Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Cnxh Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Gia Đình Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Những Biến Đổi Của Gia Đình Việt Nam Hiện Nay Và Một Số Khuyến Nghị Chính Sách
  • Từ Bài Ca Dao Dân Ca Những Câu Hát Hay Về Tình Cảm Gia Đình, Em Hãy Trình Bày Cảm Nhận Của Mình Khi Được Sống Trong Vòng Tay Yêu Thương Của Gia Đình
  • Đồng Tháp: Không Phải Đất Của Gia Đình Nhưng Vẫn Khiếu Nại, Khiếu Kiện Để Đòi
  • Đánh Giá Bếp Điện Sanaky Có Tốt Không, Giá Bao Nhiêu, Mua Ở Đâu
  • 1. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM

    Kế thừa những quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng không ngừng và thời kỳ quá độ lên CNXH; xuất phát từ đặc điểm, điều kiện của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thời kỳ quá độ “là thời kỳ dân chủ mới”, tiến dần lên CNXH. Ở Việt Nam là hình thái quá độ gián tiếp với: “Đặc điểm to nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(1). Đặc điểm này chi phối tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm từng bước xóa bỏ triệt để các tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, đồng thời từng bước gây dựng các mầm mống cho CNXH phát triển, đó là một tất yếu.

    Theo đó, quá độ lên CNXH là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài chứ “không thể một sớm một chiều”(2). Bởi vì, “chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ hàng ngàn năm… biến nước ta từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp”(3). Tuy nhiên, muốn “tiến lên chủ nghĩa xã hội” thì không phải “cứ ngồi mà chờ” là sẽ có được chủ nghĩa xã hội. Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn khởi thi đua xây dựng, thì thời kỳ quá độ có thể rút ngắn hơn.

    Về nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Phải tạo ra những điều kiện cần và đủ về cơ sở vật chất; đồng thời, Đảng phải “lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(4). Trong đó, “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,… tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”(5).

    Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh là làm sao cho Đảng không mắc các bệnh quan liêu, xa dân, thoái hoá biến chất, làm mất lòng tin của dân, suy giảm năng lực lãnh đạo của Đảng. Đồng thời phải chú trọng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng trong sạch, vững mạnh và hoạt động hiệu quả, thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nội dung nhiệm vụ cụ thể trong thời kỳ quá độ lên CNXH rất toàn diện. Trên lĩnh vực kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề mấu chốt, tăng năng suất lao động trên cơ sở công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, cùng với thiết lập quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, ngành, vùng, lãnh thổ trong thời kỳ quá độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế. Theo Người, quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy để phát triển sản xuất.

    Trên lĩnh vực chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng; quan tâm củng cố mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân – nông dân – trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp xây dựng CNXH.

    Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng và mấu chốt của văn hóa là xây dựng con người có đạo đức cách mạng, con người mới xã hội chủ nghĩa với đức – tài gắn bó hữu cơ với nhau, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, trung thành với sự nghiệp cách mạng xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới. Về xã hội, thực hiện sự phân phối theo lao động, thi hành chính sách xã hội vì toàn dân, bình đẳng.

    Mấu chốt của vấn đề xã hội là đảm bảo công bằng xã hội hướng vào phát triển con người, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, vừa là mục tiêu, vừa là động của sự phát triển xã hội.

    Về bước đi, biện pháp trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Hồ Chí Minh đã xác định bước đi, cách làm phù hợp, Người khẳng định: Chúng ta cũng phải có phương pháp xây dựng CNXH của riêng mình, gắn với thực tiễn và lịch sử của Việt Nam. Bước đi trong xây dựng XHCN ở nước ta là “phải làm dần dần”, ai nói dễ là chủ quan và sẽ thất bại, phải thực hiện “đi bước nào vững chắc bước ấy”.

    Hồ Chí Minh còn chỉ ra những biện pháp hết sức quan trọng để xây dựng CNXH, đó là: Cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây dựng, lấy xây dựng làm chính; kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ, đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng; xây dựng CNXH phải có kế hoạch, biện pháp và quyết tâm. Đặc biệt, Người xác định biện pháp cơ bản, lâu dài quyết định nhất trong xây dựng CNXH ở nước ta là phát huy sức mạnh toàn dân, đem của dân, tài dân, sức dân dưới sự lãnh đạo của Đảng để làm lợi cho dân.

    2. GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG LUẬN ĐIỂM CẦN BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

    Những nội dung tư tưởng về thời kỳ quá độ lên CNXH của Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, kế thừa những giá trị trong hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ, mà còn được bổ sung, phát triển trong điều kiện lịch sử mới; qua đó, tiếp tục khẳng định và làm sáng rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Có thể nói, thực tiễn hơn 30 năm đổi mới càng làm sáng tỏ lý luận về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Đó là những tiêu chí đánh giá đúng sự kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ của Đảng ta, đồng thời là những cơ sở, điều kiện đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng CNXH đi tới thành công.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ nhằm thực hiện 4 mục tiêu: Công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài, “Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế nước ta”(6).

    Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu nêu ra các quan niệm về thời kỳ quá độ lên CNXH theo cách tiếp cận khác nhau, song đều có chung một cách hiểu là thời kỳ độc lập tương đối, một xã hội mà ở đó các lĩnh vực cơ bản chưa hoàn toàn là xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, trong xã hội của thời kỳ quá độ lên CNXH, cái cũ và cái mới còn tồn tại đan xen, vừa chi phối ảnh hưởng lẫn nhau, vừa đấu tranh với nhau để từng bước cho ra đời một thực thể xã hội mới, đúng nghĩa là xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo cách hiểu như vậy là đã có sự bổ sung, phát triển quan niệm về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và bổ sung trong tình hình hiện nay.

    Thứ nhất, nhận thức sâu sắc hơn những khó khăn còn tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong thời kỳ quá độ, chúng ta dễ có những nhận thức không toàn diện, lệch lạc: Một là, xem nhẹ, không tính đến đầy đủ chiều hướng suy tàn, tiêu vong của hình thái kinh tế – xã hội cũ, từ đó không thấy hết tính chất khó khăn, phức tạp của sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ, lỗi thời, lạc hậu với những cái mới đang hình thành, có xu hướng tiến bộ và phải trải qua một quá trình lâu dài, cái mới tiến bộ khẳng định xu hướng phát triển hợp với điều kiện mới. Hai là, ngộ nhận về thắng lợi, chỉ có phát triển đi lên của những nhân tố mới, nhất là khi nó đang trong giai đoạn hình thành, đang phải trải qua những bước “quá độ”, không thấy những khó khăn, thoái trào, thậm chí có thể thụt lùi tạm thời để củng cố và phát triển các lĩnh vực đời sống xã hội.

    Thứ hai, nhận thức đúng đắn, cụ thể hơn về “con người mới xã hội chủ nghĩa” trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, con người Việt Nam, dù ở địa vị nào cũng còn mang dấu vết của thời kỳ quá độ. Vì thế, không thể đưa ra yêu cầu quá cao đối với họ, nhưng những yếu tố vượt trước và với vai trò là chủ thể của lịch sử, thì cần phải tạo lập những yêu cầu, tiêu chí phù hợp với sự nghiệp đổi mới và thời đại. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người mới xã hội chủ nghĩa”.

    Trên thực tế, với nhiều nước trên thế giới và cả ở khu vực Đông Nam Á, con người và lao động Việt Nam hiện tại còn thấp về nhiều chỉ số: thể chất, sức khỏe, tay nghề, trình độ đào tạo, khả năng hội nhập, ý thức pháp luật…. Nguồn nhân lực chất lượng cao nước ta hiện nay đang thiếu hụt về số lượng, hạn chế về chất lượng và bất cập về cơ cấu. Cơ cấu “dân số vàng” nếu không được sử dụng, phát huy tốt sẽ là gánh nặng cho kinh tế và xã hội. Vì thế, con người mới trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam cần phải được nhìn nhận một cách toàn diện, cụ thể hơn. Đó là những con người đang trong quá trình hoàn thiện từng bước, từng mặt, đáp ứng yêu cầu từng lĩnh vực, địa vị xã hội từng người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định: “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển(7). Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách về giáo dục đào tạo; chăm sóc sức khỏe; phát triển văn hóa; phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển khoa học công nghệ; xây dựng đội ngũ cán bộ… nhằm hướng tới mục tiêu: “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”(8).

    Thứ ba, nhận thức bổ sung về thực hiện công bằng, bình đẳng trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là hai khái niệm có nội hàm quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không thể đồng nhất là một. Trong CNXH, nhất là thời kỳ quá độ, bình đẳng xã hội hoàn toàn là chưa thể thực hiện được; cái mà xã hội có thể đạt được là công bằng xã hội. Tuy nhiên, dù có diễn đạt cụm từ “công bằng” hay “bình đẳng” một cách độc lập, hoặc nối tiếp nhau, cũng đều thể hiện hàm ý, đó là sự ngang nhau giữa người và người trên các phương diện của xã hội XHCN, hoặc ngang nhau trong phân phối sản phẩm, đảm bảo sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, lao động và trả công, trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi. Hồ Chí Minh chỉ ra “CNXH là bình đẳng”, “CNXH là công bằng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm, không hưởng”. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ, những người thuộc nhóm xã hội yếu thế, người không còn khả năng lao động, hay bị bệnh tật bẩm sinh, tai nạn không thể lao động để nuôi sống bản thân, thì xã hội phải có trách nhiệm đảm bảo lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là CNXH. Vì thế, “bình đẳng” theo nghĩa “sự ngang nhau hoàn toàn” trên mọi phương diện trong thời kỳ quá độ là chưa thể thực hiện được.

    Thứ tư, nhận thức bổ sung, phát triển luận điểm “dân chủ mới” trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Luận điểm “dân chủ mới” được Hồ Chí Minh sử dụng 120 lần trong các tác phẩm của mình. Trong đó, nhiều lần Người sử dụng các cụm từ: “thời kỳ dân chủ mới”, “tinh thần dân chủ mới”, “chế độ dân chủ mới”, “nền nếp dân chủ mới”, “chúng ta phải thực hiện dân chủ mới để chuẩn bị đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản”(9)… Theo đó, cần nhận thức sâu sắc hơn về “Dân chủ mới” trong thời kỳ quá độ với tính cách là một chế độ chính trị – xã hội đang được xây dựng theo những nguyên tắc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa. “dân chủ mới” có sự ẩn chứa những thuộc tính xã hội chủ nghĩa đang được hình thành, khẳng định, trên cơ sở kế thừa những giá trị của “dân chủ cũ”, đồng thời từng bước bồi đắp những giá trị dân chủ mới ưu việt, tạo tiền đề để đi đến CNXH.

    Hơn nữa, “dân chủ mới” cần được hiểu là dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện quá độ lên CNXH, để tránh nhầm lẫn hoặc đánh tráo sang những giá trị dân chủ mới của phương Tây, của chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa, học thuyết phi vô sản khác hiện nay.

    Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam đã thể hiện những nội dung đặc sắc, trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo những giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin vào đặc điểm, tình hình xã hội Việt Nam. Thực tiễn luôn vận động biến đổi và đang đặt ra nhiều vấn đề mới, những nội dung tư tưởng về thời kỳ quá độ của Người vẫn giữ nguyên giá trị, cần tiếp tục bổ sung, phát triển trong điều kiện mới./.

    (2) (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.10, tr. 324, 329.

    (4) (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.8, tr. 174, tr. 267.

    (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t.13, tr. 13.

    (7) (8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 76, 70.

    (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, H, 2011, t.6, tr. 13.

    Đại tá, PGS. TS. Lê Xuân Thủy

    Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

    (Bài đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 8/2019)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Những Định Hướng Cơ Bản Của Việc Xây Dựng Gia Đình Mới Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Trung Tâm Chuyển Mạch
  • Bài Giảng Chức Năng Điều Khiển
  • Tâm Lý Học Đại Cương
  • Luận Văn: Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hóa Của Sinh Viên, Hay, 9Đ
  • Phân Tích Những Định Hướng Cơ Bản Của Việc Xây Dựng Gia Đình Mới Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Cnxh Ở Việt Nam
  • Gia Đình Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Những Biến Đổi Của Gia Đình Việt Nam Hiện Nay Và Một Số Khuyến Nghị Chính Sách
  • Từ Bài Ca Dao Dân Ca Những Câu Hát Hay Về Tình Cảm Gia Đình, Em Hãy Trình Bày Cảm Nhận Của Mình Khi Được Sống Trong Vòng Tay Yêu Thương Của Gia Đình
  • Đồng Tháp: Không Phải Đất Của Gia Đình Nhưng Vẫn Khiếu Nại, Khiếu Kiện Để Đòi
  • Câu hỏi: Phân tích những định hướng cơ bản của việc xây dựng gia đình mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

    Đáp án:

    Những định hướng cơ bản của việc xây dựng gia đình mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cụ thể là:

    Giữ gìn, phát huy văn hóa truyền thống, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, đồng thời tiếp thu văn hóa hiện đại có chọn lọc

    Bên cạnh việc kế thừa những truyền thống, những giá trị tốt đẹp tình làng nghĩa xóm, tình yêu gia đình gắn chặt với tình yêu quê hương đất nước, dân tộc. Từng bước khắc phục, loại bỏ các giá trị không phù hợp như cục bộ theo họ tộc, cục bộ theo địa phương, những nghi lễ rườm rà, tốn kém trong ma chay, cưới hỏi. Sự bất bình đẳng về giới, và giữa các thế hệ. Trong điều kiện hiện nay, sự chuyển đổi hệ giá trị từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đang đòi hỏi phải tiếp thu và chọn lọc các giá trị văn hóa của nhân loại. Những giá trị văn hóa ấy chỉ có thể được chọn lọc, tiếp thu một khi các giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống được bảo tồn, được phát huy những nội dung giá trị mới phù hợp với văn hóa và đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam.

    Xây dựng gia đình xuất phát từ tình yêu chân chính:

    + Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính và nó nhất thiết phải trải qua thời kỳ quá độ từ tình bạn chuyển sang tình yêu, quá trình đó họ tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng sẵn sàng chia sẽ, cùng nhau xây dựng cuộc sống chung và họ cảm thấy không thể thiếu nhau.

    + Hôn nhân tự nguyện tiến bộ còn phải được pháp luật thừa nhận bằng tờ đăng ký kết hôn. Nhưng cũng không bác bỏ sự quan tâm, hướng dẫn của cha mẹ người thân trong gia đình.

    + Hôn nhân tự nguyện tiến bộ còn bao gồm tự do ly hôn khi tình yêu không còn nữa. Tuy nhiên, ly hôn dù bất cứ lý do nào thì hậu quả cũng hết sức nặng nề. Vì vậy, cần phải có sự hòa giải của các đoàn thể xã hội, của cộng đồng, làng xóm.

    Xây dựng gia đình trên cơ sở các quan hệ bình đẳng, thương yêu:

    Cùng nhau chia sẽ, gánh vác công việc gia đình và xã hội. Vợ chồng phải có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt. Bố mẹ không được phân biệt đối xử với các con, phải tôn trọng và hướng dẫn những nhu cầu chính đáng của các con. Các con phải biết ơn, kính trọng, nghe lời khuyên nhủ của bố mẹ và không ngừng học hỏi vươn lên giữ vững truyền thống tốt đẹp của gia đình. Quan hệ bố mẹ và các con trong gia đình thường có mâu thuẫn và sự khác biệt giữa các thế hệ là điều khó tránh khỏi. Do đó, phải tìm ra hướng giải quyết để những mâu thuẫn của sự khác biệt ấy không dẫn tới xung đột.

    Trong gia đình, cần xây dựng những mối quan hệ tốt giữa anh chị em với nhau. Nếu là những gia đình có nhiều thế hệ, phải chú ý đến những mối quan hệ khác như ông bà và cháu chắt; bố mẹ chồng và con dâu; bố mẹ vợ và chàng rễ; chú bác, cô dì và các cháu… Các quan hệ này cũng được xây dựng trên tinh thần bình đẳng, tình thương và có trách nhiệm để cho gia đình êm ấm, trở thành tế bào lành mạnh của xã hội.

    Xây dựng gia đình phải gắn liền với cộng đồng, với các thiết chế xã hội:

    Đoàn kết, tương trợ thương yêu đùm bọc nhau là một giá trị văn hoá truyền thống lâu đời của người Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng gia đình mới cần phải biết giử gìn phát huy truyền thống ấy. Trên cơ sở đó mà xây dựng bổ sung thêm những quy ước, quy chế dân chủ trong mỗi làng xã, trong mỗi gia đình. Đó chính là một phương hướng quan trọng trong việc xây dựng gia đình mới ở nước ta,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Trắc Nghiệm Trung Tâm Chuyển Mạch
  • Bài Giảng Chức Năng Điều Khiển
  • Tâm Lý Học Đại Cương
  • Luận Văn: Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hóa Của Sinh Viên, Hay, 9Đ
  • 5 Chức Năng Của Môi Trường
  • Đặc Điểm, Nhiệm Vụ Của Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Thời Kì Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở
  • Mường Nhé Xây Dựng, Củng Cố Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở
  • Quan Điểm, Mục Tiêu Và Giải Pháp Tiếp Tục Đổi Mới, Hoàn Thiện Hệ Thống Chính Trị Tinh Gọn, Hoạt Động Hiệu Lực, Hiệu Quả
  • Góp Ý Vào Phương Hướng, Nhiệm Vụ, Giải Pháp Công Tác Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng; Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Thủ Đô
  • a) Thực chất, loại hình và đặc điểm của thời kỳ quá độ

    C.Mác. Ph.Ănghen, V.I.Lênin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ vị trí lịch sử nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá trình vận động, phát triển của hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa.

    Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa

    Mác – Lênin, có hai con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Con đường thứ nhất là quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ những nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở trình độ cao. Con đường thứ hai là quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp, hoặc như V.l.Lênin cho rằng, những nước có nền kinh tế lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được trong điều kiện cụ thể nào đó nhất là trong điều kiện đảng kiểu mới của giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo (trở thành đảng cầm quyền) và được một hay nhiều nước tiên tiến giúp đỡ.

    Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác – Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế Việt Nam. Hồ Chí Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hòan thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, quan niệm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quan niệm về một hình thái quá độ gián tiếp cụ thể – quá độ từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính ở nội dung cụ thể này. Hồ Chí Minh đã cụ thể và làm phong phú thêm lý luận Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không

    Phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này chi phối các đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế – xã hội quá thấp kém của nước ta.

    b) Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

    Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất tiên tiến, hiện đại. Thực chất của quá trình cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp trong điều kiện mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ, so sánh lực lượng trong nước và quốc tế đã có những biến đổi. Điều này đòi hỏi phải áp dụng toàn diện các hình thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chống lại các thế lực đi ngược lại con đường xã hội chủ nghĩa.

    Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểm và tính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Nhiệm vụ lịch sử của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao gồm hai nội dung lớn:

    Một là, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội.

    Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong đó lấy xây dựng làm trọng tâm làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài

    Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quả độ lên chủ nghĩa xã hội. Tính chất phức tạp và khó khăn của nó được Người lý giải trên các điểm sau:

    Thứ nhất, đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội, cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Nó đặt ra và đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau. Như trong Di chúc Hồ Chí Minh đã coi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc chiến đấu khổng lồ của toàn Đảng toàn dân Việt Nam.

    Thứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng! Nhà nước, và nhân dân ta chưa có kinh nghiệm, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Đây là công việc hết sức mới mẻ đối với Đảng ta nên phải vừa làm vừa học và có thể có vấp váp, thiếu sót. Xây dựng xã hội mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời.

    Thứ ba sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước là luôn luôn bị các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm cách chống phá.

    Từ việc chỉ rõ tính chất của thời kỳ quá độ. Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán hộ, đảng viên trong xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thận trọng, tránh nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn Vấn đề cơ bản là phải xác định đúng bước đi và hình thức phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, biết kết hợp các khâu trung gian, quá độ, luận tự từng bước, từ thấp lên cao. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một năng lực lãnh đạo mang tính khoa học, vừa hiểu biết các quy luật vận động xã hội, lại phải có nghệ thuật khôn khéo cho thật sát với tình hình thực tế.

    c) Quan điểm của Hồ Chí Minh về nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời kỳ quá độ

    Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự nghiệp cách mạng mang tính toàn diện. Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực:

    – Trong lĩnh vực chính trị, nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng phải luôn luôn tự đổi mới và tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, có hình thức tổ chức phù hợp để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền Mối quan tâm lớn nhất của Người về Đảng cầm quyền là làm sao cho Đảng không trở thành Đảng quan liêu, xa dân, thoái hóa, biến chất, làm mất lòng tin của dân, có thể dẫn đến nguy cơ sai lầm về đường lối, cắt đứt mối quan hệ máu thịt với nhân dân và để cho chủ nghĩa cá nhân nảy nở dưới nhiều hình thức.

    Đồng thời, củng cố và tăng cường vai trò quản lý của nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng trở thành nhiệm vụ rất quan trọng.

    Một nội dung chính trị quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là củng cố và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và tri thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; củng cố và tăng cường sức mạnh toàn bộ hệ thống chính trị cũng như thành tố của nó.

    – Nội dung kinh tế được Hồ Chí Minh đề cập trên các mặt: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế. Người nhấn mạnh đến việc tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Đối với cơ cấu kinh tế Hồ Chí Minh đề cập cơ cấu ngành và cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ.

    Người quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế nông – công nghiệp, lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối tốt nhất giữa các ngành sản xuất xã hội, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của nhân dân.

    Đối với kinh tế vùng, lãnh thổ. Hồ Chí Minh lưu ý phải phát triển đồng đều giữa kinh tế đô thị và kinh tế nông thôn. Người đặc biệt chú trọng chỉ đạo phát triển kinh tế vùng núi, hải đảo, vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng cho đất nước.

    Bên cạnh chế độ và quan hệ sở hữu. Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế. Quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy trong phát triển sản xuất Người chủ trương và chi rõ các điều kiện thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng. Gắn liền với nguyên tắc phân phối theo lao động, Hồ Chí Minh bước đầu đề cập vấn đề khoán trong sản xuất, “Chế độ làm khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội. nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung và là lợi riêng…: làm khoán tốt thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”.

    – Trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng con người mới. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đề cao vai trò của văn hóa, giáo dục và khoa học – kỹ thuật trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất định phải có học thức, cần phải học cả văn hóa, chính trị, kỹ thuật và chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn đưa loài người đến hạnh phúc vô tận. Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nâng cao dan trí, đào tạo và sử dụng nhân tai, khẳng định vai trò to lớn của văn hóa trong đời sống xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở Vững Mạnh Tại Tây Ninh
  • Tân Kỳ: Nhận Rõ Thực Trạng, Có Giải Pháp Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Vững Mạnh
  • Giải Pháp Quan Trọng Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch Vững Mạnh
  • Tân Kỳ: Nhận Rõ Thực Trạng, Có Giải Pháp Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Vững Mạnh
  • Sửa Iphone X Wifi Yếu: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Sửa Chữa Triệt Để.
  • Sự Biến Đổi Chức Năng Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ Cơ Bản Của Bác Sĩ Gia Đình
  • Vai Trò Của Bác Sĩ Gia Đình Trong Hệ Thống Cơ Sở Khám Chữa Bệnh
  • Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình
  • Gia Đình Và Vai Trò, Chức Năng Của Gia Đình Trong Quá Trình Phát Triển Của Xã Hội
  • Soạn Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Giải phóng văn chương khỏi chính nó là con đường đầy tiềm năng của văn học – như là một khoa học. Chính vì thế, các nghiên cứu liên ngành đã phát huy tích cực khả năng đánh giá văn chương trong tư cách một dữ kiện văn hóa học, xã hội học, triết học, mĩ học, nhân chủng học, dân tộc học… Xem xét sự biến đổi của gia đình trên cơ sở dữ liệu là tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ XXI, dưới góc nhìn xã hội học là một trường hợp như thế.

    Từ quan điểm xã hội học, xét về bản chất, gia đình có bốn chức năng cơ bản: sinh sản, tình cảm, giáo dục, kinh tế. Do sự va chạm giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, sự chênh lệch giữa tốc độ biến đổi của cơ cấu xã hội và tốc độ biến đổi của gia đình, chức năng của gia đình Việt Nam có những biến đổi mạnh mẽ trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Vấn đề này được cảnh báo một cách khá gay gắt trong tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ XXI.

    Đại bộ phận người dân Việt Nam vẫn cho rằng sinh con là một chức năng quan trọng của gia đình. Tuy nhiên, đã có một sự chuyển đổi nhận thức rất rõ về hôn nhân, tình dục, sinh sản và số con, nhất là trong các gia đình ở nông thôn Việt Nam. Truyền thống nông nghiệp lúa nước cùng những tình thế mưu sinh, đối mặt với các đe dọa từ thiên nhiên (thậm chí là từ các gia đình, dòng họ khác) đòi hỏi sự cố kết của cộng đồng cả về chất lượng và số lượng, trong đó có sức mạnh đến từ huyết thống. Quan niệm con đàn cháu đống, đông con nhiều cháu, ngoài ý nghĩa phúc hậu đức dày, còn thể hiện một cách sâu xa chiến lược sinh tồn của các gia đình nông thôn. Trên cơ sở đó, dường như việc dựng vợ gả chồng và quan hệ tình dục chủ yếu phục vụ chức năng duy trì nòi giống, tạo nguồn nhân lực. Thế nhưng, giờ đây tình dục không chỉ mang ý nghĩa là một phương cách của việc sinh sản mà còn là sự thể hiện của tình yêu (thế giới tinh thần) và nhu cầu sinh học của con người. Trong tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỉ XXI, ta bắt gặp rất nhiều mối quan hệ xung quanh chuyện thỏa mãn đời sống tình dục như là biểu hiện của những ẩn ức sinh ra từ sự kìm nén nhu cầu thân xác của con người. Nó phá vỡ những cương vực, giềng mối của gia đình truyền thống vốn định hình một cách bền bỉ sau lũy tre làng. Phải gặp những nhân vật như Loan, Nga, Vy, Cơ trong Gia phả của đất, Lưu cá ngựa, Hoa, Xoan, Duyên, lão Đàm, bà Hai Nhã trong Ngư phủ (Hoàng Minh Tường); Minh, Thao trong Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn); bà Mến và ông Quỹ Nhất, chị cả Thuần và ông Đồi trong Dòng sông Mía (Đào Thắng); những mối tình nhuốm màu sắc dục ở làng Tâm Đức của Trương Rô, cô Đào, Quản Mè, ông Sóng trong Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh)… chúng ta mới thực sự nhận ra những đổi thay từ âm ỉ đến bùng phát của đời sống nông thôn Việt Nam.

    Xã hội hiện đại đem đến cho con người nhận thức rằng, thỏa mãn nhu cầu tình dục đã trở thành nhân tố chính làm tăng mức độ thỏa mãn – hạnh phúc trong đời sống hôn nhân, gia đình. Tuy nhiên, trượt qua ngưỡng giao thoa của truyền thống và hiện đại, khi đời sống tình dục trong hôn nhân không được thỏa mãn, nhiều người sẵn sàng chạy theo nhu cầu bản năng bất chấp mọi rào cản, kể cả đạo lí luân thường trong truyền thống văn hóa của người Việt. Về mặt luân lí, dĩ nhiên có nhiều mối quan hệ đáng chê trách, tuy nhiên, đằng sau câu chuyện ấy lại là những diễn biến tinh thần, cảm xúc, nhu cầu của con người đã không thể giữ mình trong nề nếp xưa cũ. Trong tiểu thuyết Cổng làng, Nguyễn Thanh Cải đã cho thấy quan hệ vụng trộm của cô Chút với Hấn xuất phát từ việc làm ăn chung bán cát sỏi, vật liệu xây dựng. Hấn nôn nóng muốn chiếm đoạt Chút, còn Chút ngoại tình với Hấn bởi có những cảm giác mới lạ, khác nhiều so với ông chồng dân tộc đang sống cạnh cô. Vấn đề vốn dĩ nhạy cảm, trước kia văn chương thường ít chú ý (hoặc né tránh), nhất là văn chương viết về nông thôn, thì nay được các nhà văn phơi bày trên trang giấy một cách công khai như là nhu cầu bộc lộ bản năng nguyên thủy của con người. Bản năng của con người thuộc về bản thể tự nhiên nhất, nằm ngoài vùng che chắn của ý thức. Chạm đến bản năng tức là chạm đến phần sâu kín nhất của con người. Không chỉ tập trung khai thác con người mang ý thức xã hội, các ngòi bút tiểu thuyết về đề tài nông thôn đầu thế kỉ XXI đã có ý thức dùng lớp vỏ bản năng (như một kí hiệu) để lạ hóa cả phương diện nghệ thuật lẫn tư tưởng khi khai thác con người ở mặt bản thể tự nhiên không dễ gì đoán biết được. Cái bày ra trên trang giấy, cái ám ảnh người đọc đâu chỉ là những quằn quại, rên xiết. Đằng sau mớ ngổn ngang, hỗn tạp của gối chăn, áo quần… ấy, nói như Văn Thị Phương Trang khi bàn về Hình tượng con người bản năng trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, dường như là “những tâm hồn rất trống rỗng, quấn lấy nhau trong khối cô đơn không thể nào chia sẻ”.

    Chức năng giáo dục là chức năng được tăng cường hơn bao giờ hết và trở thành một trách nhiệm nặng nề mà gia đình phải gánh vác, tuy nhiên, trong quá trình xã hội biến đổi nhanh chóng, gia đình đang nảy sinh nhiều xáo trộn về chức năng dưỡng dục con cái (với thế nhìn từ bên trong) và xã hội hóa (như một hoạt lực bên ngoài). Thế hệ trẻ mới cho dù có nhận được sự bảo trợ, dạy dỗ của bố mẹ nhưng họ vẫn bộc lộ những bất đồng thế hệ. Những bất đồng ấy được đẩy lên thành xung đột đến mức gay gắt. Trong Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn), xung đột này được đẩy đến đỉnh điểm khi thằng Giác lôi bát hương ra dọa đập vỡ. Bát hương là vật thiêng biểu thị lòng thành kính, sự biết ơn của người đời sau đối với người đời trước; đập vỡ bát hương trên ban thờ tổ tiên là một hành vi đại bất kính. Trong khi ông Cảnh hết mực coi trọng và gìn giữ nề nếp truyền thống, coi sóc gia tiên chu đáo thì thằng con lại lợi dụng chính tấm lòng của cha để thực hiện nhu cầu cá nhân. Sự xấc xược cũng như hành vi thất đức của thằng Giác là biểu hiện của lối sống lệch lạc, mất gốc. Đỗ Minh Tuấn đã cảnh báo về những vết nứt giáo dục gia đình nói riêng và sự băng hoại văn hóa truyền thống nói chung từ các nhân vật này. Gia đình Thao cũng vậy, ông bố và bà mẹ cui cút từ hai, ba giờ sáng nhặt hoa gạo, lá mít cho cậu con trai xưng thánh thực hiện hành động thiêng liêng, bí ẩn trong điện thờ. Thằng con dùng tất cả mánh khóe về tình dục, lợi dụng lòng tin mù quáng của người dân, sự “âm u, đui mù” tín ngưỡng để trục lợi. Nó trở nên vênh váo vì nghĩ rằng vợ chồng Thao được ăn theo danh thơm của thánh. Đã có lúc, Thao không chịu được sự huênh hoang của thằng Chấn, hét thẳng vào mặt nó: “Mày còn giở cái giọng mất dạy sỉ nhục tao lần nữa tao phá hết cái điện này cho mày ra chuồng xí mà xưng thánh” (Thần thánh và bươm bướm). Những xung đột thế hệ giữa các thành viên trong gia đình như một sự cảnh báo của nhà văn về sự đổ vỡ phần nào chức năng giáo dục của gia đình. Nó cũng cho thấy các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo và trước sau cũng phải đối diện với các nguy cơ bị hủy hoại. Chúng ta thấy rõ nhất các xung đột trong tương quan về thế hệ, các giá trị cổ truyền và hiện đại. Cuộc sống của xã hội hiện đại, lối sống mới len lỏi đến từng ngõ ngách của làng quê, thẩm nhập tận những mối giềng sâu kín tưởng như bền chặt vĩnh viễn, phá vỡ nề nếp gia phong, đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam. Nhịp sống hối hả với vòng quay của công việc khiến những bữa cơm gia đình hiếm khi đông đủ. Cuộc sống tiện nghi với những phương tiện công nghệ cao đã tạo nên những “ốc đảo” ngay trong mỗi gia đình, khiến cho cá nhân sống khép kín. Thêm vào đó, lối sống thực dụng ích kỉ, đề cao cuộc sống hưởng thụ, cổ súy cho tư tưởng tự do phát triển cá nhân… cũng là nguy cơ làm mai một, xói mòn nhiều giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình.

    Về chức năng kinh tế và tâm lí – tình cảm, đối với gia đình truyền thống Việt Nam, người đàn ông được xem là trụ cột kinh tế của gia đình theo quan niệm “đàn ông xây nhà đàn bà xây tổ ấm”. Tuy nhiên, dưới lực cuốn của bánh xe hiện đại, quan niệm này ít nhiều đã thay đổi. Giờ đây, người phụ nữ cũng có vai trò quan trọng trong việc quyết định thu nhập và mức sống của gia đình. Người phụ nữ không còn quanh quẩn ở không gian ruộng vườn, bếp núc nữa. Họ đã dịch chuyển ra không gian xã hội với nhiều điều khác lạ, mới mẻ hơn nhưng cũng nhiều cám dỗ hơn. Nga (Thần thánh và bươm bướm) thậm chí lấn lướt cả chồng. Người đàn bà ấy nhìn đâu cũng ra lợi nhuận, những món hời và biến chồng thành công cụ kiếm tiền, ngay cả việc lợi dụng những mối quan hệ hay hoàn cảnh éo le của người khác để chiếm đoạt. Mưa trong tiểu thuyết Ma làng (Trịnh Thanh Phong) tự chủ, một mình nuôi con và làm giàu trên chính mảnh đất đã gây ra khổ đau cho cuộc đời cô. Đó còn là những người đàn bà làng chài của vùng Hải Thủy (Ngư phủ) vẫn làm chủ cuộc sống gia đình khi chồng nằm lại vĩnh viễn nơi biển cả…

    Cuộc sống của xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường – bên cạnh những mặt tích cực – ở một góc độ nào đó đã phá vỡ nề nếp gia phong, đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam, nhất là về tâm lí – tình cảm, về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Hình thái cố kết dựa trên huyết thống hay tương trợ làng xã bị phá vỡ bởi chính những con người trong gia đình, làng xã. Họ đã hấp thụ một bầu dưỡng khí khác mang màu sắc cá nhân, mang hơi hướng hiện đại. Từ bầu khí quyển ấy mọc ra những cá tính khác, thách thức lại những giá trị gia đình, cộng đồng, các luật tục (hoặc hủ tục) vốn đang chế ngự văn hóa nông thôn. Trở lại với cuốn tiểu thuyết đã được nhắc đến ở trên, Thần thánh và bươm bướm, chúng ta nhận ra sự đổ vỡ của chức năng tình cảm – vốn là một thành tố gắn kết gia đình. Cha con cãi lộn, đánh nhau đến thành thương tật (cha con Thao – Chấn đánh nhau, khiến Chấn bị gãy xương) là biểu hiện của sự băng hoại nghiêm trọng trong cấu trúc gia đình nông thôn trước sự thay đổi của xã hội. Hay trong Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), sự cư xử giữa hai mẹ con Hiếu và vợ chồng Hiếu đã phơi bày mặt trái của cuộc sống hiện đại với những nhức nhối, xót xa từ trong giềng mối gia đình. Các cuộc đối thoại trong tác phẩm này đã cho thấy sự đảo lộn mọi tôn ti trật tự: vợ chồng không còn “phu thê tương kính”, mẹ con cũng không còn thứ bậc trên dưới. Người mẹ tần tảo một đời khổ đau đã phải dè dặt một cách rất khó khăn để mở lời “trình bày hoàn cảnh” với đứa con trai do mình sinh ra và nuôi nấng, trong khi thái độ và lời nói của anh ta đối với mẹ hết sức lạnh lùng, vô cảm. Cũng vì quyền lực và đồng tiền mà Hiếu đã táng tận lương tâm đẩy mẹ đến cái chết và làm mất hoàn toàn lòng tin ở thế hệ sau, nhất là con gái mình.

    Đô thị hóa một mặt mang lại cho nông thôn luồng gió mới đầy sức sống, làm thay đổi bộ mặt cũ kĩ, trì trệ của làng quê Việt Nam vốn ngàn năm nghèo nàn lạc hậu, nhưng mặt khác cũng tác động tiêu cực không nhỏ đến con người thôn quê vốn thật thà chất phác. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến khoảng cách, thậm chí xung đột trong gia đình. Nhiều chuẩn mực bị đảo lộn trực tiếp tác động đến cấu trúc văn hóa nông thôn Việt Nam. Gia đình không còn cấu trúc bền vững như xưa. Thiếu tình cảm, thiếu tôn trọng, đại nghịch, bất kính, li hôn, ngoại tình, mại dâm, quan niệm tình yêu, tình dục lệch lạc… trở nên phổ biến. Sự tiếp nhận quá nhanh và thiếu chọn lọc một số sắc thái văn hóa từ đô thị đã làm xói mòn, thậm chí là triệt phá nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hóa làng xã. Những lợi ích vật chất, thói vụ lợi làm tha hóa, “lưu manh hóa” một bộ phận cư dân nông thôn, làm vẩn đục môi trường văn hóa, xã hội, bào mòn và làm rạn nứt quan hệ gia đình nông thôn thuần phác. Cấu trúc xã hội, cấu trúc gia đình cùng những chức năng căn bản của nó đã bị thách thức, bị biến đổi. Trong nhịp điệu biến cải đó, có cái tốt lên, nhưng cũng nảy sinh nhiều điều nhức nhối, đó thực sự là lời cảnh báo đến lương tri của con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Về Bác Sĩ Gia Đình
  • Bác Sĩ Gia Đình Là Ai
  • Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Khám Bác Sĩ Gia Đình Trong Hệ Thống Cơ Sở Khám Bệnh, Chữa Bệnh
  • Những Nhiệm Vụ Và Quyền Lợi Của Bác Sĩ Gia Đình Ở Việt Nam
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Khám Bác Sĩ Gia Đình
  • Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Đình Và Vai Trò, Chức Năng Của Gia Đình Trong Quá Trình Phát Triển Của Xã Hội
  • Soạn Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Các Loại Máy Hàn Điện Tử Đa Chức Năng
  • Máy Hàn Điện Tử, Hàn Inox, Co2, Hàn Tig, Hàn Mig
  • Máy Hàn 3 Chức Năng Que
  • Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Phân Tích Khi Xác Định Mục Tiêu Của Tổ Chức Cần Xác Định Rõ Mục Tiêu Chiến Lược Và Mục Tiêu Cụ Thể, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Tiểu Luận Về Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Luận Nâng Cao Kỹ Năng Viết Báo Cáo Văn Phòng, Tiểu Luận Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Tiểu Học, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Tiểu Luận Về Nguyên Lý Mối Liên Hệ Phổ Biến Của Phép Duy Vật Biện Chứng, Nội Dung Nghi Định Quy Định Chức Năng Nhiêm Vụ Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Bộ Công An, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Chức Năng Gia Đình, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Quy Dinh 1262 Chuc Nang Cua Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Kỹ Năng Hội Họp, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Tạo Lập Văn Bản, Tiều Luận Cơ Cấu Tổ Chức Bán Hàng, Bài Tiểu Luận Hành Vi Tổ Chức, Tiểu Luận Di Chúc Hợp Pháp, Tiểu Luận Quy Tắc ứng Xử Viên Chức Y Tế, Tiểu Luận Tổ Chức Sự Kiện, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1, Tiểu Luận Du Lịch Đà Nẵng, Tiểu Luận Triết Học Nâng Cao, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu, Tiểu Luận Nâng Cao Văn Hoá Công Sở, Bài Tiểu Luận Phát Triển Tổ Chức, Tiểu Luận Quản Lý Cán Bộ Công Chức ở Cơ Sở, Tiểu Luận Công Tác Tổ Chức Sự Kiện, Tiểu Luận 1 Tổ Chức Công Tác Kế Toán, Tiểu Luận Tổ Chức Lực Lượng Bán Hàng, Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương, Tiểu Luận Kỹ Năng Thuyết Trình, Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Kỹ Năng Lãnh Đạo Quản Lý, Tiểu Luạn Kĩ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Môn Chính Trị Học So Sánh Nâng Cao, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Tiểu Luận Về Năng Lượng Mặt Trời, Tiểu Luận Nâng Cao Sức Khỏe Ngành Y Tế, Tiểu Luận Thực Trạng Tổ Chức Sự Kiện, Quy Định 842-qĐ/qutw, Ngày 06-8-2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định 842-qĐ/qutw, Ngày 06-8-2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định Số 842-qĐ/qu Ngày 06/8/2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Quy Định Số 842-qĐ/qu Ngày 06/8/2018 Của Quân ủy Trung ương Về Tiêu Chuẩn Chức Danh, Tiêu Chí Đánh G, Tieu Luan Giai Phap Nang Cao Y Duc Cua Can Bo Nghanh Y Te, Tiểu Luận Rèn Kỹ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Hịc Sinh Lớp 4, Tiểu Luận Kỹ Năng Và Nghệ Thuật Lãnh Đạo, Luận Văn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiêu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm Trong Học Tập, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu Của Lãnh Đạo Cấp Phòng, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tiểu Luận Tốt Nghiệp Đề Tài: Vấn Đề Tổ Chức Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ ở Đơn Vị Cơ Sở Thuộc Bộ Y Tế, Tác Động Của Chức Năng Phương Tiện Cất Trữ Đến Biến Động Thị Trường Vàng Trong Giai Đoạn Thế Giới Ch, Tác Động Của Chức Năng Phương Tiện Cất Trữ Đến Biến Động Thị Trường Vàng Trong Giai Đoạn Thế Giới, Định Lý Biến Thiên Cơ Năng, Định Lý Biến Thiên Thế Năng, Bài Tiểu Luận Biến Đổi Khí Hậu, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiểu Luận Tình Huống Tuyển Dụng Công Chức, Kỹ Năng Xác Định Mục Tiêu, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Kĩ Năng Giao Tiếp Trong Doanh Nghiệp, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đầu Tư Công, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tiểu Luận Quản Lý Cấp Phòng Nâng Lương Trước Thời Hạn, Tiểu Luận Về âm Mưu Diễn Biến Hòa Bình, Bài Tiểu Luận ô Nhiễm Môi Trường Biển, Tiểu Luận Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo, Tiểu Luận Môi Trường Nhà Máy Chế Biến Thuỷ Sản, Bài Tiểu Luận Diễn Biến Hòa Bình, Tiểu Luận Quốc Phòng Về Biển Đảo, Tiểu Luận Nguyên Lý Về Mối Liên Hệ Phổ Biến, Tiểu Luận ô Nhiễm Môi Trường Biển, Định Luật Run Lên Sơ Cho Biết Điện Năng Biến Đổi Thành, Tiểu Luận Diễn Biến Hòa Bình Bạo Loạn Lật Đổ, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng, Mã Số, Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Biên Tập Viên, Phóng Viên, Tiểu Luận Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Tồn Tại Xã Hội Và ý Thức Xã Hội, Nghị Định Quy Định Tiêu Chuẩn Chức Danh Lãnh Đạo Quản Lý Trong Các Cơ Quan Hà, Khóa Luận Tốt Nghiệp: Một Số Biện Pháp Marketing Nâng Cao Hiệu Quả Xuất Khẩu Hàng Thủ Công Mỹ Nghệ, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Đội Ngũ Lãnh Đạo Cấp Phòng Tại Địa Phương/Đơn Vị, Bài Thảo Luận Thứ 6 Quy Định Về Di Chúc, Bài Thảo Luận 6 Quy Định Về Di Chúc,

    Tiểu Luận Sự Biến Đổi Chức Năng Gia Đình, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Phân Tích Khi Xác Định Mục Tiêu Của Tổ Chức Cần Xác Định Rõ Mục Tiêu Chiến Lược Và Mục Tiêu Cụ Thể, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Tiểu Luận Về Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Tiểu Luận Nâng Cao Kỹ Năng Viết Báo Cáo Văn Phòng, Tiểu Luận Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Viết Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Tiểu Học, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Tiểu Luận Về Nguyên Lý Mối Liên Hệ Phổ Biến Của Phép Duy Vật Biện Chứng, Nội Dung Nghi Định Quy Định Chức Năng Nhiêm Vụ Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Bộ Công An, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Luận Văn Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Chấp Hành Viên, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Chức Năng Gia Đình, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Quy Dinh 1262 Chuc Nang Cua Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Kỹ Năng Hội Họp, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Tạo Lập Văn Bản, Tiều Luận Cơ Cấu Tổ Chức Bán Hàng, Bài Tiểu Luận Hành Vi Tổ Chức, Tiểu Luận Di Chúc Hợp Pháp, Tiểu Luận Quy Tắc ứng Xử Viên Chức Y Tế, Tiểu Luận Tổ Chức Sự Kiện, Quyết Định Nâng Lương Cho Cán Bộ Công Chức, Quyết Định Ban Hành Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyết Định 791262 Chuc Nang Nhiem Vu Chi Bo Khu Pho, Tiểu Luận Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1, Tiểu Luận Du Lịch Đà Nẵng, Tiểu Luận Triết Học Nâng Cao, Tiểu Luận Kỹ Năng Tham Mưu, Tiểu Luận Nâng Cao Văn Hoá Công Sở, Bài Tiểu Luận Phát Triển Tổ Chức, Tiểu Luận Quản Lý Cán Bộ Công Chức ở Cơ Sở, Tiểu Luận Công Tác Tổ Chức Sự Kiện, Tiểu Luận 1 Tổ Chức Công Tác Kế Toán, Tiểu Luận Tổ Chức Lực Lượng Bán Hàng, Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương, Tiểu Luận Kỹ Năng Thuyết Trình, Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Kỹ Năng Lãnh Đạo Quản Lý, Tiểu Luạn Kĩ Năng Giao Tiếp, Tiểu Luận Môn Chính Trị Học So Sánh Nâng Cao, Bài Tiểu Luận Kỹ Năng Làm Việc Nhóm,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Bác Sĩ Gia Đình Trong Hệ Thống Cơ Sở Khám Chữa Bệnh
  • Nhiệm Vụ Cơ Bản Của Bác Sĩ Gia Đình
  • Sự Biến Đổi Chức Năng Của Gia Đình
  • Giới Thiệu Về Bác Sĩ Gia Đình
  • Bác Sĩ Gia Đình Là Ai
  • Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Chương Vi : Thiết Chế Xã Hội
  • Thiết Chế Xã Hội (Social Institutions) Là Gì? Chức Năng
  • Cẩn Thận Suy Giảm Chức Năng Gan Nghiêm Trọng Do Bệnh Nóng Gan Gây Ra!
  • Những Nguyên Nhân Chính Gây Suy Giảm Chức Năng Gan
  • Nêu Các Cơ Quan Trong Hệ Hô Hấp Và Chức Năng Của Chúngnêu Các Cơ Quan Trong Hệ Hô Hấp Và Chức Năng Của Chúng ? Biện Pháp Bảo Vệ Hô Hấp Tránh Khỏi Các Tác Nhân Gây Hại. Trả Lời Cụ Thể Dùm Nha !!!!!! Mình Cảm Ơn :))
  • Tính tất yếu khách quan của sự ra đời phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

    Xuất phát từ thế giới quan duy vật về lịch sử, C. Mác và Ph. Ăngghen đã cho rằng, mọi sự biến đổi của các chế độ xã hội trong lịch sử đều là quá trình phát triển lịch sử tự nhiên. Đó là do sự chi phối của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    Với quan điểm trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích một cách hết sức khoa học và biện chứng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phân tích và rút ra các quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản. Một mặt, hai ông đã chỉ rõ sự tiến bộ lịch sử của chủ nghĩa tư bản, vai trò cực kỳ to lớn của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển sức sản xuất và xã hội hoá lao động; mặt khác, cũng đã chỉ ra những giới hạn về mặt lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Hai ông đã phân tích rõ mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và cho rằng, quá trình phát sinh, phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (kể cả việc biến thành các công ty độc quyền lẫn việc biến thành sở hữu của nhà nước) đều không xoá bỏ tính chất tư hữu tư nhân; nó không chỉ tạo ra những tiền đề xã hội mà quan trọng là đã tạo ra những tiền đề vật chất, kinh tế cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản và khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản.

    Từ đó C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra kết luận, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa sẽ thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đây là tất yếu khách quan, phù hợp với yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự thay thế đó phù hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử xã hội loài người.

    Những đặc trưng kinh tế – xã hội cơ bản của chủ nghĩa cộng sản

    C. Mác và Ph. Ăngghen đã phác hoạ những nét lớn về xã hội cộng sản chủ nghĩa, xã hội sẽ thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa với những đặc trưng kinh tế – xã hội cơ bản như sau:

    Một là, lực lượng sản xuất xã hội phát triển cao.

    Lực lượng sản xuất của chủ nghĩa cộng sản phát triển ở trình độ cao, cao hơn nhiều so với chủ nghĩa tư bản. Lực lượng sản xuất đó dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại nhất. Đó là một nền sản xuất với quy mô lớn và được tiến hành phù hợp với những yêu cầu của khoa học hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm cho sự phát triển bền vững.

    Hai là, chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu.

    Theo C. Mác và Ph. Ăngghen, chủ nghĩa cộng sản là một chế độ xã hội dựa trên chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất, thay thế cho chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Vì vậy, chủ nghĩa cộng sản là một chế độ xã hội trong đó quyền lực thuộc về người lao động, chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu, quan hệ giữa người và người là quan hệ hợp tác của những người lao động. C. Mác và Ph. Ăngghen cũng chỉ ra rằng, không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được, mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào tạo lập được một lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hoá cao độ với năng suất lao động rất cao thì mới xoá bỏ được chế độ tư hữu. Sự phát triển tới được trình độ cao đó của lực lượng sản xuất cũng mới chính là điều kiện làm cho mỗi thành viên trong xã hội đều có cơ hội phát triển như nhau.

    Ba là, sản xuất nhằm thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội.

    Mục đích của nền sản xuất xã hội dưới chủ nghĩa cộng sản là bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội có đời sống vật chất và văn hoá ngày càng phong phú, bảo đảm cho họ phát triển và vận dụng một cách tự do những năng khiếu về thể lực và trí lực của cá nhân mình.

    Bốn là, nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vi toàn xã hội và sản xuất hàng hoá bị loại trừ.

    Trong xã hội cộng sản, việc sản xuất được tổ chức một cách có ý thức, có kế hoạch, được thực hiện trên phạm vi toàn xã hội và trở thành một tất yếu kinh tế, có khả năng để thực hiện.

    Khi xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở của chính nó thì lao động có tính chất xã hội trực tiếp và sự thủ tiêu quan hệ giá trị trở thành tất yếu kinh tế.

    Năm là, sự phân phối sản phẩm bình đẳng.

    Do sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, xã hội mới sẽ sản xuất ra một lượng sản phẩm dồi dào và được tổ chức phân phối một cách khoa học nhằm thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội. Xuất phát từ luận điểm về quan hệ sở hữu quyết định quan hệ phân phối, Ph. Ăngghen chỉ ra nguyên tắc chung của sự phân phối trong xã hội mới là phân phối sản phẩm theo sự thoả thuận chung, tức là bằng cái mà người ta gọi là sự cộng đồng về tài sản. Nói cách khác, đó là sự phân phối bình đẳng.

    Sáu là, xoá bỏ sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, xoá bỏ giai cấp.

    Sự phát triển cao về kinh tế, văn hoá và xã hội sẽ tạo cơ sở để thủ tiêu những sự đối lập đó.

    Cần lưu ý rằng, những đặc trưng kinh tế – xã hội nêu trên là những đặc trưng của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo cách nói của C. Mác, đó là xã hội đã phát triển trên những cơ sở của chính nó chứ không phải của “một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa”

    .

    Các giai đoạn của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

    Để xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa với những đặc trưng kinh tế – xã hội cơ bản như trên, theo C.Mác cần phải trải qua hai giai đoạn:

    – Giai đoạn đầu, hay giai đoạn thấp.

    – Giai đoạn sau hay giai đoạn cao.

    C.Mác coi giai đoạn đầu là thời kỳ quá độ chính trị lên giai đoạn cao. “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”.

    C.Mác đã chỉ ra rằng, cần phân biệt rõ “xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó”

    , hay là “giai đoạn cao hơn” 2 với “một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa” 3, hay “giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ dài”. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng.

    Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội và giai đoạn sau là chủ nghĩa cộng sản.

    a) Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

    Vận dụng lý luận của C.Mác và Ph. Ăngghen vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga trước đây, V.I.Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với mọi nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đối với những nước có lực lượng sản xuất phát triển cao thì thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều thuận lợi hơn, có thể ngắn hơn so với những nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ nền kinh tế kém phát triển.

    Theo V.I.Lênin, sự cần thiết khách quan phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là do đặc điểm ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản quy định.

    Quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đều dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Do vậy, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có thể ra đời từ trong lòng xã hội phong kiến. Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến một trình độ nhất định, sẽ làm sâu sắc thêm mâu thuẫn của xã hội phong kiến, cách mạng tư sản sẽ nổ ra. Nhiệm vụ của cách mạng tư sản chủ yếu chỉ là giải quyết về mặt chính quyền nhà nước, làm cho kiến trúc thượng tầng thích ứng với cơ sở hạ tầng của nó.

    Cách mạng vô sản có điểm khác biệt căn bản với cách mạng tư sản. Do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên chủ nghĩa xã hội không thể ra đời từ trong lòng xã hội tư bản. Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa chỉ ra đời sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp vô sản giành được chính quyền và bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.

    Hơn nữa, sự phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ lâu dài, không thể ngay một lúc có thể hoàn thiện được. Để phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, xây dựng kiểu xã hội mới, cần phải có thời gian. Nói cách khác, tất yếu phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    Từ sự phân tích như vậy, V.I.Lênin cho rằng, nếu như cách mạng tư sản thắng lợi đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến lên chủ nghĩa tư bản, thì cách mạng vô sản thắng lợi mới chỉ là sự khởi đầu cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện, từ xã hội cũ sang xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Nó diễn ra từ khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào việc xây dựng xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công các cơ sở của xã hội xã hội chủ nghĩa về vật chất – kỹ thuật, kinh tế, văn hoá, tư tưởng. Nói cách khác, kết thúc thời kỳ quá độ khi đã xây dựng xong cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả cơ sở kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

    Đặc điểm cơ bản nhất xuyên suốt và bao trùm của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội nhiều giai cấp. Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế có tính chất quá độ: nó không còn là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin viết: danh từ quá độ có nghĩa là gì ? Vận dụng vào nền kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay, có những thành phần, những bộ phận, những mảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không ? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có.

    Phân tích thực trạng nền kinh tế của nước Nga lúc đó, V.I.Lênin rút ra có năm thành phần kinh tế là:

    – Thành phần kinh tế nông dân gia trưởng.

    – Thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, tiểu thủ công cá thể và tiểu thương.

    – Thành phần kinh tế tư bản tư nhân.

    – Thành phần kinh tế tư bản nhà nước.

    – Thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    Theo V.I.Lênin, trong đó có các thành phần kinh tế cơ bản là: kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    Tương ứng với nền kinh tế quá độ gồm nhiều thành phần, trong xã hội cũng tồn tại nhiều giai cấp, trong đó có ba giai cấp cơ bản là giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, người lao động tập thể.

    Nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội nhiều giai cấp như trên là sự thống nhất biện chứng các mâu thuẫn của tồn tại xã hội. Những mâu thuẫn này bắt nguồn từ tính độc lập tương đối về kinh tế do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.

    Trong thời kỳ quá độ, mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Theo V.I.Lênin, thời kỳ quá độ bao gồm tất cả những đặc điểm, đặc tính của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, là thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội mới ra đời nhưng còn non yếu với chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn. Chính vì tính chất quá độ đó nên trong nền kinh tế quá độ chưa có thành phần kinh tế thống trị chi phối, mới có thành phần kinh tế nhà nước vươn lên giữ địa vị chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

    Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lênin

    Vận dụng lý luận của C.Mác vào điều kiện cụ thể của nước Nga, V.I.Lênin đã hoạch định kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga.

    – Điều kiện ra đời của NEP

    Không bao lâu sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, việc thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội của V.I.Lênin bị gián đoạn bởi cuộc nội chiến 1918-1920. Trong thời kỳ này, V.I.Lênin đã áp dụng Chính sách cộng sản thời chiến. Nội dung cơ bản của Chính sách cộng sản thời chiến là trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi dành lại cho họ mức ăn tối thiểu. Đồng thời, xoá bỏ quan hệ hàng hoá – tiền tệ, xoá bỏ việc tự do mua bán lương thực trên thị trường, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân đội và bộ máy nhà nước.

    Chính sách cộng sản thời chiến đã đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi của Nhà nước Xôviết. Nhờ đó mà quân đội đủ sức để chiến thắng kẻ thù, bảo vệ được Nhà nước Xôviết non trẻ của mình.

    Tuy nhiên, khi hoà bình lập lại, Chính sách cộng sản thời chiến không còn thích hợp. Nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Hậu quả chiến tranh đối với nền kinh tế rất nặng nề, thêm vào đó, chính sách trưng thu lương thực thừa đã làm mất động lực đối với nông dân. Việc xoá bỏ quan hệ hàng hoá – tiền tệ làm mất tính năng động của nền kinh tế vốn dĩ mới bước vào giai đoạn phát triển. Vì vậy, khủng hoảng kinh tế chính trị diễn ra rất sâu sắc. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách kinh tế thích ứng thay thế. Chính sách kinh tế mới được V.I.Lênin đề xướng để đáp ứng yêu cầu này nhằm tiếp tục kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới.

    – Nội dung và biện pháp chủ yếu của Chính sách kinh tế mới

    Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin bao gồm những nội dung và biện pháp chủ yếu sau:

    Một là, thay thế Chính sách trưng thu lương thực bằng Chính sách thuế lương thực. Theo chính sách này, người nông dân chỉ nộp thuế lương thực với một mức cố định trong nhiều năm. Mức thuế này căn cứ vào điều kiện tự nhiên của đất canh tác. Nói cách khác, “Thuế là cái nhà nước thu của nhân dân mà không bù lại”

    . Số lương thực còn lại sau khi nộp thuế, người nông dân được tự do trao đổi, mua bán trên thị trường.

    Hai là, tổ chức thị trường, thương nghiệp, thiết lập quan hệ hàng hoá – tiền tệ giữa Nhà nước và nông dân, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp.

    Ba là, sử dụng sức mạnh kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế quá độ như khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, thợ thủ công; khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân; sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước; củng cố lại các doanh nghiệp nhà nước, chuyển sang chế độ hạch toán kinh tế. Đồng thời, V.I.Lênin chủ trương phát triển mạnh mẽ quan hệ hợp tác kinh tế với các nước tư bản phương Tây để tranh thủ kỹ thuật, vốn và khuyến khích kinh tế phát triển.

    Như vậy, khác với thời kỳ nội chiến, trong điều kiện hoà bình, nước Nga Xôviết đã chủ trương khôi phục và phát triển kinh tế dựa trên nguyên tắc của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường. Rất tiếc là những tư tưởng đó của V.I.Lênin không được những người kế tục sau này phát triển tiếp tục mà lại đưa nền kinh tế đi sang quỹ đạo của nền kinh tế chỉ huy.

    – Ý nghĩa của NEP

    Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trước hết nó khôi phục được nền kinh tế Xôviết sau chiến tranh. Chỉ trong một thời gian ngắn đã tạo ra một bước phát triển quan trọng biến “nước Nga đói” thành một đất nước có nguồn lương thực dồi dào. Từ đó, đã khắc phục được khủng hoảng kinh tế, chính trị; củng cố lòng tin cho nhân dân vào sự thắng lợi tất yếu và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội theo những nguyên lý mà V.I.Lênin đã vạch ra.

    Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin còn đánh dấu một bước phát triển mới về lý luận kinh tế xã hội chủ nghĩa. Theo tư tưởng này, nền kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển quan hệ hàng hoá – tiền tệ, quan tâm tới lợi ích kinh tế cá nhân trước hết là của nông dân, là những vấn đề có tính chất nguyên tắc trong việc xây dựng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    Từ đó chính sách kinh tế mới có ý nghĩa quốc tế to lớn đối với các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta. Những quan điểm kinh tế của Đảng ta nhất là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V đến nay đã thể hiện sự nhận thức và vận dụng quan điểm trong Chính sách kinh tế mới của V.I. Lênin. Tất nhiên, do thời gian và không gian cách xa nhau, trải qua những biến động khác nhau, nên nhận thức và vận dụng có thể có sự khác nhau, kể cả về bước đi, nội dung và biện pháp cụ thể trong khi tiến hành ở nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vận Dụng Lý Luận Về Sở Hữu Của Chủ Nghĩa Mác
  • Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội: Lý Luận Của Chủ Nghĩa Mác
  • Các Thiết Bị Âm Thanh Gia Đình Có Chức Năng Gì ? Bạn Có Biết?
  • Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá Việt Nam Số 09
  • Thẩm Định Giá Tài Sản Theo Cách Tiếp Cận Từ Chi Phí
  • Những Biến Đổi Của Gia Đình Việt Nam Hiện Nay Và Một Số Khuyến Nghị Chính Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Bài Ca Dao Dân Ca Những Câu Hát Hay Về Tình Cảm Gia Đình, Em Hãy Trình Bày Cảm Nhận Của Mình Khi Được Sống Trong Vòng Tay Yêu Thương Của Gia Đình
  • Đồng Tháp: Không Phải Đất Của Gia Đình Nhưng Vẫn Khiếu Nại, Khiếu Kiện Để Đòi
  • Đánh Giá Bếp Điện Sanaky Có Tốt Không, Giá Bao Nhiêu, Mua Ở Đâu
  • Chức Năng Của Gia Đình Trong Việc Nuôi Dưỡng Và Hình Thành Con Người
  • Mô Tả Công Việc Giám Đốc Tài Chính
  • Trước tác động của bối cảnh mới hiện nay, các giá trị gia đình Việt Nam đang có những biến đổi nhất định cần được nhận biết, đánh giá, từ đó đưa ra những khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, góp phần vào thành công của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.

    Xu hướng biến đổi giá trị đạo đức, tâm lý và tình cảm của gia đình Việt Nam đương đại

    Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ gia đình truyền thống sang gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại và tự do hơn. Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập và giao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi mở hơn về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

    Gia đình là giá trị quan trọng hàng đầu

    Người dân Việt Nam vốn coi gia đình là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống, sau đó là sức khỏe, việc làm, thu nhập, bạn bè, học vấn, thời gian giải trí, địa vị, tín ngưỡng tôn giáo và chính trị (Biểu 1). Khái niệm gia đình ở đây là mô hình gia đình truyền thống được xây dựng trên cơ sở hôn nhân.

    Biểu 1. Sắp xếp thứ tự ưu tiên trong cuộc sống theo giới tính (1)

    Gia đình Việt Nam trong quá trình vừa bảo lưu các giá trị truyền thống, vừa tiếp thu yếu tố hiện đại

    Trong số các giá trị đạo đức, tâm lý, tình cảm của gia đình, giá trị chung thủy là giá trị rất được coi trọng trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được người dân đánh giá cao nhất, sau đó là đến các giá trị tình yêu thương, bình đẳng, có con, chia sẻ việc nhà, hòa hợp, có thu nhập. Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 41,6% coi chung thủy là “quan trọng”, và 56,7% coi chung thủy là “rất quan trọng” trong hôn nhân. Đồng thời, nghiên cứu cho thấy hiện tượng bảo lưu những tiêu chuẩn kép khắt khe với phụ nữ và xu hướng vị tha hơn cho nam giới trong vấn đề chung thủy (giá trị “chung thủy quan trọng hơn với phụ nữ” có tỷ lệ đồng ý cao là 66,2%). Điều này cho thấy, chung thủy vẫn là thước đo phẩm giá của người phụ nữ khi họ được kỳ vọng là nhân tố giữ gìn cho sự êm ấm, tốt đẹp của gia đình và xã hội.

    Giá trị tình yêu là một giá trị bảo đảm sự bền vững của hôn nhân, nhất là hôn nhân hiện đại dựa trên tình yêu để kết hôn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có sự khác biệt theo giới tính, tuổi, học vấn trong đánh giá tầm quan trọng của tình yêu với sự gắn kết hôn nhân (trong số người được khảo sát có 89,7% số người được hỏi cho rằng tình yêu là quan trọng và rất quan trọng). Thực tế khảo sát cũng cho thấy tỷ lệ người đánh giá thấp tiêu chí này nhất thuộc về nhóm người trẻ nhất, người dân tộc Kinh, người đi làm, người sống ở đô thị, ở các khu vực có đời sống kinh tế phát triển và mức độ hiện đại hóa cao.

    Hiện nay, các gia đình ngày càng nhận thức cao về tầm quan trọng của trách nhiệm, chia sẻ trong đời sống gia đình. Đó là việc chia sẻ những mối quan tâm, lắng nghe tâm tư, suy nghĩ của các thành viên trong gia đình. Các gia đình có mức độ hiện đại hóa càng cao, mang nhiều đặc điểm hiện đại, như sống ở đô thị, có việc làm, có học vấn cao, mức sống cao, các khu vực kinh tế phát triển hơn thì các giá trị chia sẻ và trân trọng càng được các cặp vợ chồng thể hiện rõ. Tuy nhiên thực tế cho thấy, người phụ nữ vẫn chưa bình đẳng thực sự với nam giới, thể hiện trong tỷ lệ được người chồng chia sẻ, lắng nghe tâm tư và chia sẻ suy nghĩ. Các gia đình được khảo sát ở khu vực Đông Nam Bộ đạt điểm số trung bình cao nhất trong các hoạt động chia sẻ, lắng nghe những mối quan tâm, tâm tư của vợ/chồng. Còn nhóm nữ giới, dân tộc thiểu số, có mức sống thấp, ở nông thôn, học vấn thấp thì có tỷ lệ cao trong việc cho rằng bạn đời coi thường hoặc đánh giá thấp việc ứng xử hằng ngày hoặc đóng góp của họ đối với gia đình.

    Như vậy, có thể thấy, nếu chia tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời theo nhóm giá trị cá nhân (tình yêu, hình thức, thu nhập, công việc, học vấn) và giá trị tập thể (gia đình tương đồng, sự chấp thuận của bố mẹ, cùng địa phương, cùng dân tộc) thì các giá trị cá nhân trong chọn lựa bạn đời là xu hướng nổi bật hiện nay, nhất là với nhóm có đặc điểm hiện đại, như học vấn cao, sống ở thành thị.

    Gia đình truyền thống và mức độ chấp nhận cởi mở dần với một số hiện tượng hôn nhân gia đình mới

    Các kiểu loại gia đình mới như hôn nhân đồng giới, chung sống không kết hôn, làm mẹ đơn thân, tùy từng giai đoạn, thường rất hiếm hoặc không có trong truyền thống nhưng lại có xu hướng gia tăng trong các xã hội đang chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, hiện đại. Ở Việt Nam hiện nay, một bộ phận người dân, chủ yếu là người dân tộc Kinh, trẻ tuổi, học vấn cao, ở thành thị có tỷ lệ chấp nhận những kiểu loại gia đình mới cao hơn, tuy rằng có thể chưa thực sự hiểu rõ những hệ quả tiêu cực của nó.

    Trong xã hội Việt Nam truyền thống, người phụ nữ không lấy chồng nhưng có con thường phải chịu sự lên án gay gắt của xã hội, cộng đồng và gia đình. Hiện nay, hôn nhân vẫn là quyết định hệ trọng trong cuộc đời của người phụ nữ. Tuy vậy, cùng với sự tiếp nhận văn hóa phương Tây cộng với quyền cá nhân ngày càng được pháp luật bảo vệ, người phụ nữ ngày càng có quyền quyết định việc kết hôn và có con. Quyền làm mẹ không chỉ thể hiện sự biến đổi trong nhận thức mà còn là biểu hiện của sự nhân văn trong bảo vệ quyền của phụ nữ.

    Gia đình hiện đại và xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng

    Quan hệ của gia đình với dòng họ trong xã hội Việt Nam hiện nay còn khá chặt chẽ, gắn kết, mức độ gắn kết mạnh mẽ hơn ở nhóm mang những đặc điểm truyền thống (như cao tuổi, học vấn thấp, nghèo, cư trú ở nông thôn); thể hiện ở số gia đình đồng ý cao với nhận định mỗi gia đình, thành viên cần luôn gắn kết với dòng họ để giúp đỡ lẫn nhau, đạt điểm trung bình 4,04 theo thang đo 5 điểm, coi trọng việc giữ gìn nền nếp gia phong cho con cháu, đạt điểm trung bình 4,17 theo thang đo 5 điểm.

    Thực tế cho thấy có xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng theo mức độ hiện đại hóa. Ở một chừng mực nhất định, những giá trị truyền thống về tình làng nghĩa xóm vẫn được duy trì. Điều này cho thấy tính liên tục của các giá trị văn hóa nhưng cũng đã có những biểu hiện mới ở thế hệ trẻ về thái độ đối với quan hệ tình cảm và quan hệ vật chất giữa các thành viên trong gia đình và cộng đồng. Trong khi người cao tuổi đề cao việc ứng xử có lễ nghĩa, có trước có sau trong mọi hoàn cảnh thì nhiều thanh niên lại gắn khía cạnh kinh tế với khía cạnh tình cảm, hạnh phúc gia đình. Họ cho rằng không thể có hạnh phúc nếu khó khăn về kinh tế.

    So với điểm trung bình về mức độ gắn kết với dòng họ, mức độ gắn kết giữa gia đình với cộng đồng thấp hơn. Chẳng hạn, điểm trung bình về nhận định “bạn bè xóm giềng giúp đỡ bất cứ khi nào tôi cần” là 3,52/5 điểm, khá thấp so với nhiều giá trị về quan hệ gắn kết với cha mẹ, anh chị em và dòng họ. Một chiều quan hệ khác của gia đình với cộng đồng là mức độ tham gia các hoạt động cộng đồng của gia đình và thành viên gia đình. Kết quả cho thấy, điểm trung bình tham gia các hoạt động cộng đồng là 3,54, trên ngưỡng trung bình một chút, cho thấy, tính cộng đồng của người dân Việt Nam đang trên đà suy giảm.

    Tình làng nghĩa xóm theo nghĩa được giúp đỡ, hỗ trợ thể hiện nhiều hơn ở nhóm các gia đình mang đặc điểm hiện đại thấp hơn. Điểm trung bình về mức độ sẵn sàng hy sinh lợi ích vì cộng đồng của gia đình Việt Nam trong diện được khảo sát là 3,60, không quá cao, nhưng cũng không quá thấp. Điều đáng chú ý là, mức độ sẵn sàng vì tập thể, vì cái chung cao hơn ở khu vực có mức độ hiện đại thấp hơn, tức là khu vực còn duy trì tính cộng đồng cao hơn. Mức độ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì cái chung giảm dần theo đoàn hệ tuổi, cho thấy càng nhóm trẻ, mức độ chấp nhận tính cộng đồng, tính tập thể càng thấp, tính cá nhân càng cao. Chiều hướng này cũng tương tự nếu nhìn theo mức độ chấp nhận hy sinh lợi ích cá nhân vì cái chung theo trình độ học vấn của người trả lời và mức sống. Sự chấp nhận giá trị cộng đồng, giá trị tập thể cao hơn ở những nhóm có đặc điểm truyền thống hoặc yếu thế hơn.

    Như vậy, các kết quả nghiên cứu về giá trị gia đình Việt Nam hiện nay cho thấy có sự dịch chuyển từ các giá trị gia đình truyền thống sang giá trị gia đình hiện đại, đồng thời có sự bền vững tương đối của văn hóa trong quá trình hiện đại hóa.

    Hiện nay, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ hôn nhân và gia đình Việt Nam. Việc bùng nổ các thiết bị thông minh khiến cá nhân dễ dàng chìm đắm trong thế giới ảo và giảm các giao tiếp trực tiếp trong gia đình, trong xã hội, khiến lối sống, cảm xúc, ứng xử, hệ giá trị của con người và đặc biệt là sự duy trì các quan hệ xã hội có thể bị đảo lộn. Trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, một mặt, mang lại tiềm năng lớn giải phóng sức lao động của con người, mặt khác, tạo nên một thế giới tình yêu, hôn nhân ảo, như hẹn hò trực tuyến, thậm chí là rô-bốt tình dục,… dẫn đến nguy cơ tạo ra một thế hệ trẻ không cần tình yêu, không cần gia đình, không cần con cái, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và bền vững của các quan hệ gia đình trong thế giới thực. Thực tế, một số quốc gia trên thế giới đã ghi nhận hiện tượng nam giới hẹn hò và cưới rô-bốt tình dục hoặc một thế hệ trẻ đắm chìm trong thế giới công nghệ mà lảng tránh đời sống thực. Số liệu khảo sát những biến đổi về quan niệm hôn nhân trong xã hội hiện đại cho thấy 28,4% muốn sống chung trước khi kết hôn và 13,3% thích sống độc thân và không có ý định kết hôn. Đây là một nét rất mới của bối cảnh chuyển đổi khiến cho cấu trúc của gia đình, dòng họ và mối quan hệ gia đình có nhiều biến đổi.

    Trong bối cảnh các giá trị gia đình vẫn là giá trị được người dân ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống cũng như quy mô, cơ cấu, chức năng gia đình đang thay đổi theo hướng hiện đại hóa, cá nhân hóa, hạt nhân hóa, cần đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, tăng cường các hoạt động tuyên truyền, truyền thông về bình đẳng giới.

    Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và hỗ trợ phụ nữ tự thoát khỏi các định kiến xã hội từ cộng đồng và từ chính bản thân về những khắt khe trong hành vi hôn nhân và gia đình, hướng phụ nữ tới những giá trị được tôn trọng, được bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục, được tự thể hiện bản thân, được hạnh phúc, đồng thời đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa…

    Hai là, xây dựng chính sách và dịch vụ xã hội bảo đảm sự tiếp cận công bằng, bình đẳng giữa các hình thức gia đình hiện nay, như chung sống không kết hôn, gia đình đơn thân, gia đình đồng tính, gia đình có hôn nhân với người nước ngoài, gia đình ly hôn/ly thân…

    Bốn là, xem xét xây dựng nội hàm mới cho mục tiêu xây dựng gia đình trong thời kỳ tới trên cơ sở những giá trị gia đình đã được định hình thông suốt và thống nhất về mặt nhà nước là “ấm no”, “bình đẳng”, “chung thủy”, “tiến bộ” và “hạnh phúc”. Trên thực tế, các giá trị này mang hàm nghĩa rộng mà đời sống xã hội hay trong quan niệm của nhân dân có thể còn những biểu hiện cụ thể hơn nữa, như giá trị của hôn nhân, gia đình, các biểu hiện của bền vững gia đình, giá trị con cái, tình thương yêu, hiếu thảo, đoàn kết cộng đồng, đồng thời bao hàm cả những biến đổi mạnh mẽ theo mức độ hiện đại hóa của các gia đình hiện nay. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2030 nên xem xét bổ sung nội hàm mới cho mục tiêu xây dựng gia đình. Trong giai đoạn tới, Việt Nam nên chuyển mục tiêu từ ” xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội” sang ” xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, phồn thịnh, là thiết chế quan trọng của các quá trình kinh tế – xã hội và nguồn nhân lực ổn định, chất lượng ” để tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của gia đình trong sự phát triển của xã hội, đặt gia đình trong mối quan hệ “động” hơn với các quá trình kinh tế – xã hội chung./.

    Chú thích

    (*) Tất cả các số liệu trong bài viết đều dựa trên kết quả khảo sát của đề tài khoa học: “Các giá trị cơ bản của gia đình Việt Nam” của tác giả bài viết, thực hiện trong giai đoạn 2021 – 2021, với mẫu khảo sát 1.759 đại diện các hộ gia đình, tuổi từ 16-70, được chọn theo tiêu chí đại diện vùng, giới tính, nông thôn/đô thị, tuổi, tại 9 xã, phường thuộc 6 tỉnh, thành phố (Yên Bái, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau)

    (1) Sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ 1 (rất có ý nghĩa) đến 10 (rất không có ý nghĩa).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gia Đình Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Cnxh Ở Việt Nam
  • Phân Tích Những Định Hướng Cơ Bản Của Việc Xây Dựng Gia Đình Mới Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Trung Tâm Chuyển Mạch
  • Bài Giảng Chức Năng Điều Khiển
  • Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội
  • Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay
  • Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Thứ năm, 30 Tháng 7 2021 15:48

    (LLCT) – Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Gia đình với tư cách là một thiết chế then chốt và cơ bản của xã hội cũng chịu những tác động sâu sắc từ những biến đổi về kinh tế, xã hội, trong đó chức năng kinh tế của gia đình đang có những biến đổi lớn.

    1. Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình.

    Cho đến nay, các nghiên cứu đều cho rằng, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình chuyển đổi từ đơn vị sản xuất sang đơn vị tiêu dùng. Các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay dường như không còn là đơn vị kinh tế tự sản xuất, tự tiêu thụ mà đã bắt đầu cung ứng ra thị trường. Hiện nay, gia đình vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình theo đuổi các mục đích khác nhau cùng với các hoạt động kinh tế khác nhau; trong đó, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống. Với cách hiểu này, biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã khiến cho sự thay đổi mục đích và hoạt động sản xuất của các thành viên trong gia đình. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, chức năng kinh tế hộ gia đình trải qua hai bước chuyển đổi: chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hóa và chuyển kinh tế gia đình hàng hóa thành kinh tế gia đình thị trường hiện đại. Với tư cách là đơn vị tiêu dùng, gia đình không sử dụng những sản phẩm của mình làm ra mà sử dụng hàng hóa và dịch vụ xã hội.

    Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình Việt Nam thể hiện khá rõ nét trong những năm gần đây. Theo điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cho thấy, số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản có xu hướng giảm và số hộ hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Năm 2006, có 71,06% số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011, tỷ lệ này là 62,15%. Trong khi đó, tỷ lệ hộ nông thôn hoạt động công nghiệp tăng từ 10,18% năm 2006 lên 15,03% năm 2011; tỷ lệ ở hộ nông thôn hoạt động dịch vụ tăng từ 14,92% năm 2006 lên 18,41% năm 2011.

    Ở đồng bằng sông Hồng, tình trạng chuyển đổi này cũng diễn ra khá nhanh. Kết quả thống kê cho thấy, nếu năm 2006 có 60,50% hộ gia đình hoạt động trong ngành nghề nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011 chỉ còn 47,44%; trong khi đó, tỷ lệ hộ công nghiệp và xây dựng ở nông thôn tăng từ 16,09% năm 2006 lên 23,48% năm 2011, tỷ lệ hộ dịch vụ tăng từ 16,94% năm 2006 lên 21,37% năm 2011. Kết quả này phản ánh sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn, hộ gia đình từ một đơn vị sản xuất tự cấp, tự túc đã chuyển sang đơn vị tiêu dùng. Xu hướng thay đổi ở đồng bằng sông Hồng diễn ra khá nhanh so với cả nước.

    Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã cho thấy sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình đã và đang hiện hữu ở nước ta nói chung, đồng bằng sông Hồng nói riêng. Chức năng kinh tế của một gia đình biến đổi khi có một hay nhiều thành viên lao động không tham gia vào các hoạt động sản xuất của gia đình hoặc tất cả thành viên lao động của gia đình đều có hoạt động sản xuất ở bên ngoài gia đình với tư cách cá nhân. Một gia đình còn duy trì chức năng kinh tế khi còn ít nhất hai lao động tham gia vào quá trình sản xuất của gia đình. Khi gia đình chỉ còn một lao động hoặc không có lao động thực hiện các hoạt động sản xuất của gia đình thì gia đình đó không còn có chức năng kinh tế. Điều này có thể hiểu rằng, quá trình biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình là quá trình giảm dần và tiến tới chỗ không còn thực hiện chức năng kinh tế của nó với tư cách là một đơn vị sản xuất. Trong xã hội nông nghiệp truyền thống ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, trên 95% các gia đình đều có chức năng kinh tế như là một đơn vị sản xuất trong nông nghiệp, hoặc tiểu thủ công nghiệp.

    2. Biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình

    Qua kết quả điều tra do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện năm 2012 (các tỉnh) ở đồng bằng sông Hồng cho thấy, cơ cấu nghề nghiệp của hộ gia đình hiện nay.

    Về cơ cấu nghề của hộ gia đình theo địa bàn nghiên cứu.Các số liệu điều tra cho thấy, số hộ làm nghề nông nghiệp là 34,3%; tiểu thủ công nghiệp là 8,9%; buôn bán, dịch vụ là 8,5% và làm các nghề khác là 48,3%. Cơ cấu nghề của các hộ có những khác biệt nhất định ở 4 tỉnh:

    Phân tích số liệu cơ cấu nghề của hộ gia đình theo giới tính chủ hộ cho thấy, các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ có xu hướng làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhiều hơn, các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ có xu hướng làm buôn bán, dịch vụ nhiều hơn (Xem bảng trên).

    Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo độ tuổi của chủ hộ

    Những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 20 – 39 ít có xu hướng làm nông nghiệp (dưới 10%) so với những hộ gia đình có chủ hộ trong nhóm tuổi từ 40 trở lên. Hộ gia đình có chủ hộ tuổi 40 – 49 có tỷ lệ làm nông nghiệp gấp hơn 3 lần so với hai nhóm tuổi trẻ hơn; và hộ gia đình có chủ hộ tuổi 50 – 59 và trên 60 có tỷ lệ làm nông nghiệp gần gấp đôi so với nhóm tuổi trẻ hơn. Như vậy, có thể thấy sự biến đổi có tính bước ngoặt trong chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.

    Cơ cấu nghề nghiệp hộ gia đình theo trình độ học vấn của chủ hộ

    Trình độ học vấn của chủ hộ và nghề nghiệp của các hộ gia đình có mối quan hệ khá rõ nét. Học vấn của chủ hộ gia đình càng thấp thì xác suất làm nghề nông nghiệp càng lớn hơn. Các chủ hộ gia đình có học vấn lớp

    1 – 5 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 49,1%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 35,1% và các hộ gia đình, chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm nông nghiệp là 27,1%.

    Các số liệu cũng cho thấy mối quan hệ giữa học vấn của chủ hộ với xác suất làm các nghề buôn bán, dịch vụ của các hộ gia đình. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 1 – 5 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 5,3%. Các hộ gia đình có chủ hộ với học vấn lớp 6 – 9 có tỷ lệ số hộ làm buôn bán, dịch vụ là 7,7% và các hộ gia đình có chủ hộ học vấn lớp 10 – 12 có tỷ lệ làm buôn bán, dịch vụ là 11,9%.

    Quan hệ cơ cấu nghề của hộ gia đình và quy mô diện tích đất sản xuất

    Phân tích mối quan hệ giữa bình quân diện tích đất sản xuất /đầu người và ngành nghề của hộ gia đình cho thấy kết quả như sau: các hộ nông nghiệp có bình quân diện tích đất sản xuất cao nhất với 630 m 2; các hộ buôn bán, dịch vụ là 551 m 2; các hộ làm tiểu thủ công nghiệp là 417 m 2 và các hộ làm nghề khác là 513m 2. So với các số liệu về bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp, các hộ buôn bán, dịch vụ có tăng thêm đáng kể diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp so với các loại hộ khác. Trong hoạt động thương mại, dịch vụ, mặt bằng sản xuất là đất đai cũng là một yếu tố rất quan trọng để mở rộng quy mô hoạt động buôn bán, kinh doanh. Các hộ thương mại, dịch vụ thường có diện tích đất sản xuất phi nông nghiệp nhiều hơn các loại hình hộ sản xuất khác.

    Có hai yếu tố ảnh hưởng mạnh tới quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các cá nhân đó là yếu tố thế hệ và trình độ học vấn. Những người lao động ở độ tuổi càng trẻ thì xác suất làm nông dân càng thấp và những người lao động có trình độ học vấn càng cao thì xác suất làm nông dân càng thấp hơn. Những lao động ở nông thôn thuộc các thế hệ trẻ (dưới 40 tuổi) và có trình độ học vấn lớp 10 trở lên có xu hướng thoát ly hộ gia đình nông nghiệp và làm các nghề phi nông nghiệp ngày càng tăng. Quá trình này làm giảm tỷ trọng các hộ nông nghiệp, và từ đó làm giảm tỷ trọng các hộ còn duy trì chức năng kinh tế của hộ gia đình nói chung.

    Quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ nông dân sang các loại hình hộ kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ là một quá trình tất yếu khách quan ở nông thôn hiện nay. Trong những điều kiện đất đai canh tác ngày càng hạn chế, thu nhập lao động nông nghiệp thấp so với tất cả các ngành nghề khác trong xã hội và không thể đáp ứng được nhu cầu đời sống ngày càng cao, việc thoát ly sản xuất nông nghiệp là không thể tránh khỏi đối với một bộ phận lớn lao động nông thôn. Tuy nhiên, để có thể chuyển đổi nghề của một hộ gia đình sang các lĩnh vực kinh tế khác như tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ đều cần một lượng vốn nhất định. Do đó, chỉ có một bộ phận số hộ nông nghiệp có khả năng chuyển đổi nghề sang các lĩnh vực khác với tư cách là một đơn vị hộ kinh tế. Số hộ nông nghiệp còn lại sẽ không có khả năng tiếp tục thực hiện các chức năng kinh tế hộ khi các thành viên lao động thoát ly và làm các nghề khác. Số liệu khảo sát cho thấy, trong các hộ nông nghiệp, tỷ lệ hộ thuần nông nghiệp chiếm 35%. Do đó, số hộ kinh tế nông nghiệp sẽ ngày càng giảm.

    Với quy mô đất canh tác giảm và thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hiện nay, ước tính để duy trì hoạt động của các hộ nông nghiệp như là một đơn vị kinh tế và bảo đảm thu nhập cho lao động nông nghiệp ở mức trung bình của xã hội, quy mô đất canh tác của hộ cần tăng 3 – 4 lần. Như vậy, tức là số hộ nông nghiệp sẽ giảm 3 – 4 lần. Tỷ trọng các hộ sản xuất nông nghiệp sẽ giảm từ hơn 30% như hiện nay xuống còn khoảng 10% trong vòng 10 năm tới.

    Trong ba loại hình kinh tế hộ, các hộ kinh tế tiểu thủ công nghiệp và buôn bán dịch vụ có thể duy trì và tăng số lượng, nhưng sẽ khó tăng nhanh do những khó khăn về nguồn vốn và chất lượng lao động, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế suy thoái hiện nay. Do đó, trong giai đoạn 10 – 20 năm tới, với đà giảm số lượng các hộ nông nghiệp, tỷ trọng các hộ gia đình có chức năng kinh tế sẽ tiếp tục giảm.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2014

    TS Đặng Ánh Tuyết

    Viện Xã hội học,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công
  • Khảo Sát Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Tại Các Cơ Quan Hành Chính
  • Kiểm Soát Tham Nhũng Trong Khu Vực Công
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Công Quanlycong Ppt
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Công
  • Luận Án: Pháp Luật Về Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay, Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thiết Bị Điện Thông Minh
  • Các Biện Pháp Bình Ổn Giá Xăng Dầu Của Việt Nam
  • Tiểu Luận Thực Trạng Xăng Dầu Tăng Giá Và Các Giải Pháp Bình Ổn Thị Trường Xăng Dầu Trong Nước
  • Sẽ Sử Dụng Nhiều Giải Pháp Để Bình Ổn Giá Xăng Dầu
  • Thực Trạng Xăng Dầu Và Các Giải Pháp Bình Ổn Thị Trường Xăng Dầu Trong Nước
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận án tiến sĩ ngành luật với đề tài: Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay, cho các bạn tham khảo

    1. 1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRẦN TUYẾT ÁNH hoµn thiÖn ph¸p luËt vÒ gia ®×nh ë viÖt nam hiÖn nay LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT HÀ NỘI – 2021
    2. 2. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRẦN TUYẾT ÁNH hoµn thiÖn ph¸p luËt vÒ gia ®×nh ë viÖt nam hiÖn nay LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Mã số: 62 38 01 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi LÊ MINH TÂM HÀ NỘI – 2021
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Trần Tuyết Ánh
    4. 4. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH, PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 7 1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 7 1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 17 1.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 20 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 23 2.1. Khái niệm pháp luật về gia đình, đặc điểm, nội dung và vai trò của pháp luật về gia đình ở Việt Nam 23 2.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam 45 2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam 50 2.4. Pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới và những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam 55 Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 67 3.1. Quá trình phát triển của pháp luật về gia đình 67 3.2. Thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 73 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 114 4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 114 4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay 122 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
    5. 5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BĐG Bình đẳng giới BVCS&GDTE Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em CEDAW Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GAD Giới và phát triển HĐDT Hội đồng dân tộc HĐND Hội đồng nhân dân LĐTB&XH Lao động, Thương binh và Xã hội LHPN Liên hiệp phụ nữ LHQ Liên hợp quốc PBGDPL Phổ biến, giáo dục pháp luật PCBLGĐ Phòng chống bạo lực gia đình UBND Ủy ban nhân dân UBQGVSTBCPN Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội UBVCVĐXH Ủy ban về các vấn đề xã hội UN WOMEN Cơ quan phụ nữ của Liên hợp quốc UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc UNIFEM Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật WID Phụ nữ trong phát triển XHCN Xã hội chủ nghĩa
    6. 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường đặc biệt quan trọng để hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, gia đình cũng là tổ ấm, nơi bình yên, an toàn, nơi duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống về gia đình, bảo tồn các phong tục, tập quán tốt đẹp, đấu tranh loại bỏ những tiêu cực, tệ nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, giữa gia đình và xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau: “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”. Trong gần ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, những thành tựu to lớn đạt được trong phát triển kinh tế, xã hội đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình. Vị trí, vai trò, chức năng của gia đình tiếp tục được phát huy và bổ sung thêm nhiều nét mới về nội dung và ý nghĩa xã hội ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn. Ngày càng có nhiều gia đình văn hóa góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp hàng triệu gia đình thoát nghèo và nâng cao mức sống. Kinh tế gia đình thực sự đóng góp quan trọng trong việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân. Nhiều giá trị nhân văn mới như phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới, quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình ngày càng được đề cao. Pháp luật về gia đình ngày càng hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, bình đẳng. Hệ thống cơ quan nhà nước và tổ chức tham gia công tác gia đình ngày càng kiện toàn và hoạt động có hiệu quả. Đảng và Nhà nước đã quan tâm đề ra nhiều chủ trương, chính sách để phát huy vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, nhiều hiện tượng tiêu cực mới nẩy sinh trong quan hệ gia đình có xu hướng ngày càng phức tạp. Công tác quản lý nhà nước về gia đình chưa thực sự hiệu quả. Bạo hành trong gia đình còn diễn biến rất phức tạp. Ở nhiều nơi, trong nhiều gia đình vẫn còn nặng tư tưởng trọng nam, khinh nữ, chưa bảo đảm bình đẳng giới trong gia đình. Tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em
    7. 7. 2 phải lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển. Các hiện tượng các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, HIV/AID xâm nhập vào gia đình chưa thuyên giảm. Nhiều giá trị đạo đức truyền thống của gia đình như kính trên nhường dưới, thủy chung, hiếu nghĩa đang có biểu hiện xuống cấp… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình nói trên, trong đó có một số nguyên nhân như: Sự nhận thức về vị trí, vai trò của gia đình và công tác gia đình, công tác quản lý nhà nước về gia đình còn một số bất cập, chưa huy động sự tham gia của xã hội và cộng đồng. Pháp luật về gia đình đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa theo kịp sự phát triển của gia đình trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Các quy định pháp luật về gia đình tồn tại rải rác trong nhiều văn bản khác nhau. Nhiều quy phạm chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu minh bạch, không phù hợp điều kiện thực tế khách quan nên tính khả thi còn hạn chế. Nhiều vấn đề phát sinh trong lĩnh vực gia đình chưa được phản ánh và xử lý kịp thời; chính sách, pháp luật về gia đình chưa đồng bộ; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về gia đình và trang bị các kiến thức, kỹ năng ứng xử trong các quan hệ về gia đình chưa được coi trọng… Việc tổng kết thực hiện pháp luật về gia đình, nghiên cứu chính sách, pháp luật về gia đình chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, vì vậy, cho đến nay chưa có cơ sở khoa học và thực tiễn đúng đắn phục vụ cho công tác hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về gia đình. Do vậy, nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện pháp luật về gia đình, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về gia đình, hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững là cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng ở nước ta hiện nay. Xuất phát lý do trên, Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay” làm Luận án tiến sĩ của mình tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về gia đình, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam và đề ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay.
    8. 9. 4 khó khăn; 6/ quan hệ phát triển kinh tế gia đình; 7/ quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với gia đình; Trong các quan hệ xã hội nói trên, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu 4 nhóm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ 1, 2, 3, 7 bởi vì việc hoàn thiện các nhóm quy phạm pháp luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu hàng đầu được nêu trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2021, tầm nhìn 2030, đó là: “Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình”. Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về gia đình ở Việt Nam từ năm 1945 nhưng tập trung vào giai đoạn hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu – Đề tài luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung, về gia đình và pháp luật về gia đình nói riêng. Bên cạnh đó, đề tài chú trọng những quan điểm, tri thức khoa học có tính phổ biến ở trong nước và nước ngoài về gia đình và pháp luật về gia đình để tham khảo và phục vụ cho việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án. Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, tác giả luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: – Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong chương 2, 3, 4 để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình. – Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng trong các chương 2,3,4 để làm rõ nội dung, vai trò, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình, các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam.
    9. 10. 5 – Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lô gíc được sử dụng ở chương 2, 3, 4: Luận án nghiên cứu từng vấn đề trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước với thực tiễn thực hiện pháp luật về gia đình. Ba chương của luận án được nghiên cứu trong mối quan hệ lôgíc xuyên suốt từ cơ sở lý luận đến thực trạng và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình. – Phương pháp thống kê và xã hội học pháp luật được sử dụng trong chương 3 khi đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình. – Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 1 để làm rõ tình hình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Phương pháp này cũng được sử dụng ở chương 2 để so sánh các pháp luật về gia đình của một số nước. 5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau: – Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện các quan điểm, quan niệm về pháp luật về gia đình, luận án đã xây dựng khái niệm khoa học pháp luật về gia đình, chỉ ra vai trò, đặc điểm của pháp luật về gia đình, với nội dung bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quản lý nhà nước về gia đình, phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới trong gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình; đồng thời, xây dựng các tiêu chí về nội dung và hình thức để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình; phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay. – Chỉ rõ quá trình phát triển của pháp luật về gia đình ở Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam, khẳng định những bước phát triển, những ưu điểm cần phát huy, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó, luận án đề xuất 4 quan điểm và 6 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay.
    10. 12. 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH, PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về gia đình – Đề tài “Nghiên cứu căn cứ khoa học để xây dựng ngành gia đình học ở Việt Nam”, của Nguyễn Văn Cương . Cuốn sách này đã làm rõ khái niệm quy mô gia đình; số người, số thế hệ trong gia đình; khái niệm về hôn nhân, tình trạng kết hôn và ly hôn ở Việt Nam; thực trạng và những biến đổi của mối quan hệ vợ chồng trong gia đình trên các phương diện: vai trò của chủ hộ, vai trò của vợ chồng trong sản xuất, đóng góp thu nhập…; mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình; mối quan hệ họ hàng thân tộc… Có thể nói cuốn sách đã nêu khá chi tiết các khái niệm, các mối quan hệ, chức năng của gia đình đồng thời cũng dự báo được xu thế biến đổi của gia đình Việt Nam, những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế… – “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, của Lê Thi . Sách gồm 04 phần: Phần I: Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ đổi mới; Phần II: Vấn đề gia đình và gia đình văn hóa; Phần III: Những kinh nghiệm và định hướng cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa. – “Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường”, của Nguyễn Thị Khoa . Nội dung của sách đề cập tới vấn đề trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá gia đình ở các đô thị Việt Nam đang có sự chuyển tiếp từ truyền thống sang hiện đại trên các bình diện hôn nhân, cơ cấu gia đình và các mối quan hệ trong gia đình. Biến đổi trong lĩnh vực hôn nhân thể hiện ở vai trò quyết định của các thành viên trong gia đình đối với công việc hệ trọng này, độ tuổi kết hôn cũng như quan niệm về hôn nhân, cách tổ chức lễ cưới. Cơ cấu của gia đình đô thị chiếm đa số là loại hình hai thế hệ và vai trò người phụ nữ được nâng cao. Về các mối quan hệ trong gia đình đô thị Việt Nam hiện nay bao hàm nhiều nhân tố mới, tích cực, bình đẳng trong quan hệ vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình. – “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình”, của Viện Nghiên cứu Gia đình và giới . Sách đề cập nhiều vấn đề như: Thành tựu nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới và một số vấn đề đặt ra; Nghiên cứu phụ nữ, gia đình và giới: Từ kết quả đến định hướng; Những chiều cạnh cơ bản của phát triển thanh niên trong thời kỳ đổi mới; Giảng dạy và nghiên cứu về giới ở trường đại học; Đi tìm những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống; Giới và các vấn đề giới ở Việt Nam; Nghiên cứu về quyền phụ nữ; Phụ nữ Việt Nam và việc tham gia chính trị… Đây là công trình rất công phu, giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Tuy nhiên, vấn đề lý luận về gia đình và công tác gia đình còn hạn chế, các tác giả chưa đi sâu phân tích nội hàm của công tác gia đình, quản lý nhà nước về gia đình và công tác gia đình đề cập còn rất khiêm tốn. Vấn đề hành lang pháp lý cho công tác gia đình ít được nhóm tác giả đề cập. – “Diễn đàn gia đình cấp Bộ trưởng khu vực Đông Á lần thứ nhất”, của Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em . Sách đã tập hợp và giới thiệu được các Quyết định và Chỉ thị của Trung ương giúp định hướng quá trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh như: Quyết định số 106/2005/QĐ-TTg ngày 16/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010; Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư về xây
    11. 19. 14 đánh giá công tác phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình ở các địa phương; + Nhận thức, thái độ, hành vi của người dân, cộng đồng và chính quyền về bạo lực gia đình, nguyên nhân của bạo lực gia đình, trong đó tập trung vào 2 nhóm bạo lực gia đình: bạo lực của chồng đối với vợ; bạo lực của con với bố mẹ là người cao tuổi; + Tìm hiểu về hiệu quả của các hình thức truyền thông và các cơ quan truyền thông do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã, đang và dự kiến phối hợp thực hiện truyền thông trong lĩnh vực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; + Những ứng phó của người dân, của cộng đồng với bạo lực gia đình; + Tìm hiểu về biện pháp xử lý của chính quyền, đoàn thể đối với những vụ việc bạo lực gia đình và những vi phạm hành chính trong lĩnh vực bạo lực gia đình. Việc tiến hành điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp nhằm ngăn chặn, làm giảm số vụ bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012- 2021 là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cần thiết nhằm giúp cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, trước hết là Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch có được những giải pháp trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình ở các địa phương. Cuộc điều tra này không nhằm phác họa lại bức tranh thực trạng tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam mà chỉ nhằm mục đích tìm hiểu mô hình hành vi bạo lực gia đình cũng như nhận thức và các nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình ở một số địa phương, qua đó đánh giá công tác phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012 – 2021. – “Bạo lực gia đình – một sự sai lệnh giá trị”, của Lê Thị Quý, Đặng Vũ Cảnh Linh . Sách là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo rất cao vì đã tập hợp được một hệ thống các văn bản hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh Tiền Giang: Các Nghị quyết, Kết luận, Thông tư, Quy chế, Chương trình… Đây là nguồn tài liệu có tính định hướng cho thí sinh trong quá trình nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. – “Luật phòng, chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới”, của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội XI . Nội dung sách nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam, tài liệu giới thiệu được phương pháp tiếp cận theo vòng đời đối với bạo lực trên cơ sở giới, trong đó tập trung vào hình thức bạo lực gia đình phổ biến nhất bạo hành do chồng gây ra đối với vợ hay giữa những người bạn tình.
    12. 24. 19 chuẩn mực này ở cấp quốc gia. Rea đã hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn và có những hoạt động xây dựng năng lực cho chính phủ, các chuyên gia, các tổ chức phi chính phủ và những người tuyên truyền vận động về bình đẳng giới và quyền con người ở một số nước. Trong cuốn sách này, tác giả đề cập các vấn đề như: Bối cảnh Việt Nam, khuôn khổ chính trị và pháp luật ở Việt Nam, công ước xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối sử chống lại phụ nữ (CEDAW), những thực tế ban đầu về CEDAW và Việt Nam, đánh giá văn bản pháp luật và việc tuân thủ CEDAW. Trong đánh giá văn bản pháp luật và việc tuân thủ CEDAW, tác giả đã đề cập đến những vấn đề như: Những công việc chính để xóa bỏ phân biệt đối xử đảm bảo bình đẳng (Các điều 1-3 CEDAW), các biện pháp đặc biệt tạm thời và các biện pháp ưu tiên cho bà mẹ (Điều 4 của CEDAW), những mẫu hình xã hội và văn hóa của hành vi (Điều 5 của CEDAW), buôn bán người và bóc lột mại dâm (Điều 6 của CEDAW), quốc tịch (Điều 9 của CEDAW), giáo dục (Điều 10 của CEDAW), việc làm (Điều 11 của CEDAW), sức khỏe (Điều 12 của CEDAW), đời sống kinh tế và xã hội (Điều 13 của CEDAW), phụ nữ nông thôn (Điều 14 của CEDAW), bình đẳng trước pháp luật (Điều 15 của CEDAW), hôn nhân và gia đình (Điều 16 của CEDAW). – “Cuốn Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trên cơ sở quyền và giới qua lăng kính CEDAW”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM . Sách đã giới thiệu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới… Tuy nhiên sách lại chưa đề cập tới hệ thống luật pháp về gia đình và bình đẳng giới.
    13. 25. 20 – Cuốn “25 năm thực hiện Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) thực tiễn tại Việt Nam” của CEDAW . Nội dung sách đề cập tới các khuyến nghị chung nhằm hướng dẫn các quốc gia thành viên thực hiện các quyền con nguời của phụ nữ và bình đẳng giới. – “Các nhận xét và kết luận về Việt Nam của Uỷ ban xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM . Nội dung sách giới thiệu Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. – “Phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam”, của UNFPA . Sách giới thiệu những yêu cầu của CEDAW trong xóa bỏ phân biệt đối xử về giới; Những nguyên tắc cơ bản của CEDAW về bình đẳng giới; Các yêu cầu của CEDAW bảo đảm quyền của phụ nữ được thực thi có hiệu quả… 1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU Để hoàn thành mục tiêu của đề tài, luận án còn phải tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu khoa học nói trên chưa có điều kiện làm rõ sau đây:
    14. 27. 22 Nghiên cứu các công trình ở nước ngoài cho thấy một số nội dung pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới, sự thay đổi của pháp luật về gia đình trong thế giới đương đại. Một số công trình nước ngoài cũng đã làm rõ pháp luật trên thế giới về gia đình thông qua các công ước quốc tế về gia đình, về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình… Có một số tác giả nước ngoài đã nghiên cứu làm rõ những bước phát triển của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới, pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật về việc hoàn thiện pháp luật về gia đình. Nghiên cứu pháp luật về gia đình còn chưa đầy đủ và toàn diện, chưa làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về gia đình ở Việt Nam. Đến nay, chưa có công trình nào đưa ra các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về gia đình, chưa đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật về gia đình và đưa ra hệ thống quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam. Nghiên cứu tổng quan về gia đình, pháp luật về gia đình giúp cho nghiên cứu sinh có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu, tiếp tục triển khai, phát triển trong luận án những vấn đề còn bỏ ngỏ. Thông qua đó giúp nghiên cứu sinh hoàn thành các nhiệm vụ mà luận án đã đặt ra, góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về gia đình trong bối cảnh đất nước đang đổi mới mạnh mẽ và hội nhập quốc tế hiện nay.
    15. 28. 23 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2.1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2.1.1. Khái niệm gia đình và đặc trưng của gia đình Việt Nam 2.1.1.1. Khái niệm gia đình Gia đình là một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện, tồn tại và phát triển một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Lịch sử phát triển của gia đình là một quá trình lâu dài, đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau với những biến đổi sâu sắc về quy mô, cách thức tổ chức, tính chất phức tạp, sự phong phú, đa dạng của các mối quan hệ về gia đình và cơ chế điều chỉnh các mối quan hệ về gia đình. Theo Ph.Ănghen, lịch sử phát triển của gia đình đã trải qua 4 giai đoạn cơ bản: Gia đình huyết tộc, gia đình pu-na-lu-an, gia đình đối ngẫu và gia đình một vợ một chồng. – Gia đình huyết tộc là giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển các hình thái hôn nhân và gia đình, trong đó quan hệ hôn nhân được xây dựng theo thế hệ, mỗi thế hệ tạo thành những nhóm hôn nhân nhất định. Ở hình thái gia đình huyết tộc, các anh chị em đồng thời là vợ, là chồng của nhau, nhưng những người có quan hệ dòng máu trực hệ, giữa cha mẹ và các con bị cấm không được có quan hệ hộ nhân. – Gia đình Pu-na-lu-an là giai đoạn thứ hai, có sự tiến bộ hơn so với gia đình huyết tộc. Trong hình thái gia đình này, quan hệ tính giao tiếp tục bị hạn chế, thu hẹp: cấm thế hệ cha mẹ kết hôn với thế hệ các con và cấm anh em trai kết hôn với các chị em gái trong cùng một gia đình. – Gia đình đối ngẫu là giai đoạn phát triển tiếp theo của gia đình. Đây là giai đoạn mà phạm vi những người có quan hệ hôn nhân ngày càng bị thu hẹp nhiều hơn: việc cấm những người cùng huyết tộc kết hôn với nhau ngày càng trở nên phổ biến và hình thức quần hôn không còn tồn tại nữa. Gia đình đối ngẫu được đặc
    16. 29. 24 trưng bằng cách thức kết hôn theo từng cặp, nhưng chế độ đa thê, người đàn ông có nhiều vợ vẫn còn phổ biến. – Gia đình cá thể (gia đình một vợ một chồng) là giai đoạn thứ tư, được nảy sinh từ gia đình đối ngẫu, là một trong những dấu hiệu cho biết thời văn minh đã bắt đầu. Gia đình ấy dựa trên sự thống trị của đàn ông, với chủ đích rõ ràng là con cái phải có cha đẻ xác thực và những đứa con ấy sau này sẽ nhận được tài sản của cha, với tư cách người thừa kế đương nhiên. Trong gia đình một vợ một chồng, quan hệ vợ chồng đã chặt chẽ hơn rất nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau được nữa. Gia đình một vợ một chồng cũng có quá trình phát triển từ thấp đến cao và luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Cùng với sự phát triển của văn minh, dân chủ và tiến bộ xã hội, quan hệ gia đình có sự biến đổi về chất, mà biểu hiện rõ nét nhất và trước hết là ở sự biến đổi trong quan niệm về sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa đàn ông và đàn bà, giữa vợ và chồng; về tình yêu và hôn nhân. Hôn nhân trở thành tiêu điểm, là biểu tượng của tình yêu và văn hóa gia đình, là điểm khởi đầu quan trọng và có thiêng liêng không những đối với đời sống vợ chồng, mà còn được gia đình, cộng đồng, nhà nước thừa nhận và đề cao như một giá trị của con người, gia đình và xã hội. Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, trong lĩnh vực pháp luật về gia đình, những mối quan hệ về hôn nhân là một trong những nhóm quan hệ pháp luật quan trọng, có những đặc điểm riêng và có tính độc lập tương đối, được tượng điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về hôn nhân trong hệ thống các quy định pháp luật về gia đình và hình thành chế định hôn nhân trong pháp luật hôn nhân và gia đình. Xét theo quan điểm hệ thống, thì hôn nhân là một yếu tố để hình thành nên gia đình trong xã hội hiện đại và các mối quan hệ về hôn nhân là một bộ phận hợp thành của hệ thống các quan hệ gia đình. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân chỉ là một nhóm trong số rất nhiều nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình. Do tính chất đặc biệt của mình, từ khi xuất hiện đến nay, gia đình luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều bộ môn khoa học khác nhau, trong đó có triết học, xã hội học, văn hóa học và luật học. Tùy thuộc vào mục đích và nội dung nghiên cứu cụ thể, mỗi bộ môn khoa học có cách tiếp cận riêng và sử dụng các phương
    17. 31. 26 Thứ nhất, gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, một đơn vị (tế bào) xã hội, một hình thức tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân. Thứ hai, gia đình là những người gắn bó với nhau bởi: – Hôn nhân (vợ chồng): Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, trong đó sự kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. – Mối quan hệ huyết thống: Phạm vi của mối quan hệ này khá rộng tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để xác định, trong một gia đình có nhiều (hai, ba hoặc bốn) thế hệ cùng sinh sống. – Mối quan hệ nuôi dưỡng: Ngoài quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống còn có những người có quan hệ nuôi dưỡng như: con nuôi, bố mẹ nuôi… Thứ ba, các thành viên trong gia đình có sự gắn kết với nhau để cùng chung sống, quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở của đạo đức và niềm tin. Đây là một trong những dấu hiệu hết sức đặc sắc của gia đình, có ý nghĩa và có tác động lớn tới các yếu tố khác, đòi hỏi khi xây dựng và thực thi pháp luật về gia đình cần phải được chú trọng. Thứ tư, các thành viên trong gia đình có các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản; việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản, nhằm thỏa mãn những ước muốn, lợi ích về vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân và của cả gia đình. Từ đây, khái niệm thành viên trong gia đình có phạm vi rất rộng. Các thành viên trong một gia đình bao gồm: vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột. Với phạm vi thành viên gia đình đó, các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng như giữa gia đình với nhà nước và xã hội cũng hết sức phức
    18. 33. 28 lợi. Gia đình sống nhiều thế hệ với chế độ đa thê. Việc ly dị gặp nhiều khó khăn. Quy mô gia đình giai đoạn này thường lớn hầu hết là những Gia đình tam đại đồng đường và tứ đại đồng đường. Trong nền văn minh công nghiệp, gia đình không còn là đơn vị sản xuất tự chủ mà gồm những người làm thuê, những người chủ xã hội, các nhà quản lý, kinh doanh, các viên chức làm công ăn lương… Hôn nhân gia đình trở thành sự tự do lựa chọn của nam nữ, không còn là sự áp đặt của cha mẹ, họ hàng. Vì vậy, lợi ích cá nhân, hạnh phúc cá nhân ngày càng được chú trọng. Cơ cấu gia đình hai thế hệ là phổ biến. Quy mô gia đình nhỏ đi rất nhiều. Trong nền văn minh hậu công nghiệp, gánh nặng công việc gia đình được giảm nhẹ, con người (đặc biệt là phụ nữ) được giải phóng bớt các khâu lao động chân tay, mệt nhọc, năng suất thấp. Họ sẽ có nhiều thời gian nghỉ ngơi, học tập, giải trí, vui chơi với gia đình. Có thể nói, gia đình Việt Nam trong quá trình phát triển đã, đang và sẽ chịu ảnh hưởng đồng thời của nền văn minh, của văn hóa phương Đông, văn hóa khu vực Đông Nam Á cùng với nhiều tôn giáo vốn đã tồn tại lâu đời như Đạo phật, Thiên chúa giáo, đạo Hồi… Gia đình ở Việt Nam hiện nay đang phải đương đầu với một loạt thử thách lớn khi chuyển từ mô hình gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại. Để tồn tại và phát triển, mỗi gia đình phải tìm cách thích ứng với những điều kiện mới, từng thành viên trong gia đình phải tự điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình. Thực tế cho thấy, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cùng với những trào lưu tiến bộ về khoa học công nghệ có phần không tương xứng với sự phát triển văn hóa, xã hội đã làm đổ vỡ, mờ nhạt một số giá trị tinh thần, đạo đức ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Gia đình Việt Nam có các đặc trưng cơ bản: Gia đình phải sống chung một mái nhà; Trong một gia đình phải có giới tính (nam, nữ); Quan hệ trong gia đình phải là quan hệ ruột thịt, huyết thống nghĩa là có quan hệ tái sản xuất con người; Các thành viên trong gia đình phải gắn bó với nhau về đặc điểm tâm sinh lý; Gia
    19. 34. 29 đình phải có ngân sách chung. Do đó gia đình phải là một nhóm xã hội ít nhất có từ 02 người trở lên. Gia đình Việt Nam truyền thống có những đặc trưng khác với gia đình của các dân tộc khác trên thế giới. Đó là sản phẩm của nền văn minh lúa nước và tồn tại ở địa bàn nông thôn. Gia đình truyền thống được coi là đại gia đình mà các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống. Trong gia đình này có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái mà người ta quen gọi là “tam, tứ, ngũ đại đồng đường”. Kiểu gia đình này khá phổ biến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ. Gia đình truyền thống thường biểu hiện các mặt sau đây: – Gia đình không chỉ là đơn vị cuối cùng của xã hội mà còn là mẫu hình để tổ chức xã hội và nhà nước. – Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc ta được nâng lên thành đạo hiếu – đạo tổ tiên và gia đình cũng là nơi quan trọng nhất để duy trì đạo đức trung hiếu, được coi là giá trị nền tảng của xã hội truyền thống. – Người đứng đầu gia đình (gia trưởng) chịu trách nhiệm trước về mọi hành vi của những người trong nhà. – Gia đình là đơn vị kiểm soát cá nhân; từng cá nhân trong một gia đình bị ràng buộc và kiểm soát bằng luân lý, phong tục, lễ nghi và pháp luật. – Về hôn nhân và quan hệ vợ chồng: Cha mẹ quyết định, con cái nghe theo; người chồng phải giữ nghĩa với vợ, người vợ phải thủ tiết với chồng. – Nước xét xử theo pháp luật thì nhà – gia đình thực hiện nhiệm vụ của nó, thực sự trở thành nơi sàng lọc và răn dạy các thành viên về đạo lý, quốc pháp. – Gia đình là một thiết chế gia trưởng. Trong một gia đình cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng và vợ ra vợ. Các mối quan hệ này được điều chỉnh bằng luân lý tam cương, ngũ thường và nó được cụ thể hoá thành gia quy. Nền kinh tế tiểu nông là cơ sở phát sinh và tồn tại của loại hình gia đình truyền thống. Về mặt tâm lý, người Việt Nam luôn có xu hướng quần tụ con cái xung quanh mình. Vì thế, các đại gia đình cùng sống dưới một mái nhà hoặc vài nhà cạnh nhau cũng là hình thức tổ chức gia đình phổ biến ở đô thị.
    20. 35. 30 Gia đình truyền thống có các ưu điểm: Có sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống; Bảo lưu được các truyền thống văn hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo; Các thành viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ. Đó là những giá trị rất căn bản của văn hóa gia đình mà chúng ta cần kế thừa và phát huy. Tuy nhiên, nhược điểm của loại gia đình này là ở chỗ trong khi giữ gìn các truyền thống tốt đẹp thì cũng duy trì luôn cả những tập tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời. Bên cạnh đó, sự khác biệt về tuổi tác, lối sống, thói quen cũng đưa đến một hệ quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn giữa các thế hệ: giữa ông bà – các cháu, giữa mẹ chồng – nàng dâu… Bên cạnh việc duy trì được tinh thần cộng đồng, gia đình truyền thống phần nào cũng hạn chế sự phát triển tự do quá mức của mỗi cá nhân. Trái với đặc trưng của gia đình truyền thống, gia đình Việt Nam hiện nay phần lớn là gia đình hạt nhân trong đó chỉ có một cặp vợ chồng (bố mẹ) và con cái mà họ sinh ra. Hầu hết các gia đình trí thức, viên chức nhà nước, công nhân công nghiệp, gia đình quân đội, công an đều là gia đình hạt nhân. Xu hướng phát triển gia đình hạt nhân ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và lợi thế của nó. Trước hết gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã hội. Gia đình hạt nhân có sự độc lập về quan hệ kinh tế. Kiểu gia đình này tạo cho mỗi thành viên trong gia đình khoảng không gian tự do tương đối lớn để phát triển tự do cá nhân. Cá nhân tính được đề cao. Trong xã hội hiện đại, mức độ độc lập cá nhân được coi là một yếu tố biểu hiện chất lượng cuộc sống gia đình. Tính độc lập cá nhân được gia đình tạo điều kiện nuôi dưỡng, phát triển sẽ tạo ra phong cách sống, tính cách, năng lực sáng tạo riêng khiến cho mỗi người đều có bản sắc. Mô hình gia đình hạt nhân cũng có những điểm yếu sau đây: – Quy mô trung bình của gia đình Việt Nam giảm từ 4,4 người/hộ (2006) xuống còn 3,7 người/hộ (2013). – Tỉ lệ ly hôn, ly thân trong các gia đình hạt nhân ngày càng gia tăng. – Dưới sự tác động của của các yếu tố kinh tế, văn hóa trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, không ít những giá trị truyền thống tốt đẹp trong gia
    21. 36. 31 đình Việt Nam đang có xu hướng bị coi nhẹ; mức độ liên kết giữa các thành viên trong gia đình cũng có nhiều thay đổi; các thành viên trong gia đình có sự bình đẳng và tôn trọng các phẩm chất cá nhân của nhau nhiều hơn. – Gia đình nhiều thế hệ về cơ bản đã được thay thế bằng mô hình gia đình hạt nhân – gia đình quy mô nhỏ, chỉ có vợ chồng (bố, mẹ) và con cái. Trong xã hội hiện đại, sự tác động của các yếu tố khách quan như nền kinh tế thị trường, quá trình giao lưu hợp tác quốc tế, sự thâm nhập của những giá trị mới, cùng với việc bản thân giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam chưa có những cơ chế vững chắc để có thể tự bảo lưu, tiếp tục phát triển là những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của gia đình truyền thống. Sự bảo lưu phải vừa tích cực, giữ lại được những tinh hoa của giá trị gia đình truyền thống, vừa phải biết bổ sung thêm những giá trị tích cực của thời đại mới. Tóm lại, đặc trưng của gia đình Việt Nam có quy luật phát triển mang tính chất và đặc thù riêng với tư cách là một thể thống nhất, một tế bào hoàn chỉnh và là một đơn vị cơ sở của một xã hội cụ thể. 2.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về gia đình ở Việt Nam 2.1.2.1. Khái niệm pháp luật về gia đình Trong khoa học Lý luận về nhà nước và pháp luật, khái niệm pháp luật có thể được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp tuỳ thuộc yêu cầu tiếp cận và giải quyết các vấn đề cụ thể của hệ thống pháp luật. Theo nghĩa hẹp, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, theo nghĩa hẹp, pháp luật chỉ bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật thực định, nên còn gọi là pháp luật thực định. Theo nghĩa rộng, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự và các nguyên tắc, định hướng, mục đích pháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghĩa là, khái niệm pháp luật hiểu theo nghĩa rộng bao gồm pháp luật thực định, hệ thống quy phạm pháp luật cụ
    22. 37. 32 thể, hiện hành và những vấn đề có tính khái quát, trừu tượng hơn, thể hiện bản chất của pháp luật và có tính định hướng cho cả tương lai tồn tại và phát triển của pháp luật: Nguyên tắc, định hướng, mục đích. – Nguyên tắc pháp luật là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật. Nguyên tắc pháp luật khác với các quy phạm pháp luật cụ thể ở tính khái quát, không quy định cho một trường hợp cụ thể mà tạo ra nền tảng, cơ sở và có tính định hướng xuyên suốt trong quá trình xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật. Ví dụ, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc vì con người, nguyên tắc bình đẳng, công bằng, nhân đạo, nhân văn… tuy không được ghi nhận cụ thể dưới dạng một quy phạm pháp luật, nhưng nội dung của chúng được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau trong các quy phạm pháp luật và luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của hệ thống pháp luật. – Các định hướng pháp luật cũng là một bộ phận quan trọng của pháp luật, thể hiện các quan điểm chính sách của nhà nước về những vấn đề quan trọng cho một thời gian tương đối dài. Ví dụ, định hướng: xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau. – Các mục đích của pháp luật là các quy định của pháp luật phải hợp lý và có thể được áp dụng một cách hợp lý. Bản chất của sự việc chỉ đưa ra được những giải pháp chung cho những trường hợp điển hình; các nguyên tắc và định hướng pháp luật đặt ra những “đường ray” và xác định hướng vận động cho “con tàu pháp luật”. Để pháp luật phát huy được vai trò thực sự của mình thì các mục đích pháp luật phải được xác định và phải được kiểm nghiệm trong đời sống pháp luật và đời sống xã hội. Mục đích chung của pháp luật là bảo đảm sự an toàn, công lý và lợi ích. Mục đích cụ thể của pháp luật thì hết sức đa dạng và phức tạp vì suy cho cùng tất cả các hành vi của con người đều nhằm tới một mục tiêu nào đó và giá trị của nó sẽ phụ thuộc vào giá trị của các mục đích đề ra.
    23. 38. 33 Từ những phân tích trên, pháp luật về gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng, bởi vì gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, các mối quan hệ về gia đình rất phong phú, sinh động nhưng cũng rất phức tạp, tinh tế và nhạy cảm, được điều chỉnh không chỉ bằng pháp luật, mà còn bằng đạo đức và các quy phạm xã hội khác. Việc kết hợp pháp luật với đạo đức và các quy phạm xã hội khác có ý nghĩa rất quan trọng và để thực hiện được điều đó thì những nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật luôn đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ và vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp. Pháp luật về gia đình là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật nói chung và đến lượt mình pháp luật về gia đình cũng là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận hợp thành để điều chỉnh các quan hệ về gia đình. Xuất phát từ nhu cầu khách quan, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu, thước đo để các chủ thể thực hiện các hành vi trong quan hệ về gia đình, đồng thời, các quy phạm pháp luật về gia đình cũng là tiêu chí để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi con người trong lĩnh vực gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển gia đình. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã đề ra định hướng phát triển gia đình Việt Nam trong giai đoạn mới: Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [60].
    24. 39. 34 Định hướng về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam nêu trên hoàn toàn phù hợp với ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Bởi lẽ bất cứ ai cũng là thành viên của một gia đình nhất định; mỗi gia đình và thành viên gia đình đều mong muốn hướng tới một cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Vì vậy, chủ trương, quan điểm của Đảng và ý chí, nguyện vọng của nhân dân chính là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực thi có hiệu quả pháp luật về gia đình. Các quy phạm pháp luật về gia đình được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định và được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống. Các quy phạm pháp luật về gia đình được quy định chủ yếu trong Hiến pháp, Luật hôn nhân và Gia đình (2014), Luật Bình đẳng giới (2007); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2008); các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành, các Thông tư của bộ… Ngoài ra, để điều chỉnh một số quan hệ xã hội về gia đình, Nhà nước thừa nhận và cho phép sử dụng các tập quán tốt đẹp của các dân tộc. Điều 7 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng”. Như vậy, bên cạnh hình thức chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật, các tập quán tốt đẹp của các dân tộc không trái với nguyên tắc của Luật Hôn nhân gia đình có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ xã hội về gia đình. Từ đó chúng tôi có thể đưa ra khái niệm: Pháp luật về gia đình là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định và các tập quán tốt đẹp được nhà nước thừa nhận, thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình và các điều cấm của Hiến pháp và pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về gia đình, hướng tới xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
    25. 40. 35 2.1.2.2. Đặc điểm của pháp luật về gia đình Pháp luật về gia đình là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật, vì vậy nó mang những đặc trưng cơ bản của pháp luật nói chung như: Pháp luật về gia đình do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, có tính bắt buộc chung, tính quy phạm phổ biến và tính hệ thống, phản ánh những nhu cầu khách quan, điển hình, phổ biến và có tính công lý trong lĩnh vực gia đình, để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh, tồn tại và phát triển trong lĩnh vực gia đình. Bên cạnh đó, pháp luật về gia đình là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, vì vậy nó có những đặc điểm riêng cơ bản sau: Thứ nhất, về tính chất: Pháp luật về gia đình cùng loại với pháp luật dân sự, nhưng không đồng nhất với pháp luật dân sự. Sự khác biệt đó thể hiện rõ nét ở đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa những người thân thích ruột thịt khác. Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình như: quan hệ giữa vợ và chồng về sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, về việc xác định chỗ ở chung, quan hệ giữa cha mẹ và các con về việc xác định chế độ pháp lý nhân thân của con chưa thành niên… Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích tài sản như: quan hệ cấp dưỡng lẫn nhau giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thành viên khác trong gia đình, quan hệ về sở hữu giữa vợ và chồng… Xét về mặt hình thức, đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình có nhiều điểm giống với đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự. Tuy nhiên, về nội dung, các quan hệ hôn nhân và gia đình có những điểm riêng đáng chú ý đó là: Một là: nhóm quan hệ nhân thân là đối tượng điều chỉnh cơ bản và có ý nghĩa quyết định của pháp luật về gia đình. Bởi vì, trong đời sống gia đình nói chung và trong từng nhóm, từng mối quan hệ gia đình cụ thể nói riêng, thì tình cảm, sự tin tưởng, chân thành, sự gắn bó, yêu thương, chia sẻ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái và giữa các thành viên khác trong gia đình luôn là yếu tố quan trọng, thiêng liêng và hiện thực nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Một Số Vấn Đề Của Gia Đình Việt Nam Hiện Đại
  • Giải Pháp Để Giá Đất Do Nhà Nước Quy Định Phù Hợp Với Giá Thị Trường Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Bán Hàng Công Ty Cổ Phần Siêu Thanh Hà Nội
  • 7 Biện Pháp Quản Lý, Điều Hành, Bình Ổn Giá Trong Năm 2021
  • Các Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Để Phát Triển Thị Trường
  • Cương Lĩnh Xây Dựng Đất Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở
  • Xây Dựng Đảng Bộ Và Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch, Vững Mạnh, Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo, Phấn Đấu Xây Dựng Thái Bình Trở Thành Tỉnh Phát Triển Trong Khu Vực Đồng Bằng Sông Hồng
  • Xây Dựng Đảng Và Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch, Vững Mạnh; Phát Huy Sức Mạnh Toàn Dân, Đoàn Kết, Dân Chủ, Đổi Mới, Hội Nhập; Khai Thác Hiệu Quả Tiềm Năng, Lợi Thế Đưa Lào Cai Tiếp Tục Là Tỉnh Phát Tri
  • Xây Dựng Ðảng, Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Thực Hiện 8 Nhiệm Vụ Giải Pháp Trọng Tâm Để Đạt Mục Tiêu Xây Dựng Ntm Năm 2021
  • Sau thắng lợi lịch sử mùa Xuân 1975, nhân dân ta tiếp tục nêu cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đã đạt những thành tựu to lớn: thiết lập chính quyền nhân dân ở cả miền Nam, thống nhất nước nhà; khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh; từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới và cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; bảo vệ vững chắc Tổ quốc; làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

    QUÁ TRÌNH CÁCH MẠNG VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

     

    1- Thực hiện Cương lĩnh năm 1930, trong suốt 45 năm, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ và giành được những thắng lợi vĩ đại: làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng nửa nước, miền Bắc chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa; kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

     

    Sau thắng lợi lịch sử mùa Xuân 1975, nhân dân ta tiếp tục nêu cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đã đạt những thành tựu to lớn: thiết lập chính quyền nhân dân ở cả miền Nam, thống nhất nước nhà; khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh; từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới và cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; bảo vệ vững chắc Tổ quốc; làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

     

    Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương. Công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng.

     

    Tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã tự phê bình và đề ra đường lối đổi mới. Đại hội VI là cột mốc lịch sử quan trọng trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Công cuộc đổi mới qua hơn bốn năm đã đạt những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Tình hình kinh tế – xã hội có chuyển biến tích cực, tạo thế đi lên và khẳng định con đường chúng ta đang đi là đúng. Tuy nhiên khó khăn còn nhiều, đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội.

     

    2- Từ thực tiễn cách mạng với những thành công và khuyết điểm, sai lầm, có thể rút ra những bài học lớn:

     

    Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc vẫn là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ với nhau. Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau.

     

    Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước.

     

    Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đoàn kết là truyền thống quý báu và là bài học lớn của cách mạng nước ta như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết:

     

    “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

    Thành công, thành công, đại thành công!”

     

    Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Ngày nay, trước cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, trước sự phát triển vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và quá trình quốc tế hoá mạnh mẽ nền kinh tế thế giới, càng cần phải kết hợp chặt chẽ yếu tố dân tộc với yếu tố quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để đưa đất nước tiến lên.

     

    Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức của mình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống được những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.

     

    II QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

     

    3- Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc.

     

    Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước lạc hậu về kinh tế.

     

    Trong quá trình hình thành và phát triển, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt những thành tựu to lớn về nhiều mặt, đã từng là chỗ dựa cho phong trào hoà bình và cách mạng thế giới, cho việc đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhưng, do duy trì quá lâu những khuyết tật của mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, chậm trễ trong cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng. ở một số nước, đảng cộng sản và công nhân không còn nắm vai trò lãnh đạo; chế độ xã hội đã thay đổi. Các thế lực đế quốc lợi dụng những sai lầm và khó khăn đó đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản đang diễn ra gay gắt.

     

    Trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. Chính sự vận động của tất cả những mâu thuẫn đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.

     

    Các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn và lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức, chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc.

     

     

    Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử.

     

    4- Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta.

     

    Nhưng chúng ta cũng có những thuận lợi: chính quyền thuộc về nhân dân, nước nhà đi vào giai đoạn hoà bình xây dựng. Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt. Nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, cần cù lao động và sáng tạo. Chúng ta đã xây dựng được một số cơ sở vật chất ban đầu. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cùng với xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới là một thời cơ để phát triển.

     

    Quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình đất nước và thế giới như trên, chúng ta phải tiếp tục nâng cao ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộc đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tìm tòi bước đi, hình thức và biện pháp thích hợp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

     

    Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

     

    – Do nhân dân lao động làm chủ.

     

    – Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

     

    – Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

     

    – Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.

     

    – Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

     

    – Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

     

    Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa, điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế- xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước hết là các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

     

    Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần nắm vững những phương hướng cơ bản sau đây:

     

    Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.

     

    Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.

     

    Ba là, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.

     

    Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá làm cho thế giới quan Mác – Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

     

    Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

     

    Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng.

     

    Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

     

    Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.

     

    Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau.

     

    III.  NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ, XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG-AN NINH, ĐỐI NGOẠI

     

     

    5- Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng. Các tổ chức kinh tế tự chủ và liên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh.

     

    Khi kết thúc thời kỳ quá độ, hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp – dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

     

    Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu lên cơ cấu kinh tế hiện đại, nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngành, nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ. Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế – xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng. Xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp. Thực hiện chuyên môn hoá và liên kết kinh tế giữa các vùng, các địa phương. Xây dựng các trung tâm kinh tế của từng vùng, để tạo điều kiện liên kết công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lưu hàng hoá.

     

    Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ, tiền vốn, sức lao động…; thực hiện giao lưu kinh tế thông suốt cả nước và với thị trường thế giới. Xác định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Đổi mới và nâng cao hiệu lực hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết của Nhà nước.

     

    Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế. Các chiến lược khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu công nghiệp hoá theo hướng hiện đại, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Sử dụng có hiệu quả và tăng nhanh tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật đi đôi với phát triển giáo dục và văn hoá, nâng cao dân trí.

     

    Giáo dục và đào tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa học, kỹ thuật, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới. Nhà nước có chính sách toàn diện thực hiện giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài.

     

    Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu.

     

    6- Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

     

    Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội.

     

    Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất. Nhà nước tạo môi trường và điều kiện cho mọi người lao động có việc làm, chăm lo cải thiện điều kiện lao động. Khuyến khích tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động. Có chính sách bảo trợ và điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận dân cư, các ngành và các vùng. Cải cách căn bản chế độ tiền lương trong khu vực nhà nước theo nguyên tắc phân phối theo lao động. Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập của người mẹ và của thanh, thiếu niên. Chăm sóc giáo dục và bảo vệ trẻ em. Phải thật sự coi việc giảm tốc độ tăng dân số là một quốc sách. Thiết lập một hệ thống đồng bộ và đa dạng về bảo hiểm và trợ cấp xã hội. Có chính sách thích đáng đối với các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, cán bộ lão thành, những người về hưu. Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi. Phát triển các công trình công cộng như trường học, bệnh viện, các công trình văn hoá, thể dục, thể thao… Khuyến khích và tạo điều kiện để tập thể và nhân dân đầu tư xây dựng nhà ở. Tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ hiện tại và mai sau.

     

    Xây dựng nền văn hoá mới, tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ. Phát huy vai trò văn học, nghệ thuật trong việc nuôi dưỡng, nâng cao tâm hồn Việt Nam. Khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém. Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng, nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích.

     

    Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, gia đình, từng tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng hình thành con người mới. Đó là con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ và lao động giỏi; sống có văn hoá và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính. Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người. Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường xây dựng phong cách lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, nơi thể hiện tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người mới và nền văn hoá mới.

     

    Chính sách xã hội tác động trực tiếp đến việc hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh. Phát triển giai cấp công nhân về số lượng và chất lượng để xứng đáng là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng giai cấp nông dân về mọi mặt để xứng đáng là một lực lượng cơ bản trong việc xây dựng nông thôn mới, góp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hoá. Đào tạo, bồi dưỡng và phát huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước. Đặc biệt coi trọng việc xây dựng một đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh có tài, những nhà quản lý giỏi và các nhà khoa học, kỹ thuật có trình độ cao. Quan tâm thích đáng lợi ích và phát huy khả năng của các tầng lớp dân cư khác vì sự nghiệp “ích nước, lợi nhà”. Động viên sự cống hiến của đồng bào Việt Nam ở nước ngoài góp phần tích cực xây dựng quê hương xứ sở.

     

    Thực hiện bình đẳng nam nữ về mọi mặt.

     

    Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế – xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

     

    Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng. Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.

     

    7- Nhiệm vụ của quốc phòng- an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, sự ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

     

    Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân dân, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới, với những lực lượng nòng cốt tinh nhuệ.

     

    Sự ổn định và phát triển mọi mặt đời sống xã hội là nền tảng của quốc phòng – an ninh. Phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng – an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Từng bước xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang, trong đó có công an nhân dân được trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại.

     

    Xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân với số quân thường trực thích hợp theo hướng cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại, tinh nhuệ, với lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu, có sức chiến đấu cao. Phát triển đường lối và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân trong hoàn cảnh mới.

     

    Xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự là một lực lượng vũ trang chính quy từng bước hiện đại, tinh nhuệ. Ngăn chặn, trừng trị kịp thời mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng và tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn tốt trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi, tính mạng và tài sản của nhân dân. Kết hợp lực lượng chuyên trách, nửa chuyên trách, các cơ quan bảo vệ pháp luật với phong trào quần chúng. Kết hợp biện pháp phòng ngừa, giáo dục là cơ bản với trấn áp, trừng trị các loại tội phạm.

     

    Chăm lo nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, quân sự, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ cho các lực lượng vũ trang, cho đội ngũ sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên nghiệp. Bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ và chiến sĩ phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

     

    Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và công an nhân dân.

     

    8- Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

     

    Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình.

     

    Không ngừng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước anh em trên bán đảo Đông Dương.

     

     

    Phát triển quan hệ với các nước Đông Nam á, tích cực góp phần xây dựng khu vực này thành khu vực hoà bình và hợp tác.

    Phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau với các nước đang phát triển.

    Mở rộng sự hợp tác cùng có lợi với các nước phát triển.

     

    IV. HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

     

    9- Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hoá bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm.

     

    Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm.

     

    10- Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật. Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước.

     

    Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương.

     

    Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó.

     

    11. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

     

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên theo chương trình hành động chung.

     

    Các đoàn thể nhân dân tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã xác định, vừa vận động đoàn viên, hội viên giúp nhau chăm lo, bảo vệ các lợi ích thiết thực; vừa giáo dục nâng cao trình độ mọi mặt cho đoàn viên, hội viên; vừa tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

     

     

    12- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

     

    Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

     

    Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

     

    Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao. Đảng quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân.

     

    *

     

    *      *

     

    Cương lĩnh này là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.

     

    Đảng kêu gọi tất cả những người cộng sản, toàn thể đồng bào ở trong nước và ở nước ngoài mang hết tinh thần và nghị lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Cương lĩnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Xây Dựng Đảng Và Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch, Vững Mạnh; Phát Huy Dân Chủ Và Sức Mạnh Đại Đoàn Kết Toàn Dân, Khát Vọng Vươn Lên, Đổi Mới Sáng Tạo; Huy Động Và Sử Dụng Hiệu Quả Mọi Nguồn L
  • 7 Cách Khắc Phục Wifi Yếu Đơn Giản Nhất Bạn Nên Biết !
  • Top 4 Loại Wifi Xuyên Tường Mạnh Nhất Hiện Nay 2021
  • Giải Pháp Tăng Tốc Wifi Cho Nhà 1
  • Tính Năng Roaming Trên Wifi Ruijie
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100