Các Quan Hệ Xã Hội Thuộc Phạm Vi Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính

--- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Luật Sư Và Nghề Luật Sư
  • Tiểu Luận Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Luận Văn Tiểu Luận Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Hãy Phát Biểu Một Định Nghĩa Về Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nêu Những Đặc Trưng, Chức Năng Và Nhiệm
  • Phục Hồi Chức Năng Gãy Xương Đòn Theo Byt
  • Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật nói chung là những quan hệ xã hội xác định các đặc tính cơ bản giống nhau và do những quy phạm thuộc ngành luật đó điều chỉnh. Cùng với phương pháp điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh là tiêu chuẩn để phân biệt ngành luật này với ngành luật khác. I. Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam là những quan hệ xã hội chủ yếu và cơ bản hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, hay nói khác hơn đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ xã hội hầu hết phát sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước. Nhìn chung, đối tượng điều chỉnh của luật hành chính bao gồm những vấn đề như: Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc, hoàn chỉnh các quan hệ công tác của các cơ quan nhà nước. Các hoạt động quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự xã hội trên từng địa phương và từng ngành. Trực tiếp phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây phải được xác định là mục tiêu hàng đầu của quản lý hành chính. Khen thưởng, trao danh hiệu cho các cá nhân tổ chức có đóng góp và đạt được những thành quả nhất định trong lĩnh vực hành chính nhà nước hoặc trong các lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật định; xử lý các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước.II.Các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hành chính : 1. Các quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hộiNhóm này thường được gọi ngắn gọn là nhóm hành chính công. Quan hệ pháp luật hành chính công được hình thành giữa các bên chủ thể đều mang tư cách có thẩm quyền hành chính nhà nước khi tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính đó. Ðây là nhóm những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh cơ bản của luật hành chính. Thông qua việc thiết lập những quan hệ loại này, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện các chức năng cơ bản của mình. Những quan hệ này rất đa dạng, phong phú bao gồm những quan hệ được chia thành 2 nhóm nhỏ như sau: * Quan hệ dọc 1. Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc. Ðó là những cơ quan nhà nước có cấp trên, cấp dưới phụ thuộc nhau về chuyên môn kỷ thuật, cơ cấu, tổ chức…Ví dụ: Mối quan hệ giữa Chính phủ với UBND tỉnh Cần Thơ; Bộ Tư pháp với Sở Tư pháp… 2. Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cấp dưới trực tiếp nhằm thực hiện chức năng theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Mối quan hệ giữa Bộ Tư pháp với UBND tỉnh Cần Thơ; giữa Sở Thương mại tỉnh Cần Thơ với UBND huyện Ô Môn… 3. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị, cơ sở trực thuộc. Ví dụ: Quan hệ giữa Bộ Giáo dục – Ðào tạo với Trường đại học Luật Hà Nội, Giữa Bộ Y tế và các bệnh viện nhà nước. * Quan hệ ngang 1. Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp. Ví dụ: Mối quan hệ giữa UBND tỉnh Cần Thơ với Sở Thương mại tỉnh Cần Thơ ; Giữa Chính Phủ với Bộ Tư pháp … 2. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp với nhau. Một khi quyết định vấn đề gì thì cơ quan này phải được sự đồng ý, cho phép hay phê chuẩn của cơ quan kia trong lĩnh vực mình quản lý, phải phối hợp với nhau trong một số lĩnh vực cụ thể 3. Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị, cơ sở trực thuộc trung ương đóng tại địa phương đó. Ví dụ: quan hệ giữa UBND tỉnh Cần Thơ với Trường đại học Cần Thơ. b. Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình cơ quan Nhà nước xây dựng và củng cố chế độ công tác nội bộ của cơ quan, nhằm ổn định về tổ chức và hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của mình.- Mỗi loại cơ quan Nhà nước có chức năng cơ bản riêng và để hoàn thành chức năng đó các cơ quan Nhà nước phải tiến hành những hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.- Lãnh đạo cơ quan và người có trách nhiệm phải tiến hành tổ chức trong giới hạn cơ quan mình, đặc biệt là những hoạt động như kiểm tra nội bộ, nâng cao chất lượng trình độ nghiệp vụ của cán bộ, chiến sĩ… c. Các quan hệ quản lý hình thành trong quá trình các cá nhân và tổ chức được Nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước trong một số trường hợp cụ thể do pháp luật qui định.Thực tế, nhiều tường hợp pháp luật trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành điều hành cho các cơ quan Nhà nước khác, các tổ chức hoặc cá nhân khác…trên cơ sở những lý do khác nhau chính trị, tổ chức đảm bảo hiệu quả. Tài liệu tham khảo Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008 Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 2005;

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung
  • Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • 10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung
  • Theo quan niệm mácxít, nhà nước vừa có chức năng xã hội – chính trị, vừa có chức năng xã hội – dân sự. Tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về vấn đề này là cơ sở phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần: Nhận thức và xử lý đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa các chức năng của nhà nước; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta; xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân.

    1. Cuộc cách mạng vĩ đại về lý luận – tư tưởng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, V.I.Lênin phát triển, đã đem lại quan niệm khoa học về nhà nước và chức năng của nhà nước trên nhiều bình diện, đặc biệt là mối quan hệ giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự trong kiện toàn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Quan điểm mácxít khẳng định rằng, nhà nước chỉ xuất hiện khi đời sống xã hội đòi hỏi và đảm bảo đủ điều kiện để nhà nước hoạt động. Trong thực tiễn lịch sử, điều kiện cần và đủ cho sự hình thành nhà nước là sự phát triển sản xuất xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định, cho phép xã hội có của dư. Khi xã hội tạo được của dư tất yếu sinh ra chế độ tư hữu, lúc đó, xã hội bắt đầu có sự phân hoá giai cấp và mâu thuẫn đối kháng giai cấp không thể điều hoà. Đặc trưng của nhà nước trước hết là thực hiện sự quản lý theo lãnh thổ; đồng thời, quản lý xã hội bằng pháp luật. Quyền lực nhà nước được hình thành, phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội và phản ánh bản chất giai cấp của nhà nước đó. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khẳng định: “Trước hết, bất cứ quyền lực chính trị nào ban đầu đều dựa trên một chức năng kinh tế, xã hội… Hai là, … tác động theo ý nghĩa và chiều hướng của sự phát triển kinh tế có tính quy luật. Như vậy, giữa quyền lực chính trị và phát triển kinh tế không có một sự xung đột nào và phát triển kinh tế được đẩy nhanh hơn, hoặc nó chống lại sự phát triển kinh tế, khi đó trừ một vài trường hợp ngoại lệ, thường thường nó chịu sức ép của sự phát triển kinh tế”(1). Chức năng xã hội của nhà nước được C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp cận dưới nhiều góc độ, song đều xuất phát từ nguyên tắc giai cấp của nhà nước. Trong các luận giải của mình về nhà nước, các ông đã phân tích sự vận động biện chứng của hai lớp nhà nước chính trị và nhà nước xã hội. Đó là sự phản ánh quá trình chuyển hoá biện chứng khách quan giữa nhà nước chính trị và nhà nước xã hội, mà tập trung nhất là đời sống kinh tế. Bí mật của mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội là ở chỗ, nhà nước tách ra thành một bộ phận độc lập, đối lập với xã hội. Song, “không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định, quyết định nhà nước”(2).

    Dưới góc độ phương pháp luận mácxít, nhà nước không chỉ thực hiện sự thống trị của giai cấp, tức chức năng xã hội – chính trị, mà còn thực hiện chức năng công cộng, tức chức năng xã hội – dân sự. Hai chức năng đó tuy khác nhau nhưng biểu hiện cùng một bản chất do tính quy định của nó. “Gia đình và xã hội công dân là những bộ phận hiện thực của nhà nước, là phương thức tồn tại của nhà nước. Gia đình và xã hội công dân tự chúng cấu thành nhà nước”(3). Như vậy, nhà nước là tổng thể của sự tồn tại của nhân dân và nhà nước chính trị chính trị.

    Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chức năng xã hội – chính trị có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nó đòi hỏi phải tiếp cận mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của nhà nước bằng nguyên tắc khách quan, toàn diện và lịch sử – cụ thể; bằng tính hệ thống, tính chỉnh thể, tính lôgíc biện chứng trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp; bằng tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân. Mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xét đến cùng, là đảm bảo tốt hơn sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Để giữ vững định hướng chính trị đối với tất cả các quan hệ xã hội, việc thực hiện chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải dựa trên cơ sở lợi ích và ý chí của giai cấp công nhân; tuân theo sự dẫn dắt, định hướng, chế ước của các quan hệ xã hội – chính trị. Định hướng xã hội – chính trị của nhà nước phải được giữ vững trong quá trình thực hiện chức năng xã hội – dân sự, không đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn xã hội càng phù hợp với nhau thì các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự càng phát triển theo hướng tích cực. Định hướng xã hội – chính trị chỉ đứng vững khi bản thân nó không tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ nền tảng đời sống sinh hoạt bình thường của xã hội dân sự. Nhân dân đóng góp cho nhà nước bao nhiêu về phương diện xã hội – chính trị thì nhà nước cũng phải thoả mãn bấy nhiêu yêu cầu của họ về phương diện xã hội – dân sự. Các nguyên tắc này đòi hỏi phải loại bỏ quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng không chỉ vì lý do chính trị, mà cả lý do khoa học.

    Để tiếp cận đúng mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, còn cần phải tuân thủ nguyên tắc về sự thống nhất giữa vai trò của quần chúng nhân dân và người lãnh đạo. Cơ sở khoa học của nguyên tắc này xuất phát từ lý luận và thực tiễn của mối liên hệ hữu cơ giữa cá nhân với xã hội mà C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc trong các tác phẩm của mình. Nhà nước thực hiện các chức năng của nó không chỉ thông qua vai trò của cộng đồng xã hội, mà còn thông qua vai trò hoạt động tích cực của cá nhân, đặc biệt là người lãnh đạo chủ chốt.

    Trên cơ sở phương pháp luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, việc xem xét các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước luôn được đặt trong mối liên hệ với xã hội dân sự. Thực hiện tốt vấn đề này không chỉ nâng cao vị thế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà còn tăng thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước với đời sống xã hội dân sự.

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn luôn đòi hỏi việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị phải dựa trên cơ sở thoả mãn nhu cầu xã hội dân sự; trong đó, nhu cầu thiết yếu nhất là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, phương thức thực hiện sự thống trị của giai cấp công nhân bằng nhà nước chủ yếu phải là mở rộng dân chủ. Pháp quyền chỉ đứng vững và hiệu quả khi thực hiện bằng dân chủ. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là hiện thân tối ưu của các hình thức dân chủ hoá. Dù trình độ dân chủ phát triển đến đâu, tính chất dân chủ ấy như thế nào thì nó vẫn phải được pháp chế hoá bằng luật pháp. Để thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, phải phát triển mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự.

    Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự được biểu hiện một cách đa dạng trên nhiều nội dung và ở mọi lĩnh vực xã hội, trong đó những nội dung quan trọng cần khẳng định là các mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    2. Các Nghị quyết Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, các Nghị quyết Trung ương chuyên đề, như Nghị quyết Trung ương 3, khoá VII (6 – 1992) Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII (6 – 1997) Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnhVề chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết Trung ương 7, khoá VIII (8 -1999) Về một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước… được các ngành, các địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện đã góp phần quan trọng trong việc ổn định tư tưởng, thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân, giữ vững ổn định xã hội – chính trị, thực hiện có hiệu quả chức năng xã hội – dân sự. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã tạo nền tảng vật chất vững chắc để Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển và quan hệ chặt chẽ hơn với đời sống xã hội dân sự, không gây nên những biến động lớn làm đảo lộn đời sống xã hội dân sự, không có sự tranh giành quyền lực chính trị trong nội bộ cơ quan quyền lực. Đồng thời, tạo cơ sở cho Nhà nước thực hiện một cách thống nhất các chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của mình.

    Trong thời đại toàn cầu hoá, xu hướng luật pháp hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội đã có ảnh hưởng rất lớn và tích cực đối với việc thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước ta. Điều này biểu hiện ở vai trò ngày càng tăng của nhân tố pháp quyền, sự quan tâm hơn của nhà nước đến vấn đề con người và đời sống xã hội, sự hoàn thiện ngày càng cao của kỹ năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Kỹ năng, kỹ thuật tổ chức nhà nước cũng có những nét mới, hợp lý, như sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật quốc tế, lý thuyết về liên minh quốc hội và liên minh chính phủ…

    Ngoài những thành tựu to lớn và cơ bản trên, việc thực hiện và đảm bảo sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự của Nhà nước ta trong thời gian qua không tránh khỏi một số bất cập, chủ yếu do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

    Nguyên nhân chủ quan

    Chúng ta chưa nhận thức và vận dụng đúng, thậm chí vi phạm những nguyên lý cơ bản về mối liên hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước. Trong tổ chức thực hiện, nhất là ở cơ sở, có lúc, có nơi, chúng ta còn tách rời chức năng xã hội – dân sự với chức năng chính trị – xã hội; quá nhấn mạnh, tuyệt đối hoá hoặc là chức năng xã hội – chính trị, hoặc là chức năng xã hội – dân sự. Đặc biệt, chưa nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu của sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do chúng ta chưa luận giải đúng nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối liên hệ biện chứng giữa các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa nhận thức và vận dụng đúng phương thức chuyển hoá của việc thực hiện sự thống nhất chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chưa xây dựng được mối quan hệ hữu cơ vững chắc giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Công tác xây dựng, tổ chức đảng “chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ “còn những biểu hiện tập trung quan liêu, dân chủ hình thức”, “lúng túng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ”. ” Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng“(4). Tổ chức bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, việc phân công, phân cấp giữa bộ và chính quyền địa phương còn nhiều vấn đề chưa rõ; thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà và chậm được đổi mới, hiệu lực thi hành pháp luật yếu. Kỹ thuật tổ chức hành chính cả về phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn nhiều hạn chế. Tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các đoàn thể và hội quần chúng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác vận động quần chúng trong tình hình mới…(5). Văn hoá dân chủ, văn hoá pháp luật của nhân dân còn thấp.

    Nguyên nhân khách quan

    Điểm xuất phát kinh tế của nước ta còn thấp, các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được tạo lập đồng bộ. Thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học công nghệ chưa phát triển. Những tàn dư văn hoá – xã hội, như lề thói độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, gia đình chủ nghĩa và việc thiếu một mặt bằng văn hoá pháp luật, văn hoá dân chủ cao… đã gây không ít khó khăn cho việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước.

    Mặt khác, các thế lực đế quốc và lực lượng chống cộng hiện đang cấu kết với nhau, lợi dụng sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những biện pháp thâm độc và nguy hiểm của chúng trước hết tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc, rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn sai con đường phát triển xã hội; rằng, “không thể có chủ nghĩa xã hội trong thực tế” và kích động phải thực hiện “tư nhân hoá”, “đa nguyên chính trị”… Thực chất là chúng muốn chia rẽ Đảng với Nhà nước, Đảng và Nhà nước với nhân dân; tách quần chúng nhân dân khỏi ảnh hưởng của Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng… nhằm phá hoại sự thống nhất trong thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    3. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo chúng tôi, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, cần nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước; luận giải một cách khoa học nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối quan hệ cũng như sự chuyển hoá giữa các chức năng đó. Đồng thời, phân tích một cách khách quan những nhân tố tác động đến sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước. Để có thể xử lý đúng đắn và khoa học sự tác động đó, cần xem xét nó một cách toàn diện, hệ thống, vừa theo tính chất, vừa theo những lát cắt đồng đại.

    Hai là, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, ” thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ… Hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(6). Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là không ngừng giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta. Phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là phát huy mọi nguồn lực, đặc biệt là lực lượng sản xuất của xã hội, để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội hiện thực. Giữa các khía cạnh đó có mối liên hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ và có sự tương tác biện chứng với nhau, chúng vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là kết quả của nhau. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khía cạnh xã hội – chính trị. Phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là khía cạnh xã hội – dân sự. Đó cũng là những biện pháp quan trọng nhất để nâng cao không ngừng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và thắt chặt mối quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với đời sống xã hội dân sự, nhân tố quyết định sự phát triển thống nhất giữa các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước.

    Ba là, xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Đây là biện pháp không thể thiếu để duy trì và phát triển sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, toàn bộ chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều phải thể hiện nguyện vọng và ý chí của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân.

    Tóm lại, để Nhà nước thực hiện tốt chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, chúng ta phải đẩy mạnh quá trình “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”, “cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước”, “phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế”, “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực” và tích cực “đấu tranh chống tham nhũng”(7) – như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã vạch ra.

    Đã xem: 4304

    Thời gian đăng: Thứ sáu – 02/02/2018 11:34

    Người đăng: Phạm Quang Duy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Của Các Mối Quan Hệ Xã Hội Với Sức Khỏe Ít Ai Ngờ Tới
  • Bàn Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước, Thị Trường Và Xã Hội
  • Mạng Lưới Xã Hội Trong Khám Chữa Bệnh Cho Lao Động Nông Thôn
  • Lý Thuyết Mạng Lưới Xã Hội Trong Nghiên Cứu Tin Đồn
  • Biến Đổi Cơ Cấu Và Chức Năng Gia Đình. Đề Cương Môn Học
  • Cách Chỉnh Các Chức Năng Trên Điều Khiển Điều Hòa Lg

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Thích Các Ký Hiệu Biểu Tượng Trên Điều Khiển Điều Hòa Lg
  • Chế Độ Hút Ẩm Của Điều Hòa Lg
  • Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Lg Đơn Giản
  • Chế Độ Hút Ẩm Của Điều Hòa Samsung
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Lg Dễ Dàng Nhất
  • Nút 1: Bật và tắt máy.

    Nút 2: LIGHT OFF – Tắt bật đèn trên máy lạnh.

    Nút 3: FAN SPEED – Điều chỉnh tốc độ của quạt gió.

    Nút 4: COMFORT AIR – Chức năng lọc không khí.

    Nút 5: MODE – Chọn các chế độ hoạt động chính của máy lạnh

    Nút 6: ENERGY CTL. – Tùy chỉnh công suất hoạt động của máy (chức năng tiết kiệm điện).

    Nút 7: TEMP – Tăng giảm nhiệt độ điều hòa.

    Nút 8: JET MODE – Chế độ làm lạnh nhanh.

    Nút 9: SWING – Điều chỉnh hướng gió.

    Nút 10: ROOM TEMP – Hiển thị nhiệt độ phòng.

    Nút 12: CANCEL – Hủy cài đặt.

    Nút 13: FUNC – Nút bật các chức năng.

    Nút 14: TIMER – Hẹn giờ bật điều hòa.

    Cách sử dụng điều khiển LG

    Sau khi đã nắm được biểu tượng cũng như ý nghĩa, chức năng của tầng nút trên điều khiển thì bạn có thể dễ dàng điều chỉnh máy lạnh LG. Như đã nói ở trên, máy lạnh LG có 4 chế độ đó là: Auto, Cool, Dry và Fan.

    Để có thể chọn các chế độ thì chúng ta cần phải khởi động máy. Bạn nhấn nút On/Off. Tiếp theo, bạn hay nhấn chọn nút MODE để lựa chọn các tính năng:

    • Cool – chế độ làm mát và có biểu tượng hình bông tuyết trên màn hình điều khiển. Khi chọn chế độ này nhiệt độ trong phòng luôn được giữ ổn định ở một mức nhiệt mà bạn đã lựa chọn trên remote. Chế độ này phù hợp với những hôm điều kiện thời tiết bên ngoài nóng lực. Nhưng khi chế độ này tiêu hao rất nhiều điện năng.
    • Dry – Chế độ hút ẩm hay làm khô không khí có biểu tượng hình giọt nước. Vào những ngày thời tiết mưa ẩm kéo dài, trời nồm độ ẩm không khí trong phòng tăng cao. Thì bạn nên lựa chọn bật chế độ này. Nó sẽ giúp làm giảm độ ẩm trong phòng đi một cách đáng kể. Tuy nhiên, nếu vào những ngày độ ẩm cao trên 90% thì bạn nên sử dụng máy hút ẩm không khí chuyên dụng. Thiết bị này sẽ loại bỏ độ ẩm một cách tối ưu hơn rất nhiều so với chế độ dry của điều hòa.
    • Fan – Chế độ quạt gió và có biểu tượng hình cánh quạt. Khi chọn chế độ này thì hệ thống làm lạnh của điều hòa không hoạt động mà chỉ có quạt gió làm việc. Chính vì thế chế độ này khá là tiết kiệm điện. Nhưng vào những ngày nắng nóng thì không nên bật chức năng này.
    • Auto – chế độ tự động có biểu tượng chữ AI trên điều khiển. Đây là chế độ thông minh, khi bạn chọn máy sẽ tự động điều chỉnh cân bằng nhiệt độ trong phòng mà bạn không cần phải sử dụng điều khiển.
    • Heart – chế độ làm ấm. Chức năng này chỉ có ở máy lạnh LG 2 chiều. Chức năng thích hợp với những gia đình có trẻ nhỏ và sử dụng vào mùa đông.

    Cách chỉnh máy lạnh LG mát nhất

    Để bất được chức năng này bạn nên chọn chế độ đó là “làm lạnh nhanh”. Chức năng này rất hữu ích, tuy nhiên lại khá ít người biết đến và sử dụng. Để sử dụng bạn chỉ cần:

    Bước 1: Mở chế độ làm mát (Cool)

    Bước 2: Bấm nút Jet Mode trên điều khiển.

    Khi chọn chế độ làm mát nhanh sẽ giúp nhiệt độ phòng được giảm xuống nhanh chóng tạo cảm giác mát mẻ tức thì. Nhưng chức năng này tốn khá nhiều điện năng. Bởi hệ thống làm lạnh sẽ phải hoạt động ở tốc độ cao để giúp nhanh chóng đạt được mức nền nhiệt mong muốn. Vì thế khi sử dụng bạn nên chú ý chuyển chế độ sao cho hợp lý.

    Cách dùng chế độ tiết kiệm điện điều hòa LG inverter

    Hiện nay, rất nhiều hãng đã sử dụng công nghệ inverter – tiết kiệm điện năng trong đó có cả LG. Để sử dụng chế độ này bạn nhấn nút ” Energy Ctrl ” trên điều khiển. Chế độ này giúp bạn chủ động trong việc kiểm soát điện sử dụng, tiết kiệm điện năng. Khi phòng có ít người thì bạn nên chọn chế độ này. Và có 3 mức để cho bạn lựa chọn sử dụng:

    • Mức 1 : Sử dụng 80% mức công suất.
    • Mức 2 : Sử dụng 60% mức công suất.
    • Mức 3 : Sử dụng 40% mức công suất. Phù hợp cho phòng chỉ có 1 người.

    Hướng dẫn sử dụng 1 số tính năng đặc biệt trên điều hòa LG

    Nếu bạn để ý kỹ trên điều khiển thì sẽ thấy có nút “FUNC”. Nút này là dùng để bất 1 số chức năng đặc biết của điều hòa như lọc không khí, tạo ion giữ ẩm, tự động làm khô máy lạnh…

    Hướng dẫn cách sử dụng máy lạnh LG tiết kiệm điện

    • Hạn chế làm lạnh hoặc ấm phòng quá mức cần thiết vì các tính năng này sẽ gây tiêu tốn điện năng, đồng thời tạo nên những tác động tiêu cực tới sức khỏe của người tiêu dùng. Lời khuyên cho bạn là chỉ nên giữ nhiệt độ phòng ở mức vừa phải. Vào mùa hè, nên duy trì nhiệt độ từ 27 tới 28 độ C.. Vào mùa Đông, mức nhiệt hợp lý là 20 tới 22 độ C.
    • Khi sử dụng điều hòa, bạn cần phải đóng kín cửa sổ và cửa ra vào để tránh tình trạng thoát nhiệt gây lãng phí năng lượng.
    • Thường xuyên vệ sinh phin lọc không khí khoảng 2 tuần một lần sẽ tránh tình trạng phin bị bí, tắc khiến điều hòa vận hành kém hiệu quả và bị ồn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Điều Hòa Lg Chi Tiết Các Chức Năng
  • Bộ Lọc Không Khí Của Điều Hòa Cây Lg Và Các Chức Năng Cần Thiết
  • Cách Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Toshiba Đúng Cách
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Điều Khiển Điều Hòa Toshiba
  • Cách Sử Dụng Điều Khiển (Remote) Điều Hòa Toshiba Ras
  • Điều Chỉnh Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Hđnd Xã Để Tránh Hình Thức

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Bảo Hiểm Xã Hội Tỉnh
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Văn Phòng Bảo Hiểm Xã Hội Tỉnh
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Cổng Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam
  • ‘vai Trò Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Trong khuôn khổ chương trình làm việc của Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới – Nhóm 4, sáng 17-3, Đoàn công tác do Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu và Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương Lê Hữu Nghĩa dẫn đầu làm việc tại xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang về nội dung thực tiễn “Đổi mới hệ thống chính trị – Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN – Xây dựng nền dân chủ XHCN”. Cùng dự, có Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Võ Công Trí.

    Theo báo cáo của địa phương, hiện nay, xã Hòa Tiến đã hoàn thành 19/19 tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới và đang tiếp tục thực hiện nâng cao tỷ lệ hoàn thành bền vững các tiêu chí. Trong thời gian qua, công tác xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở địa phương luôn được quan tâm và tổ chức thực hiện thường xuyên, quán triệt sâu sắc quan điểm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, từ đó thu hút và động viên nhân dân tích cực, tự giác tham gia vào quá trình quản lý Nhà nước. Việc thực hiện công khai, niêm yết những thủ tục hành chính, công bố quy hoạch những dự án đầu tư xây dựng, đến việc công khai minh bạch các khoản đóng góp, các nguồn thu trong nhân dân… đã cung cấp những thông tin cơ bản để nhân dân tham gia giám sát về thực hiện, từ đó từng bước đã tạo được sự tin tưởng và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.

    Lãnh đạo xã Hòa Tiến kiến nghị với Đoàn khảo sát một số vấn đề như: Cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 theo hướng điều chỉnh lại chức năng, nhiệm vụ của HĐND xã để tránh hình thức, đồng thời tinh gọn số lượng đại biểu HĐND; sửa đổi và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay; cần quan tâm xem cấp xã như một cấp hành chính thực sự, từ đó có sự quan tâm về chế độ chính sách cho cán bộ xã giống như cán bộ, công chức hành chính và được liên thông các cấp theo quy định, cấp xã được chủ động sắp xếp, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ cơ sở và chịu trách nhiệm về việc này trước cơ quan cấp trên; thực hiện việc tinh giản cán bộ theo hướng chuyên nghiệp; có chính sách hỗ trợ thỏa đáng động viên cán bộ nghỉ việc trước tuổi để giải quyết đầu ra cho cán bộ, tinh giản bộ máy và tạo điều kiện thực hiện chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở; cần xem xét về trình độ chuyên môn của cán bộ thanh tra nhân dân cấp xã, bảo đảm thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, đồng thời quan tâm chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với cán bộ làm tốt công tác này.

    MAI TRANG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy Nghệ An
  • Quyết Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Ban Tuyên Giáo Trung Ương
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Tuyên Giáo Xã Đông Minh
  • Hội Nông Dân Tỉnh Nam Định
  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Phát Triển Hội Nông Dân Việt Nam
  • Widget Của Ios 14 Có Thể Sẽ Như Thế Nào Cùng Các Chức Năng Tùy Chỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 8 : Mạch Khuyếch Đại
  • Cn 12 Mạch Tạo Xung
  • Bài 8: Mạch Khuếch Đại
  • Hướng Dẫn Luật Ma Sói Việt Hóa Mở Rộng
  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing
  • Website chúng tôi chuyên mục Thủ thuật có bài Widget của iOS 14 có thể sẽ như thế nào cùng các chức năng tùy chỉnh​Tính năng widget rõ ràng sẽ nâng cao trải nghiệm cho iOS, đặc biệt là với các ứng dụng như thời tiết. Người dùng sẽ có thể tùy chỉnh widget để ứng dụng hiển thị được nhiều thông tin hơn thay vì chỉ là một icon tĩnh như hiện tại

    Một số tin tức mới đây cho biết, phiên bản iOS 14 sẽ mang widget ra màn hình home. Hứa hẹn đem lại một dùng thử mới, tiện lợi hơn và là một trong số tính năng đã được người dùng iPhone mong ngóng từ lâu.

    Trước hết, theo ý tưởng của Ortolani, iOS 14 sẽ cho phép người sử dụng chọn cách hiển thị của ứng dụng trên màn hình Home: hoặc là icon hoặc là widget. Tất nhiên phần mềm đó phải hỗ trợ tính năng mới này, đồng nghĩa các nhà phát triển sẽ được các bản update mới của ứng dụng khi iOS 14 ra mắt.

    Những icon động trông giống như Live Tiles trên Windows Phone hay Windows 10 Mobile. Thay vì phải mở ứng dụng thì app thời tiết mới sẽ tự động cập nhật nhiệt độ ở vị trí hiện tại ngay trên màn hình Home. Đồng thời, menu phần mềm sẽ cho phép người dùng chọn một địa điểm tốt chuyển sang chế độ hiển thị. Widget trên iOS 14 sẽ có thể hiển thị ở dạng đầy đặn như thiết kế hiện tại, khác là chúng sẽ hiển thị cùng theo với các icon ứng dụng thay vì nằm ở một màn hình riêng.

    Từ khóa bài viết: iPhone, người, những, trong, nghiệm, widget, phiên, thông, không, nhiên, 14​Trước, chúng, Twitter, Ortolani, Parker, tưởng, nghĩa, nhiều, Người, iPhone, người, những, trong, nghiệm, widget, chỉnh

    Bài viết Widget của iOS 14 có thể sẽ như thế nào cùng các chức năng tùy chỉnh được tổng hợp và biên tập bởi sửa máy tính PCI – TopVn Mọi ý kiến đóng góp và phản hồi vui lòng gửi Liên Hệ cho chúng tôi để điều chỉnh. Xin cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Về Chức Năng Tự Đọc Clipboard Của Zalo, Tiktok
  • Nguyên Lý Cơ Bản Mạch Chỉnh Lưu Và Ổn Áp
  • Điốt Là Gì? Mạch Chỉnh Lưu Là Gì? Nguyên Tắc Cấu Tạo Của Diode, Rectifiers
  • Bài 7: Khái Niệm Về Mạch Điện Tử
  • Các Chức Năng Trong Ma Sói Bạn Nên Biết
  • Phân Tích Những Chức Năng Của Gia Đình Dưới Chủ Nghiã Xã Hội? Các Quan Hệ Cơ Bản Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • #1 Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • Giám Sát, Phản Biện Xã Hội: Chức Năng Quan Trọng Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới
  • Câu hỏi: Phân tích những chức năng của gia đình dưới chủ nghiã xã hội? Các quan hệ cơ bản của gia đình

    Đáp án: Gia đình có những mối quan hệ cơ bản sau đây:

    • Quan hệ hôn nhân: hôn nhân là một nhu cầu sinh lý nhằm sản xuất ra con người để duy trì nòi giống. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hôn nhân cũng có lịch sử của nó. Nếu như trong chế độ cộng sản nguyên thủy, hình thức hôn nhân chủ yếu là quần hôn (hôn nhân tập thể) thì trong các chế độ tư hữu, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở lợi ích của những người chủ sở hữu và chịu sự chi phối của các quan hệ kinh tế – chính trị của chế độ xã hội đó. Vì vậy, hôn nhân trong bất cứ thời đại nào cũng cần được xã hội thừa nhận cả về mặt chuẩn mực văn hóa và truyền thống trong cộng đồng và pháp luật của chế độ đương thời.
    • Quan hệ huyết thống: do nhu cầu duy trì và phát triển nòi giống, con người đã sáng tạo ra một thiết chế gia đình, trong đó quan hệ huyết thống được coi là một quan hệ cơ bản nhất. Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng có những thay đổi theo sự chi phối của các điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị của xã hội. Nếu như trong chế độ cộng xã nguyên thủy, huyết thống về bên mẹ được coi là chuẩn mực để tính quan hệ thân tộc xa gần thì đến chế độ tư hữu huyết thống được coi về đằng cha. Sự phân biệt này chỉ khi nào không còn chế độ tư hữu.
    • Quan hệ quần tụ trong một mái ấm gia đình: xuất phát từ nhu cầu tự nhiên, quan hệ lứa đôi cần phải có một nơi cư trú, thời nguyên thủy người ta chỉ cần một không gian là một hang đá, hốc cây, về sau là một túp lều tranh đơn sơ, một mái nhà. Mái ấm gia đình là nơi thiêng liêng sẽ không thay đổi, dù cho mai sau khoa học hiện đại có khám phá sáng tạo ra không gian sinh tồn mới, nhưng quan niệm về mái ấm gia đình cũng sẽ không mất đi. Trái lại nó càng được củng cố tăng cường nhờ được trang bị đầy đủ những tiện nghi hiện đại nhằm tạo thuận lợi hơn.
    • Quan hệ nuôi dưỡng: nuôi dưỡng là một trách nhiệm, đồng thời còn là một quyền lợi thiêng liêng của các thành viên trong gia đình đối với nhau. Nuôi dưỡng bao gồm cả việc các bậc cha mẹ, ông bà nuôi dưỡng con cháu, con cháu chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ, ông bà lúc già, cũng như việc quan tâm của những người khỏe mạnh đối với các thành viên gặp khó khăn. Tình cảm thiêng liêng này không thể thay thế được bằng bất kỳ hình thức nào.

    Gia đình có những chức năng cơ bản sau đây:

    • Chức năng tái sản xuất ra con người: sinh sản là một nhu cầu tự nhiên. Nếu không có hoạt động này thì xã hội loài người sẽ bị diệt vong. Nhưng sinh bao nhiêu là vừa, là đủ. Vấn đề này nó còn tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi giai đoạn lịch sử, tùy theo mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà có chiến lược phát triển dân số phù hợp. Nếu như vào đầu thời kì đồ đá mới (khoảng mười ngàn năm trước đây) các bộ lạc nguyên thủy chỉ xấp xỉ khoảng 1 triệu người được phân bố rải rác trên các lục địa. Đầu công nguyên dân số trên trái đất có chừng 150 – 200 triệu người. Năm 1000 sau công nguyên đã có gần 300 triệu người. Đến nay dân số trên thế giới đã lên đến con số báo động trên 6 tỷ người. Ở nhiều nước, tốc độ tăng dân số đến chóng mặt, nhất là ở các nước chậm phát triển, số sinh ra vượt quá mức so với sức sản xuát lương thực, về điều kiện nhà ở, về điều kiện y tế, giáo dục, về phúc lợi v..v… Theo báo cáo của Liên hợp quốc thì hiện nay có khoảng 40 triệu người đang sống trên miệng hố của sự chết đói, nhiều nước Á, Phi, Mĩ La tinh tuổi thọ thấp (trung bình 35 tuổi) sự thay thế của các thế hệ xảy ra nhanh. Tình hình đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của xã hội. Vì vậy, vấn đề bùng nổ dân số đang là vấn đề gay gắt đang được đặt ra không chỉ ở mỗi nước, mà còn là vấn đề chung của toàn nhân loại. Ở nước ta, để khắc phục tình trạng dân số tăng nhanh, trong khi nền kinh tế đang còn thấp, do đó chúng ta phải coi nhiệm vụ kế hoạch hóa dân số và giải quyết việc làm cho người lao động là nhiệm vụ hàng đầu trong chính sách xã hội. Theo thống kê 2004 người ta tính cứ 1 phút có 3 em bé chào đời, thì một năm tăng 1,2 triệu người, nếu so sánh giữa tăng trưởng kinh tế và mức độ tăng dân số như hiện nay đang là một vấn đề bức xúc. Vì vậy việc phấn đấu hạ thấp tỷ lệ tăng dân số kết hợp với việc tổ chức lại lao động, đất đai, ngành nghề làm cho mọi người lao động đều có việc làm đó là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối về kinh tế – xã hội đem lại cuộc sống văn minh, hạnh phúc cho nhân dân.
    • Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống của gia đình: trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mỗi gia đình đều có thể trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh, mọi gia đình, mọi cá nhân đều có thể làm giàu chính đáng bằng sản xuát kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối với các gia đình công nhân viên chức cũng được khuyến khích tuy các loại gia đình này không trực tiếp kinh doanh, nhưng cũng có vai trò tác động đến sản xuất qua lĩnh vực tiêu dùng.
    • Chức năng giáo dục: nội dung giáo dục trong gia đình bao gồm cả về vật chất lẫn tinh thần, nó là trách nhiệm của các bậc cha mẹ và được thực hiện ở mọi chu trình sống của con người. Từ lúc còn ẵm ngữa, giai đoạn tuổi thơ, khi đã trưởng thành, lúc già cả…Ở từng chu trình ấy phải có những nội dung và hình thức giáo dục phù hợp. Nếu ở giai đoạn tuổi thơ là lời ru của mẹ, tấm gương sống và làm việc của người thân, những lời nhắn nhủ của cha mẹ, giảng giải của ông bà và ngay cả trong sinh hoạt tình dục, sinh hoạt tiêu dùng cũng phải được giáo dục…” học ăn, học nói, học gói, học mở” ” ăn trông nồi ngồi trông hướng…” Trong chủ nghĩa xã hội, giáo dục của gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ, xây dựng con người mới có đạo đức, văn hóa có trí thức. Do đó, giáo dục con người phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội.
    • Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý tình cảm: có nhiều vấn đề tâm, sinh lý chỉ có thể bộc lộ và giải quyết trong phạm vi gia đình với những người thân. Do đó sự hiểu biết tâm sinh lý, sở thích của nhau để phù hợp với mỗi thành viên là rất cần thiết.

    Tóm lại, gia đình là thiết chế đa chức năng. Thông qua việc thực hiện những chức năng trên mà có sự tác động đến sự tiến bộ chung của xã hội. Các chức năng được thực hiện trong sự thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau, nhưng việc phân chia các chức năng cũng chỉ là tương đối. Nhiều khi, các chức năng được thực hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình. Ở từng nơi và các giai đoạn khác nhau, nội dung và vị trí của mỗi chức năng có sự biến đổi, nhưng dù ở đâu thời đại nào thì vai trò của người phụ nữ, mà trước hết là người vợ, người mẹ phải là trung tâm của tình cảm gia đình. Phụ nữ góp công sức nhiều nhất cho công việc của gia đình, giàu tình yêu và có ý thức hơn vì hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn hiện tượng đối xử không bình đẳng đã làm cho người phụ nữ phải gánh vác những công việc nặng nhọc trong gia đình và công việc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Viện Phải Có Phòng Hoặc Tổ Công Tác Xã Hội Để Hỗ Trợ Người Bệnh
  • Giới Thiệu Phòng Công Tác Xã Hội
  • Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương
  • Phòng Công Tác Xã Hội
  • Khoa Học Và Nghệ Thuật
  • Chức Năng Hệ Điều Hành Windows 7. Các Chức Năng Chính Của Hệ Điều Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Tính Năng Nổi Bật Của Windows 10
  • Cách Chụp Màn Hình Trên Hệ Điều Hành Windows 10
  • Hệ Điều Hành Windows Là Gì? Ưu Và Khuyết Điểm
  • Tổng Quan Về Hệ Điều Hành Ios Của Apple
  • Hệ Điều Hành Ios Của Iphone Là Gì? Công Dụng Và Cách Dùng Ra Sao?
  • Để thực hiện của nó chức năng, máy tính phải được trang bị hiện đại, phù hợp với các thành phần phần cứng của hệ điều hành. thị trường hệ điều hành hiện nay cung cấp nhiều lựa chọn các giải pháp phù hợp. lãnh đạo truyền thống của họ nắm giữ trên “RAM” cho Microsoft, và một trong những sản phẩm thành công nhất cho đến nay của nhà phát triển này – Hệ điều hành Windows 7. Microsoft là gì yếu tố lãnh đạo trong thị trường hệ điều hành? Những cơ hội làm người sử dụng cụ thể hiện đại Windows 7?

    Khái niệm về hệ điều hành

    là gì hệ điều hành? các chức năng chính của hệ điều hành là gì? Theo định nghĩa phổ biến, hệ điều hành – một tập hợp các chương trình và các ứng dụng, tạo ra một môi trường cơ bản cho việc sử dụng các khả năng máy tính. Ứng dụng vật – văn bản, biên tập viên đồ họa, các trình duyệt, trò chơi – không có hệ điều hành không thể làm việc.

    Có rất nhiều hệ điều hành có sẵn trong lĩnh vực CNTT-thị trường hiện nay. Trong số các thương mại phổ biến nhất – Windows, hệ điều hành MacOS. Được nhiều người CNTT-chuyên gia, phổ biến nhất của tự do – Linux. Cũng cần lưu ý rằng những sửa đổi của nó nhiều hơn so với các phiên bản thương mại của hệ điều hành.

    Chức năng của hệ điều hành

    Có những tính năng hệ điều hành cụ thể. Hiện đại CNTT-chuyên gia thích để làm nổi bật chủ yếu sau.

    Thứ nhất, một tổ chức truyền thông kỹ thuật số giữa các máy tính và các thiết bị ngoại vi như – đĩa, máy in, tài nguyên mạng, vv Thứ hai, các chức năng của hệ điều hành là để cung cấp các thủ tục quản lý người dùng tập tin (hoặc tự động) … Thứ ba, hệ điều hành chịu trách nhiệm về đúng khởi động và thực hiện chương trình. Thứ tư, các chức năng cơ bản bao gồm hệ điều hành tổ chức của sự tương tác hiệu quả giữa môi trường và các nguồn lực của người sử dụng máy tính. triển khai thực tế đối với mỗi người trong số chúng có thể được trong sự hiện diện của hệ điều hành hoặc các nguồn lực nhân viên để tương thích với phần mềm của bên thứ ba. Trong đó, tất nhiên, có khả năng theo yêu cầu.

    Chúng tôi xem xét cơ bản chức năng của hệ điều hành. OS mà nhãn hiệu có nhiều tương ứng với họ? Trả lời cho câu hỏi này sẽ giúp chúng ta một cái nhìn sâu sắc ít vào nét hiện đại của yêu cầu người dùng. nhà cung cấp hệ điều hành có thể cung cấp một loạt các giải pháp. Câu hỏi đặt ra là – hay không họ sẽ cần người tiêu dùng đến phần mềm.

    là những gì cần thiết cho người sử dụng hiện đại?

    ứng nhu cầu của người dùng máy tính hiện nay là gì? Làm thế nào họ có thể đáp ứng các chức năng và mục đích của hệ điều hành có mặt trên thị trường phần mềm ngày hôm nay? Trước hết, nó là thuận tiện, và quan trọng nhất, truy cập Internet an toàn, cũng như việc tổ chức các hoạt động của máy tính trong mạng máy tính cục bộ. tập tiếp theo của chủ sở hữu PC đòi hỏi hiện nay của kết nối với các khả năng đa phương tiện. Hệ điều hành phải chứa một mẫu định trước thường xuyên tương ứng với phần mềm ứng dụng đích, hoặc tương thích với các chương trình của bên thứ ba.

    người dùng hiện đại – những người muốn giảm thiểu chi phí thời gian gắn liền với việc thiết lập và đảm bảo hoạt động ổn định của máy tính. Điều quan trọng là, trong vấn đề này, sau đó, những gì các chức năng được thực hiện bởi hệ điều hành tự động, mà không có chủ sở hữu PC. Lý tưởng nhất, các thiết bị kết nối và cài đặt các chương trình nên diễn ra với tối thiểu chi phí sử dụng theo thời gian.

    Một trong những xu hướng hiện đại trong CNTT-ngành công nghiệp trong các khía cạnh của sự tương tác của các công ty phát triển phần mềm và khách hàng của họ – giao diện tối giản. người dùng hiện đại muốn nhìn thấy trên màn hình chỉ có tùy chọn cần thiết nhất. Điều này áp dụng cho cả phần mềm ứng dụng và hệ điều hành. Nếu bản chất của các phần mềm đòi hỏi sự linh hoạt, như là trường hợp với hệ điều hành, nhà sản xuất của nó phải đưa vào các yếu tố của các tùy chọn cấu hình linh hoạt giao diện. Để (trong trường hợp này, nếu có mặt trong màn hình chức năng hệ điều hành không mong muốn) để vô hiệu hóa người dùng của họ có thể bất cứ lúc nào.

    Windows – hệ điều hành chức năng nhất?

    Đây khá cao so với nhiều hệ điều hành Windows cạnh tranh, mà về nguyên tắc không thể thua kém nhiều để khả năng của mình. Ví dụ, chức năng hệ điều hành Linux như một toàn thể cũng phù hợp với nhu cầu hiện đại của người sử dụng. Tuy nhiên, họ thường đòi hỏi sự tham gia của các chủ sở hữu các kỹ năng máy tính cố hữu trong lĩnh vực CNTT-chuyên gia. Tự động hóa trên cài đặt phần mềm Linux và kết nối các quá trình thiết bị không cũng phát triển như trong Windows. Trong nhiều trường hợp, người dùng phải thực hiện điều chỉnh trong quá trình cài đặt phần mềm hoặc driver thích hợp bằng tay.

    Trên thực tế, trong giao diện Windows được thực hiện gần như tất cả những gì chúng tôi đã nói ở trên, việc xác định nhu cầu hiện đại của người sử dụng.

    Theo quan điểm của các bên trên và lý do khác (đặc biệt là những người được tiếp thị trong tự nhiên) Windows, do đó, trở thành hệ điều hành phổ biến nhất trên thế giới. Cho đến nay, bộ phim phát hành một số phiên bản của hệ điều hành. Một trong những mới nhất là Windows 7. chức năng hệ điều hành từ Mirosoft trong phiên bản này được thể hiện trong một loạt. Tìm hiểu cơ bản của họ.

    Làm việc với các mạng máy tính và Internet

    Trong Windows 7, khả năng thông tin liên lạc tiên tiến. Đồng thời dễ dàng để sử dụng chúng, thậm chí một người dùng thiếu kinh nghiệm. Không có vấn đề để kết nối với internet thông qua hầu hết các kênh truyền thông hiện có – qua một modem, Wi-Fi hoặc Ethernet-truyền hình cáp. Ngoài ra, như nhiều chuyên gia CNTT-trong phiên bản thứ 7 của Windows là thuật toán phát triển rất mạnh cho an ninh mạng. Ngoài ra còn có giao thông thường xuyên module lọc cho các kết nối không mong muốn.

    Khi tạo một mạng lưới có khả năng kích hoạt một chức năng như Windows Domain. Nó là một thuật toán phần mềm thiết lập các quy tắc và tiêu chuẩn chung cho hoạt động của các máy tính kết nối với cùng một mạng. Hữu ích nhất cho người dùng tùy chọn này của công ty.

    tìm kiếm thuận tiện

    Theo nhiều chuyên gia CNTT-, một trong những tính năng đáng chú ý nhất trong Windows 7 – các tập tin hệ thống tìm kiếm mới. Trước hết, cải tiến có thể được quan sát thấy giao diện tương ứng, so với các phiên bản trước của hệ điều hành. Đặc biệt, sau khi hệ thống sẽ tìm kiếm, kết quả sẽ được hiển thị không chỉ dưới dạng tên tập tin, mà còn bổ sung thêm thông tin về nội dung của họ. Ngoài ra còn có một chức năng của Trật tự của các file được tìm thấy dựa trên trận đấu hết sức mình các tiêu chí. Bạn cũng có thể lưu ý rằng các chức năng tìm kiếm của Windows được đặc trưng bởi khả năng sử dụng một số lượng lớn các bộ lọc.

    sự an toàn

    Trên chúng tôi ghi nhận một thực tế rằng trong hệ điều hành này là tương đối phát triển tốt các thuật toán máy tính để bảo vệ chống lại các kết nối mạng không mong muốn. Tuy nhiên, ngoài tính năng này, có khác thực hiện trong Windows 7, chức năng hệ điều hành trong các khía cạnh an ninh. Đặc biệt chú ý nên thuật toán mã hóa BitLocker. Lưu ý rằng nó đã được thực hiện đầu tiên trong phiên bản trước của hệ điều hành – Vista. Tuy nhiên, tiềm năng của nó trong hệ điều hành mới đã được nâng cấp. Đặt trên các thuật toán đĩa BitLocker được thiết kế để bảo vệ file – bình thường hay nghĩa bóng (bao gồm thẻ flash). Đặc biệt là việc thực hiện trong Windows 7 làm cho nó có thể đọc các tập tin được bảo vệ trong các phiên bản trước của Windows – Vista hoặc XP.

    Một file an ninh thuật toán – Hệ thống EFS. Nó cũng cho phép bạn mã hóa dữ liệu trên đĩa. Mức độ an ninh theo ước tính của các chuyên gia là rất cao. Nói chung, nhiều CNTT-chuyên gia lưu ý rằng quyền truy cập vào các khía cạnh bảo mật dữ liệu được thực hiện trong Windows 7 là rất chính xác.

    chế độ tương thích

    Windows 7 tính năng bao gồm như một lựa chọn, như các chế độ tương thích với các phiên bản trước của hệ điều hành. Tại sao một khả năng như vậy là cần thiết? Thực tế là nhiều chương trình được tạo ra trong quá khứ, không thể hoạt động đúng trong môi trường mà hoạt động phiên bản thứ 7 của Windows. Họ cần phải chạy hệ điều hành cũ. Tuy nhiên, trong trường hợp họ không có sẵn, Windows 7 cung cấp cho người dùng một sự thay thế trong các hình thức của một chế độ tương thích.

    Tác phẩm của ông được dựa trên sự ra mắt của “máy ảo” mô phỏng môi trường của một trong những phiên bản phổ biến nhất của những năm trước Windows – XP. Chạy chương trình cùng một lúc là có thể thông qua giao diện tiêu chuẩn phiên bản thứ 7 của hệ điều hành, chẳng hạn như, ví dụ, thanh tác vụ, và quản lý tập tin.

    CNTT-chuyên gia lưu ý rằng bởi vì Windows 7 đến kiến trúc của nó gần nhất với hệ điều hành Vista, các ứng dụng, điều chỉnh cho sau này, một hệ điều hành mới sẽ làm việc hầu như được bảo đảm. Trường hợp ngoại lệ có thể các loại phần mềm, chẳng hạn như các chương trình chống virus. Nhưng vấn đề này là rõ ràng chỉ trong những năm đầu tiên sau khi phát hành phiên bản 7. Bây giờ hầu hết các phần mềm chống virus hiện đại có thể làm việc với Windows 7 ở chế độ tiêu chuẩn nếu không có sự tương thích “máy ảo”.

    Chúng ta hãy xem xét các tùy chọn ứng dụng cơ bản được trình bày cho hệ điều hành.

    Beauty AERO

    Trong các phiên bản trước của hệ điều hành, Windows Vista, công ty Microsoft đã giới thiệu một giao diện rất phong cách và đẹp, được gọi là AERO. Nó là một tập hợp của các yếu tố cửa sổ bán trong suốt, kèm theo các hiệu ứng đồ họa. Bên cạnh đó, cấu trúc mới của giao diện làm cho quyền truy cập vào các tập tin và các chương trình với người dùng hơn thân thiện hơn phiên bản trước. AERO được kết hợp thành công với các môi trường hệ điều hành phần mềm cơ bản mà chạy dưới sự kiểm soát của các chức năng cơ bản của Windows 7.

    giao diện của nó vay chính nó để cấu hình linh hoạt dựa trên một tập hợp các hiệu ứng và kỹ thuật trực quan. Ví dụ, nếu máy tính là không đủ để chạy tất cả các tùy chọn AERO sản xuất, sau đó một số trong số họ, bạn có thể vô hiệu hóa.

    trung tâm di động

    Trong số các ứng dụng đáng chú ý nhất của tùy chọn OS – Mobility Center. Nhu cầu lớn nhất đối với nó có những người sử dụng máy tính xách tay – chủ yếu là do sự linh hoạt của các thiết lập tiết kiệm điện năng. Tuy nhiên, tiềm năng của nó là, tất nhiên, không giới hạn này. Thông qua giao diện Mobility Center, bạn có thể điều chỉnh âm lượng, tùy chọn mạng. Trong một số trường hợp, các nhà sản xuất PC thêm các tính năng của riêng mình.

    quản lý

    Trong những năm khi Windows 7 đang chuẩn bị để đưa ra thị trường, phổ biến khổng lồ bắt đầu để có được thiết bị di động – điện thoại thông minh và máy tính bảng. Hầu hết trong số họ là màn hình cảm ứng với công nghệ “cảm ứng đa điểm”, khi ma trận hiển thị có thể được điều khiển bởi chỉ một vài chạm. Điều này mở rộng đáng kể khả năng của máy tính của bạn. Trong mục “cảm ứng đa điểm”, ví dụ, màn hình có thể quản lý nhiều người dùng cùng một lúc. Có thể, sử dụng một số phong trào ngón tay đơn giản trên màn hình, để tăng hoặc giảm các mục hiển thị.

    Và bởi vì Microsoft dựa trên các xu hướng thị trường hiện tại, thực hiện hỗ trợ cho “cảm ứng đa điểm” trong Windows 7. Quyết định này được chứng minh là thành công đến nỗi sau đó công nghệ này đã được đưa vào các chức năng của hệ điều hành – Windows 8, 8.1. Người ta cho rằng nó sẽ có mặt trong phiên bản mới nhất, ngày 10.

    Các tính năng đa phương tiện

    Thuộc quyền sử dụng của người sử dụng hệ điều hành – một gói phần mềm Windows Media Center. Nó đã bán một số lượng lớn các tính năng đa phương tiện. Bên cạnh đó, giao diện tương ứng cho phép kết nối các thiết bị ngoại vi – chẳng hạn như, ví dụ, HD-TV, sau đó WMC nhiều chức năng có thể hoạt động bằng cách sử dụng từ xa.

    Cũng như các phiên bản trước của hệ điều hành từ Microsoft, Windows 7 – cung cấp việc cài đặt đúng của tất cả các trình điều khiển cần thiết – phản ứng với chạy nhất trò chơi hiện đại, và xử lý dữ liệu trong các ứng dụng đa phương tiện.

    Yêu cầu hệ thống và điều khiển

    các chi tiết kỹ thuật phần cứng phải có một máy tính mà nó có thể sử dụng các chức năng cơ bản của Windows 7 là gì? Yêu cầu tối thiểu lồng tiếng bởi các chuyên gia, là như sau.

    Thứ nhất, các máy tính phải được trang bị với một bộ xử lý với tốc độ xung nhịp tối thiểu 1 GHz. Các hệ điều hành do đó sản xuất trong phân phối hỗ trợ cả chip kiến trúc 32-bit và 64-bit.

    Thứ hai, máy tính phải có công suất mô-đun bộ nhớ RAM được thiết lập như là một tối thiểu 1 GB (khi sử dụng kiến trúc 32-bit) hoặc 2 GB (64 bit).

    Thứ ba, trên máy tính đĩa cứng phải được tự do của không ít hơn 16 GB không gian (với kiến trúc 32-bit) hoặc 20 GB (64-bit).

    Nhưng các yêu cầu này – mức tối thiểu. Nếu bất kỳ sẽ làm việc chỉ có chức năng cơ bản của hệ điều hành. Để có thể sử dụng Windows 7 khả năng đầy đủ, đó là mong muốn rằng các tham số (đối với mỗi người trong số các nguồn tài nguyên được liệt kê ở trên) đã vượt trội so với 2 lần trên.

    Tất nhiên, trong trường hợp này chúng ta đang nói chỉ về các thành phần phần cứng cơ bản có ảnh hưởng đến hiệu suất. PC cũng phải được trang bị với một chất lượng cao “sắt” của các loại khác. Trước hết, điều này áp dụng cho các card đồ họa và chip trách nhiệm xử lý âm thanh. Đối với các thành phần đồ họa – họ cũng có thể được đặc trưng bởi một tham số như dung lượng bộ nhớ. Để hoạt động chính xác, Windows 7 chuyên gia khuyên bạn nên một video card với bộ nhớ RAM 256 MB.

    Tuy nhiên, trong môi trường CNTT-chuyên gia có quan điểm rằng Windows 7 không phải là đòi hỏi về việc thực hiện phần cứng so với phiên bản trước của hệ điều hành – Vista. Mặc dù, tất nhiên, tiêu chí này không thể so sánh với XP, chưa kể đến các phiên bản trước đó.

    lựa chọn tối ưu của các thành phần phần cứng cũng phụ thuộc vào các mục đích mà các máy tính được sử dụng thường xuyên hơn. Nếu nó là một văn phòng điển hình, nó có thể quản lý các thành phần đáp ứng các yêu cầu hệ thống tối thiểu. Nhưng nếu nó được điều hành trò chơi hiện đại, sau đó chủ sở hữu của nó nên chăm sóc của quá trình cài đặt các thành phần phần cứng hiện đại, tùy theo yêu cầu cụ thể của các nhà phát triển “game” sản phẩm có nhiều hơn gấp đôi so với “phần cứng” với các đặc điểm tối thiểu.

    Khía cạnh quan trọng nhất của hoạt động chính xác của “phần cứng” – người lái xe. Theo nhiều chuyên gia CNTT-, Windows 7, các nhà phát triển đã đặc biệt quan tâm đến thành phần này. Thực tế là khi bạn kết nối một hoặc một thiết bị ngoại vi như máy in hoặc một máy quay phim trong tầm tay người sử dụng có thể không có trình điều khiển chính xác. Khi làm việc với các phiên bản trước của Windows, điều này có nghĩa là sử dụng một thành phần phần cứng có khả năng thất bại. Nhưng trong phiên bản thứ 7 của Windows nó là, như ghi nhận của nhiều chuyên gia CNTT-, một số lượng lớn các trình điều khiển được cài đặt sẵn. Hơn nữa, ngay cả khi không có quyền, quy định trong hệ điều hành thuật toán tìm kiếm nhanh chóng yêu cầu phần mềm trên Internet. Chủ yếu trong chế độ tự động, tức là, với sự can thiệp của người sử dụng tối thiểu.

    ổn định trong

    bất kỳ thông tin phản hồi

    Điều đáng chú ý là các thành phần “xã hội” của Microsoft tương tác với người tiêu dùng sản phẩm của mình vẫn tốt sau sự rút lui của hệ điều hành mới trên thị trường. Người dùng vẫn có thể truy cập các công cụ để tương tác với các công ty phát triển của Windows 7 trong các khía cạnh của vấn đề giải quyết tốt. Trong số những người có thể kể đến khắc phục sự cố nền tảng giao diện. Sử dụng nguồn tài nguyên này, người dùng có thể tìm thấy phát sinh trong trường hợp của mình, các vấn đề trong danh sách các loại. Nhưng ngay cả nếu chúng ta không thành công, sau đó khi bạn liên hệ với dịch vụ hỗ trợ sản phẩm của Microsoft, ông ít nhất có thể làm cho nó rõ ràng CNTT-chuyên gia về tính chất xác suất của các vấn đề. Cũng trong giao diện của Windows có một tùy chọn như vậy, như Problem Steps Recording. Chúng ta không nên nghĩ rằng cô và những người khác như cô ấy – chức năng hệ điều hành không cần thiết. Với loại tùy chọn người dùng có thể gửi một tập tin hỗ trợ với các thông tin kỹ thuật về các vấn đề, biên soạn dưới sự hiểu nhất cho CNTT-chuyên gia Microsoft thuật toán.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lịch Sử Hệ Điều Hành Windows Của Microsoft Xuyên Suốt Qua Các Thời Kỳ
  • Sử Dụng Máy Tính Cơ Bản Và Windows 7
  • Tổng Quan Hệ Điều Hành Windows 7
  • Hệ Điều Hành Android Là Gì? Ưu Và Nhược Điểm Ra Sao?
  • Tìm Hiểu Về Hệ Điều Hành Android
  • Hệ Điều Hành Là Gì ? Các Chức Năng Của Hệ Điều Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Điều Hành Là Gì? Các Loại Hệ Điều Hành Máy Tính Và Di Động Phổ Biến Hiện Nay
  • Hệ Điều Hành Là Gì? Các Loại Hệ Điều Hành Trên Máy Tính, Điện Thoại
  • Hệ Điều Hành Là Gì? Chức Năng Của Hệ Điều Hành Trên Máy Tính
  • Hệ Điều Hành Là Gì? Một Số Loại Hệ Điều Hành Máy Tính Phổ Biến
  • Kernel Là Gì? Vai Trò Của Kernel Trong Hệ Điều Hành
  • Hệ điều hành là gì, chức năng của hệ điều hành là gì, vai trò hệ điều hành. Khái niệm của hệ điều hành máy tính, điện thoại, và các thiết bị công nghệ điện tử.

    Khái niệm hệ điều hành là gì ?

    • Hệ Điều Hành có tên tiếng anh là Operating System – OS, là 1 nền tảng chính, được cài đặt trên phần cứng.
    • Hệ điều hành dùng để vận hành các ứng dụng khác, nằm ở trên cùng 1 thiết bị điện tử, thiết bj điện tử khác thông qua các kết nối.
    • Được tập hợp các chương trình, thành 1 hệ thống, có trách nhiệm tương tác người dùng với máy tính, hoặc các thiết bị điện tử.
    • Là cầu nối giữa thế giới bên ngoài, với các loại phần cứng, bao gồm tất cả các loại phần cứng.
    • Trong hệ điều hành có 3 phần quan trọng nhất, đó là User Interface, Kernel và Application Programming Interfaces.
    • User Interface hay còn gọi là giao diện, là hình ảnh hiển thị để con người giao tiếp. Đảm bảo quá trình tương tác giữa người dùng, với máy tính thông qua Desktop, Graphical Icons hay Command Line.
    • Kernel giúp cung cấp các điều khiển cơ bản, dựa trên cấu hình phần cứng máy tính. Đảm nhiệm các vai trò như: đọc, ghi dữ liệu, xử lý các câu lệnh, xác định dữ liệu được nhận và gửi bởi các thiết bị khác…
    • Application Programming Interfaces, hay còn gọi là giao diện lập trình ứng dụng. Điều này cho phép các ứng dụng phát triển sử dụng Modular Code.

    Hệ điều hành là phần mềm gì ?

    • Hệ điều hành hay còn lại là phần mềm hệ thống, được dùng để quản lý ứng dụng khác, là nền tảng để các ứng dụng tiện ích hoạt động.
    • Giống như 1 căn nhà chưa hoàn thiện, muốn hoàn thiện thì cần phải có nội thất, ngoại thất để sử dụng.
    • Và như phần trên cũng có nói, là tập hợp các câu lệnh, tạo lại thành 1 hệ thống. Nhờ đó mà hệ điều hành có thể hoạt động, cũng như là nền tảng chính nằm trên các thiết bị phần cứng.

    Chức năng của hệ điều hành

    • Hệ điều hành là nền tảng chính, để phát triển các ứng dụng tiện ích. Như vậy, khi đã có hệ điều hành trên phần cứng, thì những nhà lập trình. Sẽ cần lập những ứng dụng tương thích, để có thể sử dụng trên hệ điều hành đó.
    • Là nơi để quản lý thông tin phần cứng, bao gồm như: Quản lý bộ nhớ, quản lý CPU, quản lý mạng, quản lý thiết bị và quản lý hệ thống tập tin.
    • Cung cấp cho người dùng giao diện phù hợp, để có thể sử dụng các phần mềm trên máy tính.
    • Tối ưu hóa quá trình hoạt động của máy tính, tối ưu các công đoạn thao tác hoặc nhập liệu.
    • Là điểm trung gian giữa phần cứng với người dùng, giúp con người nhanh chóng truy cập, cũng như vận hành các tài nguyên khác.
    • Dàn xếp các xung đột, giữa chương trình hệ thống, và các chương trình do người dùng sử dụng.

    Các loại hệ điều hành thường gặp

    • Như thông thường chúng ta sử dụng máy tính, thì sẽ được cài đặt hệ điều hành windows. Bời vì windows là 1 trong những hệ điều hành, được lập trình đầu tiên, để công nghệ được phát triển như bây giờ.
    • Hiện tại thì windows được sử dụng cho máy tính thông thường, và sử dụng cho server. Đó là đối với hệ điều hành máy tính, và trên điện thoại thì windows phone.
    • Loại hệ điều hành thường gặp thứ 2, đó là Mac os, loại hệ điều hành của Apple. Loại hệ điều hành này trong các laptop của apple đều có.
    • Thứ 3 là hệ điều hành Linux, nhưng loại này chủ yếu dùng cho máy chủ web. Loại server để lưu trử web, cũng như lập trình các ứng dụng online… Nên rất ít phổ biến ở máy tính thông thường, và tính năng cũng khó sử dụng, nhưng an toàn.
    • Đối với điện thoại, thì loại phổ biến nhất đó hệ điều hành Android, được google phát triển. Và hệ điều ios, được apple phát triển, được sử dụng trên các điện thoại iphone, ipad…
    • Ngoài ra, như hiện nay có rất nhiều hệ điều hành mới, và có rất nhiều hệ điều hành được phát triển từ nhân của Android, vì adroid là mã nguồn mỡ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phần Mềm Hệ Thống Và Phần Mềm Ứng Dụng Là Gì, Xem Ví Dụ Chi Tiết
  • Những Tính Năng Hữu Ích Của Windows 7
  • Hệ Điều Hành Windows 10 Là Gì?
  • Đồ Án Tìm Hiểu Về Hệ Điều Hành Android
  • Sự Tiến Hoá Của Hệ Điều Hành Hiện Đại
  • Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Mối Quan Hệ Công Tác Của Các Đảng Bộ, Chi Bộ Cơ Sở Xã Phường, Thị Trấn

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam 2022, Luật Số 75/2015/qh13 2022
  • Vị Trí Vai Trò Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trong Hệ Thống Chính Trị Và Đời Sống Xã Hội
  • Điều Lệ Hội Nông Dân Việt Nam
  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Phát Triển Hội Nông Dân Việt Nam
  • Hội Nông Dân Tỉnh Nam Định
  • Quy định của Ban Bí thư đề ra 5 nhiệm vụ cho đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn là:

    – Nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh được quy định tại Điều 2: (1) Thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, báo đảm quốc phòng, an ninh theo nghị quyết đại hội đảng bộ, chi bộ xã, phường, thị trấn và của cấp trên; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tuyên truyền, vận động nhân dân làm tròn nghĩa vụ công dân đối với đất nước.

    (2) Lãnh đạo chính quyền thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật; cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển; quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai, khoáng sản, ngân sách, các khoản đóng góp của nhân dân và các nguồn hỗ trợ khác đế phát triển kinh tế, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng chống cháy, nổ, thiên tai, dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; thực hiện các chính sách an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo…; xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, đô thị hiện đại, văn minh.

    (3) Lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; tăng cường kỷ cương, kỷ luật; giám sát mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. (4) Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, công tác quân sự địa phương và chính sách hậu phương quân đội; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn,

    – Nhiệm vụ lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng được quy định tại Điều 3: (1) Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát huy truyền thống yêu nước trong các tầng lớp nhân dân; xây dựng tình đoàn kết, gắn bó, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh ở khu dân cư và trong từng gia đình. Tuyên truyền, nhân rộng gương người tốt, việc tốt và những điển hình tiên tiến.

    (2) Quán triệt, tổ chức thực hiện, kiểm tra việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị và văn bản của các cấp uỷ đảng; thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ của địa phương; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân để giải quyết theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp uỷ cấp trên giải quyết.

    (3) Lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân đấu tranh chống các quan điểm sai trái, hành vi nói, viết và làm trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chủ động phòng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và của nhân dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; chống tư tưởng cơ hội, thực dụng, cục bộ, bè phái, gia trưởng, dòng họ, bảo thủ và các tệ nạn xã hội.

    – Nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng đảng bộ, chi bộ và công tác tổ chức, cán bộ được quy định tại Điều 4: (1) Đề ra chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh, khắc phục tình trạng thôn, tổ dân phố chưa có tổ chức đảng, gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chủ động đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác.

    (2) Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, quy chế, quy định, hướng dẫn của cấp trên; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng bộ, chi bộ và cấp uỷ bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu; chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; thực hiện chế độ đảng phí theo quy định.

    (3) Cấp uỷ thực hiện công tác tổ chức, cán bộ theo phân cấp, bảo đảm đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục quy định. Tích cực tạo nguồn cán bộ tại chỗ và chuẩn hoá về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị đối với cán bộ, công chức; giới thiệu người đủ tiêu chuẩn, có uy tín để bầu giữ chức vụ chủ chốt các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở; tham gia ý kiến lựa chọn, giới thiệu cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo ở cấp trên khi được yêu cầu. Lãnh đạo thực hiện tốt chủ trương bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố.

    (4) Tăng cường các biện pháp quản lý, giáo dục, rèn luyện, nâng cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên. Làm tốt công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên, chú trọng đối tượng là đoàn viên thanh niên, quần chúng ưu tú ở khu dân cư và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn.

    – Nhiệm vụ lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng được quy định tại Điều 5: (1) Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, quy chế làm việc; thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu; công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định.

    (2) Cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện việc xem xét thi hành kỷ luật đảng bảo đảm dân chủ, công minh, chính xác, kịp thời đối với tổ chức đảng, đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định của Trung ương và hướng dẫn của UBKT cấp trên. (3) Phối hợp chỉ đạo công tác quản lý, kiểm tra đảng viên đang công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ đảng viên và nghĩa vụ công dân nơi cư trú.

    – Nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở được quy định tại Điều 6: (1) Cấp ủy thường xuyên nghiên cứu, vận dụng và tổ chức thực hiện sáng tạo có hiệu quả các phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở.

    (2) Lãnh đạo xây dựng chính quyền cùng cấp vững mạnh, hoạt động theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch, chuyên nghiệp, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả theo Hiến pháp và pháp luật; thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; kiện toàn, sắp xếp thôn, tổ dân phố theo quy định.

    (3) Lãnh đạo xây dựng MTTQ và các đoàn thể CT-XH cơ sở vững mạnh; đổi mới phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng “hành chính hóa”, gắn bó chặt chẽ với nhân dân; chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; tăng cường phối hợp công tác; nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội.

    (4) Phát huy vai trò của MTTQ và các đoàn thể CT-XH, cức mạnh của nhân dân để tham gia xây dựng Đảng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả các mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư.

    – Về mối quan hệ công tác với cấp ủy cấp trên trực tiếp được quy định tại Điều 7, theo đó đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn chịu sự lãnh đạo thường xuyên, toàn diện của cấp ủy cấp trên trực tiếp về công tác xây dựng Đảng và việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Định lỳ hằng quý, 6 tháng và cuối năm hoặc đột xuất, cấp ủy xã, phường, thị trấn báo cáo xin ý kiến cấp ủy cấp trên trực tiếp về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

    – Về mối quan hệ đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp trên được quy định tại Điều 8, cấp ủy cơ sở xã, phường thị trấn giữ mối liên hệ thường xuyên và phối hợp để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống chính trị của địa phương.

    – Về mối quan hệ với các tổ chức khác có trụ sở đóng trên địa bàn, cấp ủy lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn chủ động phối hợp để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và tham gia các phong trào thi đua yêu nước của địa phương./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Nghiên Cứu Chặt Chẽ, Kỹ Lưỡng Quy Định Về Ban Chỉ Huy Quân Sự Cấp Xã, Thôn Đội Trưởng Trong Dự Án Luật Dân Quân Tự Vệ (Sửa Đổi)
  • Người Xã Đội Trưởng Quên Mình Vì Nhiệm Vụ
  • Phó Chủ Tịch Xã Làm Thay Chức Năng Của Tòa Án
  • Pháp Lệnh Công An Xã Số 06/2008/pl
  • Cơ Cấu, Tổ Chức Của Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Cấp Huyện
  • 4. Các Chức Năng Của Hệ Quản Trị Csdl Quan Hệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2 : Hệ Quản Tri Cơ Sở Dữ Liệu Dhh Tin12 Bai2 He Quan Tri Co So Du Lieu Ppt
  • Lý Thuyết Arn Và Quá Trình Phiên Mã Sinh 12
  • Bài 17. Mối Quan Hệ Giữa Gen Và Arn
  • Giải Bài Tập Sbt Sinh Học 10 Trang 136
  • Giáo Án Lớp 9 Môn Sinh Học
  • 1. Các khái niệm trong mô hình dữ liệu quan hệ

    • Miền (domain): là một tập các giá trị hoặc các đối tượng.
    • Thực thể: Thực thể là một đối tượng cụ thể hay trừu tượng trong thế giới thực mà nó tồn tại và có thể phân biệt được với các đối tượng khác.

    Ví dụ: Bạn Nguyễn Văn A là một thực thể cụ thể. Hay Sinh viên cũng là một thực thể, thực thể trừu tượng.

    Thuộc tính (Attribute): Là tính chất của thực thể.

    1. Các thực thể có các đặc tính, được gọi là các thuộc tính. Nó kết hợp với một thực thể trong tập thực thể từ miền giá trị của thuộc tính. Thông thường, miền giá trị của một thuộc tính là một tập các số nguyên, các số thực, hay các xâu ký tự.
    2. Một thuộc tính hay một tập thuộc tính mà giá trị của nó xác định duy nhất mỗi thực thể trong tập các thực thể được gọi là khoá đối với tập thực thể này.
    3. Mỗi một thuộc tính nhận tập số các giá trị nhất định được gọi là domain của thuộc tính đó.

    Một quan hệ (Relation): Định nghĩa một cách đơn giản, một quan hệ là một bảng dữ liệu có các cột là các thuộc tính và các hàng là các bộ dữ liệu cụ thể của quan hệ.

    Các liên kết: Một liên kết là một sự kết hợp giữa một số thực thể (hay quan hệ). Ví dụ: Mối liên kết giữa phòng ban và nhân viên thể hiện: Một nhân viên A sẽ thuộc một phòng ban B nào đó.

    1. Các liên kết một – một: đây là dạng liên kết đơn giản, liên kết trên hai thực thể là một – một, có nghĩa là mỗi thực thể trong tập thực thể này có nhiều nhất một thực thể trong tập thực thể kia kết hợp với nó và ngược lại.
    2. Các liên kết một – nhiều: Trong một liên kết một – nhiều, một thực thể trong tập thực thể A được kết hợp với không hay nhiều thực thể trong tập thực thể B. Nhưng mỗi thực thể trong tập thực thể B được kết hợp với nhiều nhất một thực thể trong tập thực thể A.
    3. Các liên kết nhiều – nhiều: Ðây là dạng liên kết mà mỗi thực thể trong tập thực thể này có thể liên kết với không hay nhiều thực thể trong tập thực thể kia và ngược lại.

    Ví dụ 1.1. Các mối liên kết giữa các thực thể:

    LOP(MaLop, TenLop, Khoa),

    SINHVIEN(MaSV, Hoten, NgSinh, MaLop),

    MONHOC(MaMon, TenM, SDVHT) và

    KETQUA (MaSV, MaMon, Diem)

    Ta có mối quan hệ giữa các thực thể đó là:

    Mô hình dữ liệu quan hệ: Làm việc trên bảng hay trên quan hệ trong đó: Mỗi cột là một thuộc tính, mỗi dòng là một bộ (một bản ghi).

    Các ưu điểm của mô hình dữ liệu quan hệ

    1. Cấu trúc dữ liệu dễ dùng, không cần hiểu biết sâu về kỹ thuật cài đặt.
    2. Cải thiện tính độc lập dữ liệu và chương trình.
    3. Cung cấp ngôn ngữ thao tác phi thủ tục.
    4. Tối ưu hoá cách truy xuất dữ liệu.
    5. Tăng tính bảo mật và toàn vẹn dữ liệu.
    6. Cung cấp các phương pháp thiết kế có hệ thống. Và mở ra cho nhiều loại ứng dụng (lớn và nhỏ).

    Khoá của quan hệ:

    1. Khoá của quan hệ (key): Là tập các thuộc tính dùng để phân biệt hai bộ bất kỳ trong quan hệ.
    2. Khoá ngoại của quan hệ (Foreign Key): Một thuộc tính được gọi là khoá ngoại của quan hệ nếu nó là thuộc tính không khoá của quan hệ này nhưng là thuộc tính khoá của quan hệ khác.

    2. Các chức năng của hệ quản trị CSDL quan hệ

    Các chức năng của hệ quản trị CSDL quan hệ có thể được phân thành các tầng chức năng như hình 1.3:

      Tầng giao diện (Interface layer): Quản lý giao diện với các ứng dụng. Các chương trình ứng dụng CSDL được thực hiện trên các khung nhìn (view) của CSDL. Ðối với một ứng dụng, khung nhìn rất có ích cho việc biểu diễn một hình ảnh cụ thể về CSDL (được dùng chung bởi nhiều ứng dụng).

    Khung nhìn quan hệ là một quan hệ ảo, được dẫn xuất từ các quan hệ cơ sở (base relation) bằng cách áp dụng các phép toán đại số quan hệ.

    Quản lý khung nhìn bao gồm việc phiên dịch câu vấn tin người dùng trên dữ liệu ngoài thành dữ liệu khái niệm. Nếu câu vấn tin của người dùng được diễn tả bằng các phép toán quan hệ, câu vấn tin được áp dụng cho dữ liệu khái niệm vẫn giữ nguyên dạng này.

      Tầng điều khiển (Control Layer): chịu trách nhiệm điều khiển câu vấn tin bằng cách đưa thêm các vị từ toàn vẹn ngữ nghĩa và các vị từ cấp quyền.
      Tầng xử lý vấn tin (Query processing layer): chịu trách nhiệm ánh xạ câu vấn tin thành chuỗi thao tác đã được tối ưu ở mức thấp hơn.

      Tầng thực thi (Execution layer): Có trách nhiệm hướng dẫn việc thực hiện các hoạch định truy xuất, bao gồm việc quản lý giao dịch (uỷ thác, tái khởi động) và động bộ hoá các phép đại số quan hệ. Nó thông dịch các phép toán đại số quan hệ bằng cách gọi tầng truy xuất dữ liệu qua các yêu cầu truy xuất và cập nhật
      Tầng truy xuất dữ liệu (data access layer): Quản lý các cấu trúc dữ liệu dùng để cài đặt các quan hệ (tập tin, chỉ mục). Nó quản lý các vùng đệm bằng cách lưu tạm các dữ liệu thường được truy xuất đến nhiều nhất. Sử dụng tầng này làm giảm thiểu việc truy xuất đến đĩa.
      Tầng duy trì nhất quán (Consistency layer): chịu trách nhiệm điều khiển các hoạt động đồng thời và việc ghi vào nhật ký các yêu cầu cật nhật. Tầng này cũng cho phép khôi phục lại giao dịch, hệ thống và thiết bị sau khi bị sự cố.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Httt Kế Toán Bằng Ms Access
  • Top 10 Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Phổ Biến Nhất
  • Đồ Án Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Access: Quản Lý Khách Sạn
  • Giáo Trình Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu Sql
  • Cơ Sở Dữ Liệu Và Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100