Nêu Điều Kiện Hô Hấp Ở Thực Vật. Từ Đó Cho Biết Các Phương Pháp Bảo Quản Nông Sản?

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Bài Tập Phần Hô Hấp Ở Thực Vật ( Tiếp Theo)
  • Giải Bài Tập Sinh Học 11
  • Giáo Án Công Nghệ 10 Bài 9: Biện Pháp Cải Tạo Đất Xám Bạc Màu, Đất Xói Mòn Mạnh Trơ Sỏi Đá
  • Trắc Nghiệm Công Nghệ 10 Bài 10 (Có Đáp Án): Biện Pháp Cải Tạo Và Sử Dụng Đất Mặn, Đất Phèn
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Mot So Bien Phap Duy Tri Si So Hoc Sinh Vung Dan Toc Thieu So Doc
  • Bảo quản nông sản ở trạng thái thoáng Bảo quản nông sản thoáng là để khối nông sản tiếp xúc với môi trường không khí bên ngoài dễ dàng, nhằm điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ trong kho và khối nông sản một cách kịp thời thích ứng với môi trường bảo quản. Do đó giữ được thủy phần và nhiệt độ của khối nông sản ở trạng thái an toàn. Bảo quản thoáng đòi hỏi phải có hệ thống kho vừa thoáng, vừa kín và có hệ thống thông hơi thoáng gió hợp lý để phòng trường hợp khôi nông sản có thủy phần và nhiệt độ cao hơn so với không khí bên ngoài thì tiến hành thông gió tự nhiên hay dùng quạt gió để tận dụng không khí khô lạnh ở ngoài vào. Ngược lại khi nhiệt độ và độ ẩm ở ngoài không khí cao hơn trong kho thì phải đóng kín kho để ngăn ngừa không khí nóng và ẩm thâm nhập vào kho.

    Trong quá trình bảo quản thoáng, lợi dụng thiên nhiên để thông gió gọi là thông gió tiêu cực. Còn nếu cũng là chế độ bảo quản thoáng, song ta áp dụng thông gió nhờ máy móc gọi là thông gió tích cực.

    Thông gió tự nhiên Là phương pháp tương đối đơn giản, rẻ tiền, nhưng phải tính toán nắm đúng thời cơ thì thông gió mới có lợi. Muốn thông gió tự nhiên cần có 4 điều kiện sau:

    Thời tiết: Ngoài trời không có mưa, không có sương mù vì lúc đó là lúc độ ẩm cao sẽ có hại cho việc bảo quản.

    Nhiệt độ: Ngoài trời, xung quanh kho nhiệt độ không được cao quá 32°c và không thấp dưới 10°c vì nếu nhiệt độ cao quá, lúc mở cửa thông gió, khí nóng sẽ vào làm tăng nhiệt độ trong kho, hoặc nếu dưới 10°c thì lại mang hơi lạnh vào kho làm ngưng tụ hơi nước trong kho.

    Độ ẩm tuyệt đối: Ngoài trời xung quanh kho phải thấp hơn độ ẩm tuyệt đối trong kho. Nếu cao hơn thì khi mở cửa thông gió, độ ẩm tuyệt đối bên ngoài có thể luồn vào làm cho độ ẩm tương đối trong kho lên cao, hạt, nông sản dễ bị nhiễm ẩm.

    Điểm sương: Nhiệt độ điểm sương trong kho phải thấp hơn nhiệt độ ngoài kho. Vì trường hợp nhiệt độ không khí ngoài kho thấp hơn thiệt độ điểm sương trong kho, hơi nước sẽ ngưng tụ gây nên hậu quả không có lợi.

    Qua nhiều lần quan sát thực nghiệm nhận thấy rằng thông gió tự nhiên chỉ có thể tổ chức được trong trường hợp điểm sương của môi trường có nhiệt độ cao không vượt quá 1°c so với nhiệt độ không khí của môi trường có nhiệt độ thấp. Qua kinh nghiệm theo dõi nhiều kho cho thấy, khoảng 8 – 9 giờ sáng và 17 – 18 giờ chiều có thể mở cửa thông gió. Khi thời cơ thông gió đã có, phải biết cách mở cửa kho. Trước tiên mở cửa từ hướng gió thổi đến, tiếp đến mở cửa hai bên kho, sau cùng mới mở cửa cho không khí thoát ra. Cách mở như vậy không làm thay đổi đột ngột về nhiệt độ và độ ẩm trong kho.

    Thông gió tích cực Thông gió tích cực là cách xử lý lô hạt bằng lượng không khí cho đi qua theo độ dày của nó. Trong thực tế người ta dùng thông gió tích cực không phải riêng cho làm lạnh hạt mà người ta còn dùng nó như một chế độ riêng biệt để bảo quản hạt. Đây là một phương pháp hoàn thiện nhất, rẻ tiền nhất được áp dụng để bảo quản mà cả quá trình lại là cơ khí hoàn toàn.

    Phương pháp để thực hiện thông gió mục đích thay không khí giữa các hạt với không khí mới, lạnh hoặc khô và nóng. Cũng nhờ sự thông gió, hạt chưa chín có thể chín tiếp, giữ được độ bền vững của hạt (độ nảy mầm và năng lực nảy mầm).

    Giữa các hạt trong khối hạt có những khoảng trống và ở đó luồng không khí liên tục được tạo ra, trong môi trường này luôn có quá trình trao đổi khí, có quá trình hấp phụ và hấp thu từ hạt đến môi trường không khí và ngược lại. Giữa không khí xung quanh lô hạt với không khí trong lô hạt và không khí trong các ống mao quản của hạt thực hiện quá trình trao đổi cố định. Kết quả là sự xâm nhập của không khí vào chỗ trống của lô hạt luôn luôn thay đổi. Khi ta dùng không khí lạnh thì lô hạt có thể lạnh nhanh, khi ta dùng không khí khô thì lô hạt được sấy khô. Nói chung nhờ thông gió tích cực mà ta có thể sấy hoặc làm lạnh lô hạt để bảo quản một cách tốt nhất.

    Thông gió tích cực dẫn đến sự giảm nhiệt độ của lô hạt, độ ẩm của lô hạt cũng giảm và thay đổi lượng không khí trong khoảng trống giữa các hạt và giữ được tính chất giống của lô hạt.

    Dùng thông gió tích cực rất tinh tế và dễ dàng. Năng lượng cần thiết để dùng thì ít hơn so với sự hút bụi tích cực (cho không khí nhẹ qua lô hạt). Năng lượng ấy còn nhỏ hơn năng lượng cần để chuyển lô hạt qua luồng không khí bằng thủ công.

    Để thông gió tích cực cho khối hạt thì phải dùng đến những máy quạt có công suất lớn hoặc máy thổi không khí. Quạt có thể tiến hành quạt theo từng lớp từ trên xuống hoặc từ đáy lên nhờ những ống độn khắp lô hạt.

    Ưu điểm nổi bật của thông gió tích cực là những chỗ trống trong lô hạt liên tục được thông gió. Trong lô hạt luôn luôn có sự trao đổi khí và độ ẩm giữa hạt với môi trường xung quanh hạt và cuối cùng là không khí bên ngoài.Với độ ẩm của hạt 13 – 15% khi thông gió tích cực sẽ cho ta kết quả tốt: trong 1 ngày không khí trong lô hạt có thể thay đổi 800 lần, như vậy có nghĩa là với lô hạt đó ta phải quạt một lượng không khí là 800 lần lớn hơn thể tích của những khoảng trống của nó. Đối với những hạt quan trọng hơn thì cần thiết phải có 2.500 lần thay đổi không khí trong những khoảng trống trong 1 ngày.

    Độ trông rỗng của hạt có thể xác định bằng cách xác định tỷ trọng và trọng lượng riêng của nó.

    Thông gió có thể thực hiện bằng 2 cách: liên tục và không liên tục. Thông gió liên tục người ta thường sử dụng vào các mùa nóng như mùa hè và mùa thu, vào những gịờ buổi iổi và buổi sáng của ngày khi hơi lạnh, còn về mùa đông thì suốt cả ngày.

    Khi quạt không khí vào khối hạt cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:

    – Không khí phải được quạt đều trong toàn khối hạt tránh chỗ quạt nhiều, chỗ không quạt.

    – Cần đảm bảo đủ lượng không khí để thực hiện được mục đích giảm nhiệt độ và độ ẩm khối hạt.

    – Chỉ quạt khi độ ẩm tương đối không khí ngoài trời thấp nghĩa là sau khi quạt thì độ ẩm khối hạt giảm xuống.

    – Nhiệt độ không khí ngoài trời phải thấp hơn nhiệt độ của khối hạt.

    Phương pháp bảo quản kín Bảo quản kín là đình chỉ sự trao đổi không khí giữa nông sản với môi trường bên ngoài giữ cho khối nông sản luôn ở trạng thái an toàn. Bảo quản kín còn có nghĩa là bảo quản trong điều kiện thiếu oxy, mục đích là để hạn chế quá trình hô hấp của hạt’ đồng thời khống chế bớt sự phát sinh, phát triển phá hoại của vi sinh vật và côn trùng.

    Ví dụ: Các loại hạt giống với khối lượng ít ta có thể bảo quản bằng chum vại trát kín bằng xi măng, hoặc cho hạt giống vào chai lọ phủ tro bếp và gắn kín lại.

    Các trường hợp phổ biến, người ta còn cho hạt giống, nông sản vào trong túi polyetylen gắn kín, hoặc thùng sắt tây đậy kín, chúng tôi nhiều nghiên cứu thấy rằng bảo quản kín vẫn giữ được tính chất thực phẩm của hạt. Tuy nhiên trong quá trình hô hấp có thể sản sinh ra rượu êtylic, mà rượu này lại gây độc cho phôi hạt làm giảm độ nảy mầm của chúng. Vì vậy, tất cả các loại hạt lương thực đều có thể áp dụng phương pháp bảo quản kín, riêng các loại hạt giống cần thận trọng và phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật một cách chặt chẽ. Đối với những hạt dùng làm giống lâu năm, người ta không áp dụng phương pháp bảo quản này.

    Bảo quản ở trạng thái kín đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật sau đây:

    – Kho tàng, hoặc phương tiện chứa đựng nông sản phải kín hoàn toàn, không khí bên ngoài không thể xâm nhập được.

    – Thiết bị kho tàng phải đảm bảo chông nóng, chống ẩm tốt.

    – Phẩm chất ban đầu của hạt và nông sản phải đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng quy định, nhất là thủy phần phải dưới mức an toàn, độ tạp chất phải thấp hơn mức quy định, độ sạch và độ thuần phải dưới mức tối đa cho phép và tuyệt đối không có sâu mọt phá hoại.

    Ngoài các yêu cầu trên để ngăn ngừa oxy không khí từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào có 2 cách:

    – Để cho lượng CO2 tích tụ lại và O2 mất dần trong quá trình hô hấp của hạt. Bằng biện pháp này thường mất nhiều thời gian nên không đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hạt vì khi tích tụ đủ lượng CO2 nhất định thì cũng là lúc hạt đã giảm chất lượng một cách nghiêm trọng.

    Thông thường người ta cho CO2 vào khối hạt bằng cách dùng CO2 ở dạng băng rải đều thành từng lớp trên khối hạt. CO2 không những chỉ có tác dụng ngăn ngừa oxy thâm nhập vào mà còn tác dụng hạ nhiệt độ của khối hạt.

    Bảo quản nông sản thực phẩm trạng thái lạnh Nguyên tắc của phương pháp này là dùng nhiệt độ thấp làm tê liệt các hoạt động của vi sinh vật, côn trùng. Phương pháp này đòi hỏi phải hạ thấp nhiệt độ ở khối sản phẩm xuống một mức độ nhất định, càng thấp càng tốt Để thực hiện phương pháp này người ta dùng nhiều cách để làm lạnh hạt, song có hai cách phổ biến là làm lạnh tự nhiên và lạnh nhân tạo.

    Làm lạnh tự nhiên tức là lợi dụng nhiệt độ thấp của không khí trong môi trường bảo quản để hạ thấp nhiệt độ trong khối hạt thông qua phương pháp thông gió tích cực còn làm lạnh nhân tạo tức là sử dụng những phòng lạnh, kho lạnh hoặc những kho có điều hòa nhiệt độ để giữ ở nhiệt độ nhất định của khối hạt.

    Đối với rau quả tươi và thực phẩm, người ta bảo quản lạnh bằng 2 cách sau đây:

    Bảo quản bằng phương pháp ướp lạnh Đó ]à phương pháp giữ cho nhiệt độ của sản phẩm cao hơn nhiệt độ làm đông dịch tế bào của nó một ít, thường là từ 0°C đến 1ºC. Bảo quản bằng phương pháp này phẩm chất của thực phẩm vẫn giữ tốt vì dịch tế bào không bị đóng băng.

    Để bảo quản tốt bằng phương pháp này cần chú ý giảm độ ẩm của không khí.

    Bảo quản bằng phương pháp lạnh đông Đây là phương pháp giữ cho nhiệt độ của sản phẩm ở nhiệt độ từ -10°c đến -30°c hay thấp hơn nữa. ở điều kiện như vậy, tất cả các hoạt động của vi sinh vật bị tê liệt. Ngoài tác dụng trực tiếp trên thì nước ở trong sản phẩm bị đóng băng nên vi sinh vật không thực hiện được quá trình dị dưỡng. Thông thường muốn làm lạnh đông thực phẩm rau quả phải có môi trường làm lạnh. Môi trường làm lạnh có thể ở thể lỏng, thể rắn hoặc thể khí.

    – Môi trường làm lạnh lỏng như nước CaCl2, NaCl, Etylenglycol (HOCH2-CH2-OH), Propilenglycol (CH20 CH2OH-CH2) tùy theo sản phẩm mà sử dụng các chất tải lạnh khác nhau.

    – Môi trường tải lạnh rắn: Nước đá + muối + tuyết CO2 ở dạng khô.

    – Môi trường tải lạnh khí: Khí CO2 hoặc không khí đã làm lạnh.

    Rau quả thực phẩm sau khi thu hoạch về làm sạch, sau đó làm đông, thường là nhiệt độ 25 – 28°c. Sau khi đông kết rồi bảo quản ở nhiệt độ 15 – 18°c. Phương pháp bảo quản lạnh đông đùng để bảo quản các loại sản phẩm dùng cho công nghiệp chế biến rau đồ hộp và được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm làm thay đổi một số tính chất của sản phẩm. Khi làm tan băng thường bị chảy nước mà trong đó có nhiều chất bổ bị mất theo và vi sinh vật dễ xâm nhập.

    Bảo quản nông sản bằng phương pháp hóa học Từ lâu người ta đã dùng thuốc hóa học để bảo quản với những nồng độ nhất định, tùy theo từng loại thuốc, từng loại nông sản và trạng thái phẩm chất của nông sản. Thời gian ướp thuốc kéo dài từ khi nhập kho đến lúc sử dụng nông sản và thay đổi tùy theo mục đích và yêu cầu sử dụng của nông sản. Thuốc hóa học có tác dụng kìm hãm những hoạt động sống của khối nông sản và tiêu diệt mọi hoạt động của sâu mọt, vi sinh vật và các loại gặm nhấm khác.

    Đây là phương pháp có hiệu quả cao, ngày càng được sử dụng rộng rãi vói quy mô lớn. Khi sử dụng các loại thuốc hóa học để bảo quản phải đảm bảo yêu cầu triệt để bảo vệ sức khỏe cho con người và không ảnh hưởng đến chất lượng của nông sản phẩm.

    Các hóa chất thường dùng phổ biến đối với các loại hạt là cloropicrin, dicloroetan, bekaphot, …

    Đối với rau quả, ngành thương nghiệp thực phẩm thường dùng anhydric sunfuarơ, axit sorbic, axit oxalic, axit benzoic, v.v…

    Một số hóa chất chống nảy mầm sớm như M-1 (este metyl của a-naphtyl axetic); M-2 (estedimetyl của a- naphtyl axetic), MH (Hydrazit của axit maleic) được sử dụng rộng rãi trong công tác bảo quản khoai tây, cà rốt, hành và các loại củ.

    Các thuốc diệt trừ nấm như T.M.T.D, các loại thuốc chống vi khuẩn gây thối trong quá trình bảo quản rau quả tươi.

    Bảo quản trong khí quyển điều chỉnh Nhiều năm qua người ta đã áp dụng phương pháp bảo quản nông sản, nhất là rau quả trong khí quyển có điều chỉnh thành phần các chất khí, đồng thời giảm nhiệt độ kho bảo quản nhằm làm chậm các hoạt động sống của nông sản mà chủ yếu là quá trình hô hấp.

    Các hoạt động sống như trao đổi chất và hô hấp của nông sản chỉ có thể tiến hành khi có đủ một lượng oxy nhất định. Nếu lượng oxy giảm thì nông sản sẽ hô hấp yếm khí, các quá trình trao đổi chất sẽ chậm lại, thành phần hóa học sẽ bị biến đổi chậm hơn so với bình thường. Mặt khác trong điều kiện thiếu oxy, vi sinh vật hoạt động phá hoại kém hơn. Vì thế nếu thay đổi một phần oxy bằng một số khí trơ như nitơ, C02 thì các quá trình sinh hóa bị hạn chế, hoạt động của vi sinh vật bị ngừng trệ, song chỉ thay thế được 1 phần nếu thay thế hoàn toàn oxy của môi trường thì ảnh hưởng đến nông sản phẩm.

    Qua nhiều nghiên cứu, người ta đã rút ra kết luận về các giới hạn thay đổi thành phần không khí của khí quyển thích hợp như sau: O2: 2 – 5%; CO2: 3 – 5%. Tất nhiên phải có thiết bị đặc biệt để tạo ra thành phần khí nhất định của môi trường và điều khiển được liên tục. Chất khí hiện nay người ta thường dùng để bảo quản thực phẩm rau quả chủ yếu là CO2 và kết hợp với bảo quản lạnh.

    Để tạo ra khí CO2 với nồng độ cần thiết, người ta dùng tuyết CO2 hay khí CO2 nên cho vào cốc phòng bảo quản kín. Đối với rau quả ở nồng độ kín CO2 10 – 12% là tốt nhất, ở điều kiện nước ta, nồng độ này làm cho rau quả sẽ chín chậm đi khoảng 2 – 3 lần so với điều kiện bình thường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trắc Nghiệm Địa Lí 7 Bài 6
  • Giữ Nguồn Tài Nguyên Nước Ngọt Ở Huyện Côn Đảo
  • 5 Giải Pháp Về Bảo Đảm Nguồn Nước Sạch
  • Nêu Những Biện Pháp Bảo Vệ Nguồn Nước Và Không Khí Em Cảm Ơn Mọi Ng Câu Hỏi 140174
  • Nước Sạch Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Việc Bảo Vệ Nguồn Nước Sạch
  • Các Phương Pháp Bảo Quản Nông Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Đất Ph Là Gì? Biện Pháp Cải Tạo Đất Chua, Đất Kiềm
  • Biện Pháp Cải Tạo Đất Chua, Đất Kiềm Nhanh Và Hiệu Quả
  • Đất Chua Và Cách Cải Tạo Đất Chua
  • Độ Chua Của Đất Và Biện Pháp Cải Tạo
  • Đất Chua Là Gì? Cách Cải Tạo Độ Chua Của Đất
  • Bảo quản nông sản ở trạng thái thoáng

    Bảo quản nông sản thoáng là để khối nông sản tiếp xúc với môi trường không khí bên ngoài dễ dàng, nhằm điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ trong kho và khối nông sản một cách kịp thời thích ứng với môi trường bảo quản. Do đó giữ được thủy phần và nhiệt độ của khối nông sản ở trạng thái an toàn. Bảo quản thoáng đòi hỏi phải có hệ thống kho vừa thoáng, vừa kín và có hệ thống thông hơi thoáng gió hợp lý để phòng trường hợp khối nông sản có thủy phần và nhiệt độ cao hơn so với không khí bên ngoài thì tiến hành thông gió tự nhiên hay dùng quạt gió để tận dụng không khí khô lạnh ở ngoài vào. Ngược lại khi nhiệt độ và độ ẩm ở ngoài không khí cao hơn trong kho thì phải đóng kín kho để ngăn ngừa không khí nóng và ẩm thâm nhập vào kho.

    Trong quá trình bảo quản thoáng, lợi dụng thiên nhiên để thông gió gọi là thông gió tiêu cực. Còn nếu cũng là chế độ bảo quản thoáng, song ta áp dụng thông gió nhờ máy móc gọi là thông gió tích cực.

    Thông gió tự nhiên

    Là phương pháp tương đối đơn giản, rẻ tiền, nhưng phải tính toán nắm đúng thời cơ thì thông gió mới có lợi. Muốn thông gió tự nhiên cần có 4 điều kiện sau:

    Thời tiết: Ngoài trời không có mưa, không có sương mù vì lúc đó là lúc độ ẩm cao sẽ có hại cho việc bảo quản.

    Nhiệt độ: Ngoài trời, xung quanh kho nhiệt độ không được cao quá 32°C và không thấp dưới 10°c vì nếu nhiệt độ cao quá, lúc mở cửa thông gió, khí nóng sẽ vào làm tăng nhiệt độ trong kho, hoặc nếu dưới 10°c thì lại mang hơi lạnh vào kho làm ngưng tụ hơi nước trong kho.

    Độ ẩm tuyệt đối: Ngoài trời xung quanh kho phải thấp hơn độ ẩm tuyệt đối trong kho. Nếu cao hơn thì khi mở cửa thông gió, độ ẩm tuyệt đối bên ngoài có thể luồn vào làm cho độ ẩm tương đối trong kho lên cao, hạt, nông sản dễ bị nhiễm ẩm.

    Điểm sương: Nhiệt độ điểm sương trong kho phải thấp hơn nhiệt độ ngoài kho. Vì trường hợp nhiệt độ không khí ngoài kho thấp hơn thiệt độ điểm sương trong kho, hơi nước sẽ ngưng tụ gây nên hậu quả không có lợi.

    Qua nhiều lần quan sát thực nghiệm nhận thấy rằng thông gió tự nhiên chỉ có thể tổ chức được trong trường hợp điểm sương của môi trường có nhiệt độ cao không vượt quá 1°c so với nhiệt độ không khí của môi trường có nhiệt độ thấp. Qua kinh nghiệm theo dõi nhiều kho cho thấy, khoảng 8 – 9 giờ sáng và 17 – 18 giờ chiều có thể mở cửa thông gió. Khi thời cơ thông gió đã có, phải biết cách mở cửa kho. Trước tiên mở cửa từ hướng gió thổi đến, tiếp đến mở cửa hai bên kho, sau cùng mới mở cửa cho không khí thoát ra. Cách mở như vậy không làm thay đổi đột ngột về nhiệt độ và độ ẩm trong kho.

    Thông gió tích cực

    Thông gió tích cực là cách xử lý lô hạt bằng lượng không khí cho đi qua theo độ dày của nó. Trong thực tế người ta dùng thông gió tích cực không phải riêng cho làm lạnh hạt mà người ta còn dùng nó như một chế độ riêng biệt để bảo quản hạt. Đây là một phương pháp hoàn thiện nhất, rẻ tiền nhất được áp dụng để bảo quản mà cả quá trình lại là cơ khí hoàn toàn.

    Phương pháp để thực hiện thông gió mục đích thay không khí giữa các hạt với không khí mới, lạnh hoặc khô và nóng. Cũng nhờ sự thông gió, hạt chưa chín có thể chín tiếp, giữ được độ bền vững của hạt (độ nảy mầm và năng lực nảy mầm).

    Giữa các hạt trong khối hạt có những khoảng trống và ở đó luồng không khí liên tục được tạo ra, trong môi trường này luôn có quá trình trao đổi khí, có quá trình hấp phụ và hấp thu từ hạt đến môi trường không khí và ngược lại. Giữa không khí xung quanh lô hạt với không khí trong lô hạt và không khí trong các ống mao quản của hạt thực hiện quá trình trao đổi cố định. Kết quả là sự xâm nhập của không khí vào chỗ trống của lô hạt luôn luôn thay đổi. Khi ta dùng không khí lạnh thì lô hạt có thể lạnh nhanh, khi ta dùng không khí khô thì lô hạt được sấy khô. Nói chung nhờ thông gió tích cực mà ta có thể sấy hoặc làm lạnh lô hạt để bảo quản một cách tốt nhất.

    Thông gió tích cực dẫn đến sự giảm nhiệt độ của lô hạt, độ ẩm của lô hạt cũng giảm và thay đổi lượng không khí trong khoảng trống giữa các hạt và giữ được tính chất giống của lô hạt.

    Dùng thông gió tích cực rất tinh tế và dễ dàng. Năng lượng cần thiết để dùng thì ít hơn so với sự hút bụi tích cực (cho không khí nhẹ qua lô hạt). Năng lượng ấy còn nhỏ hơn năng lượng cần để chuyển lô hạt qua luồng không khí bằng thủ công.

    Để thông gió tích cực cho khối hạt thì phải dùng đến những máy quạt có công suất lớn hoặc máy thổi không khí. Quạt có thể tiến hành quạt theo từng lớp từ trên xuống hoặc từ đáy lên nhờ những ống độn khắp lô hạt.

    Với độ ẩm của hạt 13 – 15% khi thông gió tích cực sẽ cho ta kết quả tốt: trong 1 ngày không khí trong lô hạt có thể thay đổi 800 lần, như vậy có nghĩa là với lô hạt đó ta phải quạt một lượng không khí là 800 lần lớn hơn thể tích của những khoảng trống của nó. Đối với những hạt quan trọng hơn thì cần thiết phải có 2.500 lần thay đổi không khí trong những khoảng trống trong 1 ngày.

    Ưu điểm nổi bật của thông gió tích cực là những chỗ trống trong lô hạt liên tục được thông gió. Trong lô hạt luôn luôn có sự trao đổi khí và độ ẩm giữa hạt với môi trường xung quanh hạt và cuối cùng là không khí bên ngoài.

    Độ trống rỗng của hạt có thể xác định bằng cách xác định tỷ trọng và trọng lượng riêng của nó.

    Thông gió có thể thực hiện bằng 2 cách: liên tục và không liên tục. Thông gió liên tục người ta thường sử dụng vào các mùa nóng như mùa hè và mùa thu, vào những gịờ buổi iổi và buổi sáng của ngày khi hơi lạnh, còn về mùa đông thì suốt cả ngày.

    Khi quạt không khí vào khối hạt cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:

    – Không khí phải được quạt đều trong toàn khối hạt tránh chỗ quạt nhiều, chỗ không quạt.

    – Cần đảm bảo đủ lượng không khí để thực hiện được mục đích giảm nhiệt độ và độ ẩm khối hạt.

    – Chỉ quạt khi độ ẩm tương đối không khí ngoài trời thấp nghĩa là sau khi quạt thì độ ẩm khối hạt giảm xuống.

    – Nhiệt độ không khí ngoài trời phải thấp hơn nhiệt độ của khối hạt.

    Phương pháp bảo quản kín

    Bảo quản kín là đình chỉ sự trao đổi không khí giữa nông sản với môi trường bên ngoài giữ cho khối nông sản luôn ở trạng thái an toàn. Bảo quản kín còn có nghĩa là bảo quản trong điều kiện thiếu oxy, mục đích là để hạn chế quá trình hô hấp của hạt, đồng thời khống chế bớt sự phát sinh, phát triển phá hoại của vi sinh vật và côn trùng.

    Ví dụ: Các loại hạt giống với khối lượng ít ta có thể bảo quản bằng chum vại trát kín bằng xi măng, hoặc cho hạt giống vào chai lọ phủ tro bếp và gắn kín lại.

    Các trường hợp phổ biến, người ta còn cho hạt giống, nông sản vào trong túi polyetylen gắn kín, hoặc thùng sắt tây đậy kín, chúng tôi nhiều nghiên cứu thấy rằng bảo quản kín vẫn giữ được tính chất thực phẩm của hạt. Tuy nhiên trong quá trình hô hấp có thể sản sinh ra rượu êtylic, mà rượu này lại gây độc cho phôi hạt làm giảm độ nảy mầm của chúng. Vì vậy, tất cả các loại hạt lương thực đều có thể áp dụng phương pháp bảo quản kín, riêng các loại hạt giống cần thận trọng và phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật một cách chặt chẽ. Đối với những hạt dùng làm giống lâu năm, người ta không áp dụng phương pháp bảo quản này.

    Bảo quản ở trạng thái kín đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật sau đây:

    – Kho tàng, hoặc phương tiện chứa đựng nông sản phải kín hoàn toàn, không khí bên ngoài không thể xâm nhập được.

    – Thiết bị kho tàng phải đảm bảo chống nóng, chống ẩm tốt.

    – Phẩm chất ban đầu của hạt và nông sản phải đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng quy định, nhất là thủy phần phải dưới mức an toàn, độ tạp chất phải thấp hơn mức quy định, độ sạch và độ thuần phải dưới mức tối đa cho phép và tuyệt đối không có sâu mọt phá hoại.

    Ngoài các yêu cầu trên để ngăn ngừa oxy không khí từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào có 2 cách:

    – Để cho lượng CO2 tích tụ lại và O2 mất dần trong quá trình hô hấp của hạt. Bằng biện pháp này thường mất nhiều thời gian nên không đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hạt vì khi tích tụ đủ lượng CO2 nhất định thì cũng là lúc hạt đã giảm chất lượng một cách nghiêm trọng.

    Thông thường người ta cho CO2 vào khối hạt bằng cách dùng CO2 ở dạng băng rải đều thành từng lớp trên khối hạt. CO2 không những chỉ có tác dụng ngăn ngừa oxy thâm nhập vào mà còn tác dụng hạ nhiệt độ của khối hạt.

    Bảo quản nông sản thực phẩm trạng thái lạnh

    Nguyên tắc của phương pháp này là dùng nhiệt độ thấp làm tê liệt các hoạt động của vi sinh vật, côn trùng. Phương pháp này đòi hỏi phải hạ thấp nhiệt độ ở khối sản phẩm xuống một mức độ nhất định, càng thấp càng tốt Để thực hiện phương pháp này người ta dùng nhiều cách để làm lạnh hạt, song có hai cách phổ biến là làm lạnh tự nhiên và lạnh nhân tạo.

    Làm lạnh tự nhiên tức là lợi dụng nhiệt độ thấp của không khí trong môi trường bảo quản để hạ thấp nhiệt độ trong khối hạt thông qua phương pháp thông gió tích cực còn làm lạnh nhân tạo tức là sử dụng những phòng lạnh, kho lạnh hoặc những kho có điều hòa nhiệt độ để giữ ở nhiệt độ nhất định của khối hạt.

    Đối với rau quả tươi và thực phẩm, người ta bảo quản lạnh bằng 2 cách sau đây:

    Bảo quản bằng phương pháp ướp lạnh

    Đó là phương pháp giữ cho nhiệt độ của sản phẩm cao hơn nhiệt độ làm đông dịch tế bào của nó một ít, thường là từ 0°C đến 1ºC. Bảo quản bằng phương pháp này phẩm chất của thực phẩm vẫn giữ tốt vì dịch tế bào không bị đóng băng.

    Để bảo quản tốt bằng phương pháp này cần chú ý giảm độ ẩm của không khí.

    Bảo quản bằng phương pháp lạnh đông

    Đây là phương pháp giữ cho nhiệt độ của sản phẩm ở nhiệt độ từ -10°c đến -30°c hay thấp hơn nữa. Ở điều kiện như vậy, tất cả các hoạt động của vi sinh vật bị tê liệt. Ngoài tác dụng trực tiếp trên thì nước ở trong sản phẩm bị đóng băng nên vi sinh vật không thực hiện được quá trình dị dưỡng. Thông thường muốn làm lạnh đông thực phẩm rau quả phải có môi trường làm lạnh. Môi trường làm lạnh có thể ở thể lỏng, thể rắn hoặc thể khí.

    – Môi trường làm lạnh lỏng như nước CaCl2, NaCl, Etylenglycol (HOCH2-CH2-OH), Propilenglycol (CH20 CH2OH-CH2) tùy theo sản phẩm mà sử dụng các chất tải lạnh khác nhau.

    – Môi trường tải lạnh rắn: Nước đá + muối + tuyết CO2 ở dạng khô.

    – Môi trường tải lạnh khí: Khí CO2 hoặc không khí đã làm lạnh.

    Rau quả thực phẩm sau khi thu hoạch về làm sạch, sau đó làm đông, thường là nhiệt độ 25 – 28°c. Sau khi đông kết rồi bảo quản ở nhiệt độ 15 – 18°c. Phương pháp bảo quản lạnh đông dùng để bảo quản các loại sản phẩm dùng cho công nghiệp chế biến rau đồ hộp và được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm làm thay đổi một số tính chất của sản phẩm. Khi làm tan băng thường bị chảy nước mà trong đó có nhiều chất bổ bị mất theo và vi sinh vật dễ xâm nhập.

    Bảo quản nông sản bằng phương pháp hóa học

    Từ lâu người ta đã dùng thuốc hóa học để bảo quản với những nồng độ nhất định, tùy theo từng loại thuốc, từng loại nông sản và trạng thái phẩm chất của nông sản. Thời gian ướp thuốc kéo dài từ khi nhập kho đến lúc sử dụng nông sản và thay đổi tùy theo mục đích và yêu cầu sử dụng của nông sản. Thuốc hóa học có tác dụng kìm hãm những hoạt động sống của khối nông sản và tiêu diệt mọi hoạt động của sâu mọt, vi sinh vật và các loại gặm nhấm khác.

    Đây là phương pháp có hiệu quả cao, ngày càng được sử dụng rộng rãi vói quy mô lớn. Khi sử dụng các loại thuốc hóa học để bảo quản phải đảm bảo yêu cầu triệt để bảo vệ sức khỏe cho con người và không ảnh hưởng đến chất lượng của nông sản phẩm.

    Các hóa chất thường dùng phổ biến đối với các loại hạt là cloropicrin, dicloroetan, bekaphot, …

    Đối với rau quả, ngành thương nghiệp thực phẩm thường dùng anhydric sunfuarơ, axit sorbic, axit oxalic, axit benzoic, v.v…

    Một số hóa chất chống nảy mầm sớm như M-1 (este metyl của a-naphtyl axetic); M-2 (estedimetyl của a- naphtyl axetic), MH (Hydrazit của axit maleic) được sử dụng rộng rãi trong công tác bảo quản khoai tây, cà rốt, hành và các loại củ.

    Các thuốc diệt trừ nấm như T.M.T.D, các loại thuốc chống vi khuẩn gây thối trong quá trình bảo quản rau quả tươi.

    Bảo quản trong khí quyển điều chỉnh

    Nhiều năm qua người ta đã áp dụng phương pháp bảo quản nông sản, nhất là rau quả trong khí quyển có điều chỉnh thành phần các chất khí, đồng thời giảm nhiệt độ kho bảo quản nhằm làm chậm các hoạt động sống của nông sản mà chủ yếu là quá trình hô hấp.

    Các hoạt động sống như trao đổi chất và hô hấp của nông sản chỉ có thể tiến hành khi có đủ một lượng oxy nhất định. Nếu lượng oxy giảm thì nông sản sẽ hô hấp yếm khí, các quá trình trao đổi chất sẽ chậm lại, thành phần hóa học sẽ bị biến đổi chậm hơn so với bình thường. Mặt khác trong điều kiện thiếu oxy, vi sinh vật hoạt động phá hoại kém hơn. Vì thế nếu thay đổi một phần oxy bằng một số khí trơ như nitơ, CO2 thì các quá trình sinh hóa bị hạn chế, hoạt động của vi sinh vật bị ngừng trệ, song chỉ thay thế được 1 phần nếu thay thế hoàn toàn oxy của môi trường thì ảnh hưởng đến nông sản phẩm.

    Qua nhiều nghiên cứu, người ta đã rút ra kết luận về các giới hạn thay đổi thành phần không khí của khí quyển thích hợp như sau: O2: 2 – 5%; CO2: 3 – 5%. Tất nhiên phải có thiết bị đặc biệt để tạo ra thành phần khí nhất định của môi trường và điều khiển được liên tục. Chất khí hiện nay người ta thường dùng để bảo quản thực phẩm rau quả chủ yếu là CO2 và kết hợp với bảo quản lạnh.

    Để tạo ra khí CO2 với nồng độ cần thiết, người ta dùng tuyết CO2 hay khí CO2 nên cho vào cốc phòng bảo quản kín. Đối với rau quả ở nồng độ kín CO2 10 – 12% là tốt nhất, ở điều kiện nước ta, nồng độ này làm cho rau quả sẽ chín chậm đi khoảng 2 – 3 lần so với điều kiện bình thường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Bảo Quản Nông Sản Hiệu Quả
  • Có Những Biện Pháp Bảo Quản Nông Sản Sinh Học 11 Nào?
  • Nguyên Nhân Và Các Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nước Ở Việt Nam
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước Là Gì? Nguyên Nhân Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Hải Dương: Áp Dụng Các Biện Pháp Bảo Quản Nông Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Và Cách Thức Bảo Quản Nông Sản Một Cách Hiệu Quả
  • Bài 12. Ảnh Hưởng Của Các Nhân Tố Môi Trường Đến Hô Hấp
  • Bảo Quản Nông Sản Bằng Giải Pháp Điều Biến Khí
  • Đề Kiểm Tra Học Kì De Hkisinh 11 Doc
  • Bài 40: Mục Đích, Ý Nghĩa Của Công Tác Bảo Quản, Chế Biến Nông, Lâm, Thủy Sản
  • Đánh giá: 0 người đã đánh giá bài báo này.

    Người viết: , ngày 4/21/2011, trong mục ” TRỒNG TRỌT”

    Để nâng cao hiệu quả của cây rau, quả, một số nơi trong tỉnh Hải Dương, người dân đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm kéo dài thời gian thu hoạch, bảo quản, qua đó góp phần nâng cao giá trị sản xuất.

    Mỗi năm, tỉnh Hải Dương trồng khoảng 30 nghìn ha rau màu các loại, gồm: 23 nghìn ha ở vụ đông và 7 nghìn ha ở vụ xuân – hè. Nhờ lựa chọn các giống mới, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, biện pháp chăm sóc khoa học nên năng suất các loại rau màu đạt cao.

    Áp dụng biện pháp bảo quản hành sau thu hoạch đã giúp nông dân Kinh Môn tăng giá trị sản xuất

    Để nâng cao hiệu quả của cây rau, quả, một số nơi trong tỉnh, người dân đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm kéo dài thời gian thu hoạch, bảo quản, qua đó góp phần nâng cao giá trị sản xuất.

    Trong các loại nông sản của tỉnh Hải Dương, hành, tỏi chiếm tỷ lệ khá lớn, với khoảng 5.000 ha, sản lượng đạt 51 nghìn tấn, tập trung ở các huyện Kim Thành, Kinh Môn, Nam Sách… Sau khi thu hoạch, một phần sản phẩm được nông dân bán ngay tại ruộng, phần còn lại đưa về bảo quản trong gia đình, đợi được giá thì bán hoặc để làm giống cho vụ sau. Hành, tỏi khi trồng trên đồng ruộng thường bị nhiễm các bệnh thối nhũn, sương mai, khô đầu lá, trong đó phổ biến nhất là bệnh thối nhũn. Trong quá trình bảo quản sau thu hoạch lại bị nhiễm bệnh thối nhũn và thối khô, làm cho năng suất, hiệu quả của cây hành, tỏi giảm đáng kể. Có những gia đình mất từ 30 – 40% sản lượng.

    Trước khi trồng, chú ý đến việc phòng, trừ dịch, bệnh, phun thuốc BenlatC 0,2% vào đất, xử lý củ giống bằng thuốc Newkasuran BTN 0,3%, phun thuốc phòng bệnh khô đầu lá, sương mai bằng các loại thuốc Rhidomil 72MZ, Tilt super 300 EC, Boocdo 1%. Qua áp dụng mô hình này, người dân đã giảm được tác hại của bệnh thối nhũn hành, tỏi, góp phần tăng giá trị sản xuất thêm 5,3 triệu đồng/sào hành và 5,4 triệu đồng/sào tỏi so với mỗi sào trồng theo phương pháp truyền thống. Viện cũng hướng dẫn người dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật để bảo quản hành, tỏi chống các loại vi sinh vật gây bệnh thối nhũn còn tồn tại trên hành, tỏi sau thu hoạch. Hành, tỏi sau khi thu hoạch được túm gọn, mỗi túm từ 2 – 3 kg và phơi khô hết vỏ ngoài, lá hành, sau đó để lên giàn, phun các loại thuốc Balacide 53.8DF hoặc Kocide 32WP, phun thuốc bám đều trên bề mặt vỏ củ hành, tỏi, để khô thuốc và đưa vào bảo quản. Mỗi giàn treo cách nhau 50 cm và phun thuốc trừ muỗi, mối, côn trùng xung quanh kho bảo quản. Nhờ áp dụng các biện pháp xử lý hành, tỏi bằng thuốc sau thu hoạch đã giúp nông dân trồng hành, tỏi ở nhiều xã trên địa bàn huyện Kinh Môn, Kim Thành, Nam Sách thu lãi tăng tới 6,3 triệu đồng/tấn so với áp dụng phương pháp bảo quản truyền thống.

    Cà rốt cũng là cây chủ lực của nhiều nông dân trong tỉnh. Ông Lê Văn Ngấn, Chủ nhiệm HTX Dịch vụ nông nghiệp Đức Chính cho biết: Diện tích cà rốt của xã luôn duy trì hơn 300 ha/năm, năng suất trung bình đạt 1,5 tấn/sào. Tuy nhiên, diện tích cà rốt sớm và muộn chỉ khoảng 70 – 80 ha. Vì vậy mỗi khi vào vụ thu hoạch chính, lượng cà rốt ở đây rất nhiều và thường bị tư thương ép giá. Có những năm, giá cà rốt chỉ còn 1 – 2 nghìn đồng/kg, nhiều gia đình chán nản không muốn thu hoạch. Hiện nay, nông dân vẫn chưa có biện pháp kéo dài thời gian bảo quản của cà rốt sau thu hoạch. Tuy nhiên, trên địa bàn xã có 3 chủ thu mua đã đầu tư kho lạnh để bảo quản. Cơ sở bảo quản của anh Nguyễn Văn Trung, một chủ thu mua lớn trong xã rộng hơn 1.000 m2, được đầu tư 6 máy rửa cà rốt, hệ thống quạt làm khô và kho lạnh rộng trên 500 m3. Cà rốt được rửa sạch nhằm giảm bớt các vi khuẩn trên củ, đưa qua hệ thống quạt để làm khô và đóng vào túi ni-lông, sau đó cho vào kho lạnh giữ nhiệt độ từ -2 đến 2 độ C. Thời gian bảo quản được khoảng 3 tháng. Tổng vốn đầu tư hệ thống bảo quản khoảng 3,5 tỷ đồng. Nhờ có hệ thống bảo quản nên những lúc thị trường khan hiếm, anh Trung vẫn có cà rốt để bán với giá có khi gấp 7 – 8 lần so với lúc chính vụ.

    Theo Chi cục Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện nay việc bảo quản nông sản sau thu hoạch của nông dân trong tỉnh còn rất đơn giản. Các biện pháp kỹ thuật mới chỉ được áp dụng đối với hành, tỏi, cà rốt, vải, một số loại khác được sơ chế như dưa chuột muối, dọc mùng, dọc khoai môn, bí đỏ, khoai được sấy.

    PV

    Nguồn tin: Báo Hải Dương

    Chia sẻ bài báo này với bạn bè.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Bảo Quản Nông Sản
  • Bảo Quản Nông Sản Là Gì? Gồm Những Phương Pháp Nào?
  • Việc Bảo Quản Nông Sản Nhằm Mục Đích Gì Và Bằng Cách Nào?
  • Phương Pháp Thu Hoạch Và Bảo Quản Nông Sản
  • Bảo Quản Nông Sản Sau Thu Hoạch
  • Chế Độ Tiền Lương Tối Thiểu Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Lương Tối Thiểu Là Gì? Đặc Điểm Của Tiền Lương Tối Thiểu
  • Chức Năng Tuyến Tiền Liệt Là Gì?
  • Chức Năng Của Tuyến Tiền Liệt Và Các Bệnh Liên Quan
  • Tuyến Tiền Liệt Nằm Ở Đâu Và Có Chức Năng Gì?
  • Top 6 Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Và Hướng Dẫn Sử Dụng
  • Published on

    Luận văn “Chế độ tiền lương tối thiểu tại Việt Nam” sẽ đưa ra một cái nhìn sâu đối với vấn đề tiền lương tối thiểu hiện nay. Không chỉ phân biệt rõ sự khác biệt giữa tiền lương và tiền lương tối thiểu mà còn đưa ra cụ thể chi tiết các đặc điểm về tiền lương tối thiểu: cơ cấu hình thành tiền lương tối thiểu, mức độ quan trọng đối với việc phát triển kinh tế quốc gia.

    1. 2. Chương 1: Khái quát chung về tiền lương, tiền lương tối thiểu 1.1 Khái quát chung về tiền lương 1.1.1 Khái niệm, bản chất, vai trò và chức năng của tiền lương 1.1.1.1 Khái niệm và bản chất của tiền lương Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động, thông qua sự thỏa thuận giữa người có sức lao động và người thuê mướn, sử dụng sức lao động đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cung cầu. Tuy nhiên thực tế ở nước ta hiện nay, sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về tiền lương vẫn chỉ là tương đối. Tiền lương chưa phản ánh đúng bản chất là giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt và chịu sự tác động của các quy luật kinh tế. Chính thực trạng thị trường lao động của nước ta hiện nay cung lao động luôn lớn hơn cầu đã đẩy người lao động ở vào thế yếu hơn so với người sử dụng lao động và tiền lương phần lớn phụ thuộc vào quyết định của người sử dụng lao động. 1.1.1.2 Vai trò của tiền lương Tiền lương có một vai trò rất lớn không chỉ đối với riêng bản thân người lao động mà còn đối với cả nền kinh tế đất nước. Tiền lương không chỉ giúp người lao động tái sản xuất sức lao động đã bị tiêu hao trong quá trình lao động mà còn giúp người lao động nuôi sống gia đình họ, trang trải những chi phí phát sinh do gặp rủi ro trong cuộc sống cũng như góp phần nâng cao trình độ. Tiền lương còn là một trong những công cụ kinh tế để Nhà nước quản lý kinh tế, tài chính và bình ổn xã hội. 1.1.1.3 Chức năng của tiền lương – Chức năng là thước đo giá trị sức lao động: là thước đo để xác định mức tiền công các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm – Chức năng tái sản xuất sức lao động: tiền lương trả cho người lao động phải đủ bù đắp những hao phí sức lao động tính cả trước, trong và sau quá trình lao động 2
    2. 3. cũng như những biến động về giá cả trong sinh hoạt, những rủi ro hoặc các chi phí khác phục vụ cho việc nâng cao trình độ ngành nghề của người lao động. – Chức năng kích thích người lao động làm việc hiệu quả, tăng năng xuất lao 3 động – Chức năng tích lũy: Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro 1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương Thứ nhất, nguyên tắc trả lương trên cơ sở chất lượng, số lượng và hiệu quả lao động. Điều đó có nghĩa là những lao động có trình độ nghề nghiệp cao, thành thạo và chất lượng cao, làm việc nhiều thì được trả công cao và ngược lại. Những lao động ngang nhau phải trả công ngang nhau. Thứ hai, nguyên tắc trả lương phải căn cứ vào điều kiện lao động cụ thể vì điều kiện lao động cụ thể sẽ quyết định mức tiêu hao lao động trong quá trình lao động. Thứ ba, nguyên tắc trả lương phải trên cơ sở năng suất lao động Năng suất lao động là yếu tố quyết định sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế quốc dân và vì vậy là yếu tố quyết định quá trình tích lũy và tái sản xuất mở rộng. Chính vì vậy, mức độ tăng tiền lương không được tăng cao hơn năng suất lao động. Nếu việc trả công cao hơn năng suất lao động sẽ cản trở quá trình tích lũy và tái sản xuất. Ngược lại, coi trọng tích lũy sẽ ảnh hưởng tới đời sống của người lao động. 1.2 Khái quát chung về tiền lương tối thiểu 1.2.1 Khái niệm tiền lương tối thiểu Tiền lương tối thiểu được hiểu là mức trả công lao động thấp nhất trả cho người lao động tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện lao động bình thường nhằm đản bảo cuộc sống tối thiểu cho người lao động phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội. Như vậy chúng ta có thể thấy tiền lương tối thiểu có các dấu hiệu đặc trưng sau: – Tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, chưa qua đào tạo nghề.
    3. 4. – Tiền lương tối thiểu tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất, không đòi hỏi tiêu hao nhiều năng lượng thần kinh, cơ bắp. – Tiền lương tối thiểu được tính tương ứng với môi trường và điều kiện lao động bình thường, không có tác động xấu của các yếu tố điều kiện lao động. – Tiền lương tối thiểu được tính tương ứng với nhu cầu tiêu dùng ở mức độ 4 tối thiểu cần thiết. – Tiền lương tối thiểu phải tương ứng với mức giá tư liệu sinh hoạt chủ yếu cở vùng có mức giá trung bình. – Tiền lương tối thiểu phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Trong kết cấu tiền lương tối thiểu không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, phụ cấp làm việc ban đêm, phụ cấp trách nhiệm hay chức vụ, tiền ăn giữa ca và các khoản tiền lương khác ngoài tiền lương thông thường hàng tháng do Chính phủ quy định. Mức lương tối thiểu chung là căn cứ và nền thấp nhất để xây dựng các mức tiền lương tối thiểu vùng, ngành. 1.2.2 Ý nghĩa của tiền lương tối thiểu Thứ nhất: Đối với người lao động Tiền lương tối thiểu là sự đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với người lao động trong mọi ngành nghề, khu vực có tồn tại quan hệ lao động, bảo đảm đời sống tối thiểu cho họ phù hợp với khả năng của nền kinh tế. Mục tiêu của chính sách tiền lương tối thiểu là nhằm bảo vệ người lao động, bảo đảm cho người lao động tái sản xuất sức lao động. Chính sách tiền lương tối thiểu còn có ý nghĩa trong việc loại trừ khả năng bóc lột có thể xảy ra đối với người lao động trước sức ép của thị trường. Khi cung lao động vượt cầu lao động (thị trường lao động của Việt Nam luôn ở trong tình trạng này) nếu không có “lưới an toàn” là tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện thì người sử dụng lao động có thể lợi dụng, gây sức ép nhằm trả công theo ý muốn Thứ hai: Đối với nền kinh tế Lương tối thiểu là công cụ điều tiết của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và trong từng cơ sở kinh tế nhằm: – Bảo vệ sức mua cho các mức tiền lương trước sự gia tăng của lạm phát và các yếu tố kinh tế khác.
    4. 5. – Loại bỏ sự cạnh tranh không công bằng của thị trường lao động. – Phòng ngừa những cuộc xung đột trong các ngành. – Thiết lập mối quan hệ ràng buộc kinh tế trong lĩnh vực sử dụng lao động, tăng cường trách nhiệm của các bên trong quản lý và sử dụng lao động. – Tiền lương tối thiểu không chỉ có chức năng bảo vệ lợi ích của người lao động và còn đảm bảo lợi ích của người sử dụng lao động, có chức năng khuyến khích đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phân công lao động quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa Thứ ba: Tiền lương tối thiểu là sự đảm bảo có tính pháp lý của nhà nước đối với người lao động có tham gia quan hệ lao động trong mọi khu vực kinh tế. Nó là cơ sở để xây dựng hệ thống thang, bảng lương và còn là căn cứ để các bên thỏa thuận tiền lương phù hợp với điều kiện, khả năng, lợi ích của các bên trong quan hệ lao động. 1.2.3 Căn cứ xác định tiền lương tối thiểu – Hệ thống các nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Hệ thống nhu cầu tối thiểu này bao gồm các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội bao gồm: nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, y tế, sinh hoạt văn hóa, giao tiếp xã hội, nuôi con…. – Mức tiền lương chung của cả nước. Việc xác định tiền lương tối thiểu phải dựa trên căn cứ này để đảm bảo tiền lương tối thiểu không quá thấp hoặc không quá cao so với giá cả chung trong thị trường sức lao động đồng thời góp phần vừa bảo vệ người lao động vừa bảo vệ được người sử dụng lao động và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững. – Chi phí và sự biến động của giá cả sinh hoạt – Mối tương quan về điều kiện sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc đảm bảo công bằng trong việc trả công trong xã hội mà còn hạn chế sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư. Đồng thời sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư ở các vùng miền cũng là căn cứ để xác định mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho phù hợp. 5
    5. 6. – Các nhân tố kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức năng suất lao động. Căn cứ này thể hiện nguyên tắc điều chỉnh lương (trả lương theo nguyên tắc phân phối theo lao động và trên cơ sở năng suất lao động) – Sự đạt được và giữ vững về mức độ có việc làm trên phạm vi vùng và quốc 6 gia 1.2.4 Hệ thống tiền lương tối thiểu – Tiền lương tối thiếu quốc gia do nhà nước quy định và được áp dụng trên phạm vi toàn quốc với tất cả mọi người lao động, nó còn được gọi là “lưới an toàn” chung cho mọi người lao động. – Tiền lương tối thiểu theo khu vực kinh tế có sự phân biệt giữa tiền lương tối thiểu của khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế trong nước. – Tiền lương tối thiểu theo khu vực địa lý (vùng, địa phương) do có sự chênh lệch về giá cả sinh hoạt giữa các địa phương mà tiền lương tối thiểu giữa các địa phương có thể được quy định khác nhau. – Tiền lương tối thiểu của đơn vị sử dụng lao động, của ngành kinh tế được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của các bên và thông thường được ghi nhận trong thỏa ước tập thể. 1.2.5 Các mối quan hệ kinh tế – xã hội của tiền lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường 1.2.5.1 Tiền lương tối thiểu và tăng trưởng kinh tế Một chính sách tiền lương tối thiểu đúng đắn sẽ tạo động lực thúc đẩy tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện, tiền đề để tăng tiền lương tối thiểu phù hợp với nền kinh tế. Tăng tiền lương tối thiểu sẽ tác động kích thích tăng chi tiêu của dân cư, do vậy sẽ kích thích tăng tổng cầu về hàng hóa, dịch vụ, do đó sẽ có tác dụng khuyến khích phát triển sản xuất, tăng việc làm và tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Tuy nhiên, nếu tăng tiền lương tối thiểu mà làm giảm tỉ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp, giảm tính kích thích của tiền lương do việc thu hẹp khoảng cách tiền lương; hoặc là các ảnh hưởng về phân phối thu nhập… sẽ có tác động xấu đến tích lũy và đầu tư trong tương lai và do đó sẽ hạn chế tăng trưởng trong tương lai.
    6. 8. của dân cư chênh lệch nhau khá nhiều nên nhà nước cho phép các cơ quan lao động địa phương phối hợp với công đoàn và tham khảo đại diện người sử dụng lao động để đưa ra mức tiền lương tối thiểu để đề nghị Chính phủ cho phép địa phương ban hành, áp dụng. Bên cạnh quy định hình thức trả lương theo tháng, Trung Quốc còn áp dụng hình thức trả lương theo giờ, nhằm bảo vệ những người lao động làm việc bán thời gian. 1.3.2 Tiền lương tối thiểu ở Thái Lan Thái Lan không có luật riêng quy định về tiền lương tối thiểu mà từ năm 1973, Thái Lan ban hành các nguyên tắc tiền lương tối thiểu áp dụng cho người sử dụng lao động trong khu vực dịch vụ, thương mại và công nghiệp. Thái Lan áp dụng các mức lương tối thiểu khác nhau cho các khu vực và vùng khác nhau (25 vùng với 25 mức lương tối thiểu khác nhau). Căn cứ để xác định tiền lương tối thiểu giữa các vùng ở Thái Lan dựa trên cơ sở tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự chênh lệch về mức sống giữa các vùng. Ở Thái Lan, tiền lương tối thiểu không được áp dụng cho lao động nông nghiệp và cán bộ công chức, viên chức nhà nước. 1.3.3 Tiền lương tối thiểu ở Hàn Quốc Hàn Quốc có Luật riêng quy định về Tiền lương tối thiểu. Luật tiền lương tối thiểu của Hàn Quốc có 6 Chương với 31 Điều, trong đó quy định rõ phạm vi áp dụng; căn cứ xác định; cơ chế quyết định Lương tối thiểu; chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội đồng lương tối thiểu; trách nhiệm của Bộ Lao động và các điều khoản về hình phạt khi có vi phạm về tiền lương tối thiểu. Chế định Hội đồng lương tối thiểu là sự thể hiện tập trung nhất, thực chất nhất cơ chế 3 bên trong quan hệ lao động về tiền lương tối thiểu. Việc thành lập Hội đồng lương tối thiểu là rất quan trọng, nó đảm bảo cho việc xác định tiền lương tối thiểu được dân chủ, hợp lý, hài hòa giữa lợi ích của nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động. II. Chương 2: Chế độ tiền lương tối thiểu trong pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn áp dụng 2.1 Lược sử quá trình hình thành và phát triển chế độ tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 Ngày 12/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 29 và Sắc lệnh này được đánh giá như là “Bộ luật Lao động” đầu tiên của Việt Nam. Cùng với Sắc lệnh 8
    7. 9. 29, lần đầu tiên khái niệm tiền lương tối thiểu xuất hiện chính thức trong một văn bản luật ở nước ta. Điều thứ 58, Sắc lệnh số 29 nêu rõ: “Tiền công tối thiểu là số tiền do chính phủ ấn định theo giá sinh hoạt, để một công nhân không chuyên nghiệp sinh sống một mình, trong một ngày, ở một khu vực nhất định”. Tại Sắc lệnh 133/SL (7/1946) đã ấn định lương tối thiểu của công chức các ngạch (mỗi tháng 150 đồng – 15 kg gạo cho Hà Nội, Hải phòng và 130 đồng – 13 kg gạo cho các tỉnh khác. Đến tháng 2/1947, lương tối thiểu nâng lên 180 đồng và lương tối đa là 600 đồng (đã trừ 10% cho quỹ hưu bổng) cho công chức. Năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 188-SL ngày 29/5/1948 về việc lập một chế độ công chức mới và một thang lương chung cho các ngạch và các hạng công chức Việt Nam. Sắc lệnh này quy định các ngạch công chức với các bậc lương và các loại phụ cấp. Trong Sắc lệnh 188-SL không quy định rõ mức tiền lương tối thiểu làm cơ sở để tính toán các bậc lương. Tuy nhiên Điều 5 Sắc lệnh 188-SL quy định ” Nếu lương và các khoản phụ cấp kể trên của một công chức dưới 220 đồng một tháng thì công chức ấy được lĩnh 220 đồng”. Như vậy có thể hiểu mức 220 đồng/tháng là mức tiền lương tối thiểu đối với một công chức. Ngày 31 tháng 5 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Nghị định số 270-TTg quy định chế độ lương cho khu vực hành chính, sự nghiệp. Điều 3 của Nghị định quy định mức lương thấp nhất là 27.300 đồng một tháng. Chế độ tiền lương năm 1958 đã cải thiện một phần đời sống của công nhân, viên chức, cán bộ, góp phần khuyến khích mọi người ra sức đẩy mạnh sản xuất và công tác. Trong chế độ tiền lương năm 1960, Nhà nước chưa quy định tiền lương tối thiểu theo vùng, tuy nhiên thông qua chế độ phụ cấp khu vực đã thể hiện sự phân biệt giữa vùng này so với vùng khác qua các yếu tố sau: – Điều kiện khí hậu xấu; – Điều kiện sinh hoạt khó khăn, vật giá đắt đỏ có tính chất thường xuyên; 9 – Điều kiện công tác xa xôi, hẻo lánh. Căn cứ vào các yếu tố trên chia các địa phương thành 7 khu vực với 7 mức phụ cấp: 40%, 25%, 20%, 15%, 12%, 10%, 6% Những vùng khan hiếm lao động, tập trung những công trình quan trọng sẽ nghiên cứu đặt các khoản phụ cấp tạm thời nhằm khuyến khích người lao động đến
    8. 10. phụ vụ các công trình và giải quyết một phần khó khăn cho công nhân trong thời gian khi điều kiện sinh hoạt chưa ổn định. 2.1.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1985 Từ năm 1960 đến năm 1985 tuy Nhà nước không tiến hành cải cách tiền lương, không công bố mức lương tối thiểu nhưng thực tế đã nhiều lần tăng tiền lương danh nghĩa thông qua các hình thức trợ cấp tạm thời, hình thức tiền thưởng, khuyến khích lương sản phẩm, lương khoán… và điều chỉnh mức phụ cấp khu vực đối với các địa phương. Ngày 18/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 235/HĐBT về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và lực lượng vũ trang. Điều 2 Nghị định 235/HĐBT quy định: “Mức lương tối thiểu là 220 đồng một tháng. Mức lương này ứng với mức giá ở những vùng có giá sinh hoạt thấp nhất hiện nay. Khi nào mức giá thay đổi hoặc ở những vùng có giá sinh hoạt cao hơn thì tiền lương được tính thêm phụ cấp chênh lệch giá sinh hoạt. Lương tối thiểu dùng để trả công cho những người làm công việc lao động giản đơn nhất và với điều kiện lao động bình thường. Mức lương tối thiểu là cơ sở để định các mức lương cấp bậc hoặc chức vụ” 2.1.3. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1993 Từ năm 1987, giá cả sinh hoạt ngày càng tăng nhanh làm cho tiền lương thực tế giảm sút nhanh chóng, vì vậy đến tháng 9/1987, Hội đồng Bộ trưởng đã Quyết định điều chỉnh lại tiền lương (trong đó có mức lương tối thiểu) tăng lên 13,15 lần đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh (Quyết định số 147/HĐBT); 10,68 lần đối với công nhân, viên chức hành chính sự nghiệp, cán bộ xã, phường; 11,51% đối với lực lượng vũ trang. Đến tháng 4/1988 thống nhất áp dụng một hệ số 13,15 lần; các tháng tiếp theo áp dụng chế độ trợ cấp. Ngày 28/12/1988, Hội đồng Bộ trưởng có Quyết định số 202/HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức sản xuất, kinh doanh khu vực quốc doanh và công ty hợp doanh và Quyết định số 203/HĐBT về tiền lương công nhân, viên chức hành chính, sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng hưởng chính sách xã hội, nâng mức lương tối thiểu lên 22.500đồng/tháng. Như vậy, giai đoạn này, mặc dù Nhà nước đã tách khu vực sản xuất ra khỏi khu vực hành chính sự nghiệp, tuy nhiên mức tiền lương tối thiểu được quy định cho hai khu vực trên là như nhau. 10
    9. 11. hàng tháng trên lương cấp bậc đã tính lại theo hệ số 13,15. Ngày 23/5/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 25-CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang và Nghị định số 26-CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong doanh nghiệp. Cũng giống như năm 1988, Nhà nước đã ban hành một mức lương tối thiểu áp dụng cho cả hai khu vực doanh nghiệp và hành chính, sự nghiệp là 120.000đồng/ tháng. Sau khi Hiến pháp năm 1992 ra đời, nước ta thực hiện chủ trương muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, mở rộng giao lưu hợp tác trên hầu hết các lĩnh vực (kinh tế, văn hóa, xã hội….). Do vậy giai đoạn này đã có rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và rất nhiều các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Trước tình hình này, vừa là để bảo vệ người lao động trong nước, vừa là để khuyến khích đầu tư nước ngoài, tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 197/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động quy định: “Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư và đại diện của người sử dụng lao động trình Chính phủ công bố hoặc Chính phủ uỷ quyền cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công bố mức lương tối thiểu đối với người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong Khu chế xuất, Khu công nghiệp và các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam”. Ngày 03/5/1995, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội đã ban hành Thông tư số 11/BLĐTB-XH hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/CP nói trên, công bố mức TLTT “Mức lương tối thiểu hiện nay là 35 USD/tháng, áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng trên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; 30 USD/tháng áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng trên các tỉnh, thành phố, thị xã thị trấn còn lại hoặc các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động đơn giản thuộc các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản. Đối với các ngành, nghề đã được thoả thuận mức lương tối thiểu cao hơn thì tiếp tục thực hiện mức lương tối thiểu đó cho đến khi có quyết định mới”. 11
    10. 12. 2.1.4. Giai đoạn từ 4/1993 đến năm 2004 Sau 3 năm điều chỉnh tiền lương tối thiểu tính từ năm 1994, ngày 21/01/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/CP về việc giải quyết tiền lương và trợ cấp năm 1997 đối với công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp, người nghỉ hưu, nghỉ mất sức, lực lượng vũ trang; cán bộ xã, phường và một số đối tượng hưởng chính sách xã hội, nâng mức tiền lương tối thiểu từ 120.000đồng/tháng lên 144.000đồng/tháng. Tiếp đến, ngày 15/12/1999, Chính phủ tiếp tục điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước từ 144.000đồng/tháng lên 180.000đồng/tháng (Theo Nghị định số 175/1999/NĐ-CP). Đến 15/12/2000, mức tiền lương tối thiểu được điều chỉnh lên 210.000đồng/tháng, áp dụng cho cả khu vực doanh nghiệp và hành chính, sự nghiệp (Nghị định số 77/2000/NĐ-CP). Và mức tiền lương tối thiểu 210.000đồng/tháng được duy trì cho đến năm 2004. 2.1.4. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay Từ năm 2004 đến nay, Chính phủ đã 5 lần điều chỉnh tiền lương. Năm 2004 mức tiền lương tối thiểu là 290.000đ/tháng. Tiền lương tối thiểu chung từ 01/10/2005 là 350.000đồng/tháng (Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005), 01/10/2006 là 450.000đồng/tháng (Nghị định số 94/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006), 01/01/2008 là 540.000đồng/tháng (Nghị định số 166/NĐ-CP ngày 16/11/2007), 01/05/2009 là 650.000đồng/tháng (Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009), 01/5/2010 là 730.000đồng/tháng (Nghị định số 28/2010/NĐ-CP ngày 25/3/2010). Mức tiền lương tối thiểu theo vùng chính thức được pháp luật quy định từ năm 1995, tuy nhiên chỉ áp dụng đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan nước ngoài và tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Chỉ đến năm 2007, mức tiền lương tối thiểu theo vùng mới được áp dụng cho cả các doanh nghiệp trong nước. Mức tiền lương tối thiểu theo vùng áp dụng cho người lao động làm việc trong công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động năm 2007 là từ 540.000đồng/tháng đến 620.000đồng/tháng (quy định cho 3 vùng, theo Nghị định 167/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007), năm 2008 là từ 650.000đồng/ tháng đến 800.000đồng/ tháng (quy định cho 4 vùng , theo Nghị định số 12
    11. 13. 110/2008/NĐ-CP ngày 10/10/2008), năm 2009 là từ 730.000đồng/tháng đến 980.000đồng/tháng (quy định cho 4 vùng, theo Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009). Trong khi đó, mức tiền lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam năm 2007 là từ 800.000đồng/tháng đến 1.000.000đồng/tháng (áp dụng cho 3 vùng-theo Nghị định số 168/2007/NĐ-CP ngày 16/11/2007), năm 2008 là từ 920.000đồng/tháng đến 1.200.000đồng/tháng (áp dụng cho 4 vùng – theo Nghị định số 111/2008/NĐ-CP ngày 30/10/2008), năm 2009 là từ 1.000.000đồng/tháng đến 1.340.000đồng/tháng (áp dụng cho 4 vùng, theo Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009). 2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tiền lương tối thiểu 2.2.1 Tiền lương tối thiểu chung Mức tiền lương tối thiểu chung hiện nay được quy định trong Nghị định số 28/2010/NĐ-CP ngày 25/3/2010 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung. Theo đó, mức tiền lương tối thiểu chung 730.000đồng/tháng bắt đầu được thực hiện từ 01/5/2010. 2.2.2 Tiền lương tối thiểu vùng Tiền lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt nam có thuê mướn lao động (gọi chung là doanh nghiệp trong nước) hiện nay được quy định trong Nghị định số Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ. Mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (gọi chung là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) được quy định cụ thể trong Nghị định số Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009. 2.2.3 Xử lý vi phạm pháp luật về chế độ tiền lương tối thiểu Nhằm bảo đảm cho việc thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về tiền lương tối thiểu, bảo đảm mức sống tối thiểu cho người lao động, bảo vệ người lao động khỏi sự bóc lột sức lao động của người sử dụng lao động, Nhà nước không chỉ quy định mức tiền lương tối thiểu áp dụng trong từng thời kỳ buộc người sử dụng 13
    12. 14. lao động phải thực hiện mà Nhà nước còn có các chế tài áp dụng đối với những hành vi vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu. Khoản 4, Điều 12 Nghị định 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động quy định về xử phạt vi phạm hành chính về tiền lương tối thiểu. 2.3 Thực tiễn áp dụng chế độ tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 2.3.1 Tình hình thực hiện chế độ tiền lương tối thiểu chung 2.3.1.1 Kết quả đạt được Nếu tính từ thời điểm cải cách tiền lương năm 1993 đến nay, mức tiền lương tối thiểu đã tăng từ 120.000đồng/ tháng lên 730.000đồng/ tháng về cơ bản đã góp phần cải thiện đời sống cho người lao động. Những năm gần đây, mức tiền lương tối thiểu được điều chỉnh thường xuyên (gần như mỗi năm 1 lần), điều đó thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến việc đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động cho phù hợp với từng thời kỳ. Cơ chế áp dụng mức tiền lương tối thiểu chung hiện nay rất linh hoạt, phù hợp với tính chất và điều kiện của từng khu vực, từng loại hình doanh nghiệp. Với việc xác định tiền lương tối thiểu dựa trên các cơ sở khoa học, điều tra thực tiễn cùng với việc thống nhất với đại diện người lao động (Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) và đại diện người sử dụng lao động (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), mức tiền lương tối thiểu được ấn định hiện nay là khá phù hợp với tăng trưởng kinh tế của đất nước và khả năng chi trả của doanh nghiệp. Do vậy, trong quá trình thực hiện, nhìn chung hầu hết các doanh nghiệp đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tiền lương tối thiểu chung. Trên thực tế, đa số các doanh nghiệp áp dụng mức lương tối thiểu cao hơn mức do nhà nước quy định. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng mức tiền lương thực tế cho người lao động. 2.3.1.2 Những vấn đề đặt ra Tuy nhiên, cho đến nay mặc dù lương tối thiểu chung đã nâng lên đến 730.000đồng/tháng, song, do giá cả hàng hóa tăng nhanh nên chỉ số tiền lương tối thiểu thực tế vẫn giảm. Mức lương tối thiểu chung quy định còn thấp, chưa bảo đảm mức sống tối thiểu của người làm công ăn lương. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định thấp hơn so với nhu cầu sống tối thiểu của người lao động khoảng 30% và bằng khoảng 80% so với mức 14
    13. 15. tiền công thực trả thấp nhất trên thị trường lao động. Mặt khác, mức lương tối thiểu chung chỉ phù hợp với vùng có giá cả sinh hoạt, mức sống thấp nhất, những vùng có mức giá sinh hoạt cao thì chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của người lao động. Mặc dù mức tiền lương tối thiểu chung được quy định hiện nay là khá thấp nhưng một số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn chưa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tiền lương tối thiểu chung. 2.3.2 Tình hình thực hiện tiền lương tối thiểu vùng 2.3.2.1 Kết quả đạt được Các mức lương tối thiểu vùng hiện nay được xác định trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt, khả năng chi trả của doanh nghiệp theo từng vùng, bảo đảm sức mua của các mức tiền lương tối thiểu tại các vùng với các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và biến động giá cả khác nhau, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng lao động giữa các vùng và khuyến khích thu hút đầu tư vào các vùng kém phát triển, vào khu vực nông thôn. Việc áp dụng mức lương tối thiểu theo 4 vùng như quy định hai Nghị định trên tại thời điểm ban hành Nghị định là khá hợp lý với chỉ số giá sinh hoạt và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các vùng. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh, cơ sở hạ tầng được cải thiện và phát triển, GDP tăng trưởng ở mức cao, nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế được hình thành, thị trường lao động phát triển dẫn đến việc áp dụng mức tiền lương tối thiểu theo vùng như quy định hiện hành không còn phù hợp. Ví dụ: Các địa bàn có tốc độ phát triển nhanh như thành phố Vĩnh Yên, Thái Nguyên, Việt Trì, Hải Dương… (hiện áp dụng mức lương tối thiểu Vùng III, 810.000đ/tháng) cần phải nghiên cứu để áp dụng mức lương tối thiểu Vùng II. 2.3.2.2 Những vấn đề đặt ra Tiền lương tối thiểu áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là khác nhau dẫn đến sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp. Điều này không phù hợp với nguyên tắc đối xử bình đẳng khi hội nhập kinh tế quốc tế. 2.3.3 Tình hình thực hiện tiền lương tối thiểu ngành Trên thực tế, việc quy định áp dụng tiền lương tối thiểu ngành chưa được thể chế hoá tại bất kỳ một văn bản dưới luật nào. Hay nói cách khác, ở nước ta chưa chính thức áp dụng tiền lương tối thiểu ngành. Tuy nhiên, mặc dù chưa được thể 15
    14. 16. chế hoá nhưng các doanh nghiệp đã hình thành mức lương tối thiểu phân biệt theo ngành tùy thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng chi trả của các đơn vị của từng ngành. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 3.1 Một số nhận xét chung về tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 3.1.1 Ưu điểm Mức lương tối thiểu chung được quy định từ năm 1993 và trong các năm tiếp theo cho đến nay đã điều chỉnh tăng dần cùng với việc quy định các mức lương tối thiểu theo vùng cho thấy: Thứ nhất, tiền lương tối thiểu bảo đảm tái sản xuất sức lao động giản đơn và một phần để tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng cho những người lao động làm công ăn lương, phù hợp với khả năng của nền kinh tế, khả năng chi trả của người sử dụng lao động và bảo đảm quan hệ hợp lý với mặt bằng tiền công trên thị trường và mức sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Thứ hai, tiền lương tối thiểu bảo vệ những người lao động không có trình độ tay nghề hoặc những người lao động trong các ngành, nghề có cung – cầu lao động bất lợi trong thị trường hưởng mức tiền lương thấp nhất. Các mức tiền lương tối thiểu do Nhà nuớc qui định có tác động ổn định mức sống cho người lao động ở mức tối thiểu, là một trong các biện pháp bảo vệ người lao động thoát khỏi sự nghèo đói Thứ ba, tiền lương tối thiểu căn cứ để trả công lao động, mức tiền lương tối thiểu được coi là mức sàn thấp nhất để người sử dụng lao động không được trả công thấp hơn mức đó; dùng làm căn cứ tính các mức lương khác của hệ thống thang, bảng lương và phụ cấp lương trong khu vực nhà nước. Thứ tư, tiền lương tối thiểu thiết lập mối quan hệ về kinh tế giữa người sử dụng lao động và người lao động trong từng ngành, từng vùng; duy trì và nâng cao sức cạnh tranh của lao động, hạn chế và ngăn ngừa các tranh chấp lao động. Tăng khả năng hội nhập của lao động Việt Nam vào thị trường lao động của khu vực và quốc tế, là yếu tố để thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường lao động. Chính sách tiền lương tối thiểu đi vào cuộc sống đã phát huy vai trò của nó trong cải thiện đời sống người lao động và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt 16
    15. 17. động theo đúng nguyên tắc thị trường. Tiền lương tối thiểu được điều chỉnh tăng dần (trên 20% mỗi lần điều chỉnh) đã từng bước thực hiện tiền tệ hóa tiền lương, thay đổi cơ cấu nhu cầu của mức sống tối thiểu theo hướng được cải thiện hơn, do đó, làm cho mức sống của người lao động làm công ăn lương được nâng lên phù hợp với mức sống chung ngày được cải thiện của toàn xã hội. Quá trình thực hiện, tiền lương tối thiểu đã thực sự tham gia vào điều tiết quan hệ cung-cầu lao động trên thị trường; làm cho thị trường lao động phát triển sôi động trên cơ sở chính sách tiền lương linh hoạt hơn. Thông qua việc quy định tiền lương tối thiểu, tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh dần trả đúng giá trị lao động, phụ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh. 3.1.2 Hạn chế Việc xác định và điều chỉnh mức lương tối thiểu và cơ chế áp dụng mức lương tối thiểu chưa được pháp luật quy định cụ thể, dẫn đến trong quá trình thực hiện còn thiếu nhất quán, thiếu căn cứ khoa học và có tính áp đặt, chưa sát với tình hình thực tế và yêu cầu khách quan của cuộc sống. Việc xác định mức lương tối thiểu chung vẫn bị phụ thuộc bởi ngân sách Nhà nước, chưa gắn với nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và sát với mức tiền công trên thị trường để đảm bảo tiền lương tối thiểu đủ sống. Một thực tế cho thấy, mặc dù trong những năm gần đây, việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu đã được thực hiện thường xuyên, tuy nhiên, mức tiền lương tối thiểu do nhà nước quy định không đáp ứng được cuộc sống tối thiểu cho người lao động. Chính sách tiền lương tối thiểu thấp đã gây ra những hệ quả tiêu cực, làm cho người hưởng lương không sống được bằng tiền lương và thu nhập ngoài lương chiếm tỷ lệ cao, lại không được kiểm soát, làm cho chính sách tiền lương bị bóp méo. Chính sách tiền lương tối thiểu bị ràng buộc bởi nhiều quan hệ kinh tế, quan hệ lao động, quan hệ xã hội (chính sách BHXH, chế độ đóng BHXH trong các doanh nghiệp, trợ cấp thôi việc, bồi thường tai nạn lao động, …). Đây là những mắt xích, những nút trói buộc chính sách tiền lương làm cho nó khó thoát ra khỏi cơ chế hành chính, bao cấp để đi vào đời sống xã hội. Tiền lương tối thiểu khu vực hành chính Nhà nước gắn liền với tiền lương tối thiểu chung là một sự bất hợp lý trong quan hệ tiền lương, làm cho tiền lương khu vực này luôn thấp hơn khu vực thị trường, và do đó dẫn đến dòng di chuyển lao 17
    16. 18. động từ khu vực Nhà nước sang khu vực có tiền lương cao hơn, đồng thời là một trong những nguyên nhân gây tiêu cực, tham nhũng. Mặt khác, khu vực dịch vụ công (nhất là sự nghiệp công) với cơ chế tiền lương tối thiểu hiện hành chưa thúc đẩy mạnh lao động khu vực này tham gia thị trường lao động và trở thành lực cản mạnh nhất trong cải cách hành chính ở nước ta hiện nay. Tồn tại rất nhiều cơ chế tiền lương tối thiểu cho các khu vực sản xuất kinh doanh (cơ chế tiền lương tối thiểu doanh nghiệp ngoài Nhà nước, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) dẫn đến phân biệt đối xử về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp và tạo thành sân chơi không bình đẳng trong cạnh tranh trên thị trường đối với các loại hình doanh nghiệp. Việc quy định căn cứ để điều chỉnh lương tối thiểu còn chưa đầy đủ. Ngoài yếu tố lạm phát của tiền tệ thì việc tăng mức lương tối thiểu cũng cần được xem xét điều chỉnh khi năng suất lao động trung bình của xã hội tăng lên và theo sự tăng trưởng của nền kinh tế. Song, các quy định của pháp lụât và thực tế điều chỉnh tiền lương tối thiểu trong hơn chục năm qua chưa xác định yếu tố này. Như vậy, pháp luật chưa có sự đảm bảo để người hưởng lương tối thiểu nói riêng và người lao động nói chung được tham gia đầy đủ vào sự phồn vinh của nền kinh tế. 3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của tiền lương tối thiểu 3.2.1 Quan điểm về pháp luật tiền lương tối thiểu trong nền kinh tế thị trường Pháp luật về tiền lương tối thiểu hiện nay đang thể hiện nhiều bất cập, chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường. Nước ta chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO từ năm 2006. Khi gia nhập WTO, tiền lương là một trong những yếu tố chính để xem xét việc xác định tính chất thị trường. Điều đó có nghĩa là khi gia nhập WTO, Việt Nam phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế. Tiền lương vì thế phải theo định hướng thị trường, được hình thành trên cơ sở mức sống, quan hệ cung cầu lao động và thỏa ước lao động tập thể. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay lại tồn tại các mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho 2 loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này là sự phân biệt đối xử, không công bằng giữa các doanh nghiệp. Vì vậy pháp luật về tiền lương tối thiểu cần phải có sự thay đổi để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giữa những người sử dụng 18
    17. 19. lao động trên cùng một địa phương, vùng lãnh thổ, phải thống nhất mức lương tối thiểu giữa các loại hình doanh nghiệp trên cùng một địa bàn, vùng lãnh thổ. 3.2.1.1 Định hướng xây dựng pháp luật tiền lương tối thiểu chung Tiền lương tối thiểu do pháp luật quy định trong từng thời kỳ phải là mức sàn thấp nhất được áp dụng thống nhất đối với các quan hệ lao động làm công ăn lương trong xã hội. Mức tiền lương tối thiểu chung phải được xác định dựa trên năng suất lao động xã hội, nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và mức tiền công thấp nhất trên thị trường lao động. Mức tiền lương tối thiểu phải được điều chỉnh định kỳ hàng năm theo chỉ số giá sinh hoạt. 3.2.1.2 Định hướng xây dựng pháp luật tiền lương tối thiểu vùng Mức lương tối thiểu vùng phải được áp dụng thống nhất cho tất cả các loại hình doanh nghiệp theo từng vùng, đảm bảo sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, góp phần tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, phát triển thị trường lao động. Mức lương tối thiểu vùng có thể do Chính phủ quy định trên cơ sở đề xuất của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (đã được sự thống nhất của ba bên: Đại diện của Nhà nước, đại diện của người lao động và đại diện của người lao động cấp Tỉnh) hoặc Chính phủ có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định để đảm bảo mức tiền lương tối thiểu vùng được quy định là sát với tình hình thực tế của từng địa phương. 3.2.1.3 Định hướng xây dựng pháp luật tiền lương tối thiểu ngành Mức lương tối thiểu ngành hình thành dựa trên cơ sở mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng và năng suất lao động, khả năng chi trả của doanh nghiệp và quan hệ cung cầu lao động của từng ngành và do đại diện người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, quy định trong thỏa ước lao động ngành. 3.2.2 Cơ chế ba bên trong việc thực hiện tiền lương tối thiểu Ở Việt Nam, trong lĩnh vực tiền lương, Điều 56 Bộ Luật lao động cũng quy định “Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động”. Tuy nhiên, có thể nói sự tham gia của người lao động và người sử dụng lao động trong việc quyết sách các vấn đề về lao động chỉ mang tính hình thức. Vì vậy trong thời gian tới đề nghị cần phải có sự hoàn thiện của pháp luật về cơ chế ba bên trong quan hệ lao 19
    18. 20. động nói chung và trong việc quy định và thực hiện tiền lương tối thiểu nói riêng. Để mức tiền lương tối thiểu được công bố trong từng thời kỳ đảm bảo được chức năng và vai trò của nó là đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, khả năng chi trả của doanh nghiệp, góp phần bảo vệ người lao động, phát triển thị trường lao động, phát triển kinh tế thì cần phải thành lập một tổ chức với sự tham gia của ba bên là cơ quan tham mưu, tư vấn cho nhà nước về tiền lương nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng. 3.2.3 Xây dựng Luật Tiền tương tối thiểu 3.2.3.1 Sự cần thiết xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Tiền lương tối thiểu là hết sức cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động; tiếp tục thực hiện đề án cải cách chính sách tiền lương; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của thị trường lao động Việt Nam, cụ thể như sau: Thứ nhất: Xây dựng và ban hành Luật Tiền lương tối thiểu nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động theo kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thứ hai: Xây dựng và ban hành Luật Tiền lương tối thiểu nhằm đáp ứng yêu 20 cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ ba: Xây dựng và ban hành Luật Tiền lương tối thiểu là phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thứ tư: Xây dựng Luật tiền lương tối thiểu bảo đảm tính mềm dẻo, linh hoạt của chính sách tiền lương phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, làm cơ sở xây dựng tốt mối quan hệ hợp tác ba bên và quan hệ lao động lành mạnh, ngăn ngừa, hạn chế tranh chấp lao động và đình công, đồng thời có chia sẻ lợi ích đối với người lao động khi có tăng trưởng kinh tế. Từ những căn cứ nêu trên, Việt Nam cần có một hệ thống pháp lý và thể chế về lương tối thiểu thông qua việc xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu để đáp ứng các yêu cầu mới của đất nước trong bối cảnh hội nhập chung, bảo đảm sự phù hợp phát triển của thị trường lao động với mục tiêu và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, thể chế hoá mức sống tối thiểu cho người lao động, bảo đảm cho người lao động không có trình độ tay nghề được chia sẻ các thành quả của sự phát triển, phấn đấu công
    19. 21. bằng xã hội, cải thiện quan hệ phân phối có lợi cho người nghèo, người có thu nhập thấp và từ đó làm cho luật pháp Việt Nam phù hợp với các quy định chung của quốc tế, đặc biệt là việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động trong các công ước, khuyến nghị của ILO về tiền lương tối thiểu. 3.2.2.2 Một số suy nghĩ bước đầu trong việc xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu ở Việt Nam 21 – Phạm vi điều chỉnh: phạm vi điều chỉnh của Luật Tiền lương tối thiểu là toàn bộ các doanh nghiệp, các cá nhân, tổ chức có thuê mướn lao động và một phần đối với khu vực hành chính, sự nghiệp – nơi thực hiện theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ Luật lao động – Đối tượng điều chỉnh: đối tượng áp dụng Luật tiền lương tối thiểu là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ Luật Lao động và các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân theo phạm vi điều chỉnh của Luật. Các nguyên tắc xác định mức lương tối thiểu + Mức lương tối thiểu được xác định cho từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước và dựa trên các căn cứ và phương pháp khoa học để xác định mức lương tối thiểu, bảo đảm bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng; + Mức lương tối thiểu được điều chỉnh thường xuyên hàng năm trên cơ sở chỉ số tăng giá sinh hoạt. – Các nguyên tắc áp dụng mức lương tối thiểu + Người sử dụng lao động không được trả công cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu; + Các khoản không thuộc kết cấu mức lương tối thiểu thì không được tính gộp vào mức lương tối thiểu như: tiền lương làm thêm giờ, phụ cấp làm việc ban đêm, phụ cấp trách nhiệm hay chức vụ, tiền ăn giữa ca và các khoản tiền lương khác ngoài tiền lương thông thường hàng tháng do Chính phủ quy định. – Căn cứ xác định, cơ chế áp dụng và điều chỉnh mức lương tối thiểu chung, tối thiểu vùng, tối thiểu ngành – Hội đồng quốc gia về tiền lương
    20. 22. Là cơ quan tham mưu, tư vấn cho nhà nước về tiền lương nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng. Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của tổ chức này có thể được quy định trong Luật tiền lương tối thiểu hoặc do Chính phủ quy định trong một văn bản luật riêng. KẾT LUẬN Tiền lương tối thiểu là vấn đề quan trọng không chỉ với đời sống của cá nhân người lao động mà đối với toàn xã hội bởi lẽ nó là cơ sở để thuê mướn, trả công lao động trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương tối thiểu được coi là “lưới an toàn” cho những người lao động làm công ăn lương. Nó là công cụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động. Hơn thế, tiền lương tối thiểu còn thiết lập nên mối quan hệ ràng buộc giữa người lao động và người sử dụng lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Tuy nhiên, tiền lương tối thiểu áp dụng cho người lao động hiện nay còn thấp, chưa đảm bảo được chức năng, vai trò là nguồn thu nhập chính của người lao động. Chính vì vậy, cần từng bước nghiên cứu, rà soát lại các yếu tố cơ bản làm căn cứ xác định lương tối thiểu, bổ sung các yếu tố mà trước đây chưa được tính hoặc chưa được tính đầy đủ (như tiền nhà, tiền điện thoại, các dịch vụ xã hội…) để bảo vệ người lao động đúng mức. Hơn nữa, cần phải từng bước xóa bỏ việc quy định khác nhau về tiền lương tối thiểu giữa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để tạo sự cạnh tranh bình đẳng trong sử dụng lao động giữa các khu vực kinh tế đó. Trước thực trạng đó, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật vè tiền lương tối thiểu là vấn đề cần thiết. Trên cơ sở các yêu cầu hoàn thiện đang đặt ra phù hợp với từng giai đoạn hiện nay, hệ thống pháp luật tiền lương nói chung và tiền lương tối thiểu nói riêng cần được sửa đổi, bổ sung để bảo vệ người lao động hợp lý, linh hoạt và bền vững. 22

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiền Lương Và Vai Trò Của Tiền Lương Trong Việc Nâng Cao Hiệu Quả Sản Xuất
  • Báo Cáo Thực Tập Kế Toán Tiền Mặt Và Kế Toán Hàng Hóa
  • Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Kế Toán Tiền Mặt (Kế Toán Thanh Toán Theo Dõi Tk 111) Cũng Như Sơ Đồ Luân Chuyển Chứng Từ Và Hạch Toán Nghiệp Vụ
  • Bản Mô Tả Công Việc Của Kế Toán Tiền Mặt, Tiền Gửi Ngân Hàng Trong Doanh Nghiệp
  • Kế Toán Tiền Mặt Cần Phải Làm Những Gì?
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Công Thương Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • Ngành Công Thương Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa Trong Sản Xuất Và Tiêu Dùng
  • Hà Nội Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • Tái Chế Rác Thải Nhựa: 1 Tầm Quan Trọng Và Những Mô Hình Thành Công
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Diễn Cảm Cho Học Sinh Lớp Bốn
  • Sở TN&MT Quảng Trị phát động phong trào nói không với rác thải nhựa tại huyện đảo Cồn Cỏ.

    Theo đó, UBND tỉnh Quảng Trị yêu cầu các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh triển khai thực hiện các biện pháp giảm thiểu, phân loại, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải nhựa trong cơ quan, đơn vị, cụ thể:

    Các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, đơn vị phải gương mẫu, tích cực và đi đầu trong việc giảm thiểu chất thải nhựa, hạn chế tối đa việc sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần (bao gồm túi nylon khó phân hủy, bao gói nhựa thực phẩm, chai lọ nhựa, ống hút, hộp xốp đựng thực phẩm, cốc và bộ đồ ăn…); vận động gia đình, người thân, bạn bè cùng hưởng ứng phong trào chống rác thải nhựa, không sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần.

    Các cơ quan, đơn vị thực hiện không sử dụng băng rôn, khẩu hiệu, chai, cốc, ống hút, bát, đũa nhựa… dùng một lần tại công sở và trong các hội nghị, hội thảo, cuộc họp và ngày lễ, ngày kỷ niệm và các sự kiện khác; ưu tiên lựa chọn các sản phẩm tái chế, thân thiện với môi trường.

    Các tổ chức, đoàn thể tại Quảng Trị ra quân vệ sinh môi trường biển.

    Các cơ quan, đơn vị, địa phương phải tiên phong, gương mẫu thực hiện phân loại rác thải tại nguồn ngay tại công sở, bố trí thùng rác để phân loại rác thải, chất thải nhựa và các chất thải khác có thể tái chế không được để lẫn với chất thải hữu cơ, khuyến khích xây dựng và thực hiện các mô hình kiểu mẫu để làm cơ sở nhân rộng cho các cơ quan, đơn vị trong lĩnh vực và địa bàn quản lý. Thường xuyên quán triệt, phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức cho công chức, viên chức, người lao động về phân loại, thu gom, giảm thiếu chất thải nhựa…

    Các địa phương phối hợp các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội xây dựng phong trào, liên minh chống chất thải nhựa; vận động người dân, cộng đồng dân cư hạn chế hoặc không sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần để bảo vệ môi trường; Vận động các trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng, chợ dân sinh, khách sạn, nhà hàng, quán nước, khu du lịch và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, du lịch… trên địa bàn cam kết giảm thiểu chất thải nhựa, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần hoặc thay thế bằng các sản phẩm thân thiện môi trường; không cung cấp miễn phí túi ni lông cho khách hàng hoặc chuyển từ sử dụng túi ni lông khó phân hủy sang các loại túi khác thân thiện với môi trường; Tăng cường năng lực, hiệu quả công tác thu gom, xử lý chất thải rắn; thực hiện thu gom và xử lý riêng các loại chất thải đã được phân loại. Thực hiện thu phí dịch vụ thu gom rác đối với các tiểu thương tại các chợ dân sinh truyền thống.

    Triển khai thực hiện phân loại chất thải tại nguồn; bố trí hoặc chỉ đạo bố trí các thùng thu gom, phân loại rác và tập huấn, hướng dẫn phân loại rác tại các khu vực công cộng như bến xe, trung tâm thương mại, siêu thị, chợ dân sinh, công viên, quảng trường, khu du lịch, danh lam thắng cảnh…,

    Tổ chức và thực hiện các biện pháp kỹ thuật để thu gom chất thải nhựa trên các sông, rạch, kênh, mương.. tiến hành và xã hội hóa các hoạt động thu gom, xử lý chất thải nhựa trên sống, suối và các hồ, ao trong khu đô thị, khu dân cư…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Ô Nhiểm Đất Do Rác Thải Và Biện Pháp Xử Lý
  • Giải Pháp Chống Xả Rác Và Giải Quyết Rác Thải
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Cho Học Sinh Lớp 1
  • Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Các Phương Pháp Bảo Quản Nông Sản Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Bảo Quản Nông Sản
  • Đất Ph Là Gì? Biện Pháp Cải Tạo Đất Chua, Đất Kiềm
  • Biện Pháp Cải Tạo Đất Chua, Đất Kiềm Nhanh Và Hiệu Quả
  • Đất Chua Và Cách Cải Tạo Đất Chua
  • Độ Chua Của Đất Và Biện Pháp Cải Tạo
  • Trong thực tế có nhiều phương pháp bảo quản nông sản được áp dụng. Tuy nhiên mỗi lại có ưu nhược điểm riêng. Do vậy, cần xác định phương pháp bảo quản nông sản phù hợp để bảo quản nông sản trong điều kiện tốt nhất, nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch cũng như không làm giảm chất lượng nông sản.

    1. Phương pháp bảo quản nông sản – bằng phương pháp lạnh (kho lạnh)

    Sử dụng kho lạnh bảo quản là dùng nhiệt độ thấp ức chế hoạt động của vi sinh vật, côn trùng. Nhiệt độ bảo quản càng thấp thì càng ức chế quá trình sinh hóa xảy ra trên trong nông sản, cũng như hạn chế sự phát triển của vi sinh vật. Do đó có thể kéo dài thời gian bảo quản rau quả lâu hơn. Quá trình bảo quản có thể được nâng cao bằng cách giảm nhiệt độ thấp hơn nữa. Với nhiệt độ khoảng 1 độ C trong nhiệt độ thấp có thể tăng khả năng bảo quản một cách có ý nghĩa.

    Để kiểm soát điều kiện bảo quản, kho lạnh bảo quản được lắp đặt thêm một số thiết bị như nhiệt kế, thiết bị đo độ ẩm, tủ điều khiển…vệ sinh vùng lạnh trước khi bảo quản là việc làm hết sức cần thiết nhằm ngăn ngừa sự phát triển của vi sinh vật và côn trùng.

    Tùy thuộc từng loại rau quả cần bảo quản, điều chỉnh nhiệt độ bảo quản thích hợp. Trong quá trình bảo quản cần giữ ổn định nhiệt độ, không để tác động của sự biến đổi đột ngột nhiệt độ sẽ gây hiện tượng đọng nước dễ làm hư hỏng nguyên liệu. Tốt nhất, điều chỉnh sự tăng giảm nhiệt độ trong một ngày một đêm là 4-5 độ C. Khi chuyển rau quả từ kho lạnh ra cũng cần qua gia đoạn nâng nhiệt từ từ để giữ được chất lượng của rau quả.

    2. Phương pháp bảo quản nông sản – Công nghệ CAS

    Hệ thống công nghệ CAS bao gồm thiết bị CAS kết hợp với thiết bị làm lạnh nhanh tác động lên đối tượng là nông sản, thực phẩm làm cho phân tử nước đóng băng nhanh (nhưng không liên kết với nhau) trong thời gian khoảng 30 phút. Nhờ vậy, ức chế quá trình bị oxy hóa, phòng chống sự gia tăng nhiễm khuẩn mà không phá vỡ cấu trúc mô tế bào và làm cho sản phẩm giữ nguyên mùi, vị, lượng nước cần thiết, màu sắc và dinh dưỡng đạt tới mức 99,7%.

    Dùng kỹ thuật lạnh kết hợp với kỹ thuật nuôi sống các tổ chức tế bào (CAS) trong bảo quản còn là phương pháp sạch và kinh tế trong bảo quản nông sản, thực phẩm tươi. CAS được đánh giá là công nghệ tiên tiến, cho phép khống chế và tối ưu hóa các thông số bảo quản để kéo dài quá trình chín nhưng không làm hư hỏng nông sản, thực phẩm tươi sau thu hoạch.

    Sự khác biệt giữa công nghệ đông lạnh truyền thống và công nghệ CAS là sự đóng băng của nước trong mỗi loại nông sản, thực phẩm. Công nghệ CAS thường sử dụng để bảo quản “tươi sống” những nông sản thực phẩm có khả năng bảo quản lạnh và có giá trị thương phẩm cao. Tuy nhiên, CAS không thể thay thế cho các công nghệ bảo quản khác, tùy theo đối tượng, mục đích và giá thành sản phẩm nông sản mà lựa chọn công nghệ bảo quản phù hợp.

    Bảo quản nông sản bằng phương pháp điều chỉnh khí quyển, việc loại bỏ hoặc bổ sung các chất khí dẫn đến kết quả là thành phần khí quyển thay đổi khác với thành phần không khí ban đầu, bằng cách thực hiện các phương pháp như CA (Controlled Atphosphere – Kiểm soát thành phần không khí), MA (Modifided Atphosphere – Khí quyển điều chỉnh) và các phương pháp tồn trữ áp suất thấp (hipobaric)..có thể kéo dài thời gian tồn trữ các loại rau quả. Mục đích của phương pháp này là làm giảm hoạt động hô hấp và các phản ứng trao đổi chất khác bằng cách làm tăng hàm lượng CO2 và làm giảm hàm lượng O2, giảm tốc độ sản sinh ethyle tự nhiên.

    Kiểm soát khí quyển tồn trữ với hàm lượng CO2 sẽ hạn chế được sự thủy phân các hợp chssta pectin, duy trì được cấu trúc và độ cứng của rau quả trong thời gian dài, còn làm tăng cường mùi vị của rau quả trong quá trình bảo quản.

    Để được tư vấn thêm về các phương pháp bảo quản nông sản, xin liên hệ với chúng tôi:

    Địa chỉ: Số 23, Ngõ 1, Phố Đại Linh, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội:

    Điện thoại: 024 3839 0745

    Hotline: 0923 199 968

    Email: [email protected]

    Website: http://dienlanhfocviet.comFanpage: https://www.facebook.com/dienlanhfocviet/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Những Biện Pháp Bảo Quản Nông Sản Sinh Học 11 Nào?
  • Nguyên Nhân Và Các Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nước Ở Việt Nam
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước Là Gì? Nguyên Nhân Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nước Tại Việt Nam
  • Phương Pháp Bảo Quản Nông Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Hải Dương: Áp Dụng Các Biện Pháp Bảo Quản Nông Sản
  • Các Phương Pháp Và Cách Thức Bảo Quản Nông Sản Một Cách Hiệu Quả
  • Bài 12. Ảnh Hưởng Của Các Nhân Tố Môi Trường Đến Hô Hấp
  • Bảo Quản Nông Sản Bằng Giải Pháp Điều Biến Khí
  • Đề Kiểm Tra Học Kì De Hkisinh 11 Doc
  • Để xử lý và bảo quản sản phẩm tươi thành công, các tác nhân gây hỏng phải được tiêu huỷ mà không làm mất đi giá trị dinh dưỡng hoặc hương vị thơm ngon của sản phẩm.

    phương pháp bảo quản nông sản

    Thật không may là trái cây, rau củ và cây trồng là nguồn tự nhiên duy nhất của vitamin C thiết yếu trong thực phẩm của chúng ta. Vitamin này dễ bị phá hủy, đặc biệt là khi chế biến sử dụng nhiệt.

    Để giữ lại lượng vitamin C tối đa trong thực phẩm chế biến, nó nên được sử dụng ngay khi mới thu hoạch; không được ngâm hoặc rửa quá kỹ; phải được xử lý ngay sau khi sơ chế; không nên được xử lý trong chảo đồng, sắt hoặc sứt mẻ.

    Một số phương pháp bảo quản nông sản phổ biến hiện nay: sấy khô, xử lý hóa học, xử lý nhiệt..

    Sấy khô

    Tất cả các nguyên liệu tươi đều cần nước để sinh tồn. Các sản phẩm tươi chứa tới 95% nước và do đó đủ độ ẩm để hỗ trợ cả hoạt động của enzym và sự tăng trưởng của vi sinh vật. Mục đích của việc sấy khô là giảm hàm lượng nước của sản phẩm xuống mức không đủ cho hoạt động của enzyme hoặc sự phát triển của vi sinh vật. Mức độ giới hạn là khoảng 10-15 phần trăm độ ẩm, tùy thuộc vào từng mặt hàng. Nếu quá nhiều nước bị loại bỏ, sản phẩm trở nên giòn và dễ vỡ vụn.

    phương pháp bảo quản nông sản

    Sản phẩm có thể được sấy khô bằng cách sử dụng năng lượng mặt trời hoặc sức nhiệt nhân tạo. Sấy khô bằng năng lượng mặt trời tuy rẻ nhưng không dễ kiểm soát việc nông sản mất nước bằng các phương tiện tinh vi hơn. Ở một số nước, nhiệt từ đốt chất thải nông nghiệp được sử dụng để sấy khô, như trong máy sấy khô, cũng đã được sử dụng để sấy khô cây trồng, rau củ.

    Xử lý bằng hóa chất

    Hóa chất được sử dụng trong chế biến bao gồm đường, muối, giấm và chất bảo quản hóa học như natri meta-bisulphite. Các sản phẩm chính là:

    Bảo quản với đường: Điều này dựa trên việc sử dụng nồng độ đường cao với ruột hoặc nước ép từ trái cây để tạo ra một sản phẩm mà trong đó nấm mốc và nấm men khó có thể phát triển được.

    Bảo quản bằng muối: Phương pháp này thường được sử dụng để bảo quản đậu xanh. Đậu xanh non và muối được đặt thành các lớp xen kẽ trong các lọ thủy tinh hoặc đất nung lớn, lớp trên cùng là muối. Các lọ được đóng kín với nắp đậy chống ẩm và sau đó chúng được lưu trữ trên các kệ tủ.

    Xử lý nhiệt

    Trong nhiều năm, trái cây và rau củ đã được bảo quản bằng nhiệt, sử dụng phương pháp đóng hộp hoặc đóng chai. Mục đích là để tiêu diệt các enzym và vi sinh vật bằng cách nung nóng các sản phẩm với chất lỏng trong lon hoặc chai lọ. Các dụng cụ chứa sau đó sẽ được niêm phong trong khi vẫn còn nóng để ngăn chặn việc các nguyên liệu đã khử trùng bị nhiễm bẩn. Với những phương pháp bảo quản nông sản trên hi vọng sẽ giúp ích được nhiều cho người dân trong việc bảo quản nông sản của chính mình.

    Cảm ơn các bạn đã theo dõi chúng tôi của chúng tôi !!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Quản Nông Sản Là Gì? Gồm Những Phương Pháp Nào?
  • Việc Bảo Quản Nông Sản Nhằm Mục Đích Gì Và Bằng Cách Nào?
  • Phương Pháp Thu Hoạch Và Bảo Quản Nông Sản
  • Bảo Quản Nông Sản Sau Thu Hoạch
  • Biện Pháp Bảo Quản Nông Sản Giữ Sản Phẩm Tươi Lâu Hơn Sau Thu Hoạch
  • Hà Nội Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tái Chế Rác Thải Nhựa: 1 Tầm Quan Trọng Và Những Mô Hình Thành Công
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Diễn Cảm Cho Học Sinh Lớp Bốn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Các Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 4.
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Phát biểu khai mạc buổi tọa đàm, Phó Tổng Biên tập báo Kinh tế và Đô thị Nguyễn Anh Đức cho biết: “Công tác bảo vệ môi trường, chống rác thải nhựa và túi nilon trong những năm gần đây luôn được Đảng, Nhà nước, các cấp và Hà Nội đặc biệt quan tâm.

    Các khách mời tham gia buổi tọa đàm chụp ảnh lưu niệm

    Trong năm học mới, một học sinh lớp 6 trường Marie Curie đã gửi thư tới lãnh đạo với mong muốn không sử dụng bóng bay trong lễ khai giảng, để thấy ý thức về bảo vệ môi trường, chống lại rác thải nhựa và túi nilon đã được cộng đồng quan tâm.

    Bằng việc tổ chức cuộc tọa đàm, chúng tôi mong muốn nhận được sự đóng góp của các chuyên gia, các sở ban ngành để có thể góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của người dân Thủ đô, đặc biệt góp phần vào việc hạn chế rác thải nhựa mà Thành phố sẽ triển khai trong năm 2022″.

    Tại buổi tọa đàm, đánh giá về tình hình rác thải nhựa hiện nay tại Thành phố, bà Nguyễn Thị Hưởng – Trưởng phòng Thẩm định và đánh giá tác động môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội) cho biết tại Việt Nam, ước tính mỗi người dân tiêu thụ sử dụng khoảng từ 30 đến 40kg nhựa/năm và là một trong 4 quốc gia tại châu Á phát sinh chất thải nhựa nhiều nhất.

    Riêng 2 thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và túi nilon/ngày. Số lượng bao bì nhựa và túi nilon sử dụng ngày càng gia tăng ở Việt Nam dẫn đến lượng thải bỏ tăng dần theo từng năm. Tỷ lệ chất thải bao bì, túi nilon không được tái sử dụng, phải chôn lấp chiếm khoảng từ 5 – 8% tương đương với khoảng 2,5 triệu tấn/năm.

    Phó Tổng Biên tập báo Kinh tế và Đô thị Nguyễn Anh Đức phát biểu tại buổi tọa đàm

    Bên cạnh đó, chia sẻ về công tác thu gom rác thải được Thành phố triển khai trong thời gian qua cụ thể là Công ty Môi trường đô thị Hà Nội (URENCO) – doanh nghiệp chủ chốt chịu trách nhiệm thu gom rác trên địa bàn, đại diện Công ty URENCO cho hay hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội phát sinh khoảng 7.500 tấn rác sinh hoạt trong ngày. Công ty được giao quản lý, xử lý rác tại bãi Xuân Sơn và Nam Sơn. Qua các số liệu, khối lượng rác đổ về bãi ngày càng tăng.

    “Từ năm 2000 tới nay, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nhựa trong rác thải sinh hoạt tăng, từ dưới 10% lên 16,5%/năm. Bên cạnh đó, còn có sự đa dạng về các chủng loại.

    Mỗi ngày có khoảng 350 người dân nhặt rác trên bãi Nam Sơn. Đây là hoạt động tự phát, có thời điểm cao điểm xấp xỉ 800 người. Những người này họ phân loại và tái chế hoàn toàn do thị trường yêu cầu, như chai lọ, nhựa sinh hoạt…”, ông Phạm Văn Đức, Phó Tổng Giám đốc Công ty – Công ty Môi trường đô thị Hà Nội cho hay.

    Ông Đức cho biết thêm, trước thực trạng trên, công ty đã quản lý bằng cách đặt ra các quy định, như quy định giờ vào bãi (3 – 6 giờ sáng); hỗ trợ trang thiết bị bảo hộ cho họ (ủng, găng tay…), nhằm hạn chế những rủi ro trong quá trình họ ở trên bãi. Công ty hi vọng sẽ có giải pháp để chấm dứt triệt để tình trạng người dân nhặt rác trên bãi.

    Hiện Công ty đã đầu tư 2 dây chuyền để tái chế, công suất 30 tấn/1 ngày, dự kiến sẽ sớm đưa vào hoạt động trong thời gian tới. Ngoài ra, công ty đã hợp tác với 1 tập đoàn của Nhật Bản để tái chế rác thành viên chất đốt, đưa ra tiêu thị trên thị trường.

    Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế tuần hoàn

    Bàn về các giải pháp để kiểm soát chất thải nhựa cũng như hạn chế túi nilon, tại tọa đàm chúng tôi Đặng Kim Chi – Chủ tịch Hội đồng khoa học và kỹ thuật (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam) cho rằng để đối phó với vấn nạn rác thải nhựa, nhiều quốc gia trên thế giới đã mạnh tay ban hành nhiều luật cấm để hạn chế, rồi tiến tới không còn rác thải nhựa.

    Tiểu thương ở các chợ truyền thống đã ý thức hạn chế túi nilon

    Hiện nay, túi nilon dùng một lần hiện đã bị cấm sử dụng tại 91 quốc gia trên thế giới, trong đó có 55 quốc gia cấm trên phạm vi cả nước. Từ tháng 1/2019, Hàn Quốc đã chính thức cấm sử dụng túi nilon trong siêu thị và các chuỗi cửa hàng bán lẻ. Những cơ sở vi phạm có thể bị phạt đến 3 triệu won (62,8 triệu đồng).

    “Về giải pháp, tôi thấy chúng ta không thể đánh đổi kinh tế với chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng. Các giải pháp đã được các diễn giả trình bày về chính sách, giáo dục nhưng tôi muốn đề cập thiên về giải pháp mang tính tổng hợp kỹ thuật. Ví dụ như giải pháp 3R, giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng, và 5R như từ không dùng, đến giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và cuối cùng và hủy bỏ có kỹ thuật và an toàn”, chúng tôi Đặng Kim Chi nhấn mạnh.

    Theo GS. TS Đặng Kim Chi những giải pháp kỹ thuật công nghệ này là không khó và hoàn toàn có thể áp dụng được. Chúng ta cần tập trung đầu tư công nghệ sản xuất nguyên liệu để đưa ra sản phẩm thay thế nhựa bằng sản phẩm thân thiện môi trường, hoặc khắc phục nhược điểm khó phân hủy của nhựa.

    Do đó, Việt Nam cần đầu tư vào các biện pháp, coi rác thải nhựa như nguyên liệu mới, như nguồn nhiệt cấp năng lượng cho nhà máy phát nhiệt, xi măng, và giảm tiêu thu nguyên liệu thông thường. Bên cạnh đó, chúng ta cần đẩy mạnh phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

    Bên cạnh đó, trong thời gian tới, để tăng cường các biện pháp giảm thiểu chất thải nhựa, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn đến các tổ chức, cá nhân trên địa bàn Thủ đô trong việc thay đổi thói quen trong sinh hoạt hạn chế sử dụng túi nilon các sản phẩm nhựa khó phân hủy sử dụng một lần; giới thiệu mô hình thu gom, tái chế thực tế trong nước và quốc tế về giảm thiểu chất thải nhựa để nâng cao nhận thức và huy động sự tham gia của cộng đồng…

    N. Hoa

    Nguồn :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Công Thương Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa Trong Sản Xuất Và Tiêu Dùng
  • Ngành Công Thương Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • Bài Giảng Ô Nhiểm Đất Do Rác Thải Và Biện Pháp Xử Lý
  • Giải Pháp Chống Xả Rác Và Giải Quyết Rác Thải
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Tọa Đàm “làm Thế Nào Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông Cho Xe Khách?”
  • Nhiều Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Những Biện Pháp Nhằm Hỗ Trợ Và Giải Quyết Việc Làm
  • Biện Pháp Giải Quyết Vấn Đề Việc Làm Ở Nước Ta Là Gì?
  • Để giảm thiểu TNGT, Đại tá Dương Văn Mạnh – Phó Giám đốc Công an tỉnh cho biết:

    Để tiếp tục kiềm giảm TNGT trong thời gian tới, Công an tỉnh đã đề ra các giải pháp. Đó là làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ cho người dân trên địa bàn. Trong đó tập trung vào từng đối tượng cụ thể, tác động liên tục vào nhận thức để người dân hình thành thói quen “chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ”.

    Cụ thể, hiện nay Công an tỉnh phối hợp với Đài PT-TH và Báo Bình Phước đã xây dựng hệ thống dữ liệu tuyên truyền bằng hình ảnh và các mô hình trực quan về các tình huống nguy hiểm, tình huống tai nạn do vi phạm trật tự an toàn giao thông để phát trên các chuyên mục của Đài PT-TH và Báo Bình Phước và ANTV vào lúc 21 giờ ngày thứ Tư hàng tuần và phát lại vào trưa hôm sau, phát video clip các tình huống cảnh báo TNGT tại trụ sở tiếp dân về xử lý vi phạm, đăng ký xe.

    Tuyên truyền kỹ năng phòng ngừa TNGT khi tham gia giao thông.

    Thay đổi hình thức, thời gian tuyên truyền như: tập trung vào việc tuyên truyền kỹ năng phòng ngừa TNGT khi tham gia giao thông, tuyên truyền vào buổi tối để phù hợp với thời gian của người lao động, tuyên truyền tại các địa điểm công viên, trung tâm thương mại….

    Bên cạnh đó, lực lượng CSGT sẽ phối hợp thường xuyên với các cơ sở đào tạo lái xe trên địa bàn tỉnh tổ chức hướng dẫn tuyên truyền cho học viên về các nguyên nhân gây ra TNGT cũng như các hành vi vi phạm thường gặp khi tham gia giao thông, nhất là các hành vi thường gây ra TNGT.

    Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm quy định của pháp luật về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe.

    Tuyên truyền Luật giao thông đường bộ cho các em học sinh.

    Mặt khác, lực lượng CSGT, Cảnh sát trật tự, Thanh tra giao thông phối hợp lực lượng tăng cường tuần tra kiểm soát, bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn.

    Việc tuần tra sẽ được thực hiện liên tục, tập trung vào các giờ cao điểm, những tuyến đường có lưu lượng tham gia giao thông đông; những điểm buôn bán lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, hành lang an toàn giao thông; những điểm đen có nguy cơ cao xảy ra TNGT để tuyên truyền, giáo dục ý thức của người tham gia giao thông chấp hành nghiêm Luật giao thông đường bộ, đồng thời xử lý nghiêm các vi phạm.

    Lực lượng CSGT toàn tỉnh sẽ được tăng cường lực lượng, phương tiện, trang thiết bị hiện đại tập trung xử lý nghiêm các hành vi là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ TNGT.

    Riêng đối với xe container, Công an tỉnh xây dựng kế hoạch chuyên đề xử lý các vi phạm về tốc độ, nồng độ cồn, ma túy và kiểm tra các chốt gù ở các góc thùng container phòng ngừa việc lái xe quên gài chốt để xe đang chạy bị rơi xuống đường gây TNGT.

    Đặc biệt, hiện nay Công an tỉnh đang phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khảo sát, lắp đặt hệ thống camera ghi hình trên các tuyến quốc lộ 13, quốc lộ 14, Tỉnh lộ 741 (ĐT741), các địa bàn phức tạp về an ninh trật tự và trật tự ATGT trên địa bàn tỉnh để “phạt nguội” người vi phạm Luật giao thông đường bộ.

    Đây là giải pháp mang tính đột phá, với thông điệp cảnh báo, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông đường bộ của người dân khi tham gia giao thông.

    Ngoài ra, thường xuyên khảo sát phối hợp với các ngành chức năng, ở Trung ương (Tổng cục đường bộ Việt Nam…) và địa phương kiểm tra chất lượng hạ tầng giao thông, các điều kiện đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên các tuyến đường để kịp thời phát hiện, kiến nghị khắc phục các điểm bất hợp lý về tổ chức giao thông, về ATGT, giải quyết các điểm đen về TNGT.

    Từng bước hoàn chỉnh các biển báo, vạch sơn, hệ thống đèn tín hiệu, làn đường, giải phân cách cứng. Đảm bảo các tuyến đường ngày càng được nâng cao chất lượng, góp phần giảm thiểu TNGT.

    Hiện trường vụ TNGT thùng container rơi xuống đường đè 1 người chết và 1 người bị thương nặng.

    Trước đó, khoảng 10h ngày 2-11, trên tuyến quốc lộ 13, đoạn trước khu vực chợ Thanh Lương, ấp Thanh Trung, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, Bình Phước xảy ra vụ TNGT nghiêm trọng làm 1 người chết và 1 người bị thương nặng. Thời điểm trên, xe container kéo theo rơmoóc do tài xế Bùi Văn Thới (39 tuổi, quê xã Bình Trung, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) điều khiển trên quốc lộ 13, hướng từ thị xã Bình Long đi huyện Lộc Ninh. Khi chạy qua đoạn chợ Thanh Lương với tốc độ khá cao, bất ngờ thùng container trật khỏi rơmoóc rơi xuống đường đè lên xe máy do anh Trần Văn Định (SN 1987, ngụ thị xã Bình Long) điều khiển chở vợ phía sau. Anh Định bị thùng container đè chết tại chỗ. Chị Đặng Thị Tuyết Mai (vợ anh Định) cũng bị thùng container đè bị thương nặng.

    Đức Trí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông Năm 2022
  • Các Giải Pháp Đồng Bộ Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Mầm Non
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Ngành Công Thương Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa Trong Sản Xuất Và Tiêu Dùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Hà Nội Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • Tái Chế Rác Thải Nhựa: 1 Tầm Quan Trọng Và Những Mô Hình Thành Công
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Diễn Cảm Cho Học Sinh Lớp Bốn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Các Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 4.
  • Ngành Công Thương tăng cường các biện pháp giảm thiểu rác thải nhựa trong sản xuất và tiêu dùng

    07/01/2020

    Hiện nay, lượng nhựa tiêu thụ bình quân trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ngày càng gia tăng, trong khi các cơ sở tái chế và xử lý rác thải nhựa (RTN) còn thiếu, công nghệ lạc hậu, phân loại rác tại nguồn chưa hiệu quả. Để hạn chế tác hại của RTN, ngành Công Thương đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu việc phát sinh RTN từ khâu sản xuất tới phân phối và tiêu dùng.

    Rác thải nhựa trong sản xuất, tiêu dùng

    Với đặc điểm giá thành rẻ, tiện lợi, túi ni lông và các sản phẩm nhựa dùng một lần đã trở thành vật dụng phổ biến trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân, đặc biệt tại các siêu thị, trung tâm thương mại, chợ truyền thống… Theo Báo cáo của Bộ TN&MT, lượng RTN và túi ni lông ở Việt Nam chiếm khoảng 8 -12% trong chất thải rắn sinh hoạt, xấp xỉ 2,5 triệu tấn/năm. Tính riêng các loại túi ni lông, ước tính mỗi năm, Việt Nam sử dụng và thải bỏ khoảng hơn 30 tỷ túi/năm. Ở các đô thị, lượng túi ni lông được tiêu thụ trung bình khoảng 10,48 – 52,4 tấn/ngày, riêng tại 2 TP lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, mỗi ngày có khoảng 80 tấn nhựa và túi ni lông thải ra môi trường.

    Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp (DN) trong lĩnh vực phân phối tiêu dùng ở Việt Nam đều sử dụng các loại túi ni lông khó phân hủy để phục vụ nhu cầu khách hàng; tình trạng các sản phẩm bao gói thực phẩm bằng nhựa được bày bán ở các siêu thị, cửa hàng, các hộ kinh doanh trong chợ rất phổ biến. Chỉ tính riêng tại TP. Hà Nội, hiện có khoảng 100 DN sản xuất nhựa và các sản phẩm từ nhựa; 24 trung tâm thương mại, 140 siêu thị, 454 chợ, hàng nghìn cửa hàng có sử dụng các sản phẩm nhựa làm bao bì trong kinh doanh…

    Mặc dù, nhận thức được tầm quan trọng của RTN gây ô nhiễm môi trường, tuy nhiên, việc chuyển đổi từ sử dụng các sản phẩm túi ni lông khó phân hủy, hay các sản phẩm nhựa dùng một lần sang túi ni lông thân thiện với môi trường của các DN gặp nhiều khó khăn do giá thành của loại túi ni lông thân thiện với môi trường đắt hơn gấp nhiều lần so với túi ni lông thông thường. Mặt khác, DN sản xuất cũng có tâm lý e ngại khi sản xuất các sản phẩm thân thiện môi trường sẽ gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, trong khi việc sử dụng các sản phẩm thân thiện môi trường chưa trở thành yêu cầu bắt buộc.

    Ban hành Chỉ thị giảm thiểu RTN

    Siêu thị BigC Hồ Gươm (quận Hà Đông, TP. Hà Nội) sử dụng lá chuối để gói rau, thay thế túi ni lông

    Thực hiện Chỉ thị, hầu hết DN của ngành Công Thương đều chủ động tham gia phong trào “Chống RTN”. Các đơn vị sản xuất, phân phối đã nhanh chóng triển khai Kế hoạch giảm phát sinh RTN từ khâu sản xuất đến tiêu dùng; tăng cường sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thân thiện với môi trường. Một số đơn vị đã bắt đầu có phương án chuyển đổi các vật liệu nhựa sang vật liệu thay thế thân thiện với môi trường. Các ý tưởng sử dụng ống hút bằng tre, bột gạo, bằng giấy thay cho ống hút nhựa; sử dụng khăn nén thay cho khăn lạnh, ly giấy thay cho ly nhựa bắt đầu được áp dụng. trong thực tế, đặc biệt, các DN chuyên sản xuất đồ uống bắt đầu sử dụng chai thủy tinh thay cho chai nhựa.Tiêu biểu có, Công ty CP Nước khoáng Khánh Hòa đã chuyển đổi sang sản xuất sản phẩm nước khoáng Vikoda bằng chai thủy tinh thể tích 430 ml. Đồng thời, phối hợp cùng các khách sạn lớn trên địa bàn ký cam kết sử dụng nước uống bằng chai thủy tinh trong cơ sở lưu trú.

    Bên cạnh đó, các DN, với cam kết trách nhiệm xã hội, đã bắt đầu thực hành quản lý và hạn chế RTN. Các DN xã hội cung cấp sản phẩm thay thế sản phẩm nhựa trong tiêu dùng và thực phẩm sạch không chất độc hại như Xanh Shop, Sạp hàng chàng Sen, Trạm Refill Station (Hà Nội)… đã đi vào cuộc sống. Một số siêu thị, trung tâm thương mại trên cả nước như: Vinmart, BigC, Lotte, Co.opMart… cũng đã xây dựng Kế hoạch hành động giảm thiểu RTN. Các đơn vị này chuyển sang sử dụng túi cuộn tự hủy, túi ni lông tự hủy sinh học thay thế túi ni lông sử dụng một lần. Một số siêu thị sử dụng các khay, hộp, đĩa và một số vật dụng dùng trong sơ chế, chế biến thực phẩm được làm từ bã mía, sơ dừa… để thay thế một phần các vật dụng có nguồn gốc từ nhựa. Đáng nói, có siêu thị đã sử dụng phương pháp bao gói rau, củ, quả bằng các vật liệu có nguồn gốc tự nhiên từ lá chuối, túi giấy thay cho túi ni lông; ngừng kinh doanh sản phẩm ống hút bằng nhựa, thay bằng các loại ống hút được sản xuất từ tre, cỏ, bột gạo..

    Trong thời gian tới, để đẩy mạnh phong trào “Chống RTN”, Bộ Công Thương yêu cầu các đơn vị xây dựng Kế hoạch thực hiện mục tiêu “đến năm 2022 các cửa hàng, chợ, siêu thị ở đô thị không sử dụng đồ nhựa dùng một lần; đến năm 2025, cả nước không sử dụng đồ nhựa dùng một lần; tiến hành đánh giá hiện trạng sử dụng, phát thải túi ni lông khó phân hủy, sản phẩm nhựa sử dụng một lần tại các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các DN sản xuất và người tiêu dùng cùng chung tay giảm thiểu RTN; lồng ghép các hoạt động tuyên truyền, phổ biến thông tin về tác hại của việc sử dụng túi ni lông khó phân hủy, sản phẩm nhựa dùng một lần; khuyến khích sử dụng các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường trong các chương trình đang triển khai thực hiện.

    (Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 12/2019)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Công Thương Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • Bài Giảng Ô Nhiểm Đất Do Rác Thải Và Biện Pháp Xử Lý
  • Giải Pháp Chống Xả Rác Và Giải Quyết Rác Thải
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100