Tác Dụng Của Biện Pháp So Sánh Trong Bài Tôi Đi Học

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Hình Ảnh So Sánh Trong Truyện Ngắn Tôi Đi Học Hay Nhất
  • Phân Tích Hình Ảnh So Sánh Trong Bài Tôi Đi Học
  • Phân Tích Hình Ảnh Và Biện Pháp So Sánh Trong Đoạn Thơ Sau Trong Bài Thơ Tiếng Hát Con Tàu Của Chế Lan Viên
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Thơ Lưu Quang Vũ
  • So Sánh: Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Và Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • “Tôi đi học” là một truyện ngắn mang màu sắc hoài niệm của Thanh Tịnh. Ngoài cảm xúc dào dạt, tác giả đã sáng tạo nên một số hình ánh so sánh rất đẹp.

    Tác giả đã so sánh và nhân hóa để viết nên những câu văn giàu hình tượng và biếu cảm: Những cảm giác trong sáng ấy là những kỉ niệm mơn man nao nức của buổi tựu trường ngày xưa không hề bị thời gian vùi lấp, trái lại, cứ mỗi dạ thu về, nó lại “nảy nở trong lòng” đem đến bao cảm xúc vui sướng, bổi hồi, tâm hồn như tươi trẻ lại, trong sáng hơn tựa như “mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bâu trời quang đãng”.

    Câu văn thứ hai có hình ảnh so sánh:

    “Tôi có ngay cái ý nghĩ vừa non nớt vừa ngây thơ này. Ý nghĩ ấy thoáng qua trong tâm trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngừng trên ngọn núi”.

    Buổi tựu trường, chú chỉ cầm hai quyển vở mới thế mà vẫn cảm thấy nặng “bàn tay ghì chặt” mà một quyển sách vẫn xệch vì chú quá hồi hộp. Mấy cậu học sinh khác ôm sách vở nhiều lại kèm cả bút thước nữa, trong lúc đó, mẹ chú lại cầm hộ bút thước cho chú. Cái ý nghĩ “chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước” được so sánh với “làn mây lướt ngang trên ngọn núi” đã làm nổi bật ý nghĩ non nớt và ngây thơ, trong sáng và hồn nhiên cùa nhân vật “tôi”.

    Câu văn thứ ba: “Trước mắt tôi trường Mĩ Lí trông vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hòa Áp”.

    Nhân vật “tôi” đã từng đi bẫy chim quyên, từng ghé lại trường một lần; lần ấy chú thấy trường “là một nơi xa lạ” “cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng”. Nhưng lần này trường Mĩ Lí đã trở thành trường của chú nên chú mới cảm thấy “xinh xắn”. Tâm trạng một học trò mới “lo sợ vẩn vơ” và bỡ ngỡ nên mới cảm thấy trường Mì Lí “oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp”. Hình ảnh so sánh này cũng thể hiện sự ngây thơ, hồn nhiên của nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường.

    Hình ảnh so sánh thứ tư là đặc sắc nhất. Tác giả đã lấy hình ảnh “con chim con đứng bên bở” so sánh với cậu học trò mới “bỡ ngỡ” nép bên người thân để làm nổi bật tâm lí của tuổi thơ trong buổi tựu trường vừa “ngập ngừng e sợ” vừa khao khát học hành, mơ ước bay tới những chân trời xa, chân trời ước mơ và hi vọng.

    Hơn 60 năm đã trôi qua, những so sánh mà Thanh Tịnh đã sử dụng vẫn không bị sáo mòn, trái lại hình tượng và cảm xúc của những so sánh ấy vẫn còn duyên dáng, nhã thú.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Kín Đáo Trong Chính Sách Bảo Hộ Thương Mại Của Mỹ
  • Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại Trong Các Hiệp Định Thương Mại Tự Do Và Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Việt Nam
  • Phòng Vệ Thương Mại Là Gì? Các Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại? So Sánh Các Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại Phổ Biến
  • So Sánh (Phân Biệt) Biện Pháp Ngăn Chặn Và Hình Phạt
  • Ngữ Văn 6 Bài 19 Hướng Dẫn Và Luyện Tập So Sánh
  • Hiểu Về Tác Dụng Của Biện Pháp So Sánh Trong Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Ngành Trinh Sát Cảnh Sát Thí Sinh Dự Thi Cần Nắm
  • Có Nên Luật Hóa Một Số Biện Pháp Trinh Sát Vào Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự ?
  • Nội Dung Của Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Trách Nhiệm Dân Sự Là Gì? Quy Định Về Trách Nhiệm Dân Sự Theo Bộ Luật Dân Sự 2021
  • #1 Trách Nhiệm Dân Sự Là Gì? Quy Định Về Tnds Theo Bộ Luật Dân Sự
  • Biện pháp nghệ thuật so sánh là việc đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    2. Tác dụng của biện pháp so sánh trong tiếng Việt

    • Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh là giúp cho các miêu tả sự vật, sự việc trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn và có sức sống hơn;
    • Nhờ vào các biện pháp so sánh mà tác giả dễ dàng thể hiện được tâm tư tình cảm sâu sắc của mình thông qua các sự vật, sự việc;
    • Biện pháp so sánh giúp tác giả đã đối chiếu giữa 2 sự vật, sự việc A và B nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, giúp câu văn, câu thơ mang tính biểu đạt nghệ thuật cao.

    Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh

    3. Cấu tạo của biện pháp so sánh trong tiếng Việt

    Trong biện pháp so sánh bao gồm 2 vế: về A và vế B. Trong đó:

    Vế A là sự vật, sự việc được so sánh.

    Vế B là sự vật, sự việc dùng để so sánh.

    Các từ được dùng để so sánh bao gồm: là, như, bao nhiêu, bấy nhiêu, chẳng khác gì, tựa như, gần như, kiểu như, bằng …

    “Quê hương là chùm khế ngọt”.

    “Người ta là hoa đất”.

    “Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo, khi đến trường cô giáo như mẹ hiền”.

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    “Tình yêu em như sóng biển chiều hôm”.

    “Mẹ như biển.

    Mẹ là mưa nắng bềnh bồng gió mây.

    Mẹ là ngọn lúa đặn đầy trong con”…

    Ví dụ cụ thể Bao nhiêu…. bấy nhiêu….

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”

    4. Các biện pháp so sánh trong tiếng Việt

    4.1 Phân loại theo mức độ:

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”.

    “Bà như quả đã chín rồi

    Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng”.

    So sánh không ngang bằng:

    “Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Đêm nay con ngủ giấc tròn

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”.

    “Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”.

    4.2 Phân loại theo đối tượng:

    “Lúc ở nhà, mẹ cũng là cô giáo

    Khi đến trường cô giáo như mẹ hiền”.

    “Cô giáo em hiền như cô Tấm”

    “Trẻ em như búp trên cành.

    Biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan”.

    “Anh đi bộ đội sao trên mũ

    Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

    Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

    Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm!”

    So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:

    “Trường Sơn: chí lớn ông cha

    Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào”.

    “Tình anh như nước dâng cao

    Tình em như tấm lụa đào tâm hương”.

    “Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

    “Lòng mẹ bao la như biển thái bình”.

    Bài viết trên đã liệt kê tác dụng của biện pháp so sánh và những ví dụ minh họa cụ thể. Hy vọng đã cung cấp những thông tin hữu cho bạn đọc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • So Sánh Là Gì? Có Mấy Kiểu So Sánh, Cho Ví Dụ Văn 6
  • 5 Cách Đưa Ra Lời Khuyên Bằng Tiếng Anh
  • Phân Biệt Problem, Trouble Và Issue
  • Chiến Lược Đạt ‘miễn Dịch Cộng Đồng’ Virus Corona Của Anh Nghĩa Là Gì?
  • Những Cách Đuổi Và Diệt Ruồi Đơn Giản Tại Nhà
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Liệt Kê Là Gì? Tác Dụng Của Liệt Kê
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 7
  • Số lượt đọc bài viết: 44.470

    Mục đích của biện pháp so sánh là gì? So sánh giúp làm nổi bật một khía cạnh nào đó của sự vật và sự việc, qua đó nhấn mạnh đến ý tưởng và mục đích của người nói, người viết.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh

    Phân tích ví dụ: Đôi mắt trong vắt như nước mùa thu

    Dựa vào ví dụ trên có thể thấy rằng, cấu tạo của một câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh bao gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh là gì? Đặc điểm của biện pháp so sánh như nào? – Để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    Các kiểu so sánh thường gặp

    Ví dụ: Ngôi nhà to lớn như một tòa lâu đài

    Mái tóc như chổi lông gà

    Cảnh bình minh tựa như như bức tranh mùa xuân

    Ví dụ: Đứa trẻ tươi tắn như một nụ hoa chớm nở

    Mẹ em như là một bảo bối thần kỳ

    Cậu thanh niên giống như một ngọn núi sừng sững

    Thân em như tấm lụa đào

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát

    Cánh đồng lúa vàng ươm như một dải lụa

    Các ngón tay tròn đầy như là nải chuối

    Ví dụ: Tiếng chim trong như tiếng sáo

    Tiếng hát thánh thót như tiếng họa mi

    Tiếng trống dồn vang như tiếng sấm

    Ví dụ: Điệu múa của vũ công tựa như một con thiên nga đang xòe cánh

    Con sóc chạy nhanh như bay

    Các hình thức trong biện pháp so sánh

    Từ định nghĩa biện pháp so sánh là gì, dấu hiệu của so sánh và các kiểu so sánh, chúng ta cũng cần nắm được các hình thức được sử dụng trong biện pháp so sánh. Dựa theo mức độ so sánh, có thể phân thành:

    • So sánh ngang bằng: thường chứa các từ: như, giống như, tựa như. Ví dụ: Môi đỏ như son, da trắng như tuyết, tóc đen như gỗ mun; Lông con mèo giống như một cục bông gòn trắng xóa.
    • So sánh không ngang bằng: không bằng, chẳng bằng, hơn… Ví dụ: “Những ngôi sao thức ngoài kia/Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”

    Dựa vào đối tượng so sánh, có thể phân thành:

    • So sánh giữa các đối tượng cùng loại: Ví dụ: Cô giáo em như là người mẹ
    • So sánh giữa các đối tượng khác loại: Ví dụ: Lông con mèo như một cục bông gòn
    • So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng: Ví dụ: Thân em như quả ấu gai
    • So sánh cái trừu tượng với cái cụ thể: Ví dụ: Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 24 Câu 1: SGK lớp 6 tập 2 trang 25 Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Luyện tập về biện pháp so sánh

    Câu 1 + 2 SGK lớp 6 tập 2 trang 24:

      a) Hình ảnh so sánh được thể hiện qua:
      b) Sự vật được so sánh:
      c) Giữa các sự vật so sánh có nét giống nhau:
      d) Tác dụng của biện pháp so sánh: làm nổi bật cái được nói đến, làm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt

    • Khoẻ như voi, khỏe như hổ
    • Đen như mực, đen như cột nhà cháy
    • Trắng như bông, trắng như tuyết
    • Cao như núi, cao như cây sào

    Câu 3: SGK lớp 6 tập 2 trang 25: Tìm câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh:

    Trong bài “Bài học đường đời đầu tiên”

    • Những ngọn cỏ…., y như có nhát dao vừa lia qua
    • Hai cái răng ….. như hai lưỡi liềm máy làm việc.
    • Cái chàng Dế Choắt….. như một gã nghiện thuốc phiện.
    • Đã thanh niên rồi …… như người cởi trần mặc áo ghi-lê.
    • Đến khi định thần lại……., như sắp đánh nhau.
    • Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

    Trong bài “Sông nước Cà Mau”

    • Càng đổ dần …….như mạng nhện.
    • … ở đó tụ tập …..như những đám mây nhỏ.
    • … cá nước bơi hàng đàn ….. như người bơi ếch .
    • … trông hai bên bờ, rừng đước …. như hai dãy trường thành vô tận
    • Những ngôi nhà ……như những khu phố nổi.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu
  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp Tu Từ So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3
  • Nhằm củng cố, mở rộng, bổ sung thêm kiến thức cho các em học sinh, chúng tôi sưu tầm gửi tới các em Biện pháp tu từ so sánh – Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6 . Chúc các em học tốt!

    Biện pháp tu từ so sánh

    Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6

    I. – NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG 1. Thế nào là so sánh ?

    So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sực gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Ví dụ :

    – Thuyền xuôi dưới dòng con sông rộng lớn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

    (Đoàn Giỏi)

    Trong như tiếng hạc bay qua,

    Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

    (Nguyễn Du)

    – Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

    (Tô Hoài)

    2. Cấu tạo của phép so sánh

    So sánh là cách công khai đối chiếu các sự vật với nhau, qua đó nhận thức, được sự vật một cách dễ dàng, cụ thể hơn. Vì vậy, một phép so sánh thông thường gồm bốn yếu tố :

    – Vế A : Đối tượng (sự vật) được so sánh.

    – Bộ phận hay đặc điểm so sánh (phương diện so sánh).

    – Từ so sánh.

    – Vế B : Sự vật làm chuẩn so sánh.

    Ta có sơ đồ sau đây :

    Khi ta nói : Cô gái đẹp như hoa là so sánh. Còn khi nói : Hoa tàn mà lại thêm tươi (Nguyễn Du) thì hoa ở đây là ẩn dụ.

    + Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt. Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi là so sánh chìm vì phương diện so sánh (còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra do đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiều hơn.

    + Yếu tố (3) có thể là các từ như : giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu… bấy nhiêu, hơn, kém,… Mỗi yếu tố đảm nhận một sắc thái biểu cảm khác nhau

    – Như có sắc thái giả định.

    – Là có sắc thái khẳng định.

    -Tựa thể hiện nlức độ chưa hoàn hảo,…

    + Trật tự của phép so sánh có khi được thay đổi. Ví dụ :

    Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng của hai miền.

    (Tế Hanh)

    3. Các kiểu so sánh

    Dựa vào mục đích và các từ so sánh, người ta chia phép so sánh thành hai kiểu :

    a) So sánh ngang bằng

    Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các từ so sánh sau đây : là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu… bấy nhiêu.

    Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể, sinh động. Vì thế, phép so sánh thường mang tính chất cường điệu.

    Ví dụ : Cao như núi, dài như sông

    (Tố Hữu)

    b) So sánh hơn kém

    Trọng phép so sánh hơn kém, từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì.

    Ví dụ : Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

    (Tục ngữ)

    Muốn chuyển so sánh hơn, kém sang so sánh ngang bằng, người ta thêm một trong các từ phủ định : không, chưa, chẳng vào trong câu và ngược lại.

    Ví dụ : – Bóng đá quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.

    – Bóng đá quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học..

    4. Tác dụng của so sánh

    + So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả. *

    Ví dụ : Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    (Ca dao)

    + So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc, gợi trí tưởng tượng bay bổng. Vì thế trong thơ của thiếu nhi, các em đã thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.

    Ví dụ : Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

    (Trần Đăng Khoa)

    Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (2) và yếu tố (3) bị lược bỏ. Người đọc, người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm pho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

    II. – BÀI TẬP 1.

    Tìm phép so sánh trong đoạn trích sau đây, nêu rõ tác dụng của phép so sánh đó :

    “Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”.

    (Đoàn Giỏi)

    2. Trong câu ca dao :

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

    a) Từ bổi hoi bồi hồi là từ láy có gì đặc biệt ?

    b) Giải nghĩa từ láy bổi hổi bồi hồi.

    c) Phân tích cái hay của câu ca dao do phép so sánh đem lại.

    3. Trong bài Vượt thác có nhiều phép so sánh được thể hiện.

    a) Em hãy xác định những phép so sánh đó.

    b) Phép so sánh nào độc đáo nhất ? Vì sao ?

    4. Em hãy viết một đoạn văn tả cảnh sông nước hay núi non, làng xóm ở quê em trong đó có sử dụng từ hai phép so sánh trở lên.

    5. Em hãy kể càng nhiều càng tốt những thành ngữ có sử dụng phép so sánh mà từ chỉ phương diện so sánh là từ láy.

    6. Nói về thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ viết: Trẻ em như.búp trên cành.

    a) Phép so sánh này bị lược yếu tố nào ?

    b) Yếu tố bị lược có thể được thay bằng những từ ngữ nào trong các từ ngữ sau đây : tươi non, quyến rũ, đầy hứa hẹn, đấng trân trọng, chứa chan hi vọng, đầy sức sống, yếu ớt đáng thương, nhỏ nhắn, chưa đáng chú ỷ.

    7. Em hãy tìm khoảng mười phép so sánh trong ca dao và thơ, trong đó vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

    Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ tơ trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông

    Chí ta lớn như biển Đông trước mặt

    – Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng.

    – Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng.

    10. Trong bài Lượm của Tố Hữu có đoạn :

    Chú bé loắt choắt Cái xắc xỉnh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng…

    a) Phép so sánh ở đoạn thơ trên độc đáo ở chỗ nào ? Em hãy phân tích cái hay của phép so sánh đó.

    b) Các từ láy trong đoạn thơ thuộc từ loại nào ? Có tác dụng gì ?

    11. Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:

    Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau.

    (Ca dao)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa
  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh
  • Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • – So sánh là sự đối chiếu hai đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm làm rõ đặc điểm của một trong hai đối tượng đó.

    – Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, đồ vật, cây cối,… bằng những từ ngữ vốn đê gọi và tả con người.

    Bài tập 1. Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong mỗi câu sau :

    a) Trên cao nhìn xuống, dòng sông như một tấm gương sáng loá.

    b) Trông xa, đồng cỏ giống như một tấm thảm nhung xanh ngắt.

    c) Dòng suối uốn lượn như một dải lụa mềm mại.

    d) Hoa phượng nở đỏ rực như một quầng lửa trên phố.

    Bài tập 2. Trong các câu sau đây, những sự vật nào được so sánh với nhau ? Giữa chúng có điểm gì giống nhau ?

    a) Cái trống to như một chiếc vại lớn, đặt sừng sững trên một cái giá cao.

    b) Tiếng đàn tơ-rưng khi trầm hùng như tiếng thác đổ, khi thánh thót, róc rách như suối reo.

    c) Đối với tuổi trẻ Tây Nguyên, nhà Rông như cái tổ chim êm ấm.

    d) Ngọn cau xoè ra như chiếc ô để ngược, còn nõn cau như mũi kiếm đâm vút lên trời.

    Bài tập 3. Trong mỗi câu sau đây, những sự vật nào được nhân hoá ? Chúng được nhân hoá bằng cách nào ? Hãy nêu tác dụng của biện pháp nhân hoá trong các câu văn.

    a) Con đê quê tôi đã phơi mình ra cần cù hàng ngàn năm mà không hề mệt mỏi.

    b) Cỏ may sao lưu luyến bước chân người như vậy ? Hẳn là cỏ may đứng mãi ở chân đê nên muốn theo người về nhà sưởi ấm, ăn bắp ngô non nướng thơm lừng quanh bếp hay một nồi rang hạt dẻ bùi.

    c) Xưa, dân tộc Mông vốn sống du cư và khèn chính là người bạn làm vui cho cảnh đời rong ruổi.

    – Câu nào sử dụng biện pháp so sánh ?

    – Câu nào sử dụng biện pháp nhân hoá ?

    – Câu nào sử dụng cả 2 biện pháp so sánh và nhân hoá ?

    a) Quả sim giống hệt một con trâu mộng tí hon, béo tròn múp míp, còn nguyên cả lông tơ, chỉ thiếu chiếc khoáy.

    b) Như một bà mẹ thương con, cây nhãn dồn tất cả sữa ngọt sữa ngon của mình lên các chùm quả.

    c) Những quá nhãn no đầy sữa mẹ ngày lại ngày dầm mưa hè, phơi nắng hè đã chín ngọt lự.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Kinh Nghiệm Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3
  • Skkn Dạy Biện Pháp So Sánh Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Bệnh Hại
  • Ưu, Nhược Điểm Của 5 Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Bệnh Hại
  • Biện Pháp Phòng Trừ Sâu, Bệnh Hại Rau
  • Công Nghệ 7 Bài 13: Phòng Trừ Sâu, Bệnh Hại
  • Giải Bài Tập Sinh Học 12
  • MỘT VÀI KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC

    BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH Ở LỚP 3

    PHẦN MỘT: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    I. Cơ sở lý luận

    Với phương châm coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, tại đại hội Đảng lần thứ IX một lần nữa nhấn mạnh: “…Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá – hiện đại hoá – xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh… đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn”.

    Mục tiêu của cấp Tiểu học là giáo dục phổ cập cho trẻ em từ 6 đến 11 – 12 tuổi phát triển toàn diện về trí tuệ, tình cảm và sức khoẻ. Chính vì vậy mỗi môn học trong trường Tiểu học đều có một mục tiêu riêng và chính những mục tiêu riêng ấy hợp lại thành mục tiêu chung của cấp học.

    Trước những yêu cầu thực tế đó, chất lượng dạy học trong mỗi nhà trường tiểu học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiện bằng chất lượng toàn diện của các môn học: Toán, Tiếng Việt, Thể dục,

    Môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm rèn cho học sinh 4 kỹ năng: “Nghe – nói- đọc – viết” là một môn học gồm nhiều phân môn. Ở mỗi phân môn cụ thể có nội dung phương pháp cách thức dạy học khác nhau nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau theo một lôgíc nhất định. Những kỹ năng của phân môn này hỗ trợ cho phân môn khác nhằm đạt mục tiêu của môn Tiếng Việt.

    Phân môn luyện từ và câu lớp 3 nhằm mở rộng vốn từ theo chủ điểm, củng cố hiểu biết về các kiểu câu và thành phần câu đã học ở lớp 2. Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về các phép tu từ so sánh và nhân hoá thông qua các bài tập thực hành.

    Việc nhận biết biện pháp tu từ so sánh và bước đầu sử dụng vào việc dùng từ đặt câu là một trong những nội dung yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3. Cơ sở ban đầu của việc dạy biện pháp tu từ so sánh được bắt đầu từ việc: tìm các từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm của sự vật trong câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ; tìm những sự vật hay hoạt động, đặc điểm của sự vật được so sánh với nhau. Từ đó học sinh nhận biết được hình ảnh so sánh, dấu hiệu của sự so sánh và các kiểu so sánh.

    Thông qua các bài tập thực hành, học sinh sẽ nhận biết được: hình ảnh so sánh; các kiểu so sánh; các sự vật hay các đặc điểm, âm thanh, hoạt động của sự vật được so sánh với nhau; các từ chỉ sự so sánh (dấu hiệu so sánh). Từ đó giúp các em vận dụng vào việc nói, viết để đặt câu có hình ảnh so sánh; viết tiếp vào chỗ trống để tạo thành hình ảnh so sánh; chỉ ra được các hình ảnh so sánh mình thích và giải thích đơn giản vì sao mình thích hình ảnh đó. Đây chính là cơ sở ban đầu, là công cụ để giúp các em viết văn miêu tả, kể chuyện… và học tiếp lên các lớp trên.

    II. Cơ sở thực tiễn.

    Thông qua quá trình dạy học, qua dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn ở trường, ở huyện; đặc biệt là qua việc chấm các bài kiểm tra định kỳ của học sinh, tôi thấy:

    * Về phía giáo viên:

    – Việc nắm nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, mức độ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cũng như kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên còn hạn chế. Một số giáo viên qua quá trình dạy chưa thực sự lấy học sinh làm trung tâm, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh dẫn đến chất lượng giảng dạy của thầy và việc tiếp thu bài của trò chưa cao.

    – Bên cạnh đó khi giảng dạy giáo viên chưa gây hứng thú học tập cho học sinh đối với tiết học. Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, tẻ nhạt, dạy học một cách máy móc khuôn mẫu, sáo mòn. Khi dạy học trên lớp nhiều giáo viên chủ yếu dựa vào sách giáo viên mà không có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy.

    – Mặt khác do sự thiếu thốn về cơ sở vật chất cũng như phương tiện dạy học khiến giáo viên chưa có điều kiện để đa dạng hoá các phương pháp dạy học.

    * Về phía học sinh:

    – Bản thân các em chưa có niềm say mê, hứng thú với môn học.

    – Trong dạng bài tập

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3 Trong Môn Luyện Từ Và Câu
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 3: So Sánh
  • Giải Sbt Công Nghệ 7 Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất Bien Pham Su Dung Cai Ao Va Bao Ve Dat Ppt
  • Biện Pháp Cải Tạo Và Sử Dụng Đất Phèn Bai 10Bien Phap Cai Tao Va Su Dung Dat Phen Ppt
  • Phương Pháp So Sánh Trong Luật So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Luật So Sánh
  • Lớp Trung Cấp Chính Trị Tc71
  • Giới Thiệu Phòng Vật Tư Thiết Bị Y Tế
  • Phòng Vật Tư Thiết Bị Y Tế
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Y Tế Thành Phố Hưng Yên
  • Nói cách khác, khi muốn tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt của hai hộ thống pháp luật thuần túy, người nghiên cửu không thể không dựa vào những tương đồng và khác biệt giữa các chế định, các quy phạm pháp luật của các hệ thống pháp luật đỏ và ngược lại, để tìm hiểu sự khác biệt trong nội dung của chế định nào đó ở các hệ thống pháp luật khác nhau, người nghiên cứu cũng không thể không xác định sự khác biệt về cách thức giải thích các quy định của pháp luật ở các hệ thống pháp luật hoặc tầm quan trọng cũng như vị trí của chế định pháp luật đó ở các hệ thống pháp luật này.

    Những nguyên lí của phương pháp so sánh trong luật so sánh hoàn toàn không vượt ra ngoài nguyên lí chung của phương pháp so sánh được sử dụng trong các lĩnh vực khoa học nói chung. Mặc dù các sự vật và hiện tượng đều có thể so sánh được với nhau nhưng việc so sánh chi thực sự có ý nghĩa khi các đối tượng so sánh (yếu tố so sánh và yếu tố được so sánh) có những điểm chung nhất định. Điểm chung này được các nhà nghiên cứu so sánh gọi là yếu tố thứ ba của việc so sánh bên cạnh yếu tố so sánh và yếu tố được so sánh. Yếu tố thứ ba này được xem là mẫu số so sánh chung.

    Việc tìm kiếm mẫu số so sánh chung này vẫn luôn là vấn đề được bàn luận khi sử dụng phương pháp so sánh trong các lĩnhvực khoa học khác nhau bao gồm cả lĩnh vực luật so sánh. Các nhả nghiên cứu luật so sánh cho rằng khả năng so sánh của các quy phạm pháp luật hay các chế định pháp luật tương đương vó nhân tô thứ ba của việc so sánh bởi vi khả năng so sánh của cá quy phạm hay các chế định pháp luật ở các hệ thống pháp luật khác nhau phụ thuộc vào sự tồn tại của mẫu số so sánh chung- nhân tố làm cho việc so sánh các hiện tượng pháp lí có ý nghĩa.

    Vậy, nhân tố nào là mẫu số so sánh của các đối tượng so sánh trong luật so sánh? Nói cách khác, những hệ thống pháp luật nào; những chế định hay quy phạm pháp luật nào trong các hệ thống pháp luật khác nhau có thể được so sánh với nhau?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Thức Pháp Luật Và Pháp Chế
  • Ý Thức Pháp Luật Của Người Dân Việt Nam
  • Một Số Đặc Điểm Trong Ý Thức Pháp Luật Của Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Cơ Sở Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Chức Năng Của Pháp Luật Và Các Kiểu Pháp Luật Trong Lịch Sử
  • Câu Hỏi Ôn Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật (Có Đáp Án)
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh – Định Nghĩa Mọi Thứ.

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề : Biện Pháp So Sánh – Lớp 3
  • Phòng Trừ Sâu Bệnh Bằng Biện Pháp Sinh Học • Tin Cậy 2021
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 11 Tiết 5: Đọc Văn Tự Tình Ii
  • Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2
  • Đề Đọc Hiểu Và Nghị Luận Xã Hội Về Bài Thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương
  • Biện pháp so sánh là gì?

    So sánh là biện pháp tu từ được sử dụng nhằm đối chiếu các sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng sức gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt.

    Mục đích của biện pháp so sánh là gì? So sánh giúp làm nổi bật một khía cạnh nào đó của sự vật và sự việc, qua đó nhấn mạnh đến ý tưởng và mục đích của người nói, người viết.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh

    Phân tích ví dụ: Đôi mắt trong vắt như nước mùa thu

    Dựa vào ví dụ trên có thể thấy rằng, cấu tạo của một câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh bao gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh là gì? Đặc điểm của biện pháp so sánh như nào? –  Để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    Các kiểu so sánh thường gặp

    So sánh sự vật với sự vật

    Ví dụ: Ngôi nhà to lớn như một tòa lâu đài

    Mái tóc như chổi lông gà

    Cảnh bình minh tựa như như bức tranh mùa xuân

    Sự vật 1 (sự vật được so sánh)

    Từ so sánh

    Sự vật 2 (sự vật để so sánh)

    Ngôi nhà

    như

    Tòa lâu đài

    Mái tóc

    như

    Chổi lông gà

    Cảnh bình minh

    Tự như

    Bức tranh mùa xuân

    So sánh sự vật với con người

    Ví dụ: Đứa trẻ tươi tắn như một nụ hoa chớm nở

    Mẹ em như là một bảo bối thần kỳ

    Cậu thanh niên giống như một ngọn núi sừng sững

    Thân em như tấm lụa đào

    Đối tượng 1

    Từ so sánh

    Đối tượng 2

    Đứa trẻ (con người)

    như

    Nụ hoa chớm nở (sự vật)

    Mẹ em (con người)

    Như là

    Bảo bối thần kỳ (sự vật)

    Cậu thanh niên (con người)

    Giống như

    Ngọn núi sừng sững (sự vật)

    Thân em (con người)

    như

    Tấm lụa đào

    So sánh đặc điểm của 2 sự vật

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát

    Cánh đồng lúa vàng ươm như một dải lụa

    Các ngón tay tròn đầy như là nải chuối

    Sự vật 1

    Đặc điểm so sánh

    Từ so sánh

    Sự vật 2

    Tiếng suối

    trong

    như

    Tiếng hát

    Cánh đồng lúa

    Vàng ươm

    như

    dải lụa

    Các ngón tay

    Tròn đầy

    Như là

    Nải chuối

    So sánh âm thanh với âm thanh

    Ví dụ: Tiếng chim trong như tiếng sáo

    Tiếng hát thánh thót như tiếng họa mi

    Tiếng trống dồn vang như tiếng sấm

    Âm thanh 1

    Từ so sánh

    Âm thanh 2

    Tiếng chim

    như

    Tiếng sáo

    Tiếng hát

    như

    Tiếng họa mi

    Tiếng trống

    như

    tiếng sấm

    So sánh hoạt động với hoạt động

    Ví dụ: Điệu múa của vũ công tựa như một con thiên nga đang xòe cánh

    Con sóc chạy nhanh như bay

    Sự vật/ con người 1

    Hoạt động 1

    Từ so sánh

    Hoạt động 2

    Sự vật 2

    Vũ công

    Điệu múa

    Tựa như

    Xòe (cánh)

    Con thiên nga

    Con sóc

    Chạy

    như

    bay

    Các hình thức trong biện pháp so sánh

    Từ định nghĩa biện pháp so sánh là gì, dấu hiệu của so sánh và các kiểu so sánh, chúng ta cũng cần nắm được các hình thức được sử dụng trong biện pháp so sánh. Dựa theo mức độ so sánh, có thể phân thành:

    Dựa vào đối tượng so sánh, có thể phân thành:

    Luyện tập về biện pháp so sánh

    Câu 1 + 2 SGK lớp 6 tập 2 trang 24:

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 24

    a)

    Vế A (cái được so sánh)

    Phương diện so sánh

    Từ so sánh

    Vế B (cái để so sánh)

    Trẻ em

    như

    Búp trên cành

    Rừng đước

    Dựng lên cao ngất

    như

    Dãy tường thành vô tận

    b)

    Vế A (cái được so sánh)

    Phương diện so sánh

    Từ so sánh

    Vế B (cái để so sánh)

    Chí lớn cha ông

    Trường Sơn

    Lòng mẹ

    Bao la sóng trào

    Cửu Long

    Con người

    Không chịu khuất

    như

    Tre mọc thẳng

    Câu 1: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Câu 3: SGK lớp 6 tập 2 trang 25: Tìm câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh:

    Trong bài “Bài học đường đời đầu tiên”

    Trong bài “Sông nước Cà Mau”

    (Nguồn: www.youtube.com)

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rèn Nề Nếp Đầu Năm Cho Học Sinh Lớp 1
  • Trường Trung Học Phổ Thông Đông Đô
  • Kỷ Luật Tích Cực Trong Nhà Trường Là Yếu Tố Quan Trọng Chống Lại Bạo Lực Học Đường
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp Một
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Đẹp Cho Học Sinh Lớp 1
  • Chuyên Đề : Biện Pháp So Sánh – Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Trừ Sâu Bệnh Bằng Biện Pháp Sinh Học • Tin Cậy 2021
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 11 Tiết 5: Đọc Văn Tự Tình Ii
  • Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2
  • Đề Đọc Hiểu Và Nghị Luận Xã Hội Về Bài Thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương
  • Uống Rượu Không Say
  • I. Khái niệm.

    Biện pháp so sánh là biện pháp tu từ ngữ nghĩa nhằm đối chiếu hai hay nhiều đối

    tượng khác loại nhau nhưng giống nhau ở một điểm nào đó ( chứ không đồng nhất

    hoàn toàn ) để đem đến một cách tri giác mới mẻ về đối tượng.

    II.Tác dụng.

    Biện pháp so sánh nhằm làm nổi bật khía cạnh nào đó của sự vật, sự việc.

    III. Cấu  tạo: Gồm có 2 vế :

    – Vế được so sánh và vế để so sánh.

    – Giữa  2 vế thường có từ so sánh : như , là, như là, tựa như, chẳng bằng, hơn,

    kém, dấu gạch ngang ( – ), …

    IV.  Dấu hiệu.

    -   Qua từ so sánh : là, như , giống, như là.. ,

    -    Qua nội dung : 2 đối tượng có nét tương đồng được so sánh với nhau.

    V. Các phép so sánh được học ở lớp 3

    1. So sánh sự vật với sự vật.

    Ví dụ:

     Sự vật 1

    ( Sự vật được so sánh)

    Từ so sánh Sự vật 2

    ( Sự vật để so sánh)

     Hai bàn tay em như Hoa đầu cành

    Cánh diều như Dấu “ á”

    Hai tai mèo như Hai hình tam giác nhỏ

    2. So sánh sự vật với con người.

    Ví dụ:

    Đối tượng 1 Từ so sánh Đối tượng 2

    Trẻ em (con người) như Búp trên cành ( svật)

    Ngôi nhà (sự vật) như Trẻ nhỏ ( người )

    Bà (người) như Quả ngọt ( svật)

    3. So sánh đặc điểm của 2 sự vật.

    2

    Ví dụ:

    Sự vật 1          Đặc điểm so sánh Từ so sánh          Sự vật 2

    Tiếng suối           trong như Tiếng hát

    Giọt nước cam           vàng như Mật ong

    4. So sánh âm thanh với âm thanh.

    Ví dụ:

    Âm thanh 1 Từ so sánh          Âm thanh 2

    Tiếng suối                 như Tiếng hát xa

    Tiếng chim                     như   Tiếng xóc những rổ tiền đồng

    5. So sánh hoạt động với hoạt động.

    Ví dụ:

    Sự vật       Hoạt động 1 Từ so sánh Hoạt động 2

    Lá cọ        xoè như Tay ( vẫy)

    Con trâu đen Chân đi như Đập đất

    VI. Các kiểu so sánh.

    1.     So sánh ngang bằng : như, tựa như, là, chẳng khác gì….Ví dụ: Làm mà không

    có lí luận chẳng khác gì đi mò trong đêm tối

    2.     So sánh hơn kém: chẳng bằng, hơn…

    VII. Sự khác nhau giữa hình ảnh so sánh và sự vật so sánh.

    -         Hình ảnh so sánh: là phải nêu đầy đủ “ Sự vật được so sánh + từ so sánh +

    sự vật để so sánh”       Ví dụ : Trẻ em như búp trên cành.

    -         Sự vật  được so sánh: Trẻ em

              Từ so sánh: như

             Sự vật để so sánh:  búp trên cành.

    ·        Lưu ý: khi dùng từ so sánh “là” nó có ý nghĩa và giá trị tương đương từ so

    sánh “như”  nhưng có sắc thái ý nghĩa khác. “như” có ý nghĩa sắc thái giả định,

    còn từ “là” có sắc thái khẳng định.

    VD: -  Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng (sắc thái giả định )

                      – Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng ( sắc thái khẳng định )

     VIII. Các dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và

    câu ở lớp 3

    3

    1. Bài tập nhận diện phép tu từ so sánh

    Ở loại bài tập này, hình thức bài tập thường là nêu ngữ liệu (câu văn, câu thơ; đoạn

    văn, đoạn thơ) trong đó, có sử dụng phép tu từ so sánh; yêu cầu học sinh chỉ ra các

    hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh, các vế so sánh, các từ so sánh, các đặc

    trong loại bài tập nhận biết.

     Dạng 1: Tìm những sự vật được so sánh

    Đây là dạng bài tập giúp học sinh bước đầu nắm được cấu trúc của phép so sánh.

    Với yêu cầu tìm những sự vật được so sánh với nhau các em sẽ tìm ra “cái so sánh”

    và “cái được so sánh” trong phép so sánh. Đây là những sự vật tồn tại xung quanh

    các em, gần gũi và quen thuộc đối với cuộc sống của các em, giúp các em dễ dàng

    liên tưởng đến sự tương đồng giữa chúng

    Ơ, cái dấu hỏi

    Trông ngồ ngộ ghê,

    Như vành tai nhỏ

    Hỏi rồi lắng nghe

    (TV3, t.1, tr.8)

    Dạng 2: Tìm những hình ảnh so sánh:

    Dạng bài tập này không chỉ yêu cầu học sinh tìm những sự vật được so sánh với

    nhau một cách riêng lẻ mà còn phải tìm cả hình ảnh so sánh. Tức là, các em phải

    tìm cả cấu trúc có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ của  phép  so sánh. Những hình

    ảnh so sánh này sẽ đem lại cho các em những cảm xúc tốt đẹp, những cách nhìn

    mới mẻ về sự vật, về cuộc sống xung quanh.

    Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

    (TV3, t.1, tr.24)

    4

    Dạng 3: Tìm các từ so sánh

    Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta thường dùng từ như khi muốn so sánh một

    thứ gì đó. Chẳng hạn đẹp như tiên, xấu như ma, hiền như bụt… Tuy nhiên, trong

    phép tu từ so sánh có rất nhiều những từ dùng để so sánh như: là tựa, giống, như

    thể, như là,… Để  giúp các em nhận ra được sự phong phú, đa dạng cũng như sự

    tinh tế của so sánh tu từ, sách giáo khoa đã cung cấp cho các em dạng bài tập tìm

    các từ so sánh.

    Ví dụ: Hãy ghi lại các từ chỉ sự so sánh trong những câu sau

    a.                Mắt hiền sáng tựa vì sao

    Bác nhìn đến tận Cà mau cuối trời         

    b.                Em yêu nhà em

    Hàng xoan trước ngõ

    Hoa xao xuyến nở

    Như mây từng chùm

    c.                 Mùa đông

                        Trời là cái tủ ướp lạnh

                        Mùa hè

    Trời là cái bếp lò nung

                                                                       (TV3, t.1, t.43)

    2.  Bài tập vận dụng phép tu từ so sánh

             Dạng này có 2 loại bài tập nhỏ. Đó là, tập nhận biết tác dụng của phép tu từ

    so sánh và tập đặt câu có dùng phép so sánh. Ở loại thứ nhất, chương trình không

    yêu cầu cụ thể học sinh phải chỉ ra tác dụng của phép so sánh mà học sinh phải

    cảm nhận được cái hay của hình ảnh so sánh và diễn đạt cảm nhận ấy thành lời. Ở

    loại thứ hai, sách giáo khoa đã cung cấp sẵn nội dung so sánh qua các tranh vẽ

    từng cặp sự vật có đặc điểm giống nhau (hoặc gần giống nhau) về hình thức, học

    sinh chỉ cần xác định đối tượng so sánh và đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh

    5

    ở từng cặp. Cũng loại bài tập này còn có dạng bài điền từ thích hợp vào chỗ trống,

    bài tập cho trước cái so sánh yêu cầu học sinh tìm ra cái để làm chuẩn so sánh. Cái

    khó là các em phải tìm được những hình ảnh so sánh hợp lí và sinh động.

    * Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh

    Để nhận biết được tác dụng của phép so sánh, bài tập đã mở ra cho học sinh một

    hướng tiếp nhận mới đó là tự mình đưa ra những đánh giá, những nhận xét của

    riêng mình dưới dạng như phát biểu cảm nghĩ. Chính vì mọi so sánh đều mang

    đậm dấu ấn cá nhân của người so sánh nên mỗi học sinh sẽ có một cách cảm thụ

    của riêng mình.

    Ví dụ: Trong những hình ảnh so sánh ở bài tập, em thích hình ảnh nào? Vì sao?

    a.                Hai bàn tay em

                       Như hoa đầu cành.

    b. Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.

    c.                 Cánh diều như dấu “á

                        Ai vừa tung lên trời

    d.                Ơ, cái dấu hỏi

                       Trông ngồ ngộ ghê,

                        Như vành tai nhỏ

                        Hỏi rồi lắng nghe.

                                                                       (TV3, t.1, tr.8)

    Đây cũng là loại bài tập kích thích sự tưởng tượng, khả năng liên tưởng của các

    em, tạo cơ hội cho các em hoá thân vào phép so sánh để cảm nhận được cái hay,

    cái đẹp của phép so sánh.

    Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau:

    Đã có ai lắng nghe

    6

    Tiếng mưa trong rừng cọ

    Như tiếng thác dội về

    Như ào ào trận gió

    Qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng mưa trong rừng cọ ra sao?

    (TV3, t.1, tr.80)

    * Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh

    Đây là yêu cầu cao nhất mà các em phải thực hiện khi học phép so sánh. Với

    những kiến thức đã được học, cộng với sự tri giác qua các bức tranh học sinh sẽ

    tìm được sự giống nhau giữa các sự vật trong tranh từ đó viết ra những câu có hình

    ảnh so sánh. Hoặc từ những cấu trúc cho trước, học sinh sẽ tìm những từ phù hợp

    điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh thành câu

    so sánh các sự vật trong tranh…

    (TV3, t.1, tr.126)

    Ví dụ 2: Tìm những từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống:

    a.       Công cha nghĩa mẹ được so sánh như… , như…

    b.        Trời mưa, đường đất sét trơn như…

    c.       Ở  thành phố có nhiều toà nhà cao như…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh – Định Nghĩa Mọi Thứ.
  • Rèn Nề Nếp Đầu Năm Cho Học Sinh Lớp 1
  • Trường Trung Học Phổ Thông Đông Đô
  • Kỷ Luật Tích Cực Trong Nhà Trường Là Yếu Tố Quan Trọng Chống Lại Bạo Lực Học Đường
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp Một
  • De Tai ” Biện Pháp Tu Từ So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khóa Học Biện Pháp Thi Công Miễn Phí Với Lương Trainer
  • Biện Pháp Thi Công Các Công Trình Xây Dựng
  • Tổng Hợp Tài Liệu, Bản Vẽ Mẫu Về Biện Pháp Thi Công
  • Biện Pháp Thi Công Là Gì? 5 Bước Trình Tự Thi Công Công Trình
  • Hướng Dẫn Uống Thuốc Tránh Thai Hằng Ngày Đúng Cách
  • Tên đề tài

    Phuong phỏp d?y h?c “Bi?n phỏp tu t? so sỏnh” cho h?c sinh l?p 6 theo hu?ng tớch h?p v tớch c?c.

    Các biện pháp tu từ nói chung và tu từ so sánh nói riêng là một nội dung tri thức chuyên sâu mang tính chất sáng tạo, phục vụ trực tiếp và đắc lực cho việc học văn. Văn học là nghệ thuật ngôn từ, văn là học sự phát hiện và rung cảm với cái hay, cái đẹp của hình tượng nghệ thuật. Sự phát hiện và rung cảm này bắt đầu bằng ngôn từ và thông qua ngôn từ. Do đó văn học và Tiếng Việt có mối quan hệ khăng khít với nhau. Dạy Tiếng Việt vừa để làm công cụ tư duy giao tiếp vừa cung cấp tri thức chuyên sâu trong lĩnh vực ngôn ngữ phục vụ cho việc cảm thụ, lý giải và bình giá đúng đắn, tinh tế, sâu sắc các giá trị nghệ thuật.

    Qua đó, học sinh học Tiếng Việt được vững chắc hơn và hiệu quả hơn khi học văn. Đúng như lời khẳng định của GS-TS. Lê A trong cuốn “phương pháp dạy học Tiếng Việt” – NXB GD-2001-trang 10: “kết hợp hài hoà giữa dạy văn và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao cho hai môn Văn và Tiếng Việt”.

    Trên tinh thần này, tổ chức dạy tốt biện pháp tu từ so sánh sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn chương và năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách sinh động, giàu hình ảnh trong giao tiếp cho học sinh.

    Xuất phát từ lí do trên tôi xin mạnh dạn trình bày một vài ý kiến xem như là ý kiến của bản thân đã trải qua thực nghiệm giảng dạy về dạy học biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 6 theo hướng tích hợp và tích cực. Mong góp phần bé nhhỏ của mình vào việc đổi mới PPDH Ngữ văn nói chung và dạy học phần tu từ về từ nói riêng theo hướng tích hợp và tích cực trong nhà trường phổ thông đầu thế kỉ XXI khi mà “giáo dục là chìa khoá mở cửa tiến vào tương lai”. (Đỗ Mười).

    II – Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học theo hướng tích hợp tích cực.

    Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đai đã được nhiều nước trên thế giới vận dụng từ lâu và có hiệu quả lớn. Vận dụng dạy học ở Việt Nam, tích hợp bước đầu được hiểu là: Phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình dạy học riêng rẽ, các môn học, các phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau. Chương trình môn Ngữ văn theo tinh thần tích hợp là làm sao kết hợp được thật tốt việc hinhd thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học với việc hình thành bốn kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết (hiểu theo nghĩa rộng) vốn là hai quá trình gắn bó hữu cơ và hỗ trợ nhau hết sức đắc lực.

    Việc cải tiến chương trình Ngữ Văn theo hướng tích hợp có ssự vận dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới nhưng trước hết xuất phát từ thực tiễn giáo dục của Việt Nam. Trên 2o năm qua, việc tách môn Văn thành ba phần môn đã dem lại một số kinh nghiệm nhất định nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế không nhỏ, nhất là bậc THCS. Nên việc tích hợp này là cần thiết và đáp ứng yêu cầu phát triển toàn xã hội.

    Dạy học biện pháp tu từ phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ văn lớp 6 theo hướng tích hợp và tích cực giáo viên cần khai thác triệt để những yếu tố thuận lợi để đạt hiệu quả cao.

    Còn xét về thực trạng hiện nay: chương trình SGK Ngữ văn lớp 6 đac rõ ràng cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp và tích cực. Về thời lượng cho từng bài còn phải bàn thêm cho thật cân đối và hợp lý với chương trình và phù hợp với hoàn cảnh đa diện của học sinh. Đặcc biệt là các biện pháp tu từ về từ cần chú ý thêm về thời lượng và cách thực hành tạo lập trong nói và viết cho học sinh .

    Thực trạng đội ngũ giáo viên Ngữ văn hiện nay ở THCS về số lượng, chất lượng khiến chúng ta không khỏi băn khoăn suy nghĩ. Trong một số nhà trường THCS còn song song tồn tại giáo viên ở nhiều hệ đào tạo khác nhau. Vì vậy, việc giảng dạy không đồng đều, ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách học tập của học sinh và chất lượng chung. Hiện nay có hai thái cực trái ngược nhau: Những giáo viên có tâm huyết đã đi sâu tìm tòi và thực thi dạy theo hướng tích hợp và tích cực đã có kết quả bước đầu. Một só giáo viên vẫn dạy học theo thói quen cũ: Giáo viên chạy theo chương trình, tách rời chuyên môn, lo truyền thụ kiến thức bằng loói thuyêts trình hoặc chứng minh cho các khái niệm. Học sinh chir có một nhiệm vụ ghi chép thụ động để về học thuộc, làm bài tập đối phó qua loa.

    So sánh tu từ bộc lộ phong cách sáng tạo của tác giả: mỗi nhà văn có tư duy nghệ thuật riêng, thế giới nghệ thuật riêng, phương thức diễn đạt riêng tạo nên phong cách tác giả. Dựa trên vốn từ vựng Tiếng Việt, nha văn cho mình vốn từ riêng mang đậm dấu ấn cá nhân. So sánh tu từ cũng nằm trong quy luật ấy.

    ở mỗi tác giả, hình ảnh đưa ra làm chuẩn so sánh đều mang tính điển hình. Qua so sánh tu từ, người ta có thể nhận ra những nét riêng thuộc về người sử dụng. Có tác giả ưa dùng so sánh tu từ mang tính phát hiện của trí tuệ. Có tác giả ưa sự mộc mạc, chân chất, chính xác mà vẫn tràn đầy cảm xúc yêu thương.

    Chẳng hạn: Trong thơ Tố Hữu, so sánh tu từ thường là những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên như: Trái đất, trường sơn, biển cả, núi sông . khắc hoạ lên vóc dáng to lớn, đẹp đẽ, giàu sức sống, khí thế cao cả mạnh mẽ và tấm lòng thuỷ chung trong sáng của con người.

    “Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta

    Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa

    Chỉ biết quên mình cho hết thảy

    Như dòng sông chảy nặng phù sa”.

    Còn đây là so sánh nghệ thuật của Chế Lan Viên với những hình ảnh giàu nhận thức lý trí:

    “Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc

    Khi lòng ta đã hoá những con tàu

    Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

    Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”

    Một so sánh đẹp là so sánh phát hiện. Phát hiện những gì người thường không nhận ra, không nhìn thấy. Cả hai tác giả, với sự sáng tạo riêng đã xây dựng những hình tượng thẫm mỹ bằng phương thức so sánh nghệ thuật. Hai cách so sánh đều có nhưng nét độc đáo riêng, đặc sắc và thể hiện phong cách mỗi tác giả.

    Học sinh lấy một ví dụ bất kỳ. Chẳng hạn:

    “Ngôi nhà như trẻ nhỏ

    Lớn lên với trời xanh”

    (Đồng Xuân Lan).

    Giáo viên có thể tiến hành bước 1 sau khi kiểm tra bài cũ của học sinh, để chuyển tiếp vào bài mới với việc hình thành khái niệm.

    Bước 2: Giúp học sinh phân tích các nét đặc trưng cơ bản của khái niệm so sánh. Để thực hiện công việc này có thể sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để hình thành khái niệm so sánh.

    Ví dụ: Khi hình thành khái niệm so sánh, giáo viên yêu cầu học sinh: Tìm so sánh trong các ngữ liệu đã cho? chỉ ra cơ sở để có thể so sánh như vậy? So sánh như thế nhằm mục đích gì? So sánh với ví dụ khác cũng sử dụng phép so sánh? Rút ra kết luận về so sánh?

    Em hãy trả lời các câu hỏi và làm bài tập sau đây:

    Có mấy kiểu so sánh thường gặp? Em hãy cho ví dụ và chỉ rõ từng kiểu so sánh đó?

    2. Chỉ rõ và phân tích giá trị tu từ của phép so sánh được sử dụng trong đoạn văn sau:

    “Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quoai hàm bạnh ra, cặp mắt nẩy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. Dượng Hương Thư vượt thác khác hẳn Dượng Hương Thư ở nhà nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ”.

    (Trích “Quê nội”- Võ Quảng)

    3. Em hãy viết một đoạn văn trong đó sử dụng cả hai kiểu so sánh đã học?

    * Phiếu 3:

    Họ và tên: ………

    Lớp: ……….

    Trường: ……….

    Mong em vui lòng điền dấu (X) mỗi ý kiến mà em đồng ý:

    Hoạt động nhóm trong giờ học Tiếng Việt khi học các biện pháp tu từ giúp em:

    A. Tạo thêm nhiều hứng thú trong học tập ( ).

    B. Tiếp thu bài dễ dàng, củng cố và khắc sâu kiến thức tốt ( ).

    C. Thực hiện đúng và nhanh các nhiệm vụ giao tiếp ( ).

    * Phiếu 4

    Họ và tên: ………

    Lớp: ……….

    Trường: ……….

    Việc phân tích, đánh giá giá trị tu từ so sánh giúp em:

    A. Nhận diện nhanh, chính xác phép tu từ so sánh ( ).

    B. Phân tích và đánh giá được giá trị tu từ của phép tu từ so sánh ( ).

    C. Mong muốn được nói, viết các câu, đoạn sử dụng phép so sánh ( ).

    Em hãy đánh dấu (X) vào mỗi ý kiến em đồng ý.

    C. Kết luận:

    Đổi mới PP nhằm nâng cao chất lượng day và học là một nhiệm vụ quan trọng của ngành GD hiện nay.Vận dụng PPDH theo hướng tích hợp và tích cực vào việc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 6 chính là thực hiện đổi mới về PPDH trong nội dung một bài cụ thể. Thực hiện PPDH các biện pháp tu từ về phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ vâưn 6 theo hướng tích hợp và tích cực ngoài việc dựa trên những cơ sở lí luận còn cần quan tâm đến mối quan hệ hữu cơ giữa PPDH với mục tiêu, nội dung dạy học và PPDH là một thành tố của quá trình dạy học.

    Đổi mới PPDH theo hướng tích cực và tích hợp là một quá trình lâu dài và phải được thực hiện ở tất cả các lớp học, các môn học, các cấp học. Nhưng việc đổi mới có thể thực hiện được ngay đối với GV môn Ngữ văn khi dạy biện pháp tu từ ở phần Tiếng Việt lớp 6 nếu như mỗi GV trong từng tiết học giúp HS hoạt động nhiều hơn, nhất là được suy nghĩ và giao tiếp nhiều hơn. Khi đó,lớp học qua nhiều cách học khác nhau sẽ là nơi biến quá trình học thành niềm vui thích với nhiều “sản phẩm” sáng tạo của GV và HS. Và chắc chắn HS sẽ tự tin để tham gia vào các hoạt động học tập và giao tiếpcộng đồng.Đó cũng là con đường nối liền nhà trường với xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tự Tình 2
  • Tự Tình ( Bài Ii )
  • Bài Thơ Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tự Tình 2
  • 9 Phương Pháp Tránh Thai Hiệu Quả Nhất
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100