Thực Trạng Công Tác Cải Cách Hành Chính Và Giải Pháp

--- Bài mới hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Thực Hiện Tốt Công Tác Kiểm Soát Thủ Tục Hành Chính
  • Quận 9: Tập Trung Thực Hiện Hiệu Quả Các Giải Pháp Về Công Tác Cải Cách Hành Chính
  • Tphcm Tích Cực Thực Hiện Các Nhóm Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Cải Cách Hành Chính
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Cải Cách Hành Chính Tỉnh Nghệ An
  • Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam: Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Cải Cách Thủ Tục Hành Chính
  • Đồng chí Nguyễn Văn Trì, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen của UBND tỉnh

    cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác cải cách hành chính nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015.

    Kết quả thực hiện công tác CCHC giai đoạn 2012-2015 đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như:

    – Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) tuân thủ đúng quy trình, đã thể chế hoá kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được quan tâm. Việc giám sát, kiểm tra, rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các văn bản QPPL bảo đảm sát thực tiễn và quy định của pháp luật

    – Việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị đã thực hiện đúng theo các quy định hiện hành của Trung ương để không còn sự chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan hành chính nhà nước; phân định rõ ràng, hợp lý trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan hành chính. UBND tỉnh đã ban hành Đề án Kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ CBCCVC, nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan và doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2013-2020 kèm theo Quyết định số 2713/QĐ-UBND ngày 02/10/2013. Kết quả hiện nay đã giảm được 44 đầu mối là đơn vị cấp phòng và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc một số sở, ngành và UBND cấp huyện.

    – Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC được quan tâm thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC, thu hút người có trình độ cao, chuẩn hóa CBCC các cấp, kể cả cấp xã. Hiện đã thực hiện cắt giảm và tinh giảm được 86 biên chế, trong đó: Số chỉ tiêu công chức đã cắt giảm: 49 chỉ tiêu, bằng 3% trong tổng số 10% số phải thực hiện từ nay đến 2022 và đã giải quyết tinh giảm biên chế: 37 người (19 cán bộ, công chức cấp xã, 01 công chức khối Đảng, 16 viên chức sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, 01 viên chức sự nghiệp khác).

    – Công tác tài chính công tiếp tục được thực hiện góp phần ngày cang nâng cao đời sống cho CBCCVC và người lao động. Công tác hiện đại hóa nền hành chính được quan tâm góp phần tạo điều kiện làm việc tốt cho CBCCVC và quản lý thông qua xây dựng trụ sở làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO v.v…

    Nhìn chung, công tác CCHC đã được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Hầu hết các mục tiêu đều đạt và vượt mức đề ra, trong đó một số mục tiêu yêu cầu cao hơn so với yêu cầu của Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ vẫn đảm bảo thực hiện đạt kết quả. Các văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh ban hành đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và được triển khai thực hiện có hiệu quả. Nhiều chính sách đã được triển khai thực hiện một cách thực tế phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của tỉnh và sáng tạo trong việc xây dựng chính sách, hỗ trợ thể hiện trong một số lĩnh vực như: Thu hút đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách phát huy nguồn nhân lực. Thủ tục hành chính được rà soát, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung và công khai đúng quy định, nhất là thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp. Bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả hơn, bớt trùng lắp, chồng chéo về chức năng nhiệm vụ; đầu mối các cơ quan, đơn vị được thu gọn; cơ cấu bên trong có sự phân định rõ hơn giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp. Cải cách công vụ, công chức, xây dựng cơ cấu công chức, viên chức theo vị trí việc làm đúng quy định. Cải cách tài chính công đã đạt được kết quả tích cực, có chuyển biến rõ nét. Trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước các cấp được đầu tư khang trang hơn, nhất là bộ phận một cửa cấp huyện, cấp xã. Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQHCNN ngày càng được mở rộng và phát huy hiệu quả. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI được cải thiện rõ rệt (năm 2022 xếp thứ 4/63), trong đó các tiêu chí Gia nhập thị trường, Đào tạo lao động, Chi phí thời gian, Tính minh bạch v.v.. được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao.

    Tuy nhiên, công tác CCHC vẫn còn một số hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp phát triển. Việc tham mưu ban hành cơ chế chính sách, tổ chức triển khai thực hiện trên một số lĩnh vực chưa hiệu quả. Năng lực, trình độ, kỹ năng hành chính của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế. Công tác thanh tra, kiểm tra công vụ và CCHC ở một số cơ quan chưa thường xuyên. Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông chưa được quan tâm đầy đủ, có nơi còn hình thức. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 chưa được triển khai và áp dụng mạnh mẽ. Chế độ thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế, kinh phí tài chính chưa thực sự hiệu quả. Nguyên nhân chủ yếu là do các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu chưa thực sự coi trọng công tác CCHC, chưa quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu giải pháp cụ thể, thiếu kiểm tra, giám sát. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao, kỷ luật, kỷ cương hành chính có mặt chưa nghiêm. Sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công lĩnh vực đất đai còn thấp (60%), Chỉ số hiệu quả quản trị công PAPI còn thấp (năm 2022 xếp thứ 30), trong đó các tiêu chí do người dân đánh giá còn thấp là: Trách nhiệm giải trình với dân, Tham gia của người dân ở cơ sở, Tính công khai minh bạch v.v…

    Để tiếp tục đẩy mạnh công tác CCHC trong thời gian tới, công tác CCHC của tỉnh cần thực hiện một số biện pháp sau:

    Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhận thức sâu sắc, đầy đủ về công tác CCHC theo chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh như: Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước; Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020; Nghị quyết số 60/NQ-HĐND ngày 19/7/2012 của HĐND tỉnh về thông qua Chương trình CCHC nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2012-2020; Quyết định số 3674/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch CCHC nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2022-2020.

    Hai là, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa, công bố công khai thủ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và tại các cơ quan, đơn vị. Thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 theo quy định tại Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về chính phủ điện tử trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Tích cực cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đổi mới quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận tiện, hiệu quả, đúng pháp luật. Lấy mức độ hài lòng của doanh nghiệp, tổ chức, người dân là thước đo chất lượng, hiệu quả quản lý hành chính của cơ quan hành chính nhà nước các cấp; đồng thời là cơ sở để đánh giá năng lực của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ.

    Ba là, tập trung thực hiện có hiệu quả Phần mềm dùng chung tại Bộ phận một cửa các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành, thị và UBND các xã, phường, thị trấn đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3117/QĐ-CT ngày 31/10/2013. Các trường hợp hồ sơ quá hạn giải quyết thì phải thông báo bằng văn bản xin lỗi cá nhân, tổ chức, trong đó ghi rõ lý do quá hạn, thời hạn trả kết quả.

    Bốn là, thực hiện nghiêm Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ chính trị, Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ, Kế hoạch số 124-KH/TU ngày 22/9/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch số 6776/KH-UBND của UBND tỉnh về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC. Tập trung kiện toàn, sắp xếp tổ chức các cơ quan, đơn vị, nhất là các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh giảm đầu mối, giảm sự chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, tăng cường cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập theo Đề án Kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ CBCCVC, nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan và doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2013-2020 kèm theo Quyết định số 2713/QĐ-UBND. Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc làm của CBCCVC ở các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp.

    Năm là, thực hiện đánh giá, xác định Chỉ số CCHC của các cơ quan, đơn vị rong tỉnh theo Quyết định số 2260/QĐ-UBND ngày 20/8/2014 của UBND tỉnh đảm bảo chính xác khoa học, khách quan. Hàng năm lấy kết quả thực hiện CCHC làm cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, năng lực lãnh đạo điều hành của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, làm tiêu chí bình xét thi đua khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân, người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

    Sáu là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công vụ, việc thực hiện quy chế làm việc của các cơ quan, đơn vị và việc thực hiện công tác CCHC. Kịp thời biểu dương khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác CCHC./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Cải Cách Hành Chính: Nhiều Giải Pháp Sáng Tạo
  • Cần Giải Pháp Đột Phá Trong Công Tác Cải Cách Hành Chính, Văn Thư Lưu Trữ
  • Chưa Mạnh Dạn Đề Xuất Sáng Kiến, Giải Pháp Hiệu Quả Trong Công Tác Cải Cách Hành Chính
  • Cuộc Thi “tìm Kiếm Sáng Kiến, Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Tỉnh Nghệ An Năm 2022”
  • Trẻ Biếng Ăn Sinh Lý Hay Bệnh Lý Các Mẹ Nên Biết
  • Bài 9: Kiểm Tra Xử Phạt Và Cưỡng Chế Hành Chính Ở Cơ Sở Ts. Bùi Quang Xuân

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ubkt Huyện Uỷ
  • Ủy Ban Kiểm Tra Huyện Ủy
  • Quy Chế Làm Việc Của Ủy Ban Kiểm Tra Huyện Khóa Ix
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy
  • Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Công An Phường Như Thế Nào Trong Lĩnh Vực Giao Thông ?
  • 7. Phân biệt giữa hoạt động kiểm tra và hoạt động thanh tra Trên thực tế, hoạt động thanh tra và hoạt động kiểm tra có những quan hệ mật thiết gắn bó với nhau, cả hai hoạt động này đều có cùng mục đích hoạt động là nhằm phát huy những nhân tố tích cực; phòng ngừa, phát hiện, xử lý những vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao của các chủ thể, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện tiếp theo để đạt kết quả như mong muốn. Tuy nhiên, đây vẫn là hai hoạt động quản lý nhà nước riêng biệt và được phân biệt bởi những tính chất đặc thù sau:Thứ nhất, về chủ thể tiến hành: chủ thể tiến hành hoạt động Thanh tra không đa dạng bằng chủ thể tiến hành của hoạt động kiểm tra. Chủ thể tiến hành của hoạt động thanh tra chỉ có cơ quan thanh tra được quy định tại Luật Thanh tra 2010. Bên cạnh đó, đối với hoạt động kiểm tra thì chủ thể tiến hành rất rộng và đa dạng, bao gồm tất cả các thủ trưởng cơ quan, người được giao chức năng kiểm tra tại các cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị – xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận tổ quốc, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh…), các lực lượng vũ trang; họ đều là chủ thể của hoạt động kiểm tra, có trách nhiệm tự kiểm tra hoạt động của mình, kiểm tra hoạt động cấp dưới của mình. Thứ hai, về cơ sở pháp lý: hoạt động thanh tra được thực hiện trên cơ sở pháp lý quy định tập trung, đầy đủ tại Luật Thanh tra 2010, trái ngược với nó, hoạt động kiểm tra hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể về hoạt động kiểm tra nói chung. Thẩm quyền kiểm tra được quy định trong các văn bản pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.Thứ ba, về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động của thanh tra thường hẹp hơn phạm vị hoạt động của kiểm tra. Phạm vi hoạt động của thanh tra chủ yếu được thực hiện theo kế hoạch, thường được chọn lọc một cách kĩ lưỡng để đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm, hiệu lực hiệu quả của thanh tra cũng như đảm bảo mục đích của thanh tra. Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra thường được diễn ra thường xuyên và thực hiện trên diện rộng với nhiều hình thức phong phú, đa dạng trong đó có cả hình thức mang tính quần chúng không bắt buộc theo hình thức, trình tự, thủ tục nghiêm ngặt như hoạt động thanh tra do Luật thanh tra quy định. Thứ tư, về phương pháp tiến hành: phương pháp tiến hành của hoạt động thanh tra bao gồm xem xét, kết luận và ở mức độ nào đó được người quản lý uỷ quyền xử lý những việc làm sai lệch của đối tượng bị quản lý nhằm bảo đảm cho các quyết định quản lý được chấp hành nghiêm chỉnh, có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, có quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm, xử lý như: phong tỏa tài khoản, thu hồi tiền, yêu cầu cung cấp thông tin. Đối với hoạt động kiểm tra, phương pháp tiến hành bao gồm xem xét những sự việc diễn ra có đúng với các quy tắc đã xác lập và các mệnh lệnh về quản lý đã ban ra hay không. Đối với hoạt động kiểm tra cũng không có quy định về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm, xử lý
  • Trainer cho cac nhom thao luan cach sap xep cong viec cua ho trong 1 thang , trong 1 qui vao 4 o vuong theo thu tu uu tien ABC
  • Thẩm quyền cưỡng chế thi hành xử phạt vi phạm hành chính

    Chỉ những được pháp luật quy định mới có thẩm quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

    Thursday, 23 June 2022, 11:17:02 AM

    Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:”1. Những người sau đây có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế:a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp;b) Trưởng đồn Công an, Trưởng Công an cấp huyện, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục trưởng Cục An ninh kinh tế, Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng, Cục trưởng Cục An ninh thông tin, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao;c) Trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng; Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Cảnh sát biển;d) Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan;đ) Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Cục trưởng Cục Kiểm lâm;e) Chi cục trưởng Chi cục Thuế, Cục trưởng Cục Thuế, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế;g) Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường;h) Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài;i) Các chức danh quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 46 của Luật này;k) Giám đốc Cảng vụ hàng hải, Giám đốc Cảng vụ đường thuỷ nội địa, Giám đốc Cảng vụ hàng không;l) Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao; Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, Trưởng phòng Phòng Thi hành án cấp quân khu, Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự.2. Người có thẩm quyền cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó. Việc giao quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền tiếp cho bất kì cá nhân nào khác”.

  • Thẩm quyền cưỡng chế thi hành xử phạt vi phạm hành chính

    Chỉ những được pháp luật quy định mới có thẩm quyền quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

    Thursday, 23 June 2022, 11:17:02 AM

    Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:”1. Những người sau đây có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế:a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp;b) Trưởng đồn Công an, Trưởng Công an cấp huyện, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục trưởng Cục An ninh kinh tế, Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng, Cục trưởng Cục An ninh thông tin, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao;c) Trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh, Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng; Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Cảnh sát biển;d) Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan;đ) Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Cục trưởng Cục Kiểm lâm;e) Chi cục trưởng Chi cục Thuế, Cục trưởng Cục Thuế, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế;g) Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường;h) Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài;i) Các chức danh quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 46 của Luật này;k) Giám đốc Cảng vụ hàng hải, Giám đốc Cảng vụ đường thuỷ nội địa, Giám đốc Cảng vụ hàng không;l) Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh toà chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao; Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, Trưởng phòng Phòng Thi hành án cấp quân khu, Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự.2. Người có thẩm quyền cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó. Việc giao quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật. Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền tiếp cho bất kì cá nhân nào khác”.

  • Trainer cho cac nhom thao luan cach sap xep cong viec cua ho trong 1 thang , trong 1 qui vao 4 o vuong theo thu tu uu tien ABC
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Trả Lời Ôn Tập Môn Khoa Học Hành Chính
  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Tổng Quan Về Kiểm Tra Hành Chính
  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Mở Rộng Kiến Thức Về Kiểm Tra Hành Chính
  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị
  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Tra
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Trung Các Giải Pháp Cải Cách Hành Chính
  • Quận 12: Nhiều Mô Hình, Giải Pháp Hay Trong Cải Cách Hành Chính
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Cải Cách Thủ Tục Hành Chính
  • Nhiều Giải Pháp, Mô Hình Mới Về Cải Cách Hành Chính
  • Viettel Ra Mắt Tổng Công Ty Về Giải Pháp (Viettel Business Solutions) Cho Chính Phủ, Doanh Nghiệp
  • 1. Giới thiệu

    Cải cách hành chính (CCHC) là một trong những nội dung chủ yếu của khoa học hành chính, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn cao.

    Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận không tách rời khỏi bộ máy nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị của một quốc gia nói chung, nên nó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố chính trị, yếu tố kinh tế – xã hội, cũng như mang tính đặc trưng khác của mỗi quốc gia như truyền thống văn hóa, lịch sử hình thành và phát triển… CCHC ở các nước khác nhau nên cũng mang sắc thái riêng, được tiến hành trên những cấp độ khác nhau, ở nội dung khác nhau. Ở Việt Nam, CCHC được xác định là một bộ phận quan trọng của công cuộc đổi mới, là trọng tâm của tiến trình cải cách nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Nội dung cải cách hành chính ở Việt Nam

    – Cải cách thể chế hành chính nhà nước.

    – Cải cách thủ tục hành chính (TTHC).

    – Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.

    – Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

    – Cải cách tài chính công

    3. Kết quả và đánh giá 3.1 Kết quả đạt được 3.1.1 Cải cách thể chế hành chính nhà nước

    Triển khai thực hiện Hiến pháp 2013, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực rà soát, hệ thống hóa trên 100.000 văn bản quy phạm pháp luật các loại, đề xuất, kiến nghị các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới trên 17.000 văn bản, nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, khả thi. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII, Chính phủ đã xây dựng, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 64 luật, 19 luật sửa đổi, bổ sung; Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 01 pháp lệnh và 04 pháp lệnh sửa đổi, bổ sung. Một loạt luật quan trọng được ban hành đã tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thể chế về lĩnh vực kinh tế, dân sự, tổ chức bộ máy và nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Thể chế về tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính; về mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân tiếp tục được hoàn thiện, đổi mới và quan tâm xây dựng, triển khai thực hiện. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của Nhân dân, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người dân.

    3.1.2 Cải cách thủ tục hành chính

    Năm 2022 tiếp tục ghi nhận những nỗ lực trong đẩy mạnh cải cách TTHC của Chính phủ và các bộ, ngành, đặc biệt là việc quyết liệt triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp. Tại Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Chính phủ đã yêu cầu các bộ trưởng, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể quy định tại Nghị quyết theo thẩm quyền được giao.

    Giá trị trung bình của lĩnh vực cải cách TTHC năm 2022 của các bộ đạt 81,78%, cao hơn 5,48% so với năm 2022 (năm 2022 giá trị là 76,30%). Có 12 bộ đạt kết quả Chỉ số thành phần cải cách TTHC trên mức giá trị trung bình đạt được của 18 bộ, bao gồm: Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Tư pháp; Bộ Công Thương; Bộ Ngoại giao; Thanh tra Chính phủ; Bộ Xây dựng; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Thông tin và Truyền thông. Bộ Y tế tiếp tục đứng cuối Chỉ số thành phần cải cách TTHC, với kết quả là 49,12% (Năm 2022 kết quả là 49,78%).

    3.1.3 Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước

    Các nội dung cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước trong những năm vừa qua đã tập trung cho việc rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, phân định và làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ, cũng như xác định rõ hơn việc thực hiện chức năng xây dựng, ban hành thể chế, kế hoạch, chính sách, quản lý vĩ mô đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Ngoài ra, việc phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ trưởng cũng là một trong những kết quả nổi bật của nội dung cải cách tổ chức bộ máy. Các bộ đã tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, bước đầu khắc phục những chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, đã chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện.

    Nhìn chung, cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã được sắp xếp, góp phần xây dựng một bộ máy tinh gọn, hợp lý, tương xứng với chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước của mỗi cơ quan; định rõ tính chất và các loại hình tổ chức trực thuộc để tham mưu và thực thi pháp luật.

    3.1.4 Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức

    Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức tiếp tục nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương là một trong những trọng tâm của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2022. Trong giai đoạn 2012 – 2022, giá trị trung bình của Chỉ số thành phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức năm 2022 đạt cao nhất, với giá trị 65,99%. Điều này cho thấy, các nội dung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức của các bộ đã từng bước được cải thiện, đáp ứng bước đầu cho việc xây dựng và phát triển của bộ, ngành nói riêng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nói chung.

    Giá trị trung bình của Chỉ số thành phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức đạt 88,14%. Đây là Chỉ số thành phần cao nhất trong số 7 Chỉ số thành phần của Chỉ số CCHC năm 2022, và đạt giá trị cao nhất trong 7 năm triển khai xác định Chỉ số CCHC. Như vậy, 11 đơn vị có kết quả điểm số trên mức giá trị trung bình, trong đó, 08 bộ đạt Chỉ số thành phần trên 90%, bao gồm: Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Ngoại giao (năm 2022 chỉ có 05 đơn vị có Chỉ số thành phần trên 90%). Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường là 03 đơn vị đứng cuối Chỉ số thành phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức với giá trị thấp dưới 80%, lần lượt là 78,46%, 78,05% và 76,12%.

    Trong năm 2022, các bộ tiếp tục đẩy mạnh cải cách công vụ, công chức, trong đó, tập trung triển khai thực hiện các thể chế về quản lý công chức, viên chức, tiếp tục triển khai thực hiện xác định vị trí việc làm, tập trung xây dựng và hoàn thiện bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí việc làm các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tạo cơ sở cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng và quản lý công chức. Bên cạnh đó, các bộ cũng tập trung triển khai thực hiện nghiêm quy định về quản lý công chức, viên chức do các cơ quan có thẩm quyền ban hành, triển khai nhiều biện pháp nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính tại các cơ quan, đơn vị trực thuộc, bảo đảm sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật, củng cố niềm tin của nhân dân.

    Cụ thể, là thực hiện Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan nhà nước các cấp. Các bộ cũng đã tập trung triển khai thực hiện các quy định về đánh giá, phân loại công chức, viên chức, tạo tiền đề cho việc tinh giản biên chế; cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức. Một số đơn vị triển khai thực hiện Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng theo quy định tại Kết luận số 202-TB/TW ngày 26/5/2015 của Bộ Chính trị, trong năm 2022, theo đó, các đơn vị đã tổ chức thành công việc thi tuyển đối với một số chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ, như là: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ…

    Nhìn chung, các bộ có xu hướng tăng điểm số qua các năm, tuy nhiên, tỷ lệ còn chưa đồng đều giữa các năm và giữa các bộ. Có 10 đơn vị có Chỉ số thành phần giảm hơn so với năm 2022, đó là các bộ: Công Thương, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Ngoại giao, Nội vụ, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông, Xây dựng, Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Điều này cho thấy, những kết quả và nỗ lực đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức của các bộ, ngành Trung ương chưa thực sự được quan tâm một cách đầy đủ. Giá trị trung bình Chỉ số thành phần đạt được qua 7 năm xác định Chỉ số CCHC của các bộ chưa đạt đến 80%. Cơ cấu số lượng lãnh đạo cấp phòng thuộc Vụ, Cục, Tổng cục còn chưa hợp lý, vẫn còn tình trạng lãnh đạo nhiều hơn số lượng công chức không giữ chức vụ lãnh đạo. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế còn khó khăn, vướng mắc, chưa đạt yêu cầu đề ra, kỷ luật, kỷ cương công vụ chưa nghiêm vẫn là những tồn tại, hạn chế trong thời gian vừa qua.

    3.1.5 Cải cách tài chính công

    Lĩnh vực cải cách tài chính công tại Chỉ số CCHC cấp bộ năm 2022, thay đổi tiêu chí “Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính” bằng tiêu chí “Tổ chức thực hiện công tác tài chính – ngân sách”, đồng thời, bổ sung thêm 01 tiêu chí và 08 tiêu chí thành phần, nâng tổng số tiêu chí và tiêu chí thành phần của lĩnh vực này là 04 tiêu chí và 14 tiêu chí thành phần.

    Thực hiện giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước hàng năm; tổ chức thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước về tài chính, ngân sách và thực hiện cơ chế tự chủ về sử dụng kinh phí quản lý hành chính tại bộ. Đối với tiêu chí bổ sung “Công tác quản lý, sử dụng tài sản công” được đánh giá trên 04 tiêu chí thành phần: Ban hành quy định về phân cấp quản lý tài sản công thuộc phạm vi quản lý theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng diện tích chuyên dùng theo quy định tại Nghị định số 152/2017/NĐ-CP của Chính phủ; ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng máy móc, thiết bị chuyên dùng theo quy định tại Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quy định về quản lý tài sản công.

    Giá trị trung bình các bộ đạt được ở lĩnh vực này là 82,94%. Có 10 bộ đạt Chỉ số thành phần cải cách tài chính công trên mức giá trị trung bình, bao gồm: Bộ Tài chính; Thanh tra Chính phủ; Ngân hàng Nhà nước; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; Bộ Công Thương; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Tư pháp và Bộ Y Tế. Năm 2022 tiếp tục có 03 đơn vị có kết quả dưới 70%, bao gồm: Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, với giá trị lần lượt là: 68,92%; 67,69% và 60,44%. Đây là 03 đơn vị đứng cuối của Chỉ số thành phần cải cách tài chính công.

    Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chỉ thị để chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh triển khai có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; nâng cao chất lượng giải quyết TTHC; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc chấp hành pháp luật về ngân sách nhà nước và đã tiếp tục có nhiều chỉ đạo yêu cầu làm rõ và xử lý các thông tin về vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính và các sai phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức do cơ quan báo chí đăng tải.

    Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ đã phát huy được hiệu quả trong việc theo dõi, đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện các nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng. Với việc chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp, công tác cải CCHC đã được triển khai một cách đồng bộ, hệ thống, kết quả CCHC đạt được toàn diện trên các lĩnh vực đã đóng góp quan trọng vào thành tựu chung phát triển kinh tế – xã hội, hội nhập quốc tế của đất nước trong giai đoạn vừa qua.

    Việc đánh giá kết quả CCHC thông qua Chỉ số CCHC đã được các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quan tâm, triển khai đồng bộ ở các cơ quan, đơn vị trực thuộc, trở thành công cụ hữu ích trong công tác chỉ đạo, điều hành CCHC của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Bộ Nội vụ với vai trò cơ quan thường trực CCHC của Chính phủ, chủ trì việc theo dõi, đánh giá CCHC đã thường xuyên nghiên cứu, cải tiến, đổi mới nội dung, phương pháp xác định Chỉ số CCHC hàng năm, để Chỉ số CCHC luôn được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đánh giá khách quan, trung thực, sát thực tế cải CCHC của các bộ, ngành, địa phương.

    Kết quả Chỉ số CCHC 2022 tiếp tục phản ánh tương đối sát tình hình triển khai cải CCHC tại các bộ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương việc triển khai và kết quả đạt được trên những nội dung trọng tâm và 6 nhiệm vụ cải CCHC theo yêu cầu của Chính phủ. Đồng thời, kết quả Chỉ số CCHC 2022 tiếp tục có tính tổng hợp, đa chiều, gắn kết việc đánh giá bên trong nội bộ của các cơ quan hành chính nhà nước với đánh giá khách quan từ phía người dân, tổ chức và các đối tượng khác chịu tác động của cải CCHC; gắn kết giữa đánh giá kết quả cải CCHC hàng năm với đánh giá tác động của cải cách lên sự hài lòng của người dân, tổ chức và các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội.

    3.2.2 Hạn chế

    – Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật trên một số lĩnh vực còn hạn chế. Công tác theo dõi thi hành pháp luật còn một số bất cập, thiếu nguồn lực để triển khai, chưa thu hút được sự tham gia của các cá nhân, tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức xã hội khác.

    – Việc công khai quy định hành chính, TTHC trên Trang thông tin điện tử của một số bộ, ngành và của một số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và đơn vị hành chính cấp huyện tại một số địa phương chưa được thực hiện đầy đủ. TTHC trên một số lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp, cần phải tiếp tục rà soát, đơn giản hóa. Tình trạng trễ hẹn trong giải quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ TTHC vẫn còn phổ biến ở một số lĩnh vực trọng tâm, như: đất đai, xây dựng, lao động – thương binh và xã hội. Nhiều địa phương còn vướng mắc trong kết nối liên thông phần mềm tại Trung tâm Hành chính công và Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả với các phần mềm chuyên ngành, như các lĩnh vực: đất đai, công an, thuế…; dẫn đến khó khăn trong việc chia sẻ dữ liệu thông tin để theo dõi, đôn đốc tình hình giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp. Việc triển khai hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai một cấp tại địa phương còn nhiều hạn chế, bất cập.

    – Tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp quan trọng quy định tại Nghị quyết số 36a/NQ-CP còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, như: Chưa đề xuất cơ chế tài chính phù hợp cho đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin, thiết lập các hệ thống thông tin nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử; việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mới chỉ bước đầu được triển khai, kết quả đạt được còn hạn chế (ít người sử dụng, số hồ sơ được gửi/nhận trực tuyến không cao). Việc ban hành Kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ, cấp tỉnh còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Tại một số cơ quan, đơn vị đã quán triệt chỉ đạo, điều hành qua môi trường điện tử, hạn chế sử dụng văn bản giấy, nâng cao hiệu lực quản lý, năng suất lao động và giảm chi phí hành chính. Tuy nhiên, việc sử dụng hệ thống quản lý văn bản và điều hành tại nhiều nơi chưa mang lại hiệu quả cao, chủ yếu chỉ sử dụng trong việc gửi, nhận văn bản, hỗ trợ công tác văn thư, mà chưa thực hiện chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành qua mạng.

    – Quá trình triển khai còn lúng túng. Nhiệm vụ đề ra nhiều nhưng chưa thực sự gắn với các biện pháp và điều kiện bảo đảm cần thiết. Việc tổ chức mô hình thí điểm còn có nơi làm chưa đồng bộ, thiếu tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời.

    – Nguồn lực và những điều kiện bảo đảm cần thiết cho cải CCHC còn nhiều haṇ chế.

    – Vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính đối với cải CCHC tại một số cơ quan, đơn vị còn hạn chế. Tình trạng cửa quyền, quan liêu, tham nhũng vẫn còn, tính công khai minh bạch của nền hành chính còn nhiều thách thức, một bộ phận cán bộ, công chức suy giảm lý tưởng, lối sống và vi phạm đạo đức công vụ, gây bất bình trong nhân dân.

    4. Bài học kinh nghiệm

    Nhằm nâng cao chất lượng cải cách hành chính trong thời gian tới, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp trọng tâm sau:

    – Tiếp tục nâng cao nhận thức, coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải CCHC. Bảo đảm sự nhất quán, kiên trì, liên tục trong triển khai cải CCHC của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và các địa phương.

    – Nâng cao vai trò của cơ quan chủ trì tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc và theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ cải CCHC.

    – Các định các mục tiêu cải CCHC mang tính định lượng với mức độ phù hợp, thiết thực để bảo đảm tính khả thi; Coi trọng công tác thí điểm và kết quả của môṭ số mô hình trong triển khai cải CCHC.

    – Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện công tác cải CCHC; Tăng cường, phát huy vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với công tác cải CCHC. Nâng cao năng lực của đội ngũ công chức làm công tác cải CCHC; bố trí đủ nguồn lực tài chính cho cải CCHC.

    Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 13/6/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04/2/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2022 – 2022; Bộ Nội vụ (2018), Báo cáo chỉ số cải cách hành chính – PAR INDEX 2022 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố thực thuộc Trung ương; Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ (2016), Tài liệu Hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015 và triển khai kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2022-2020; Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị – hành chính (2018), Những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính Nhà nước, NXB Lý luận chính trị; Nguyễn Xuân Thắng (2018), Tài liệu bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ thuộc diện Ban thường vụ huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh và tương đương quản lý (đối tượng 4), NXB Lý luận chính trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Nhóm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Cải Cách Hành Chính Trong Lĩnh Vực Tài Chính
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Bảo Vệ Sức Khỏe Chính Mình Và Cộng Đồng
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Trách Nhiệm Của Toàn Xã Hội
  • Những Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Mà Ai Cũng Nên Biết
  • Giới Thiệu Những Bức Tranh Vẽ Về Bảo Vệ Môi Trường Độc Đáo
  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Tổng Quan Về Kiểm Tra Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Trả Lời Ôn Tập Môn Khoa Học Hành Chính
  • Bài 9: Kiểm Tra Xử Phạt Và Cưỡng Chế Hành Chính Ở Cơ Sở Ts. Bùi Quang Xuân
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ubkt Huyện Uỷ
  • Ủy Ban Kiểm Tra Huyện Ủy
  • Quy Chế Làm Việc Của Ủy Ban Kiểm Tra Huyện Khóa Ix
  • Kiểm tra là việc so sánh quá trình giữa những chỉ tiêu hoặc tiêu tiêu trong kế hoạch đề ra so với kết quả thực tế đã đạt được trong một khoảng thời gian quy định

    Hành chính là việc các hoạt động được thực hiện dưới quyền kiểm soát của bộ máy nhà nước để đảm bảo pháp luật được thực thi một cách thường xuyên và liên tục

    Như vậy, kiểm tra hành chính là việc so sánh, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý hành chính nhà nước nhằm mục đích xem xét hoạt động đó có phù hợp với pháp luật hay không. Từ đó có biện pháp nhằm cải thiện và khôi phục sự phù hợp đó.

    Việc kiểm tra hành chính tác động trực tiếp đến lợi ích và quyền của người dân. Kiểm tra hành chính được tạo ra nhằm tạo ra trật tự an toàn cho người dân. Đồng thời hoạt động này cũng thể hiện trách nhiệm của nhà nước với nhân dân, tạo cơ sở và điều kiện để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng và nhức nhối trong đời sống của nhân dân, đảm bảo quyền bình đẳng và phục vụ nhân dân 1 cách tốt nhất

    Việc kiểm tra hành chính thể hiện rõ quyền lực của nhà nước. Các cơ quan chức năng có quyền áp dụng các biện pháp kiểm tra bất cứ thời gian nào trong ngày. Đồng thời, trước khi kiểm tra hành chính, lực lượng chức năng cũng không cần phải báo trước bằng văn bản hay bất kỳ hình thức nào khác. Nhờ việc kiểm tra giấy tờ, các lực lượng chức năng mới có các biện pháp phù hợp nhằm mục đích đảm bảo an ninh trật tự trị an, ngăn ngừa tội phạm. Việc các cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra hành chính vào ban đêm là việc xảy ra thường xuyên do tính chất của công việc, học hành khiến người dân không thể có mặt vào giờ hành chính. Một số ví dụ điển hình có thể kể đến như: kiểm tra nơi cư trú, kiểm tra các phương tiện giao thông,.v..v

    Là sự biểu hiện trình độ văn hoá, mức độ văn minh của nền hành chính. Một văn bản pháp luật sẽ không được thực thi khi không có thủ tục kiểm tra. Thể hiện sự nhận thức đúng đắn trong hoạt động quản lý nhà nước

    Như vậy, kiểm tra hành chính làm tăng khả năng gắn kết giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, người dân, là một tiêu chí để đánh giá chất lượng và quá trình quản lý, làm cho nhà nước ta thực sự là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân.”, góp phần vào quá trình xây dựng và triển khai luật pháp.

    2. Quy định về việc kiểm tra hành chính

    Việc kiểm tra hành chính nhắm đến đối tượng

    Các tổ chức kinh tế quốc doanh, hợp doanh,

    Các hộ gia đình, các nhà trọ, khách sạn , các phương tiện dùng làm chỗ ở (tàu, thuyền, xe,…) có xác định là có dấu hiệu vi phạm pháp luật về kinh tế, văn hoá xã hội

    Cơ quan cán bộ kiểm tra có quyền yêu cầu các đối tượng xuất trình giấy tờ, sổ sách theo quy định Nhà nước, đưa đi xem xét nơi kiểm tra, đối chiếu hoá đơn, chứng từ tuỳ vào tình hình và căn cứ để có thể phát hiện sai trái vi phạm

    Trước khi kiểm tra hành chính phải đọc cho đối tượng bị kiểm tra nghe quyết định kiểm tra hành chính là gì và yêu cầu họ chấp hành nghiêm chỉnh

    Trong quá trình kiểm tra, nếu các đối tượng bị kiểm tra không chấp hành hoặc có hành vi khúng cự, hành hung thì cán bộ hoặc người phụ trách kiểm tra hành chính được pháp sử dụng các biện pháp cưỡng chế theo pháp luật

    Khi kiểm tra hành chính cần có đại diện các cơ quan (UBND phường, xã, tổ dân phố) cùng đi

    Không được phép lợi dụng việc kiểm tra hành chính nhằm gây phiền hà, yêu sách, khám xét tràn lan không đúng đối tượng đối với nhân dân

    Không rườm rà, tiết kiệm thời gian và chi phí của các cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính nhà nước

    Bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện

    3. Thực trạng của công tác kiểm tra hành chính hiện nay tại Việt Nam

    Phần lớn cán bộ thanh tra kiểm tra hành chính đều có trình độ đại học trở lên và được đào tạo cơ bản và bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn về hành chính. Họ đều là những người có kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động này và luôn chủ động xử lý, hiểu được tầm quan trọng của việc hoàn thành nhiệm vụ được giao

    Phòng ngừa và phát hiện xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (buôn lậu, hàng giả, vi phạm luật giao thông,..), giúp các cơ quan tổ chức cá nhân được bảo vệ cũng như quyền cũng như lợi ích hợp pháp của các đối tượng này

    Nhiều đối tượng khi bị kiểm tra hành chính có dấu hiệu rời khỏi nơi đang bị khám, hoặc những thành viên trong gia đình, hàng xóm láng giềng tự trao đổi báo tin với nhau

    Nhiều cơ quan, cán bộ được giao nhiệm vụ kiểm tra hành chính có thái độ không tốt và những hành vi ứng xử không phù hợp với người dân. Điều này khiến người dân vô cùng bất bình, một số không hợp tác kiểm tra hành chính cũng vì thái độ không đúng của cán bộ tới kiểm tra. Nghiêm cấm việc công an coi thường người dân như tội phạm và không được phép quát nạt, lớn tiếng, hống hách, luôn phải có những tác phong đúng đắn thể hiện sự chuẩn mực của một cán bộ. Những hành vi không đúng như việc lớn tiếng, cãi nhau hay tệ hơn là nhổ nước bọt vào người dân hay đập phá cửa đều không đúng, vi phạm hoàn toàn đạo đức người công an nhân dân

    Hiện nay, có một bộ phận các cán bộ cảnh sát giao thông lợi dụng việc kiểm tra hành chính nhằm trục lợi và có ý đồ xấu với người dân. Điều này đã gây bức xúc không hề nhỏ trong cộng đồng dư luận. Cụ thể như việc cảnh sát giao thông rút chìa khoá xe, điều này hoàn toàn không có trong quyền hạn của một cảnh sát giao thông khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra hành chính bởi lẽ quyền hạn của cảnh sát giao thông chỉ được phép dừng các phương tiện, kiểm soát giấy tờ tuỳ thân của người điều khiển phương tiện. Như vậy nếu chỉ dựa vào việc kiểm tra hành chính mà cảnh sát giao thông thực hiện việc rút chìa khoá phương tiện thì là không đúng quy định và người bị kiểm tra hành chính hoàn toàn có quyền khiếu nại hoặc tố cáo hành vi vi phạm

    Vì đặc điểm của kiểm tra hành chính là công an các cấp có quyền, trách nhiệm kiểm tra được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào và không cần báo trước nên có những đối tượng khi bị kiểm tra cư trú là công dân, hộ gia đình nửa đêm bị kiểm tra hành chính thấy rất không thoải mái và bị hàng xóm dị nghị nên đã từ chối không hợp tác. Tuy nhiên đây là việc làm có căn cứ pháp lý, nhằm thực hiện đảm bảo an ninh trật tự và yêu cầu đấu tranh chống tội phạm. Cần lưu ý rằng quy định cho phép công an kiểm tra đột xuất nhưng không có nghĩa là vào ngoài giờ hành chính lúc nửa đêm. Bởi lẽ, kiểm tra hành chính mang tính chất định kỳ, đúng ngày đúng giờ thì mới đến kiểm tra nhưng còn đột xuất thì bản chất vẫn là kiểm tra định kỳ chỉ khác là không thông báo trước. Vì vậy, ngoại trừ trường hợp tội phạm nguy hiểm đang bị truy bắt hoặc những vấn đề đang gây nhức nhối sâu sắc thì cần hạn chế hết sức có thể việc kiểm tra hành chính vào ban đêm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Mở Rộng Kiến Thức Về Kiểm Tra Hành Chính
  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị
  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Tra
  • Thực Trạng Và Kinh Nghiệm Thực Hiện Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Giữa Nhiệm Kỳ Đại Hội Lần Thứ Xv Của Đảng Bộ Tỉnh
  • Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Góp Phần Giữ Vững Kỷ Cương, Kỷ Luật Của Đảng
  • Nhiều Giải Pháp Thực Hiện Tốt Công Tác Kiểm Soát Thủ Tục Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Quận 9: Tập Trung Thực Hiện Hiệu Quả Các Giải Pháp Về Công Tác Cải Cách Hành Chính
  • Tphcm Tích Cực Thực Hiện Các Nhóm Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Cải Cách Hành Chính
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Cải Cách Hành Chính Tỉnh Nghệ An
  • Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam: Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Cải Cách Thủ Tục Hành Chính
  • Hiệu Ứng Từ Cải Cách Thủ Tục Hành Chính, Gỡ Khó Cho Doanh Nghiệp
  • Năm 2022, Sở Lao động – TB&XH thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Sở tham mưu trình UBND tỉnh công bố mới 26 thủ tục hành chính (TTHC) kịp thời, đầy đủ; công khai minh bạch thủ tục hành chính tại bộ phận “Một cửa” và trên cổng thông tin giao tiếp điện tử của sở; tăng cường công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện TTHC tại các phòng, đơn vị trực thuộc.

    Qua công tác kiểm tra, giám sát đã phát hiện một số hạn chế như: Một số đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công tác kiểm soát TTHC. Tình trạng chậm trễ và quá thời hạn giải quyết TTHC vẫn tồn tại, đặc biệt là cấp xã. Việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ, từ chối giải quyết hoặc kéo dài thời hạn chưa được thực hiện bằng hình thức thông báo bằng văn bản; có nơi chưa lập sổ theo dõi, không viết biên nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả nên không theo dõi được tiến độ giải quyết… một số đơn vị chưa tuân thủ các quy định của bộ TTHC, còn yêu cầu tổ chức, cá nhân nộp nhiều bộ hồ sơ so với quy định. Qua kiểm tra TTHC về lĩnh vực người có công, bảo trợ xã hội của 12 xã đều thu thừa số lượng hồ sơ. Cụ thể như: Hồ sơ xác nhận bản khai đề nghị giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến hoặc con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chỉ yêu cầu 1 bộ hồ sơ, tuy nhiên, cán bộ Lao động – TB&XH cấp xã yêu cầu cá nhân lập 3 bộ hồ sơ. Như vậy, mỗi bộ hồ sơ gây lãng phí khoảng 2.000 đồng, nếu tính trên tổng số lượng toàn bộ TTHC giải quyết trong một năm trên địa bàn tỉnh, con số lãng phí này sẽ không nhỏ.

    Việc chuyển giao hồ sơ giữa các cơ quan Nhà nước, trình cơ quan cấp trên kết quả thẩm tra, thẩm định về TTHC (như thủ tục xác nhận và giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học hoặc con đẻ của họ) vẫn còn tình trạng cá nhân, tổ chức khi tiếp cận dịch vụ công bị thiếu thông tin, chưa được hướng dẫn đầy đủ, kịp thời, phải đi lại bổ sung hồ sơ nhiều nơi, nhiều lần cho một việc.

    Thúy Hường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Công Tác Cải Cách Hành Chính Và Giải Pháp
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Cải Cách Hành Chính: Nhiều Giải Pháp Sáng Tạo
  • Cần Giải Pháp Đột Phá Trong Công Tác Cải Cách Hành Chính, Văn Thư Lưu Trữ
  • Chưa Mạnh Dạn Đề Xuất Sáng Kiến, Giải Pháp Hiệu Quả Trong Công Tác Cải Cách Hành Chính
  • Cuộc Thi “tìm Kiếm Sáng Kiến, Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Tỉnh Nghệ An Năm 2022”
  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Những Vấn Đề Về Kiểm Tra Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Tác Kiểm Tra Của Nhà Quản Trị
  • Ứng Dụng Quản Lý Công Việc
  • Sử Dụng Phần Mềm Quản Lý Tòa Nhà Landsoft Control Mang Lại Lợi Ích Gì Cho Doanh Nghiệp Và Chủ Đầu Tư ?
  • Top 10 Ứng Dụng Điểm Danh Giúp Quản Lý Trường Học
  • Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Là Một Trong Những Chức Năng Lãnh Đạo, Nhiệm Vụ Quan Trọng Của Đảng
  • Việc làm Công chức – Viên chức

    1. Đối với nước ta, hoạt động kiểm tra hành chính là gì?

    1.1. Khái niệm về kiểm tra hành chính

    Rất nhiều trường hợp chúng ta cần đến công việc kiểm tra hành chính. Đặc biệt có thể lấy các ví dụ về kiểm tra hành chính như trong quá trình chúng ta tham gia giao thông, khi vi phạm cảnh sát giao thông có quyền kiểm tra những giấy tờ, bằng lái xe. Hay đơn giản khi đăng ký tạm trú tại một nơi nào đó, công an địa phương cũng có quyền kiểm tra hành chính đối với mọi người.

    + Kiểm tra là việc thực hiện các chức năng về quản lý chu trình quản lý theo đúng với quy trình, dựa theo đó xem xét, đánh giá việc thực hiện trách nhiệm của cơ quan đơn nhằm xử lý và phát hiện các vi phạm trong việc thực thi các chính sách pháp luật để điều chỉnh trật tự, an ninh xã hội theo chuẩn mực quy định của nhà nước.

    + Kiểm tra hành chính: là quá trình đảm bảo về pháp chế và kỷ luật trong công tác quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

    Kiểm tra hành chính được hiểu là những hình thức quản lý trong công tác hành chính nhà nước xem mọi người có thực hiện và áp dụng đúng với pháp luật hay không và áp dụng biện pháp kịp thời nhằm xử lý những sai phạm nhằm thực hiện đúng với quy định.

    1.2. Những đặc điểm của kiểm tra hành chính

    Trong công tác kiểm tra hành chính, nhưng đặc điểm chúng ta cần nắm rõ để hiểu hơn về vấn đề này. Kiểm tra hành chính có những đặc điểm cơ bản như sau:

    Kiểm tra trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước, tiến hành kiểm tra các đối tượng trong phạm vi quản lý hành chính của nhà nước quản lý.

    Đây là một hoạt đông diễn ra thường xuyên các cơ quan hành chính nhà nước.

    Khi các cơ quan đơn vị tiến hành kiểm tra có quyền thực hiện và áp dụng các biện pháp cưỡng chế, kỷ luật hoặc có thể dùng các biện pháp tác động đối với các đối tượng bị kiểm tra về vấn đề vật chất, tinh thần.

    Hoạt động kiểm tra hành chính được tiến hành kiểm tra thường xuyên hoặc cũng có thể được kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất.

    Hình thức áp dụng cho các hoạt động về kiểm tra hành chính bao gồm nhiều hình thức khác nhau như: Tổ chức các đoàn kiểm tra, thực hiện thông qua các hoạt động báo cáo, đánh giá báo cáo của đối tượng,…

    1.3. Chủ thể và đối tượng áp dụng kiểm tra hành chính

    Đối với hoạt động về kiểm tra hành chính của nhà nước, trước hết hoạt động muốn diễn ra, thành lập thì phải có chủ thể và xác định các đối tượng cần kiểm tra.

    Chủ thể trong việc kiểm tra hành chính bao gồm các cơ quan đơn vị như sau:

    – Các cơ quan hành chính nhà nước tại trung ương: Bao gồm cơ quan đứng đầu nhà nước là Chính phủ. Tiếp đến là các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ,

    – Các cơ quan tại địa phương: Bao gồm Ủy ban nhân dân các cấp, những đơn vị, cơ quan chuyên môn thuộc UBND và người đứng đầu trong các cơ quan đó.

    Các chủ thể được xác định rõ những vai trò trách nhiệm của mình trong việc kiểm tra đối với các đối tượng trong cơ quan hành chính, thực hiện tiến hành xử lý đối với những trường hợp vi phạm theo quy định của nhà nước hiện hành.

    Đối tượng bị áp dụng hình thức kiểm tra vi phạm hành chính là các cơ quan, tổ chức cá nhân sau:

    – Đó có thể là những cơ quan hành chính nhà nước, các Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã,…

    – Đó là toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời có thể là các tổ chức, tập thể, cá nhân nằm trong phạm vi thuộc đối tượng quản lý của hệ thống hành chính.

    – Những đối tượng khi bị kiểm tra sẽ phải chấp hành theo đúng quy định của những cơ quan đơn vị chủ quản. Đồng thời, thực hiện chấp hành các hình thức xử phạt khi mắc lỗi vi phạm nếu có.

    2. Thực trạng về công tác kiểm tra hành chính hiện nay

    2.1. Công tác kiểm tra hành chính được quy định như thế nào?

    Khi tiến hành kiểm tra hành chính các cơ quan được giao trách nhiệm kiểm tra phải tổ chức thực hiện theo đúng với pháp luật về kết quả cuộc kiểm tra.

    Ủy ban nhân dân các cấp ra quyết định tiến hành kiểm tra vi phạm hành chính khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền ban hành xuống.

    Khi kiểm tra yêu cầu các đối tượng bị kiểm tra xuất trình các giấy tờ, có thể yêu cầu các khám xét, địa điểm nơi cần kiểm tra, có trách nhiệm đối chiếu những bằng chứng với tình hình cụ thể và căn cứ vào các quy định để có thể phát hiện kịp thời các hành vi bị vi phạm.

    Khâu kiểm tra hành chính cũng phải đảm bảo theo đúng với các nguyên tắc kiểm tra, nghiêm cấm việc các cá nhân tự ý tác đoàn riêng đi kiểm tra.

    Khi cần kiểm tra vật gì, nơi nào thì yêu cầu đối tượng bị kiểm tra đưa đi để xem xét. Đối tượng bị kiểm tra phải chấp hành các yêu cầu của cán bộ kiểm tra.

    Khi thực hiện kiểm tra hành chính nếu đối tượng bị kiểm tra không chấp hành các yêu cầu, có ý muốn chống đối hoặc hành hung, hay cố tình tiêu hủy tang vật thì cán bộ phụ trách kiểm tra hành chính đó được sử dụng các biện pháp cưỡng chế mà pháp luật quy định trong trường hợp này.

    Việc kiểm tra hành chính của các cơ quan phải có đại diện của cơ quan đã đề nghị kiểm tra, của Ủy ban nhân dân phường, xã hoặc những người đại diện của nơi kiểm tra đi cùng, ví dụ như tổ trưởng tổ dân phố, công an xã, phường, thị trấn,…

    Bên cạnh đó phối hợp với các đơn vị chức năng có thẩm quyền về việc thực hiện kiểm tra hành chính để được thuận lợi nhất. Kết hợp với việc thực hiện các giai đoạn của quy trình kiểm tra hành chính để việc kiểm tra được chất lượng và hiệu quả nhất.

    Sau khi kiểm tra và xác định mức vi phạm hành chính của các đối tượng, tiến hành báo cáo kết quả với cơ quan, đơn vị chủ quản và thực hiện áp dụng các hình thức xử phạt theo đúng với yêu cầu.

    Việc kiểm tra vi phạm hành chính phải đảm bảo đúng và đạt yêu cầu, nhằm ngăn ngừa các vi phạm, đảm bảo trật tự an ninh của mọi người, thực hiện áp dụng chính xác theo yêu cầu của luật nhà nước quy định.

    2.2. Ưu điểm kiểm tra hành chính hiện nay

    + Trong lĩnh vực kiểm tra hành chính đã đạt được những thành tựu tiêu biểu, lực lượng tiến hành kiểm tra đã sử dụng đúng những quyền hạn của mình theo các văn bản hướng dẫn quy định. Việc kiểm tra hành chính được thực hiện đúng lúc, không có tình trạng lạm dụng chức quyền.

    + Trong quá trình thực hiện quyền trong hoạt động kiểm tra của các đơn vị có thẩm quyền, thông qua đó có các đơn vị có thể có những biện pháp để giáo dục, thuyết phục, giải thích cho cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng bị kiểm tra hành chính hiểu và nắm bắt được mình đã bị vi phạm những lỗi sai gì. Từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của cá nhân tổ chức hay cơ quan, đơn vị sự nghiệp, hay của cá nhân khi vi phạm hành chính sẽ biết lỗi để cải tạo, sửa đổi, nâng cao chất lượng công việc của mình.

    + Thực hiện việc kiểm tra một cách công khai, dân chủ, các đơn vị kiểm tra và thực hiện nhiệm vụ được giao phó đã hoàn thành tốt các kết quả mà mình đã đặt ra, góp phần nâng cao chất lượng của công tác kiểm tra hành chính từ trung ương cho đến các cơ sở các cấp tại địa phương một cách hoàn chỉnh nhất.

    + Phát hiện được các vi phạm, kiến nghị và xử lý những hành vi vi phạm, qua đó có những biện pháp khắc phục và thực hiện quản lý tốt hơn trong lĩnh vực này.

    2.3. Nhược điểm trong vấn đề kiểm tra hành chính

    Bên cạnh những ưu điểm của kiểm tra hành chính mang lại cũng tồn tại những khó khăn vướng mắc công việc, từ đó gây nên những điểm hạn chế trong việc làm ý nghĩa này.

    Thứ hai, thời gian thời kiểm tra hành chính còn bị chậm hoặc kéo dài, không đáp ứng được yêu cầu khẩn trương, kịp thời của công tác quản lý nhà nước. Số lần thực hiện kiểm tra vi phạm hành chính, xử phạt của đội ngũ kiểm tra còn rất lớn với những con số cao hàng năm.

    Thứ ba, việc báo cáo tình trạng kiểm tra hành chính cũng không được đúng với tiến độ, khi xử phạt vi phạm hành chính còn chưa đúng với quy trình, thủ tục, chưa xử lý hết những trường hợp vi phạm. Vì vậy ảnh hưởng tương đối lớn đối với việc kiểm tra hành chính của nước ta hiện nay.

    Thứ tư, hoạt động kiểm tra hành chính còn chưa được tiến hành một cách chủ động. Những lần kiểm tra hành chính còn bị phụ thuộc quá nhiều về sự chỉ đạo của các đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân các cấp, đơn vị kiểm tra hành chính còn chưa tự giác thực hiện mà vẫn phải đợi lệnh cấp trên. Cùng với đó làm mất đi tính độc lập, hiệu quả và chất lượng của công các kiểm tra hành chính hiện nay.

    3. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng kiểm tra hành chính

    – Tăng cường sự lãnh đạo của đảng và nhà nước cũng như cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện công tác kiểm tra hành chính.

    – Chú trọng đổi mới tư duy tiến bộ trong các cấp Đảng ủy, trong đội ngũ cán bộ, tăng cường các văn bản quy định về thực hiện hoạt động kiểm tra ngày càng được tốt hơn.

    – Đào tạo đội ngũ cán bộ, thủ trưởng cơ quan, lực lượng đơn vị kiểm tra ngày càng vững mạnh. Thay đổi tư duy rèn luyện tính chỉ đạo, lãnh đạo đổi mới, hoạt động đúng với nhiệm vụ

    – Nâng cao chất lượng trong các cuộc thanh tra hành chính, thực hiện đúng quy trình, giai đoạn hiệu quả, đảm bảo đúng với thủ tục và ngăn chặn việc lôi kéo đội ngũ kiểm tra hành chính vào những hành vi mua chuộc cán bộ,…

    – Đôn đốc kiểm tra, đẩy mạnh ứng dụng cải cách công tác kiểm tra hành chính ngày càng được hoàn thiện, phục vụ đúng với lợi ích của nhân dân.

    – Tăng cường ý thức trách nhiệm của từng cán bộ trong việc kiểm tra hành chính, có những sự thay đổi về mặt hành chính. Từ đó kế thừa những kinh nghiệm đáng quý về kiểm tra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Căn Trang Excel Để Khi In Vừa Khít Trang Giấy A4
  • Queue Interface Trong Java ” Cafedev.vn
  • Abstract Class Và Interface Trong Java
  • Tổng Hợp Những Nguồn Lưu Trữ Tweak Tốt Nhất Cho Ios Jailbreak
  • 6 Ưu Điểm Của Samsung Galaxy J7 Prime Chinh Phục Khách Hàng Việt
  • Thực Trạng Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Và Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập Của Nước Ta Hiện Nay (Qua Số Liệu Điều Tra Xã Hội Học)

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Kỹ Năng Làm Việc Nhóm Của Sinh Viên Và Cách Khắc Phục
  • Thực Trạng Kỹ Năng Làm Việc Nhóm Trong Học Tập…
  • Nông Nghiệp Việt Nam: Những Vấn Đề Tồn Tại
  • Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Khoa Qlvh Ở Trường Đại Học Văn Hóa Tp. Hồ Chí Minh Đáp Ứng Nhu Cầu Xã Hội
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giảng Viên Trường Cao Đẳng Hàng Hải Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • – Phát huy quyền làm chủ của CB,CC,VC và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị;

    – Góp phần xây dựng đội ngũ CB,CC,VC  là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước;

    – Phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân.

    Hiệu quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị được đánh giá thông qua các tiêu chí cụ thể sau:

    – Nhận thức, năng lực thực hành dân chủ của đội ngũ CB,CC,VC. Muốn thực hiện dân chủ trong cơ quan, đơn vị, trước hết người công chức, viên chức phải nắm bắt và hiểu biết về dân chủ cơ sở, bao gồm những việc công khai để cán bộ, công chức, viên chức được biết; những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến và những việc CB,CC,VC được giám sát, kiểm tra. Điều này đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện dân chủ cũng như kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện dân chủ.

    – Kết quả phát huy quyền làm chủ của CB,CC,VC. Đánh giá hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị còn được thể hiện qua kết quả thực hiện quyền làm chủ của CB,CC,VC, thể hiện qua việc CB,CC được trình bày ý kiến, đề xuất việc giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình khác với ý kiến của người phụ trách trực tiếp trong khi thi hành công vụ, nhưng vẫn phải chấp hành sự chỉ đạo và hướng dẫn của người phụ trách trực tiếp, đồng thời có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo lên cấp có thẩm quyền. Hoặc đối với viên chức, họ được quyền từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật, được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm vụ được giao. Người CB,CC,VC được thẳng thắn đóng góp ý kiến để xây dựng nội bộ cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh. 

    – Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, thể hiện qua năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ hàng năm của các cơ quan, đơn vị sẽ phản ánh được sự chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác; sắp xếp tổ chức bộ máy, bố trí sử dụng biên chế hợp lý, tiết kiệm, nâng cao chất lượng, hiệu suất lao động, hiệu quả trong sử dụng kinh phí, thực hành tiết kiệm, tăng thu nhập cho CB,CC,VC. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị cũng thể hiện chất lượng của việc ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý và sử dụng tài sản công; việc thực hiện quản lý thu, chi tài chính tại đơn vị; việc tiết kiệm chi thường xuyên theo định mức biên chế và chi bổ sung thu nhập cho CB,CC,VC và người lao động… Nếu quyền dân chủ của CB,CC,VC được đảm bảo và không ngừng phát huy thì kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị sẽ không ngừng được củng cố, nâng cao.

     - Kết quả phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân trong cơ quan, đơn vị. Đây là tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá được hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt dân chủ sẽ tạo điều kiện để các CB,CC,VC cũng như toàn xã hội tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước; CB,CC,VC  sẽ dễ dàng nhận biết và chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, buộc các CB,CC,VC phải có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ, nhiệm vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định bởi, mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để tư lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý.

    – Mức độ tham gia kiểm tra, giám sát trong việc tổ chức thực hiện dân chủ của các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể như tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Ban Thanh tra nhân dân… Các tổ chức đoàn thể trong cơ quan, đơn vị có vai trò quan trọng, tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong CB,CC,VC, tạo mọi điều kiện thuận lợi để động viên họ phát huy quyền làm chủ của mình. Do vậy, việc củng cố, kiện toàn các đoàn thể trong các cơ quan, đơn vị là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở.

    2. Thực trạng tình hình thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập của nước ta hiện nay

    Nhằm cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện các chủ trương, chính sách nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở (dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn và dân chủ ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập), năm 2022, Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ đã thực hiện điều tra Dự án: “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở”. Với quy mô điều tra gần 1.500 CB, CC, VC ở các cơ quan, đơn vị một số Bộ, ngành và địa phương về tình hình thực hiện dân chủ trong các cơ quan, đơn vị theo phương pháp lựa chọn mẫu, báo cáo tổng hợp kết quả cho thấy (đơn vị tính: tỷ lệ %):

    Biết rất rõ

    Biết sơ qua

    Không biết

    76.0

    23.1

    0.9

              * Hình thức tiếp cận thông tin:

    Tự tìm hiểu

    Từ cơ quan, đơn vị

    Qua thông tin đại chúng

    Khác

    10.4

    79.6

    8.4

    1.6

    2.2. Việc tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức hàng năm

    Tổ chức đều đặn hàng năm

    Có năm không tổ chức

    Chưa bao giờ tổ chức

    93.3

    5.9

    0.8

              2.4. Ý kiến nhận xét của CB, CC, VC về tình hình thực hiện việc công khai thông tin ở cơ quan, đơn vị (Theo quy định, thời hạn công khai văn bản chậm nhất là 03 ngày làm việc, trường hợp đặc biệt không quá 05 ngày kể từ ngày văn bản được ban hành hoặc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan, đơn vị cấp trên).

    Không công khai

    Có được công khai

    Khó trả lời

    Kịp thời

    Không kịp thời

    1.6

    93.4

    3.2

    1.8

    4.2. Kế hoạch công tác hàng năm, hàng quý của cơ quan, đơn vị

    1.4

    95.0

    2.6

    1.0

    4.3. Tài sản, trang thiết bị; kinh phí hoạt động và quyết toán hàng năm

    2.6

    82.6

    8.4

    6.4

    4.4. Các chế độ, chính sách đối với CB, CC, VC

    1.5

    90.7

    5.7

    2.2

    4.5. Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai theo quy định

    4.4

    84.8

    5.7

    5.1

    4.6. Các vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan đã được kết luận (nếu có)

    3.7

    59.5

    3.7

    33.1

    4.7. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị (nếu có)

    3.2

    65.5

    3.8

    27.5

    4.8. Kết quả tiếp thu ý kiến (khi lấy ý kiến) của CB, CC, VC về những vấn đề thuộc thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

    3.1

    82.2

    5.3

    9.4

    2.5. Nguyên nhân của tình trạng một số thông tin chưa hoặc chậm công khai là do:

              * Nguyên nhân khác: Do ý chí cá nhân người đứng đầu và sự chậm trễ trong công việc của cơ quan, đơn vị.

    2.6. Hình thức thường được thực hiện để công khai thông tin cho CB,CC,VC biết

    Chế độ, chính sách

    Không công khai

    Có công khai

    Khó trả lời

    Kịp thời

    Không kịp thời

    7.1. Về tuyển dụng

    3.7

    84.6

    4.7

    7.0

    7.2. Về đào tạo, bồi dưỡng

    1.3

    89.8

    6.0

    2.9

    7.3. Điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái

    2.3

    85.1

    5.6

    7.0

    7.4. Thay đổi vị trí làm việc hoặc chức danh nghề nghiệp

    1.9

    84.2

    6.0

    7.9

    7.5. Đi công tác nước ngoài

    2.7

    73.1

    4.4

    19.8

    7.6. Về nâng bậc lương, nâng ngạch

    1.3

    92.9

    3.7

    2.1

    7.7. Về đánh giá, xếp loại và khen thưởng CB, CC, VC

    1.1

    93.0

    3.7

    2.2

       

    Chưa  

    58.2

    41.8

     

    * Việc bố trí lịch hẹn có dễ dàng, thuận lợi hay không

    Rất dễ dàng, thuận lợi

    Có một chút khó khăn

    Rất khó khăn

    90.4

    9.0

    0.6

    * Ý kiến phản ánh hay phê bình của CB, CC, VC có được người đứng đầu cơ quan/ đơn vị quan tâm, lắng nghe hay không

    Không  

    98.2

    1.8

    * Người đứng đầu cơ quan/ đơn vị sau đó có phản hồi/giải thích cho CB, CC, VC được biết hay không

    Không

    97.3

    2.7

    2.10. Đánh giá về mức độ dân chủ trong việc tham gia ý kiến của CB,CC,VC

             * Về ý thức, trách nhiệm của CB,CC,VC trong việc tham gia ý kiến

    * Về sự tiếp thu ý kiến của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

     

    2.11. Những nội dung ở cơ quan/ đơn vị CB, CC, VC cần phải được thực hiện dân chủ hơn

     

    2.12. Phản ứng của CB, CC, VC khi không hài lòng về tình hình thiếu dân chủ ở cơ quan/ đơn vị

     

              2.13. Đánh giá chung về tình hình thực hiện dân chủ ở cơ quan/đơn vị CB, CC, VC công tác

     

    2.14. Nguyên nhân chính của tình trạng chưa dân chủ trong các cơ quan/ đơn vị hiện nay là do:

    Tỷ lệ %

    14.1. Sự ràng buộc từ các mối quan hệ

    52.2

    14.2. Lợi ích nhóm

    32.6

    14.3. Quy định về dân chủ chưa rõ, không phù hợp

    32.8

    14.4. Quy chế dân chủ còn thiếu các chế tài cần thiết đảm bảo thực hiện

    52.7

    14.5. Sự thiếu trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

    29.0

    14.6. Sự thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức

    38.8

    14.7. Sự phối hợp chưa tốt giữa các tổ chức trong cơ quan

    47.0

    14.8. Thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của tổ chức Đảng về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị

    17.8

    14.9. Điều kiện vật chất, trang thiết bị còn hạn chế

    28.4

    14.10. Chưa phát huy hết vai trò của Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan

    33.2

    14.11. Chưa phát huy hết vai trò của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan

    32.7

    14.12. Việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa được coi trọng

    32.8

          * Lý do khác: Sự phối hợp chưa tốt giữa các thành viên trong cơ quan; Nhân viên không dám phê bình cấp trên; Chưa nắm bắt kịp thời văn bản quy định.

    III. Kết luận

    Có thể nói rằng, việc thực hiện dân chủ trong các cơ quan, đơn vị ở Việt Nam hiện nay là tương đối tốt (thể hiện trong biểu đồ số liệu điều tra tại mục 2.13). Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như việc thực hiện dân chủ vẫn còn hình thức, thậm chí ở một số cơ quan, đơn vị sự nghiệp vẫn còn tồn tại tình trạng chưa dân chủ trong một số hoạt động. Nguyên nhân của nó cũng đã được thể hiện qua đánh giá của CB,CC,VC tại bảng số liệu mục 2.14.

    Cũng trong khuôn khổ Dự án điều tra năm 2022, Viện Khoa học tổ chức nhà nước đã trưng cầu ý kiến của gần 1.500 CB,CC,VC về giải pháp cần phải tập trung nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Số liệu cụ thể như sau:

    Giải pháp

    Tỷ lệ %

    15.1.Sửa đổi văn bản pháp luật

    24.9

    15.2. Quy định cụ thể hơn trong việc phối hợp giữa các tổ chức trong cơ quan, đơn vị

    65.6

    15.3. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

    59.8

    15.4. Đề cao tinh thần và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức

    61.4

    15.5. Đề cao vai trò của Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan

    36.9

    15.6. Đề cao vai trò của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan

    28.1

    15.7. Đề cao tinh thần gương mẫu của đảng viên

    24.6

    15.8. Đổi mới nhận thức của người đứng đầu CQ, đơn vị và CB, CC, VC

    34.3

    15.9. Tăng cường điều kiện vật chất, trang thiết bị

    24.1

    15.10. Kiểm tra và xử lý kịp thời những biểu hiện thiếu dân chủ

    50.4

     

    Mặc dù số liệu và kết quả điều tra về dân chủ trong cơ quan, đơn vị như đã trình bày ở trên là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, điều này vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, làm sâu sắc hơn trong thời gian tới bởi dân chủ nói chung và thực hiện dân chủ ở cơ sở nói riêng là một vấn đề phức tạp và luôn nảy sinh những vấn đề mới trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Trong phạm vi bài viết của mình, sau đây là một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị:

    Một là, hoàn thiện các quy định về dân chủ.

    – Chính phủ đã ban hành NĐ số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, nên có văn bản quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở riêng cho cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp vì mỗi loại hình có những đặc điểm riêng trong tổ chức, hoạt động cũng như nội dung thực hiện dân chủ.

    – Các văn bản quy định về dân chủ cơ sở cần được bổ sung thêm các chế tài về việc thực hiện quy chế đối với người đứng đầu đơn vị cũng như cán bộ, công chức, viên chức khi không thực hiện đúng các nội dung mà dân chủ quy định nhằm đảm bảo cho quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm minh, đúng quy định. 

    Hai là, chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về vai trò, tầm quan trọng cũng như các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở

    Ba là, nâng cao chất lượng Hội nghị CB,CC,VC

    – Người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần chủ động trong việc chuẩn bị nội dung, bố trí đủ thời gian và phối hợp với Chủ tịch công đoàn chỉ đạo Hội nghị  CB,CC,VC theo quy định. Bên cạnh việc lắng nghe ý kiến đóng góp, phê bình của CB,CC,VC; giải đáp những thắc mắc, kiến nghị của CB,CC,VC… thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị cũng cần phải tạo được bầu không khí thực sự thoải mái để mọi CB,CC,VC và người lao động có cơ hội bày bỏ tâm tư, nguyện vọng của mình.

    – Tăng cường giám sát việc thực hiện Nghị quyết hội nghị CB,CC,VC; phải có đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết hội nghị CB,CC,VC trước hội nghị CB,CC,VC vào 6 tháng và cuối năm.

    Bốn là, khắc phục tính hình thức trong hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị. 

    Thực tế cho thấy trong thời gian qua, tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân chưa thực sự phát huy hết được chức năng, nhiệm vụ theo quy định và những kết quả đạt được vẫn còn rất hạn chế. Điều này xuất phát từ nguyên nhân  chủ yếu do Ban Thanh tra nhân dân đều là cấp dưới của thủ trưởng, chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các quyết định của thủ trưởng (quyền lợi trong công việc hàng ngày; kinh phí hoạt động của Ban Thanh tra…). Như vậy việc tổ chức Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị chưa đảm bảo rõ tính độc lập, khó có thể thực hiện được đúng bản chất của hoạt động giám sát và trên thực tế hiệu lực của hoạt động giám sát của Ban thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị quá yếu so với các chủ thể thực hiện quyền giám sát khác.

    Tuy nhiên, trong thời gian tới khi vẫn duy trì Ban Thanh tra nhân dân như một thiết chế đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở ở cơ quan và đơn vị sự nghiệp, trước hết cần lựa chọn, bố trí những người có phẩm chất, năng lực tốt, được CB,CC,VC tín nhiệm làm công tác thanh tra nhân dân. Các thành viên tham gia Ban thanh tra nhân dân phải có bản lĩnh, không ngại va chạm, ý thức đầy đủ về vị trí, vai trò và phải nắm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của mình được pháp luật quy định; có nghiệp vụ hoạt động, được tập huấn cơ bản. Muốn vậy, hàng năm có kế hoạch và tổ chức các cuộc tập huấn cho cán bộ làm công tác thanh tra nhân dân về chức năng, nhiệm vụ của Ban thanh tra nhân dân, kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức thực hiện quyền thanh tra, giám sát, xác minh vụ việc theo quy định pháp luật… nhằm nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng, năng lực, trình độ và hiểu biết pháp luật cho người làm công tác thanh tra nhân dân. Đồng thời, cơ quan, đơn vị cần tạo điều kiện thuận lợi và bố trí nguồn kinh phí hợp lý để Ban thanh tra nhân dân hoạt động. Ban Thanh tra nhân dân phải thực hiện đúng nhiệm vụ là giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, đơn vị.

    Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức Đảng cơ sở, các tổ chức đoàn thể quần chúng trong việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị.

    Tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng phấn đấu, rèn luyện và phải là những tấm gương về thực hiện dân chủ. Mỗi tổ chức đảng phải giáo dục cho đảng viên ý thức rõ trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức của mình, biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến phê bình. Nếu trong Đảng thực hành được dân chủ, đoàn kết và đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì tình hình sẽ chuyển biến tốt đẹp,  các CB,CC,VC được bảo đảm lợi ích, nhu cầu và quyền làm chủ của mình. Dân chủ trong Đảng sẽ thúc đẩy dân chủ trong cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ đảng viên và đội ngũ công chức, viên chức phải gương mẫu trong đạo đức, lối sống, đề cao kỷ luật và trách nhiệm, tôn trọng và tận tụy phục vụ nhân dân. Nghiên cứu xem xét đưa kết quả xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị là một tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh; đảng viên là CB,CC,VC hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Các tổ chức công đoàn, các đoàn thể cần đề xuất, tham mưu cho cấp ủy, lãnh đạo cơ quan tăng cường kiểm tra, theo dõi, đánh giá, uốn nắn việc triển khai thực hiện tại các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý để đảm bảo thực hiện đúng pháp luật, đồng thời báo cáo, đề xuất lên cấp trên có thẩm quyền để xử lý đối với những trường hợp vi phạm về dân chủ.

    Sáu là, tăng cường dân chủ phải đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính và đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

    Thực hiện dân chủ nhưng luôn phải gắn với bảo đảm tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cấp trên. Mỗi cá nhân phải thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Mỗi cơ quan, đơn vị phải xây dựng được chương trình, kế hoạch công tác cụ thể trên cơ sở nhiệm vụ được giao; đánh giá đúng chất lượng, trình độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ của CB,CC,VC. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, gây nhũng nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp, xử lý nghiêm việc chậm trễ trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

    Bảy là, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.

    Trước hết, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần phải nhận thức rõ việc thực hiện dân chủ trong cơ quan, đơn vị là một thiết chế hỗ trợ rất hiệu quả cho công tác quản lý, điều hành công việc. Không nên nhìn nhận việc thực hiên dân chủ như là một đối trọng về lợi ích trong quản lý điều hành, hoạt động của cơ quan, đơn vị. Thực hiện dân chủ cơ sở tốt sẽ là công cụ giám sát có hiệu quả chính bản thân cơ quan, đơn vị, đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, cảnh báo sớm những sai phạm có thể xảy đến với các quyết định của người đứng đầu hoặc trong quá trình tổ chức triển khai công tác của cơ quan, đơn vị. Chính vì vậy, người đứng đầu cần nhận thức đúng vai trò và tầm quan trọng của thực hiện dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để CB,CC,VC và các tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ như Công đoàn, Ban Thanh tra nhân dân hoàn thành nhiệm vụ, hoặc tạo điều kiện về thời gian, vật chất để các tổ chức này hoạt động được hiệu quả.

    Đồng thời, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải đảm bảo đúng trách nhiệm của mình trong thực hiện dân chủ trong quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan, đơn vị; trong quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính sách đối với CB,CC,VC. Khi CB,CC,VC đăng ký được gặp và có nội dung, lý do cụ thể thì bố trí thời gian thích hợp để gặp và trao đổi; Chỉ đạo việc cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin, tài liệu, cách thức tổ chức thực hiện, trách nhiệm thực hiện và trách nhiệm giải trình những nội dung công việc trong cơ quan, đơn vị…

    Tám là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị.

    Xử lý nghiêm, kịp thời những hành vi vi phạm những quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở; điều chuyển, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều dư luận, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

    Nghiêm cấm và xử lý nghiêm người đứng đầu có hành vi cản trở việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc có hành vi trả thù, trù dập CB,CC,VC khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật. Đồng thời, kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của CB,CC,VC và quyền làm chủ của nhân dân, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị./.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ (2017), Báo cáo tổng hợp Dự án điều tra cấp Bộ “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”.

    2. Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 9/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

    3. Thông tư số 01/2016/TT-BNV ngày 13/ 01/2016 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP.

    ThS. Trần Thị Thơ, Phó Trưởng phòng

            Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nông Dân Tham Gia Giải Quyết Khiếu Nại Tố Cáo
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Huy Vai Trò Của Nông Dân Việt Nam Hiện Nay
  • Thực Chất Nguyên Nhân Của Tham Nhũng Và Những Vấn Đề Đặt Ra Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp: Phát Triển Du Lịch Đông Nam Bộ
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ
  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Mở Rộng Kiến Thức Về Kiểm Tra Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Tra Hành Chính Là Gì? Tổng Quan Về Kiểm Tra Hành Chính
  • Gợi Ý Trả Lời Ôn Tập Môn Khoa Học Hành Chính
  • Bài 9: Kiểm Tra Xử Phạt Và Cưỡng Chế Hành Chính Ở Cơ Sở Ts. Bùi Quang Xuân
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ubkt Huyện Uỷ
  • Ủy Ban Kiểm Tra Huyện Ủy
  • Saturday, 21/03/2020

    1. Tìm hiểu chung về công tác kiểm tra hành chính

    1.1. Khái niệm kiểm tra hành chính là gì dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước

    Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm tra hành chính tuy nhiên ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra một khái niệm cụ thể nhất đó là: “Kiểm tra hành chính thuộc một trong những chức năng của hoạt động quản lý do các cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền thực hiện nhằm đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch của đối tượng bị kiểm tra để phát hiện ra những sai phạm có thể xảy ra không theo quy định của pháp luật từ đó kịp thời áp dụng những biện pháp xử lý, khắc phục các thiếu sót nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước”.

    Mục đích cuối cùng của công tác kiểm tra hành chính là để phát hiện hoặc phòng ngừa bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật trước những hành vi vi phạm, góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý nhà nước. Từ đó tạo điều kiện cho những hướng đi đúng đắn của Đảng và Nhà nước được thực thi và được người dân tích cực áp dụng.

    1.2. Kiểm tra hành chính có đặc điểm như thế nào?

    Kiểm tra hành chính đơn giản và dễ nhận thấy. Một số đặc điểm của kiểm tra hành chính được thể hiện như sau:

    – Công tác kiểm tra hành chính thuộc hoạt động quản lý của nhà nước do vậy nó mang tính quyền lực nhà nước buộc đối tượng bị kiểm tra phải chấp hành đúng quy định

    – Có nhiều hình thức thực hiện kiểm tra hành chính bao gồm: kiểm tra hành chính thường xuyên, kiểm tra hành chính định kỳ và kiểm tra hành chính đột xuất

    – Hoạt động kiểm tra hành chính mang tính phòng ngừa. Tức là nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và giảm thiểu những sai phạm có thể xảy ra trong từng lĩnh vực bị kiểm tra

    1.3. Chủ thể kiểm tra và đối tượng bị kiểm tra hành chính

    1.3.1. Chủ thể thực hiện kiểm tra hành chính

    Chủ thể được thực hiện kiểm tra hành chính là các cơ quan hành chính nhà nước và người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước bao gồm:

    – Cơ quan hành chính Nhà nước trung ương: Chính phủ, các Bộ đứng đầu lĩnh vực kiểm tra, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ

    – Cơ quan tại địa phương: UBND cấp huyện, cấp xã, cơ quan các ban ngành, người đứng đầu trong các cơ quan đó và các cá nhân được giao trách nhiệm

    Mỗi chủ thể thực hiện kiểm tra hành chính được xác định rõ trách nhiệm và có nghĩa vụ thực hiện kiểm tra theo đúng quy định và lệnh được giao. Trong trường hợp chủ thể thực hiện kiểm tra hành chính không tiến hành kiểm tra theo đúng quy định và nhiệm vụ được giao sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.

    1.3.2. Đối tượng áp dụng kiểm tra hành chính

    Công tác kiểm tra hành chính được quy định áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức sau:

    – Công tác kiểm tra hành chính được áp dụng cho toàn bộ các cá nhân là công nhân nước Việt Nam hoặc sinh sống, học tập, kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam

    – Các cơ sở kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam

    – Bất kỳ cơ quan, tổ chức nào hoạt động kinh doanh, sản xuất trên lãnh thổ Việt Nam

    Những đối tượng kể trên có trách nhiệm và nghĩa vụ chấp hành theo đúng quy định và theo yêu cầu của chủ thể kiểm tra hành chính. Trong trường hợp đối tượng bị kiểm tra hành chính không chấp hành hoặc vi phạm quy định của pháp luật, chủ thể kiểm tra hành chính có quyền áp dụng những biện pháp xử lý theo quy định.

    1.4. Mục đích của kiểm tra hành chính

    Mỗi một hoạt động được tiến hành đều phải hướng đến những mục đích cụ thể để xác định được tính hiệu quả của hoạt động đó. Nếu kiểm tra hành chính không có mục đích thì việc kiểm tra sẽ trở nên vô nghĩa gây tốn nhân lực thậm chí có thể dẫn tới hậu quả đi ngược lại với quy định của nhà nước. Và công tác kiểm tra hành chính hướng tới đạt được mục đích cụ thể là:

    – Để các hoạt động của cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được tiến hành phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và sự phân công giữa các đơn vị trong phạm vi cho phép của nhà nước

    – Để đảm bảo nhiệm vụ được giao và quy định có trách nhiệm áp dụng có đủ điều kiện thực hiện phù hợp với thực tế, với điều kiện phát triển của từng giai đoạn từ đó nâng cao công tác quản lý của nhà nước, đảm bảo hiệu suất công việc của từng đơn vị

    – Kiểm tra kết quả cuối cùng, đánh giá hiệu quả thực tế của các hoạt động theo kế hoạch đặt ra

    2. Quy định trong công tác kiểm tra hành chính

    2.1. Kiểm tra hành chính trong giao thông

    Kiểm tra hành chính khi lưu thông trên trên các tuyến đường bộ là một trong những trường hợp phổ biến nhất hiện nay. Lúc này, chủ thể kiểm tra hành chính là cán bộ cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động và thanh tra giao thông,… Đối tượng kiểm tra hành chính là các cá nhân lưu thông trên đường với các phương tiện là xe máy, xe ô tô con, xe tải, xe đạp điện,… Vậy trong những trường hợp nào thì chủ thể kiểm tra hành chính được phép dừng xe người tham gia giao thông đường bộ?

    Một trong những quyền hạn của cảnh sát giao thông và cơ quan có thẩm quyền giao thông là được yêu cầu người tham gia giao thông đường bộ dừng xe kiểm tra hành chính và xử lý vi phạm khi có sai phạm. Tuy nhiên việc dừng xe kiểm tra hiện nay phải thuộc các trường hợp cụ thể sau:

    – Phương tiện lưu thông hoặc người điều khiển phương tiện giao thông có hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ thông qua thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện hoặc phát hiện trực tiếp hay ghi thu được hình ảnh

    – Dừng xe kiểm tra người tham gia giao thông theo mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát các phương tiện, phương án tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm theo chuyên đề đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

    – Dừng phương tiện tham gia giao thông để kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo công tác giữ gìn an ninh, trật tự, phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác khi có chỉ thị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra

    – Nhận được tin báo, tố cáo, phản ánh về sai phạm của phương tiện tham gia giao thông hoặc người điều khiển phương tiện tham gia giao thông

    2.2. Kiểm tra hành chính cơ sở kinh doanh

    Trên thực tế các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng thường xuyên bị kiểm tra hành chính khi không đưa ra thông tin cụ thể về việc hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm nào, xuất xứ từ đầu, chất lượng có đạt tiêu chuẩn theo quy định hay không?

    Trong trường hợp cơ sở kinh doanh là nhà sản xuất các sản phẩm hàng hóa thì các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra kho bãi hàng hóa được quy định gồm:

    – Cơ quan quản lý thị trường

    – Cơ quan công an thuộc đơn vị cảnh sát môi trường, cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng,…

    Trong trường cơ sở kinh doanh dịch vụ, thẩm quyền kiểm tra thuộc về:

    – Cơ quan Công an tại địa bàn cơ sở kinh doanh hoạt động

    – Các đơn vị nghiệp vụ thuộc các cấp công an

    – Công an các Cấp theo chức năng, nhiệm vụ được giao

    3. Vai trò của công tác kiểm tra hành chính đối với đất nước

    Kiểm tra hành chính là một trong những hoạt động được tiến hành theo quy định và rất cần thiết áp dụng trong xã hội hiện nay. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đất nước ngày một phát triển nảy xay ra nhiều vấn đề, hệ lụy trong xã hội gây ảnh hưởng tới trật tự an ninh của nước nhà. Do đó để giám sát việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định mà pháp luật đề ra của người dân, các cơ quan quản lý nhà nước và người có thẩm quyền được giao phó trách nhiệm thực hiện kiểm tra hành chính những đối tượng trong quy định.

    Hoạt động kiểm tra hành chính được đóng vai trò quan trọng trong việc:

    – Góp phần phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và kịp thời xử lý những hành vi vi phạm pháp luật

    – Đảm bảo công tác quản lý xã hội được áp dụng theo đúng hiến pháp và pháp luật theo đúng quy định của nhà nước đồng thời hợp với mục tiêu phát triển của Đảng

    – Đảm bảo các chức năng trong quản lý hành chính Nhà nước được thi hành và áp dụng rộng rãi góp phần xây dựng một xã hội ổn định, phồn vinh

    – Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý hành chính nhà nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Tra Trong Quản Trị
  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Tra
  • Thực Trạng Và Kinh Nghiệm Thực Hiện Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Giữa Nhiệm Kỳ Đại Hội Lần Thứ Xv Của Đảng Bộ Tỉnh
  • Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Góp Phần Giữ Vững Kỷ Cương, Kỷ Luật Của Đảng
  • Tăng Cường Kiểm Tra, Giám Sát Của Đảng Trong Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Nhiều Mô Hình, Giải Pháp Thực Hiện Tốt Công Tác Dân Vận Ở Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Dân Vận Chính Quyền Năm 2022
  • Làm Tốt Công Tác Dân Vận Để Củng Cố Vững Chắc Niềm Tin Của Nhân Dân Với Đảng
  • Tăng Cường, Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Chính Quyền (*)
  • Giải Pháp Thực Hiện Tiêu Chí Thu Nhập
  • Khó Thực Hiện Tiêu Chí Số 18 Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • (Thanhuytphcm.vn) – Chiều 12/12, Đoàn công tác Ban Dân vận Thành ủy TPHCM do đồng chí Trương Quốc Lâm, Phó Trưởng Ban Dân vận Thành ủy làm trưởng đoàn kiểm tra công tác dân vận Cụm thi đua 1 gồm các quận: Quận 1, Quận 3, Quận 5, Quận 10, Quận 11, Quận Tân Bình. Tham dự có Phó Bí thư Thường trực Quận ủy Quận 1 Hoàng Thị Tố Nga.

    Thời gian qua, Ban Dân vận các quận đã thực hiện tốt vai trò tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội các cấp thực hiện khá tốt công tác nắm tình hình nhân dân, kịp thời tham mưu các giải pháp giải quyết những khó khăn, vướng mắc, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân; phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện Chỉ thị 19-CT/TU về cuộc vận động “Người dân Thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch, vì Thành phố sạch và giảm ngập nước”; có nhiều giải pháp thiết thực chăm lo đời sống nhân dân, nhất là các hộ nghèo, gia đình chính sách.

    Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Trưởng Ban Dân vận Thành ủy TPHCM Trương Quốc Lâm đề nghị Ban Dân vận các quận tập trung sự kiện Đại hội Đảng các cấp và các ngày kỷ niệm lớn trong năm 2022, nắm chắc tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên, nhân dân và vận động nhân dân góp ý, hiến kế, đồng thuận đối với các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp… trong các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng các cấp; tham mưu đẩy mạnh các hoạt động văn hoá và xây dựng nếp sống văn minh đô thị gắn với các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị thông minh”, Chỉ thị 19-CT/TU; Chỉ thị 23-CT/TU…; tham mưu các giải pháp phát huy hiệu quả hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội; giám sát công tác cải cách hành chính, đánh giá thực chất mức độ hài lòng của người dân đối với chính quyền; đề xuất giải quyết bức xúc chính đáng, nguyện vọng của nhân dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Hành Các Tiêu Chí Và Giải Pháp Thực Hiện Nếp Sống Văn Minh Đô Thị Trên Địa Bàn Tp Hòa Bình
  • Hiến Kế Giải Pháp Thực Hiện Nếp Sống Văn Minh Đô Thị
  • Hoàn Thiện Chính Sách Ưu Đãi Người Có Công
  • Thực Hiện Tốt Chính Sách Ưu Đãi Đối Với Người Có Công Và Gia Đình Người Có Công Là Lương Tâm, Tình Cảm Và Trách Nhiệm Của Toàn Xã Hội
  • Giải Pháp Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chính Sách, Pháp Luật Đối Với Người Có Công
  • Luận Văn: Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Hành Chính Văn Phòng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Tham Mưu Tổng Hợp Của Văn Phòng Ủy Ban Nhân Dân Cấp Tỉnh
  • Đổi Mới Sâu Sắc, Toàn Diện, Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Tham Mưu Trong Cand
  • Skkn Một Số Giải Pháp Tham Mưu Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Xây Dựng Csvc Trong Trường Mầm Non
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tham Mưu Cand Trong Tình Hình Mới
  • Hướng Dẫn Tổ Chức Ngày Hội Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Năm 2022
  • LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS.Nguyễn Thị Hoàng Đan. Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau đều đã được trích dẫn đầy đủ nguồn gốc. Nếu có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình. Hải phòng, ngày tháng năm 2022 LỜI CAM ĐOAN TRẦN HÙNG NAM

    4. ii LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hành chính văn phòng tại Công ty Cổ phần Vận tải biển Việt Nam (Vosco)” bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của các giảng viên Khoa Quản trị Kinh doanh Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy trong khóa học đã giúp tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn. Xin chân thành cảm ơn cô giáo TS.Nguyễn Thị Hoàng Đan đã hướng dẫn, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn. Những nhận xét, đánh giá của Cô, đặc biệt là những gợi ý về hướng giải quyết vấn đề trong suốt quá trình nguyên cứu, thực sự là những bài học vô cùng quý giá đối với tôi không chỉ trong quá trình viết luận án mà cả trong hoạt động nghiên cứu chuyên môn sau này. Xin chân thành cảm ơn đến các Anh/ Chị em đồng nghiệp trong Công ty Cổ Phần Vận tải biển Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi và lấy số liệu trong bài luận văn. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình những người thân yêu đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.

    MÃ TÀI LIỆU: 0004

    • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
    • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
    • THANH TOÁN QUA MOMO, VIETELPAY, CHUYỂN KHOẢN
    • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN
    • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

    • Đăng nhập MOMO
    • Quét mã QR
    • Nhập số tiền
    • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
    • Check mail (1-15p)

    • Đăng nhập Vietel Pay
    • Quét mã QR
    • Nhập số tiền
    • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
    • Check mail (1-15p)

    • Đăng nhập Internet Mobile
    • Chuyển tiền
    • Nhập số tiền
    • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
    • Check mail (1-15p)

    NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Van Thư Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Lưu Trữ
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Tại Trường Thpt Lê Hồng Phong
  • Đề Tài Công Tác Quản Trị Văn Phòng Với Việc Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Tỉnh Quảng Bình
  • Nâng Cao Chất Lượng Quản Trị Văn Phòng Thời Công Nghiệp 4.0
  • Văn Phòng Tỉnh Ủy Nâng Cao Vai Trò, Trách Nhiệm Tham Mưu Phục Vụ Lãnh Đạo Tỉnh Ủy
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100