hàng hoá. ( – Thứ hai: phải có sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất về mặt kinh tế, tức là những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định. Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc do họ chi phối. Trong lịch sử, sự tách biệt này là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định còn trong nền sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định. Đây là hai điều kiện cần và đủ của SXHH. Thiếu một trong hai điều kiện trên sẽ không có SXHH. 1.3 Ưu thế sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cấp, tự túc: So với sản xuất tự cung tự cấp thì sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn. Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn. Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực xã hội. Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn. Trong nền SXHH, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước… không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn. Đó là tính chất “mở” – là đặc trưng của SXHH. Tóm lại, trong khi sản xuất tự cung tự cấp bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực cá nhân, gia đình; quy mô sản xuất nhỏ, không tạo được động lực thúc đẩy sản xuất phát triển thì SXHH lại tạo được động lực sản xuất phát triển, làm cho sản xuất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn xã hội. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN VÀ ƯU THẾ SXHH Ở NƯỚC TA 2.1 Tình hình nước ta từ sau giải phóng tới nay: 2.1.1 Tình hình nước ta từ sau giải phóng đến năm 2000: Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Việt Nam ta bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước. Tình hình thế giới vẫn không ổn định, thêm vào đó là một số chính sách kinh tế không hợp lý của nhà nước đã dẫn đến nền kinh tế kém phát triển. Thời kỳ bao cấp được ví như “một áng mây đen” bao trùm cả đất nước, chế phân phối theo tem phiếu, ngăn sông cấm chợ làm cho cuộc sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn. Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước đã có những chính sách hợp lý nhằm ổn định và phát triển nền kinh tế. Bên cạnh đó, tình hình thế giới ổn định hơn, khả năng duy trì hòa bình lâu dài cho phép chúng ta tập trung vào nhiệm vụ phát triển kinh tế. Giải pháp được đưa ra là xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp chuyển sang nền SXHH kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Chiến lược 10 năm 1991 – 2000 được thực hiện khi nền kinh tế nước ta đang có một số chuyển biến tích cực, nhưng đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội; chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu tan vỡ; Mỹ tiếp tục bao vây, cấm vận nước ta; các thế lực thù địch tìm cách chống phá ta về nhiều mặt; những năm cuối thập kỷ 90, nước ta lại chịu tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và bị thiệt hại lớn do thiên tai liên tiếp xảy ra trên nhiều vùng. Mặc dù có nhiều khó khăn, thách thức gay gắt, nhìn chung việc thực hiện Chiến lược 1991 – 2000 đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng: Sau mấy năm đầu thực hiện Chiến lược, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội. – Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp đôi (2,07 lần). Tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP. Từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế, tăng xuất khẩu và có dự trữ. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phát triển nhanh. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực. Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%, công nghiệp từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1%. ( – Quan hệ sản xuất đã có bước đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế; doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại một bước, thích nghi dần với cơ chế mới, hình thành những tổng công ty lớn trên nhiều lĩnh vực then chốt. Kinh tế tập thể có bước chuyển đổi và phát triển đa dạng theo phương thức mới. Kinh tế hộ phát huy tác dụng rất quan trọng trong nông nghiệp; kinh tế cá thể, tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh. Cơ chế quản lý và phân phối có nhiều đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. – Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nước ta đã phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước, gia nhập và có vai trò ngày càng tích cực trong nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, chủ động từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới. Nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu gần gấp ba nhịp độ tăng GDP. Thu hút được một khối lượng khá lớn vốn từ bên ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. – Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động trong xã hội được nâng lên đáng kể. Đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước; bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở một số thành phố, tỉnh đồng bằng. Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần. Đào tạo nghề được mở rộng. Năng lực nghiên cứu khoa học được tăng cường, ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến. Các hoạt động văn hóa, thông tin phát triển rộng rãi và nâng cao chất lượng – Mỗi năm tạo thêm 1,2 – 1,3 triệu việc làm mới. Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn của nước ta) từ trên 30% giảm xuống 11%. Người có công với nước được quan tâm chăm sóc. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm từ 2,3% giảm xuống 1,4%. Tuổi thọ bình quân từ 65 tuổi tăng lên 68 tuổi. Việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em, chăm lo sức khỏe cộng đồng, phòng, chống dịch bệnh có nhiều tiến bộ. Phong trào thể dục rèn luyện sức khỏe phát triển; thành tích thi đấu thể thao trong nước và quốc tế được nâng lên. – Cùng với những nỗ lực to lớn của lực lượng vũ trang nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội đã tạo điều kiện tăng cường tiềm lực, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. – Phần lớn các mục tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược kinh tế – xã hội 1991 – 2000 đã được thực hiện. Nền kinh tế có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, văn hóa xã hội không ngừng tiến bộ; thế và lực của đất nước hơn hẳn 10 năm trước, khả năng độc lập tự chủ được nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Tuy nhiên, những thành tựu và tiến bộ đã đạt được chưa đủ để vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước. Trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp xa so với mức trung bình của thế giới và kém nhiều nước xung quanh. Thực trạng kinh tế – xã hội vẫn còn những mặt yếu kém, bất cập, chủ yếu là: – Nền kinh tế kém hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu. Tích lũy nội bộ và sức mua trong nước còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm theo hướng CNH, HDH, gắn sản xuất với thị trường; cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý. Tình trạng bao cấp và bảo hộ còn nặng. Đầu tư của Nhà nước còn thất thoát và lãng phí. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm mạnh. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế những năm gần đây giảm sút, năm 2000 tuy đã tăng lên nhưng còn thấp hơn mức của những năm giữa thập kỷ 90. – Quan hệ sản xuất có mặt chưa phù hợp, hạn chế việc giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Chưa có chuyển biến đáng kể trong việc đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế tập thể phát triển chậm, việc chuyển đổi các hợp tác xã theo Luật ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả thấp. Các thành phần kinh tế khác chưa phát huy hết năng lực, chưa thực sự được bình đẳng và yên tâm đầu tư kinh doanh. Cơ chế quản lý, chính sách phân phối có mặt chưa hợp lý, chưa thúc đẩy tiết kiệm, tăng năng suất, kích thích đầu tư phát triển; chênh lệch giàu nghèo tăng nhanh. – Kinh tế vĩ mô còn những yếu tố thiếu vững chắc. Hệ thống tài chính, ngân hàng, kế hoạch đổi mới chậm, chất lượng hoạt động hạn chế; môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều vướng mắc, chưa tạo điều kiện và hỗ trợ tốt cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh. – Giáo dục, đào tạo còn yếu về chất lượng, cơ cấu đào tạo chưa phù hợp, có nhiều tiêu cực trong dạy, học, và thi cử… Khoa học và công nghệ chưa thật sự trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội. Cơ sở vật chất của các ngành y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thông tin, thể thao còn nhiều thiếu thốn. Việc đổi mới cơ chế quản lý và thực hiện xã hội hóa trong các lĩnh vực này triển khai chậm. – Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng núi, vùng sâu, vùng thường bị thiên tai. Số lao động chưa có việc làm và thiếu việc làm còn lớn. Nhiều tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, nạn ma túy, mại dâm, lây nhiễm HIV-AIDS có chiều hướng lan rộng. Tai nạn giao thông ngày càng tăng. Môi trường sống bị ô nhiễm ngày càng nhiều. 2.1.2 Tình hình nước ta những năm gần đây: Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2001 – 2005 được triển khai thực hiện trong tình hình chính trị, xã hội nước ta cơ bản ổn định, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và thực lực nền kinh tế tiếp tục được tăng cường, quan hệ quốc tế không ngừng mở rộng, những tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế – tài chính khu vực năm 1997 đã được khắc phục. Tuy nhiên, những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và an ninh quốc tế, sự phục hồi chậm của nền kinh tế thế giới và những biến động giá cả trên thị trường quốc tế, nạn dịch bệnh mới xuất hiện, những diễn biến phức tạp về thời tiết và khí hậu, sự chống phá của các thế lực thù địch đã gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ do Đại hội IX đề ra. Công cuộc phát triển kinh tế – xã hội đã đạt được những thành tựu rất quan trọng nhưng vẫn còn dưới mức khả năng phát triển của đất nước; hoạt động kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém, bất cập. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước: – Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5 năm (2001 – 2005) tăng bình quân 7,5%/năm (đạt kế hoạch đề ra). Năm 2005, GDP theo giá hiện hành ước đạt 838 nghìn tỉ đồng, bình quân đầu người trên 10,0 triệu đồng (tương đương khoảng 640 USD). – Nông nghiệp tiếp tục phát triển khá; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,4%/năm (kế hoạch 4,8%), giá trị tăng thêm tăng khoảng 3,8%/năm. Năng suất, sản lượng và hàm lượng công nghệ trong sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tăng đáng kể; an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm; một số sản phẩm xuất khẩu chiếm được vị trí cao trên thị trường thế giới[3]. Trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng đã có bước tiến; độ che phủ rừng từ 33,7% năm 2000 tăng lên 37,4% năm 2005. – Công nghiệp và xây dựng liên tục tăng trưởng cao, giá trị tăng thêm tăng 10,2%/năm. Công nghiệp có bước chuyển biến tích cực về cơ cấu sản xuất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16%/năm (kế hoạch 13,1%), cao hơn 1,9%/năm so với 5 năm trước. Cả nước đã có trên 100 khu công nghiệp, khu chế xuất, nhiều khu hoạt động có hiệu quả; tỉ lệ công nghiệp chế tác, cơ khí chế tạo và nội địa hoá sản phẩm tăng. Công nghiệp ở nông thôn và miền núi tăng trưởng cao hơn tốc độ trung bình của cả nước. Một số sản phẩm công nghiệp đã cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước. Ngành xây dựng tăng trưởng 10,7%/năm, năng lực xây dựng tăng khá nhanh và có bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại; việc xây dựng đô thị, xây dựng nhà ở đạt nhiều kết quả, hàng năm đưa thêm vào sử dụng khoảng 20 triệu m2. – Dịch vụ có bước phát triển cả về quy mô, ngành nghề, thị trường và có tiến bộ về hiệu quả với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ tăng 7,6%/năm (kế hoạch 7,5%); giá trị tăng thêm tăng gần 7%/năm (kế hoạch 6,8%). Riêng năm 2005, giá trị tăng thêm tăng 8,5%, cao hơn mức tăng GDP. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng khoảng 15%/năm (kế hoạch 11 – 12%). Ngành du lịch phát triển khá, cả về lượng khách, loại hình và sản phẩm du lịch. Dịch vụ vận tải tăng nhanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu. Bưu chính – viễn thông phát triển nhanh theo hướng hiện đại, đến cuối năm 2005 đạt 19 máy điện thoại và 3,2 thuê bao Internet trên 100 dân; 100% xã có điện thoại, hầu hết các xã có điểm bưu điện – văn hoá hoặc điểm bưu điện. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn, tin học, kỹ thuật, y tế, giáo dục, đào tạo, văn hoá… đều có bước phát triển. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng CNH – HĐH. – Về cơ cấu ngành, tỉ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 36,7% năm 2000 lên 41% năm 2005 (kế hoạch 38 – 39%); tỉ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm từ 24,5% xuống còn 20,9% (kế hoạch 20 – 21%); tỉ trọng dịch vụ ở mức 38,1% (kế hoạch 41 – 42%). – Cơ cấu kinh tế vùng đã có bước điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng vùng; các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu kinh tế và vùng sản xuất chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi đang phát triển khá nhanh, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. – Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng trong tổng số lao động xã hội tăng từ 12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3%; lao động trong các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 68,2% xuống còn 56,8%. Tỉ trọng lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2005. – Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu. Khu vực kinh tế nhà nước đang được tổ chức lại, đổi mới và chiếm 38,4% GDP, chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập trung hơn vào những lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế. Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, chiếm 45,7% GDP, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội, nhất là giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá đa dạng (đóng góp khoảng 6,8% GDP). Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, chiếm 15,9% GDP, là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế. Đi kèm với sự phát triển về kinh tế là sự thay đổi, phát triển trong văn hóa, giáo dục, giao lưu quốc tế, khoa học công nghệ và sự ổn định về chính trị. Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quan trọng: – Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế được mở rộng; việc thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, tiêu biểu nhất là sự kiện Việt Nam chính thức là thành viên của gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã góp phần tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại, nhất là xuất khẩu. – Xuất khẩu, nhập khẩu tăng nhanh. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 5 năm đạt trên 110,6 tỉ USD, tăng 17,5%/năm, vượt mục tiêu đề ra (kế hoạch 16%/năm); năm 2005, xuất khẩu bình quân đầu người đạt 390 USD, gấp đôi năm 2000. Xuất khẩu dịch vụ 5 năm đạt trên 21 tỉ USD, tăng 15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu. Thị trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất, Thúc Đẩy Xuất Khẩu
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Cổ Phần Vận Tải Biển Bắc
  • Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh Xuất Khẩu Tại Công Ty Tnhh Phúc Sinh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh Được Áp Dụng Nhiều Nhất
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Công Ty Cổ Phần Máy Tính Và Giải Pháp Mạng Tic
  • Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Nông Nghiệp Hàng Hóa Tập Trung, Ứng Dụng Công Nghệ Nâng Cao Giá Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • (Tin Tức) Nhiều Giải Pháp Cho Hoạt Động Xuất Khẩu Trong Năm 2022
  • Giải Pháp Cho Sự Phát Triển Chứng Khoán Việt Nam
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng, Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Năng Lượng Việt
  • Giải Pháp Nào Giúp Ngành Dệt May Vượt Qua Khó Khăn?
  • Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam khi có tới 80% dân số sống bằng nghề nông. Nhận thức rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của ngành nông nghiệp, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta có rất nhiều chủ trương, chính sách lớn nhằm tháo gỡ khó khăn, rào cản, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ cao v.v.v… nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam với thị trường trong và ngoài nước.

      Quán triệt sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, tỉnh Hải Dương đã cụ thể hóa và tổ chức triển khai hiệu quả, góp phần vào tăng trưởng bền vững ngành nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tích cực và đã đạt được những kết quả cao: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2022 – 2022 tăng bình quân 2,4%; giá trị sản xuất/ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt 162 triệu đồng; hình thành và phát triển các khu, vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, giá trị kinh tế cao; Hình thành và phát triển được các vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung theo hình thức “cánh đồng lớn”, “cánh đồng liên kết”, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Duy trì và mở rộng các vùng sản xuất rau màu tập trung, có thị trường tiêu thụ ổn định, giá trị kinh tế cao như: vùng hành, tỏi ở Kinh Môn, Nam Sách; củ đậu ở Kim Thành, Kinh Môn; cà rốt ở Cẩm Giàng, Nam Sách, Tứ Kỳ; su hào, cải bắp, súp lơ ở Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện; sắn dây ở Kinh Môn… Giá trị sản xuất tại những vùng sản xuất tập trung đạt khoảng 250 triệu đồng/ha, có một số vùng đạt trên 1 tỷ đồng/ha; Toàn tỉnh hiện có trên 510 vùng lúa hàng hóa tập trung, quy mô tối thiểu 30 ha/vùng, gần 500 ha cây rau màu tập trung quy mô tối thiểu 5 ha/vùng và 109 vùng sản xuất trái cây, quy mô 10 ha/vùng trở lên gắn với bao tiêu sản phẩm. Có 25 ha nhà màng, nhà lưới, 500 ha trồng rau chuyên canh ứng dụng hệ thống tưới nước theo công nghệ tiên tiến tiết kiệm khoảng 55% nước so với phương pháp tưới truyền thống; Có 15 khu chăn nuôi tập trung xa khu dân cư với quy mô từ 3 ha trở lên, nhiều mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trên nền đệm lót sinh học, mô hình chăn nuôi ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất thức ăn dạng lỏng cho lợn, mô hình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và bảo vệ môi trường; 32 vùng nuôi trồng thủy sản tập trung có quy mô từ 20 ha trở lên bảo đảm an toàn môi trường và cho năng suất cao; Các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao theo hướng đồng bộ, hiện đại, ứng dụng công nghệ thông minh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, hướng tới phát triển nền nông nghiệp toàn diện, bền vững đã được nhà nước, các tổ chức và doanh nghiệp quan tâm thực hiện. Từ năm 2022 đến nay, toàn tỉnh có 18 nhiệm vụ khoa học – công nghệ trong nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sạch được phê duyệt. Việc triển khai các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao cũng đã được doanh nghiệp và người dân áp dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao.

      Bên cạnh đó Hải Dương rất quan tâm đến sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ được các cấp, các ngành quan tâm, đạt kết quả khả quan. Đến nay, toàn tỉnh đã có gần 10.000 ha cây trồng sản xuất theo quy trình VietGAP, trong đó cấp giấy chứng nhận được 600 ha. Có 60 cơ sở chăn nuôi tập trung được cấp chứng nhận VietGAP; trên 1.100 hộ chăn nuôi được tập huấn kỹ thuật sản xuất theo VietGAP. Các sản phẩm sản xuất theo quy trình GAP, sản xuất theo hướng hữu cơ thực sự đã phát huy hiệu quả vượt trội cả về năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế.

      Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ còn gặp phải những khó khăn và hạn chế lớn, đó là:

      Một là, khó khăn về vốn. Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần nguồn vốn lớn để đầu tư, phát triển. Thực tế cho thấy để phát triển trang trại chăn nuôi trung bình theo mô hình công nghệ cao chi phí gấp 4-5 lần so với xây dựng trang trại theo mô hình truyền thống. Trong khi đó, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng còn gặp nhiều khó khăn. Thiếu hụt vốn đầu tư đang là rào cản lớn nhất trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

      Hai là, chất lượng nguồn nhân lực thấp. Nguồn nhân lực nông nghiệp là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, song hiện nay ở tỉnh ta đang thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Phần lớn người nông dân không đủ năng lực làm chủ công nghệ tiên tiến, làm hạn chế việc tiếp cận và ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại vào sản xuất; thiếu kiến thức hội nhập quốc tế, liên kết sản xuất, phát triển chuỗi giá trị, kinh doanh, thị trường, ứng dụng công nghệ thông tin…

      Ba là, đất đai manh mún, nhỏ lẻ. Để sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ cần phải có đất đai quy mô lớn, ở vị trí thuận lợi cho sản xuất và lưu thông. Ruộng đất ở tỉnh ta hiện nay nhỏ lẻ, manh mún là lực cản lớn cho việc ứng dụng công nghệ cao, nhất là việc công nhận vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

      Bốn là, thị trường tiêu thụ bấp bênh. Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ tạo ra khối lượng nông sản lớn, đòi hỏi thị trường tiêu thụ phải được mở rộng. Nhưng hiện nay, tuy tỉnh đã có nhiều giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ nhưng nhìn chung thị trường chưa đa dạng, hạn hẹp, không ổn định, bị phụ thuộc vào một hai khu vực. Nông nghiệp hữu cơ năng suất thấp, giá thành cao, khó tiêu thụ.

      Năm là, vấn đề nghiên cứu và chuyển giao công nghệ còn yếu. Mục tiêu lớn nhất của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao nên vấn đề công nghệ cao phải đặt lên hàng đầu. Nhưng thực tế năng lực nội sinh lĩnh vực nghiên cứu khoa học – công nghệ ở tỉnh ta nói riêng, nước ta nói chung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu. 

      Trước những khó khăn, hạn chế trong việc phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, Hải Dương đưa ra một số giải pháp để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ tập trung, nâng cao giá trị gia tăng một cách bền vững như sau:

      Thứ nhất, giải pháp về truyền thông và đào tạo nguồn nhân lực. Tiếp tục tăng cường công tác thông tin tuyên truyền các chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến các tổ chức và cá nhân, nhất là người nông dân nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng cũng như khuyến khích tham gia vào phát triển nông nghiệp công nghệ cao; Đẩy mạnh đào tạo nghề nông cho nông dân. Thông qua các khóa đào tạo này cung cấp cho nông dân kiến thức, kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại, giúp người nông dân thay đổi kỹ năng sản xuất, hình thành tư duy thị trường, năng lực tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất. 

      Thứ hai, giải pháp về đất đai và tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất nông nghiệp cho năng suất, chất lượng cao, nhất là đất trồng lúa để đảm bảo an ninh lương thực đã được xác định trong báo cáo chính trị. Tiếp tục đẩy mạnh việc dồn điền đổi thửa ở các địa phương hình thành nên các cánh đồng lớn. Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi dồn điền đổi thửa; hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và nông dân; khuyến khích nông dân góp vốn bằng ruộng đất vào doanh nghiệp; phát triển ngành nghề ở nông thôn, chuyển đổi nông dân sang lĩnh vực khác có thu nhập cao hơn. Trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, cần quy hoạch phát triển vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tập trung, tạo năng suất cao, giá trị lớn mang tính ổn định. Đồng thời từng bước mở rộng vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ đáp ứng mọi nhu cầu.

      Thứ ba, giải pháp về thị trường tiêu thụ. Cần đa dạng hóa các hình thức truyền thông để mở rộng thị trường tiêu thụ (cả trong tỉnh và ngoài tỉnh), đi đôi với xây dựng và bảo vệ thương hiệu hàng hóa. Thực hiện liên kết thực hiện đồng bộ các khâu từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ, nhất là kiểm soát chất lượng sản phẩm. Khuyến khích phát triển các công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, tăng tỷ lệ xuất khẩu tinh để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, tạo thương hiệu phát triển bền vững. Gắn kết sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ với phát triển du lịch sinh thái để vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần, vừa quảng bá và tiêu thụ sản phẩm.

      Thứ tư, giải pháp về khoa học – công nghệ. Có chính sách khuyến khích thúc đẩy các đề tài nghiên cứu, sáng tạo, ươm tạo, chuyển giao, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Thực hiện cơ chế “đặt hàng” trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ giữa tỉnh với các tổ chức nghiên cứu khoa học trong và ngoài tỉnh để phát triển nông nghiệp giá trị gia tăng cao. 

      --- Bài cũ hơn ---

    • Định Hướng Phát Triển Lành Mạnh, Lâu Dài Quan Hệ Việt
    • Giải Pháp Định Vị Gps Cho Xe Máy
    • Hướng Dẫn Sử Dụng Định Vị Gps – Giải Pháp Chống Trộm Hiệu Quả
    • Phục Hồi Ngành Du Lịch Việt Nam: Tìm Giải Pháp Trong ‘Tình Hình Mới’
    • Top 3 Định Vị Gps Bảo Vệ Xe Máy Tốt Nhất Tại Aiovina
    • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Sản Xuất Nông Nghiệp Hàng Hóa Trên Địa Bàn Huyện Hiệp Hòa Tỉnh Bắc Giang

      --- Bài mới hơn ---

    • Một Số Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Hàng Hóa Trong Nước
    • 5 Bước Cơ Bản Nâng Cao Tinh Thần Làm Việc Nhóm Của Nhân Viên
    • Tinh Thần Làm Việc Nhóm Của Người Việt Nam
    • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1: Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
    • 10 Dịch Vụ Lưu Trữ Đám Mây Miễn Phí Tốt Nhất Năm 2022
    • Giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang

      1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

      2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

      3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

      4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

      CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá

      1.1.1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá

      1.2. Phương pháp nghiên cứu

      1.2.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết

      1.2.2. Chọn địa điểm và phương pháp nghiên cứu

      1.2.3. Hệ thống chỉ tiêu phân tích

      CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP HOÀ TỈNH BẮC GIANG

      2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Hiệp Hoà

      2.1.1. Đặc điểm tự nhiên huyện Hiệp Hoà

      2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội

      2.1.3. Những lợi thế và hạn chế đối với phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá của huyện Hiệp Hoà

      2.2. Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Hiệp Hoà

      2.2.1. Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp

      2.2.2. Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá ở huyện Hiệp Hoà

      2.2.3. Thực trạng và các loại hình tổ chức sản xuất

      2.3. Đánh giá thực trạng tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn huyện Hiệp Hoà

      2.3.2. Những hạn chế, tồn tại

      CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP HOÀ TỈNH BẮC GIANG

      3.1. Một số quan điểm chủ yếu

      3.1.1. Phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá một cách bền vững nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế từng vùng trên địa bàn huyện

      3.1.2. Phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá phải gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

      3.1.3. Thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá phải gắn liền với xây dựng nông thôn mới và bảo vệ môi trường bền vững

      3.1.4. Thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá phải có sự điều hành, quản lý của Nhà nước

      3.2. Định hướng, mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở huyện Hiệp Hoà đến năm 2022

      3.2.1. Định hướng, mục tiêu

      3.2.2. Các giải pháp chủ yếu

      --- Bài cũ hơn ---

    • Đẩy Mạnh Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa, Cơ Cấu Lại Ngành Nông Nghiệp
    • Tích Tụ Đất Đai: Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa
    • Đề Tài Những Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất Hàng Hóa Ở Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
    • Một Số Giải Pháp Phát Triển Sản Xuất, Thúc Đẩy Xuất Khẩu
    • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Cổ Phần Vận Tải Biển Bắc
    • Thực Trạng,giải Pháp Phát Triển Nền Văn Hóa Trong Thời Kỳ Mới

      --- Bài mới hơn ---

    • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Phát Triển Lĩnh Vực Văn Hóa, Gia Đình Của Tỉnh Giai Đoạn 2022
    • Những Giải Pháp Bước Đầu Trong Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam
    • Về Định Hướng Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Văn Hóa, Con Người
    • Bí Quyết Lập Lịch Bảo Trì Và Giám Sát Thực Hiện Công Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
    • Giải Pháp Quản Lý Thời Gian Làm Việc Tại Công Trình Bằng Di Động
    • (Toquoc)- Đó là tên cuộc hội thảo được tổ chức hôm nay, 15/5, tại Hà Nội, do Bộ VHTTDL tổ chức.

      Hội thảo là dịp nhìn lại 15 năm thực hiện Nghị quyết 03 Hội nghị lần thứ 5 khóa VIII của BCH Trung ương Đảng (Nghị quyết TW 5) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

      Từ ý kiến của các nhà quản lý, các nhà khoa học tham dự, hội thảo sẽ tổng hợp ý kiến để góp ý vào báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư về phát triển văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với 5 mục tiêu trước mắt và 4 mục tiêu lâu dài.

      Trong đó, mục tiêu trước mắt là: Gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, làm cho văn hóa tham gia tích cực vào việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Xây dựng những giá trị văn hóa mới, đi đôi với việc mở rộng giao lưu quốc tế; Nâng cao mức hưởng thụ, tham gia hoạt động, sáng tạo văn hóa của nhân dân, từng bước thu hẹp sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; Tăng cường đầu tư Nhà nước, nâng cao tỷ lệ ngân sách cho văn hóa, đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững; Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiếu chế văn hóa, chú trọng các công trình văn hóa lớn, tiêu biểu. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở.

      Các mục tiêu lâu dài là: Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế- xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội; Xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hóa, phát huy tinh thần tự nguyện, tự chủ, sức sáng tạo, vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, nhất là lý tưởng sống, lối sống, năng lực, trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa người Việt Nam, đặc biệt là giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên; Tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, phát huy tính thống nhất trong đa dạng, bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc; Phát huy tiềm năng, khuyến khích các sáng tạo văn học, nghệ thuật, sáng tác những tác phẩm văn học, nghệ thuật tiêu biểu, phản ánh sức sáng tạo của nền văn hóa mới.

      Thanh Bình

      --- Bài cũ hơn ---

    • Câu 1. Cho Biết Đoạn Thơ Trên Thuộc Thể Thơ Nào? (0,25 Điểm)
    • Hội Thảo “các Giải Pháp Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Nhằm Phát Triển Văn Hóa Đọc”
    • Đẩy Mạnh Thực Hiện Các Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa Đọc Trong Cộng Đồng
    • Nghị Luận Về Văn Hóa Đọc Của Giới Trẻ Hiện Nay
    • Làm Gì Để Phát Triển Văn Hóa Đọc Ở Việt Nam?
    • Web hay
    • Links hay
    • Push
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Chủ đề top 60
    • Chủ đề top 70
    • Chủ đề top 80
    • Chủ đề top 90
    • Chủ đề top 100
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50
    • Bài viết top 60
    • Bài viết top 70
    • Bài viết top 80
    • Bài viết top 90
    • Bài viết top 100