Top 2 # Xem Nhiều Nhất Thực Trạng Và Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Môi Trường Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Các Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Môi Trường

Sáng ngày 07 tháng 01 năm 2019 tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quản lý và Quản trị An ninh phi truyền thống (NSMS), Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB), ĐHQGHN đã phối hợp với trường Đại học Tổng hợp Saxion, Hà Lan tổ chức Hội thảo chuyên đề “Các giải pháp đảm bảo An ninh môi trường – Kinh nghiệm Hà Lan và Việt Nam”.

Tham dự Hội thảo có Đại diện Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam, các Giáo sư, Chuyên gia về vấn đề bảo vệ Môi trường của ĐH Tổng hợp Saxion, Hà Lan. Về phía Việt Nam có đại diện Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, đại diện Sở Tài Nguyên và Môi trường TP Hà Nội và các tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, đại diện Cục Cảnh sát môi trường, Bộ Công an, Khoa Cảnh sát môi trường – Học viện Cảnh sát nhân dân, Phòng Cảnh sát môi trường CATP Hà Nội cùng lãnh đạo Khoa Quản trị và Kinh doanh, Trung tâm NSMS và các học viên chương trình Thạc sĩ Quản trị An ninh phi truyền thống của HSB.

Hội thảo đã mang đến cho những người tham dự các thông tin về tầm nhìn, nhiệm vụ, chiến lược của Chính phủ Hà Lan trong việc quản lý An ninh nguồn nước; khung hợp tác giữa chính phủ Hà Lan và các công ty, tổ chức đầu tư đang áp dụng công nghệ mới về xử lý nước, cũng như giới thiệu các công nghệ mới hiện đang được áp dụng tại Hà Lan để đảm bảo an ninh nguồn nước.

Giáo sư Harry Futselaar thuộc ĐH Saxion, người có nhiều năm nghiên cứu về vấn đề công nghệ nguồn nước cho biết Hà Lan đã phát triển nhiều công nghệ về bảo vệ nguồn nước và được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Hà Lan cũng đã hỗ trợ Việt Nam trong việc áp dụng một số công nghệ xử lý nước thải ở một số lưu vực sông và thành phố lớn.

Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quản lý và Quản trị An ninh phi truyền thống (NSMS) trực thuộc Khoa Quản trị và Kinh doanh, ĐHQGHN được thành lập với nhiệm vụ tập trung nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn về kỹ năng, kiến thức mới về quản trị an toàn giao thông, quản trị an ninh đô thị, quản trị an ninh mạng, quản trị an ninh biển, quản trị an ninh biên giới, quản trị an ninh hàng không, quản trị an ninh trường học, quản trị an ninh báo chí – truyền thông, quản trị an ninh ngoại giao, quản trị an ninh quân sự, quản trị an ninh tôn giáo, quản trị phòng chống tội phạm, quản trị phòng chống thiên tai,…

Trung tâm đồng thời thực hiện hợp tác quốc tế với các nước, các tổ chức quốc tế về quản lý, quản trị xã hội và quản lý, quản trị các lĩnh vực, quản trị an ninh phi truyền thống, tham gia Hiệp hội NTS – ASIA hiện đang có 31 Trung tâm, viện nghiên cứu thành viên của các nước Châu Á. Tham gia đào tạo Chương trình Thạc sĩ Quản trị An ninh phi truyền thống và các chương trình đào tạo khác của Khoa Quản trị và Kinh doanh và ĐHQG Hà Nội.

Trước mắt Trung tâm này sẽ tập trung vào nghiên cứu, giải quyết các vấn đề quản trị an ninh kinh tế, quản trị an ninh doanh nghiệp, quản trị an ninh môi trường, quản trị an ninh trường học; chuẩn bị cho thành lập Diễn đàn An ninh phi truyền thống Việt Nam trong năm 2020 Việt Nam đảm nhận Chủ tịch ASEAN.

Một số hình ảnh tại Hội thảo “Các giải pháp đảm bảo An ninh môi trường – Kinh nghiệm Hà Lan và Việt Nam” được tổ chức tại HSB:

Thực Trạng Và Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Kcn

Được khởi nguồn từ năm 1991 với việc thành lập KCX Tân Thuận, đến nay, cả nước đã có 173 KCN, KCX đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 43.718 ha. Tổng hợp từ các địa phương, hiện đã có 105 KCN xây dựng và đi vào vận hành nhà máy xử lý nước thải, còn lại đang trong giai đoạn xây dựng và giải phóng mặt bằng. Như vậy, so với những năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006-2010, tỷ lệ các KCN có công trình xử lý nước thải tập trung được vận hành đã tăng lên đáng kể (từ gần 35% trong năm 2006 lên hơn 61% tính cho đến nay). Dự kiến kế hoạch 5 năm 2011-2015 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2015, 100% các KCN đã đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

Trong quá trình phát triển, các KCN đã có nhiều đóng góp quan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của nước ta; đã và đang là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp; tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp; nhận chuyển giao công nghệ mới, đẩy mạnh sản xuất tăng nguồn hàng xuất khẩu; tạo việc làm và thu nhập cho người lao động; việc phát triển KCN theo quy hoạch đã tránh được sự phát triển tự phát, phân tán, tiết kiệm được đất và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư phát triển hạ tầng, đặc biệt là góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do ch t thải công nghiệp gây ra.

Năm 2008, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN đạt 33,2 tỷ USD (chiếm 38% GDP của cả nước); giá trị xuất khẩu của các KCN liên tục tăng trong những năm gần đây (năm 2006 đạt khoảng 8 tỷ USD, năm 2007 đạt 10,8 tỷ USD, năm 2008 đạt 16,2 tỷ USD và chiếm tỷ trọng khoảng 25,8% trong tổng giá trị xuất khẩu của cả nước). Tổng hợp báo cáo từ các địa phương cho thấy, tỷ suất đầu tư các dự án FDI/ha đất công nghiệp đã cho thuê đạt 2,55 triệu USD, trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có tỷ suất đầu tư trung bình của các dự án FDI/ha đất công nghiệp đã cho thuê cao hơn mức trung bình của cả nước, lần lượt là 3,29 và 3,22 triệu USD. Tỷ suất đầu tư các dự án có vốn đầu tư trong nước (DDI)/ha đất công nghiệp đã cho thuê đạt gần 16 tỷ đồng.

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực nêu trên, quá trình phát triển các KCN cũng đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường, nếu không được giải quyết kịp thời thì có thể gây ra hậu quả xấu tới môi trường và tác động tiêu cực đến sức khỏe của cộng đồng dân cư.

Thực trạng về môi trường KCN

Về xử lý nước thải: Việc xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung trong KCN đã được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm thúc đẩy. Tại một số khu vực, tỷ lệ các KCN có công trình nhà máy xử lý nước thải được xây dựng và đi vào hoạt động đạt tỷ lệ cao, như vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ; đồng thời, số lượng các doanh nghiệp trong KCN, KCX đấu nối vào nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt tỷ lệ cao (khoảng 85%).

Về khí thải: Do được quan tâm, đánh giá, xem xét ngay từ giai đoạn lập dự án đầu tư nên nhiều doanh nghiệp trong KCN, KCX đã thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống xử lý khí thải. Một số ngành nghề có mức độ xả thải khí thải cao như sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí đã chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa. Vì vậy, việc ô nhiễm khí thải, tiếng ồn được hạn chế.

Về chất thải rắn và chất thải nguy hại: Việc thực hiện các quy định về xử lý chất thải rắn được hầu hết các doanh nghiệp nghiêm túc chấp hành. Đa số các doanh nghiệp trong KCN, KCX đã có biện pháp phân loại và lưu giữ tạm thời trước khi thu gom đến nơi xử lý. Một số KCN, KCX đã tổ chức thu gom, xử lý chất thải tập trung. Do vậy, về cơ bản, việc thu gom, xử lý chất thải rắn được đảm bảo.

Việc đăng ký nguồn chất thải nguy hại theo quy định tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường được quan tâm đôn đốc thực hiện. Tại một số địa phương, việc thu gom, xử lý chất thải nguy hại từ các KCN, KCX được triển khai tốt.

Về nước thải: Đa số các KCN, KCX đều phát triển sản xuất đa ngành, đa lĩnh vực nên phát thải nhiều loại nước thải khác nhau. Việc gom và xử lý chung là khó khăn. Mặc dù số lượng các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các BQL các KCN, tại khu vực xung quanh KCN, KCX ở một số địa phương, một số tiêu chuẩn nước thải vượt quá quy định cho phép. Nguyên nhân là do việc vận hành và kiểm tra vận hành nhà máy xử lý nước thải chưa có quy định pháp luật cụ thể, cũng như chưa có chế tài xử phạt có tính răn đe cao cho nên một số KCN không vận hành các trạm xử lý nước thải liên tục.

Về khí thải: Mặc dù các doanh nghiệp đã có ý thức thực hiện nhưng trang thiết bị phục vụ công tác này chủ yếu còn sơ sài, đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của khí thải gây ra đối với môi trường xung quanh. Chất lượng môi trường không khí tại các KCN, đặt biệt là các KCN được thành lập trên cơ sở các doanh nghiệp cũ có sẵn với công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải đang bị suy giảm. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trong các cơ sở sản xuất của các KCN cũng là vấn đề cần được quan tâm. Cụ thể như các đơn vị chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất đang gây ô nhiễm tại chính các cơ sở sản xuất đó và đã tác động không nhỏ đến sức khỏe người lao động.

Về chất thải nguy hại và chất thải rắn: Một số doanh nghiệp trong KCN, KCX không thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu giữ chất thải, gây ô nhiễm cục bộ. Tại một số địa phương, còn chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải nguy hại cho doanh nghiệp thứ cấp trong KCN, KCX, nên chất thải nguy hại không được quản lý, xử lý theo quy định, nảy sinh nguy cơ về ô nhiễm môi trường.

Về chất thải rắn, tại một số KCN, KCX, chưa có nơi tập kết chất thải rắn để đưa đi xử lý, vì vậy, khó khăn trong việc thu gom, xử lý. Một số doanh nghiệp trong KCN, KCX tự lưu giữ và xử lý không đảm bảo tiêu chuẩn.

ở một số địa phương, việc thực hiện ủy quyền cho BQL các KCN, KKT trong quản lý môi trường chưa triệt để. Do vậy, nảy sinh một số vấn đề như: cơ quan này cấp phép về môi trường trong khi cơ quan khác là đơn vị kiểm tra (ví dụ: UBND huyện cấp cam kết bảo vệ môi trường, BQL các KCN, KCX, KKT kiểm tra việc thực hiện cam kết); việc thanh, kiểm tra về môi trường chồng chéo và không hiệu quả.

Ý thức doanh nghiệp trong KCN, KCX, KKT về bảo vệ môi trường đã được cải thiện. Tuy nhiên, việc đầu tư cho công tác môi trường làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận đạt được. Do vậy, tại một số nơi, việc bảo vệ môi trường chưa được doanh nghiệp tự giác thực hiện, vẫn cần được tuyên truyền thường xuyên, đồng thời có cơ chế thanh, kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật về môi trường.

Để đảm bảo hiệu quả công tác bảo vệ môi trường KCN trong thời gian tới, trong bài viết này, xin đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường KCN để bạn đọc cùng chia sẻ.

Về công tác quy hoạch: Các địa phương cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch các KCN để đảm bảo các quy hoạch KCN, KCX, KKT đồng bộ, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; cần xem xét lại mối quan hệ qua lại giữa quy hoạch phát triển KCN tại mỗi vùng kinh tế với quy hoạch của các ngành kinh tế – xã hội khác trong vùng; quy hoạch phát triển KCN tại mỗi vùng cần phù hợp với điều kiện tài nguyên, đặc điểm kinh tế – xã hội, triển vọng thị trường. Quá trình lập quy hoạch phải tính ngay tới các tác nhân gây ô nhiễm môi trường và đề xuất các giải pháp giảm thiểu và bảo vệ môi trường. Việc thành lập và phát triển KCN phải đảm bảo tuân thủ đúng với quy hoạch đã được phê duyệt.

Về thu hút đầu tư: Thu hút đầu tư vào KCN theo hướng ưu tiên những ngành công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, đảm bảo cơ cấu ngành nghề phù hợp với khả năng và thực tế giải quyết ô nhiễm của địa phương; thu hút có trọng điểm để phát triển các ngành kinh tế chủ lực cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong bố trí nhà máy, xây dựng phương án bảo vệ môi trường.

Chủ đầu tư KCN chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của KCN; xây dựng và hoàn thiện các hệ thống xử lý nước thải tập trung, các hạng mục này cần được thiết kế đúng và phù hợp điều kiện thực tế, xây dựng và lắp đặt đúng thiết kế, duy trì hoạt động ổn định và hiệu quả trong suốt quá trình hoạt động của KCN; tham gia ứng phó các sự cố môi trường trong KCN. Chủ đầu tư KCN cần bố trí địa điểm và xây dựng các khu vực lưu giữ tạm thời và trung chuyển các chất thải rắn, chất thải nguy hại từ các doanh nghiệp trong KCN.

Tất cả các doanh nghiệp trong KCN có nước thải phải xử lý sơ bộ đạt tiêu chuẩn đầu vào của hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi thải vào hệ thống thu gom nước thải của KCN, trường hợp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung thì từng doanh nghiệp phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài. Các doanh nghiệp có phát sinh khí thải phải có hệ thống xử lý khí thải đạt quy chuẩn Việt Nam trước khi xả thải. Các doanh nghiệp trong KCN có phát sinh chất thải nguy hại phải có hợp đồng với các đơn vị có chức năng và đủ năng lực để thu gom và xử lý đúng cách.

Về pháp luật môi trường: Rà soát, bổ sung và tiếp tục điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về môi trường, trong đó hướng dẫn cụ thể, quy định rõ các nhiệm vụ cần thực hiện trong công tác bảo vệ môi trường cho các cơ quan quản lý nhà nước; ban hành, cập nhật các tiêu chuẩn môi trường cho phù hợp với thực tế. Đối với các công trình xử lý chất thải của doanh nghiệp thì cần quy định rõ về tiêu chuẩn, chế độ vận hành để thống nhất thực hiện, đảm bảo được chất lượng của các công trình, nhất là đối với nhà máy xử lý nước thải tập trung của các KCN, khắc phục tình trạng vận hành không thường xuyên, công nghệ chưa phù hợp như hiện nay; hướng dẫn quản lý vận hành các trạm xử lý nước thải tập trung.

Về đầu tư vốn: Huy động tổng hợp các nguồn vốn đầu tư các công trình môi trường của KCN, bao gồm: vốn doanh nghiệp phát triển hạ tầng, vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng (kể cả Quỹ Môi trường – Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường), vốn ODA, vốn từ ngân sách nhà nước, trong đó, vốn doanh nghiệp phát triển hạ tầng là chủ yếu.

Ban hành cơ chế, chính sách để tạo cơ sở cho việc hỗ trợ về tài chính, ưu đãi đầu tư đối với việc đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp. Ngoài nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung các KCN, KCX quy định tại Quyết định 43/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, xem xét huy động, bố trí nguồn vốn với quy mô thích hợp để thực hiện tín dụng ưu đãi cho đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về môi trường trong các KCN, đồng thời xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Đối với việc đầu tư nhà máy xử lý nước thải tập trung, cần có những chế tài có tính bắt buộc đối với doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN, KCX. Ví dụ như: coi việc xây dựng công trình xử lý chất thải tập trung là một trong những điều kiện khi thực hiện các ưu đãi về thuế, đất đai cho chủ đầu tư cơ sở hạ tầng KCN, là điều kiện để cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các doanh nghiệp hoạt động trong KCN, KCX.

Chủ động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường cho các doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN cũng như các doanh nghiệp thứ cấp để giúp các doanh nghiệp ý thức rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong và ngoài KCN, KKT; tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường các KCN; khuyến khích xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường.

Đẩy mạnh hoạt động thi đua khen thưởng trong công tác bảo vệ môi trường KCN, KCX, KKT, động viên kịp thời các doanh nghiệp, BQL KCN, KCX, KKT thực hiện tốt công tác này.

Thực Trạng Và Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Làng Nghề (Kỳ 2)

Việc đầu tư xây dựng cụm công nghiệp tạo thuận lợi để di dời các cơ sở sản xuất làng nghề, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường. (Trong ảnh: Sản xuất hàng may mặc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Phương Ngọc, Cụm công nghiệp An Xá).

Thời gian tới, các địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật trong công tác BVMT tại các làng nghề. Tăng cường công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án BVMT, cam kết BVMT và giám sát việc đầu tư hệ thống xử lý chất thải đối với các cơ sở sản xuất trong làng nghề. Tập trung triển khai xây dựng, thực hiện quy hoạch, di dời, chuyển đổi ngành nghề sản xuất theo ba hướng: Quy hoạch tập trung, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mới cụm công nghiệp làng nghề, bao gồm quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đồng bộ về hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp nước, thông tin liên lạc, hệ thống thu gom và xử lý chất thải; quy hoạch khu sản xuất phù hợp với đặc thù loại hình làng nghề để di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư, đồng thời nâng cấp, bổ sung hạ tầng cụm công nghiệp làng nghề hiện có bảo đảm các quy định về BVMT. Quy hoạch sản xuất ngay tại hộ gia đình những sản phẩm thủ công truyền thống phù hợp, bố trí không gian hợp lý nhằm cải thiện điều kiện sản xuất và vệ sinh môi trường mà không cần di dời, hạn chế tối đa việc cơi nới, xây nhà cao tầng, di dời các công đoạn sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng vào cụm công nghiệp làng nghề. Phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường, sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khoa học và công nghệ cùng các nguồn đầu tư khác cho công tác BVMT, khắc phục, xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề, đảm bảo kinh phí phân bổ cho công tác BVMT làng nghề hàng năm không dưới 10% tổng kinh phí sự nghiệp môi trường. Tập trung đầu tư cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới hệ thống xử lý nước thải tập trung, khu tập kết chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại cho các làng nghề đã được công nhận, ưu tiên đầu tư cho các làng nghề truyền thống. Toàn tỉnh phấn đấu đến năm 2020 cơ bản kiểm soát tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề, không phát sinh thêm các làng nghề gây ô nhiễm nghiêm trọng mới. Di dời toàn bộ các cơ sở sản xuất thuộc nhóm tái chế giấy, kim loại, nhựa, nhuộm và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoạt động trong khu dân cư vào cụm công nghiệp làng nghề. Phấn đấu 100% cụm công nghiệp làng nghề tuân thủ đầy đủ các quy định về BVMT./.

Quảng Ninh: Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường

Thực hiện Chỉ thị 25/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong những năm qua, Quảng Ninh đã thực hiện đồng loạt nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường. Ý thức chấp hành các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường của các cơ sở, doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Các điểm nóng về môi trường đã được quan tâm giải quyết và được theo dõi giám sát chặt chẽ.

Theo đó, trong thời gian qua, Quảng Ninh cơ bản đã triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung theo chỉ đạo và đạt một số kết quả tích cực, công tác môi trường toàn tỉnh dần được kiểm soát, nhận thức của cộng đồng dân cư về bảo vệ môi trường ngày càng được nâng lên.

Cụ thể, tỉnh đã ban hành các quy chuẩn kỹ thuật môi trường của địa phương, trong đó tập trung vào các lĩnh vực có nguy cơ gây ô nhiễm cao và các đô thị đông dân cư, khu vực có hệ sinh thái nhạy cảm cần được bảo vệ.

Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng đã tập trung xử lý triệt để, di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư, chuyển vào các khu công nghiệp, đồng thời yêu cầu tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; buộc các đơn vị có quy mô xả lớn lắp đặt ngay các thiết bị kiểm soát, giám sát hoạt động xả thải theo quy định của pháp luật về truyền số liệu trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường.

Đến thời điểm hiện tại, Quảng Ninh đã hoàn thành xử lý 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và trên địa bàn tỉnh không có cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mới phát sinh; 5/5 KCN (KCN Cái Lân, KCN Hải Yên, KCN Đông Mai, KCN Việt Hưng, KCN Hải Hà- giai đoạn 1) hoạt động và đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Quảng Ninh cũng đã lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc dừng tiếp nhận rác tại 3 bãi rác: Đèo Sen, Hà Khẩu, Quang Hanh, đồng thời thực hiện cải tạo phục hồi môi trường các bãi rác trên đảm vệ sinh theo đúng quy định.

Đối với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng Công ty Đông Bắc đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc có hoạt động sản xuất kinh doanh than trên địa bàn thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát, phát hiện xử lý kịp thời không để xảy ra hiện tượng khai thác, vận chuyển, chế biến, tiêu thụ than trái phép. Riêng ở tất cả các kho chế biến, khu vực sàng tuyển than đều được xây tường bao kiên cố, có hệ thống phun sương dập bụi, bê tông hóa toàn bộ nền kho, dùng bạt che phủ đảm bảo không thất thoát than khi có mưa to, trồng cây xanh cải tạo phục hồi môi trường để hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của các hoạt động khai thác mỏ tới môi trường.

Hiện nay, Tổng Công ty Đông Bắc đang thực hiện công tác giải phóng mặt bằng khu vực xây dựng tuyến băng tải than tại xã Hồng Thái Tây (TX Đông Triều); cầu vượt quốc lộ 18 tại Cảng Km6 và Cảng Khe Dây (TP Cẩm Phả). Tập đoàn TKV đã hoàn thành đầu tư tất cả các tuyến băng tải vận chuyển ra cảng theo cam kết với tỉnh. Đồng thời đã hoàn thành xây dựng hệ thống cấp nước chống bụi khu vực bãi thải Nam Khe Tam – Đông Khe Sim và bãi thải Đông Cao Sơn.

Ngoài ra, ngành than đang tích cực hoàn thiện Đề án đảm bảo môi trường cấp bách ngành than giai đoạn 2016 – 2020, đẩy nhanh tiến độ cải tạo phục hồi môi trường các khu vực đã kết thúc khai thác, đổ thải…

Để tăng cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường, UBND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các cơ quan chuyên môn, UBND các địa phương thường xuyên kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các dự án trong quá trình thi công xây dựng cũng như đi vào hoạt động.

Đặc biệt, Quảng Ninh đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thanh kiểm tra Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với một số cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Qua các đợt thanh tra, kiểm tra đã hướng dẫn doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục hồ sơ sau thẩm định còn thiếu như lập kế hoạch quản lý môi trường; kế hoạch chạy vận hành thử nghiệm công trình xử lý môi trường; hồ sơ đề nghị kiểm tra, xác nhận việc đã hoàn thành các công trình xử lý môi trường; hồ sơ đề nghị kiểm tra xác nhận việc đã hoàn thành công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của dự án.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hiện tại Quảng Ninh vẫn còn tồn tại, vướng mắc như: Công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong việc quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu chưa được thường xuyên.

Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết, để khắc phục những tồn tại nêu trên, thời gian tới, tỉnh Quảng Ninh sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đổi mới đến các tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp, nhân dân nhằm nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, qua đó có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường; lồng ghép nội dung ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội địa phương và quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; phối hợp giữa các địa phương trong quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, bố trí, quản lý và sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường đúng mục đích; đa dạng hóa các nguồn đầu tư; tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường…

Tỉnh Quảng Ninh cũng kiến nghị với Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm nghiên cứu, xây dựng, ban hành quy định về việc đốt, khởi động lò của các nhà máy nhiệt điện, nhà máy xi măng để hạn chế những tác động xấu đến môi trường và cảnh quan đô thị; ban hành quy định về ngưỡng chất thải nguy hại mới, đồng thời nghiên cứu, ban hành quy định và hướng dẫn thực hiện công tác bảo vệ môi trường đối với khu vực nông thôn.