Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Phát Triển Giáo Dục Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Hiến Kế Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi
  • Giáo Viên Vùng Cao Chia Sẻ Thực Trạng Công Tác Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Chương 3 Đề Xuất Một Số Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Song Ngữ Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Quảng Bình
  • Bàn Về Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế
  • Những thành tựu bước đầu trong công tác phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay

    Nhờ có chủ trương, chính sách đúng đắn và phù hợp của Đảng, Nhà nước, đến nay đã có nhiều mô hình trường học dành cho con em đồng bào các dân tộc, như: Trường thanh niên dân tộc, trường vừa học vừa làm, trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, trường dự bị đại học dân tộc, trường thiếu sinh quân… Hệ thống giáo dục từ mầm non đến trung học phổ thông được củng cố và phát triển, bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc.

    Theo kết quả điều tra về tình hình kinh tế – xã hội 53 dân tộc thiểu số của Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc, tính đến ngày 1/8/2015: số lượng người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết là 7.465.062 người (đạt 79,8%); số lượng người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông là 7.416.732 người (đạt 79,2%); tỷ lệ người có việc làm từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo, đạt 6,2%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học, đi học đúng cấp đạt 70,2%; tổng số trường học của các xã vùng dân tộc thiểu số là 17.722. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong năm học 2014-2015, cả nước đã có 304 trường phổ thông dân tộc nội trú với gần 64.697 học sinh thuộc 45/53 dân tộc thiểu số theo học, trong đó có 215 trường cấp huyện, 89 trường cấp tỉnh. Năm học 2014 – 2022 số học sinh tiểu học là con em dân tộc là 1.316.048 em; trung học cơ sở là 816.995 em; trung học phổ thông có 296.868 em.

    Cùng với sự phát triển của hệ thống giáo dục phổ thông, đến nay đã có 4 trung tâm đại học khu vực: Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Hệ thống trường đào tạo nghề, trường cao đẳng được củng cố và phát triển. Hiện cả nước, có trên 13 nghìn người dân tộc thiểu số có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng; hơn 78 nghìn người có trình độ trung học chuyên nghiệp,… đã thực hiện cơ bản sự nghiệp xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; quy mô đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục tăng với tốc độ cao; trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của lao động từng bước được nâng lên; tiềm lực và trình độ khoa học – công nghệ đã có bước phát triển đáng kể. Hệ thống các trường dự bị đại học và các khoa dự bị đại học dân tộc đang được phát triển cả về quy mô đào tạo và cơ sở vật chất. Các chương trình dạy tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số bước đầu được quan tâm. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn được một số sách giáo khoa dạy chữ viết dân tộc Khmer, chữ viết dân tộc Mông, dân tộc Mnông, dân tộc Bana, dân tộc Êđê, dân tộc Chăm, Hoa… Chế độ cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, có nhiều dân tộc thiểu số lần đầu tiên có học sinh được cử tuyển đi học các trường trung cấp, cao đẳng, đại học.

    Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

    Trước yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, đồng thời, nhằm thực hiện chính sách “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”, xoá dần khoảng cách chênh lệch về giáo dục giữa “miền ngược và miền xuôi”, đòi hỏi công tác giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số phải tiếp tục được quan tâm, đầu tư hơn nữa. Thực trạng đói nghèo, kém phát triển, chưa nhận thức và sự hiểu biết về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; còn nghe theo kẻ xấu lừa phỉnh gây mất ổn định an ninh chính trị ở một số vùng dân tộc hiện nay có nguyên nhân chủ yếu là do trình độ học vấn của đồng bào còn hạn chế, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương. Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện còn thấp (khoảng 11,32%). Trong tổng số 48.200 cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 45,7%, tiểu học 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học. Đội ngũ cán bộ thôn, bản, phum, sóc năng lực, trình độ còn thấp hơn nhiều. Bên cạnh đó, lực lượng trong độ tuổi lao động của vùng dân tộc thiểu số đã qua đào tạo mới đạt 10,5%. Nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số có trình độ đại học và trên đại học mới đạt 2,8%, riêng người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 1,1%, thấp hơn 4 lần so với toàn quốc1.

    Nhìn chung, mặt bằng giáo dục, trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn có khoảng cách đáng kể với dân tộc đa số. Chất lượng nguồn nhân lực đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số thiếu về số lượng và một bộ phận yếu về trình độ chuyên môn. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số so với mặt bằng chung cả nước, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn cao và có nguy cơ ngày càng rộng ra, thể hiện ở tỷ lệ biết chữ của trẻ em dân tộc thiểu số chỉ đạt tỷ lệ 78% so với tỉ lệ biết chữ chung, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trên 30% (hiện còn hơn 2.000 xã và trên 18.000 thôn, bản đặc biệt khó khăn). Tỷ lệ mù chữ, tái mù chữ trong đồng bào còn khá cao, tỷ lệ người có trình độ học vấn cao là rất thấp (dân tộc Brâu là dân tộc chưa có người đi học đại học).

    Để mọi người dân có trình độ học vấn cao hơn đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước bằng việc mở trường, lớp, đào tạo giáo viên… Ở những vùng có địa hình thuận lợi, như các tỉnh đồng bằng, trung du dân cư đông, việc mở trường lớp thuận lợi, lại được ngành giáo dục quan tâm hơn nên trình độ học vấn của người dân được nâng cao. Ngược lại, ở vùng miền núi là nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nơi có địa hình phức tạp, không thuận lợi, cơ sở vật chất, trường lớp thiếu thốn, nên công tác phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn của đồng bào còn nhiều hạn chế. Do vậy, trình độ học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số thấp hơn trình độ học vấn của đồng bào dân tộc đa số; hoặc trình độ học vấn của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới thấp hơn trình độ học vấn của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở những vùng thuận lợi.

    Quá trình thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số còn nhiều thiếu sót từ chương trình sách giáo khoa, phương pháp giáo dục và dạy học đến chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đội ngũ giáo viên thường thiếu và yếu, chính sách sử dụng, đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên dạy ở các vùng dân tộc thiểu số còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo động lực về vật chất và tinh thần để khuyến khích, thu hút giáo viên có tâm huyết với nghề, với sự phát triển sự nghiệp giáo dục.

    Một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển giáo dục ở nhiều vùng dân tộc thiểu số mà ngành giáo dục chưa quan tâm thỏa đáng là do vấn đề bất đồng ngôn ngữ trong quá trình dạy và học. Trẻ em còn chưa thông thạo tiếng mẹ đẻ lại phải học tiếng phổ thông. Vì học không hiểu, học kém, thua bạn bè, gây ra tâm lý chán nản, sợ học, sợ phải đến trường nên nhiều học sinh đã bỏ học dẫn đến tình trạng mù chữ và tái mù chữ.

    Một số giải pháp phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay

    Chúng ta không thể chờ kinh tế phát triển mới phát triển giáo dục. Giáo dục phải đi trước một bước, chúng ta đã có kinh nghiệm phát triển sự nghiệp giáo dục trong những ngày đầu giành độc lập, khi nạn đói làm hàng triệu người chết nhưng do làm tốt công tác vận động, tuyên truyền phong trào “bình dân học vụ” đã khơi dậy truyền thống hiếu học của nhân dân ta. Phát triển giáo dục, đào tạo cho đồng bào dân tộc để đồng bào có điều kiện vươn lên hoà nhập cùng đồng bào cả nước và thực hiện quyền bình đẳng của mình về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Vì vậy, cần có sự giải quyết một cách khoa học và phải xem đó là nhiệm vụ cấp bách. Để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, các cấp, các ngành cần quan tâm những vấn đề sau:

    Một là: tăng nguồn đầu tư cho công tác phát triển giáo dục ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có dân số ít. Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách của Đảng và Nhà nước với hoạt động của ngành giáo dục và sự đóng góp của toàn dân cho sự nghiệp giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, xã hội hoá giáo dục để toàn dân cùng quan tâm đóng góp một cách thiết thực là một trong những biện pháp hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

    Hai là: phải đào tạo đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu số có trình độ cả về sư phạm và kiến thức cho từng vùng, từng dân tộc. Bên cạnh việc đào tạo, cần xây dựng chế độ đãi ngộ và sử dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, sao cho họ yên tâm với nghề nghiệp, gắn bó với sự nghiệp “trồng người” ở chính quê hương của họ.

    Ba là: ngành giáo dục phải xây dựng chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học của từng dân tộc, từng vùng trên cơ sở 2 ngôn ngữ (ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ phổ thông).

    Bốn là: có chính sách đặc thù đối với con em đồng bào các dân tộc sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, nếu không thi được vào các trường trung cấp, cao đẳng, đại học thì bố trí cho đi học nghề và giải quyết công ăn, việc làm sau khi ra trường để tránh lãng phí tiền của, công sức của bản thân học sinh, gia đình và nguồn nhân lực cho sự phát triển các vùng dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng ở nước ta hiện nay.

    Hà Thị Khiết Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc, UBTƯ MTTQ Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Ở Quận 5 Tp Hồ Chí Minh Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Giáo Dục
  • Báo Cáo Kết Quả Công Tác Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình” Trên Lĩnh Vực Tư Tưởng Văn Hóa 9 Tháng Đầu Năm 2014
  • Quân Đội Đẩy Mạnh Phòng, Chống “diễn Biến Hòa Bình” Trên Không Gian Mạng
  • Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình” Và Những Biểu Hiện “tự Diễn Biến”, “tự Chuyển Hóa” Trên Lĩnh Vực Văn Hóa Hiện Nay
  • Đẩy Mạnh Đấu Tranh Phòng, Chống “diễn Biến Hòa Bình” Hiện Nay
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Ở Xã, Thị Trấn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Mới Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Hội Thảo “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phát Triển Đảng”
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Về Công Tác Kết Nạp Đảng Viên
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Đấu Tranh Với Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng Chống Tội Phạm, Giữ Gìn Trật Tự Xã Hội
  • Điện Biên TV – Công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của mỗi tổ chức cơ sở Đảng (TCCSĐ), nhằm tăng cường nguồn sinh lực, sức chiến đấu cho Đảng, bảo đảm tính kế thừa và sự phát triển liên tục của Đảng.

     

    Đồng chí Tòng Văn Din, Bí thư chi bộ 6 bản Phì Cao, xã Mường Nhà, huyện Điện Biên (thứ 2, ngoài cùng bên trái sang) trao đổi với cán bộ bản Hồi Hương về công tác phát triển đảng viên, xóa bản “trắng” đảng viên

     

    Trong những năm qua, công tác phát triển đảng viên ở các loại hình TCCSĐ nói chung và loại hình TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn nói riêng trên địa bàn tỉnh Điện Biên, đã được các cấp uỷ, tổ chức Đảng quan tâm chỉ đạo và đạt một số kết quả quan trọng về chất lượng và số lượng đảng viên kết nạp hằng năm. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh đến nay, 130 xã, phường, thị trấn của tỉnh Điện Biên đã kết nạp được 1.937 đảng viên mới, chiếm hơn 64 % tổng số đảng viên kết nạp, trong đó, riêng 3 tháng đầu năm 2022, kết nạp ở loại hình cấp xã (xã, phường, thị trấn) có 359/566 đảng viên mới kết nạp chiếm 63,4%. Công tác kết nạp đảng viên ở cơ sở trong tỉnh liên tục được tăng cao, góp phần không nhỏ vào việc xóa thôn, bản còn trắng tổ chức Đảng và Đảng viên. Đến nay, đã có 1.444/1.813 thôn bản có chi bộ độc lập (tăng 3% so với đầu năm 2022); số thôn, bản chưa có đảng viên, chưa có chi bộ giảm từ 23,3% xuống còn 20,3% so với đầu năm 2022, trong đó số thôn, bản “trắng” đảng viên giảm từ 95 bản xuống còn 56 bản, xóa được 39 bản “trắng” đảng viên.

    Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác kết nạp đảng viên mới ở cơ sở vẫn còn những hạn chế nhất định như, tỷ lệ quần chúng ưu tú được kết nạp vào Đảng còn thấp, chưa đồng đều, còn nhiều cán bộ, công chức cấp xã vẫn chưa phải là đảng viên. Bên cạnh đó, ở các xã và thị trấn, một số thanh niên khi tốt nghiệp THPT thì đi học nghề, làm công nhân, học đại học hoặc làm việc tại các địa phương khác; số thanh niên còn lại ở địa phương thì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên ít tham gia sinh hoạt tại các tổ chức chính trị – xã hội ở thôn, bản; chưa có ý thức phấn đấu, chưa coi trọng tư tưởng cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Ðảng.

    Nguyên nhân chính của những hạn chế trong công tác tạo nguồn kết nạp Đảng hiện nay là do ở thôn, bản số lượng cán bộ không chuyên trách hầu hết chưa đạt chuẩn về trình độ học vấn, lại quá tuổi kết nạp; việc hướng dẫn làm thủ tục kết nạp đảng vẫn còn sơ sài, yếu kém; năng lực lãnh đạo của nhiều chi bộ còn hạn chế; bên cạnh đó, một số tổ chức đoàn thể, nhất là đoàn thanh niên ở các thôn, bản cũng chưa tạo được nhiều phong trào để thu hút, tập hợp đoàn viên vào hoạt động để rèn luyện, phấn đấu vào đảng; thêm vào đó vẫn còn những định kiến, phong tục tập quán, gia đình, dòng họ còn tồn tại. Nên công tác tạo “Nguồn” phát triển Đảng đang gặp nhiều trở ngại và khó khăn.

    Để khắc phục những hạn chế trên, trong thời gian tới, công tác kết nạp đảng viên mới ở cơ sở cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

    Một là, quy hoạch và bồi dưỡng “nguồn” phát triển đảng viên, đảm bảo về số lượng, có cơ cấu hợp lý; người vào Đảng phải đảm bảo đủ điều kiện về tuổi đời, trình độ học vấn, đủ thủ tục, đúng nguyên tắc quy định về hồ sơ kết nạp Đảng. Để làm tốt công việc này các chi bộ phải ra quyết định giao nhiệm vụ cho đảng viên chính thức giúp đỡ, theo dõi, hướng dẫn đầy đủ thủ tục không được gây phiền hà cho quần chúng khi làm thủ tục hồ sơ cho đến khi được cấp uỷ Đảng có thẩm quyền ra quyết định kết nạp vào Đảng.

    Hai là, tổ chức tốt việc xét kết nạp đảng viên, đảm bảo nguyên tắc, đúng Điều lệ Đảng, phát huy dân chủ, coi trọng chất lượng, tránh tư tưởng xem nhẹ, giản đơn, đồng thời chấn chỉnh kịp thời tư tưởng hẹp hòi, định kiến, đặt yêu cầu quá cao đối với người xin vào Đảng. Lễ kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức và phát thẻ đảng viên cần được tổ chức trang trọng, chu đáo, tạo ấn tượng tốt đẹp đối với đảng viên.

    Ba là, tăng cường công tác phát triển Đảng, hướng trọng tâm vào thế hệ trẻ, nông dân, quân nhân hoàn thành nghĩa vụ, dân quân tự vệ, con em các gia đình có công với cách mạng, phụ nữ, dân tộc thiểu số; chú trọng đội ngũ cán bộ lãnh đạo đoàn thể ở các thôn, bản; giao chỉ tiêu kết nạp đảng viên đối với các TCCSĐ ở xã và thị trấn, các chi bộ thôn, bản. Khắc phục dứt điểm tình trạng chi bộ thôn, bản nhiều năm liền không kết nạp được đảng viên.

    Bốn là, hằng năm cấp uỷ Đảng cấp trên trực tiếp của cấp uỷ cơ sở giao chỉ tiêu kết nạp đảng viên mới cho các TCCSĐ trực thuộc gắn với thực hiện nhiệm vụ giải pháp của Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 23-5-2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Điện Biên về “Tăng cường xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ và phát triển đảng viên, tổ chức đảng ở cơ sở trực thuộc xã, thị trấn, cơ quan đơn vị chưa có đảng viên, chưa có chi bộ, giai đoạn 2022-2020”. Các Đảng bộ xã và thị trấn phải tổ chức tốt việc phân công cấp uỷ viên, đảng viên phụ trách công tác phát triển đảng viên; các tổ chức Đảng ở thôn, bản cần phân công đảng viên chính thức theo dõi, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng ưu tú phấn đấu trở thành đảng viên và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức.

    Năm là, kết nạp vào Đảng những quần chúng ưu tú, thực sự có đủ tiêu chuẩn và điều kiện quy định, nhất là những quần chúng có thành tích xuất sắc trong các phong trào hành động cách mạng của các đoàn thể, quần chúng ở cơ sở, để tạo nguồn phát triển Đảng viên.

    Làm tốt công tác phát triển Đảng viên, là góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên, để mỗi đảng viên thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, tiên phong trong các phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở, từ đó góp phần tích cực củng cố tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh./.

     

    CTV   Phong Lâm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gỡ Khó Trong Phát Triển Đảng Viên Ở Khu Dân Cư
  • Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Ở Chi Bộ Nông Thôn
  • Gỡ Khó Trong Phát Triển Đảng Viên Nông Thôn
  • Những Giải Pháp Hay Trong Phát Triển Đảng Viên Của Đảng Bộ Huyện Vĩnh Lộc
  • Tạo Đột Phá Trong Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục Nghề Nghiệp Giai Đoạn 2022
  • Công Tác Quản Lý Cán Bộ: Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Tục Nâng Cao Chất Lượng Đánh Giá Và Sử Dụng Cán Bộ Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Đảng Bộ Huyện Vĩnh Tường Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đánh Giá Cán Bộ
  • Hyip, Make Money Online, Crypto, Bitcoin,: Tiểu Luận Trung Cấp Chính Trị, Quản Lí Giáo Dục: Công Tác Đánh Giá Cán Bộ, Công Chức Ở Xã
  • Hyip, Make Money Online, Crypto, Bitcoin,: Tiểu Luận Trung Cấp Chính Trị, Quản Lí Giáo Dục: Công Tác Đánh Giá Cán Bộ Ở Đảng Bộ Xã Xxx
  • Giải Pháp Camera Sử Dụng Điện Năng Lượng Mặt Trời
  • Quản lý cán bộ là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Thông qua công tác quản lý cán bộ, Đảng đề ra chủ trương, kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chính xác, thiết thực; bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc, đồng thời, hạn chế tối đa hiện tượng suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ. Thực trạng công tác quản lý cán bộ

    Quản lý cán bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác cán bộ. Từ trước đến nay Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác quản lý cán bộ. Trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và cả thời kỳ đổi mới, nhiều cán bộ được Đảng, Nhà nước quản lý tốt nên trưởng thành và có nhiều đóng góp cho đất nước. Do quản lý tốt cán bộ nên có nhiều tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nhiều cán bộ đảng viên nêu gương phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đặc biệt đã cổ vũ được sự phấn khởi, đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân, góp phần tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Sau Đại hội XII, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tăng cường công tác quản lý cán bộ nên tình hình có chuyển biến tốt hơn.

    Tuy nhiên, công tác quản lý cán bộ vẫn còn nhiều hạn chế. Thời kỳ trước đây số cán bộ vi phạm pháp luật cũng có nhưng chưa nhiều, ảnh hưởng chưa nghiêm trọng. Hiện nay, hầu như không có ngành nào, địa phương nào là không có một bộ phận cán bộ làm việc thiếu trách nhiệm với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân. Đặc biệt tệ tham nhũng, lãng phí của không ít cán bộ đã trở thành vấn đề gây bức xúc nhất trong xã hội. Lĩnh vực quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý đất đai, khoáng sản, xây dựng cơ bản, quản lý tài sản công,… đã làm thất thoát, thiệt hại rất lớn đến ngân sách nhà nước. Công tác quản lý cán bộ trong một số ít cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử,… cũng chưa tốt nên đã để xảy ra một số vụ, việc đáng tiếc.

    Thực trạng việc quản lý cán bộ nêu trên có nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, cụ thể là:

    Trong cơ chế mới, người cán bộ bị chi phối, tác động của nhiều mối quan hệ, như quan hệ giữa quản lý với sử dụng, quản lý với lợi ích, quản lý với môi trường, điều kiện làm việc,… nhiều hơn, mạnh hơn trước đây. Một bộ phận cán bộ bộc lộ nhiều nhược điểm, như chưa quen quản lý sản xuất, kinh doanh, chưa có kinh nghiệm quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường sinh động, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh, chưa quen quản lý xã hội bằng pháp luật, bằng cơ chế, chính sách trong lúc trình độ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế nói chung còn hạn chế nên dễ bị sa ngã, vi phạm pháp luật.

    Công tác quản lý cán bộ đang có sơ hở, yếu kém. Quản lý cán bộ còn nặng về quản lý lý lịch gia đình, quản lý trên hồ sơ bằng cấp, chứng chỉ,… mà chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chính trị hiện tại của mỗi cán bộ diễn biến hằng ngày theo nhịp sống của thực tiễn, chưa gắn quản lý cán bộ với đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ. Đảng, Nhà nước chưa có các văn bản pháp luật chặt chẽ để kiểm soát được quyền lực, còn có những kẽ hở để cán bộ lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm trong thực thi công vụ để tham ô, tham nhũng. Kỷ cương, kỷ luật của Đảng, Nhà nước có những lúc xử lý chưa nghiêm, chưa kịp thời. Chính sách tiền lương quá bất hợp lý lại để kéo dài. Phần đông cán bộ, công chức, viên chức không đủ sống từ lương. Một bộ phận lớn tổ chức cơ sở đảng chưa làm tốt trách nhiệm quản lý đảng viên, buông lỏng công tác tư tưởng, tình trạng nể nang, né tránh, ngại đấu tranh của đảng viên diễn ra phổ biến. Một bộ phận cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến đặc quyền, đặc lợi, thoái hóa biến chất, không nêu gương, nói không đi đôi với làm dẫn đến tham ô, tham nhũng, …

    Các cơ quan dân cử, như Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội chưa thực hiện đầy đủ chức năng giám sát của mình theo quy định của pháp luật.

    Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý cán bộ

    Con người nói chung, cán bộ nói riêng chịu tác động tổng hòa của nhiều mối quan hệ xã hội, vì thế Đảng, Nhà nước phải có những giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả để quản lý cán bộ tốt hơn.

    Thứ nhất, đổi mới tư duy nhận thức về quản lý cán bộ trong thời kỳ mới. Phải xem quản lý, bảo vệ cán bộ là cách làm tốt nhất để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cán bộ luôn kiên định tư tưởng, lập trường, phẩm chất chính trị, giữ gìn đạo đức cách mạng, lối sống tốt đẹp, có nhận thức và hành động đúng đắn. Nội dung quản lý cán bộ là quản lý phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn, bảo đảm cho cán bộ luôn trong sạch, trung thực, không sa ngã, thoái hóa, biến chất, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mọi hoàn cảnh. Cùng với quản lý lịch sử chính trị gia đình, phải đặc biệt coi trọng quản lý chính trị hiện tại, đặc biệt là diễn biến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống gắn với các yếu tố phát sinh. Quản lý chính trị hiện tại không chỉ nhằm phòng ngừa kẻ địch cài cắm, mua chuộc, chia rẽ nội bộ, mà còn phòng ngừa, ngăn chặn các khả năng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ. Quản lý cán bộ phải gắn với đổi mới đánh giá cán bộ, xem xét chuyển biến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; sự gia tăng bất thường tài sản mà không giải trình được nguồn gốc tài sản; các mối quan hệ “lợi ích nhóm” phức tạp.

    Thứ hai, thường xuyên phổ biến, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý cán bộ, kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ, trong đó chú trọng các yêu cầu, nội dung, giải pháp về công tác cán bộ, kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Chỉ thị số 26/CT-TTg, ngày 05-9-2016, của Thủ tướng Chính phủ “về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp”,…

    Các cấp ủy đảng, cả hệ thống chính trị phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên, để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tính tiên phong, gương mẫu trước quần chúng, tự giác chấp hành pháp luật, chấp hành các quy định của Đảng. Đây là giải pháp rất quan trọng vì khi cán bộ không tốt thì dù văn bản pháp luật có chặt chẽ đến đâu, cơ quan quản lý cán bộ có trách nhiệm đến mấy cũng không ngăn cản được lòng tham, ham muốn không chính đáng của cán bộ. Thực hiện việc rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh nội quy, quy chế, quy trình làm việc của cơ quan, đơn vị mình, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác cụ thể trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao của cơ quan, tổ chức, đơn vị, đồng thời quán triệt, triển khai đối với cán bộ việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính, văn hóa công sở và sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc, bảo đảm cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cấp trên.

    Thứ ba, Đảng bổ sung các quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên chặt chẽ, cụ thể hơn, như quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác quản lý cán bộ; các chức danh theo phân cấp quản lý, có cơ chế phát hiện, trọng dụng người có đức có tài, bổ nhiệm cán bộ đúng người, đúng việc, thực sự vì việc để chọn người. Đối với cấp ủy, người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm về lãnh đạo, chỉ đạo và công tác quản lý cán bộ của đơn vị mình. Thực hiện nghiêm túc, công khai, minh bạch các quy định về quản lý cán bộ trong tất cả các khâu: tuyển dụng, tiếp nhận, điều động, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, chuyển ngạch, nâng ngạch, đi nước ngoài và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, quy chế chi tiêu nội bộ, kiên quyết không để xảy ra sai phạm, tiêu cực. Ví dụ, như vấn đề nhận xét, đánh giá cán bộ cần có quy định, đánh giá thế nào cho đúng, dựa vào nhân dân, tổ chức, đảng viên đánh giá cán bộ như thế nào chứ không chỉ đưa ra tập thể cấp ủy và quyết định. Quy định đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ làm sao cho dân chủ và công bằng. Phải công bố cho đơn vị, tổ chức, địa phương đó biết đề bạt ai, đề bạt đúng quy trình như thế nào,…

    Cần cụ thể hóa những quy định, quy chế của Đảng và Nhà nước thành quy chế, quy định thực hiện của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Một yêu cầu cấp thiết hiện nay là sớm cụ thể hóa các quy chế trong thực hiện Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.

    Các cơ quan quản lý cán bộ cấp trên hằng năm, hằng nhiệm kỳ phải làm tốt việc đánh giá cán bộ và công khai việc đánh giá đến cán bộ, nhân dân nơi cán bộ công tác và cư trú. Trước khi nhận xét phải lấy được các kênh thông tin đánh giá hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ số hài lòng của cán bộ, người dân về cán bộ đó. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật gắn với mở rộng, phát huy dân chủ trong Đảng. Có giải pháp hiệu quả nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, để mỗi tổ chức cơ sở đảng đều vững mạnh, trong sạch, thực chất. Kiểm tra, làm tốt việc phát triển đảng viên có chất lượng đi đôi với tăng cường giáo dục, quản lý đảng viên, trên cơ sở đó thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ và đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng.

    Thứ tư, Nhà nước sớm bổ sung các văn bản pháp luật để kiểm soát tốt quyền lực. Quy định rất chặt chẽ, cụ thể quyền hạn, trách nhiệm các chức danh quản lý nhà nước, thực hiện tốt cải cách hành chính, khắc phục triệt để cơ chế “xin – cho”, tăng cường thanh tra nhà nước, kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đồng thời, từng bước tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm mạnh biên chế và sớm cải cách chế độ tiền lương. Có cơ chế kiểm soát được thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức của cả hệ thống chính trị, quản lý được việc kê khai minh bạch tài sản. Trên cơ sở đó làm cho cán bộ không muốn tham nhũng, không dám tham nhũng và không thể tham nhũng (như một số nước đã làm thành công).

    Theo Tạp chí Cộng sản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ Ở Nước Ta Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Đổi Mới Công Tác Cán Bộ Trong Giai Đoạn Hiện Nay Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Tiếp Tục Đổi Mới Công Tác Đánh Giá Cán Bộ Trước Yêu Cầu Mới
  • Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, An Ninh Kinh Tế Trong Tình Hình Mới
  • Thủ Tướng: Cand Phải Giữ Vững An Ninh Quốc Gia, Bảo Đảm Ttatxh Trong Mọi Tình Huống
  • Giải Pháp Đổi Mới Công Tác Quản Lý Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Giáo Dục
  • Đô Thị Việt Nam Đang Đối Mặt Nhiều Thách Thức
  • Phân Lô Bán Nền Là Biện Pháp Của Đô Thị Hóa
  • Hậu Quả Và Giải Pháp Của Vấn Đề Đô Thị Hóa?nêu Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Của Vấn Đề Đô Thị Hóa
  • Đô Thị Hóa Tự Phát Là Gì? Những Hậu Quả Của Đô Tự Hóa Tự Phát Là Gì?
  • Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, ngành giáo dục cần đổi mới công tác kiểm tra đánh giá. Ảnh: Anh Khôi

    Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào 4 yếu tố, đó là: Đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào và công tác quản lý; trong đó công tác quản lý giữ vai trò quan trọng vì trong điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào như nhau, nơi đâu quản lý tốt thì nơi đó có chất lượng tốt hơn. Vì vậy, đổi mới quản lý giáo dục phải bắt đầu từ các cơ sở giáo dục.

    Tuy nhiên, đổi mới như thế nào để có hiệu quả? Như chúng ta đã biết, quản lý nhà trường là quản lý theo mục tiêu chất lượng, tức là phải làm cho chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh (HS) cụ thể, các điều kiện học tập cụ thể. Điều này, một mặt đòi hỏi hiệu trưởng (HT) phải có kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình, mặt khác chỉ đạo tổ chức thực hiện tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường, điều kiện cơ sở vật chất, ứng dụng CNTT, công tác đào tạo, bồi dưỡng… tức là triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

    Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin phép chỉ đề cập đến một vài lý thuyết cơ bản về giải pháp đổi mới quản lý nhà trường trong giai đoạn hiện nay.

    Chuẩn là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với cá nhân, đơn vị về một số nội dung nào đó nhằm đáp ứng hay thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Hiện nay trong nhà trường chúng ta quản lý theo các chuẩn: Trường đạt chuẩn quốc gia; chuẩn nghề nghiệp giáo viên (GV); chuẩn HT, chuẩn phó HT; chuẩn kiến thức kĩ năng cơ bản của chương trình; chuẩn đánh giá, xếp loại HS; tiêu chí đánh giá trường học thân thiện, HS tích cực… Các chuẩn hiện hành có tác dụng định hướng trong phấn đấu rèn luyện của bản thân HT và GV, trong công tác xây dựng đội ngũ, trong điều hành các hoạt động của nhà trường. Vì vậy trong công tác quản lý, dựa vào các yêu cầu của chuẩn và điều kiện thực tế của đơn vị, HT cần lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, xác định ta đang ở vị trí nào, xây dựng lộ trình thực hiện… thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả hoạt động cao với thời gian tối thiểu…

    Đổi mới phương pháp dạy học

    Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp giảng dạy (của GV) và phương pháp học tập (của HS) đều lấy HS làm trung tâm. Nhà trường cần có nhiều hình thức bồi dưỡng cho GV về đổi mới phương pháp giảng dạy thông qua hội thảo chuyên đề, sinh hoạt tổ chuyên môn ở quận, ở cụm, ở trường… và đặc biệt là việc chuẩn bị lên lớp như soạn giáo án…

    Người HT phải có phẩm chất, năng lực; có phong cách lãnh đạo, quản lý phù hợp với thời đại và phải được sự tín nhiệm, phục tùng tự nguyện của cấp dưới.

    Trong quản lý giáo dục cần tránh đi sâu vào công tác hành chính, sự vụ, càng không nhằm quản lý con người mà quan trọng là quản lý công việc, quản lý kế hoạch (trường, tổ). Chỉ có quản lý công việc thì người làm việc mới tự chủ, sáng tạo và mang lại hiệu quả thực sự, còn quản lý con người thì họ sẽ làm việc chỉ với mục đích đối phó.

    Nhà trường cần đổi mới công tác thi đua, đảm bảo tính khoa học, công bằng, công khai từ khâu xây dựng các tiêu chí, triển khai thực hiện đến việc kiểm tra đánh giá. Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, hình thức. Gắn liền việc khen và thưởng một cách hợp lý và xứng đáng, sao cho phong trào thi đua thực sự trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy mọi người đoàn kết, cùng nhau phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    (Hiệu trưởng Trường TH Kim Đồng, Q.7, TP.HCM)

    Tiến sĩ Đinh Phương Duy, Chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục chúng tôi đã “vẽ” lên bức chân dung người HT trong thời kỳ mới: “HT cần được trang bị kỹ năng mềm để có đủ tự tin điều hành nhà trường như một doanh nghiệp nhưng không làm mất bản sắc nhà trường phổ thông. Người HT cần đẹp hơn, uy nghi hơn, hoạt bát hơn, lưu loát hơn, lạc quan hơn, tự chủ hơn, độc lập hơn… và đặc biệt phải giàu có hơn để có đủ tâm sức, tư duy hành động với ưu thế của một nhà quản trị hiện đại”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục
  • Đổi Mới Ppdh Và Kiểm Tra Đánh Giá
  • Kế Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Đổi Mớikiểm Tra Đánh Giá
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Tích Cực Chuyển Đổi Cơ Cấu Cây Trồng, Vật Nuôi
  • Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Ta Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Thuận Lợi, Khó Khăn Và Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Đại Học Của Việt Nam Hiện Nay.
  • Tìm Giải Pháp Cho Giáo Dục Mầm Non Vn
  • Học Online Có Là Giải Pháp Cho Thời Đại Internet?
  • Giải Pháp Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Việt Nam
  • Giải Pháp Nào Giúp Du Lịch Việt ‘vượt Bão’ Thời Covid
  • Giáo dục đào tạo đã từ lâu là một yếu tố rất quan trọng, thiết yếu trong việc phát triển của một đất nước. Các quốc gia trên thế giới, không chỉ riêng đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta, họ đều lấy giáo dục làm quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước.

    Thực trạng, vấn đề giáo dục hiện nay

    Thế nhưng nền giáo dục của đất nước chúng ta hiện nay vẫn còn chứa đựng những bất cập, chưa vững chắc:

    – Hiện nay giáo dục chú trọng quan tâm đến số lượng nhiều hơn chất lượng

    – Nội dung, chương trình giảng dạy còn lạc hậu, lỗi thời, chưa đổi mới, cải tiến hiệu quả. Chưa áp dụng thực tiễn nhiều, chưa phát huy được tính sáng tạo, năng lực thực hành cho học sinh

    Giáo dục việt nam hiện nay chỉ quan tâm đến việc dạy “chữ” cho học sinh. Thế nhưng việc dạy “nhân” và “nghĩa” thì lại bị buông lỏng, giảm sút, nhất là các mặt đạo đức, lối sống. Việc cho học sinh có thể thực hành được các bài học vẫn chưa được đẩy mạnh, khiến cho kĩ năng thực hành, tư duy sáng tạo của học sinh sinh viên bị hạn chế rõ rệt

    – Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn rất nhiều bất cập, như việc phân phối cán bộ giảng dạy vẫn còn chưa hợp lý về các trường học. Bên cạnh đó còn có nhiều cán bộ giảng dạy không có tâm đối với học trò của mình

    – Việc định hướng và liên kết với nước ngoài trong chương trình giáo dục còn lúng túng, mơ hồ, chưa có mục tiêu, phương hướng rõ ràng

    – Tư duy của nền giáo dục còn chậm đổi mới, chưa theo kịp tốc độ phát triển, đổi mới của đất nước trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, phát triển và hội nhập với thế giới. Việc thực hành cần được áp dụng từ ngay khi còn học phổ thông, để các em có thể phát triển tư duy, sáng tạo, chọn lựa cho mình những ngành nghề phù hợp nhất với bản thân mình

    Nguyên nhân và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục

    Chương trình đào tạo

    Thiết nghĩ chương trình đào tạo cần cải tiến đổi mới, cập nhập hằng năm, kết nối thực tiễn với hàng lâm, đưa các buổi ngoại khóa để học sinh có cơ hội được trải nghiệm cuộc sống bên ngoài một các trực tiếp nhất. Các môn học cần được phân bố lượng thời gian hợp lý, để lượng kiến thức lý thuyết 30% và thực hành 70%

    Chất lượng đầu vào

    Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở giáo dục đào tạo còn quá thấp, khiến cho chất lượng học tập tiếp thu của sinh viên còn chưa tốt. Đa số học sinh còn học tập một cách thụ động, thiếu đóng góp cho bài học của giảng viên.

    Phương pháp giảng dạy

    Nhìn chung, chất lượng và lực lượng của đội ngũ cán bộ giảng dạy ngày càng được nâng cao. Thế nhưng phuong pháp giảng dạy của các thầy cô vẫn mang tính thuyết giảng, làm cho học sinh sinh viên chỉ tiếp thu được một cách thụ động, dạy 1 biết 1, không có hướng cho học sinh tự mày mò, tìm hiểu được.

    Mặc phác, các phương tiện giảng dạy hiện nay còn hạn chế nên các thầy cô chưa thể truyền tải hết phần hồn và nội dung của bài học cho học sinh được

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nợ Công Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý
  • Luận Văn Tiểu Luận Hậu Quả Và Giải Pháp Cho Nợ Công Ở Việt Nam
  • Hàm Ý Chính Sách Cho Giải Pháp Quản Lý Nợ Công Của Việt Nam
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Nợ Công Của Việt Nam
  • Cổng Từ An Ninh Chống Trộm Dành Cho Shop Mỹ Phẩm
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Kết Nạp Đảng Viên Ở Nông Thôn Tỉnh Ta
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Ở Chi Bộ Trường Tiểu Học Tân Hiệp Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Thái Sơn Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Mới
  • Đảng Bộ Đoàn Bay 919: Công Tác Phát Triển Đảng Viên Và Những Giải Pháp Hiệu Quả
  • Huyện Đà Bắc Đồng Bộ Các Giải Pháp Trong Công Tác Phát Triển Đảng Viên
  • Trêng ®¹i häc s ph¹m hµ néi 2

    Khoa gi¸o dôc chÝnh trÞ

    ===== o0o =====

    tiÓu luËn

    TRIẾT HỌC

    ĐỀ TÀI:

    THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẢNG

    VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

    Gi¶ng viªn :

    ……………

    Sinh viªn

    :

    Líp

    : K36 – GDCD

    Hµ Néi, 2013

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU.

    1. Lý do chọn đề tài

    2. Tình hình nghiên cứu vấn đề

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN

    1.1. Quan điểm của MÁC-ĂNGGHEN về người đảng viên cộng sản.

    1.2. Quan điểm của LÊNIN về người đảng viên cộng sản.

    1.3. Quan điểm của HỒ CHÍ MINH về người đảng viên cộng sản.

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT

    LƯỢNG ĐẢNG VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.

    2.1. Đặc điểm tình hình của chi bộ trường THCS ĐÀO XÁ

    2.2. Giải pháp để nâng cao chất lượng đảng viên trong giai đoạn hiện nay.

    KẾT LUẬN.

    DANH MỤC THAM KHẢO.

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Chất lượng đảng viên là một trong những vấn đề cơ bản quyết định

    đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bởi đảng viên là những

    phần tử tạo thành các tổ chức cơ sở đảng và tạo thành Đảng. Chất lượng đảng

    viên có vai trò cực kỳ quan trọng trong mỗi thời kỳ phát triển của đất nược

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Mỗi đảng viên tốt, mỗi Chi bộ tốt là

    Đảng được mạnh thêm một phần, đảng viên kém, Chi bộ kém là những khâu

    yếu của Đảng”?.Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sỹ cách mạng

    trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nạm Đảng là sự liên kết của

    những người cùng lý tưởng, cùng mục đích phấn đấu xây dựng một nước Việt

    Nam: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, vững buớc

    tiến lên Chủ nghĩa xã hội”…

    Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ,Đảng ta đã nhận định: “Một bộ

    phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu

    kém cả về phẩm chất và năng lực, thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ

    quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước, giảm sút

    lòng tin, phai nhạt lý tưởng, một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói

    và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức

    và hoạt động của Đảng, vi phạm Pháp luật của Nhà nước bệnh cơ hội, chủ

    nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng,

    vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, …, thoái hoá biến chất về

    chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,

    sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn diễn ra

    nghiêm trọng, kéo dài”`. (Nguồn: Văn kiện Đại hội X của Đảng, trang

    263,264).

    Nhận thức sâu sắc được những vấn đề về giáo dục, chất lượng giáo dục,

    xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ đảng viên nên tôi mạnh dạn chọn đề tài:

    “thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng đảng viên của Chi bộ Trường

    THCS Đào Xá hiện nay”, để làm đề tài tiểu luận cuả mình.

    2. Tình hình nghiên cứu vấn đề.

    Do tầm quan trọng và sự đòi hỏi của tổ chức đảng thì vấn đề nâng cao

    chất lượng đảng viên là rất cần thiết.Nâng cao chất lượng đảng viên là vấn đề

    có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vì vậy

    trong thời gian gần đây đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu và nói về

    vấn đề này:

    – Bài viết: Để chất lượng đảng viên đáp ứng yêu cầu của Điều lệ Đảng

    – Theo Tạp chí cộng sản

    – Bài viết:Nâng cao chất lượng Đảng viên là yếu tố then chốt nâng cao

    chất lượng Đảng, -Góp ý Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI:

    – Bài viết :Nâng cao chất lượng đảng viên theo Tư tưởng Hồ Chí

    Minh,- Báo điện biên phủ online

    Nhìn chung những bài viết này đã nói khá rõ về việc nầng cao chất

    lương đảng viên tuy nhiên lại chưa đi vào cụ thể của từng chi bộ nào .Vì vậy

    trên cơ sở kế thừa các thành tựu đó tôi chọn đề tài này làm bài tiểu luận của

    mình.

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN

    1.1 Quan điểm của Mác, ăng ghen, Lênin về người đảng viên cộng sản:

    – Mác và ăng ghen đã khẳng định: Để lật đổ giai cấp tư sản và xã hội tư

    bản, xây dựng chủ nghĩa Cộng sản, giai cấp Vô sản nhất thiết phải thành lập

    chính Đảng của mình. Hai ông đã đưa ra những quan điểm, nguyên lý xây

    dựng chính Đảng cách mạng của giai cấp vô sản và trực tiếp thể hiện quan

    điểm đó trong quá trình xây dựng và lãnh đạo hoạt động của “Liên đoàn

    những người cộng sản”? – chính Đảng cách mạng đầu tiên trên thế giới của

    giai cấp vô sản, trong đó bộ phận rất quan trọng là những quan điểm cơ bản

    về người đảng viên cộng sản.Người đảng viên cộng sản về mặt thực tiễn là bộ

    phận kiên quyết nhất trong các Đảng công nhận ở tất cả các nước, là bộ phận

    cổ vũ tất cả các bộ phận khác . Về lý luận, họ hơn những bộ phận còn lại của

    giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung

    của phong trào vô sản.

    Các Mác và ăng ghen là những người đầu tiên nêu lên những tư tưởng

    cơ bản về Đảng Cộng sản. Những tư tưởng đó bắt nguồn từ luận điểm khoa

    học về vai trò lịch sử thế giới của giai cấp công nhân…Theo hai ông: Đảng

    viên cộng sản là người được vũ trang bằng lý luận tiên tiến, có trình độ giác

    ngộ cao và trong hoạt động thực tiễn đảng viên là người kiên quyết biết lôi

    cuốn quần chúng hoạt đông. Đảng là một đội ngũ có tổ chức chặt chẹ Đảng

    phải là khối thống nhất trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chực Như

    vậy về bản chất, Đảng là của giai cấp công nhân, nhưng Đảng đại diện cho

    toàn thể nhân dân lao động, bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng

    cho mình khi nó đồng thời giải phóng các tầng lớp nhân dân lao động trong

    xã hôi. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, Đảng chỉ có thể làm tròn

    vai trò là đội tiên phong khi Đảng chỉ bao gồm những chiến sỹ tiên phong ,

    – Có trình độ văn hoá, lý luận, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoàn

    thành nhiệm vụ được giạo

    – Có ý thức kỷ luật cao: “Chính đảng của giai cấp vô sản phải được

    thực hiện trong nội bộ của mình một chế độ tập trung chặt chẽ và một kỷ luật

    nghiêm ngặt

    – Gắn bó với quần chúng, giáo dục tổ chức quần chúng thực hiện thắng

    lợi đường lối, chính sách của Đảng, là tấm gương mẫu mực cho quần chúng

    noi theo

    – Đảng viên Cộng sản phải tiên tiến hơn quần chúng và khác so với các

    đảng viên khác, các phần tử cơ hôi.

    Tư cách đảng viên là những đặc trưng cơ bản của người đảng viên cần

    có, đó là yếu tố chủ yếu để phân biệt với người ngoài Đảng

    Qua những vấn đề nêu trên, chúng ta thấy rằng các nhà kinh điển của

    Chủ nghĩa Mác – Lenin rất quan tâm đến đảng viên và công tác đảng viên

    nhằm xây dựng một đội ngũ đảng viên có chất lượng xứng đáng là đội tiên

    phong của giai cấp công nhân đủ sức lãnh đạo cách mạng đến thắng lơi.

    1.1.3.Tư tưởng Hồ Chí Minh về người đảng viên cộng sản

    Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn

    quan tâm tới việc xay dung. Đảng vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong

    của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai

    cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tôc.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về người Đảng viên Cộng sản là sự kế thừa và

    phát triển tư tưởng, quan điểm của Mác – ăng ghen và Lenin, phù hợp với

    điều kiện nước ta.Nói chuyện tại phân hiệu II Trường Nguyễn ái Quốc vào

    tháng 07 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng không phải là nơi

    để thăng quan tiến chức, để phát tại Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục

    vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của tổ quốc, của giai

    cấp”.

    Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản Đảng chỉ kết nạp những

    người ưu tú trong giai cấp công nhân, nhân dân lao động vào Đảng Để đảm

    bảo vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo của Đảng Hồ Chí Minh rất quan tâm

    đến điều kiện để trở thành người đảng viên Cộng sản, hay nói cách khác đó là

    tư cách, tiêu chuẩn, hình mẫu của đảng viên cộng sản Điều lệ vắn tắt của

    Đảng cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh soạn thảo được Hội nghị thành lập

    Đảng thông qua, ghi rõ: “Lễ vào Đảng: Ai tin theo chủ nghĩa Công sản,

    chương trình Đảng và Quốc tế cộng sản, hăng hái đấu tranh cẩn thận và giám

    hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng đảng phí, chịu phấn đấu trong

    một bộ phận Đảng, thời được vào Đang”?. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Người

    vào Đảng phải thừa nhận Đảng cương, phải tham gia công tác trong một tổ

    chức của Đảng, phải tuyệt đối trung thành Nghị quyết của Đảng, nộp đảng

    phi”‘.

    Ngay từ năm 1927, đặc biệt là từ khi thành lập Đảng đến lúc Người qua

    đời, Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói, bài viết về tư cách của người đảng viên

    cộng sản thể hiện ở những nội dung:

    – Trung thành với chủ nghĩa Mac- Lenin, kiên trì phấn đấu vì sự nghiệp

    cách mạng dân tộc và nhân loai.

    – Vừa có tài, vừa có đức, trong đó đức là gốc, tích cực nâng cao đạo

    đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhận

    – Gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn luôn lấy dân làm gốc, vừa là

    người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân, thống nhất lời

    nói với việc làm, thực hiện “Đảng viên đi trước làng nước theo sau”, đặt lợi

    ích của nhân dân lên trên hết và trước hết.

    – Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế

    – Kiên quyết đấu tranh chống các tư tưởng và hành động sai trái phản

    động trước hết là chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại và bệnh giáo điêu.

    – Chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật Đảng, Pháp luật của Nhà nước.

    CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO

    CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊN CỦA CHI BỘ TRƯỜNG

    TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NÀY

    2.1.Đặc điểm tình hình chi bộ trường THCS Đào Xá:

    Trường THCS Đào Xá-Thanh Thủy là trường công lập với nhiệm vụ

    chính là giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh trong xã Đào Xá- H.Thanh Thủy

    – T. Phú Thọ

    *) Về cơ cấu tổ chức của nhà trường:

    – 01 Hiệu trưởng

    – 02 Phó hiệu trưởng

    – 02 tổ chuyên môn

    *) Các tổ chức chính trị:

    – Chi bộ nhà trường: 21 đảng viên; Chi uỷ có 03 đồng chí

    – Công đoàn nhà trường: 30 đoàn viên công đoàn; BCH có 03 đồng chí

    – Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: 102 đoàn viên; BCH gồm 4 đồng chí

    – Ban nữ công: 14 người

    – Cựu chiến binh: 2 người

    2.1.1. Những mặt đã đạt được:

    * Về đội ngũ đảng viên :

    – Đa số đảng viên có lập trường quan điểm vững vàng, có phẩm chất

    đạo đức tốt, có ý thức giác ngộ lý tưởng cộng sản, đường lối, chủ trương,

    chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước Tin tưởng tuyệt đối vào đường

    lối của Đảng, luôn xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người đảng viên trong

    thực hiện đường lối của Đảng, coi giáo dục – Đào tạo là quốc sách hàng đầu

    và có tín nhiệm đối với quần chúng nhân dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được

    giạo

    – 100% đảng viên có trình độ chuyên môn được đào tạo cơ bản, phù

    hợp với nhiệm vụ công tác Đa số có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vững

    vạng Trrong công tác thể hiện sự trung thành, tận tuỵ, sáng tạo, đặc biệt ở các

    đảng viên trẻ sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách

    nhiệm

    – Đảng viên không chỉ là những người có nhận thức cao về chuyên môn

    nghiệp vụ mà còn tham gia hưởng ứng đăng ký các danh hiệu thi đua trong

    năm. Thực hiện tốt phong trào thi đua “hai tốt”‘ và các cuộc vận động lớn của

    ngành giáo dục, là những tấm gương tiêu biểu về nhận thức, chính trị, xã hôi.

    Mỗi đảng viên thực sự là cầu nối để đưa đường lối, chủ trương, chính sách

    của Đảng đến với quần chúng,

    – Chi bộ có số lượng đảng viên trẻ nhiều, nhưng đa số đảng viên luôn

    đầu tàu gương mẫu trong mọi công tác, phục tùng sự phân công của tổ chức.

    Có ý thức khả năng tổ chức vận động quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính

    trị của nhà trường, thường xuyên liên hệ chặt chẽ với quần chúng

    – Hầu hết đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh,

    trong sáng, không xa hoa, lãng phí, không có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng,

    có ý thức chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước

    và có trách nhiệm vận động gia đình, đồng chí và quần chúng cùng thực hiện

    nghiêm chỉnh.

    – Đảng viên khi phân công nhiệm vụ đều sẵn sàng nhận và hoàn thành

    tột Thực hiện tốt 4 nhiệm vụ của người đảng viên đã được quy định trong

    Điều lệ Đảng

    – Về tư tưởng chính trị:

    + Mỗi đồng chí trong chi uỷ đều có phẩm chất chính trị tốt. Luôn luôn

    tin tưởng vào chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và pháp luật của

    nhà nước. Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, không dao động trong

    các tình huống và trong chiến lược diễn biến hoà bình cũng như toàn cầu hoá

    của các thế lực thù địch.

    + Luôn tự học, tự bồi dưỡng để không ngừng nâng cao trình độ nhận

    thức chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

    + Luôn có tư tưởng cầu tiến và mong muốn chỉ đạo đơn vị thực hiện

    xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị và thực hiện tốt các chủ trương chính

    sách, nghị quyết của cấp trện

    – Về đạo đức lối sống:

    + Thực hiện tốt quy định 115 của Bộ chính trị Khoá X về những điều

    cấm đảng viên không được lạm

    + Không vi phạm đạo đức nhà giáo, theo tinh thần chỉ đạo của cấp trên

    về cuộc vận động “Hai không với bốn nội dung”: Nói không với tiêu cực

    trong thi cử, nói không với bệnh thành tích trong giáo dục, nói không với vi

    phạm đạo đức nhà giáo, nói không với học sinh ngồi nhầm lợp

    – Công tác thực hiện nhiệm vụ được giao

    + Các đảng viên trong chi bộ và cán bộ giáo viên, học sinh tin tưởng

    vào chủ trương, nghị quyết của chi uỷ đề ra mọi người tham gia thực hiện tốt

    các chủ trương, nghị quyết.

    + Hàng tháng chi bộ sinh hoạt để đánh giá kết quả hoạt động công tác

    của các đảng viên và việc thực hiện nghị quyết chi bộ tháng trược Phân tích

    những mặt mạnh, mặt yếu và việc thực hiện nhiệm vụ được giao nên đã tạo

    được không khí vui vẻ hoà thuận trong nhà trường, cùng nhau chung sức làm

    viêc.

    + Trong năm qua chi uỷ nhà trường rất quan tâm trong việc triển khai

    học tập , nghiên cứu để thực hiện các nội dung nghị quyết của đảng và các

    cấp uỷ chính quyền cấp trên để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức

    chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đảng viên và quân chúng để

    mọi người yên tâm công tác xây dựng nhà trường, chi bộ nhà trường ngày

    càng vững manh.

    * Về công tác đảng viên:

    – Công tác đảng viên là khâu quan trọng trong toàn bộ công tác xây

    dựng Đảng Vì vậy, Chi bộ trường THCS Đào Xá đã thường xuyên quan tâm

    đến công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng

    cho đảng viên, trang bị những kiến thức về Chủ nghĩa Mac Lênin và tư tưởng

    Hồ Chí Minh, tổ chức học tập nghiêm túc các Nghị quyết của Đảng, Pháp luật

    của Nhà nước một cách kịp thợi Chi bộ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho đảng

    viên được học tập nâng cao kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ, năng lực tổ

    chức quản lý để mỗi đảng viên xứng đáng là chiến sỹ Cộng sản có lý thưởng

    cách mạng, giữ vững vai trò tiên phong, gương mẫu trong nhận thức và hành

    đông.

    + Chi bộ quan tâm công tác giáo dục, nâng cao phẩm chất chính trị,

    kiến thức năng lực thực tiễn cho đảng viên Chi bộ đã tạo điều kiện để mọi

    đảng viên được học tập tất cả các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà

    nước, thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức

    Hồ Chí Minh”, đồng thời tổ chức học tập nghiên cứu để hiểu cụ hơn mỗi

    Nghị quyết tại Chi bộ qua các cuộc họp của các Chi bộ

    + Chi bộ đã không ngừng chỉ đạo các hoạt động trong Nhà trường, đặc

    biệt công tác chuyên môn, ngoài việc tạo điều kiện cho đảng viên được học

    tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Chi bộ còn chỉ đạo tăng cường

    đổi mới, cách cách hành chính trong nội bộ Nhà trường, tổ chức các hội thảo

    xây dựng khung chỉ đạo thống nhất từ lãnh đạo đến các phòng, khoa, giáo

    viên, nhân viên trong công tác hướng dẫn chỉ đạo, nhằm nâng cao trình độ

    chuyên môn, nâng cao năng lực lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ quản lý, năng

    lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên.

    – Về phân loại chất lượng đảng viên: Việc phân loại đảng viên hàng

    năm được Chi bộ tiến hành một cách chu đạo Mỗi đảng viên trong Chi bộ tự

    viết bản kiểm điểm và tự nhận loại cho mình. Dựa theo tiêu chí do Ban tổ

    chức TW và các hướng dẫn của cấp trên căn cứ vào hiệu quả công tác, kết quả

    rèn luyện nhiệm vụ và phẩm chất của người đảng viên để phân loại. Việc

    phân loại đã được Chi bộ làm đúng quy trình, đảng viên tự thông qua bản tự

    kiểm điểm cá nhân, tự nhận loại và sau đó Chi bộ đóng góp ý kiến xây dựng,

    phê bình hết sức thẳng thắn .

    – Về công tác phát triển Đảng: Chi bộ thực sự quan tâm đến công tác

    phát triển đảng viên Chi bộ luôn tạo điều kiện bồi dưỡng, giới thiệu những

    đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Mịnh Đoàn viên công đoàn ưu tú để

    kết nạp họ vào Đảng, tăng cường lực lượng cho Đảng.

    – Công tác kiểm tra giám sát của Đảng: Trong công cuộc đổi mới đẩy

    mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, việc nâng cao vai trò, năng lực

    lãnh đạo và uy tín của các tổ chức cơ sở Đảng đang là yêu cầu cấp bạch Để

    làm tốt điều đó, một nhiệm vụ rất quan trọng là các tổ chức Đảng cần tăng

    cường công tác kiểm tra của mình và phải coi đây là công tác quan trọng,

    thường xuyên của mỗi cấp uỷ và từng đảng viên .

    2.2.2. Những hạn chế:

    * Về đội ngũ đảng viên:

    – Một số ít đảng viên ý thức giác ngộ về lý tưởng chủ nghĩa Cộng sản

    còn yếu

    – Một số đảng viên ý thức đã biểu hiện trình độ một số mặt còn hạn

    chế: việc cập nhật tri thức mới, nhất là kiến thức về ứng dụng công nghệ

    thông tin trong công tác quản lý, chỉ đạo, trong sinh hoạt chưa mạnh dạn đấu

    tranh tự phê bình và phê bình.

    – Vẫn còn một bộ phận đảng viên thiếu gương mẫu, chưa lắng nghe ý

    kiến của quần chúng, chưa có tinh thần học tập nâng cao trình độ chuyên môn

    nghiệp vụ

    * Về công tác đảng viên:

    – Công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao phẩm chất chính trị cho

    đảng viên chưa sâu rộng, chưa cụ thể hoá trong từng nhiệm vụ của đảng viên

    trước Chi bộ.

    – Việc phân công nhiệm vụ cho đảng viên có khi còn chung chung,

    chưa căn cứ vào kết quả hoàn thành công việc (nhất là công tác kiêm nhiệm)

    để đánh giá phân loại cuối năm.

    – Nội dung sinh hoạt của Chi bộ có lúc còn nghèo nàn, chất lượng sinh

    hoạt chưa cao

    2.2. Giải pháp để nâng cao chất lượng đảng viên của nhà trường trong

    giai đoạn hiện nay

    – Một là, xây dựng những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể đối với đảng viên.

    Trên cơ sở những tiêu chuẩn đảng viên mà Điều lệ Đảng quy định, các cấp ủy

    đảng ở các loại hình tổ chức cơ sở đảng cần cụ thể hóa tiêu chuẩn đảng viên

    một cách phù hợp. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng đến các yếu tố cụ

    thể, như: sự giác ngộ, lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị; đạo đức, lối

    sống; thái độ và cách ứng xử trong các mối quan hệ xã hội, công tác, quan hệ

    lợi ích; tính tiền phong gương mẫu; ý thức trách nhiệm, chấp hành kỷ luật;

    năng lực thực hiện nhiệm vụ; tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình;

    việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chấp hành Quy

    định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được

    làm.

    – Hai là, thực hiện tốt công tác phân công nhiệm vụ và quản lý, kiểm tra,

    giám sát đảng viên.

    Các chi bộ cần bảo đảm tất cả các đảng viên đều được phân công

    nhiệm vụ cụ thể. Tất cả đảng viên đều phải chịu sự quản lý của tổ chức đảng

    về các mặt: hồ sơ lý lịch, tư tưởng, đạo đức, lối sống, hoạt động, các mối quan

    hệ xã hội, quan hệ công tác. Ngoài những nội dung quản lý đó, hiện nay, các

    cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm quản lý số đảng viên đi làm ăn xa và số

    đảng viên làm việc ở những cơ quan quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhất

    là đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở những cơ quan công quyền và đảng

    viên ở những cơ quan thuộc diện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo Nghị

    định số 158/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết địnhsố 05/2008/QĐ-BNV

    của Bộ Nội vụ.

    Thường xuyên kiểm tra, giám sát đảng viên về lập trường tư tưởng,

    quan điểm chính trị, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết, chấp hành các

    nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; về hiệu quả thực hiện chức trách,

    nhiệm vụ được phân công, mối quan hệ giữa đảng viên với quần chúng, tính

    tiền phong gương mẫu và giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng của người

    đảng viên. Bên cạnh đó, hiện nay, các cấp ủy cần căn cứ vào Quy định số 47QĐ/TW, ngày 1-11-2011, của Ban Chấp hành Trung ương về những điều

    đảng viên không được làm để kiểm tra, giám sát đảng viên cho tốt.

    – Ba là, tăng cường công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao

    trình độ mọi mặt cho đội ngũ đảng viên.

    Thực tế cho thấy, nhiệm vụ của mỗi tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa

    phương ngày càng nhiều và khó khăn, phức tạp. Không phải cứ đứng trong

    hàng ngũ của Đảng, là mọi đảng viên đều có đủ khả năng hoàn thành tốt mọi

    nhiệm vụ ở mọi lúc, mọi nơi. Vì thế, việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội

    ngũ đảng viên không chỉ là yêu cầu thường xuyên, lâu dài, mà còn là đòi hỏi

    cấp bách. Để công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đảng viên có hiệu

    quả, cần thực hiện tốt những việc sau:

    Tăng cường và đổi mới nội dung, hình thức giáo dục lý luận chính trị

    tại các chi bộ, đảng bộ. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ

    chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và những kỹ năng cơ bản để xử lý công

    việc. Định kỳ hằng năm, cấp ủy cơ sở cần đánh giá trình độ, năng lực thực tế

    của đảng viên, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị và nhu

    cầu, nguyện vọng học tập, bồi dưỡng của đảng viên để xác định nội dung,

    hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng một cách thiết thực, phù hợp.

    Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường hình thức sinh hoạt chuyên

    KẾT LUẬN

    Thực tiễn và kinh nghiệm lịch sử của những năm qua đã khẳng định

    Đảng cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách

    mạng nước ta Đảng có vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức mới có

    khả năng tạo lập, giữ vững và nâng cao sức mạnh của Đảng tạo thành sự vững

    mạnh của mỗi tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên, Mặt khác sức mạnh của

    Đảng cũng được tạo ra và nhân lên từ cơ sở xã hội của Đảng là quần chúng

    nhân dân và mối liên hệ mật thiết hàng ngày giữa Đảng với nhân dân,Quần

    chúng tín nhiệm và tin tưởng Đảng không chỉ căn cứ vào đường lối, chủ

    trương của Đảng mà còn thông qua tổ chức Đảng và các đảng viên.

    Là một Đảng chiến đấu, một Đảng hành động, Đảng ta coi công tác

    đảng viên là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu Chất lượng

    tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phản ánh trực tiếp và cụ thể chất lượng của

    Đảng Trong điều kiện hiện nay vấn đề này càng trở nên quan trọng, đòi hỏi

    phải được giải quyết một cách khẩn trương, nhưng cũng là nhiệm vụ lâu dài

    bởi lẽ, suy cho cùng toàn bộ sức mạnh của Đảng, năng lực lãnh đạo và sức

    chiến đấu của Đảng đều được tạo thành từ từng người đảng viên, đều phụ

    thuộc vào số lượng và chất lượng đội ngũ đảng viên.

    Trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

    nước, đòi hỏi ngưởi đảng viên không những nâng cao năng lực về trình độ

    chuyên môn, nghiệp vụ, mà còn đòi hỏi phải có đủ phẩm chất đạo đức cách

    mạng, có tính tiên phong gương mẫu có trách nhiệm cao trongthực hiện

    nhiệm vụ, suốt đời phấn đấu vì mục đích lý tưởng của Đảng, của giai cấp, của

    dân tôc. Bởi vậy nâng cao chất lượng đảng viên là một yêu cầu cấp bách,

    nâng cao chất lượng đảng viên phải tiến hành đồng bộ với việc kiện toàn và

    nâng cao năng lực của bộ máy tổ chức Đảng, chính quyền và các Đoàn thể

    trong nội bộ nhà trượng

    Nâng cao chất lượng đảng viên đòi hỏi các tổ chức cơ sở Đảng phải

    tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện tự phê bình và phê bình

    trong toàn Đảng, nhằm nâng cao chất lượng đảng viên góp phần xây dựng

    Đảng trong sạch vững mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Trong Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số
  • Khó Nhưng Vẫn Có Giải Pháp
  • Khó Khăn Trong Phát Triển Đảng Viên Tại Các Khu Dân Cư
  • Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Ở Khu Dân Cư
  • Loạt Bài: Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Mới Ở Địa Bàn Khu Dân Cư (Phần 1)
  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Đô Thị Việt Nam Đang Đối Mặt Nhiều Thách Thức
  • Phân Lô Bán Nền Là Biện Pháp Của Đô Thị Hóa
  • Hậu Quả Và Giải Pháp Của Vấn Đề Đô Thị Hóa?nêu Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Của Vấn Đề Đô Thị Hóa
  • Đô Thị Hóa Tự Phát Là Gì? Những Hậu Quả Của Đô Tự Hóa Tự Phát Là Gì?
  • Đô Thị Thông Minh: Giải Pháp Hiệu Quả Cho Quá Trình Đô Thị Hóa Tại Việt Nam
  • GD&TĐ – Trả lời ý kiến cử tri về thực hiện đổi mới công tác quản lý giáo dục, Bộ GD&ĐT cho biết đã và đang thực hiện nhiều giải pháp nhằm đổi mới nội dung này trong thời gian qua.

    Cụ thể, để xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước về GD-ĐT và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương, Bộ GD&ĐT đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21/9/2018 thay thế Nghị định số 115/2010/NĐ-CP về quy định trách nhiệm quản lý Nhà nước về giáo dục. Trong đó, phân định công tác quản lý Nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục; đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý giáo dục và chính quyền địa phương; tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo cho các cơ sở giáo dục.

    Cùng với đó, đổi mới công tác thanh tra giáo dục theo hướng: Chuyển từ thanh tra chuyên môn sang thanh tra quản lý; kiện toàn bộ máy của cơ quan Thanh tra, nâng cao tính chuyên nghiệp. Việc phối hợp giữa Thanh tra giáo dục với Thanh tra Nhà nước ở địa phương được cải thiện; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được chú trọng; tăng cường giải quyết các vụ việc phức tạp.

    Đẩy mạnh triển khai Chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4, triển khai hệ thống quản lý hành chính điện tử (e-office) tới 100% cán bộ sử dụng và kết nối tới các sở GD&ĐT và các cơ sở giáo dục đại học. Cơ sở dữ liệu ngành GD-ĐT đã được xây dựng, đưa vào sử dụng thống nhất trên toàn quốc, cung cấp thông tin quản lý đầy đủ, chính xác và kịp thời cho các cơ quan quản lý GD-ĐT. 100% trường học được kết nối Internet, 80% trường học đã dùng phần mềm quản trị trường học, sổ điểm điện tử được tăng cường sử dụng giúp giảm tải hồ sơ, giấy tờ trong nhà trường.

    Theo Nghị quyết 77/NQ-CP, 23 cơ sở giáo dục đại học công lập đã được giao thí điểm tự chủ. Các trường được giao quyền tự chủ trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tổ chức và tài chính; chủ động, linh hoạt hơn về tổ chức bộ máy, tuyển dụng nhân sự và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn để hoạt động ngày càng hiệu quả. Kể từ khi Nghị quyết 77/NQ-CP được triển khai, thủ tục hành chính được giảm bớt, thời gian mở ngành rút ngắn đã giúp các trường chủ động trong đào tạo, tận dụng cơ hội mở các ngành đào tạo mới đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của xã hội. Quy mô tuyển sinh của các trường có xu hướng giảm xuống sau khi tự chủ.

    Ngày 19/11/2018, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học. Luật ban hành tạo khung pháp lý, thể chế hóa quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học của Đảng và Nhà nước; phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục hạn chế, bất cập về điều chỉnh pháp luật đối với giáo dục đại học trong thời gian qua để giải quyết những vấn đề mới phát sinh đối với giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập quốc tế. Luật Giáo dục (sửa đổi) cũng đã được thông qua, trong đó có nhiều nội dung đổi mới để phát triển GD-ĐT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Đổi Mới Công Tác Quản Lý Giáo Dục
  • 7 Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục
  • Đổi Mới Ppdh Và Kiểm Tra Đánh Giá
  • Kế Hoạch Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Đổi Mớikiểm Tra Đánh Giá
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • (Thvl) Nạn Đói Ở Vùng Sừng Châu Phi: Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • Hành Động Vì Một Thế Hệ Không Nạn Đói
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Để Hạn Chế Tai Nạn Giao Thông Dịp Tết Ất Mùi 2022
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ, Biên Giới Quốc Gia
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh
  • ò chuyện với học sinh hoặc nhóm học sinh để khuyến khích động viên những hành vi cử chỉ đạo đức tốt của các em, khuyên bảo, uốn nắn những mặt chưa tốt. .Phương pháp rèn luyện Là những phương pháp tổ chức cho học sinh hoạt động để rèn luyện cho các em những thói quen đạo đức, thể hiện được nhận thức và tình cảm đạo đức của các em thành hành động thực tế: Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ bản của nhà trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể và sinh hoạt tập thể. Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường là biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ kích thích bên trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở thành người có đạo đức tốt, vì vậy nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua và động viên học sinh tham gia tốt phong trào này. Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ hoạt động có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính ham hoạt động của trẻ và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư xấu nào đó bằng cách gây cho học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích, lôi kéo trẻ ra ngoài những tác động có hại. .Phương pháp thúc đẩy Là phương pháp dùng những tác động có tính chất " cưỡng bách đạo đức bên ngoài " để điều chỉnh, khuyến khích những " động cơ kích thích bên trong" của học sinh nhằm xây dựng đạo đức cho học sinh. Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với học sinh, vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh đòi hỏi học sinh tuân theo để có những hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường. Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học sinh làm cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến khích các em khác noi theo. Xử phạt : là phê phán những khiếm khuyết của học sinh, là tác động có tính chất cưỡng bách đến danh dự lòng tự trọng của cá nhân học sinh để răn đe những hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh đó và những học sinh khác. Do đó phải thận trọng và đúng mực, không được lạm dụng phương pháp này. Khi xử phạt cần phải làm cho học sinh thấy rõ sai lầm, khuyết điểm, thấy hối hận và đặc biệt sau đó phải theo dõi, giúp đỡ, động viên học sinh sửa chữa khuyết điểm, cần phải tỏ rõ thái độ nghiêm khắc nhưng không có lời nói, cử chỉ thô bạo đánh đập, xỉ nhục hoặc các nhục hình xúc phạm đến thân thể học sinh. Chương II Thực trạng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THCS Thừa Đức 2.1. Tình hình chung Đặc điểm Xã Thừa Đức là một xã vùng biển của Huyện Bình Đại có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, dân cư phân bố không đồng đều. Phía đông giáp Biển Đông, tây giáp xã Thạnh Phước, nam giáp xã Bình Thắng, bắc giáp xã Thới Thuận. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1162 ha, gồm 4 ấp, dân số toàn xã là 8473 người gồm 1876 hộ. Người dân sống chủ yếu bằng nghề làm giồng, đánh bắt thủy sản, làm thuê, thu mua thủy sản, khai thác nghiêu ... Tình hình giáo dục của xã những năm qua có nhiều chuyển biến tốt, người dân bắt đầu có sự quan tâm đến giáo dục. Hệ thống trường lớp có nhiều phát triển, toàn xã có hai trường tiểu học, một trường mẫu giáo và một trường THCS. Trường THCS Thừa Đức đóng trên địa bàn ấp Thừa Long của xã, rất thuận lợi cho học sinh đi học. Năm học 2009-2010 này trường có 12 lớp với tổng số học sinh là 436 em . Tổng số giáo viên của trường là 30 người, đáp ứng đủ cho việc phân công giảng dạy. Thuận lợi Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Đảng ủy, UBND, sự hỗ trợ nhiệt tình các ban ngành đoàn thể địa phương, nhất là sự tận tình giúp đỡ của Cán bộ và chiến sĩ đồn Biên phòng 594 đóng trên địa bàn. Được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Phòng giáo dục và đào tạo huyện Bình Đại. Đội ngũ cán bộ và giáo viên của trường đều qua trường lớp sư phạm chính quy từ đạt chuẩn đến trên chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ. Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học môn GDCD đã và đang đổi mới đây là một trong những môn có chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp dạy học, dạy học đạo đức thông qua bộ môn GDCD được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, là đòi hỏi cấp bách của xã hội đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Chương trình Sách giáo khoa GDCD mới có nhiều đổi mới về mục tiêu, cấu trúc, sự đổi mới này rất thích hợp cho giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD cho học sinh. Thông qua bài học học sinh có thể tự hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo tìm tòi phát hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học. Được sự đồng tình của xã hội, nhất là các bậc Cha mẹ học sinh tích cực phối hợp cùng với nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Khó khăn - tồn tại Trường chỉ có một giáo viên dạy môn giáo dục công dân /12 lớp, rất khó cho việc giảng dạy và dự giờ rút kinh nghiệm lẫn nhau. Là địa bàn có khu du lịch sinh thái biển nên rất phức tạp về tệ nạn xã hội, tình hình thanh thiếu niên lêu lỏng bên ngoài lôi kéo học sinh uống rượu, đánh nhau đã ảnh hưởng không ít đến đạo đức học sinh. Cơ sở vật chất của trường còn nghèo nàn, chưa có hàng rào bao quanh rất khó quản lý giờ giấc của các em. 2.2. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường trong năm học 2009-2010 Những việc trường đã làm trong năm học 2.2.1.1. Các hoạt động ngoại khóa Trường đã tổ chức cho học sinh tham gia tích cực các hoạt động giáo dục theo quy định của biên chế năm học 2009-2010 do Sở giáo dục và đào tạo Bến Tre cụ thể như sau: Giáo dục an toàn giao thông từ tháng 9 đến hết năm học, đã mời được đội cảnh sát giao thông Công an huyện Bình Đại, công an xã Thừa Đức đến tuyên truyền về an toàn giao thông 2 cuộc có 840 học sinh và 27 cán bộ giáo viên tham dự. Hàng tuần trường đều tổ chức sinh hoạt đội vào ngày thứ năm nhằm giáo dục các em làm theo 5 điều Bác Hồ dạy, trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, công dân tốt, trở thành đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh . Tổ chức thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong học sinh. Trong năm học 2009-2010 các hoạt động ngoại khóa của trường phong phú nhiều hình thức, lôi cuốn học sinh có tác dụng giáo dục, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt cho học sinh, xây dựng lối sống tập thể, tinh thần hợp tác, tương trợ và ý thức chấp hành nội quy nhà trường và pháp luật xã hội. 2.2.1.2. Các hoạt động giáo dục lao động, hướng nghiệp Giáo dục lao động: trường tổ chức cho học sinh lao động hàng tuần, thu dọn vệ sinh môi trường, trồng hoa kiểng cải tạo cảnh quang sư phạm. Thông qua các buổi lao động giáo dục cho học sinh tinh thần kỷ luật, biết thương yêu và kính trọng người lao động. Giáo dục hướng nghiệp: trường chỉ dạy hướng nghiệp cho học sinh khối 9 theo chương trình quy định của Bộ giáo dục và đào tạo, các khối khác thì chủ yếu lồng ghép vào bộ môn nhằm thông qua đó giáo dục cho học yêu nghề nghiệp, biết tự chọn được nghề nghiệp của mình. Giáo dục thẩm mỹ : Thông qua bộ môn Mỹ thuật giáo dục cho các em biết cảm nhận được cái đẹp chân chính. 2.2.1.3. Việc giảng dạy chương trình môn GDCD của trường Trường đã tổ chức thực hiện giảng dạy môn giáo dục công dân đầy đủ theo đúng quy định của chương trình, có lồng ghép giáo dục pháp luật vào bộ môn. Tuy nhiên thực tế việc dạy và học môn giáo dục công dân ở trường còn nhiều khó khăn, bất cập nên hiệu quả giáo dục của môn học còn thấp. Môn giáo dục công dân từ trước đến nay chưa được coi trọng, nhiều giáo viên, học sinh, Cha mẹ học sinh vẫn xem đây là môn học phụ. Nguyên nhân: thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu sau: Trường chỉ có một giáo viên dạy GDCD/ 12 lớp chưa được dự giờ đồng nghiệp để rút kinh nghiệm, nên có nhiều khó khăn lúng túng về phương pháp, về soạn giảng và nghiên cứu, rút kinh nghiệm giờ dạy. Giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ, vị trí vai trò của môn học, còn xem nhẹ nên chưa chú trọng đầu tư công sức, thời gian để dạy tốt, chủ yếu chỉ đầu tư vào môn chính mình được đào tạo. Tâm lý chung của mọi người trong đó có Cha mẹ học sinh cho rằng đây là môn học phụ, kết quả học tập không quan trọng lắm. Kết quả học tập môn GDCD: Khối TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL 6 119 78 65.5% 22 18.5% 19 16% 00 00 7 116 82 70.7% 24 20.7% 10 8.6% 00 00 8 93 82 88.2% 11 11.8% 00 / 00 00 9 108 46 42.6% 42 38.9% 20 18.5% 00 00 TC 436 288 66.1% 99 22.7% 49 11.2% 00 00% 00 00% 2.2.1.4. Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm Tầm quan trọng của công tác giáo viên chủ nhiệm đối với công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường: Giáo viên chủ nhiệm là lực lượng chính trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là người quản lý mọi hoạt động của lớp học, là người triển khai mọi hoạt động của trường của nhà trường đến từng lớp, từng học sinh. Do đó trong đầu năm học 2009-2010 này Ban giám hiệu trường đã định hướng phân công những giáo viên làm công tác chủ nhiệm theo những tiêu chí sau: Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng và trình độ giác ngộ cách mạng cao. Có uy tín- đạo đức tốt. Giáo viên giỏi, vững tay nghề. Có tầm hiểu biết rộng. Có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề. Thương yêu và tôn trọng học sinh. Có năng lực tổ chức. Những hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong năm học: Thực hiện các loại sổ theo quy định của ngành: sổ liên lạc, sổ chủ nhiệm, sổ theo dõi đạo đức học sinh ... Tổ chức sinh hoạt lớp cuối tuần, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch thi đua... Kết hợp chặt chẽ với Cha mẹ học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, đoàn TNCS HCM, đội TNTP HCM và các ban ngành đoàn thể địa phương trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Nhận xét, đánh giá, xếp loại Hạnh kiểm và Học lực cho học sinh, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh. Ưu điểm : Trong năm học giáo viên chủ nhiệm thực hiện đầy đủ các loại sổ sách, có lên kế hoạch hoạt động cụ thể hàng tuần, tháng, năm . Kết hợp được nhiều hoạt động, đoàn thể trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Không có học sinh vi phạm đạo đức nghiêm trọng phải nhờ cơ quan chức năng xử lý. Tồn tại: Còn một vài giáo viên chủ nhiệm chưa có tâm huyết với công tác này, tác dụng giáo dục chưa cao, trong lớp vẫn còn học sinh chưa tiến bộ trong rèn luyện đạo đức. Số học sinh chưa ngoan còn nhiều, nhiều em vô lễ giáo viên, đánh bạn. Thiếu sự quan hệ thường xuyên với Cha mẹ học sinh. Nguyên nhân: Một số học sinh có đạo đức yếu kém cha mẹ làm ăn xa nhà nên giáo viên chủ nhiệm không thể đến được gia đình để phối hợp giáo dục. Công tác chủ nhiệm là một công tác khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều cho công tác này, nhưng thực tế giáo viên chủ nhiệm còn phải lo cho công tác chuyên môn. 2.2.1.5. Sự tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh của các giáo viên bộ môn Đầu năm học Ban giám hiệu nhà trường đã quán triệt trên hội đồng giáo viên là trách nhiệm giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ của mọi thành viên trong nhà trường, giáo dục đạo đức cho học sinh là một quá trình thường xuyên, liên tục, diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi. Một giờ dạy trên lớp không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức khoa học cho học sinh mà còn giáo dục cho các em những hành vi, cử chỉ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan khoa học. Ưu điểm : Giáo viên bộ môn có chú ý liên hệ giáo dục đạo đức học sinh thông qua bài học, tiết học. Thường xuyên nhắc nhở uốn nắn những sai phạm của học sinh trong giờ học. Khuyết điểm: Một số giáo viên quá gò bó, đơn điệu khi gán ghép liên hệ giáo dục đạo đức thông qua bài học. Một số giáo viên vẫn còn vi phạm nghe điện thoại, hút thuốc trong khi giảng dạy. 2.2.1.6. Hoạt động gắn liền nhà trường với thực tế đời sống địa phương Những hoạt động: Tổ chức thăm hỏi và tặng quà gia đình thương binh, liệt sĩ, bà mẹ Việt nam anh hùng nhằm giáo dục cho các em truyền thống anh hùng của dân tộc ta, biết kính trọng và giúp đỡ các bạn học sinh là con em những gia đình có nhiều cống hiến cho đất nước. Tổ chức cho các em viết thư thăm hỏi các chú Bộ đội ở đồn biên phòng 594 nhân ngày 22/12 hàng năm . Tổ chức cho học sinh đi cổ động về An toàn giao thông, phòng chống sốt xuất huyết, hiểm họa AIDS. Ưu điểm: Học sinh tham gia đầy đủ, có chất lượng. Phong trào được phát động lớn, có tác dụng giáo dục học sinh, gây ấn tượng tốt với các cơ quan, đoàn thể địa phương. Tồn tại: Phong trào chưa nhiều, chưa có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan đoàn thể địa phương với nhà trường. Chưa có tổng kết đánh giá phong trào, khen thưởng cho cá nhân có thành tích tốt. Chất lượng đạo đức nếp sống của học sinh Nhận xét Kết quả đạt được về phía học sinh là phần lớn các em có được những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức, từng buớc hình thành thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân, có trách nhiệm với hành động của mình, yêu thương, tôn trọng con người, mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số bộ phận học sinh chưa ngoan, thường hay vi phạm đạo đức. Thống kê xếp loại Hạnh kiểm của học sinh ở HKI năm học 2009-2010 Khối TSHS Tốt Khá TB Yếu Kém SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL 6 119 107 89.9% 12 10.1% / / / / / / 7 116 88 75.9% 23 19.8% 5 4.3% / / / / 8 93 79 84.9% 8 8.6% 6 6.5% / / / / 9 108 92 85.2% 12 11.1% 4 3.7% / / / / TC 436 366 83.9% 55 12.6% 15 3.5% / / / / Những biểu hiện của thực trạng đạo đức học sinh Tích cực: Đa số học sinh có đạo đức tốt, biết nghe lời cha mẹ, thầy cô, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của lớp, nội quy của trường, biết sống tốt và sống đẹp. Tiêu cực: Một số bộ phận không ít học sinh có biểu hiện chán nản, không thích học, thường xuyên gây mất trật tự trong lớp, nói tục, vô lễ với thầy cô, nói dối thầy cô và bạn bè, giao lưu với đối tượng xấu bên ngoài, uống rượu, đánh nhau. Trong năm học trường đã xử lý kỷ luật 07 trường hợp từ mức cảnh cáo đến đuổi học một tuần. Nguyên nhân tiêu cực: Khách quan: + Do sự bất ổn của gia đình, cha mẹ đi làm ăn xa các em phải ở với nội, ngoại thiếu sự quan tâm và quản lý các em. + Cha mẹ giàu có, nuông chiều cho tiền nhiều, thiếu sự kiểm tra và giáo dục. + Đời sống nhân dân còn khó khăn, tệ nạn xã hội nhiều, cha mẹ học sinh chưa ý thức hết vai trò giáo dục của mình. + Đa số người dân địa phương nghèo phải đi làm thuê để kiếm sống cho cả gia đình. Chủ quan: + Ý thức đạo đức của học sinh chưa cao, kỷ năng vận dụng chuẩn mực đạo đức còn thấp, chưa phân định được ranh giới giữa cái xấu và cái tốt. + Khả năng tự chủ chưa cao, khi vi phạm đạo đức sửa chữa chậm hoặc không chịu sửa chữa. Nhận định chung Mặt mạnh Về phía học sinh có chiều hướng phát triển tốt về mặt tình cảm đạo đức, các em rèn luyện được kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức đúng sai, tự hiểu và vận dụng được một số kiến thức pháp luật trong cuộc sống hàng ngày, không có học sinh vi phạm nghiêm trọng về đạo đức . Về phía giáo viên luôn trao dồi đạo đức Cách mạng, đạo đức nhà giáo, tự học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Mặt yếu Số học sinh gặp khó khăn trong rèn luyện đạo đức vẫn còn nhiều, một số giáo viên chưa thật sự quan tâm đến giáo dục đạo đức thông qua bài học trên lớp, còn thờ ơ vô trách nhiệm khi thấy học sinh có dấu hiệu vi phạm đạo đức. Công tác thiết kế bài giảng của giáo viên dạy GDCD chưa thể hiện sâu nội dung của từng hoạt động, khô khan không gây hứng thú cho học sinh. Chưa phối hợp chặt chẽ ba môi trường trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Chương III Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THCS Thừa Đức. Xuất phát từ thực trạng của công tác giáo dục cho học sinh của trường THCS Thừa Đức, qua việc nghiên cứu lý luận, tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn đơn vị đã đề ra các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay như sau: 1. Xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục đạo đức cho học sinh 1.1. Ý nghĩa Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh là: cảnh quan sư phạm, làm sao để nhà trường thật sự là "nhà trường", tự đúng nghĩa của nó là mang yếu tố giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo vì nó định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục hình thành nhân cách của học sinh, khai thác có chọn lọc những tác động tích cực và ngăn chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và xã hội. 1.2. Nội dung 1.2.1. Tổ chức, sắp xếp, tu sửa, trang điểm bộ mặt vật chất, khung cảnh của nhà trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục đối với học sinh. 1.2.2. Tạo nên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách sinh hoạt của nhà trường , biểu hiện như sau: Nề nếp tốt: trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc. Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi thề, không tham gia vào tệ nạn xã hội. 1.3. Cách làm 1.3.1. Đối với Hiệu trưởng Phải xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ đầu năm học trên cơ sở dựa vào tình hình thực trạng đạo đức của học sinh, tình hình thực tế của địa phương để định ra, nội dung, biện pháp, thời gian, chỉ tiêu cho phù hợp. Phải thường xuyên nắm tình hình tư tưởng đạo đức của học sinh một cách cụ thể bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và những tình hình có tính chất thời sự, cá biệt có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với học sinh. Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đầu tư ngân sách để cải tạo cảnh quang sư phạm: trồng cây xanh, hoa kiểng, trang trí các khẩu hiệu, nội quy của từng phòng học và trong khu vực trường, xây dựng cổng rào an toàn cho học sinh. Thường xuyên tổ chức lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh... thông qua buổi lao động cần giáo dục đầy đủ mục đích, ý nghĩa công việc cho học sinh, phải có phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị lớp, quy định rõ thời gian và kết quả phải đạt được, phải có kỷ luật, trật tự, không khí tươi vui, biểu dương kịp thời những học sinh tốt, tập thể lớp tốt. Tổ chức họp tham khảo ý kiến hội đồng giáo viên để đưa ra những quy định cụ thể về nội quy nhà trường, nhiệm vụ của học sinh, dựa trên cơ sở điều lệ trường trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2005. Kết hợp với chính quyền địa phương giải tỏa các hàng quán trước cổng trường, các điểm vui chơi giải trí và truy cập internet xung quanh trường theo đúng quy định của ngành chức năng. Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính công bằng, trung thực, phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành những tập thể vững mạnh, có lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp, là trợ thủ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm. 1.3.2. Đối với giáo viên Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi theo. 1.3.3. Đối với Đoàn đội: Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt phong trào thi đua học tậ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Thói Quen Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 2
  • Sáng Kiến Giáo Dục Đạo Đức Đạt Giải Huyện Năm Học: 2022
  • Sáng Kiến Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 5 Tân Hội Nguyễn Ngọc Hân
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Cây Gáo A
  • Sáng Kiến Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Về Công Tác Kết Nạp Đảng Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Đấu Tranh Với Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phòng Chống Tội Phạm, Giữ Gìn Trật Tự Xã Hội
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Giết Người Trên Địa Bàn Tỉnh Bạc Liêu
  • Bộ Công An Sơ Kết 03 Năm Công Tác Phòng, Chống Tội Phạm Có Tổ Chức .công An Tra Vinh
  • Nâng Cao Hiệu Quả Phòng, Chống Tội Phạm Có Tổ Chức
  • Trong 5 năm qua, cấp ủy các cấp thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; tổ chức cho quần chúng học tập nghiên cứu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bồi dưỡng nâng cao nhận thức về Đảng cho quần chúng; xác định rõ trách nhiệm của cấp uỷ và chi bộ trong công tác kết nạp đảng viên. Thực hiện đúng quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn quy định trong công tác kết nạp đảng viên; thực hiện phương châm coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng. Kết quả từ năm 2022 đến năm 2022 toàn tỉnh luôn đạt và vượt chỉ tiêu kết nạp đảng viên so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra. (năm 2022 đạt 132%, năm 2022 đạt 118%, năm 2022 đạt 109%, năm 2022 đạt 107%). Đa số đảng viên dự bị đã phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong công tác, trong cuộc sống hàng ngày; nhiều đồng chí được bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo cao hơn. Công tác kết nạp đảng viên đã góp phần tích cực vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đảm bảo tính kế thừa, sự phát triển liên tục của Đảng, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác đảng viên và xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh.

    Tuy nhiên, công tác kết nạp đảng viên vẫn còn những khó khăn, hạn chế: Một số cấp ủy chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác kết nạp đảng viên, công tác tạo nguồn, bồi dưỡng quần chúng ưu tú để kết nạp vào Đảng. Số đảng viên kết nạp hàng năm so với chỉ tiêu giao có xu hướng giảm dần, từ 132% năm 2022 giảm xuống còn 107% năm 2022 và 8 tháng năm 2022 mới đạt 39% chỉ tiêu giao. Một số tổ chức cơ sở đảng chưa tích cực bồi dưỡng, giúp đỡ để nâng cao chất lượng tạo nguồn kết nạp đảng viên như công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng quần chúng; lãnh đạo các tổ chức đoàn thể xây dựng và thực hiện kế hoạch kết nạp đảng viên, nên trong năm không kết nạp được đảng viên.

    Từ thực trạng nêu trên, trong thời gian tới công tác kết nạp đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

    Trước hết, các cấp ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên phải nhận thức đúng về công tác kết nạp đảng viên. Phát triển đảng viên là vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, tăng thêm nguồn sinh lực cho Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Hằng năm, cấp ủy đảng xây dựng kế hoạch hoặc nghị quyết về công tác kết nạp đảng viên ngay từ đầu năm. Gắn kết quả thực hiện công tác kết nạp đảng viên trong đánh giá chất lượng hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng và phân loại đảng viên hàng năm.

    Thứ hai, chủ động làm tốt công tác phát hiện, tạo nguồn phát triển đảng. Cấp ủy các cấp có kế hoạch phân công cấp ủy viên, đảng viên có kinh nghiệm đến những nơi chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên, phối hợp với các đoàn thể chính trị phát hiện, bồi dưỡng, tạo nguồn kết nạp đảng viên. Đây là khâu đầu tiên, là giải pháp quan trọng trong quy trình kết nạp đảng.

    Thứ ba, tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18-3-2019 của Ban Bí thư về “Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”; Nghị định số 98/2014/NĐ-CP ngày 24-10-2014 của Chính phủ về “Quy định việc thành lập tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội tại doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế”; Thông báo kết luận số 22-TB/TW ngày 11-4-2017 của Ban Bí thư về “Tiếp tục thực hiện Kết luận số 80-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X”; và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo “Xây dựng tổ chức đảng, đoàn thể trong các đơn vị kinh tế tư nhân” cấp tỉnh, huyện ủy, thành ủy và đảng ủy khối Cơ quan-Doanh nghiệp tỉnh. Đây là một giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả công tác kết nạp đảng viên; nguồn kết nạp ở khối doanh nghiệp và trong các đơn vị kinh tế tư nhân ngày càng tăng, khi có nhiều dự án đầu tư trong tỉnh.

    Thứ tư, cùng với việc kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng cần làm tốt việc sàng lọc đưa ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội; những đảng viên thoái hóa, biến chất, những đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng, vi phạm phẩm chất đạo đức của người đảng viên, để xây dựng nội bộ Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng viên phải thật sự là tấm gương tốt cho quần chúng phấn đấu làm theo và nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác vận động, giáo dục quần chúng tự nguyện phấn đấu vào Đảng.

    Thứ năm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội, của từng đảng viên trong công tác kết nạp đảng. Phát triển đảng là nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên. Cấp ủy lãnh đạo các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội bồi dưỡng, rèn luyện đoàn viên, hội viên trở thành những quần chúng ưu tú và giới thiệu với cấp ủy, tổ chức đảng. Đề cao trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng của các đoàn thể chính trị-xã hội, các tầng lớp dân cư; tham gia giám sát quá trình phấn đấu, rèn luyện của quần chúng và đảng viên tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Thảo “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phát Triển Đảng”
  • Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Mới Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Đảng Viên Ở Xã, Thị Trấn Hiện Nay
  • Gỡ Khó Trong Phát Triển Đảng Viên Ở Khu Dân Cư
  • Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Ở Chi Bộ Nông Thôn
  • Thực Trạng Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Cho Hạ Sĩ Quan, Chiến Sĩ Ở Quân Chủng Phòng Không
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Ở Tỉnh Ta
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị, Đáp Ứng Tốt Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Tăng Lương Giáo Viên Chưa Phải Giải Pháp Triệt Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Xây Dựng Đội Ngũ Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Lý luận

    Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Vậy tại sao giáo dục đào tạo lại có tầm quan trọng đến chiến lược phát triển đất nước như vây?

    – Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế.

    – Thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xă hội.

    – Thứ ba: Và trên hết giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người.

    Hiểu được điều này, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự phát triển của nền giáo dục, đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực sự vững mạnh và có chất lượng. Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam.

    Hơn nửa thế kỷ qua nền giáo dục Việt nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng, xây dựng và phát triển đất nước. Giáo dục đại học đã đào tạo bài bản và cung cấp cho đất nước một đội ngũ cán bộ đông đảo có trình độ đại học, trên đại học đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước, cũng như yêu cầu của sự hội nhập khu vực và thế giới trên mọi lãnh vực. Với quan điểm “Đầu tư cho giáo dục là quốc sách”, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triển giáo dục, đào tạo khoa học và công nghệ khẳng định tầm quan trọng, định hướng cũng như xác định mục tiêu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Thực hiện nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Bộ giáo dục đào tạo đã đưa ra nhiều mô hình đào tạo đại học. Do vậy, tốc độ tăng của giáo dục và đào tạo đại học tăng nhanh. Hiện trên cả nước có khỏang gần 90 cơ sở đào tạo đại học bao gồm các trường đại học quốc gia, đại học vùng, các trường đại học công lập, bán công, dân lập và các học viện. Tới đây sẽ có thêm một số trường đại học tư thục ra đời. Lực lượng giảng viên không ngừng nâng cao về chất lượng và quy mô, số lượng sinh viên tăng đáng kể (tăng khoảng 15 lần so với 20 năm trước) và do đó làm cho trình độ dân trí tăng lên rõ rệt. Thành tích trên là đáng trân trọng và tôn vinh. Mặc dù như vậy, nhưng chất lượng giáo dục của Việt Nam vẫn chưa cao, nói một cách nom na là số lượng thì tăng rất nhanh nhưng chất lượng vẫn không tăng thậm chí là còn tuột dốc, chưa theo kịp với sự đổi mới của thế giới. Như vậy những quan tâm và đầu tư của nhà nước đã thật sự đúng cách và đúng chỗ ?

    Nội dung đề tài này sẽ xoay quanh những bất cập của nền giáo dục Việt Nam về thưc trạng, về những nguyên nhân làm cho nền giáo dục Việt Nam chưa theo kịp với bè bạn quốc tế từ đó đề ra hướng giải quyết cho những khó khăn của ngành giáo dục Việt Nam hiện nay, và những yêu cầu cải cách đổi mới để thực hiện nhiệm vụ của ngành giáo dục.

    Vận dụng

    Thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện hành.

    – Hiện nay có khuynh hướng đề cao khái niệm “đại học quốc tế chất lượng cao”, cơ bản xây dựng đại học tốt là điều kiện”cần có”, nhưng điều kiện “đủ” là chúng ta phải có bản thân sinh viên là những hạt giống tốt, nhân tố tốt. Rõ ràng lâu nay giáo dục Việt Nam cũng chỉ lo đào tạo số lượng sinh viên đầu ra mà quên đi vấn đề quan trọng là thế hệ thanh niên thật sự đóng góp như thế nào vào sự nghiệp phát triển đất nước. Hàng loạt kỹ sư, cử nhân Việt Nam ra trường nhưng thử hỏi có bao nhiêu người đạt được trình độ kỹ thuật của kỹ sư? Bao nhiêu người dùng được? Bao nhiêu người làm việc theo đúng ngành nghề mình đã học, đó là một sự lãng phí lớn. Thậm chí ngày nay học sinh, sinh viên chỉ lo đạt bằng TOEFL này, TOEIC kia nhưng chính tiếng Việt lại sử dụng không chuẩn. Trong khi cha ông ta ngày xưa số lượng ông Cử đếm trên đầu ngón tay nhưng đào tạo người nào ra người nấy. Họ không chỉ thông thạo ngoại ngữ mà còn giỏi thơ văn, rành văn hóa nước nhà. Vì sao lại có nghịch lý như thế? Hiện nay chúng ta cũng không có một ngành thống kê thực tế phục vụ nghiên cứu chính sách. Xây dựng trường đại học mang tầm quốc tế chỉ là điều kiện”cần” nhưng chưa “đủ”. Trên thế giới người ta rất quan tâm đến những thợ giỏi, chuyên viên kỹ thuật cao. Đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa mà sinh viên không chịu học kỹ thuật, chỉ tập trung không cân bằng vào các ngành dễ được xã hội “chấp nhận” thì làm sao phát triển công nghiệp, làm sao hiện đại hoá đất nước? Việt Nam muốn phát triển nền khoa học kỹ thuật thì phải đào tạo khoa học kỹ thuật trên bình diện rộng.

    Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:

    – Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu.

    – Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.

    – Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…

    – Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối.

    – Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước.

    – Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp.

    – Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm.

    – Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập.

    – Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội.

    Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo – quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích.

    Nguyên nhân

    (1). Về phía người dạy

    Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp. Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học, số thời gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế. Đời sống của ngưới Thầy còn nhiều khó khăn : Hiện nay giáo viên đang được hưởng mức lương thuộc nhóm cao, nhưng thực tế xã hội ta hiện nay không sống bằng lương , các ngành khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều. Đây là vấn đề cần phải xem lại chính sách lương bổng của chúng ta đối với thầy cô giáo. Nếu chúng ta thử tính một gia đình nhà giáo , hai người dạy học, có hai con đúng tiêu chuẩn, nếu họ là nhà giáo chân chính, chuyên tâm dạy học thì với đồng lương của họ nuôi con đi học tới lớp mấy ?

    (2). Về phía người học

    Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo đại học quá thấp, thấp đến mức không thể thấp hơn được nữa, chủ yếu tập trung vào các trường xét tuyển, tính chủ động sáng tạo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưa cao, thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động, học theo phong trào, học cho qua “học theo hội chứng bằng cấp” , do vậy khi tốt nghiệp chưa đủ kiến thức để đáp ứng được yêu cầu bức xúc của thực tế và bị thực tiễn chối bỏ. Chỉ số chất lượng đào tạo so với các nước trong khu vực đứng hạng 10 trên 12 nước.

    (3). Về chương trình đào tạo

    Chương trình đào tạo chậm cải tiến đổi mới,̀ thiếu tính cập nhật, lý thuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn tới sinh viên Việt Nam học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực tiễn.

    (4). Giáo dục còn quá yếu kém và lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu đầu tư nâng cấp

    Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục đào tạo đại học mà nguyên nhân chính vẫn là tư duy của người dạy, người học và cơ chế quản lý chưa phù hợp đã tạo những “Sản phẩm” chất lượng kém vừa thiếu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp làm việc vừa kém về năng lực nhận thức, tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học, xã hội không thừa nhận và rồi “Sản phẩm” của giáo dục đào tạo đại học không có chỗ đứng trên thị trường, người học xong đại học khó hoặc không tìm được việc làm.

    -Nội dung chương trình và sách giáo khoa chưa phù hợp: Hiện nay đang từng bước thực hiện thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình, có định hướng giáo dục toàn diện cho học sinh, khắc phục những thiếu sót trước đây chủ yếu dạy kiến thức, nặng về lý thuyết, chưa quan tâm đến giáo dục tình cảm và hành động cho học sinh .

    – Cơ chế quản lý đối với ngành giáo dục chưa phù hợp : Hiện nay ngành giáo dục các địa phương chịu sự tác động hàng ngang của địa phương nhiều hơn là chịu tác động hàng dọc của Bộ giáo dục – đào tạo. Các trường phổ thông dạy học, thi cử đúng như quy chế của Bộ giáo dục – đào tạo, nhưng nếu học sinh thi rớt nhiều, lưu ban nhiều thì địa phương sẽ có ý kiến , thậm chí có những ý kiến chỉ đạo, “bệnh thành tích”có cơ hội để phát triển trong cơ chế quản lý giáo dục hiện nay.

    Đánh giá – nhận xét

    Việt Nam trên trường quốc tế

    Có lẽ chưa bao giờ đề tài giáo duc được đem ra bàn luận nhiều như thời điểm hiện tại. Nguyên nhân trực tiếp có lẽ là từ giải thưởng toán học Fields của giáo sư Ngô Bảo Châu, một ” hiện tượng ” mới đang chiếm đa số trên các mặt báo của Việt Nam và cả quốc tế. Từ chuyện gốc gác đến giá trị nền tảng mà anh thừa hưởng, từ chuyện riêng, đời tư đến tầm ảnh hưởng chính trị quốc gia…vẫn đang là những đề tài tranh luận sôi nổi của giới chuyên môn. Tuy nó chưa đến hồi kết, nhưng rất nhiều người đã lấy làm tự hào về nền giáo dục Việt Nam từ sự kiện này. Một thái độ cần được xem lại, cần được soi chiếu với một thực trạng mà các chuyên gia nước ngoài gọi là ” khủng hoảng trầm trọng về giáo dục “. Chúng ta sẽ nhìn lại vấn đề này qua các số liệu thống kê từ các diễn đàn, cũng như các báo cáo khoa học chính thức trong thời gian gần đây.

    Trong bảng xếp hạng thứ tự các trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế từ trước đến nay thì Việt nam chưa có lấy một đơn vị góp tên trong ” top 200 “. Mới đây nhất, năm 2009, người ta công bố 100 trường đại học nổi tiếng trên thế giới, Việt nam vẫn là một ” hành tinh ” chưa ai nghĩ đến, trong khi Nhật bản có đến 4 trường trong các vị trí khác nhau, Singapo, Hàn quốc, Trung Quốc đều là những quốc gia góp mặt ở những vị trí đáng tự hào.

    Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 376 trường đại học, với khoảng 6600 giáo sư và phó giáo sư. Tuy nhiên theo ông tổng thư ký hội đồng chức danh giáo sư, nếu đánh giá đúng theo tiêu chuẩn quốc tế, Việt nam chỉ có khoảng từ 15 đến 20% có trình độ tương ứng với chức danh đó. Còn lại không chỉ thấp mà hơn dưới 1/3 rất thấp.

    Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ thi trượt đại học nhiều nhất thế giới. Hiện nay chỉ có 1/10 người ở độ tuổi học đại học được tuyển sinh. Tuy nhiên, quốc gia này đang được xếp vào những nước có tỷ lệ dân số đạt trình độ đại học trở lên thấp nhất của khu vực và trên thế giới. Ngay các nước láng giềng cũng đang phấn đấu để đạt được tỷ lệ tuyển sinh đại học là 60 – 80% hoặc cao hơn nữa, trong khi chúng ta mới chỉ đạt được khoảng 10 – 15%.

    25% chương trình học ở đại học là dành cho các môn bắt buộc và hầu hết là các môn này nhằm mục đích tuyên truyền chính trị.

    Việt Nam là một trong những quốc gia còn sót lại của nền giáo dục đại học dưới sự quản lý chặt chẽ từ trung ương, thiếu sự tự quản đến mức khó hiểu. Sự bất cập này không những ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn của đội ngũ giảng dạy mà còn cả các tiêu chuẩn xây dựng cơ sở vật chất.

    Mỗi năm có khoảng 20000 sinh viên ra trường và chỉ 50% được đáp ứng việc làm, trong đó chỉ 30% đúng nghành nghề. Dĩ nhiên chúng ta chưa nói đến chất lượng và thực tế chuyên môn của tầng lớp mà người ta gọi là tri thức, là bộ mặt của đất nước.

    Trong một cuộc sát hạch, đánh giá của Intel để tuyển dụng 2000 sinh viên công nghệ thông tin, chỉ có 90 ứng sinh, nghĩa là 5% vượt qua kiểm tra, và trong số đó chỉ có 40 người đủ khả năng tiếng anh theo yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận, đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư.

    Trong 10 năm từ 1996 đến 2005 chỉ có 3456 công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp san quốc tế. Nếu đem so sánh với con số giáo sư và phó giáo sư thì trung bình mỗi vị chỉ có 0,58 bài báo cáo trong vòng 10 năm. Không những ít so với quốc tế và so với các nước trong khu vực, Việt Nam cũng đứng vào loại bét nhất : chỉ bằng 1/5 so với Thái lan ; 1/3 Malaysia ; 1/14 Singapo ; thậm chí thấp hơn cả Indonésia và Philippin.

    Chất lượng sinh viên tốt nghiệp ở Việt nam thấp hơn một bậc so với nước ngoài. Theo một giảng trình viên của cuộc hội thảo về toán lý hóa : ” trình độ của sinh viên tốt nghiệp ở Việt nam chỉ bằng chương trình đại cương của đại học nước ngoài, cao học bằng đại học và tiến sĩ bằng cao học “.

    Việt nam là nước có tỉ lệ ” giả tri thức, tiến sĩ giấy, giáo sư dỏm ” nhiều đến mức không dám công khai điều tra vì sợ ” không có người làm việc “. Việc lấy bằng cấp không biết dễ hay khó, nhưng có lẽ Việt nam là nước duy nhất trên thế giới có ý định đòi 100% cán bộ cốt cán phải có bằng tiến sĩ ở thủ đô Hà Nội.

    Có thể nói giáo dục Việt Nam đang thực sự khủng hoảng, mà nói như các chuyên gia của đại học Harvard thì nó đã đến mức trầm trọng. Người ta vẫn thường mượn đến cái danh của những cá nhân kiệt xuất để che đậy cho một thực trạng yếu kém đến mức báo động. Một cách làm chẳng giống ai, khi cứ tâng bốc rồi ” bắt quàng làm họ ” trong lúc công trạng lại là của kẻ khác. Người Việt Nam nên vui khi có những con người làm rạng danh đất nước như nghệ sĩ Piano Đặng Thái Sơn, như bộ trưởng bộ y tế Đức Philipp Roesler, như giáo sư Ngô Bảo Châu…Tuy nhiên, chúng ta không nên đánh đồng họ với nền giáo dục Việt Nam, vì những con người này đều trưởng thành từ một nền giáo dục hiện đại ở nước ngoài. Chúng ta cũng không nên ngủ quên vì những lời tán tụng trong khi nền giáo dục của mình vẫn đang ở bậc thấp, đang mò mẫm trong mờ mịt của những bước đi sai lầm. Có lẽ sẽ sáo rỗng khi nhắc đến hai từ ” cải cách “, nhưng đó vẫn là điệp khúc cần lặp lại để hy vọng vào một tương lai sáng sủa hơn cho giáo dục nước nhà.

    Giáo dục Việt Nam chưa sát với thực tế “Học không đi đôi với hành”

    Những con số “đáng sợ” sau là minh chứng cho những bất cập của Giáo dục Đào tạo Việt Nam:

    Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực/ khả năng học của mình.

    Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học;

    Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu;

    Gần 55% SV được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.

    (Theo một nghiên cứu mới đây về phong cách học của sinh viên của chúng tôi Nguyễn Công Khanh (2008, được trích trong Mai Minh, 2008)

    Như vậy, các trường đại học ở Việt Nam muốn nâng cao chất lượng thì phải chú trọng thay đổi 3 vấn đề chính được đề cập ở trên. Những thay đổi này cần sự nỗ lực từ nhiều phía: Bộ Giáo dục, nhà trường, giảng viên và sinh viên. Biết rằng việc thực hiện rất khó khăn và phải mất một khoảng thời gian dài nhưng phải làm ngay vì nhà nước đã mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào giáo dục và khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo theo nhu cầu xã hội. Điều này tạo ra sự cạnh tranh trong Giáo dục-Đào tạo, các trường đại học phải tự đổi mới nâng cao chất lượng để tạo uy tín và thương hiệu cho mình.

    Trao đổi với GS Nguyễn Minh Thuyết, thầy cho biết:

    – Hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm được nhiều nhà khoa học cho là không phù hợp, cần rút ngắn. Là người tham gia biên soạn sách giáo khoa, giáo sư chia sẻ với quan điểm này như thế nào?

    – Xét hoàn cảnh của đa phần người học và điều kiện kinh tế của đất nước, kéo dài đến 12 năm học phổ thông là không phù hợp, lãng phí. Phần lớn các em học hết 12 năm rồi thì vẫn quay về lao động chân tay bình thường. Để được đào tạo nghề, các em lại phải đi học nghề. Trong khi đó, nếu xác định học nghề từ đầu thì chỉ cần học hết lớp 9, không cần đến hết 12.

    Tất nhiên, đã học thì cái gì cũng bổ, như học toán, nhưng học đến lớp 9 là đã đủ rèn tư duy, không cần đến các kiến thức toán nâng cao. Với một gia đình bình thường, bớt một năm nuôi con đi học là bớt được món tiền cực lớn, đó là chỉ tính đóng góp bình thường chứ chưa kể “tiêu cực phí”.

    – Theo giáo sư, chương trình phổ thông rút ngắn bao nhiêu thì hợp lý?

    – Tôi đã đưa ra đề xuất giảm bớt một năm học, theo cơ cấu “9 + 2”. Hệ thống giáo dục bắt buộc của mình là 9 năm, đây là chương trình phổ cập, ai cũng phải học và dần dần nhà nước phải miễn học phí. Sau 9 năm, thay vì học 3 năm THPT như hiện nay với đầy đủ các môn, thì bậc học này để cho học sinh tự chọn học các môn phù hợp với tương lai. Đây là 2 năm để định hướng, trên thế giới, nhiều nước cũng đã đi theo hướng này.

    Thêm nữa, thanh niên Việt Nam hiện trưởng thành sớm hơn thế hệ trước, học hết 11 năm tức là đã 17 tuổi. Ở tuổi này, thanh niên đã có nhận thức xã hội tốt và làm việc được. Đây cũng là lứa tuổi tâm sinh lý phát triển và phải chịu trách nhiệm về các hành vi.

    Thực tế các trường trung học hiện cũng chỉ dạy đến 11 năm, vì sau lớp 11, học sinh chỉ học các môn thi đại học. Chúng ta cũng cần nhìn nhận lại việc các thế hệ trước đây học 11 năm, thậm chí thế hệ kháng chiến chỉ 10 năm nhưng vẫn sản sinh ra rất nhiều giáo sư, tiến sĩ giỏi.

    Giải pháp

    Mục tiêu giáo dục của ta hiện nay là “Nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài ” . Theo công bố của chương trình phát triển Liên hiệp quốc ( UNDP ) năm 1993 về chỉ tiêu quy mô phát triển giáo dục thì so với quốc tế ta đều thấp hơn về chỉ tiêu phát triển giáo dục ở các bậc học. Về giáo dục phổ thông, ta chưa đạt mức trung bình, về cao đẳng đại học ta còn thấp hơn nước phát triển chậm. Vì vậy, muốn thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra chúng ta cần tích cực thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục :

    (1)- Tăng cường nguồn lực cho giáo dục đào tạo: Trên thế giới và trong khu vực hiện nay tỷ trọng ngân sách giành cho giáo dục – đào tạo rất cao, chúng ta do điều kiện đất nước còn nghèo , nguồn cung cấp ngân sách cho giáo dục- đào tạo còn hạn chế, đang phấn đấu để đạt con số 15 % và sau đó cần phải tăng hơn nữa . Ngoài ngân sách nhà nước hiện nay chúng ta đang huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, xã hội hoá giaó dục để tăng nguồn lực cho giáo dục đào tạo . Hiện nay có nhiều nước trên thế giới coi giáo dục là một ngành kinh doanh, kinh doanh công nghệ dạy học, chúng ta nên tạo điều kiện kêu gọi họ tham gia xây dựng cơ sở vật chất và nội dung chương trình giáo dục cho ta. Ngoài ra ta nên có chủ trương cho các trường chuyên nghiệp, dạy nghề lập cơ sở sản xuất và dịch vụ khoa học đúng với ngành nghề đào tạo.

    Tăng lương giáo viên

    Hiện nay, với thang bảng lương đang áp dụng, ngành GD thật khó để thu hút được đội ngũ giáo viên giỏi. Bởi nhìn vào điểm chuẩn đầu vào của các ngành sư phạm tại các trường ĐH năm 2012, người ta không khỏi giật mình.

    Tại ĐH Đà Nẵng, điểm chuẩn ngành sư phạm Vật lý là 14,5 điểm, ngành sư phạm Tin học là 13 điểm. ĐH Tây Bắc, điểm chuẩn ngành sư phạm Toán là 14 điểm, sư phạm Vât lý là 13 điểm. Như vậy, chỉ cần trung bình mỗi môn thi từ 4,5 đến 5 điểm là các bạn trẻ của chúng ta đủ tiêu chuẩn bước vào giảng đường ĐH. Đầu vào là thế, vậy ta thử nghĩ xem liệu đầu ra (sau 4 năm học tập) của số sinh viên này như thế nào? Phải chăng 4 năm ĐH sẽ giúp các sinh viên này cải thiện rõ rệt về chất để trở thành những giáo viên có đủ tự tin đứng trên bục giảng truyền đạt lại kiến thức cho học sinh?

    Trong khi đó điểm đầu vào của ĐH Ngoại thương Hà Nội năm 2009, đối với ngành Kinh tế đối ngoại (khối A) là 26,5 điểm. Tương tự ngành thấp nhất, điểm trúng tuyển cũng đã là 23,5 điểm. ĐH Kinh tế Quốc dân điểm trúng tuyển thấp nhất của khối A là 22,5 điểm. Tại sao lại có nghịch lý này?

    Đơn giản, bởi khi ra trường một sinh viên học về kỹ thuật, hay thương mại, kinh tế nếu làm cho một doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng có thể có mức lương khởi điểm từ 3 – 4 triệu đồng/tháng, và may mắn hơn nếu được làm cho các tổng công ty, tập đoàn lớn hay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì mỗi tháng bình quân có thể thu nhập từ 6 – 10 triệu đồng, thậm chí hơn nữa. Với mức lương tháng đó, nhìn vào thang bảng lương giáo dục, người thầy không khỏi chạnh lòng.

    Bởi vì, một giảng viên có thâm niên 10 năm kinh nghiệm tại các trường ĐH lớn của Việt Nam cũng không thể có được mức lương ngang bằng một sinh viên vừa tốt nghiệp ĐH, làm cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. So sánh nhỏ này cho thấy chừng nào chúng ta chưa cải cách hệ thống thang bảng lương ngành GD, chừng đó chúng ta vẫn không thể có được đầu vào tốt cho ngành sư phạm.

    Xét về mặt kinh tế, chi phí chúng ta đánh mất trong tương lai cho vấn đề này sẽ còn cao hơn rất nhiều so với việc tăng lương cho giáo viên. Vì một giáo viên kém ảnh hưởng đến hàng trăm người, và thậm chí ảnh hưởng đến cả nhiều thế hệ. Như vậy, phải tăng lương thì ngành GD mới có cơ hội chiêu mộ được người tài.

    (2)- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục: Từng bước đổi mới nội dung sách giáo khoa, loại bỏ những kiến thức không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết theo hướng bảo đảm kiến thức cơ bản, cập nhật những tiến bộ khoa học, công nghệ, tăng nội dung công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp và năng lực thực hành. Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn , nhất là tiếng Việt, lịch sử dân tộc, địa lý và văn hoá Việt Nam. Tổ chức cho sinh viên, học sinh tham gia công tác xã hội, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao phù hợp với yêu cầu giáo dục toàn diện.

    Nhìn rộng ra các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, họ đặc biệt quan tâm đến việc phát triển tư duy sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và khả năng làm việc theo nhóm của người học. Các quốc gia này áp dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để người học phát triển khả năng sáng tạo của mình. Nhiều trong số các phương phương pháp, chúng ta có thể học tập và áp dụng cho Việt Nam ngay cả ở những trường, đơn vị chưa áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ.

    Phương pháp học theo dự án mang đến cho học viên rất nhiều lợi ích, nó tạo cho học viên khả năng kết hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực, tạo nên công cụ hỗ trợ liên ngành để giải quyết vấn đề. Đối với những vấn đề khó, phức tạp, phương pháp này tạo cho học viên khả năng khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin một cách khoa học. Thông qua các hoạt động thực tế trên lớp, phương pháp này tạo cho học viên sự thích thú, hứng thú với việc học.

    Vai trò của giáo viên trong phương pháp học theo dự án có rất nhiều thay đổi so với phương pháp truyền thống. Giáo viên không đóng vai trò là người điều khiển tư duy học viên mà là người hướng dẫn, người huấn luyện, người tư vấn và bạn cùng học. Giáo viên phải tập trung vào việc hướng dẫn cho học viên, tạo cơ hội để học viên phát huy hết khả năng học tập và sáng tạo, đẩy mạnh tinh thần đồng đội làm việc theo nhóm của các học viên.

    Phương pháp người học là trung tâm mang đến nhiều lợi ích, trước hết nó loại bỏ cách dạy và học: ” Giáo viên nói, học sinh nghe”, khuyến khích sự sáng tạo từ giáo viên và học viên một cách tối đa, đồng thời tạo nên sự thân thiện giữa giáo viên và người học thông qua việc tăng cường trao đổi, học hỏi qua lại. Phương pháp người học là trung tâm tập trung sự tham gia nhiệt tình, chủ động của người học trong suốt quá trình khám phá tìm tòi, đồng thời tạo điều kiện để người học có cơ hội trình bày, bảo vệ những ý kiến sáng tạo của mình.

    + Các ảnh hưởng đối với việc học: Việc học chịu ảnh hưởng bởi các mối quan hệ giao tiếp với mọi người xung quanh. Việc học có thể nâng cao khi người học có cơ hội tiếp xúc và cộng tác với người khác. Các môi trường học cho phép tạo ra các mối tương tác xã hội, tôn trọng tính đa dạng, khuyến khích lối tư duy linh hoạt. Qua việc tiếp xúc và hợp tác với giáo viên hướng dẫn, cá nhân người học sẽ có cơ hội tiếp thu nhận thức và tư duy phản ánh, từ đó phát triển trình độ hiểu biết và hoàn thiện bản thân.

    + Mục đích của quá trình học: Bản chất chiến lược của việc học là đòi hỏi học viên phải biết định hướng mục tiêu. Để nắm vững các tri thức, kỹ năng và đạt được các chiến lược tư duy cần thiết cho việc học, học viên phải tạo ra các mục tiêu cho bản thân và theo đuổi các mục tiêu đó. Khởi đầu, các mục tiêu ngắn và việc học có thể sơ sài trong một phạm vi nào đó nhưng qua thời gian, mức độ hiểu biết của học viên có thể được xác định thông qua trình tự tìm hiểu, trao đổi và tích luỹ các tri thức cần thiết.

    Phương pháp Kỹ thuật tạo ra ý tưởng (Brainstorming).

    Tác giả của phương pháp Brainstorming (tạm dịch là kỹ thuật tạo ra ý tưởng) là Alex Osborn (Hoa Kỳ). Mục đích chính của phương pháp này là giúp người học thoát ra khỏi tư duy theo lối mòn và tạo ra một loạt các ý tưởng mà sau đó có thể lựa chọn. Phương pháp này áp dụng phù hợp với nhóm học viên.

    Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp kỹ thuật tạo ra ý tưởng:

    + Tôn trọng mọi ý tưởng đưa ra: Khi các ý tưởng được đưa ra, không được phép chỉ trích, phê bình ngay. Tất cả các ý tưởng đều được ghi chép lại và phân tích đánh giá ở các bước sau.

    + Tự do suy nghĩ: Không giới hạn việc đưa ra các ý tưởng bay bổng kể cả những ý tưởng khác thường bởi trên thực tế có những ý tưởng kỳ quặc đã trở thành hiện thực.

    + Kết nối các ý tưởng: Cải thiện, sửa đổi, góp ý xây dựng cho các ý tưởng. Các câu hỏi thường đặt ra: Ý tưởng được đề nghị chất lượng thế nào?. Làm thế nào để ý tưởng đó đem lại hiệu quả? Cần thay đổi gì để ý tưởng trở nên tốt hơn?…

    + Cần quan tâm đến số lượng các ý tưởng: Tập trung suy nghĩ khai thác tạo ra khối lượng lớn các ý tưởng để sau đó có cơ sở sàng lọc. Có hai lý do chính để cần số lượng lớn các ý tưởng. Thứ nhất những ý tưởng lúc đầu học viên đưa ra thông thường là các ý tưởng hiển nhiên, cũ, ít có tính sáng tạo, vì vậy cần có phương pháp để học viên tạo ra nhiều ý tưởng mới.

    Thứ hai các ý tưởng giải pháp càng nhiều, càng có nhiều ý tưởng để lựa chọn.

    Qua việc phân tích một số phương pháp giảng dạy có thể nhận định các phương pháp này có rất nhiều sự khác biệt so với phương pháp truyền thống. Trong đó sự khác biệt cơ bản nhất là vai trò của người học và người dạy đã thay đổi, sự thay đổi này đã biến quá trình học của học viên từ thụ động sang chủ động, từ việc nghe giảng sang hoạt động tư duy, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm và kích thích khả năng sáng tạo của họ.

    Trở lại với hoạt động giáo dục đào tạo ở Việt Nam, vấn đề cốt lõi vẫn là cần tìm giải pháp khắc phục những tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo chúng ta cần phải cải tiến đổi mới đồng bộ về nhiều mặt: chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giáo viên, … Trong đó việc đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo một cách bền vững. Đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ tạo điều kiện tốt cho người học có thể phát huy hết khả năng tư duy của mình, biến quá trình học của người học thành quá trình phát triển tư duy sáng tạo.

    (3)- Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học, đưa Tin học vào quản lý và đổi mới phương pháp : Thay thế, bổ sung cơ sở vật chất và thiết bị cho các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường đại học. Tích cực đưa Tin học vào giảng dạy, thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Hiện nay trên thế giới đang thực hiện những phương tiện dạy học hiện đại như: học với máy tính, với đèn chiếu overhead, với giáo án điện tử …… Chúng ta từng bước tiếp cận, nhân rộng, từng bước đưa vào sử dụng để thay đổi phương pháp dạy học .

    (4)-Đổi mới công tác quản lý giáo dục : Xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo với cơ quan quản lý nhân lực và việc làm

    Hiện nay ngành giáo dục đang lệ thuộc nhiều vào các lực lượng khác ngoài ngành, ví dụ tỉ lệ tốt nghiệp, tỉ lệ lên lớp, lưu ban …. “bệnh thành tích” đang làm cho ngành mất đi tính độc lập, chủ động, thậm chí quản lý nhân sự ở các ngành học phổ thông cũng không phải thuộc ngành giáo dục quản lý. Nên có định hướng quản lý ngành giáo dục theo ngành dọc toàn bộ, độc lập chỉ đạo về chuyên môn, nhân sự , ngân sách, thanh tra kiểm tra, kể cả xây dựng cơ bản, cơ sở vật chất thì ngành mới chủ động thay đổi phương pháp giáo dục .

    Tăng cường sắp xếp lại hệ thống các trường phổ thông và đại học, hệ thống trường công, trường tư, trường bán công, trường dân lập. Gắn các trường đại học và trung học chuyên nghiệp với các viện nghiên cứu để tận dụng tối ưu năng lực của đội ngũ và cơ sở vẫt chất hiện có.

    Coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học giáo dục nhằm giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong giáo dục, các chủ trương, chính sách về giáo dục, những đổi mới về nội dung, quy trình, phương pháp giáo dục, đánh giá, thi …. Đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng và trãi qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định . Không tuỳ tiện cải cách, đổi mới, chỉnh lý sách giáo khoa liên tục như những lần vừa qua .

    Khó khăn nhất của chúng ta hiện nay là sự yếu kém của đội ngũ quản lý giáo dục , đây là hậu quả của chế độ quan liêu, bao cấp đã tồn tại trên đất nước ta một thời gian dài. Hiện nay chung ta đang thực hiện công cuộc đổi mới ,nhưng ta chú trọng đổi mới kinh tế, còn chính trị sẽ từng bước đổi mới. Vì vậy hệ thống giáo dục và các ngành khác đều đổi mới sau chính trị. Vì vậy một số vấn đề tiêu cực đang diễn ra trong ngành giáo dục. Mặt khác, giáo dục là ngành có nhiều quan hệ đến nhân dân, nên khi bộc lộ những điểm bất cập, ngành giáo dục sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên nếu không khẩn trương thực hiện đổi mới tư duy trong giáo dục .

    Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính giáo dục. Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý theo pháp quyền trên cơ sở một hệ thống pháp luật giáo dục đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương và triệt để phân cấp quản lý giáo dục; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước về giáo dục nặng về hành chính sang quản lý chất lượng và từ quản lý nhà nước theo cách kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã hội nghề nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội Khuyến học, liên hiệp hội các trường ngoài công lập… trong phát triển giáo dục.

    (5)-Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học :

    Nguồn lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là vốn quý nhất, là động lực, là nhân tố đảm bảo cho lợi thế giáo dục nước ta phát triển và cạnh tranh được với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi là chìa khóa, là nhân tố trung tâm cho sự nghiệp giáo dục phát triển.

    Suy đến cùng, chất lượng nền giáo dục nước ta cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ thầy, cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Do vậy, phải đặt trọng tâm vào tạo bước chuyển biến chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực tiễn 25 năm đổi mới giáo dục đã khẳng định phải mở rộng, phát huy dân chủ và thực hiện đồng bộ các khâu phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, bố trí sử dụng, thực hiện chính sách đãi ngộ tương xứng.

    Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong toàn ngành là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài bởi vì sự nghiệp giáo dục nước ta luôn phát triển đặt ra yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao về trình độ, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của nhà giáo và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục. Trách nhiệm của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không chỉ là trách nhiệm với hiện trạng giáo dục nước ta hôm nay mà còn là trách nhiệm với quá khứ và tương lai. Ngành Giáo dục nước ta phải là nơi thu hút được những người giỏi nhất, thông minh nhất và yêu nghề nhất để thực sự là đòn bẩy để nâng con người Việt Nam lên vị trí hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.

    Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, phải được xã hội tôn vinh, vì thế giáo viên có đủ đức, đủ tài. Muốn nâng cao chất lượng dạy và học trước hết phải nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Sư phạm .

    Cả nước đang thực hiện thay sách, đổi mới chương trình sách giáo khoa khối lớp 8 , có dự án Việt -Bỉ hỗ trợ thực hiện ở các tỉnh phiá Bắc, thiết kế chương trình thay sách bằng cách đổi mới từ trường Cao đẳng sư phạm, là trường đào tạo người dạy học cho trường trung học cơ sở, nhưng dự án vẫn không được nhân rộng trong cả nước. Trong khi cả nước ta vẫn thay sách, vẫn đổi mới sách giáo khoa ở trường trung học cơ sở nhưng không đổi mới ở trường Cao đẳng sư phạm .

    Hiện nay chúng ta đang thực hiện không thu học phí sinh viên các trường sư phạm, đào tạo giáo viên gắn với địa chỉ, thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên, chuẩn hoá đội ngũ, xếp lương giáo viên cao và có nhiều chính sách đãi ngộ đội với giáo viên, nhất là giáo viên ở những vùng khó khăn .

    Việc nâng cao chất lượng đội ngũ thì ta đã làm nhiều, nhưng việc đánh giá đội ngũ thì không có một cơ quan thanh tra chuyên nghiệp nào thực hiện, chủ yếu là lực lượng thanh tra nghiệp dư, bán chuyên nghiệp. Hậu quả là không có một thanh tra không chuyên nghiệp nào dám loại trừ một giáo viên không đủ trình độ phẩm chất ra khỏi ngành . Hậu quả của thời kỳ “………sư phạm bỏ qua ” đã để lại không ít tiêu cực.

    Thay đổi cách tuyển chọn cán bộ, đánh giá giáo viên

    Mặc dù gần đây một số địa phương đã đổi mới cách tuyển chọn cán bộ. Nhưng các kỳ thi công chức chưa hẳn đã thực sự khách quan. Đã đến lúc chúng ta cần siết chặt việc thi tuyển công chức, có cơ chế thi tuyển minh bạch hơn. Thanh tra ngành GD đi sâu vào đánh giá chất lượng giờ giảng của từng ứng viên thay vì thông qua các bài viết kiểm tra kiến thức chung chung. Kẽ hở trong thi tuyển công chức sẽ tạo ra cơ hội để những thầy, cô giáo không đủ năng lực lại làm nhiệm vụ “trồng người”.

    Một bác sỹ sai sót có thể gây ra cái chết cho một người, nhưng một giáo viên tồi có thể tạo ra cái “chết” cho cả hàng chục, thậm chí hàng trăm học sinh, sinh viên. Cái “chết” về mặt nhận thức trong một số trường hợp còn nguy hiểm hơn cả cái chết về mặt sinh học.

    Được biết gần đây, ngành GD có chủ trương học sinh, sinh viên được đánh giá thầy cô giáo. Đó là chủ trương cần thiết. Xin đừng sợ học sinh đánh giá thiên lệch. Thiết nghĩ không bao giờ có một thầy giáo kém năng lực mà được học sinh đánh giá tốt. Nếu có như vậy, thì trước hết nên xem lại chính các tiêu chí đánh giá do nhà trường hay do ngành GD đưa ra để cải thiện thang, bảng đánh giá. Tôi có cơ sở để tin rằng học sinh, sinh viên đủ kiến thức cần thiết để đánh giá được thầy cô giáo nào dạy tốt.

    Do vậy, cần đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý.

    Loại bỏ các tiêu cực không đáng có

    Mặc dù những năm qua, GD và ĐT nước ta đã tạo ra những tiền đề quan trọng để đổi mới cơ bản và toàn diện, đó là sự thay đổi nhận thức và lòng tin của xã hội đối với quyết tâm đổi mới của toàn ngành giáo dục, nhưng căn bệnh thành tích và những tiêu cực, hạn chế trong GD và ĐT vẫn phổ biến. Chất lượng GD và ĐT là yêu cầu về “đầu ra” của học sinh phổ thông và sinh viên các trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ). Tuy nhiên, hệ thống GD đại học chưa có một phương pháp khoa học và ổn định trong đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng cho CNH, HĐH đất nước. Đáng chú ý, cơ chế “xin -cho” vẫn còn phổ biến trong hệ thống GD và ĐT và là những kẽ hở cho tiêu cực có thể nảy sinh. TS Bùi Trần Phượng (Trường đại học Hoa Sen) đánh giá, quan hệ “xin – cho” và bản thân cơ chế quản lý quan liêu triệt tiêu nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục. Thẩm quyền quản lý tập trung thường xuyên bị sử dụng sai mục đích và trái với điều kiện nhằm đạt hiệu quả phân minh, đồng bộ về chất lượng giáo dục. Theo PGS,TS Bùi Ngọc Oánh, Viện trưởng Khoa học phát triển nhân lực và tài năng, hiện nay, việc đào tạo nhân lực trong các trường ĐH, CĐ còn nặng nề, thiếu tính thực tiễn và tính ứng dụng. Trong khi đó, tình trạng bằng “thật” nhưng học “giả” ảnh hưởng không nhỏ đến việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng của đất nước. Bộ GD và ĐT đánh giá, trong đào tạo ĐH, CĐ hệ không chính quy của nhiều trường còn mất cân đối về cơ cấu ngành nghề, trình độ và hình thức đào tạo. Nhiều trường vi phạm các quy định trong tuyển sinh, đào tạo, cấp phát bằng, mở ngành đào tạo. Trong khi đó, việc quản lý của Bộ GD và ĐT cùng các cấp còn hạn chế, chưa kiểm tra, giám sát thường xuyên, việc thanh tra, kiểm tra chưa có hiệu quả.

    KẾT LUẬN

    Nhìn lại đoạn đường phát triển của giáo dục nước nhà, trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập, chính những yếu kém, bất cập này đã làm cho chúng ta đã lùi đi rất nhiều so với các nước trong khu vực và quốc tế. Bài viết này đã nêu lên được phần nào những đánh giá thực trạng khách quan về nền giáo dục Việt Nam hiện nay, và có tham khảo một số ý kiến đóng góp của các Giáo sư, Tiến sĩ, … làm trong ngành giáo dục nhằm cải tạo nền giáo dục. Qua bài viết này mong muốn rằng mọi người sẽ có cái nhìn khách quan hơn về nền giáo dục nước nhà, từ đó mỗi cá nhân sẽ tự vạch ra những con đường riêng, hướng đi riêng, cũng như những giải pháp cho phù hợp với vai trò của mình. Có được như vậy thì tôi tin chắc rằng trong một tương lai không xa Việt Nam của chúng ta sẽ được bè bạn quốc tế biết đến như là một đất nước có nền giáo dục tiến bộ và có chất lượng. Người Việt Nam sẽ ngẩn cao đầu và tự hào vỗ ngực xưng tên ” Tôi là người Việt Nam”.

    Thực trạng chất lượng giáo dục Việt Nam hiện nay

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Nghị Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Gắn Với Thực Hiện Đề Án 25 Của Huyện Giai Đoạn 2022
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Đại Trà
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100