Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Chức Năng Của Nền Văn Hóa Mới

--- Bài mới hơn ---

  • Bằng Những Hiểu Biết Về Chức Năng Của Văn Hóa, Anh Chị Hãy Bình Luận Ý Kiến Cho Rằng: ” Văn Hóa Góp Phần Gìn Giữ Tính Người Ở Trong Con Người”?
  • Vai Trò, Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phó Giám Đốc
  • Cfo Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Giám Đốc Tài Chính
  • Nhiệm Vụ, Chức Năng Và Vai Trò Của Giám Đốc Nhà Máy
  • Microsoft Word 2010 Sự Khác Biệt (Ngày 14/08/2017)
  • Từ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể thấy văn hoá có ba chức năng cơ bản sau:

    Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng và tình cảm cao đẹp cho con người.

    Hồ Chí Minh nêu rõ: Văn hoá phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Đồng thời văn hoá phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng. Hồ Chí Minh cũng thường nói phải làm thế nào cho văn hoá đi sâu vào tâm lý quốc dân để xây dựng những tình cảm lớn: yêu, ghét, căm thù, tin tưởng. Như lòng yêu nước tình yêu thương con người, yêu tính trung thực, chân thành, thuỷ chung, ghét những thói hư tật xấu, những sa đoạ biến chất, căm thù những thứ giặc nội xâm… tin ở con người, ở chân lý, ở sự thật, ở đường lối của Đảng, của cách mạng xã hội chủ nghĩa… Từ đó Hồ Chí Minh nêu một luận điểm quan trọng: “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”.

    Hai là, nâng cao dân trí, mở rộng hiểu biết của con người.

    Khi mới giành được độc lập. Hồ Chí Minh đã nói: “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí” 1. Dân trí, theo Hồ Chí Minh là: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình.., phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ’.

    Chính văn hóa giúp con người hiểu họ được hưởng những quyền lợi gì và phải có trách nhiệm gì với dân, với nước và ngay với chính bản thân mình, muốn biết được phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Ngay khi bắt tay vào xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh đã đặt chỉ tiêu phải phổ cập trình độ tiểu học cho mọi người dân và đưa nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu thông qua việc học của toàn dân.

    Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, tiên tiến, luôn hướng con người vươn tới cái chân, thiện, mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân con người.

    Phẩm chất và phong cách của con người được hình thành trong quan hệ đạo đức và lối sống của cá nhân và xã hội, trong thói quen, tập quán, phong tục của cộng đồng và dân tộc. Văn hoá giúp con người nhận biết và phân biệt cái tốt đẹp, lành mạnh với cái xấu xa, hư hỏng, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu cản trở con người và dân tộc tiến lên phía trước. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: Văn hoá phải sửa đổi được những tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, sửa xã hội cũ, xây xã hội mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Văn Hóa
  • Bài 3: Chức Năng Và Cấu Trúc Của Văn Hóa
  • Cấu Tạo Của Tế Bào Sinh Vật Nhân Sơ
  • Cấu Tạo Tế Bào Nhân Sơ
  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Vùng Ở Tế Bào Nhân Sơ Câu Hỏi 545737
  • Phân Tích Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Tính Chất Của Nền Văn Hóa Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Sở Văn Hóa Và Thể Thao Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Phú Yên
  • Nhiệm Vụ Và Trách Nhiệm Của Ceo
  • Ceo Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Vị Trí Này
  • Ceo Là Gì? Vai Trò, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ceo Trong Doanh Nghiệp
  • Sự khác nhau giữa nền văn hoá mới Việt Nam với nền văn hoá cũ trước hết ở tính chất cơ bản của nó. Nền văn hoá cũ mang tính chất nô dịch, ngu dân đã được Hồ Chí Minh phân tích, tố cáo, lên án trong nhiều bài viết, nhất là trong Bản án chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương.

    Trong Đề cương văn hóa năm 1943 lần đầu tiên Đảng ta nêu lên ba tính chất của cuộc vận động xây dựng nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học, đại chúng.

    Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc lại ba tính chất này. Ngày 7-9-1945, trong buổi tiếp đoàn đại biểu ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ, Người nói: Cái văn hóa mới này cần phải có tính cách khoa học, tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại.

    Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951), Người khẳng định phải “xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng”‘.

    – Tính dân tộc của văn hoá

    Tính dân tộc của văn hóa là sự thể hiện của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần độc lập, tự cường của dân tộc trong lĩnh vực văn hóa, nên trước hết nó phải được thể hiện ở nội dung tuyên truyền cho “lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do” và “tinh thần vì nước quên mình” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói.

    Tính dân tộc của văn hóa đòi hỏi phải thể hiện được cốt cách và tâm hồn con người Việt Nam, đó là truyền thống yêu nước, cần cù, dũng cảm, đoàn kết, thương người… tóm lại là tất cả những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn và tính cách Việt Nam đã được hun đúc trong suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước

    Muốn thể hiện được yêu cầu này, Hồ Chí Minh đòi hòi các nhà văn hóa – văn nghệ phải đi sâu vào quần chúng nhân dân, thực hiện ba cùng với họ, có thể mới phát hiện và mô tả được chiều sâu của tính cách và tâm hồn quần chúng, lại phải học Lịch sử, hiểu truyền thống dân tộc. Người từng cảnh báo: “Coi chừng, có nhiều người Việt Nam lại không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình bằng những người nước ngoài”. Lại cũng phải hiểu kỹ hiểu sâu truyền thống văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Người căn dặn văn nghệ sĩ: Nghệ thuật của cha ông hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn; làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu

    Tính dân tộc của văn hóa còn được thể hiện ở hình thức và phương tiện diễn đạt. Mỗi dân tộc có nếp cảm, nếp nghĩ riêng, có hình thức diễn đạt riêng đi thẳng vào lòng người, lay động sâu xa tâm hồn họ. Người nhắc nhở: “Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên. Các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân'”.

    Về mặt ngôn ngữ, Người căn dặn: ”Tiếng nói là một thứ của cải rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi”.

    Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính dân tộc của văn hóa. rất toàn diện và sâu sắc, từ nội dung đến hình thức diễn đạt. Bản thân Người là nhà văn hóa kiệt xuất, là biểu tượng cao đẹp của bản sắc, tính cách, tâm hồn dân tộc là tấm gương cho các nhà văn hóa – văn nghệ học tập và noi theo.

    – Tính khoa học của văn hóa

    Nhấn mạnh giá trị của truyền thống dân tộc, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ trong truyền thống có mặt tích cực và mặt tiêu cực. Một trong những thiếu hụt của văn hóa cổ truyền là chưa hình thành được một truyền thống khoa học. Tư duy nông nghiệp là một loại tư duy kinh nghiệm, không mở đường cho khoa học tự nhiên phát triển, nên tư duy lý luận, khái niệm khoa học, phương pháp khoa học chưa trở thành mặt chủ đạo của ý thức toàn xã hội. Trong điều kiện đó, mê tín dị đoan có đất để phát triển.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Nay nước ta đã được độc lập, tinh thần được giải phóng, cần phải có một nền văn hóa hợp với khoa học và hợp với cả nguyện vọng của nhân dân.

    Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản tiến bộ; phải truyền bá tư tưởng triết học mácxít. Đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm thần bí, mê tín, dị đoan. Người giao cho ngành giáo dục phải “dạy bảo các cháu thiếu niên về khoa học, kỹ thuật, làm cho các cháu ngay từ thuở nhỏ đã biết yêu khoa học, để mai sau các cháu trở thành những ngưòi có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học”.

    Người nhắc nhở ngành văn hóa: trong việc khôi phục vốn cũ chỉ “nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra”, không được “khôi phục cả đồng bóng, rước xách thần thánh””.

    Để tuyên truyền nếp sống vệ sinh, phong cách sống và làm việc theo khoa học. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết các tác phẩm Đời sống mới, Sửa đổi lối làm việc, nhằm tổ chức lại các quan hệ văn hóa từ trong một nhà, một làng, một trường học đến các cơ quan, đơn vị bộ đội, v.v. sao cho việc ăn, ở. học tập, lao động… phải tuân theo Đời sống mới, bài trừ các phong tục tập quán cổ hủ, làm cho nếp sống xã hội ta mỗi ngày một tiến bộ hơn, hợp với khoa học và văn minh.

    Tính đại chúng của văn hóa

    Đây là vấn đề thuộc về tính nhân dân, về đối tượng phục vụ của văn. hóa – nghệ thuật. Trước kia, trong xã hội cũ, văn hóa – nghệ thuật được coi là món ăn tinh thần sang trọng, chỉ dành riêng cho một thiểu số người ăn trên ngồi chốc. Đó là một trong những điều bất công của xã hội cũ.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo ra văn hóa, do đó họ phải được hưởng thụ các giá trị văn hóa. Người nói: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo. Nhưng, quần chúng không chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa.

    Từ đó Người đặt vấn đề: “Văn hóa phục vụ ai” và Người khẳng định dứt khoát: Văn hóa phải phục vụ đại đa số nhân dân, phải hướng về đại chúng, phải phản ánh được tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân. Người thường xuyên nhắc nhở người cầm bút: “Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai?

    Viết cho đại đa số: Công – Nông – Binh.

    Viết để làm gỉ?

    Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng” 2.

    Tại Hội nghị những người tích cực làm công tác văn hóa quần chúng (2-1960), Người nói: “Văn hóa phải thiết

    thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng”.

    Văn hóa là trình độ phát triển của con người, do con người làm ra, nó phải trở về phục vụ con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đấu tranh giải phóng dân tộc để đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, trong đó có văn hóa. Đó là tính nhất quán trong sự nghiệp cách mạng của Người.

    Tính đại chúng của văn hóa đòi hỏi các nhà hoạt động văn hóa phải tăng cường liên hệ với thực tế, đi sâu vào cuộc sống của nhân dân vừa để tìm hiểu và phản ánh những nỗi lo âu và suy nghĩ, khát vọng và tình yêu, cuộc đời và số phận của nhân dân; vừa để đem ánh sáng văn hóa đến mọi người mọi nhà, nhất là các vùng sâu, vùng xa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình: “Phải thấy rằng nói chung văn hóa của ta còn loanh quanh trong thành phố, chỗ dễ ăn. chứ chưa đến chỗ đồng bào Mèo, đồng bào Mán”.

    Tóm lại, ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng hợp lại thành một chỉnh thể thống nhất, ngày càng thấm sâu vào ý thức sáng tạo của các nhà hoạt động văn hóa nước ta, giúp họ sáng tạo nên những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn hóa mới. Dù sau này, tính chất của nền văn hóa mới có sự thay đổi nhất định về cách diễn đạt, nhưng tinh thần cốt lõi của nó cũng không đi ra ngoài ba tính chất đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên từ những ngày đầu dựng nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Nhận Thức Là Gì? Các Giai Đoạn Của Nhận Thức
  • Trao Chức Năng Điểm Bđvhx Cho Nhà Văn Hóa Thôn
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Nhà Văn Hóa Thôn Xóm
  • Ban Hành Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Nhà Văn Hóa Cộng Đồng
  • Theo Quan Niệm Của Hồ Chí Minh, Nền Văn Hóa Mới Có Mấy Chức Năng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Hoạt Động Văn Hóa Của Nhà Văn Hoá Thanh Thiếu Nhi, Hot
  • Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Xây Mới Nhà Văn Hóa Xã Và Sửa Chữa 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Quới Điền, Huyện Thạnh Phú (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ) (Số Báo 42 Ngày 08/03/2016)
  • Nhà Văn Hóa Xã Cần “mềm” Hơn Trong Thực Hiện Tiêu Chí
  • Xây Lắp Công Trình Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Nâng Cấp Nhà Văn Hóa Và Xây Dựng 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Đại Điền (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ)
  • Có Người Cho Rằng” Chức Năng Nhận Thức Là Chức Năng Nền Tảng Trong Các Chức Năng Của Văn Hóa” Ý Kiến Của Anh Chị Về Vấn Đề Này Như Thế Nào? Bài Soạn
  • Chủ đề :

    Môn học:

    Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

    CÂU HỎI KHÁC

    • Hồ Chí Minh trình bày khái niệm văn hóa năm nào?
    • Định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh đã khắc phục được những quan niệm phiến diện nào?
    • Nội dung nền văn hóa mới, theo quan niệm của Hồ Chí Minh gồm mấy vấn đề?
    • Hồ Chí Minh quan niệm văn hóa phải ở trong chính trị và kinh tế. Điều đó có nghĩa là?
    • Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền văn hóa mới có mấy tính chất?
    • Tính khoa học của nền văn hóa đối lập với những vấn đề gì trong văn hóa?
    • Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, nền văn hóa mới có mấy chức năng?
    • Nội dung chức năng của văn hóa theo quan niệm của Hồ Chí Minh là gì?
    • Theo Hồ Chí Minh, văn hóa gồm mấy lĩnh vực?
    • Hồ Chí Minh chỉ ra những hạn chế nào của nền giáo dục phong kiến?
    • Hồ Chí Minh đánh giá cao nhất yếu tố nào trong giá trị văn hóa dân tộc?
    • Đặc trưng chủ yếu của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là gì?
    • Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Cách mạng có vai trò gi?
    • Có mấy nguyên tắc xây dựng đạo đức mới?
    • Con người Việt Nam trong thời đại mới cần có mấy phẩm chất đạo đức?
    • Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Câu trên trích từ tác phẩm nào?
    • Theo Hồ Chí Minh, trong tình hình thực tế, yếu tố nào của chủ nghĩa xã hội có sức hấp dẫn đặc biệt?
    • Nội dung của lòng trung với nước, hiếu với dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh?
    • Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, trong mỗi con người chỉ có?
    • Hồ Chí Minh cho rằng, muốn xây dựng nền đạo đức mới, phải tuân thủ những nguyên tắc nào?
    • Hồ Chí Minh nhìn nhận con người trên những bình diện nào?
    • Hồ Chí Minh nhìn nhận con người trên những bình diện nào?
    • Trên bình diện chỉnh thể, đa chiều, con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa?
    • Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, việc đầu tiên cần làm sau chiến tranh là?
    • Theo quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp cách mạng nói chung và trong xây dựng CNXH nói riêng, vị trí củ CON NGƯỜI phải đặt ở chỗ nào trong quá trình phát triển?
    • Bức tâm thư gửi anh Hồ Chí Minh: Thằng em của anh gửi thư này chúc anh khỏe mạnh…Thằng Bảy Viễn đã đầu Tây rồi, Thư trên của ai, xuất thân từ thành phần xã hội nào trước khi tham gia cách mạng?
    • Theo Hồ Chí Minh, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, động lực nào quan trọng và quyết định nhất?
    • Luận điểm học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự nhân dân và tổ quốc” là của ai?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thông Tư Mới Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Sở Vhttdl Và Phòng Vhtt
  • Giới Thiệu Sở Vhttdl Bắc Giang
  • Văn Hóa Là Gì? Những Khái Niệm Cần Phải Biết Về Văn Hóa
  • Trang Điện Tử Huyện Hà Trung
  • Giới Thiệu Vị Trí Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Văn Hóa & Huyện Kon Plông
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Các Vấn Đề Chung Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Đời Sống Xã Hội
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Quyền Hạn, Hoạt Động Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Thanh Tra Sở Văn Hoá, Thể Thể Và Du Lịch Tỉnh Lai Châu
  • Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Thứ Trưởng Trịnh Thị Thủy: Cục Văn Hóa Cơ Sở Cần Chủ Động Xây Dựng Kế Hoạch, Kết Nối Với Các Đơn Vị, Địa Phương Trong Thanh, Kiểm Tra Công Tác Tổ Chức Và Quản Lý Lễ Hội
  • a) Quan điểm về vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội.

    Một là, văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng.

    Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm này. Ở đây, Hồ Chí Minh đặt văn hóa ngang hàng với chính trị. kinh tế, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã bội và các vấn đề này có quan hệ với nhau rất mật thiết. Cho nên trong công cuộc xây dựng đất nước, cả bốn vấn đề này phải được coi trọng như nhau.

    Trong quan hệ với chính trị xã hội: Hồ Chi Minh cho rằng, chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng sẽ mở đường cho văn hóa phát triển. Người nói: “Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy… Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được” 1. Để văn hóa phát triển tự do, phải làm cách mạng chính trị trước, ở Việt Nam, tiến hành cách mạng chính trị thực chất là tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính quyền, giải phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển.

    Trong quan hệ với kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa. Từ đó Người đưa ra luận điểm: Phải chú trọng xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa. Người viết: Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng: nhưng cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điêu kiện phát triển được.

    Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là kinh tế phải đi trước một bước. Người viết: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế. Tục ngữ ta có câu: có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước” 1.

    Hai là, văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.

    Đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin,Hồ Chí Minh không nhấn mạnh một chiều về sự phụ thuộc “thụ động” của văn hóa vào kinh tế, chờ cho kinh tế phát triển xong rồi mới phát triển văn hóa. Người cho rằng, văn hóa có tính tích cực, chủ động, đóng vai trò to lớn như một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế và chính trị. Người nói: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” 1.

    Văn hóa phải ở trong kinh tế và chính trị, có nghĩa là văn hóa phải tham gia thực hiện những nhiệm vụ chính trị. thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. Quan điểm này không chỉ định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa mới ở Việt Nam mà còn định hướng cho mọi hoạt động văn hóa. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quan điểm ‘Văn hóa cũng là một mặt trận”, ”Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”… mà Người đưa ra đã tạo nên một phong trào văn hóa văn nghệ sôi động chưa từng thấy. Văn hóa không đứng ngoài mà ở trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Và cuộc kháng chiến trở thành cuộc kháng chiến có tính văn hóa. Chính điều này đã đem lại sức mạnh vượt trội cho nhân dân Việt Nam đánh thắng: cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

    Văn hóa phải ở trong kinh tế và chính trị, điều đó cũng có nghĩa là kinh tế và chính trị cũng phải có tính văn hóa, điều mà chủ nghĩa xã hội và thời đại đang đòi hỏi. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương gắn văn hóa với phát triển, chủ trương đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào kinh tế và chính trị, làm cho văn hóa thực sự vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

    Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào việc xây dựng một nền văn hóa mới. Nhiều vấn đề về văn hóa đã được đặt ra và giải quyết ngay trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng, như: giải quyết nạn dốt, giáo dục nhân dân tinh thần cần, kiệm, liêm, chính: cấm hút thuốc phiện, lương giáo đoàn kết và tự do tín ngưỡng… Như vậy nền văn hóa mới ra đời đã gắn liền với nước Việt Nam mới. Nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp là nền văn hóa kháng chiến, kiến quốc, nền văn hóa dân chủ mới. Khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nền văn hóa được xây dựng là nền văn hóa xã hội chủ nghĩa.

    Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau song nền văn hóa mới mà chúng ta xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn bao hàm ba tính chất: tính dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng.

    Tính dân tộc của nền văn hóa được Hồ Chí Minh biểu đạt bằng nhiều khái niệm, như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn mạnh đến chiều sâu bản chất rất đặc trưng của văn hóa dân tộc, giúp phân biệt, không nhầm lẫn với văn hóa của dân tộc khác. Người cho rằng, để được như vậy, phải “trau dồi cho văn hóa, văn nghệ có tinh thần thuần túy Việt Nam”, phải “lột tả cho hết tinh thần dân tộc”, đó là chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết, khát vọng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường… của dân tộc. Người cho rằng, “nếu dân tộc hóa mà phát triển đến cực điểm thì tức là đến chỗ thế giới hóa nó vì lúc bấy giờ văn hóa thế giới sẽ phải chú ý đến văn hóa của mình và văn hóa của minh sẽ chiếm được địa vị ngang với các nền văn hóa thế giới”. Tính dân tộc của nền văn hóa không chỉ thể hiện ở chỗ biết giữ gìn, kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mà còn phải phát triển những truyền thống tốt đẹp ấy cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới của đất nước.

    Tính khoa học của nền văn hóa mới thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến, thuận với trào lưu tiến hóa của thời đại. Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản tiến bộ, phải truyền bá tư tưởng triết học mácxít đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí, mê tín dị đoan, phải biết gạn đục khơi trong, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Tính đại chúng của nền văn hóa được thể hiện ở chỗ nền văn hóa ấy phải phục vụ nhân dân và do nhân dân xây dựng nên, Hồ Chí Minh nói, “văn hóa phục vụ ai? cố nhiên, chúng ta phải nói là phục vụ công nông binh, tức là phục vụ đại đa số nhân dân”; “Quần chúng là những người sáng tạo, còn nông là những người sáng tạo. Nhưng quần chúng không chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa…”. Chức năng của văn hóa rất phong phú, đa dạng. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa có ba chức năng chủ yếu sau đây:

    Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và những tình cảm cao đẹp.

    Tư tưởng và tình cảm là hai vấn đề chủ yếu nhất của đời sống tinh thần của con người. Tư tưởng có thể đúng đắn hoặc sai lầm, tình cảm có thể thấp hèn hoặc cao đẹp. Chức năng cao quý nhất của văn hóa là phải bồi dưỡng, nêu cao tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho nhân dân, loại bỏ được những sai lầm và thấp hèn có thể có trong tư tưởng, tình cảm mỗi con người. Tư tưởng và tình cảm rất phong phú, văn hóa phải đặc biệt quan tâm đến những tư tưởng và tình cảm lớn, chi phối đời sống tinh thần của mỗi con người và cả dân tộc.

    Lý tưởng là điểm hội tụ của những tư tưởng lớn của một Đảng, một dân tộc. Đối với nhân dân Việt Nam đó là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Một khi lý tưởng này phai nhạt thì không thể nói đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy Hồ Chí Minh đã chỉ ra chức năng hàng đầu của văn hóa là phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ độc lập, tự do; phải làm thế nào cho ai cũng “có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung và quên lợi ích riêng”. Tình cảm lớn, theo Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con người yêu tính trung thực, chân thành, thủy chung, ghét những thói hư tật xấu, sự sa đọa..

    Hai là, mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí.

    Nói đến văn hóa là phải nói đến dân trí. Đó là trình độ hiểu biết, là vốn kiến thức của người dân. Nâng cao dân trí phải bắt đầu từ chỗ biết đọc, biết viết để có thể hiểu biết các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, như: Kinh tế, chính trị, lịch sử, khoa học – kỹ thuật, thực tiễn Việt Nam và thế giới… Vấn đề nâng cao dân trí thực sự chỉ có thể thực hiện sau khi chính trị đã được giải phóng, toàn bộ chính quyền đã về tay nhân dân.

    Mục tiêu nâng cao dân trí của văn hóa trong từng giai đoạn cách mạng có thể có những điểm chung và riêng. Song, tất cả đều hướng vào mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao dân trí là để nhân dân có thể tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, góp phần cùng Đảng “biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc” 1. Đó cùng là mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh” mà Đảng ta đã vạch ra trong công cuộc đổi mới.

    Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống đẹp, lành mạnh; hướng con người đến chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân.

    Phẩm chất và phong cách được hình thành từ đạo đức, lối sống, từ thói quen của cá nhân và phong tục tập quán của cả cộng đồng. Phẩm chất và phong cách thường có mối quan hệ gắn bó với nhau. Mỗi người thường có nhiều phẩm chất, trong đó có phẩm chất chung và phẩm chất riêng, tùy theo nghề nghiệp, vị trí công tác. Các phẩm chất thường được thể hiện qua phong cách, tức là lối sinh hoạt, làm việc, lối ứng xử trong đời sống. Căn cứ vào yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, Hồ Chí Minh đã đề ra những phẩm chất và phong cách cần thiết để mỗi người tự tu dưỡng. Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến phẩm chất đạo đức – chính trị. Bởi vì, nếu không có những phẩm chất này thì họ không thể hoàn thành được những nhiệm vụ cách mạng, không thể biến lý tưởng thành hiện thực.

    Những phẩm chất và phong cách tốt đẹp làm nên giá trị của con người. Văn hóa giúp con người hình thành những phẩm chất phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh thông qua phân biệt cái đẹp, lành mạnh với cái xấu xa. hư hòng, cái tien bộ với cải lạc hậu, bảo thủ. Từ đó aiúp con người phấn đâu lảm cho cái tôt đẹp. lành mạnh ngày càng tăng, càng nhiều, càng lạc hậu, bảo thủ, ngày càng giảm, vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ để hoàn thiện bản thân. Với ý nghĩa đó Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Phải làm thế nào cho văn hóa thấm sâu vào tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được những tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Vii Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Nv Văn Hóa
  • Có Người Cho Rằng” Chức Năng Nhận Thức Là Chức Năng Nền Tảng Trong Các Chức Năng Của Văn Hóa” Ý Kiến Của Anh Chị Về Vấn Đề Này Như Thế Nào? Bài Soạn
  • Xây Lắp Công Trình Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Nâng Cấp Nhà Văn Hóa Và Xây Dựng 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Đại Điền (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ)
  • Nhà Văn Hóa Xã Cần “mềm” Hơn Trong Thực Hiện Tiêu Chí
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Một Số Lĩnh Vực Chính Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Nhiệm Vụ Của Công Chức Văn Hóa
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ban Văn Hóa
  • Công Tác Văn Hóa Ở Cấp Xã, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Tiêu Chuẩn Đối Với Cán Bộ Văn Hóa Xã
  • Bước Chuyển Của Điểm Bưu Điện
  • Các lĩnh vực văn hoá là bộ phận cấu thành nền văn hoá. Ở đây, chỉ đề cập ba lĩnh vực chính: văn hoá giác dục, văn học – nghệ thuật, văn hoá đời sống.

    * Văn hoá giáo dục

    Những quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hoá giáo dục tập trung ở các điểm sau:

    – Mục tiêu của văn hoá giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn hoá bằng giáo dục, có nghĩa là bằng dạy và học. Đó là đào tạo những con người toàn diện vừa có đức vừa có tài, những công dân biết làm và đủ điều kiện làm chủ để xây dựng và bảo vệ đất nước. Đó là cải tạo trí thức cũ, đào tạo trí thức mới, thực hiện công nông trí thức hoá, trí thức công nông hoá, xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng đông đảo, trình độ ngày càng cao.

    – Chương trình, nội dung dạy và học thật khoa học, thật hợp lý, phù hợp với những bước phát triển của nước ta, phản ánh được mục tiêu không chỉ dạy và học chữ mà phải dạy và học làm người.

    – Học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động, phải luôn luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn Việt Nam. Có như vậy, văn hoá giáo dục mới có tính hướng đích đúng đắn, rõ ràng, thiết thực.

    – Phải tạo môi trưòng giáo dục lành mạnh, -dân chủ trường phải ra trường, lớp phải ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò. Đồng thời phải phối hợp cả ba khâu nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục.

    – Học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người: học suốt đời; phải coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại.

    * Văn học – nghệ thuật

    Văn học, nghệ thuật gọi chung là văn nghệ. Văn nghệ là biểu hiện tập trung nhất của nền văn hoá là đỉnh cao của đời sống tinh thần, là hình ảnh của tâm hồn dân tộc. Trong lịch sử phát triển, dân tộc Việt Nam là dân tộc rất quý trọng văn nghệ và văn nghệ cũng đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của nhân dân ta. Tiếp nối truyền thống dân tộc, Hồ Chí Minh là một chiến sĩ tiên phong trong sáng tạo văn nghệ và là người đã khai sinh một nền văn nghệ cách mạng Việt Nam. Cống hiến của Hồ Chí Minh về văn nghệ là bộ phận đặc sắc trong sự nghiệp của Người đã để lại cho Đảng, cho dân tộc.

    Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn nghệ có thể tóm tắt như sau:

    Văn nghệ là mặt trận, nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xã hội mới, con người mới.

    Quan điểm trên đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc tập hợp ngày càng đông đảo văn nghệ sĩ vào một mặt trận chiến đấu bằng vũ khí sắc bén của mình trên tinh thần: nay ở trong thơ nên có thép, nhà thơ cũng phải biết xung phong. Và hướng vào việc “phò chính trừ tà”, “phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”, đặc biệt là trong việc xây dựng con người mới, xã hội mới.

    Quan điểm trên của Hồ Chí Minh đã tạo nên một nền văn nghệ cách mạng và đội ngũ các nghệ sĩ cách mạng. Nó đặt văn nghệ cách mạng của ta vào vị trí tiên phòng chống đế quốc thực dân của thế kỷ XX.

    Văn nghệ phải gắn với thực tiễn đời sống nhân dân.

    Thực tiễn đời sống nhân dân là lao động, chiến đấu, sinh hoạt và xây dựng xã hội mới. Văn nghệ phản ánh và hướng thực tiễn ấy phát triển theo quy luật của cái đẹp. Cái đẹp của cuộc sống đang vận động và biến đổi, do con người tạo ra, đồng thời cũng tạo ra sự hoàn thiện của con người chứ không phải là cái đẹp siêu thực, vĩnh hằng. Theo tinh thần đó, Hồ Chí Minh yêu cầu chiến sĩ văn nghệ phải thật hoà mình với quần chúng, nguồn nhựa sống sáng tác của nhà văn là từ nhân dân. Nhà văn quên điều đó thì nhân dân cũng quên nhà văn.

    Quan điểm trên của Hồ Chí Minh đã mang lại cho nền văn nghệ cách mạng ở ta tính dân tộc, tính nhân dân, tính hiện thực sâu sắc.

    Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất nước, của dân tộc. Phải phản ánh cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn sự nghiệp cách mạng của nhân dân.

    Hồ Chí Minh nói với văn nghệ sĩ: “Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta”. “Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì có bổ ích”. Và theo Người, “một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như một tác phẩm hay và biên soạn tốt”

    Tính chân thực không đối lập với sự hư cấu. Hư cấu từ hiện thực, hướng người đọc vươn tới cái cần có, cái lý tưởng. Đó là tính hướng đích của văn nghệ. Sự phong phú không phải chỉ đòi hỏi ở nội dung mà còn ở thể loại của tác phẩm văn nghệ. Hồ Chí Minh nêu: “cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người thấy được nhiều loại hoa đẹp”

    Định hướng mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là duy nhất và cũng là đề tài bao trùm nhất của Hồ Chí Minh. Người nói: “Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là “đề tài”, thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội . Đó cũng là đề tài bao trùm của giới văn nghệ sĩ nước nhà, thể hiện bằng nhiều thể loại, nhiều tác phẩm. Chính điều đó mở ra con đường sáng tạo không giới hạn của văn nghệ sĩ.

    *Văn hoá đời sống.

    Hồ Chí Minh đã phát động phong trào xây dựng đời sống mới và viết tác phẩm Đời sống mới để hướng dẫn thực hiện trong xã hội.

    Khái niệm “Đời sống mới” mà Hồ Chí Minh đưa ra bao hàm cả đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới. Đạo đức mới được đề cập ở phần tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, ở đây chỉ trình bày về lối sống và nếp sống mới.

    Lối sống mới là lối sống văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hoà truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá của nhân loại. Xây dựng lối sống mới, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải: “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Đó là 5 cách phải sửa đổi không chỉ với mỗi người mà còn cho cả tập thể, cộng đồng.

    Xây dựng lối sống mới không hoàn toàn phụ thuộc vào phương tiện sống nhiều hay ít, giản đơn hay sang trọng mức sống cao hay thấp mà là ở chất văn hoá của lối sống. Theo Hồ Chí Minh phải xây dựng cách sống khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu lao động, biết quý trọng thời gian, ít lòng ham muốn về vật chất, về chức quyền, danh lợi. Trong quan hệ với nhân dân, bạn bè đồng chí thì cởi mở chân tình, ân cần tế nhị, giàu lòng yêu thương quý mến con người, trân trọng con người; đối với mình thì chặt chẽ đối với người thì khoan dung, độ lượng. Làm việc thì quần chúng, tập thể, dân chủ khoa học.

    Nếp sống mới. Quá trình làm cho lối sống mới dần dần thành nền nếp, thói quen, ổn định ở mỗi người, thành phong tục tập quán của tập thể hay cả cộng đồng, trong khu vực hay cả nước, thường gọi là nếp sống mới hay nếp sống văn hoá.

    Hồ Chí Minh dạy chúng ta chẳng những phải biết kế thừa, mà còn phải phát triển những thuần phong mỹ tục, đồng thời phải biết cải tạo những phong tục tập quán cũ lạc hậu. Việc sửa đổi những thói quen, phong tục tập quán không còn phù hợp, loại bỏ những cái xấu, xây dựng những cái tốt là công việc rất khó khăn, phức tạp. Hồ Chí Minh đã khuyến cáo: “Thói quen rất khó đổi. Cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu. Cái xấu mà quen, người ta cho là thường”. Vì vậy, phải nâng cao nhận thức, phải phấn đấu kiên trì mới có thể xây dựng được những thói quen, phong tục tập quán mới, thực hiện đời sống mới.

    Hồ Chí Minh cho rằng: ” Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm.. Cái gì mới mà hay thì ta phải làm” 1-.

    Như vậy, phải xây dựng được những thuần phong mỹ tục mới, đồng thời đấu tranh khắc phục rất nhiều vấn đề, thông qua việc rà soát, đánh giá để xây, để chống cho đúng, qua việc làm gương và nêu gương. Bắt đầu từ từng người, từng gia đình thì mới có thể xây dựng được đời sống mới ở tập thể, các đơn vị, ở làng xã, phố phường cho đến cả nước. Có như thế mới xây dựng được nếp sống có văn hoá, xây dựng được đời sống mới thể hiện được bản chất của chủ nghĩa xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương 1: Giới Thiệu Chung Về Dự Báo
  • Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
  • Chức Năng, Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
  • Tìm Hiểu Về Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
  • Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Đời Sống Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Quyền Hạn, Hoạt Động Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Thanh Tra Sở Văn Hoá, Thể Thể Và Du Lịch Tỉnh Lai Châu
  • Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Thứ Trưởng Trịnh Thị Thủy: Cục Văn Hóa Cơ Sở Cần Chủ Động Xây Dựng Kế Hoạch, Kết Nối Với Các Đơn Vị, Địa Phương Trong Thanh, Kiểm Tra Công Tác Tổ Chức Và Quản Lý Lễ Hội
  • Thứ Trưởng Huỳnh Vĩnh Ái Dự Tổng Kết Năm 2022 Của Cục Văn Hóa Cơ Sở
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
  • Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.

    Quan điểm hồ chí minh về văn hóa trong đời sống xã hộiNhóm 18Phần 1Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí của văn hóa trong đời sống xã hộiQuan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa trong đời sống xã hộiTư tưởng Hồ Chí Minh Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.Tư tưởng Hồ Chí MinhNhằm đáp ứng sự sinh tồn cũng là mục đích sống của loài ngườiQuan điểm về xây dựng nền văn hóa mớiPhần 2Phân tích mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực khác của đười sống xã hội.Vị trí và vai trò của văn hóa đối với kinh tế.Vị trí và vai trò của văn hóa đối với chính trị, xã hội.Chứng minh tính cách mạng và khoa học của quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội.Vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hộiVăn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầngTư tưởng Hồ Chí MinhChính trị và xã hộiChính trị và xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển.Kinh tếPhải chú trọng xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện phát triển văn hóa.Chính trị Kinh tếVăn hóaVăn hóa Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phụ vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy phát triển văn hóaQuan điểm về tính chất của nền văn hóaQuan điểm về chức năng của văn hóaNội dung: Văn hóa, chính trị, KH-KT, chuyên môn nghề nghiệp, lao độngPhương châm: Học đi đôi với hànhPhương pháp: phù hợp với trình độ lứa tuổiĐội ngũ giáo viên: Có đạo đức cách mạng, yêu nghề, đoàn kết, giỏi chuyên môn, thuần tục về phương phápMục tiêu: Thực hiện ba chức năng của văn hóa thông qua việc dạy và họcVăn hóa giáo dụcVăn hóa văn nghệPhần 3Phân tích được vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.Đánh giá những vai trò của văn hóa góp phần phát triển kinh tế, chính trị, xã hội ở Việt Nam.Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay.Title layoutSubtitle

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Các Vấn Đề Chung Của Văn Hóa
  • Chương Vii Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Nv Văn Hóa
  • Có Người Cho Rằng” Chức Năng Nhận Thức Là Chức Năng Nền Tảng Trong Các Chức Năng Của Văn Hóa” Ý Kiến Của Anh Chị Về Vấn Đề Này Như Thế Nào? Bài Soạn
  • Logistics Là Gì? Tổng Quan Về Đặc Điểm Chức Năng Của Logistics

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Và Lợi Ích Của Logistics Đối Với Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh
  • Các Công Việc Trong Ngành Logistics 2022
  • Mô Tả Công Việc Của Nhân Viên Logistics
  • Lễ Tân Khách Sạn Là Gì? Công Việc Của Lễ Tân Khách Sạn
  • Những Đặc Điểm Cần Có Của Nhân Viên Lễ Tân Nhà Hàng
  • Logistics là gì? Trong bối cảnh phát triển toàn cầu như hiện nay Logistics trở thành từ khóa được rất nhiều chủ doanh nghiệp tìm kiếm. Bởi Logistics chính là một trong những công cụ đắc lực nhất giúp các nhà quản lý thực hiện chiến lược của doanh nghiệp và mang lại hiệu quả kinh tế cho toàn cầu.

    Logistics là gì?

    Logistics đang ngày một phát triển và tách biệt riêng thành một ngành nắm giữ vị trí vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp. Thế nhưng đến nay vẫn chưa một ngôn từ tiếng Việt nào có thể lột tả được hết ý nghĩa của thuật ngữ Logistics. Vì vậy ở Việt Nam vẫn giữ nguyên tên ngành là Logistics. Những năm gần đây nó còn có thêm những tên gọi khác như Marketing, container,…nhưng Logistics vẫn được chấp nhận như 1 từ Việt hóa chuẩn nhất về ngành nghề này.

    Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng Logistics được định nghĩa khá đầy đủ và chi tiết như sau:

    Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng.

    Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.”

    Định nghĩa Logistics trong Bộ Luật Việt Nam là gì?

    Tổng quan về Logistics là gì?

    – Logistics sinh tồn: tức là đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người như cần gì? cần bao nhiêu? Cần khi nào? Và cần ở đâu?

    – Logistics hệ thống: giúp duy trì hệ thống hoạt động của doanh nghiệp thông qua các thiết bị máy móc; nguồn nhân lực; công nghệ hay cơ sở hạ tầng..

    Mỗi khía cạnh logistics mặc dù đảm nhiệm các chức năng và vai trò khác nhau song nó lại có mối quan hệ mật thiết tạo cơ sở hình thành hệ thống logistics hoàn chỉnh.

    Logistics không chỉ hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình sản xuất, vận động kho mà ngay cả khi đã ra khỏi dây truyền sản xuất và đến tay người tiêu dùng một doanh nghiệp vẫn cần đến sự hỗ trợ của Logistics thông qua các hoạt động như: quản lý và lưu truyền nguyên vật liệu hay bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp;…

    Nhiều người vẫn hay nhầm lẫn logistics là vận tải giao nhận và ngược lại. Tuy nhiên logistics còn rộng hơn thế nữa. Logistics là sự phát triển hoàn chỉnh và cao hơn dịch vụ vận tải giao nhận. Hay nói đúng hơn vận tải giao nhận nằm trong và gắn liền trong logistics.

    Người giao nhận vận tải ngày nay được coi là người cung cấp dịch vụ logistics bởi họ phải quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải; thậm chí là cung ứng các nguyên vật liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất hay quản lý kho; nhận phân phối các hàng hóa đến đúng nơi, đúng lúc,…bằng cách sử dụng các thông tin điện tử để theo dõi và kiểm tra.

    Như vậy có thể thấy logistics đã phát triển hoạt động vận tải giao nhận truyền thống thêm đa dạng rất nhiều. Từ những hoạt động rời rạc về lưu cước hay chuẩn bị đóng gói, tái chế hàng hóa;…trở thành một chủ thể chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh khi giao nhận với khách hàng. Thực hiện các hoạt động theo chuỗi có sự sắp xếp hợp lý nhằm tiết kiệm các chi phí đóng gói, làm thủ tục hải quan, giao nhận,…

    Từ những năm 60 -70 của thế kỷ XX; cách mạng container đã làm tiền đề cho ra đời và phát triển vận tải đa phương thức. Thay vì vận chuyển hàng hóa theo hình thức hàng lẻ; phải thông qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau với nhiều rủi ro mất mát; khó kiểm soát và nhiều hợp đồng ký kết phức tạp; chủ hàng chỉ cần ký 1 hợp đồng duy nhất với nhà kinh doanh để đảm bảo an toàn và tin cậy trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Phương thức này được gọi là MTO (Multimodal Transport Operator). Người làm MTO là người cung cấp dịch vụ Logistics.

    Chức năng và vai trò của Logistics là gì?

    Với tầm quan trọng và sự phát triển mạnh mẽ như hiện nay; Logistics đang dần thể hiện vai trò và vị trí của mình đối với nền kinh tế nói chung và trong từng doanh nghiệp nói riêng.

    Trong toàn bộ quá trình lưu chuyển hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng; chi phí vận chuyển luôn là bài toán khó mà các doanh nghiệp phải đối mặt. Chưa kể đến trong nhiều giai đoạn; lãi suất có thể lên xuống bất thường khiến cho các doanh nghiệp bị lưu đọng vốn vì lượng hàng tồn quá lớn mà không có giải pháp.

    Chính vì vậy làm thế nào để tối ưu hóa quá trình từ sản xuất đến lưu kho; rồi vận chuyển đến khách hàng luôn được đặt lên hàng đầu. Sự hỗ trợ của logistics ngày nay đã giải quyết được vấn đề này; đặc biệt là với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin.

    Logistics cho giúp các nhà quản lý kiểm soát các nguồn cung ứng nguyên vật liệu; các phương tiện vận tải hay các bãi chứa một cách hiệu quả và dễ dàng hơn. Từ đó giảm thiểu tối đa các chi phí phát sinh và đảm bảo hiệu suất trong quá trình sản xuất kinh doanh.

    Quá trình toàn cầu hóa kinh tế vừa là cơ hội; nhưng cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp. Mặc dù sự vận động hàng hóa có đa dạng và phong phú hơn những nó lại phức tạp và đòi hỏi nhiều yêu cầu khắt khe cũng như sự quản lý thật chặt chẽ đối với dịch vụ giao nhận.

    Để làm được điều đó hoạt động logistics phải đảm bảo các yếu tố về mặt số lượng; thời gian và địa điểm. Đặc biệt là với sự phát triển mạnh mẽ của tin học ngày nay; quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho và tiêu thụ trở nên hiệu quả; kịp thời và nhanh chóng hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Kế Toán: Chức Năng Của Trung Tâm Logistics Cảng Biển
  • Vai Trò Của Logistics Thương Mại
  • Kế Toán Thanh Toán Là Gì Và Kế Toán Công Nợ Là Gì?
  • Công Việc Kế Toán Công Nợ
  • Nhiệm Vụ Của Kế Toán Bán Hàng Và Theo Dõi Công Nợ. Lưu Đồng Tác Nghiệp. Hạch Toán Nghiệp Vụ
  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học (Phạm Ngọc Hiền)
  • Công Tác Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Phát Huy Chức Năng Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Giáo Dục Học Sinh Thông Qua Bảo Tàng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh
  • Văn hóa là tổng thể các giá trị do con người tạo ra, trước hết là những giá trị tinh thần. Trong đó, văn học là một thành tố rất quan trọng của văn hóa. Ở phương Đông, hai khái niệm này rất gần gũi nhau. Khổng Tử đã từng hiểu “Văn” theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với yếu tố văn hóa trong con người (I.X.Lixêvích) . Tuy nhiên cũng cần phân biệt rạch ròi hai khái niệm đó để xác định đối tượng nghiên cứu và chức năng riêng của mỗi ngành. Người ta thường nói đến các chức năng của văn học như: nhận thức – dự báo, giáo dục – giao tiếp, thẩm mỹ – giải trí… Đứng từ góc độ nghệ thuật và ở cấp độ hệ thống, nhiều người cho rằng, chức năng bao trùm nhất của văn học là tình cảm – thẩm mỹ. Nhưng nếu đứng từ góc độ văn hóa – xã hội, ta sẽ thấy văn học có một chức năng bao trùm khác, thống nhất nhưng không đồng nhất với các chức năng trên, tạm gọi đó là “chức năng văn hóa” của văn học.

    Chức năng văn hóa của văn học cũng có yếu tố nhận thức nhưng không phải tất cả những gì được phản ánh trong tác phẩm cũng đem đến cho ta những nhận thức về văn hóa. Nhiều đoạn văn tả sự vật hiện tượng trong tự nhiên (được hiểu theo nghĩa đen) hoặc những hành động đơn giản của con người thì thường không thể hiện rõ những yếu tố văn hóa. Thậm chí nếu hiểu văn hóa là những gì tốt đẹp thì những tác phẩm đồi trụy, khiêu dâm, khích động bạo lực… càng thiếu tính văn hóa. Ngay cả trong vô vàn biểu hiện văn hoá ngoài đời, nhà văn cũng chỉ chú trọng tới những giá trị văn hoá tiêu biểu nhất, góp phần định hướng phát triển văn hoá. Chẳng hạn, viết về đề tài nông thôn, cần phải nói đến tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm. Văn học còn là công cụ chuyển tải văn hóa và lưu giữ bóng dáng con người qua các thời đại. Nhiều bộ sử thi cổ đại được coi là các bộ bách khoa toàn thư lưu giữ toàn bộ văn hóa và những giờ phút vàng son trong lịch sử dân tộc. Để nghiên cứu văn hóa, người ta thường tìm đến văn học. Ăngghen đã nhận xét như sau khi đọc xong bộ “Tấn trò đời” của Ban-dắc: “Tôi đã học tập được nhiều hơn là trong tất cả các sách của các nhà sử học, các nhà kinh tế học, các nhà thống kê chuyên nghiệp cộng lại”. Để nghiên cứu những bản sắc văn hóa thuần túy Việt Nam, không gì bằng nghiên cứu văn nghệ dân gian. Mỗi nhà văn hiện đại cũng cần phải có ý thức lưu giữ những giá trị đặc sắc của văn hóa dân tộc. Ngoài ra, trong khi thực hiện chức năng phản ánh văn hóa, nhà văn còn giúp cho người đọc phát triển năng lực nhận thức thế giới bằng tình cảm, cảm tính và trực giác. Người đọc cũng nên rèn luyện khả năng quan sát, khám phá được những giá trị văn hóa ẩn sâu đằng sau những câu chữ và phải có một thái độ nhận thức đúng đắn, chẳng hạn như thái độ tiếp thu có chọn lọc nền văn hóa nước ngoài.

    Văn học còn có tác dụng gợi mở những giá trị văn hóa mới. Nhờ văn học, con người có thể dự báo được tương lai. Tác phẩm “Người mẹ” và “Bài ca chim báo bão” của M.Gooc-ky được coi là những tín hiệu mở đường cho nền văn hóa XHCN. Nhiều phát minh khoa học hiện đại được bắt nguồn từ những ý tưởng trong tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của J.Véc-nơ… Nhiệm vụ của các nhà văn là hướng tới xây dựng một mô hình văn hóa tốt đẹp hơn trong tương lai.

    Nam Cao đã từng mơ ước viết một tác phẩm “vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người (…) Nó làm cho người gần người hơn”. Tác phẩm văn chương không chỉ nối liền tác giả với bạn đọc mà còn làm cho các bạn đọc xích lại gần nhau hơn. Bạn đọc ở các thời đại khác nhau, các nước khác nhau nhờ giao lưu văn học mà gần gũi với nhau. Trước đây, các tác phẩm văn học Nga – Xô viết đã có tác dụng rất lớn làm cho hai nền văn hóa Nga – Việt gắn bó khăng khít nhau. Và ngày nay cũng vậy, khi có hai nước giao lưu văn hóa, người ta vẫn thường cử các nhà văn qua lại thăm viếng và dịch các tác phẩm của nhau… Như vậy, văn học đã làm nhiệm vụ giao lưu giữa các nền văn hóa.

    Bản chất của văn chương là làm đẹp cho đời… Ngày xưa, ở Trung Quốc, “Văn” được dùng để chỉ những đường nét hoa văn, tức là cái đẹp hình thức của vạn vật. Chữ viết tượng hình và những câu nói đẹp cũng được gọi là Văn. Con người dùng văn chương để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của mình, thể hiện bản chất của mình (nhân văn, văn là người). Từ đó, văn chương còn có chức năng phản ánh cái đẹp, sáng tạo cái đẹp và góp phần bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ cho người đọc. Ca dao tục ngữ được coi là kho mỹ từ pháp của dân tộc. Nguyễn Trãi nói: “Thôn ca sơ học tang ma ngữ”. Ngày nay, người ta cũng dùng việc phân tích tác phẩm văn chương để rèn luyện năng lực cảm nhận cái đẹp cho học sinh. Văn chương còn phải biết sáng tạo ra một thế giới đẹp hơn thực. Thôn Vỹ Dạ trong thơ Hàn Mặc Tử đẹp và kỳ ảo hơn thôn Vỹ ở ngoài đời rất nhiều. “Nghệ thuật là con người thêm vào tự nhiên” (Hêghen). Văn chương phải mới mẻ ly kỳ mới có thể thu hút bạn đọc. Một ý tưởng giáo dục lớn lao mà được thể hiện bởi một nghệ thuật kém cỏi thì khó phát huy. Còn nếu chỉ chăm chú cái đẹp hình thức mà không có giá trị về nội dung tư tưởng thì chỉ mua vui cho đời chứ không lay động được trái tim bạn đọc. Sáng tạo ra cái đẹp hài hòa giữa nội dung và hình thức cũng có nghĩa là sáng tạo ra văn hóa.

    Người ta có thể giải trí bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có hình thức đọc sách. Trước khi có các phương tiện thông tin đại chúng bùng nổ, đọc sách là hình thức giải trí cơ bản và bổ ích, nâng cao vốn văn hóa của mọi người. Tuy nhiên ngày nay, trước sự lấn át của văn hóa nghe nhìn, văn học phải tăng cường chú trọng đến một chức năng nữa, đó là góp phần thúc đẩy các loại hình nghệ thuật khác phát triển. Rất nhiều kịch bản điện ảnh – sân khấu được chuyển thể từ truyện ngắn, tiểu thuyết. Nhiều bài thơ được phổ nhạc, nhiều tác phẩm văn học đã gợi ra ý tưởng cho họa sĩ vẽ tranh. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình đã phổ biến rộng rãi văn học nghệ thuật tới công chúng. Tức là công chúng vẫn được đọc và nghe văn học không chỉ ở dạng trực tiếp như trước đây mà còn gián tiếp thông qua các ngành nghệ thuật khác nữa.

    Để làm tốt chức năng văn hóa của văn học, đòi hỏi nhà văn cũng phải là một nhà văn hóa, giáo dục. Nhà văn cần có kiến thức sâu rộng, có lương tâm và tài năng nghệ thuật để tạo ra những giá trị văn hóa cao đẹp. Những nhà văn lớn thường là những nhà văn hóa lớn: H.đờ Bandắc, V.Huygô, L.Tônxtôi, M.Gooc-ky, Lỗ Tấn, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh… Và cũn dễ thấy rằng những tác phẩm nghệ thuật lớn cũng có chức năng văn hóa cao. Chẳng hạn, có thể coi tác phẩm “Ô-sin” là tập đại thành giới thiệu với thế giới toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản. Nữ văn sĩ Kiều Hạ Điền Thọ Tử đã mong muốn: “miêu tả cuộc đời Ô-sin để từ đó rút ra những tiêu chuẩn sống cho cuộc sống tương lai” [3]. Tác phẩm còn hấp dẫn ở cốt truyện, vẻ đẹp con người và thiên nhiên Nhật Bản, kể cả tài năng của diễn viên khi chuyển thành phim. Những điều đó đã làm cho “Ô-sin” có sức tác động rất lớn đến tương tư, tình cảm của khán giả truyền hình ở nhiều nước trên thế giới.

    Nói tóm lại, một tác phẩm văn học có giá trị là phải hướng tới xây dựng những giá trị văn hóa tốt đẹp. Văn học nước ta từ xưa vốn đã có tinh thần “Văn dĩ tải đạo”. Ngày nay, những truyền thống tốt đẹp của cha ông cần phải được phát huy lên một tầm cao mới. Nghị quyết của Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ vai trò của văn học đối với văn hóa như sau: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người”. Đó cũng là mục tiêu cao cả mà nhiều nhà văn – nhà văn hóa cần phấn đấu đạt tới.

    PHẠM NGỌC HIỀN

    1. Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc – NXB Giáo dục, H.2000, tr. 40.

    2. Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học-NXB Thanh Niên, TP HCM, 2000.

    3. Lời giới thiệu trong quyển “Ô-sin” – NXB Hà Nội, 1994.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Sở Gd Và Đt Nam Định . Vị Trí Và Chức Năng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Sở Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Lâm Đồng
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Sở Gd & Đt
  • 10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Quan Hệ Xã Hội Thuộc Phạm Vi Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính
  • Tiểu Luận Luật Sư Và Nghề Luật Sư
  • Tiểu Luận Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Luận Văn Tiểu Luận Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Hãy Phát Biểu Một Định Nghĩa Về Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nêu Những Đặc Trưng, Chức Năng Và Nhiệm
  • các chức năng của xã hội họ được định hướng để đảm bảo sự tồn tại và tiến bộ của các cá nhân. Một số quan trọng nhất là để đáp ứng nhu cầu cơ bản, giữ gìn trật tự hoặc giáo dục.

    Theo nghĩa đó, xã hội là một hình thức tổ chức trong đó mọi người đồng ý và sắp xếp lối sống của họ và cách họ sẽ quản lý tài nguyên của họ.

    Xã hội là đối tượng nghiên cứu của các nhà xã hội học và là mối quan tâm của nhiều nhà triết học trong suốt lịch sử.

    10 chức năng chính của xã hội

    Trong số các chức năng chính d xã hội có thể được đề cập:

    1. Đáp ứng nhu cầu cơ bản

    Đó là chức năng chính của xã hội; tổ chức mọi người và hành động của họ theo cách mà họ đã đảm bảo thực phẩm, nơi trú ẩn và bảo vệ quan trọng.

    Ở đây cũng vậy, sức khỏe cộng đồng, mặc dù nó thường rơi vào Nhà nước, là nhu cầu chính của những người có tổ chức; đảm bảo vệ sinh để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh tật và chăm sóc y tế nếu cần thiết.

    2. Bảo quản trật tự

    Họ trở thành một tổ chức xã hội vì vai trò của họ là đáp ứng nhu cầu cơ bản của mọi người.

    Trật tự cũng đề cập đến các quy tắc, quy tắc hoặc luật hướng dẫn hành vi của con người trong các giai đoạn và tình huống khác nhau của cuộc đời họ từ khi sinh ra cho đến khi chết.

    Một số triết gia đã đề xuất rằng đây là chức năng chính của tổ chức con người trong xã hội: kiểm soát những xung động phi lý và hoang dã của anh ta.

    3. Quản lý giáo dục

    Trong xã hội, các cá nhân có được kiến ​​thức cần thiết để tương tác với các đồng nghiệp của họ, trong trường hợp đầu tiên. Nhưng sau đó, họ cũng được đào tạo để tận dụng tối đa khả năng, tài năng và sở thích của mình.

    Sống trong cộng đồng, cho phép con người hòa nhập với xã hội, khám phá và phát triển tính cách của chính mình bằng cách đưa nó vào hành động trước một con người khác.

    Cộng đồng này cần cung cấp các điều kiện cần thiết để mỗi cá nhân có cơ hội học hỏi từ ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa của nhóm đó, cũng như cách sử dụng các kỹ năng của riêng họ cho sự phát triển và tiến bộ của họ trong nhóm..

    4. Quản lý nền kinh tế

    Phân phối hàng hóa và dịch vụ là một mối quan tâm khác trong một nhóm xã hội.

    Xã hội, với tư cách là một hệ thống, tạo ra và phân phối các hàng hóa và dịch vụ vật chất sẽ được dành riêng để đáp ứng nhu cầu cơ bản và thứ yếu của con người tạo nên nó.

    Phân phối này được đưa ra theo triết lý chính trị xã hội nói rằng xã hội giả định là của riêng mình.

    5. Quản lý điện năng

    Giống như việc phân phối hàng hóa và dịch vụ là một mối quan tâm quan trọng trong xã hội, sự hình thành của các nhân vật và / hoặc các nhóm quyền lực cũng chiếm một phần lớn trong cuộc sống trong xã hội.

    Sự quản lý quyền lực từ các thể chế là điều khiến con người phải đối mặt với các cuộc chiến tranh và tranh chấp trong suốt lịch sử của nó.

    Tùy thuộc vào học thuyết chính trị – xã hội chiếm ưu thế trong một nhóm xã hội cụ thể, quyền lực này sẽ được tập trung tại Nhà nước hoặc phân phối giữa các tổ chức khác nhau tạo nên nhóm đó.

    Trong chức năng này xuất hiện rằng kích thước của con người theo đó vai trò thống trị hoặc phục tùng được thông qua và những căng thẳng nguyên thủy nhất của mong muốn chiếm hữu được giải quyết.

    Trên thực tế, việc phân định lãnh thổ thống trị, đi vào chức năng này vì các giới hạn lãnh thổ sẽ kết thúc là giới hạn quyền tài phán.

    6. Phòng lao động

    Tổ chức trong xã hội cũng cho phép xác định vai trò theo các công việc mà mỗi cá nhân sẽ hoàn thành khi có nhu cầu để đáp ứng.

    Sống trong xã hội làm cho thực tế này rõ ràng và hướng dẫn mọi người hướng tới sự phân phối lực lượng lao động cho phép thực hiện tất cả các nhiệm vụ để cung cấp phúc lợi cho cá nhân.

    7. Quản lý truyền thông

    Đối với con người, nhu cầu thể hiện và giao tiếp là cố hữu, vì vậy trong xã hội, các điều kiện được tạo ra cho nhu cầu đó được thỏa mãn..

    Điều này bao gồm từ ngôn ngữ đến các tuyến giao tiếp (đường phố, cầu nối, v.v.) giữa các thành viên khác nhau của nhóm xã hội, cũng như giữa các nhóm này với các nhóm xã hội khác.

    Nếu trong các xã hội nguyên thủy hay các biểu hiện nghệ thuật như khiêu vũ hay tranh vẽ là những hình thức giao tiếp được sử dụng nhiều nhất, thì ngày nay chúng là công nghệ truyền thông và thông tin (TIC), tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ này.

    Các thành viên của xã hội quan tâm đến việc sử dụng các công cụ truyền thông có sẵn và phát triển ngày càng tinh vi hơn, để đảm bảo tính liên tục của văn hóa của nhóm đó trong các thế hệ sau.

    8. Bảo tồn và truyền tải văn hóa

    Mỗi xã hội phát triển các dạng hành vi phổ biến được truyền giữa các thành viên và các thế hệ sau.

    Đây là một chức năng cần thiết để phân biệt các nhóm xã hội và để duy trì sự đa dạng.

    Văn hóa bị ảnh hưởng bởi các điều kiện hoặc đặc điểm bao quanh nhóm xã hội, có thể là địa lý, lịch sử hoặc chính trị.

    Cách làm việc để tồn tại, được học trong mối quan hệ với những người khác được bồi dưỡng trong xã hội.

    9. Giải trí

    Niềm vui của các thành viên trong một nhóm xã hội cũng là điều cần được xem xét, vì con người cũng cần những giây phút giải trí.

    Sống trong xã hội tạo điều kiện cho cơ sở hạ tầng và công nghệ cần thiết để mọi người có thể tận dụng thời gian rảnh rỗi vì họ thích làm như vậy.

    Độc lập với những ý kiến ​​đa dạng có thể được tạo ra trước mặt này hoặc cách đó để trải nghiệm sự giải trí, các nhóm xã hội tạo ra những không gian đó và cùng với đó góp phần thỏa mãn một nhu cầu khác của con người, cuối cùng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.

    10. Tôn giáo

    Con người trong suốt lịch sử của mình và bất kể vị trí của anh ta, đã thể hiện nhu cầu cấp thiết để trải nghiệm sự tôn giáo của anh ta. Đó là biểu hiện của một mối quan hệ với siêu việt.

    Con người dường như có nhu cầu tin rằng có một thứ gì đó vượt trội hơn mình, một nguồn gốc của Mọi thứ. Dựa trên nhu cầu này, các phản ứng khác nhau đã được xây dựng, sau đó cụ thể hóa thành các biểu hiện tôn giáo khác nhau.

    Sống trong xã hội cho phép chúng ta chia sẻ với người khác kinh nghiệm của một tôn giáo, về sự hiệp thông với một thực thể khác dường như mang lại ý nghĩa cho cuộc sống.

    Tôn giáo cũng hoạt động như một nhà nguyên tử xã hội, như một hình thức tổ chức trong đó các quy tắc, quy tắc và hình thức giao tiếp rất đặc biệt của các tín đồ được xây dựng trong cùng một giáo điều.

    Tất cả các chức năng này phụ thuộc lẫn nhau và tiến bộ trong sự phức tạp của chúng cho rằng một xã hội càng trưởng thành, càng tinh tế hơn theo cách mà các chức năng đó phải được thực hiện.

    Tài liệu tham khảo

    1. ABC (2005). Các yếu tố của xã hội. Lấy từ: abc.com.py
    2. Tiêu đề, Daniel (2008). Hiểu biết về xã hội. Lấy từ: Hiểu biết.blogspot.com
    3. Bộ Luật, Tư pháp và các vấn đề nghị viện (2010). Phòng Pháp chế và Nghị viện. Lấy từ: bdlaws.minlaw.gov.bd
    4. Pellini, Claudio (s / f). Con người và cuộc sống trong xã hội gia đình, nhà nước và giáo dục. Phục hồi từ: historiaybiografias.com
    5. Spencer, Herbert (2004). Xã hội là gì? Một xã hội là một sinh vật. Tạp chí Nghiên cứu Xã hội học Tây Ban Nha (Reis), Sin mes, 231-243. Lấy từ: redalyc.org
    6. Phòng sinh viên (s / f). Chức năng chính của xã hội đối với cá nhân là gì? Lấy từ: thestudentroom.co.uk
    7. Đại học tự trị của bang Hidalgo (s / f). Xã hội Lấy từ: uaeh.edu.mx
    8. Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ Viện Y tế Quốc gia. Lấy từ: ncbi.nlm.nih.gov.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Xã Hội
  • Trao Chức Năng Điểm Bđvhx Cho Nhà Văn Hóa Thôn

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Thức Là Gì? Các Giai Đoạn Của Nhận Thức
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Phân Tích Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Tính Chất Của Nền Văn Hóa Mới
  • Sở Văn Hóa Và Thể Thao Tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Phú Yên
  • Tại Hội nghị toàn quốc về các điểm BĐVHX diễn ra ngày 8/1/2012, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Son đánh giá cao sáng kiến của Sở TT&TT Quảng Trị về việc tận dụng cơ sở hạ tầng, “biến” các nhà văn hóa thôn thành cơ sở có chức năng tương tự điểm BĐVHX nhằm giảm nghèo thông tin cho người dân.

    Trao đổi với phóng viên ICTnews bên lề Hội nghị, ông Nguyễn Văn Tường, Phó Giám đốc Sở TT&TT Quảng Trị chia sẻ, các cơ quan hữu quan đang tích cực tìm giải pháp để duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống hơn 8.000 điểm BĐVHX đã được đầu tư hoạt động trong suốt 13 năm qua, đặc biệt là khi Nhà nước sẽ ngừng hỗ trợ trực tiếp cho Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VietnamPost) từ sau năm 2013. Nhưng bên cạnh đó, cũng cần có sự quan tâm đúng mức tới việc tăng khả năng tiếp cận thông tin và các dịch vụ bưu chính – viễn thông – CNTT cho những người dân đang sống tại các xã chưa có điểm BĐVHX (cả nước hiện có trên 11.000 xã – PV)

    “Tại Quảng Trị hiện vẫn còn 6 xã trên tổng số 141 xã chưa có điểm BĐVHX. Ở những xã này, người dân thường chỉ có 1 địa chỉ để đọc sách báo, khai thác thông tin trong nước và thế giới, đó là các nhà văn hóa xã. Tuy nhiên, nhà văn hóa xã lại được đặt trong khuôn viên UBND xã, chỉ làm việc trong giờ hành chính nên người dân e ngại không muốn đến để sử dụng các dịch vụ bưu chính viễn thông cơ bản, thậm chí cả việc đọc sách báo cũng hạn chế. Mặt khác, người dân nông thôn đi làm suốt ngày, làm sao có thời gian để vào những giờ hành chính. Nói tóm lại, các nhà văn hóa xã chưa thể đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân”, ông Nguyễn Văn Tường cho biết.

    Trong khi đó, tất cả các thôn đều đã đầu tư xây dựng nhà văn hóa thôn bằng nguồn vốn do Nhà nước và nhân dân cùng huy động đóng góp. “Hiệu suất hoạt động của các nhà văn hóa thôn rất thấp, chỉ 1 – 2 lần/tháng. Nếu đưa thêm các dịch vụ giống như điểm BĐVHX, có thể tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có này để cung cấp các dịch vụ bưu chính – viễn thông – CNTT cho người dân, tránh lãng phí đầu tư”, ông Tường phân tích.

    Theo sáng kiến của Sở TT&TT Quảng Trị, mỗi xã chưa có điểm BĐVHX sẽ chọn 1 thôn ở nơi tập trung dân cư, gần trung tâm xã, thuận lợi về các điều kiện cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước… để bổ sung dịch vụ của điểm BĐVHX cho nhà văn hóa thôn. Chi phí đầu tư sẽ chỉ khoảng 30 – 50 triệu đồng/điểm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Nhà Văn Hóa Thôn Xóm
  • Ban Hành Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Nhà Văn Hóa Cộng Đồng
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Nv Tdtt
  • Lãng Phí Phòng Chức Năng Của Các Trung Tâm Văn Hóa
  • Trung Tâm Văn Hoá Tỉnh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100