Top 5 # Xem Nhiều Nhất Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học Việt Nam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giáo Dục Đại Học Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng

Lê Hữu Ái – Lâm Bá Hòa

Trong bài viết này, các tác giả đã tập trung phân tích những bất cập, yếu kém của giáo dục đại học ở nước ta hiện nay, đặc biệt là khía cạnh chất lượng giáo dục và đào tạo. Trên cơ sở đó, bài viết luận chứng một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay.

1. Mục tiêu phát triển của Việt Nam đến năm 2020 là, về cơ bản, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu này, cần huy động và sử dụng một cách có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước. Theo đó, một trong những yếu tố có ý nghĩa then chốt là chất lượng giáo dục đại học. Bởi trong bất kỳ điều kiện lịch sử nào, trường đại học luôn là môi trường bồi dưỡng, sáng tạo và chuyển giao những thành tựu khoa học – công nghệ mới nhất, là đầu tàu trong việc tạo ra nguồn lao động chất lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2003 đã khẳng định: “Thu nhập bình quân của 20 nước giàu nhất cao gấp 37 lần so với 20 nước nghèo nhất. Tỷ lệ này đã tăng nhanh gấp hai lần trong vòng 40 năm qua. Lý do chủ yếu là do không có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể tại các nước nghèo do thiếu vốn, thiếu các nguồn lực phát triển cần thiết, đặc biệt là tri thức khoa học và công nghệ”(1). Điều này cho thấy, với một nền giáo dục yếu kém, chắc chắn sẽ mất lợi thế cạnh tranh. Thực tế cho thấy, giáo dục – đào tạo là nhân tố quyết định để phát huy tiềm năng trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người. Về điều này, GS.Malcom Gilles, Hiệu trưởng Trường Đại học Rice đã từng nói: “Ngày nay, hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, sự giàu mạnh hoặc đói nghèo của một quốc gia phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục đại học”.

2. Trong thời đại của kinh tế tri thức, bất kỳ một quốc gia nào, để có thể đi tắt, đón đầu nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực chất lượng cao luôn giữ vai trò quyết định. Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội. Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế – xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại.1)

Trong thời đại của kinh tế tri thức, bất kỳ một quốc gia nào, để có thể đi tắt, đón đầu nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực chất lượng cao luôn giữ vai trò quyết định. Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội. Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế – xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại. (

Trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống giáo dục nước ta đang chứa đựng nhiều yếu tố bất cập, chất lượng giáo dục đại học còn thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vẫn biết “nhân tài là nguyên khí quốc gia”, nhưng những điều kiện vật chất nghèo nàn, cơ chế quản lý lạc hậu, đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu,… không tương ứng với tốc độ phát triển của quy mô đào tạo chính là những nguyên nhân căn bản dẫn tới sự yếu kém của giáo dục đại học. Theo Báo cáo mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Số: 760 /BC-BGDĐT) ngày 29 tháng 10 năm 2009, năm 1987 cả nước có 101 trường đại học và cao đẳng (63 trường đại học, chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), nhưng đến tháng 9 năm 2009 đã có 376 trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần (150 trường đại học, chiếm 40%, gấp 2,4 lần và 226 trường cao đẳng chiếm 60%, gấp 6 lần). Việc mở rộng quy mô không chỉ bó hẹp trong các trường công lập mà cả loại hình dân lập. Với 101 trường đại học và cao đẳng năm 1987 chúng ta chưa có trường ngoài công lập, đến năm 1997 cả nước đã có 15 trường đại học ngoài công lập và đến tháng 9 năm 2009 có 81 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, chiếm 21,5% (44 trường đại học và 37 trường cao đẳng). Đến nay, đã có 40/63 tỉnh, thành phố có trường đại học (đạt tỷ lệ 63%); có 60/63 tỉnh, thành có trường cao đẳng (đạt tỷ lệ 95%) và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất 1 trường cao đẳng hoặc đại học (đạt tỷ lệ 98%, trừ tỉnh Đắk Nông chưa có trường đại học, cao đẳng nào). Và, 35/63 tỉnh có thêm trường đại học mới, trong đó: 23 tỉnh có thêm 1 trường; 10 tỉnh có thêm 2 – 3 trường; riêng Thành phố Hồ Chí Minh có thêm 18 trường đại học và Hà Nội (mở rộng) có thêm 23 trường, chiếm tỷ lệ 43% số trường đại học thành lập mới và nâng cấp ( 2).

Từ quy mô như trên chúng ta có thể khẳng định, công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được đẩy mạnh, nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục được huy động ngày càng nhiều. Sự phân bố các cơ sở giáo dục đại học đã dần rộng khắp trên phạm vi cả nước. Điều này là hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng địa phương và cả nước. Tuy nhiên, sự phát triển như trên đang chứa đựng nhiều bất ổn:

Thứ nhất, sự phân bố như thế sẽ khó để có điều kiện xây dựng một trường đại học đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế. Hiện nay, ở nước ta các đại học lớn vẫn chưa được đứng trong bảng xếp hạng 200 trường đại học tốp đầu châu Á, trong khi nhiều trường đại học của các nước láng giềng như Philippin, Inđônêsia đã có mặt. Đặc biệt, Trường Đại học Chulalongkorn của Thái Lan còn được xếp trong danh sách 200 đại học hàng đầu thế giới. Chính điều này đặt ra những câu hỏi lớn cho chiến lược giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Sự tụt hậu của chúng ta trong lĩnh vực này là một thực tế đáng buồn. Song, không phải vì thế mà chúng ta nôn nóng đặt ra những mục tiêu không tưởng. Trên thực tế, để đạt đến đỉnh cao trong học thuật cần có một quá trình lâu dài. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: vì lợi ích trăm năm phải trồng người. Nên chăng, chúng ta phải đặt ra mục tiêu trong tương lai gần là xây dựng được mô hình đại học nghiên cứu với yêu cầu cao về nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, cùng với nó là đội ngũ giảng viên phải đạt chuẩn. Theo Giáo sư Hoàng Tụy, trên Tuổi trẻ Online (ngày 25/10/2007): “… Có lẽ chỉ 15 – 20% số tiến sĩ có trình độ thật sự tương xứng với bằng cấp đó trên quốc tế. Tương tự, cũng chỉ 15 – 20% số giáo sư, phó giáo sư có trình độ thật sự tương xứng. Còn lại không chỉ thấp, mà có đến hơn một phần ba thấp đến tệ hại, nhiều người không đứng nổi trong phạm trù “dạy đại học”, dù ở mức thấp. Rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ không hơn gì cử nhân ở các nước, rất đông phó giáo sư của ta không so sánh nổi với trợ giảng mới ra trường của họ”.

Thứ hai, sự phân bố chưa hợp lý đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao. Hiện nay, trong số 25 – 30% giáo sư và phó giáo sư trên tổng số đang trực tiếp giảng dạy tại các trường đại học và cao đẳng, thì tập trung chủ yếu vẫn ở một số trường đại học lớn tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong tổng số 376 trường đại học và cao đẳng của cả nước, có rất nhiều trường đại học chưa có giáo sư, thậm chí là phó giáo sư cơ hữu, trong khi đó có khoa của một trường đại học ở Hà Nội có tới hơn 10 giáo sư. Đối với tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, sự tập trung ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng (chủ yếu là Hà Nội) và Đông Nam Bộ (chủ yếu là thành phố Hồ Chí Minh) gần như là tuyệt đối (khoảng 88,7%), trong đó Đồng bằng sông Hồng là 68,1% và Đông Nam Bộ là 20,6%. Chính sự mất cân đối này đã gây nên sự chênh lệch về trình độ đào tạo, sự cục bộ địa phương làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học và đội ngũ cán bộ khoa học trong cả nước. Không chỉ có sự bất cập trong phân bố đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao, mà ngay ở sự phát triển đội ngũ giảng viên so với tốc độ gia tăng sinh viên cũng có sự mất cân đối. Chẳng hạn, năm 1987, một giảng viên đại học, cao đẳng đào tạo bình quân 6,6 sinh viên, đến năm 2009 một giảng viên đại học, cao đẳng đào tạo bình quân 28 sinh viên. Sau 22 năm, số sinh viên tăng 13 lần, số trường đại học, cao đẳng tăng 3,7 lần, nhưng số giảng viên chỉ tăng 3 lần. Năm 1987 tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 10,09%, năm 2009 là 10,16%. Trong những năm vừa qua, số lượng giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng trong cả nước đã tăng lên đáng kể, nhưng vẫn chưa thể tương ứng với sự phát triển về quy mô đào tạo. Số giảng viên đại học, cao đẳng đã tăng từ 20.112 người năm 1997 lên 61.190 người năm 2009 (gấp 3 lần), số giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng từ 2.041 người lên 6.217 người (gấp 3 lần), số giảng viên có trình độ thạc sĩ tăng từ 3.802 người lên 24.831 người (gấp 6 lần), số giảng viên là giáo sư, phó giáo sư tăng từ 526 người lên 2.286 người (gấp 4,5 lần) ( 3).

Thứ ba, chính sự phân bố nêu trên dẫn đến việc quản lý hành chính nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng phân tán, lỏng lẻo, kém hiệu quả. Trong tổng số 376 trường đại học, cao đẳng cả nước hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý 54 trường (14,4%); còn lại các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quản lý 241 trường (64,1%); và có 81 trường dân lập, tư thục (21,5%)(4).

Từ sự bất cập của việc gia tăng quy mô như đã nêu, có một thực tế buộc chúng ta phải thừa nhận là, số lượng sinh viên hàng năm ở nước ta tăng nhưng chất lượng lại có xu hướng giảm, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 2005, tỷ lệ sinh viên vào đại học ở nước ta là 16%, trong khi con số này ở Trung Quốc là 17%, Inđônêsia 19%, Thái Lan 43%. Hiện nay, quy mô đào tạo đại học, cao đẳng tăng dần qua các năm, tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân cũng tăng, năm 1997 là 80 sinh viên/1 vạn dân, năm 2006 là 166,5 sinh viên/1 vạn dân, năm 2009 là 195 sinh viên/1 vạn dân, đến năm 2010 có thể đạt 200 sinh viên/1 vạn dân theo đúng định hướng Nghị quyết số 14 của Chính phủ và Quyết định số 121 của Thủ tướng Chính phủ. Nếu so với các nước, thì tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân của Việt Nam còn rất thấp: năm 2005 Thái Lan có 374 sinh viên/1vạn dân; Chi Lê có 407 sinh viên/1 vạn dân, Nhật Bản có 316 sinh viên/1 vạn dân, Pháp có 359 sinh viên/1 vạn dân, Anh có 380 sinh viên/1 vạn dân, Úc có 504 sinh viên/1 vạn dân, Mỹ có 576 sinh viên/1 vạn dân và Hàn Quốc có 674 sinh viên/1 vạn dân(5). Căn cứ vào các số liệu hiện có của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) thì vấn đề cơ bản trong tốc độ phát triển của giáo dục Việt Nam là sự trì trệ của tỷ lệ theo học đại học. Theo Global

Education

Digest năm 2006 thì sự kỳ vọng đời sống học đường đại học, tức là số năm học trung bình mà một thanh niên tuổi 17 có thể hy vọng theo học trong trường đại học trước khi bước vào lao động trong giai đoạn từ 1999 đến 2004, trên thế giới đã tăng từ 0,9 năm lên 1,1 năm; Đông Á từ 0,7 năm lên 1,0 năm; Trung Quốc từ 0,3 năm lên 1,0 năm; Thái Lan từ 1,6 năm lên 2,1 năm;… riêng Việt Nam vẫn đứng nguyên ở con số 0,5 năm. Như vậy, thực tế là nguồn nhân lực có chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng.

Thứ tư, chất lượng giáo dục đại học còn nhiều bất cập. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, các trường đại học Việt Nam chưa đào tạo được lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao tương ứng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế. Nhiều cuộc điều tra, thăm dò gần đây cho thấy, có khoảng 50% sinh viên tốt nghiệp đại học ở Việt Nam không tìm được việc làm đúng chuyên môn, bằng chứng đó phản ánh sự thiếu liên kết nghiêm trọng giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường. Chương trình đại học của nước ta còn nặng về lý thuyết. Có thể nêu một dẫn chứng như việc Intel tuyển kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi công ty này thực hiện một cuộc kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn với 2.000 sinh viên Công nghệ thông tin Việt Nam, chỉ có 90 ứng cử viên, nghĩa là 5%, vượt qua cuộc kiểm tra, và trong nhóm này, chỉ có 40 người có đủ trình độ tiếng Anh đạt yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận rằng đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư ( 6).

Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế cũng cho rằng, việc thiếu các công nhân và quản lý có kỹ năng là cản trở lớn nhất đối với việc mở rộng sản xuất. Chất lượng nghèo nàn của giáo dục đại học còn có một ngụ ý khác: đối lập với những người cùng thế hệ ở Ấn Độ và Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh được để lọt qua những khe cửa hẹp của các chương trình đại học cao cấp ở Mỹ và châu Âu. Thực tế cho thấy, hiện nay, thanh niên, sinh viên ở nước ta còn trong tình trạng tụt hậu rất xa so với thanh niên các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học,…. Theo Báo Tuổi trẻ, ngày 02 -10 -2003, chỉ tiêu đánh giá về trí tuệ, trình độ ngoại ngữ, khả năng thích ứng với điều kiện tiếp nhận khoa học và công nghệ của thanh niên Việt Nam, đánh giá theo thang điểm 10 của khu vực khiến chúng ta phải giật mình: trí tuệ 2,3/10; ngoại ngữ 2,5/10; khả năng thích ứng 2/10. Đây là chỉ số đáng buồn. Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam rất thấp, đạt 3,79/10, đứng thứ 11/12 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng ở châu Á. Chính sự bất cập nêu trên của hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã làm cho chất lượng giáo dục đại học thấp, hiệu quả sử dụng và năng lực cạnh tranh của nguồn lực không cao.

Thứ năm, chưa gắn nghiên cứu khoa học của các trường đại học với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cách đây hơn 10 năm, nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ này, Đảng và Nhà nước ta đã nêu lên chủ trương, “các trường đại học vừa là cơ sở đào tạo vừa là cơ sở nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ” nhưng cho đến nay, dường như quan điểm đó vẫn chỉ được xem là chủ trương chung,chưa được cụ thể hóa thành những chính sách cụ thể, trách nhiệm và quyền lợi giữa các cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động, giữa trường đại học và doanh nghiệp.

Chúng ta biết rằng, nghiên cứu khoa học là sức sống của một trường đại học. Đó là tiêu chí mà bất kỳ trường đại học nào trên thế giới cũng phải tuân thủ và lấy đó làm phương châm hành động. Gần như tất cả các thành tựu về nghiên cứu khoa học, các tiến bộ công nghệ áp dụng trong sản xuất đều xuất phát từ môi trường này. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu triển khai của các cơ sở giáo dục đại học phải tính đến hiệu quả kinh tế và xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp. Đồng thời, Nhà nước phải tạo điều kiện để doanh nghiệp nghiên cứu triển khai các thành tựu khoa học vào quá thực tế sản xuất. Trong những năm qua, hiệu quả nghiên cứu của các trường đại học trong cả nước chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp và sự đầu tư của Nhà nước. Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngân sách Nhà nước cấp cho các trường đại học thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ tăng hằng năm (năm 2006: hơn 259,5 tỷ, năm 2008: hơn 264 tỷ đồng). Tuy nhiên, nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ của các trường đại học từ năm 2006 đến năm 2008 còn rất thấp, chỉ chiếm 3,92% trong tổng nguồn tài chính của các trường đại học. Thực tế vẫn chưa có một thống kê nào đánh giá cụ thể tỷ lệ các đề tài nghiên cứu được đưa vào áp dụng, nhưng theo các chuyên gia nhận định, có khoảng 60% kết quả nghiên cứu khoa học được đưa vào ứng dụng, nghĩa là còn 40% kết quả nghiên cứu phải “trùm mền”. Các nhà khoa học không biết giới sản xuất đang cần gì ở họ, còn các doanh nghiệp cũng chẳng hiểu công nghệ mình cần trong nước đã có hay chưa và không thể chủ động đưa ra yêu cầu của mình. Hậu quả là doanh nghiệp tìm đến với công nghệ nước ngoài, nhà khoa học nghiên cứu theo sở thích và chuyện kết quả nghiên cứu “trùm mền” chẳng có gì là khó hiểu.

3. Từ thực trạng trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế của nước ta hiện nay.

Thứ nhất, xây dựng một chiến lược và triết lý giáo dục riêng. Hiện nay, trên thế giới có ba mô hình giáo dục đại học lớn cần phải tham khảo trong quá trình xây dựng chiến lược giáo dục đại học ở Việt Nam: một là, mô hình kiểu Đức là nơi tạo dựng và phổ biến tri thức; hai là, mô hình kiểu Pháp là nơi đào tạo người lao động có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của phát triển và sử dụng nguồn nhân lực; ba là, mô hình kiểu Mỹ là tôi luyện bản lĩnh sống cho tầng lớp trẻ, tôn trọng sự phát triển nhân cách cá nhân, trung thực, không ngừng đổi mới. Theo chúng tôi, mỗi một mô hình trên đều có những mặt tích cực có thể áp dụng, nhưng hoàn toàn không thể rập khuôn máy móc khi tạo dựng triết lý cho giáo dục đại học hiện nay. Nên chăng, nền giáo dục đại học ở Việt Nam cần hướng tới việc phổ biến, ứng dụng và hiện thực hóa các tri thức khoa học, rút ngắn khoảng cách “độ chênh về chất lượng”.

Thứ hai, cơ cấu lại ngành học cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển của đất nước. Hiện nay, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đang có sự mất cân đối. Việc tăng quy mô đào tạo hiện vẫn chủ yếu diễn ra ở bậc đại học; số học sinh, sinh viên theo học các ngành kỹ thuật, công nghệ ở bậc cao đẳng và trung học chuyên nghiệp còn thấp và tăng chậm. Dường như trong những năm qua chúng ta chỉ chú trọng vào những ngành học có vốn đầu tư ít, thu lợi nhuận cao, chẳng hạn Luật, Kinh tế, Ngoại ngữ, Công nghệ thông tin…, mà chưa thực sự đầu tư thích đáng vào nhóm các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật công nghệ cao. Để hướng tới một nền giáo dục bền vững, chúng ta phải có một chiến lược dài hạn, đầu tư có trọng điểm vào những ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn, đồng thời phải biết lựa chọn và thu hút được những sinh viên ưu tú, áp dụng những chương trình tiên tiến của thế giới vào giảng dạy để đạt hiệu quả cao. Chỉ có như vậy, chúng ta mới thực sự “đi tắt, đón đầu” và theo kịp được với sự phát triển của khoa học – công nghệ tiên tiến hiện nay.

Thứ ba, cải cách hành chính và trao quyền tự chủ cho các trường đại học. Đổi mới tư duy giáo dục đại học trong quản lý nhà nước để tiến đến trao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm cao của các trường đại học chính là động lực của phát triển. Đó là yêu cầu tất yếu từ chính các trường đại học trong cả nước hiện nay, như quyền tự chủ tài chính, nhân sự, công tác tuyển sinh và nhất là xây dựng chương trình. Bởi, với chủ trương “đào tạo theo nhu cầu” thì việc xây dựng chương trình phải xuất phát từ nhu cầu của xã hội. Chỉ có như vậy, các trường đại học mới có thể tự quyết định trong đầu tư cơ sở vật chất và chuyên môn hoá sâu về lĩnh vực đào tạo của mình. Chế độ tuyển dụng, đãi ngộ, đề bạt của các cơ sở đào tạo đại học phải dựa trên năng lực và hiệu quả công việc của từng cá nhân. Chất lượng đào tạo của các trường đại học là một tiêu chí đáng tin cậy cho mức độ phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, các trường đại học của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và chưa có một trường đại học nào được các tổ chức kiểm định quốc tế thừa nhận. Nếu như không có các biện pháp cấp thiết để cải cách giáo dục đại học thì nước ta khó có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thứ tư, thực hiện đồng bộ và nghiêm chỉnh công tác kiểm định chất lượng đại học. Đã gần 3 năm qua, từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ trương buộc các cơ sở đào tạo bậc đại học, cao đẳng phải công bố chuẩn đầu ra, như người học hiểu biết gì, có kỹ năng gì, có năng lực hành vi như thế nào, có thể đảm đương được công việc gì trong xã hội?… Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một trường đại học, cao đẳng nào thỏa mãn được bộ tiêu chí trên. Vì vậy, chúng ta chưa có đủ cơ sở để đánh giá chất lượng giáo dục của các trường một cách khách quan, toàn diện.

Từ thực tế trên cho thấy, việc thiết lập bộ tiêu chuẩn chất lượng trường đại học và thực hiện nó là một yêu cầu bắt buộc đối với giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Bởi nó chính là cơ sở để đánh giá kiểm định chất lượng của một trường đại học hiện đại. Có được một bộ tiêu chuẩn chất lượng minh bạch để quản lý các trường đại học thực sự là một bước đột phá trong tiến trình phát triển của giáo dục đại học Việt Nam.

Thứ năm, kiên quyết ngừng các cơ sở đào tạo đại học không đạt chuẩn. Trong những năm gần đây, do xuất phát từ mong muốn chủ quan là phát triển đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song sự mở rộng quá nhanh quy mô đào tạo lại không đi liền với việc đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực. Có những trường đại học khi có quyết định thành lập và bắt đầu đi vào đào tạo nhưng cơ sở vật chất lại chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu của một cơ sở đào tạo đại học như báo chí đã nêu trong thời gian vừa qua. Như vậy, hiện tượng mở trường tràn lan, những điều kiện vật chất không được đảm bảo, đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu cũng là một nguyên nhân khiến chất lượng đào tạo đại học ở nước ta ngày càng giảm sút.

Sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia hiện nay phụ thuộc trực tiếp vào quy mô và chất lượng của giáo dục đại học. Hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp và đang phát triển hiện nay đang đứng trước rất nhiều nguy cơ, trong đó có nguy cơ tụt hậu xa hơn về giáo dục đại học so với nhóm các nước phát triển. Trách nhiệm này đặt trên vai các nhà hoạch định chiến lược giáo dục đại học. Giáo dục đại học Việt Nam phải thực sự góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. /.

Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Hữu Ái. Trưởng khoa Lý luận chính trị. Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.

Ths Lâm Bá Hòa Giảng viên Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.

(1) Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), 2003.

(2) Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số: 760 /BC-BGDĐT, ngày 29/10/2009.(3) , (4) Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số: 760 /BC-BGDĐT, ngày 29/10/2009.

(6) http://www.tin247.com/, ngày 09-06-2008.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Like

Loading…

Related

Author: hoangthinga

Giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Nghiên cứu sinh về Giáo dục lịch sử tại CHLB Đức

Đảm Bảo Chất Lượng Giáo Dục Đại Học Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp

ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌCỞ VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁPLÊ HOÀNG VŨBan ISO – Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm Tp.HCM

QUALITY ASSURANCE OF HIGHER EDUCATION IN VIET

NAM, THE STATE AND SOLUTIONSABSTRACTEntering the twenty-first century, humanity faces many opportunities to grow andalso faces many threats and challenges. Education in Vietnam is no exception to that ruleobjectively. Especially since Vietnam became an official member of the World TradeOrganization ( WTO ) in 2007, the pressure placed on the general economy and the greatereducation. Because the quality of education as factors that determine the quality of humanresources to develop all aspects of a comprehensive water from cultural, social, economic,national security,… Today, the quality of education higher education is always the topconcern of the whole society on the importance of telling the country’s development in thetrend of internationalization and globalization, how to ensure the quality of education is isthe subject of interest and promoting. However, the quality assurance of higher educationis not currently and has not paid adequate attention to the system, mostly limited to theform of quality control. Therefore, promoting activities and provide appropriate solutionsis essential.

1. Đặt vấn đềGiáo dục đại học trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang đứng trướcmột bài toán hóc búa là giải quyết mâu thuẫn giữa việc vừa gia tăng kiến thức, vừa phảinâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với yêu cầu xã hội đang biến đổi từng ngày. Xuhướng mới cần cắt giảm thời gian đào tạo, đồng thời tạo điều kiện để người học được họctheo học chế tín chỉ, học liên thông, học đồng thời nhiều ngành, nhiều cấp học, nhiều bằng,bậc học,… theo yêu cầu xã hội, hội nhập quốc tế và yêu cầu sở thích cá nhân.Chất lượng giáo dục đại học là một trong những nền tảng quan trọng đối với sự pháttriển của các quốc gia trên thới giới. Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, mỗi quốcgia có hàng loạt các giải pháp toàn diện như chú trọng đến sự phát triển của cơ sở vật chấtcủa trường đại học, phát triển lực lượng nghiên cứu khoa học và giảng viên, nâng cao chấtlượng dạy và học, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ,nâng cao năng lực quản lý giáo dục đại học… Bên cạnh đó, một trong những giải phápđược nhiều nước trong khu vực quan tâm nhầm nâng cao chất lượng giáo dục đó là việc ápdụng các mô hình quản lý và đảm bảo chất lượng (kiểm soát chất lượng, đảm bảo chấtlượng, quản lý chất lượng tổng thể, đánh giá chất lượng…). Hiện nay, áp dụng mô hìnhđảm bảo chất lượng cho việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học với công cụ là đánh giáchất lượng (QA- Quality assurance) là xu hướng được nhiều nước sử dụng và việc này đãtạo nên những bước chuyển biến tích cực, nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

2. Quá trình đảm bảo chất lượng ở Việt NamQuá trình ĐBCL bắt đầu từ sự quản lý chất lượng bên trong cơ sở giáo dục đại học.Việc thiết kế và đưa ra các quy trình, cơ chế đảm bảo chất lượng vào thực hiện, mặc dù có

Sơ đồ 1. Quá trình đảm bảo chất lượng (GS.TS Nguyễn Lộc)

Cơ sở GDĐT,chương trình đào tạoQLCL nội bộ

DẠY

HỌC

Cải tiếnchất lượng

Thông tinđại chúng

Quyết định kiểm định/ không kiểm định

Báo cáođánh giá

Báo cáothẩm định

ĐÁNH GIÁ NGOÀI(chương trình đàotạo, hoặc cơ sở GDĐT)

Đoàn đánh giáđộc lập

Như vậy, đảm bảo chất lượng là sự phối hợp trách nhiệm giữa cơ sở giáo dục đại họcvới các cơ quan bên ngoài, nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về các trường đại học. Chấtlượng chỉ có thể được duy trì và nâng cao nhờ hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý chấtlượng trong nhà trường; là kết quả của sự tự đánh giá và điều chính trong hoạt động của cơ

sở giáo dục đại học. Nói cách khác, hoạt động quản lý chất lượng bên trong nhà trường làđiểm xuất phát, nền tảng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục đại học của mộttrường.

3.2. Ở ÚcCác chính sách, thái độ, hành động và quy trình cần thiết để đảm bảo chất lượng đangđược duy trì và nâng cao. Cơ quan chất lượng của đại học Úc (AUQA-Australian UniversitiesQuanlity Agency), hoạt động như một quốc gia một cách độc lập, có nhiệm vụ kiểm tra, giámsát, kiểm toán và báo cáo về hoạt động đảm bảo chất lượng của các trường đại học Úc. AUQAđược điều hành bời Hội đồng Bộ (với sáu thành viên), hoạt động độc lập với chính phủ, nhưnglại dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Giám đốc (có năm thành viên, do Chủ tịch hiệp hội các trườngđại học). Mục tiêu chính là cũng cố lòng tin của công chúng và thị trường quốc tế về chất lượngcủa các trường đại học Úc. AUQA tiếp cận cơ bản nhằm đánh giá chất lượng của các trường đạihọc dựa vào hệ thống kiểm soát bên trong của các trường kết hợp với sử dụng kiểm toán ngoài.Thêm vào đó, có một cơ quan quốc gia riêng chịu trách nhiệm về kiểm toán độc lập ngoài các hệthống bên trong của nhà trường.Trường Đại học Queenland (Học viện đứng đầu ở Úc về giảng dạy và nghiên cứu), camkết cung cấp khung mẫu cho quản lý và đảm bảo chất lượng. Tất cả các thành viên trong cộngđồng các trường đại học có thể đóng góp vào việc cải thiện liên tục thông qua một chu kỳ nốitiếp nhau: lập chiến lược, báo cáo và đánh giá. đảm bảo chất lượng và quản lý của trường là hoạtđộng nỗ lực tiếp cận các quá trình ở mọi cấp độ đều có động lực thúc đẩy và nâng cao chấtlượng, gắn với văn hóa tổ chức của nhà trường.3.3. Ở Thái LanĐảm bảo chất lượng được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra của nhà trường, kiểm toán chấtlượng bên ngoài và kiểm định công nhận. Chú trọng các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện,các kết quả hay chỉ số học tập và cải tiến chất lượng. Cơ cấu đảm bảo chất lượng gồm hai mảngđộc lập nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau: Đảm bảo chất lượng bên trong do Bộ Công tác Đại học(MUA-the Ministry of University Affairs) quản lý, còn đảm bảo chất lượng bên ngoài do Cụctiêu chuẩn GD và đánh giá chất lượng quốc gia (ONESQA-Office for National EducationalStandards and Quanlity Assessments) quản lý.Chức năng của ONESQA là thăm trường, cung cấp thông tin cho trường và Bộ Công tácđại học, viết báo cáo đánh giá, giám sát chất lượng đào tạo của các đơn vị.Chức năng của MUA là đẩy mạnh phong trào chất lượng trong toàn quốc, như: xây dựng hệthống đảm bảo chất lượng hoạt động thường xuyên, hỗ trợ các trường/khoa nghiên cứu về đảm bảochất lượng quốc tế, xã hội hóa công tác đảm bảo chất lượng, liên kết các trường, các tổ chức đảm bảochất lượng quốc tế. MUA còn yêu cầu các trường phải có hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong,đồng thời cung cấp cho các trường đại học hướng dẫn 9 lĩnh vực chuyên môn bên trong, gồm: sứmệnh, mục tiêu, kế hoạch; giảng dạy và học tập; các hoạt động vui chơi giải trí của sinh viên; nghiêncứu; dịch vụ GD phục vụ xã hội; giữ gìn văn hóa và nghệ thuật; quản lý hành chính; ngân sách; đảmbảo và nâng cao chất lượng.Hệ thống đảm bảo chất lượng ở các trường đại học của Thái Lan dựa trên nguyên tắc làmột mô hình “Đầu vào-Quá trình-Đầu ra” và đều phải tập trung vào việc dạy và học. Điểm chủyếu trong hệ thống đảm bảo chất lượng ở đây là các trường phải thành lập, có dẫn chứng bằng tài

liệu, thực hiện, duy trì và liên tục cải tiến hệ thống của mình. Hệ thống đảm bảo chất lượng gồm:Đánh giá trong (do các trường ĐH chịu trách nhiệm) 2 năm đánh giá một lần và đánh giá ngoài(do ONESQA thực hiện năm năm một lần, nếu đạt sẽ được cấp giấy chứng nhận).Trường Đại học Chulalongkorn (lớn nhất Thái Lan, xếp hạng 78 của hệ thống các trườngđại học trên thế giới), hệ thống đảm bảo chất lượng có ý tưởng từ năm 1996, việc tự đánh giáđược thông qua các cuộc thăm viếng của các chuyên gia trên cơ sở ba kiểu hoạt động căn bản(được coi là cơ sở cho hệ thống đảm bảo chất lượng của trường): Kiểm soát, hỗ trợ và thanh trachất lượng giáo dục. Tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng của trường cơ bản là: “Giảng dạy-học tập,nghiên cứu, điều hành và hỗ trợ, các dịch vụ học thuật”. Điều này thể hiện quan điểm của trườngtrong việc đảm bảo chất lượng ở cấp trường, khoa và bộ môn ở cả ba giai đoạn: đầu vào, quátrình, đầu ra. Trong tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng giảng dạy-học tập thì phải hình thành cáchoạt động dạy-học, bao gồm: chương trình đào tạo, đội ngũ, quá trình giảng dạy-học tập, sinhviên, các yếu tố hỗ trợ cần thiết cho các hoạt động GD nhằm tạo những sinh viên tốt nghiệp cóchất lượng cao.

4. Thực trạng đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng giáo dục đại học ở ViệtNam4.1. Chất lượng giáo dục đại học thấp so với yêu cầu thực tiễnGiáo dục đại học nước ta, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì chất lượng đầu ra cònthấp so với yêu cầu do các điều kiện đầu vào và quá trình dạy học còn nhiều bất cập. Dư luậntrong và ngoài hệ thống giáo dục đại học đều cho rằng chất lượng giáo dục đại học không chỉthấp so với chuẩn mực quốc tế, khu vực mà còn ngay cả yêu cầu thực tiễn trong nước. Theo bảngxếp hạng của Webometric các trường đại học ở Việt Nam năm 2012. Mỹ thống trị 3263 trườngđược xếp hạng, trường đại học top đầu với đại học Havard thì Việt Nam chỉ có 117 trường đạihọc Việt Nam không có trường nào nằm trong tốp 1000.Bảng 1. Top 20 trường đại học Việt Nam do Webometrics xếp hạng năm 2012

Đại học

1051

Đại học Quốc gia Hà Nội

500

1755

953

2171

2

1104

Trường đại học Cần Thơ

1903

738

1317

2662

3

1806

Trường đại học Khoa học& Công nghệ Hà Nội

858

2908

3234

2262

4

1923

Trường đại học Kinh tếTP. Hồ Chí Minh

3117

1749

5408

1787

1

1949

Trường đại học Thuỷ lợi

6227

240

4557

4606

6

1998

Trường đại học NôngLâm TP. Hồ Chí Minh

2155

2594

2842

2790

7

2227

Trường đại học Báchkhoa, đại học Quốc giaTP. Hồ Chí Minh

1437

2046

1993

5230

8

2744

Trường đại học Huế

5996

3378

2892

3320

9

3171

Trường đại học Đà Nẵng

3170

4411

2538

4606

10

3470

Trường đại học Sư phạmTP. Hồ Chí Minh

1187

2944

6038

5230

11

3597

Trường đại học Hà Nội

3470

3736

4691

4606

12

3653

Trường đại học Khoahọc tự nhiên

1019

4858

4217

5230

13

3736

Trường đại học Mở TP.Hồ Chí Minh

4220

2368

5861

5230

14

3984

Trường đại học Giáodục (đại học Quốc giaHà Nội)

3877

4324

7125

3320

15

4089

Trường đại học Y dượcTP. Hồ Chí Minh

4457

6011

5694

3086

16

4157

Trường đại học Kinh tếQuốc dân

7426

4607

6038

3238

17

4175

Trường đại học Duy Tân

1204

6529

3852

5230

18

4205

Trường đại học Y tếcông cộng

5798

3055

8345

3656

19

4466

Trường đại học Côngnghệ TP. Hồ Chí Minh(HUTECH)

3594

3367

6754

5230

20

4650

Trường đại học Giaothông vận tải Hà Nội

8296

4277

4159

5230

Nguồn: http://www.webometrics.info/en/Asia/VietnamChú thích: Bảng xếp hạng Webometrics là gì?

“Bảng xếp hạng trang web các trường đại học trên toàn thế giới” (Webometrics Ranking of WorldUniversities) là sáng kiến của phòng nghiên cứu Cybermetrics, thuộc Consejo Superior deInvestigaciones Científicas (CSIC), trung tâm nghiên cứu công lớn nhất của Tây Ban Nha (2). Bảng xếphạng Webometrics được công bố vào năm 2004 và được cập nhật định kỳ mỗi năm hai lần vào tháng 1 vàtháng 7 sau một tháng hoàn tất thu thập dữ liệu (3).Mục tiêu của Webometrics là “khuyến khích và thúc đẩy việc đăng tải thông tin trên mạng internet”. Mụcđích chính là hỗ trợ các sáng kiến Tiếp cận Mở (Open Access initiatives) nhằm nâng cao khả năng tiếpcận các thông tin về nghiên cứu khoa học và tài liệu học thuật xuất bản dưới dạng điện tử. Do đó bảngxếp hạng không đánh giá các yếu tố về thiết kế trang web hay số lượng truy cập (4). Như vậy, kết quả xếphạng của Webometrics chỉ hướng đến đánh giá về nội dung và mức độ hiện diện ở môi trường mạnginternet của các trường đại học thông qua trang web chứ không phải là bảng xếp hạng các trường đạihọc như Newsweek, Times Higher Education World University Rankings v.v…

Tuy nhiên, những thứ hạng mà các trường đại học Việt Nam đạt được trong thời gian vừaqua đã thể hiện những sự thay đổi tương đối mạnh mẽ trong nhận thức và hoạt động của cáctrường về những cơ hội và thách thức mà môi trường internet mang lại.Đối với Việt Nam, sự quan tâm đến các bảng xếp hạng quốc tế là cần thiết để có thể xácđịnh được vị trí của giáo dục đại học Việt Nam so với thế giới. Tuy nhiên, để sự so sánh này có ýnghĩa, chúng ta cần hiểu rõ về các tiêu chí và phương pháp xếp hạng của từng hệ thống. Sự hiểubiết này cho phép ta lựa chọn một bảng xếp hạng phù hợp để giúp ta biết vị trí của mình, đồngthời xác định những đối tác quốc tế có điều kiện tương tự với Việt Nam nhưng có được vị trí tốthơn để có thể học hỏi và cải thiện. Qua bảng xếp hạng trên có thể thấy chất lượng giáo dục đạihọc Việt Nam đang ở “vùng trũng” trên bản đồ GD thế giới, công tác đảm bảo chất lượng chưađược chú trọng. Trong nhiều năm qua, giáo dục đào tạo gặp khó khăn nhiều nhất vẫn là việcđánh giá và kiểm tra do chúng ta cứ luẩn quẩn với cách đánh giá truyền thống, nêu thành tích, íttìm ra nguyên nhân tồn tại của chính mình. Do vậy, mặc dù hàng năm mỗi trường đều có rấtnhiều loại tổng kết, báo cáo nhưng vẫn không tìm ra nguyên nhân của yếu kém, lạc hậu. Cónhiều nguồn minh chứng nhận định rằng chất lượng đầu ra (người tốt nghiệp), cũng như chấtlượng đào tạo của hệ thống chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội và chưa đáp ứngđược kỳ vọng của người sử dụng các dịch vụ mà các trường đại học cung cấp.4.2. Thiếu một hệ thống chỉ số thực hiện và chuẩn mực chất lượngCác cơ sở giáo dục đại học lạm dụng quyền tự chủ, như: Hạ chuẩn tuyển sinh; tuyển sốsinh viên nhiều hơn khả năng đào tạo mà không tính đến số lượng, chất lượng giảng viên, cơ sởvật chất; mở thêm ngành đào tạo ồ ạt mà không theo một chiến lược nào, đổ xô vào ngành “hot”mà bất chấp khả năng, mục tiêu, sứ mạng của mình, làm mất cân đối lớn trong xã hội. Nguyênnhân của vấn đề trên là giáo dục đại học vẫn chưa đưa vào sử dụng hệ thống chỉ số thực hiện vàchuẩn mực chất lượng làm cơ sở pháp lý.Một số trường đại học tư thục đang hoạt động trong điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị chưađủ (đi thuê của các trường khác) và sử dụng đội ngũ giảng viên cơ hữu từ các trường công lậpnên việc chủ động làm việc cho các trường tư thực không thường xuyên. Mặt khác, các trường tưthục không có đủ thư viện, tài liệu và sách vở phục vụ cho việc dạy và học.

Thực trạng chất lượng giáo dục đại học chưa được đánh giá thông qua các chỉ số đầu vào,chỉ số quá trình đào tạo và chỉ số kết quả đầu ra. Hầu như các trường đại học chưa có thói quensử dụng hệ thống thông tin quản lý, các thông tin chưa được xây dựng trên cơ sở số liệu thống kêmà chỉ tính toán theo chỉ số thực hiện. Một vấn đề khác nữa là hệ thống giáo dục đại học nước tachưa hình thành nề nếp nhận thông tin định kỳ từ các cơ sở giáo dục đại học theo các chỉ số quyđịnh, và các trường cũng không có thói quen nhận thông tin phản hồi từ người tốt nghiệp vàngười sử dụng lao động để có cơ sở điều chỉnh chương trình, quy trình đào tạo hiện hành; việc sửdụng hệ thống các chỉ số thực hiện và xác định các chuẩn mực chất lượng tối thiểu là cần thiết vàcấp bách.4.3. Bộ máy, cơ chế và cán bộ chưa thay đổi phù hợp với phương thức quản lý mớiHiện nay, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học vẫn còn làm thay công việccủa các trường, (mặc dù hệ thống đang chuyển sang hướng phi tập trung hóa) mà chưa tập trungvào việc ban hành các chính sách và quy chế đã được thông qua.Các cơ sở giáo dục đại học, một mặt vẫn yêu cầu nhiều quyền tự chủ hơn, nhưng chưachủ động thực hiện các công việc quản lý của mình và nhất là chưa thể hiện sự chịu trách nhiệmvề chất lượng, giáo dục đại học đào tạo. Tính chịu trách nhiệm chưa cao thể thiện ở sự công khaivới nhà nước, cán bộ, sinh viên và xã hội những hoạt động của nhà trường theo các quy trình, cơchế được xây dựng và pháp lý hóa.

KẾT LUẬNĐảm bảo chất lượng giáo dục đại học là vấn đề mới triển khai trong vòng 10 năm trở lạiđây ở Việt Nam, nên thực trạng vẫn chưa được các cấp quản lý nhà nước về giáo dục, các trườngĐH quan tâm đúng mức và chưa đi vào hệ thống. Chất lượng giáo dục luôn là mối quan tâmhàng đầu của xã hội vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Đất nướcsuy, yếu hay mạnh, phụ thuộc phần lớn vào chất lượng sản phẩm của GD. Đối với giáo dục đạihọc nước ta đã, đang phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo, và xác định là nhiệm vụ quan trọngnhất, đang tìm những giải pháp rút ngắn khoảng cách về thứ hạng trên thế giới.Làm thế nào để nâng cao vị thế cũng như chất lượng giáo dục Việt Nam. Đây là một câuhỏi lớn cần có cái nhìn toàn diện mới có thể giải đáp được. Những nhà quản lý giáo dục ở các cơsở giáo dục đại học, và các cấp quản lý nhà nước về giáo dục cần nhanh chóng có biện pháp cảithiện chất lượng giáo dục. Những yếu kém chủ yếu là công tác đảm bảo chất lượng giáo dục củachúng ta chưa được quan tâm đúng mức, chưa đồng bộ và quyết liệt tổ chức thực hiện.Để việc nghiên cứu lý luận và áp dụng vào thực tiễn hoạt động tự đánh giá trong đảm bảochất lượng giáo dục ở các trường đại học được quan tâm đúng mức và thành hệ thống mang tínhkhoa học liên tục phát triển ở nước ta, các cấp quản lý hệ thống phải thành lập tổ chức chịu tráchnhiệm đánh giá ngoài; xây dựng cơ chế đánh giá ngoài… đảm bảo chất lượng giáo dục là côngviệc quan trọng cần được tập trung triển khai đồng bộ trong thời gian tới; cần phổ biến rộng rãicơ chế và hệ thống đảm bảo chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học; cần chuẩn bị đội ngũđáp ứng được hoạt động đảm bảo chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học và toàn hệ thống.Tóm lại, nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở giáo dục đại học nước ta bây giờ, và trongtương lai là phải quyết tâm nâng cao chất lượng giáo dục, tiến gần đến chuẩn chất lượng của cácnước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Để thực hiện được nhiệm vụ trên, công tác đảmbảo chất lượng giáo dục ở các cơ sở giáo dục đại học cần phải được hình thành và phát triển, phùhợp với xu thế phát triển chung của thế giới, đồng thời là giải pháp thiết thực nâng cao chấtlượng đào tạo của các trường đại học. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các trường đại học ở cácnước có nền giáo dục phát triển trên thế giới là rất cần thiết trong tiến trình hình thành, xây dựnghệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục.

TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Nguyễn Lộc. chúng tôi (2009), Quản lý chất lượng giáo dục (sơ thảo), Viện Khoa họcGiáo dục Việt Nam.2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020, NXB Chínhtrị quốc gia.3. Quốc hội 10 (2004), Nghị quyết số 37/2004/QH10 của Quốc hội chuyên đề về GD&ĐT.4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giáchất lượng GD trường đại học, Hà Nội.5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, HàNội, 2011.7. Nhóm chuyên gia nghiên cứu cải tổ trường học của trường giáo dục thuộc đại họcHarvard-HGSE (2006), Cẩm nang cải tổ trường học (A Practical Guide to Transforming OurSchools, NXB Trẻ).8. Nguyễn Quang Giao (đại học Ngoại ngữ), Đảm bảo chất lượng GD và kinh nghiệm củamột số trường đại học trên thế giới, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 4(33), 2009.9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Tài liệu dùng cho cán bộ quản lý trường phổ thông,giám sát, đánh giá trong trường học, NXB Hà Nội.10. International Conference (June 28-29, 2012), Responding to the 21st century demandsfor Educational Leadership and Management in Higher Education, Ho Chi Minh city.11. Asian Network for Quality Congress 2013, Program and Abstract Book SwissotelLe Concord, Bangkok, Thailand, October, 2013.

Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục

MỞ ĐẦULý do chọn đề tài:Đất nước ta đang bước vào giai đoạn hết sức quan trọng và mang tính quyết định, giai đoạn đổi mới giáo dục phổ thông. Chất lượng và hiệu quả vừa là mục tiêu phấn đấu vừa là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động. Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, để đơn vị hoàn thành nhiệm vụ là vấn đề bức xúc được đặt ra cho những người làm công tác quản lý để đảm bảo cho đổi mới giáo dục thành công. Chính vì thế tìm ra biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay là công việc hết sức quan trọng đặt ra đối với các nhà trường.Đối với ngành giáo dục đào tạo, NQTƯ II khóa VIII đặt ra cho ngành và trường học là phải đổi mới sự nghiệp giáo dục để đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới: ngành giáo dục và trường học phải nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục-đào tạo phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đạt mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và giàu mạnh.Xuất phát từ thực trạng công tác quản lý trường Tiểu học Bộc Bố từ những năm học qua thực hiện cải tiến công tác quản lý. Do nhận thức và xác định rõ vai trò, nhiệm vụ công tác quản lý trong trường học nên trường Tiểu học Bộc Bố đã chú trọng đổi mới, cải cách công tác quản lý trường học từ khâu xây dựng kế hoạch đến thực hiện kế hoạch.Mặc dù trường còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và đóng trên địa bàn là một địa phương kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, đội ngũ giáo viên tay nghề không đồng đều đa số là lớn tuổi. Tuy vậy trong những năm gần đây do thực hiện khá tốt công tác cải tiến quản lý nên nhà trường đã thu được một số thành công nhất định.Xuất phát từ những nguyên nhân trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở trường Tiểu học Bộc Bố trong giai đoạn hiện nay.”Đối tượng nghiên cứu:Nghiên cứu về biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở trường học, đối tượng chính là giáo viên, nhân viên , học sinh của trường THCS Đồng Việt trong những năm gần đây.Phạm vi nghiên cứu:Do điều kiện công tác và năng lực có hạn, tôi xin trao đổi trong phạm vi trường học tôi đang công tác đó là trường Tiểu học Bộc Bố Huyện Pác Nặm Tỉnh Bắc Kạn từ năm học 2008- 2009 đến năm học 2010- 2011Phương pháp nghiên cứu:Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tự luận, nghiên cứu các văn bản, nghị quyết, chỉ thị về công tác quản lý giáo dục của các cấp. Ngoài ra còn dùng phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, quan sát và tổng hợp kinh nghiệm trong công tác quản lý trường học trong 3 năm trở lại đây.NỘI DUNGCơ sở lý luận:a. Quan điểm Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ:Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng.Đất nước đang bước vào thời kỳ đổi mới thời kỳ CNH-HĐH. Nhiệm vụ chính trị mới rất nặng nề, khó khăn và vô cùng phức tạp đặt ra nhiều vấn đề cho công tác cán bộ, đòi hỏi đảng phải xây dựng môt đội ngũ, cán bộ ngang tầm có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng, năng lực trí tuệ và tổ chức thực tiễn đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước.* Căn cứ vào Nghị quyết Hội Nghị BCH TW lần III (khóa VIII) xác định phương hướng, các chính sách và giải pháp lớn xây dựng đội ngũ cán bộ thời kỳ đến 2020.+ Xây dựng quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: đảm bảo công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Đào tạo cán bô phải đặc biệt quan tâm chăm lo gia đình, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống lành mạnh cho cán bộ, giữ gìn đoàn kết, bảo vệ chính trị, nội bộ, đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, sống thực dụng…+ Xây dựng các quy chế cán bộ: BCH TW xây dựng quy chế chung. Các cấp các ngành căn cứ vào quy định chung để xây dựng quy chế cụ thể thích hợp.+ Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị cán bộ sao cho phù hợp với thời kỳ đổi mới, phù hợp từng loại cán bộ, thực hiện thống nhất trong cả nước.Chính sách cán bộ phải thực sự khuyến khích vật chất đi đôi xây dựng lý tưởng và động viên tinh thần phù hợp với

Các Giải Pháp Cơ Bản Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học

Chúng tôi rất vui mừng vì tham dự Hội thảo có gần 150 nhà khoa học, nhà quản lí giáo dục của gần 40 cơ sở khoa học, giáo dục ở cả ba miền đất nước và một số đồng nghiệp quốc tế. Kỷ yếu Hội thảo tập hợp 42 tham luận của các tác giả trong vào ngoài nước. Tại Hội thảo, 9 tham luận được trình bày, 25 ý kiến phát biểu, tranh luận trực tiếp. Tất cả đều là những suy nghĩ rất tâm huyết, tâm đắc, hướng tới tương lai chất lượng của GDĐH Việt Nam. Tổng kết Hội thảo quả rất khó. Chúng tôi càng chưa thể kết luận Hội thảo; bởi vì các ý kiến trong kỷ yếu và tại Hội thảo phong phú, đa chiều; hơn nữa, chúng tôi có thể chưa hiểu được hết cái hồn, cái thần, tầm cao và chiều sâu của không ít ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lí giáo dục rất có uy tín. Chỉ xin hệ thống hóa một số luận điểm chính theo các nhóm vấn đề đã được nêu trong Hội thảo rất có ý nghĩa này.

Về quan điểm, phương pháp nhìn nhận, đánh giá chất lượng GDĐH và các giải pháp nâng cao chất lượng

Các tham luận, ý kiến, trực tiếp hoặc gián tiếp, đều gặp gỡ ở những quan điểm, phương pháp cơ bản; rằng phải nhìn các vấn đề trong tính hệ thống, tính toàn diện, trong sự phát triển và trong hoàn cảnh lịch sử – xã hội cụ thể ở nước ta hiện nay cũng như trên thế giới. Tách giáo dục đại học khỏi những quan điểm, phương pháp nhìn nhận ấy đều sa vào chủ quan, cực đoan. Thêm nữa, không phải trực tiếp nói về giải pháp mới là giải pháp. ở đây, có không ít về vấn đề thuộc tầm vi mô, bao trùm, định hướng cho những giải pháp nâng cao chất lượng GDĐH Việt Nam. Trong ý nghĩa ấy, nó quan trọng hơn những giải pháp cơ bản cụ thể.

Về khái niệm chất lượng giáo dục

Chúng ta đang đánh giá chất lượng GDĐH mang tính cá nhân, chủ quan. Đây là vấn đề mang tính lịch sử – cụ thể, phụ thuộc vào hàng loạt yếu tố cụ thể (khách quan – chủ quan, bên trong – bên ngoài, qui mô – điều kiện, đầu vào – quá trình – đầu ra,v.v…).

Đánh giá chất lượng giáo dục không đơn giản; nó phức tạp ngay từ chính khái niệm này. Trong cách hiểu phổ biến hiện nay, chất lượng giáo dục là mức độ phù hợp, mức độ đáp ứng mục tiêu đã được đề ra của một chương trình đào tạo.

Chất lượng giáo dục không chung chung, mà luôn gắn với mục đích, mục tiêu cụ thể, bao gồm những yếu tố cả định tính, cả định lượng và không dễ “đo”. Có những yếu tố thấy kết quả ngay, song không ít yếu tố cần độ lùi thời gian để kiểm nghiệm, thử thách. Tránh nhầm lẫn đồng nhất chất lượng giáo dục với kết quả học tập hoặc với số người sau khi tốt nghiệp đại học đi làm hay thất nghiệp, dù chúng là chỉ số của chất lượng. Có nhà nghiên cứu đã phát biểu: “Sinh viên ra trường thất nghiệp nhiều hay ít không hẳn do giáo dục yếu kém mà do nền kinh tế đất nước chưa phát triển mạnh”

Chất lượng giáo dục cũng phải được hiểu toàn diện. Nó bao gồm nhiều lĩnh vực, như :

Có cái nhìn như vậy, chúng ta sẽ có cơ sở để đánh giá chất lượng GDĐH bình tĩnh hơn, khách quan hơn.

Về những đặc điểm của GDĐH hiện nay và các mô hình của nó

Nhiều tham luận chú ý những đặc điểm sau đây của GDĐH hiện nay:

Hai đặc điểm trên không hạ thấp yêu cầu cao của tri thức và phương pháp đào tạo đại học. Đấy là bước tiến của kinh tế xã hội, sự dân chủ hóa đại học và đòi hỏi của dân trí.

GDĐH luôn song hành cùng nghiên cứu khoa học. Không nghiên cứu khoa học nghiêm túc không phải và không còn là đại học.

GDĐH mang đậm tính dân tộc, đồng thời cũng đậm tính quốc tế. Nó là đỉnh cao của tri thức quốc gia; là cửa ngõ để văn hóa, khoa học kỹ thuật quốc gia đến với thế giới và thế giới đến với quốc gia (Không ngẫu nhiên, các nguyên thủ quốc gia, khi đến thăm các nước, thường tới thăm và thuyết trình ở các đại học).

Đấy là một số đặc điểm của GDĐH. Còn mô hình các đại học hiện nay, theo một số tham luận, đang “có vấn đề”. Chúng ta cần tham khảo mô hình đại học ở các nước châu Âu và Mỹ để áp dụng vào thực tiễn Việt Nam. Đó cũng là yêu cầu của sự liên thông đại học và công nhận bằng cấp trên bình diện quốc tế. Cần chú ý rằng bậc cao học không thuộc đào tạo sau đại học, chỉ là sự hoàn thiện bậc đại học. Đào tạo Tiến sĩ mới gọi là sau đại học.

Trọng tâm của Hội thảo, như tên gọi của nó, hướng về các giải pháp nâng cao chất lượng GDĐH. Nhiều tham luận, ý kiến tâm đắc, mạnh dạn đề cập các vấn đề sau đây:

Thay đổi triệt để tư duy về GDĐH, trước hết là ở các cấp quản lý. Cụ thể là:

Cần có cái nhìn tổng thể về mọi phương diện cơ bản của GDĐH để có hệ thống quan điểm quốc gia về nó. Cái nhìn về giáo dục phải xa hơn, rộng hơn cái nhìn về kinh tế; không nên và không thể dừng lại chỉ ở 5 – 10 hay 15 năm.

GDĐH hiện nay chưa theo kịp sự thay đổi của tư duy kinh tế và đời sống kinh tế đất nước. “Đại học như là doanh nghiệp, các trường đại học công lập phải nhanh chóng trở thành những tập đoàn tri thức”. Các đại học là những “nhà sản xuất” có “sản phẩm” và “khách hàng” riêng của mình là “sinh viên” và “sản phẩm nghiên cứu khoa học” cung cấp cho các công ty, xí nghiệp và cho người học, cho xã hội. Có thế mới nâng cao tính cạnh tranh của đại học. Chế độ bao cấp hiện nay khiến “sai đâu Bộ chịu”, không đại học nào chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình. Phải coi GDĐH là dịch vụ (Lợi ích công là Giáo dục phổ thông), đẩy mạnh xã hội hóa và quốc tế hóa GDĐH dưới sự kiểm soát của Nhà nước.

Để giải bài toán qui mô – chất lượng – điều kiện, phải “phân tầng chất lượng” các đại học. Có tầng chất lượng quốc tế, tầng chất lượng quốc gia, tầng chất lượng địa phương , cộng đồng và điều kiện đảm bảo chất lượng tương ứng.

Phải xây dựng và thực hiện hệ thống đảm bảo chất lượng GDĐH, bộ tiêu chí chất lượng để kiểm tra, đánh giá đại học. Trong Kỷ yếu Hội thảo, một số nhà nghiên cứu đã trình bày hệ thống và bộ tiêu chí ấy. Đã đến lúc đại học Việt Nam áp dụng.

Nâng cao năng lực, đội ngũ quản lý và giảng viên đại học

Đây là vấn đề vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng GDĐH. Không ít tham luận thẳng thắn chỉ ra: Đội ngũ này ở các đại học còn thiếu và yếu. Việc “đôn” các cao đẳng lên đại học và mở nhiều đại học dân lập trong khi chưa chuẩn bị đủ điều kiện cần thiết, cùng với việc kỷ cương ở đại học còn bị buông lỏng, càng làm cho đội ngũ đại học Việt Nam yếu hơn.

Các tham luận đề xuất:

Phải quản lý đội ngũ trên cả 3 mặt: Qui hoạch phát triển, sử dụng, nuôi dưỡng môi trường.

Chú trọng xây dựng đội ngũ trẻ. Tăng cường cho giảng viên trẻ đi học tập ở nước ngoài. Nên giữ lại những sinh viên có khả năng nghiên cứu và tiếp tục phát triển và thi tuyển vào vị trí giảng viên ở các bộ môn.

Cán bộ quản lý phải được đào tạo bài bản, chú trọng năng lực thực tế và các tiêu chuẩn cần thiết khác.

Chế độ lương cho giảng viên đại học phải được thay đổi để khuyến khích và tạo điều kiện làm việc cho đội ngũ này.

Kỷ cương ở các đại học phải được thực hiện nghiêm.

Nhìn lại mục tiêu GDĐH, thay đổi căn bản chương trình, nội dung và phương pháp dạy – học ở đại học

Chương trình, nội dung phương pháp có ảnh hưởng quan trọng đến với chất lượng đào tạo đại học hiện nay là vấn đề nhiều tham luận quan tâm. ở góc độ nhất định, chương trình, nội dung đào tạo thế nào, chất lượng thế ấy. Tham luận của các đại biểu tập trung vào mấy vấn đề sau:

Chương trình, nội dung đào tạo đại học Việt Nam còn lạc hậu, được xây dựng chủ yếu bằng chủ nghĩa kinh nghiệm. “Việc sửa đổi đã và đang tiến hành không hiệu quả”. Phải chú ý đến khoa học xây dựng chương trình, tính cơ bản, tính hiện đại và thiết thực của nó.

Các chương trình, nội dung đào tạo còn độc lập với nhau, thiếu tính liên thông giữa các bậc học, cấp học. Điều này dẫn đến thực trạng: Học nhiều nhưng kiến thức mới không được bao nhiêu, kiến thức chưa đáp ứng tương đương trình độ.

Các môn chính trị thời lượng còn nhiều; cần thay đổi quan niệm về cách dạy để đạt hiệu quả cao và tăng cường hơn thời lượng cho ngoại ngữ, tin học, chuyên môn, thực hành.

Ở ĐH, dạy cách học, khả năng tự học, tự đọc sách, tự tìm tri thức, và dạy tư duy sáng tạo, khả năng diễn đạt, giao tiếp thực hành quan trọng hơn việc dạy tri thức.

Không phải trường đại học nào, bộ môn và giảng viên nào cũng nên viết và viết được giáo trình. “Công việc của trường đại học là phải xây dựng được những thư viện lớn, mua thật nhiều sách, tổ chức dịch thuật nhiều tài liệu chuyên môn. Công việc của thầy giáo là giới thiệu và hướng dẫn sinh viên những tài liệu bắt buộc hoặc cần phải đọc”. Mặt khác, công nghệ thông tin phải góp phần tích cực và hiệu quả hơn trong phương pháp dạy và học.

Tăng cường cơ sở vật chất và tạo những điều kiện, chủ yếu là cơ chế, để các đại học nâng cao khả năng đào tạo, nghiên cứu

Các ĐH Việt Nam còn rất nghèo, đặc biệt là quĩ đất, các phòng thí nghiệm và thư viện. Khuôn viên các ĐH Việt Nam quá nhỏ bé, thua các ĐH thế giới rất xa. Chính phủ cần có quyết sách nhanh và mạnh, cấp đất cho các ĐH.

Học phí 125 USD/ SV/ năm học cúa các ĐH Việt Nam hiện nay là cực kì thấp so với học phí ĐH Quốc tế thuộc ĐHQG chúng tôi (2000-2500 USD), càng thấp so với ĐH Quốc tế RMIT tại Việt Nam. Đã đến lúc phải tính toán đủ chi phí đào tạo, phần Nhà nước hỗ trợ bao nhiêu, còn lại người học phải đóng, để các ĐH có nguồn lực tăng cường cơ sở vật chất.

Nhà nước qui định để các doanh nghiệp, xí nghiệp trong và ngoài nước có sử dụng nguồn nhân lực đại học nộp mức thuế phù hợp cho đào tạo nhân lực để bổ sung vào ngân sách cho GDĐH. Đây cũng là vinh dự đóng góp cho GDĐH của các đơn vị này.

Các cấp quản lí phải có những cơ chế về đào tạo, nghiên cứu, tài chính theo hướng phân cấp triệt để quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước xã hội cho các ĐH.

Tại Hội thảo, vai trò của báo chí đối với GD nói chung, GDĐH nói riêng cũng được đề cập tới. Báo chí luôn đồng hành cùng GD, vì GD. Để làm tốt điều đó, báo chí phải tôn trọng tôn chỉ, mục đích; đưa tin khách quan, chính xác; đổi mới cách thức, tư duy làm báo; tăng cường thông tin về những điển hình tiên tiến, những nhân tố mới tích cực.Việc thông tin thiếu khách quan, không chính xác, dù nhỏ, cũng để lại hậu quả khá lớn, gây hoang mang dư luận, nhân dân lo lắng.

Từ Hội thảo này, chúng tôi kiến nghị với các cấp quản lí một số vấn đề sau đây:

Chỉ đạo nghiên cứu để đổi mới mạnh mẽ tư duy về GDĐH, đặc biệt về quan niệm quốc gia: GDĐH là lợi ích công hay dịch vụ xã hội; “đại học là doanh nghiệp tri thức, khoa học” dưới sự quản lí của Nhà nước?

Tham khảo kinh nghiệm các nước để rút ngắn khoảng cách ĐH Việt Nam với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.

Nhanh chóng tăng cường cơ sở vật chất và và phân cấp triệt để, để tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội cho các ĐH.

Đánh giá đúng thực trạng của GDĐH Việt Nam để tránh bi quan hoặc quá chủ quan. Điều cần nhất lúc này là tìm các giải pháp và điều kiện thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng GDĐH Việt Nam, cùng với quyết tâm cao để thực hiện.

Các tham luận trong Kỷ yếu và trình bày tại Hội thảo là những ý kiến rất tâm huyết, sâu sắc, bổ ích cho các cấp quản lý, các trường đại học và tất cả chúng ta – những người trong cuộc. Chúng ta đã cất tiếng nói tâm huyết, trăn trở, đầy trách nhiệm của mình. Điều rất nổi bật là chúng ta đã phát biểu rất thẳng thắn và tâm huyết. Riêng với Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và Báo GD&TĐ, đây là những tư liệu, những gợi ý quan trọng để chúng tôi góp phần xây dựng cơ quan, xây dựng ngành.

PGS. TSKH Bùi Mạnh Nhị -(Hiệu trưởng trường ĐHSP TP.HCM)