Phương Hướng Nhiệm Vụ Bảo Vệ Môi Trường 2022

--- Bài mới hơn ---

  • Road Safety Matters : Road Safety Engineering
  • Giải Pháp Tăng Cường Thu Hút Fdi Chất Lượng Cao Từ Liên Minh Châu Âu
  • Thu Hút Fdi Vào Việt Nam: Lượng Tăng, Chất Chậm Đổi
  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Thu Hút Fdi Vào Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thu Hút Fdi Vào Việt Nam
  • Đặc biệt, sẽ rà soát những quy định trong Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật BVMT, Bộ Luật hình sự sửa đổi để đề xuất sửa đổi, bổ sung chế tài xử lý hành chính trong Nghị định số 155/2016/NĐ-CP bảo đảm sự tương thích.

    Tổng cục sẽ chú trọng rà soát, tổng hợp các quy chuẩn Việt Nam hiện hành; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn/quy chuẩn thải của các nước phát triển trên thế giới. Trên cơ sở đó đề xuất hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường trong điều kiện hội nhập quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam…

    Bên cạnh đó, Tổng cục sẽ xây dựng Đề án tổng thể tăng cường quản lý môi trường các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề; Đề án tăng cường quản lý rác thải nhựa ở Việt Nam; hướng dẫn việc tái sử dụng chất thải, phế liệu và năng lượng dư thừa trong khu công nghiệp sinh thái thuộc quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

    Tổng cục sẽ chú trọng xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả thải, vấn đề môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, làng nghề và việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Cụ thể, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, tập trung vào các khu chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đảm bảo tỷ lệ các khu công nghiệp theo quy hoạch phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt 89%, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong 11% khu công nghiệp còn lại phải có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn cho phép…

    Với việc kiểm soát chặt chẽ phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, trước mắt, Tổng cục sẽ phối hợp chặt chẽ với các Bộ: Tài chính, Giao thông vận tải, Công Thương, Công an triển khai các biện pháp xử lý phế liệu đang tồn đọng tại các cảng biển của Việt Nam theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tăng cường quản lý hoạt động nhập khẩu, sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất theo Chỉ thị số 27/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; phối hợp chặt chẽ với các các Bộ: Tài chính, Giao thông vận tải, Công Thương, Công an, Quốc phòng thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng vệ thương mại, kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu phế liệu từ xa, giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

    Tiếp tục phối hợp với các địa phương cập nhập thường xuyên, kịp thời và công bố danh sách các tổ chức, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận/Giấy xác nhận đủ điều kiện BVMT trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, các tổ chức tham gia chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, các thông báo về lô hàng phế liệu nhập khẩu trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Cổng thông tin Một cửa quốc gia.

    Đối với công tác quản lý chất thải, Tổng cục tham mưu Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo các địa phương trong việc tăng cường công tác quản lý, xử lý rác thải đô thị, nông thôn; điều tra, khảo sát, đánh giá để nhân rộng mô hình xử lý rác thải hiệu quả, bền vững. Tập trung nghiên cứu, rà soát cơ chế để quản lý chặt chẽ rác thải nhựa từ đất liền ra đến đại dương. Tăng cường quản lý xử lý chất thải, phấn đấu tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom đạt trên 85% tại khu vực đô thị và trên 55% tại khu vực nông thôn.

    Chỉ đạo các địa phương tiến hành rà soát các quy hoạch quản lý chất thải rắn cho phù hợp với thực tiễn, hạn chế tối đa khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp đến mức thấp nhất; xây dựng và trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các tài liệu, hướng dẫn kỹ thuật phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; các hướng dẫn kỹ thuật thu hồi và xử lý thiết bị điện, điện tử thải bỏ; thu hồi và xử lý phương tiện giao thông thải bỏ.

    Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT đối với cơ sở xử lý chất thải nguy hại; yêu cầu đến hết năm 2022 các cơ sở xử lý chất thải nguy hại được cấp phép có 100% hệ thống xử lý khí thải lò đốt được lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục được kết nối và truyền dữ liệu đến Sở Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Môi trường để theo dõi, giám sát…

    Rà soát, kiểm soát các dự án, nguồn thải lớn có nguy cơ gây sự cố môi trường, gây ô nhiễm môi trường

    Tổng cục sẽ chú trọng nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường; rà soát, tiếp tục thành lập các Tổ giám sát về BVMT đối với các dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây sự cố, ô nhiễm môi trường cao, bảo đảm không để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng, các dự án, cơ sở này vận hành an toàn về môi trường, có đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, tăng cường, đôn đốc và xử lý nghiêm các KCN, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguồn thải lớn theo quy định phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục kết nối dữ liệu với Sở Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Môi trường nhưng trong các năm qua chưa thực hiện.

    Rà soát và hoàn thiện các hàng rào kỹ thuật về môi trường nhằm lựa chọn, sàng lọc loại hình sản xuất và công nghệ sản xuất trong thu hút đầu tư, khuyến khích các dự án sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn thải phù hợp với khung kiến trúc tổng thể cơ sở dữ liệu ngành tài nguyên và môi trường.

    Tăng cường BVMT các lưu vực sông, cải thiện, phục hồi môi trường

    Tổ chức triển khai kết luận của Chủ tịch Ủy ban BVMT các lưu vực sông: Cầu, Nhuệ – Đáy, hệ thống sông Đồng Nai; phối hợp với các địa phương trên lưu vực xây dựng và triển khai các dự án điểm về xử lý ô nhiễm. Tổng hợp, kiến nghị cấp có thẩm quyền hỗ trợ kinh phí cho các địa phương trong triển khai các dự án điểm, kinh phí đề xuất bố trí từ nguồn tăng thu thuế BVMT đối với xăng, dầu. Bên cạnh đó, phối hợp chặt chẽ với các địa phương trên lưu vực huy động có hiệu quả nguồn lực từ các doanh nghiệp đầu tư các trạm xử lý nước thải sinh hoạt trước khi đổ vào lưu vực theo cơ chế xã hội hóa. Tăng cường trách nhiệm của các địa phương có lưu lượng thải lớn ra lưu vực trong xử lý ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, đánh giá tình hình ô nhiễm, suy thoái và công tác cải tạo, phục hồi môi trường; triển khai bộ chỉ thị môi trường quốc gia và xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia.

    Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT

    Năm 2022, Tổng cục dự kiến thanh tra việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với 313 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn 20 tỉnh/thành phố (Bắc Giang, Bắc Kạn, Hải Phòng, Lào Cai, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bình Thuận, Cần Thơ).

    Thanh tra việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với các cơ sở xử lý chất thải nguy hại; bao gồm 15 cơ sở trên địa bàn 10 tỉnh/thành phố (Bắc Giang, Điện Biên, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Lai Châu, Nghệ An, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Quảng Bình, Phú Yên, Gia Lai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Long An).

    Tổng cục tiếp tục vận hành có hiệu quả đường dây nóng cấp trung ương về việc tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường đặt tại Tổng cục; triển khai bộ chỉ thị môi trường quốc gia và xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia…

    Tăng cường quan trắc, cảnh báo chất lượng môi trường xung quanh tại các khu vực, địa bàn trọng điểm; xây dựng cơ sở dữ liệu về quan trắc môi trường

    Tổng cục tiếp tục tập trung thực hiện tốt chương trình quan trắc định kỳ về không khí và nước tại các lưu vực sông; về nước mặt vùng Tây Nam Bộ; Vu Gia-Thu Bồn; 04 vùng Kinh tế trọng điểm; công trình thuỷ điện tại khu vực Tây Nguyên, các khu vực nhạy cảm, có khả năng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (các khu vực tại các trung tâm nhiệt điện, nhà máy giấy,…).

    Bên cạnh đó, duy trì vận hành, theo dõi hệ thống các trạm quan trắc môi trường không khí tự động, cố định và các trạm quan trắc môi trường nước tự động, cố định tại các lưu vực sông và trạm quan trắc nước; xây dựng báo cáo môi trường quốc gia năm 2022; Xây dựng cơ sở dữ liệu về quan trắc môi trường.

    Tăng cường công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học

    Tổ chức rà soát, đánh giá, báo cáo kết quả triển khai thi hành Luật Đa dạng sinh học; Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030; tiếp tục rà soát, đề xuất xây dựng, hoàn thiện các quy định quản lý bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó tập trung hoàn thiện các quy định về: lập báo cáo đa dạng sinh học cho khu bảo tồn; tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định đối với hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép tiếp cận nguồn gen để nghiên cứu vì mục đích thương mại, phát triển sản phẩm thương mại.

    Triển khai thực hiện tốt vai trò đầu mối các Công ước quốc tế về Đa dạng sinh học (Công ước Đa dạng sinh học (CBD), Công ước Ramsar, Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học, Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, Nghị định thư bổ sung Nagoya – Kuala Lumpur về nghĩa vụ pháp lý và bồi thường, Quỹ thông tin đa dạng sinh học toàn cầu (GBIF), Trung tâm Đa dạng sinh học ASEAN, Trung tâm Ramsar Đông Á (RRC), Điều phối thực hiện Sáng kiến Bảo tồn Hổ toàn cầu(GTI), Đối tác đường bay chim di cư tuyến Úc-Đông Á (EAAFP)…

    Các nhiệm vụ khác

    Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng các đề tài khoa học công nghệ nhằm cung cấp kịp thời các luận cứ khoa học, thực tiễn có giá trị phục vụ việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và công tác quản lý nhà nước về BVMT; tăng cường hiệu quả các hoạt động tư vấn, nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và chuyển giao các giải pháp kỹ thuật, công nghệ về BVMT.

    Duy trì, nâng cao hiệu quả hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về môi trường; quản lý, tích hợp, cập nhật cơ sở dữ liệu môi trường; tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về BVMT trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

    Theo Cổng Thông tin điện tử Tổng cục Môi trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Xử Lý Móng Nhà Trên Nền Đất Yếu
  • Biện Pháp Xử Lý Nền Đất Yếu Bằng Vải Địa Kỹ Thuật
  • Các Giải Pháp Xử Lý Nền Đất Yếu Hiệu Quả
  • Biện Pháp Xử Lý Nền Đất Yếu Cho Nền Đường Giao Thông
  • Cách Nhận Biết Đất Yếu Và Các Biện Pháp Xử Lý Nền Đất Yếu
  • Bảo Vệ Môi Trường Và Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Là Gì? Khái Niệm Và Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường.
  • Phần 3: Các Biện Pháp An Toàn Lao Động, Bảo Hiểm Và Bảo Vệ Môi Trường Xung Quanh Khi Thi Công Điện Nước
  • An Toàn Lao Động Và Bảo Vệ Môi Trường Trong Nhà Máy Công Nghiệp Vi Sinh
  • Làm Gì Để Bảo Vệ Môi Trường Biển Của Việt Nam?
  • Bảo Vệ Môi Trường Biển,ven Biển Và Hải Đảo Một Số Giải Pháp Cấp Bách
  • Khẩu hiệu bảo vệ môi trường – bảo vệ cuộc sống của chúng ta có lẽ không còn quá xa lạ đối với nhiều người. Thời gian gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường là vấn đề thường xuyên được nhắc đến trong các diễn đàn phát triển bền vững, các kênh truyền thông đại chúng. Những vấn nạn về môi trường đang là “nỗi lo chung” của toàn xã hội loài người. Chính vì vậy, mỗi con người chúng ta cần phải có ý thức trong việc bảo vệ môi trường sống, cải thiện tình trạng môi trường hiện tại… Đừng trông chờ vào bất cứ ai, hãy hành động vì môi trường, vì cuộc sống và sự phát triển của chính chúng ta.

    Có thể hiểu đơn giản bảo vệ môi trường là những hoạt động nhằm giữ cho môi trường luôn được xanh, sạch đẹp, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường. Đồng thời bảo vệ môi trường là đảm bảo sự cân bằng của môi trường sinh thái, ngăn chặn những hành vi gây hại cho môi trường.

    Những biện pháp giúp bảo vệ môi trường

    Giữ gìn cây xanh, chống chặt phá rừng

    Cây xanh đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Cây xanh có thể hút khó bụi, các chất độc hại đồng thời chống xói mòn, sạc lở đất… giúp bảo vệ và cải thiện môi trường. Ngày nay, diện tích đất rừng đang ngày càng bị thu hẹp, số lượng cây xanh ở các thành phố lớn có xu hướng ít đi, tình trạng chặt phá rừng ngày một gia tăng… là những nguyên ảnh hưởng đến sự biến đổi khí hậu. Chính vì vậy, mỗi con người cần phải có ý thức trong việc giữ gìn, bảo vệ cây xanh… bảo vệ môi trường và không tiếp tay với những hành vì xấu gây hại cho môi trường xung quanh.

    Khi xã hôi ngày càng phát triển, con người ngày càng quan tâm đến những nguồn năng lượng sạch không chỉ để bảo vệ môi trường mà còn để bảo vệ sức khỏe của chúng ta. Những nguồn năng lượng sạch có thể kể đến như: năng lượng nước, năng lượng gió, năng lượng mặt trời… Nếu nguồn năng lượng sạch được phổ biến rộng rãi, quá trình khai thác tài nguyên khoáng sản giảm, quá trình đốt cháy nhiên liệu giảm… sẽ làm giảm ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.

    Giảm thiểu sử dụng túi ni lông

    Những túi ni lông không thể phân hủy sinh học nên chúng có thể tồn tại trong môi trường tự nhiên đến hàng trăm năm. Ngày nay, công tác xử lý chất thải túi ni lông chưa thực sự được đẩy mạnh, khiến đây vẫn trở thành một trong những tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường. Thay vì sử dụng túi ni lông chúng ta có thể sử dụng các loại túi giấy, túi có thể phân hủy được… để bảo vệ môi trường.

    Tiết kiệm

    Tiết kiệm năng lượng điện, nước và tài nguyên thiên nhiên là một trong những việc làm giúp bảo vệ môi trường. Để sản xuất ra nguồn năng lượng sử dụng trong cuộc sống thường ngày phải tiêu tốn rất nhiều công sức, tiền của, hoạt động sản xuất năng lượng cũng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

    Bỏ rác đúng nơi quy định

    Rác thải, chất thải… cần được xử lý kịp thời để tránh gây ô nhiễm môi trường. Việc bỏ rác đúng nơi quy định là hành động góp phần bảo vệ môi trường. Thông thường rác trong các thùng rác, rác được bỏ đúng nơi quy định sẽ nhanh chóng được gom và xử lý. Chính vì vậy, hãy tạo thói quen bỏ rác đúng nơi quy định, không xả rác bừa bãi để tránh gây ô nhiễm môi trường.

    Thông qua các kênh phương tiện truyền thông tại chúng, các trang mạng xã hội… chúng ta có thể truyền tải những thông điệp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường xung quanh. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội, nếu tất cả mọi người đều có ý thức môi trường sẽ trở nên xanh sạch, đẹp hơn rất nhiều.

    Những phong trào những biện pháp nhằm tuyên truyền ý thức trong việc bảo vệ môi trường, những chương trình trồng cây, gây rừng, giờ trái đất… là những hoạt động mà bạn nên tham gia để góp phần cải thiện môi trường sống của chúng ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Về Bảo Vệ Môi Trường Bằng Tiếng Anh.
  • Vai Trò Quan Trọng Của Môi Trường Biển Và Những Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Biển
  • Loạt Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Ô Nhiễm Môi Trường Biển
  • Ô Nhiễm Môi Trường Biển Và Các Biện Pháp Bảo Vệ
  • Hướng Dẫn Viết Bài Viết Tiếng Anh Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Cấp Bách Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Nước Trên Thế Giới Hiện Nay
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Xử Lý Ô Nhiễm Không Khí Trong Nhà
  • Hậu Quả Của Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Khái Niệm Và Chức Năng Của Protein
  • KIẾN TRÚC SINH THÁI – GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

    Chúng ta có cần đến kiến trúc sinh thái không?

    Kiến trúc sinh thái – giải pháp bảo vệ môi trường. Những năm gần đây, ô nhiễm môi trường trở thành một vấn đề cấp bách và nan giải trên toàn thế giới. Môi trường bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người cũng như các loài động thực vật trên Trái Đất. Không khí, đất đai, nguồn nước “sạch” đang biến mất hàng ngày, hàng giờ. Vì thế, cần có một giải pháp để giải cứu hành tinh của chúng ta khỏi sự hủy diệt của ô nhiễm môi trường: là KIẾN TRÚC SINH THÁI.

    Theo nghiên cứu của Ủy Ban Hợp Tác Môi Trường (Commission for Environmental Cooperation): Tại những quốc gia phát triển, các tòa nhà chiếm 40% tổng năng lượng được sử dụng, 38% lượng CO2 thải ra và 60% rác thải sinh hoạt. Theo dự đoán, nếu ngành công nghiệp xây dựng vẫn duy trì như hiện nay, đến năm 2050 các tòa nhà sẽ chiếm 70% lượng CO2 thải ra. Một bức tranh tàn khốc của môi trường đã được thể hiện rất rõ ràng, vì thế, chúng ta cần kiến trúc sinh thái để thay đổi thế giới.

    Định nghĩa về kiến trúc sinh thái

    Kiến trúc sinh thái còn gọi là “kiến trúc xanh” hay “kiến trúc bền vững”. Trong suốt thời gian xây dựng – sử dụng – phá vỡ, một công trình kiến trúc sinh thái phải đáp ứng được các nguyên tắc sau:

    • Cộng sinh với môi trường tự nhiên

    • Sử dụng các vật liệu tái sinh
    • Tạo một môi trường trong lành, dễ chịu
    • Hoà nhập với môi trường nhân văn của lịch sử và khu vực
    • Ứng dụng các kỹ thuật mới tiết kiệm năng lượng

    Bản chất của kiến trúc sinh thái là lấy môi trường làm trung tâm. Một nhà nghiên cứu sinh thái người Mỹ đã từng nói: “Cái hồn của công trình kiến trúc phải sinh trưởng một cách tự nhiên từ đất và đậu nhẹ nhàng lên cảnh quan”.

    Lợi ích của kiến trúc sinh thái

    Trách nhiệm của kiến trúc sinh thái không chỉ nghiên cứu về kiến trúc mà còn nghiên cứu môi trường xung quanh. Vì thế, kiến trúc sinh thái giúp giảm tối đa chất thải, hạn chế ô nhiễm môi trường, bảo vệ và tôn tạo tài nguyên thiên nhiên.

    • Về môi trường: Một không gian sống bền vững, trong lành, mát mẻ không thể chỉ dựa vào bê-tông, sắt, thép hay máy điều hòa nhiệt độ mà phải là từ cây xanh, từ thiên nhiên. Kiến trúc sinh thái giúp đem thiên nhiên vào đời sống con người, tạo lập một môi trường sống thông thoáng và bảo vệ sức khỏe cho các thành viên trong gia đình.

    • Về kinh tế: Kiến trúc sinh thái sử dụng các

      Kiến trúc sinh thái sử dụng các vật liệu có thể tái tạo trong tự nhiên như tre, trúc, gỗ,… và các vật liệu tiết kiệm năng lượng… mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    • Về thẩm mỹ: Kiến trúc sinh thái giúp con người và thiên nhiên sống chan hòa và hỗ trợ lẫn nhau. Thiên nhiên góp phần làm đẹp

      Kiến trúc sinh thái giúp con người và thiên nhiên sống chan hòa và hỗ trợ lẫn nhau. Thiên nhiên góp phần làm đẹp công trình kiến trúc , kiến trúc hòa quyện tôn lên nét đẹp hùng vĩ của thiên nhiên.

    KTS. Ken Yeang đã từng nói về kiến trúc sinh thái rằng: “Kiến trúc sinh thái được phát triển không phải chỉ để bảo tồn những gì được để lại, mà phải bảo đảm sự tồn tại lâu dài của sinh quyển như một tổng thể”.

    Xu hướng phát triển của kiến trúc sinh thái

    • Kiến trúc thích ứng khí hậu

    • Kiến trúc có hiệu quả về năng lượng

    • Khai thác, chắt lọc để sử dụng những tinh hoa của kiến trúc truyền thống dân tộc bản địa.

    Kiến trúc sinh thái là một nhu cầu tất yếu của thời đại. Hãy ngưng ngay những hành động phá núi, phá rừng để lấy nhiên liệu, hãy thay đổi thói quen xấu ảnh hưởng đến môi trường, hãy suy nghĩ về tre nứa và các vật liệu tái tạo. Khi chúng ta thay đổi, hành tinh này sẽ thay đổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quân Đội Với Nhiệm Vụ Bảo Vệ Môi Trường Và Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Giảm Ô Nhiễm Không Khí Trong Giao Thông
  • Tìm Giải Pháp Ứng Phó Với Ô Nhiễm Môi Trường Giao Thông
  • Ô Nhiễm Môi Trường Giao Thông Tại Vn: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Ô Nhiễm Không Khí Ở Hà Nội: Giải Pháp Không Phải Đơn Giản
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Xanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Tích Hợp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Vào Hoạt Động Giáo Dục Nghề Làm Vườn Lớp 11
  • 49 Thói Quen Giúp Bảo Vệ Môi Trường Mà Bạn Và Gia Đình Có Thể Làm
  • Đề Cương Ôn Thi Tốt Nghiệp Nghề Làm Vườn 2010
  • Đối Tượng Phải Làm Đánh Giá Tác Động Môi Trường?
  • Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Khí Trong Lành?
  • Bảo vệ môi trường như thế nào? Bài viết nghị luận xã hội nổi tiếng điểm cao nhất về bảo vệ môi trường văn mẫu. Những giải pháp hay giữ gìn môi trường. Môi trường ô nhiễm ảnh hưởng tới an sinh toàn cầu. Nghị luận trình bày vấn đề bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp. Bảo vệ môi trường là hành động mang tính cấp thiết nhằm xây dựng môi trường sống an toàn, tránh xa những loại bệnh dịch gây nguy hại cho sức khỏe và tính mạng con người. Bài văn mẫu về giải pháp bảo vệ môi trường giúp chúng ta làm tốt đạt điểm số cao về nhận thức bảo vệ môi trường.

    Một môi trường xanh luôn là niềm mong ước của tất cả mọi người, do con người xây dựng lên từ quá trình cải tạo và biến đổi thiên nhiên. Trong thực tế cho thấy, con người vô hình chung trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh ung thư hệ hô hấp hiện nay.

    Ô nhiễm môi trường ngày càng có chiều hướng gia tăng trên diện rộng và mức độ ô nhiễm tăng cao. Những biện pháp bảo vệ môi trường sau đây giúp chúng ta có một môi trường xanh sạch đẹp cho mọi người.

    Làm thế nào để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp?

    Ý thức bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp là điều đầu tiên cần quan tâm đến trong quá trình bảo vệ môi trường. Con người trong quá trình khai phá, làm chủ thiên nhiên cũng là yếu tố tác động đến môi trường lớn nhất. Mặt khác, ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường là bảo vệ các điều kiện sinh tồn tốt nhất cho chính con người và tất cả các loài sinh vật nói chung. Do đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp là thực sự quan trọng. Những biện pháp sau đây có thể nâng cao được ý thức bảo vệ môi trường.

    Nghị luận xã hội bảo vệ môi trường xanh – Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường

    Ý thức về môi trường xanh sạch đẹp cần một quá trình hình thành lâu dài. Trong đó nền tảng giáo dục bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp là một hoạt động thiết yếu. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cung cấp những kiến thức hữu ích để mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường. Các bài văn viết bảo vệ môi trường trong nhà trường cung cấp những hiểu biết về bảo vệ môi trường trong học sinh, những thế hệ sẽ làm chủ tương lai trái đất này. Giáo dục đem đến câu trả lời cho những câu hỏi: trách nhiệm của học sinh trong việc bảo vệ môi trường? những việc làm bảo vệ môi trường của học sinh? học sinh cần làm gì để bảo vệ môi trường?

    Tuyên truyền bảo vệ môi trường trong cuộc sống, nghệ thuật

    Hoạt động tuyên truyền bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng để nâng cao nhận thức, cung cấp hiểu biết về khái niệm môi trường xanh sạch đẹp? vì sao cần bảo vệ môi trường? làm thế nào để bảo vệ môi trường? một cách sâu rộng trong xã hội.

    Trong đó tuyên truyền qua hoạt động nghệ thuật như tranh bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp, bài hát bảo vệ môi trường xanh có giá trị thiết thực và hữu ích.

    Bài hát Bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp

    Bài hát bảo vệ môi trường sau đây giúp chúng ta cảm nhận được giá trị sức mạnh của nghệ thuật trong việc thúc đẩy ý thức giữ gìn môi trường sạch đẹp.

    http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/moi-truong-xanh-va.2dkwIgXRwvXg.html

    Giải pháp bảo vệ xây dựng môi trường xanh – sạch – đẹp?

    Làm thế nào để bảo vệ môi trường đòi hỏi những giải pháp thiết thực để bảo tồn chất lượng môi trường, nâng cao chất lượng môi trường qua những việc làm cụ thể. Nhằm làm thế nào để bảo vệ môi trường toàn diện, gồm: bảo vệ môi trường đất, bảo vệ môi trường biển, bảo vệ môi trường không khí. Như sau:

    Vệ sinh sạch sẽ môi trường

    Trong cuộc sống sinh hoạt và làm việc của con người. Vệ sinh môi trường đánh giá vào ý thức tự giác của mỗi cá nhân trong việc chấp hành quy định chung, đồng thời để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

    Vệ sinh môi trường gắn liền với việc dọn dẹp nơi ở thường xuyên, không thải bừa bãi các chất có nguy cơ gây hại xuống môi trường nước, môi trường đất và môi trường không khí. Đề án thu gom rác thải vùng nông thôn cũng như các đề án giải pháp bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp khác đã được thực hiện trong cả nước trong đó có nhiều địa phương đã thực hiện tốt, mang lại hiệu quả như Quảng Nam, Quảng Trị, Đà Nẵng…

    Trồng cây gây rừng

    Tình trạng khói bụi ngày càng gia tăng nên việc tăng cường trồng cây xanh trở thành hành động thật sự thiết thực và hữu ích. Thế nhưng thực tế như sự khai thác tràn lan tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu khiến số lượng cây lim xanh trong rừng nguyên sinh ở Quảng Nam ngày càng khan hiếm.Chính quyền địa phương cần có phương án duy trì, bảo vệ những cánh rừng nguyên sinh cũng là bảo vệ môi trường sống chung của cộng đồng.

    Hạn chế sử dụng túi nilon

    Trong cuộc sống, mọi sinh hoạt đều sử dụng tới túi nilon như một vật dụng không thể thiếu. Nilon là chất rất khó phân hủy, khi ở trong môi trường đất hoặc nước sẽ cản trở quá trình phát triển của các sinh vật khác.

    Trong sinh hoạt, việc sử dụng túi nilon trở thành một thói quen. Sử dụng túi nilon như vật dụng để đựng thực phẩm mà nhiều người không biết tới tính nguy hại.

    Hãy sử dụng túi bằng vải, túi bằng giấy thay thế túi nilon để góp phần bảo vệ môi trường.

    Tận dụng nguồn năng lượng mặt trời

    Việc tận dụng năng lượng xanh tự nhiên cho hiệu suất sử dụng cao. Việc sử dụng năng lượng mặt trời để ứng dụng vào đời sống hoàn toàn hợp lý và làm giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

    Một môi trường xanh – sạch – đẹp đánh giá trình độ dân trí của con người, đồng thời phản ánh sự phát triển tiến bộ của nhân loại.

    Phương Vũ

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Vai Trò Của Pháp Luật Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Ở Việt Nam
  • Quan Tâm Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Học
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nơi Trường Học.
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Hiện Nay Ở Việt Nam, Nguyên Nhân, Biện Pháp Khắc Phục
  • Bài 68. Một Số Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Và Môi Trường Công Nghiệp Bắc Mỹ Câu Hỏi 716413
  • Các Công Nghệ Bảo Vệ Môi Trường “made In Vn”
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Phát Triển Du Lịch Ở Nghệ An
  • Chuyên Đề: Bảo Vệ Môi Trường Du Lịch
  • Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

    KHOA KHOA HỌC – GIÁO DỤC

    TIỂU LUẬN MÔN HỌC

    MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI

    Đề tài: ” các giải pháp bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

    Thực hiện: Nhóm 5 (GDTH01)

    Nhóm thực hiện:

    1) Nguyễn Thị Bình (nhóm trưởng)

    2) Phạm Thị Chinh

    3) Vũ Thị Thúy

    4) Nguyễn Hồng Phương Thúy

    5) Lê Thị Thanh Tuyền

    6) Phan Thanh Hiền

    7) Lê Ngọc Huyền

    8) Nguyễn Thị Thanh Thủy

    9) Lê Thị Ngọc Ánh

    10) Bồ Thị Ngọc Nhi

    11) Nguyễn Hoàng Yến

    Bình Dương, tháng 12 năm 2012

    NỘI DUNG

    I) Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

    II) Giải pháp bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

    III) Giải pháp bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nhóm 5.

    IV) Nhiệm vụ của sinh viên về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

    I) Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

    a) Công nghiệp hóa

    Sử dụng bò để cày

    Máy cày để lồng

    Lao động thủ công

    Lao động sử dụng máy móc

    Máy tự động đóng gói

    Xe tự động

    Máy bay không người lái của mỹ

    Vệ tinh VINASAT-1

    b) Hiện đại hóa

    Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản các hoạt động

    sản xuất từ lao động thủ công sang lao động bằng máy móc, cơ khí

    Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế – xã hội

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển

    đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế và

    quản lí kinh tế – xã hội từ sử dụng sức lao động

    thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến

    sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện,

    phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng

    suất lao động xã hội cao.

    c) Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Tính tất yếu khách quan

    Do yêu cầu phải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

    Do yêu cầu phải rút ngắn khoảng cách tụt hậu xa về kinh tế, kỹ thuật, công nghệ.

    Do yêu cầu phải tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

    d) Tác dụng của công nghiệp hóa – hiện đại hóa

    Tạo điều kiện phát triển LLSX và tăng NSLĐXH, thúc đẩy tăng trưởng và PTKT, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân.

    Tạo ra LLSX mới làm tiền đề cho việc củng cố QHSX XHCN, tăng cường vai trò của NN XHCN, tăng cường mối quan hệ giữa liên minh CN-ND-trí thức.

    Tạo tiền đề hình thành và phát triển nền văn hóa mới XHCN – nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

    Tạo CSVCKT cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ gắn với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh.

    Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

    e) Phát triễn công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong các hoạt động sản xuất

    Trong nông nghiệp

    Trong công nghiệp

    Trong kinh doanh

    Trong dịch vụ

    Trong quản lý kinh tế – xã hội

    Trong nông nghiệp

    Trong công nghiệp

    Trong kinh doanh

    Trong dịch vụ

    Trong quản lý kinh tế – xã hội

    f) Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường:

    Đối với môi trường:

    – Làm biến đổi khí hậu.

    – Môi trường ngày càng biến đổi theo chiều hướng xấu như: thủng tầng ozon,hiệu ứng nhà kính, mưa axit,băng tang ở hai cực,…

    Tảng băng trôi lớn nhất ở Bắc Cực

    – Làm mất đi những nguồn tài nguyên quý hiếm cuả tự nhiên.

    – Làm mất cân bằng hệ sinh thái, làm mất đi những nguồn gen quý,…

    Ảnh hưởng đến con người:

    – Ô nhiễm môi trường nước sản xuất, sinh hoạt nghiêm trọng. Nhiều loại dịch bệnh xuất hiện…

    – Ô nhiễm môi trường đất ảnh hưởng xấu đến cây trồng, vật nuôi và con người.

    – Ô nhiễm môi trường không khí: gây ra rất nhiều laọi bệnh về đường hô hấp….

    – Hiệu ứng nhà kính làm cho TĐ nóng dần lên làm băng tan ở hai cực dẫn đến hiện tượng nước biển xâm lấn đất liền thu hẹp diện tích sinh sống của sinh vật nói chung và con người nói riêng,hàng chục triệu người dân trên thế giới sẽ không có đất sinh sống, họ sẽ ồ ạt di cư đến những nơi cao ráo hơn, từ đó gây rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết như sức ép dân số, tệ nạn xã hội, thiếu việc làm và nghiêm trọng hơn đó chính là vấn đề bạo lực, phân biệt chủng tộc với những người vừa mới di cư đến,…

    Mưa axit hủy hoại các loài sinh vật và các công trình của con người,…

    Cánh rừng bị mưa axit tàn phá

    -Thủng tầng ozon: những tia bức xạ của mặt trời sẽ chiếu thẳng xuống TĐ và tạo ra những hậu quả xấu cho sinh vật và con người, …

    Các loại rác thải được thải ra môi trường trong quá trình CNH – HĐH

    – Tác động có hại lên môi trường của những chất mà con người sinh ra,chủ yếu qua các quá trình sản xuất công nghiệp và nông nghiệp:

    + Các loại rác thải do công nghiệp: tất cả các ngành công nghiệp đều tạo ra rác thải ở nhiều dạng.Ví dụ như: Các trạm điện đốt nhiên liệu lòng đất cùng thải vào khí quyển một lượng lớn dioxyt cacbon.Khói sinh ra bởi các nhà máy điện cung chứa dioxyt lưu huỳnh,là nguyên nhân chính của mưa axit và các nhà máy điện hạt nhân sinh ra chất thải phóng xạ có thể gây hại trong hàng chục ngàn năm sau. Các khí thải, nước thải do các nhà máy, xi nghiệp thải ra môi trường mà chưa qua xử lý(như công ty Vedan đã làm ô nhiễm con sông Thị Vải),…

    + Các loại rác thải do nông nghiệp: Việc canh tác với cường độ lớn đòi hỏi đất phải đuợc sử dụng trưc tiếp năm này qua năm khác mà không đuợc nghỉ ngơi .Vì thế các loại phân bón nhân tạo có tác động nhanh chứa nồng độ nitrat cao cần thiết đuợc sử dụng.Ngay khi đuợc bón trên đồng,các nitrat có thể đi vào sông và suối, gây ô nhiễm ao hồ và nó đi vào nước uống, có thể gây hại cho sức khỏe. Năng suất nông nghiệp cao cũng đòi hỏi phải dùng một lượng lớn thuốc diệt cỏ và thuốc diệt côn trùng để ngăn cản sự phá hoại mùa màng.

    Những hóa chất như vậy có thể dễ dàng ngấm vào lòng đất, các mạch nước ngầm, đồng thời dể dàng đi vào mạch thức ăn sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người cũng như các loài động vật khác,…

    + Rác thải do hoạt động dịch vụ: các dịch vụ vận chuyển hàng hóa, rác thải trong qua trình buôn bán trao đổi,…làm ô nhiễm môi trường không khí, đất,…

    – Ngoài ra còn có những hoạt động khác của con người gây ô nhiễm môi trường:

    + Sự thải ra do xe cộ: xe hơi và xe tải phóng ra một lượng hớn chất ô nhiễm vào khí quyển.Thêm vào đó các loại xe có động cơ giải phóng ra một lượng dioxit cacbon,là chất góp phần gây hiệu ứng nhà kính.

    + Rác thải do sinh hoạt: túi nilon, các loại rác khác,…

    NGUYÊN TẮC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

    Bao gồm 5 nguyên tắc chính:

    1. Gắn kết với phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; gắn với BVMT khu vực và toàn cầu

    2. Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội

    3. Là hoạt động thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường

    4. Phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hoá, lịch sử và trình độ phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn

    5. Ai gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường thì người đó có trách nhiệm khắc phục, phục hồi, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định pháp luật

    II) Giải pháp bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

    II.1. Tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường công nghiệp

    – Thực hiện nghiêm quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường trong các KCN, CCN.

    – Triển khai xây dựng hạ tầng các KCN, CCN đã quy hoạch; thực hiện nghiêm chủ trương di dời các cơ sở TTCN và các làng nghề gây ô nhiễm cao vào các CCN; tăng cường kiểm tra môi trường các cơ sở sản xuất nuôi trồng thuỷ sản.

    – Tổ chức tốt hệ thống thu gom, chất thải rắn công nghiệp không nguy hại và chất thải nguy hại, thực hiện xã hội hóa hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải đảm bảo về môi trường công nghiệp.

    – Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát môi trường đối với các doanh nghiệp, KCN, CCN; xây dựng hệ thống tiêu thoát nước mưa và xử lý nước thải tập trung ở các KCN, CCN, các doanh nghiệp nằm trong và nằm ngoài KCN, CCN.

    – Tiếp tục thực hiện điều tra và phân loại các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng để triển khai kế hoạch xử lý.

    – Nâng cao năng lực giám sát môi trường, đánh giá tác động của các nguồn thải từ các KCN, CCN tập trung; triển khai hệ thống quản lý môi trường tại các KCN, CCN theo phương pháp hiện đại với sự trợ giúp của công nghệ thông tin.

    – Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác khoáng sản. Kiên quyết bắt buộc mỏ khai thác khoáng sản phải áp dụng các biện pháp khống chế ô nhiễm trong hoạt động khai thác và các biện pháp khắc phục, khôi phục hiện trạng môi trường sau khi đóng cửa mỏ, nhằm giảm thiểu hậu quả và tăng hiệu quả sử dụng đất sau khi đóng cửa mỏ.

    – Có những cơ chế, chính sách để khuyến khích các dự án sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, khuyến khích việc đầu tư các ngành công nghiệp sạch, công nghiệp không khói và không nước thải, hạn chế các doanh nghiệp đầu tư ngoài khu công nghiệp đặc biệt là gần khu dân cư và khu du lịch.

    II.2. Đẩy mạnh phát triển kỹ thuật, công nghệ về bảo vệ môi trường công nghiệp

    – Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ về sản xuất sạch, sạch hơn nhằm phòng ngừa ô nhiễm tại nguồn trong các hoạt động sản xuất như: Tiết kiệm nguồn nhiên liệu, nguyên liệu và hạn chế phát sinh chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các KCN, CCN, khu đô thị, làng nghề, cơ sở chăn nuôi và TTCN.

    – Tăng cường việc đầu tư các giải pháp kỹ thuật như: đổi mới công nghệ, thiết bị kỹ thuật; ứng dụng và gia tăng hàm lượng công nghệ cao, mới, tiên tiến; áp dụng các biện pháp cải tiến quản lý nội vi, hợp lý hoá quy trình và quá trình sản xuất; thay thế nguyên, nhiên vật liệu ô nhiễm bằng nguyên, nhiên vật liệu sạch hơn; thực hiện và quản lý tiết kiệm năng lượng, điện, nước,…

    – Ứng dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm xây dựng các mô hình thân thiện môi trường trong phát triển công nghiệp: Mô hình KCN, CCN thân thiện môi trường; khu công nghệ cao; doanh nghiệp “xanh – sạch – đẹp”.

    – Nâng cao năng lực quản lý và phân tích môi trường trên cơ sở đầu tư thích hợp về trang thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ công tác kiểm soát, phòng ngừa ô nhiễm và dự báo diễn biến môi trường.

    – Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ về xử lý ô nhiễm môi trường tại các KCN, CCN

    – Ứng dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm hoàn thiện hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn KCN, CCN, kể cả chất thải nguy hại

    – Ứng dụng công nghệ thông tin trong bảo vệ môi trường phục vụ cho công tác phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường công nghiệp.

    – Hoàn thiện hệ thống tiêu thoát nước mưa và thu gom, xử lý nước thải KCN, CCN

    – Giáo dục ý thức cộng đồng về BVMT.

    II.3.Các giải pháp bảo vệ môi trường trong quy hoạch quản lý

    Các giải pháp bảo vệ môi trường

    Các giải pháp trực tiếp

    Các giải pháp gián tiếp

    Chống ô nhiễm tập trung

    Chống ô nhiễm phân tán

    Các giải pháp đối với chất thải rắn

    Các giải pháp đối với chất thải nước

    Nghiên cứu thử nghiệm đối với việc cải tạo môi trường

    Các giải pháp cải thiện: nạo vét, lắng lọc,rửa

    Các giải pháp pháp luật và thể chế

    Sản phẩm sạch hơn và giảm thiểu chất thải

    Các giải pháp về chính sách và cơ chế

    Công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng ít năng lượng hóa thạch

    Cải tạo lưu vực, khu vực

    II.4. Giải pháp sơ bộ về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiên đại hóa

    Giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh bằng các hình thức:

    – Đầu tư công nghệ, thiết bị xử lý chất thải đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường.

    – Đầu tư đổi mới công nghệ và các thiết bị theo hướng sản xuất sạch hơn, vừa nâng cao công suất, hiệu suất, chất lượng sản phẩm, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

    – Di chuyển một phần hay toàn bộ cơ sở ra khỏi địa bàn đang hoạt động.

    – Đình chỉ một phần hay toàn bộ, tạm thời hay vĩnh viễn hoặc chuyển đổi ngành nghề sản xuất.

    Phục hồi lại môi trường.

    Vậy còn bạn, có bao giờ bạn đã tự hỏi “mình đã làm gì để bảo vệ môi trường”.

    III) Giải pháp bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nhóm 5

    -Giảm thiểu tải lượng ô nhiễm môi trường: chương trình sản xuất sạch hơn, sử dụng nhiên liệu sạch, xử lý chất thải, cấp nhãn môi trường; phân loại CTR và xử lý bằng công nghệ hợp lý; chất thải nguy hại, thu gom chất thải bệnh viện và xử lý riêng; hạn chế sử dụng hóa chất nông nghiệp.

    Cải thiện chất lượng môi trường: nâng cấp hệ thống cấp thoát nước, đường giao thông; thu gom và xử lý nước thải tập trung; nạo vét, cải tạo hệ thống kênh rạch sông hồ; tăng diện tích rừng và diện tích cây xanh…

    – Cân bằng sinh thái: nghiên cứu và tìm ra các nguồn năng lượng sạch; hạn chế tối đa và phục hồi các hệ sinh thái ở vùng khai khoáng; tăng diện tích rừng ngập mặn, khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia…

    – Chiến lược quản lý môi trường: phòng ngừa hơn là khắc phục. Tăng cường sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.

    – Tăng cường công tác Giáo dục, tuyên truyền trong cộng đồng, nâng cao ý thức, trách nhiệm tiến đến xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.

    Đẩy mạnh các công tác quan hệ quốc tế về môi trường, hòa nhập theo xu hướng toàn cầu.

    IV) Nhiệm vụ của sinh viên về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

    Các bạn đừng nghĩ rằng bảo vệ môi trường là phải nghiên cứu ra một công trình, một máy móc hiện đại nào đó hay đó là việc của các chuyên gia, các kỹ sư ,của nhà nước mà bằng những hành động nhỏ nhặt và cụ thể hàng ngày, chúng ta cũng góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường.

    -Tự giác tìm hiểu, rèn luyện nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

    – Giữ gìn trật tự, vệ sinh lớp học, nơi ở và nơi công cộng; không vứt rác, xả rác bừa bãi.

    – Bảo vệ và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

    – Tích cực tham gia tổng vệ sinh, tham gia “trồng cây gây rừng”.

    – Có thái độ phê phán tố cáo những hành vi vi pham pháp luật về bảo vệ môi trường .

    – Nhận thức đúng đắn nhiệm vụ trung tâm của bảo vệ môi trường .

    – Xây dựng động cơ hoài bão và phương pháp học tập phù hợp với việc bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

    Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của ai?

    “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.”

    (Điều 6 bộ luật Môi trường Việt Nam)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Khu Công Nghiệp, Khu Chế Xuất
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Cho Học Sinh Lớp 3
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Quản Lý Bảo Vệ Môi Trường
  • Chính Sách Của Nhà Nước Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Cho Trẻ 5
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Kcn

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Tại Các Cơ Sở Sản Xuất, Kinh Doanh, Các Khu, Cụm Công Nghiệp
  • Tiết 23, Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Hướng Dẫn Viết Bài Viết Tiếng Anh Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Ô Nhiễm Môi Trường Biển Và Các Biện Pháp Bảo Vệ
  • Loạt Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Ô Nhiễm Môi Trường Biển
  • Được khởi nguồn từ năm 1991 với việc thành lập KCX Tân Thuận, đến nay, cả nước đã có 173 KCN, KCX đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 43.718 ha. Tổng hợp từ các địa phương, hiện đã có 105 KCN xây dựng và đi vào vận hành nhà máy xử lý nước thải, còn lại đang trong giai đoạn xây dựng và giải phóng mặt bằng. Như vậy, so với những năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006-2010, tỷ lệ các KCN có công trình xử lý nước thải tập trung được vận hành đã tăng lên đáng kể (từ gần 35% trong năm 2006 lên hơn 61% tính cho đến nay). Dự kiến kế hoạch 5 năm 2011-2015 đã đặt ra mục tiêu đến năm 2022, 100% các KCN đã đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

    Trong quá trình phát triển, các KCN đã có nhiều đóng góp quan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của nước ta; đã và đang là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp; tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp; nhận chuyển giao công nghệ mới, đẩy mạnh sản xuất tăng nguồn hàng xuất khẩu; tạo việc làm và thu nhập cho người lao động; việc phát triển KCN theo quy hoạch đã tránh được sự phát triển tự phát, phân tán, tiết kiệm được đất và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư phát triển hạ tầng, đặc biệt là góp phần hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do ch t thải công nghiệp gây ra.

    Năm 2008, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN đạt 33,2 tỷ USD (chiếm 38% GDP của cả nước); giá trị xuất khẩu của các KCN liên tục tăng trong những năm gần đây (năm 2006 đạt khoảng 8 tỷ USD, năm 2007 đạt 10,8 tỷ USD, năm 2008 đạt 16,2 tỷ USD và chiếm tỷ trọng khoảng 25,8% trong tổng giá trị xuất khẩu của cả nước). Tổng hợp báo cáo từ các địa phương cho thấy, tỷ suất đầu tư các dự án FDI/ha đất công nghiệp đã cho thuê đạt 2,55 triệu USD, trong đó, vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có tỷ suất đầu tư trung bình của các dự án FDI/ha đất công nghiệp đã cho thuê cao hơn mức trung bình của cả nước, lần lượt là 3,29 và 3,22 triệu USD. Tỷ suất đầu tư các dự án có vốn đầu tư trong nước (DDI)/ha đất công nghiệp đã cho thuê đạt gần 16 tỷ đồng.

    Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực nêu trên, quá trình phát triển các KCN cũng đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường, nếu không được giải quyết kịp thời thì có thể gây ra hậu quả xấu tới môi trường và tác động tiêu cực đến sức khỏe của cộng đồng dân cư.

    Thực trạng về môi trường KCN

    Về xử lý nước thải: Việc xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung trong KCN đã được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm thúc đẩy. Tại một số khu vực, tỷ lệ các KCN có công trình nhà máy xử lý nước thải được xây dựng và đi vào hoạt động đạt tỷ lệ cao, như vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ; đồng thời, số lượng các doanh nghiệp trong KCN, KCX đấu nối vào nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt tỷ lệ cao (khoảng 85%).

    Về khí thải: Do được quan tâm, đánh giá, xem xét ngay từ giai đoạn lập dự án đầu tư nên nhiều doanh nghiệp trong KCN, KCX đã thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống xử lý khí thải. Một số ngành nghề có mức độ xả thải khí thải cao như sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí đã chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa. Vì vậy, việc ô nhiễm khí thải, tiếng ồn được hạn chế.

    Về chất thải rắn và chất thải nguy hại: Việc thực hiện các quy định về xử lý chất thải rắn được hầu hết các doanh nghiệp nghiêm túc chấp hành. Đa số các doanh nghiệp trong KCN, KCX đã có biện pháp phân loại và lưu giữ tạm thời trước khi thu gom đến nơi xử lý. Một số KCN, KCX đã tổ chức thu gom, xử lý chất thải tập trung. Do vậy, về cơ bản, việc thu gom, xử lý chất thải rắn được đảm bảo.

    Việc đăng ký nguồn chất thải nguy hại theo quy định tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường được quan tâm đôn đốc thực hiện. Tại một số địa phương, việc thu gom, xử lý chất thải nguy hại từ các KCN, KCX được triển khai tốt.

    Về nước thải: Đa số các KCN, KCX đều phát triển sản xuất đa ngành, đa lĩnh vực nên phát thải nhiều loại nước thải khác nhau. Việc gom và xử lý chung là khó khăn. Mặc dù số lượng các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các BQL các KCN, tại khu vực xung quanh KCN, KCX ở một số địa phương, một số tiêu chuẩn nước thải vượt quá quy định cho phép. Nguyên nhân là do việc vận hành và kiểm tra vận hành nhà máy xử lý nước thải chưa có quy định pháp luật cụ thể, cũng như chưa có chế tài xử phạt có tính răn đe cao cho nên một số KCN không vận hành các trạm xử lý nước thải liên tục.

    Về khí thải: Mặc dù các doanh nghiệp đã có ý thức thực hiện nhưng trang thiết bị phục vụ công tác này chủ yếu còn sơ sài, đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của khí thải gây ra đối với môi trường xung quanh. Chất lượng môi trường không khí tại các KCN, đặt biệt là các KCN được thành lập trên cơ sở các doanh nghiệp cũ có sẵn với công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải đang bị suy giảm. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trong các cơ sở sản xuất của các KCN cũng là vấn đề cần được quan tâm. Cụ thể như các đơn vị chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất đang gây ô nhiễm tại chính các cơ sở sản xuất đó và đã tác động không nhỏ đến sức khỏe người lao động.

    Về chất thải nguy hại và chất thải rắn: Một số doanh nghiệp trong KCN, KCX không thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu giữ chất thải, gây ô nhiễm cục bộ. Tại một số địa phương, còn chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải nguy hại cho doanh nghiệp thứ cấp trong KCN, KCX, nên chất thải nguy hại không được quản lý, xử lý theo quy định, nảy sinh nguy cơ về ô nhiễm môi trường.

    Về chất thải rắn, tại một số KCN, KCX, chưa có nơi tập kết chất thải rắn để đưa đi xử lý, vì vậy, khó khăn trong việc thu gom, xử lý. Một số doanh nghiệp trong KCN, KCX tự lưu giữ và xử lý không đảm bảo tiêu chuẩn.

    ở một số địa phương, việc thực hiện ủy quyền cho BQL các KCN, KKT trong quản lý môi trường chưa triệt để. Do vậy, nảy sinh một số vấn đề như: cơ quan này cấp phép về môi trường trong khi cơ quan khác là đơn vị kiểm tra (ví dụ: UBND huyện cấp cam kết bảo vệ môi trường, BQL các KCN, KCX, KKT kiểm tra việc thực hiện cam kết); việc thanh, kiểm tra về môi trường chồng chéo và không hiệu quả.

    Ý thức doanh nghiệp trong KCN, KCX, KKT về bảo vệ môi trường đã được cải thiện. Tuy nhiên, việc đầu tư cho công tác môi trường làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận đạt được. Do vậy, tại một số nơi, việc bảo vệ môi trường chưa được doanh nghiệp tự giác thực hiện, vẫn cần được tuyên truyền thường xuyên, đồng thời có cơ chế thanh, kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật về môi trường.

    Để đảm bảo hiệu quả công tác bảo vệ môi trường KCN trong thời gian tới, trong bài viết này, xin đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường KCN để bạn đọc cùng chia sẻ.

    Về công tác quy hoạch: Các địa phương cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch các KCN để đảm bảo các quy hoạch KCN, KCX, KKT đồng bộ, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; cần xem xét lại mối quan hệ qua lại giữa quy hoạch phát triển KCN tại mỗi vùng kinh tế với quy hoạch của các ngành kinh tế – xã hội khác trong vùng; quy hoạch phát triển KCN tại mỗi vùng cần phù hợp với điều kiện tài nguyên, đặc điểm kinh tế – xã hội, triển vọng thị trường. Quá trình lập quy hoạch phải tính ngay tới các tác nhân gây ô nhiễm môi trường và đề xuất các giải pháp giảm thiểu và bảo vệ môi trường. Việc thành lập và phát triển KCN phải đảm bảo tuân thủ đúng với quy hoạch đã được phê duyệt.

    Về thu hút đầu tư: Thu hút đầu tư vào KCN theo hướng ưu tiên những ngành công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, đảm bảo cơ cấu ngành nghề phù hợp với khả năng và thực tế giải quyết ô nhiễm của địa phương; thu hút có trọng điểm để phát triển các ngành kinh tế chủ lực cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong bố trí nhà máy, xây dựng phương án bảo vệ môi trường.

    Chủ đầu tư KCN chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của KCN; xây dựng và hoàn thiện các hệ thống xử lý nước thải tập trung, các hạng mục này cần được thiết kế đúng và phù hợp điều kiện thực tế, xây dựng và lắp đặt đúng thiết kế, duy trì hoạt động ổn định và hiệu quả trong suốt quá trình hoạt động của KCN; tham gia ứng phó các sự cố môi trường trong KCN. Chủ đầu tư KCN cần bố trí địa điểm và xây dựng các khu vực lưu giữ tạm thời và trung chuyển các chất thải rắn, chất thải nguy hại từ các doanh nghiệp trong KCN.

    Tất cả các doanh nghiệp trong KCN có nước thải phải xử lý sơ bộ đạt tiêu chuẩn đầu vào của hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi thải vào hệ thống thu gom nước thải của KCN, trường hợp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung thì từng doanh nghiệp phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài. Các doanh nghiệp có phát sinh khí thải phải có hệ thống xử lý khí thải đạt quy chuẩn Việt Nam trước khi xả thải. Các doanh nghiệp trong KCN có phát sinh chất thải nguy hại phải có hợp đồng với các đơn vị có chức năng và đủ năng lực để thu gom và xử lý đúng cách.

    Về pháp luật môi trường: Rà soát, bổ sung và tiếp tục điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về môi trường, trong đó hướng dẫn cụ thể, quy định rõ các nhiệm vụ cần thực hiện trong công tác bảo vệ môi trường cho các cơ quan quản lý nhà nước; ban hành, cập nhật các tiêu chuẩn môi trường cho phù hợp với thực tế. Đối với các công trình xử lý chất thải của doanh nghiệp thì cần quy định rõ về tiêu chuẩn, chế độ vận hành để thống nhất thực hiện, đảm bảo được chất lượng của các công trình, nhất là đối với nhà máy xử lý nước thải tập trung của các KCN, khắc phục tình trạng vận hành không thường xuyên, công nghệ chưa phù hợp như hiện nay; hướng dẫn quản lý vận hành các trạm xử lý nước thải tập trung.

    Về đầu tư vốn: Huy động tổng hợp các nguồn vốn đầu tư các công trình môi trường của KCN, bao gồm: vốn doanh nghiệp phát triển hạ tầng, vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng (kể cả Quỹ Môi trường – Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường), vốn ODA, vốn từ ngân sách nhà nước, trong đó, vốn doanh nghiệp phát triển hạ tầng là chủ yếu.

    Ban hành cơ chế, chính sách để tạo cơ sở cho việc hỗ trợ về tài chính, ưu đãi đầu tư đối với việc đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp. Ngoài nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung các KCN, KCX quy định tại Quyết định 43/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, xem xét huy động, bố trí nguồn vốn với quy mô thích hợp để thực hiện tín dụng ưu đãi cho đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung.

    Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về môi trường trong các KCN, đồng thời xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Đối với việc đầu tư nhà máy xử lý nước thải tập trung, cần có những chế tài có tính bắt buộc đối với doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN, KCX. Ví dụ như: coi việc xây dựng công trình xử lý chất thải tập trung là một trong những điều kiện khi thực hiện các ưu đãi về thuế, đất đai cho chủ đầu tư cơ sở hạ tầng KCN, là điều kiện để cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các doanh nghiệp hoạt động trong KCN, KCX.

    Chủ động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường cho các doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN cũng như các doanh nghiệp thứ cấp để giúp các doanh nghiệp ý thức rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong và ngoài KCN, KKT; tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường các KCN; khuyến khích xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường.

    Đẩy mạnh hoạt động thi đua khen thưởng trong công tác bảo vệ môi trường KCN, KCX, KKT, động viên kịp thời các doanh nghiệp, BQL KCN, KCX, KKT thực hiện tốt công tác này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp
  • Đề Xuất Các Biện Pháp Kiểm Soát Ô Nhiễm Công Nghiệp Nước Ta Trong Giai Đoạn 2022
  • Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Nông Nghiệp Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Ô Nhiễm Môi Trường Biển
  • Môi Trường Biển Việt Nam
  • Sáng Tạo Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Vòng Thi Sơ Khảo Cuộc Thi Sáng Tạo Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Năm 2022
  • Sáng Tạo Giải Pháp Xử Lý Rác Thải: Hành Động Nhỏ, Ý Nghĩa Lớn
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Sáng Tạo I.i.s
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Dữ Liệu Sáng Tạo
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Sáng Tạo Lê Huân
  • Nhiều sáng kiến hay

    Một trong những dự án được ban giám khảo chấm đạt giải nhất cuộc thi là hình ảnh và bài viết “Môi trường là sự sống” của nhóm HS Trường THPT Nguyễn Văn Trỗi (Nha Trang).

    Đề tài đã nêu lên nguyên nhân và thực trạng ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, khí quyển hiện nay và đề ra các biện pháp khắc phục. Đặc biệt, các em đã trực tiếp tìm hiểu thực trạng môi trường ở nhiều địa bàn dân cư gần nơi sinh sống, tham gia quét dọn vệ sinh… để gửi đi một thông điệp: mỗi người hãy bằng những hành động nhỏ như: tiết kiệm điện, nước, hạn chế sử dụng túi nilon, không vứt rác bừa bãi… để nâng cao ý thức BVMT.

    Với sản phẩm “Khử mùi, đuổi muỗi bằng chiết xuất từ lá dứa và húng quế” (giải nhất cuộc thi), Phạm Thị Thảo Trang – HS Trường THPT Nguyễn Trãi (Ninh Hòa) đã nghiên cứu chế tạo ra các loại sáp thơm, gel, nước khử mùi và đuổi muỗi.

    Trang cho biết: “Hiện nay, các sản phẩm khử mùi, đuổi muỗi trên thị trường hầu hết được pha hóa chất, bán giá cao nên em muốn sáng tạo một sản phẩm tận dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên vừa đảm bảo an toàn, vừa có giá thành rẻ. Thời gian tới, em sẽ tìm tòi để phát triển sản phẩm dưới dạng cô đặc hơn, tác dụng khử mùi và muỗi mạnh hơn, thời gian bảo quản lâu hơn với mong muốn sản phẩm sẽ được sử dụng trong cuộc sống”.

    Xuất phát từ mục đích giảm thiểu việc tiếp xúc trực tiếp với rác của con người và tiết kiệm thời gian trong việc quét dọn nhà cửa, các HS: Nguyễn Quang Huy, Lê Văn Quốc (Trường THPT Ngô Gia Tự, Cam Ranh) đã mang đến cuộc thi sản phẩm “Thùng rác thông minh” (giải nhất cuộc thi).

    Trong gần 2 tháng, dưới sự hỗ trợ của các thầy cô giáo, hai em đã mày mò thiết kế sản phẩm thùng rác đa chức năng gồm: mở nắp tự động, máy hút rác, hút bụi đa năng thay thế dụng cụ hốt rác, thông báo lượng rác trong thùng, tự di chuyển dọn rác. Không chỉ dừng ở việc tham gia cuộc thi, Huy và Quốc mong muốn một ngày nào đó sẽ đưa ra thị trường một sản phẩm có giá cạnh tranh và tích hợp nhiều chức năng so với các robot hút rác, thùng rác thông minh khác.

    Có mặt tại cuộc thi, thầy Nguyễn Văn Nam, Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai (Vạn Ninh) nhận xét: “Các em đã có sự đầu tư, tìm tòi để mang đến nhiều sản phẩm đa dạng, sáng tạo trong ý tưởng và thiết kế. Hy vọng, cuộc thi sẽ tiếp tục được triển khai và mở rộng ở nhiều cấp học khác để HS có dịp phát huy khả năng của mình”.

    Tăng cường các hoạt động ngoại khóa

    Ông Trần Quang Mẫn, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT cho biết, những năm qua, Sở đã triển khai nhiều hoạt động hưởng ứng BVMT. Tuy nhiên, ở nhiều trường, công tác tuyên truyền chưa được coi trọng, ngành GD-ĐT chưa tổ chức được những hội thi mang tính đặc thù riêng dành cho HS nhằm phát huy những sáng tạo, sáng kiến, giải pháp BVMT.

    Cuộc thi lần này được phát động là một hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm mục đích đó. Thông qua cuộc thi, các em sẽ nhận thức rõ hơn về ý nghĩa, tầm quan trọng và có cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường. Từ đó, hình thành các tri thức, kỹ năng, biện pháp để lựa chọn, sử dụng một cách hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và giải quyết các vấn đề môi trường nơi các em đang học tập, sinh sống.

    Tuy nhiên, do kinh phí có hạn nên cuộc thi còn giới hạn về số lượng trường và HS tham dự. Các sản phẩm còn những hạn chế nhất định về ý tưởng, tính sáng tạo, khả năng áp dụng rộng rãi trong đời sống. Ông Trần Quang Mẫn đề nghị, các trường cần coi công tác tuyên truyền, GD về BVMT là hoạt động thường xuyên để xây dựng các hoạt động ngoại khóa cho HS tham gia. Qua đó tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích cho HS, góp phần đổi mới phương pháp dạy và học, đánh giá HS.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Chuyên Đề Xây Dựng Trường Mầm Non Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Với Mô Hình “vườn Trong Phố”
  • Trường Mầm Non Thọ Xuân Huyện Đan Phượng, Giải Pháp Sáng Tạo Trong Mùa Dịch
  • Giải Pháp Thu Hút Trẻ Cho Các Trường Mầm Non
  • 4 Bước Phát Triển Sự Sáng Tạo Của Bé Ở Trường Mầm Non
  • Sáng Tạo Trong Tuyên Truyền Pháp Luật Giao Thông
  • Đa Dạng Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Bằng Cách Rèn Kỹ Năng Giải Các Dạng Toán Về Số Nguyên Tố Cho Học Sinh Lớp 6 Trường Thcs Hà Dương
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Văn Đáp Ứng Kỳ Thi Thptqg
  • Skkn Một Số Giải Pháp, Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tiết Thực Hành Môn Tin Hoc Tại Trường Thpt
  • Đề Tài Một Số Giải Giáp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lập Trình Pascal Đối Với Môn Tin Học 8
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Bộ Môn Tin Học 7
  • Quy trình đặt ra những nguyên tắc, cách thức vận hành công trình nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình và vùng hạ du. Cụ thể, trong điều kiện mưa lũ phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình, không để mực nước hồ Sông Giang 2 vượt mức lũ kiểm tra ở cao trình 467,07m; đồng thời góp phần điều tiết nước, phòng, chống lũ và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người dân tại vùng hạ du của đập thủy điện Sông Giang 2. Trong điều kiện mùa kiệt, việc vận hành công trình phải đảm bảo nhu cầu sử dụng nước ở vùng hạ du và dòng chảy tối thiểu trên sông.

    Quy trình đặt ra những nguyên tắc, cách thức vận hành công trình nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình và vùng hạ du. Cụ thể, trong điều kiện mưa lũ phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình, không để mực nước hồ Sông Giang 2 vượt mức lũ kiểm tra ở cao trình 467,07m; đồng thời góp phần điều tiết nước, phòng, chống lũ và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người dân tại vùng hạ du của đập thủy điện Sông Giang 2. Trong điều kiện mùa kiệt, việc vận hành công trình phải đảm bảo nhu cầu sử dụng nước ở vùng hạ du và dòng chảy tối thiểu trên sông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ứng Dụng Kh&cn Vào Bảo Vệ Môi Trường
  • Kỹ Thuật Cải Tạo Vườn Tạp
  • Hướng Dẫn Cách Bón Vôi Cho Đất Đúng Chuẩn Và Nhanh Nhất
  • Ý Nghĩa Của Việc Bón Vôi Trong Quá Trình Cải Tạo Đất
  • Sử Dụng, Bảo Vệ Và Cải Tạo Đất Bị Xói Mòn Bằng Những Biện Pháp Canh Tác, Sinh Học
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Ở An Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Hạn Chế Rác Thải Và Bảo Vệ Môi Trường Ở Trường Thcs Đào Mỹ
  • Nhiều Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Thủ Đô
  • Tài Liệu Thuyết Minh Biện Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh Môi Trường
  • Bài Thuyết Trình Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Thuyết Minh Biện Pháp Đảm Bảo Vệ Sinh Môi Trường
  • Thời gian qua, hoạt động thu gom rác thải đã có những chuyển biến tốt, mở rộng và thu gom ở 153/156 xã, phường, thị trấn với khoảng 726 tấn rác/ngày, đạt 63%, còn khoảng 422 tấn rác/ngày thì tự chôn lấp, đốt hoặc thải ra sông, rạch… Đến nay, đã hoàn thành đóng lấp 6/9 bãi rác lộ thiên gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, 3 bãi rác còn lại dự kiến hoàn thành đóng lấp trong năm 2022. Rác sinh hoạt hiện được xử lý bằng 3 hố chôn lấp hợp vệ sinh tại Châu Thành, Phú Tân và TP. Châu Đốc; 6/8 mô hình ủ phân compost và 7 bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã. Dự kiến cuối năm 2022, 3 hố chôn lấp hợp vệ sinh sẽ đầy, cần đóng lấp nên phải có nhà máy xử lý rác thu gom.

    Đồng thời, toàn tỉnh còn có 22 khu đô thị và 245 cụm, tuyến dân cư phát sinh lượng nước thải sinh hoạt khoảng 300.000m3/ngày, đêm. Tỉnh đã đầu tư và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung cho TP. Châu Đốc (3/7 phường) với công suất 5.000m3/ngày, đêm; đang triển khai hệ thống xử lý nước thải tập trung cho TP. Long Xuyên với công suất 30.000m3/ngày, đêm. Đồng thời, xây dựng và đưa vào sử dụng hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học tại 5/247 cụm, tuyến dân cư vượt lũ. Các khu đô thị và cụm tuyến dân cư còn lại chưa có hệ thống thoát nước hoàn chỉnh và hệ thống xử lý nước thải tập trung nên nước thải chỉ được xử lý sơ bộ qua các hầm tự hoại, rồi thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận. Ngoài ra, lượng nước thải từ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản chưa xử lý (hoặc xử lý chưa đạt chuẩn), được thải trực tiếp ra sông, rạch… gây ô nhiễm nguồn nước.

    Hiện, toàn tỉnh có 15 khu, điểm du lịch, tuy nhiên chưa có quy chế BVMT trong các khu, điểm du lịch, lễ hội. Vậy nên, hoạt động BVMT giữa các khu, điểm du lịch không giống nhau, trách nhiệm BVMT ở nhiều nơi chưa nhất quán, dẫn đến tình trạng vứt rác thải bừa bãi gây mất mỹ quan, ô nhiễm không khí và tiếng ồn do hoạt động giao thông, nhiễu loạn sinh thái, ô nhiễm nguồn nước do nước thải phát sinh từ các hộ kinh doanh và hộ gia đình chưa được thu gom xử lý… Cùng với đó, một số công viên, chợ, khu vực ở đô thị chưa được bố trí đủ dụng cụ thu gom rác và chưa có nhà vệ sinh công cộng, nên làm gia tăng ô nhiễm môi trường. Toàn tỉnh còn 50 khu, điểm và cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần xử lý ở 9 địa phương.

    Có thể nói, ngoài những yếu tố khách quan thì ý thức, trách nhiệm BVMT trong cộng đồng vẫn chưa cao, nhất là một số nơi còn xem công tác BVMT là nhiệm vụ của ngành tài nguyên và môi trường; việc xử phạt hành vi gây ô nhiễm môi trường chưa đủ sức răn đe… nên ảnh hưởng đến công tác BVMT. Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Võ Hùng Dũng cho rằng, để khắc phục những hạn chế này và nhằm thực hiện được mục tiêu BVMT bền vững, tỉnh sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp. Trước hết là mở rộng tuyến thu gom rác, nơi nào chưa có thì làm mô hình xử lý tại chỗ để giảm tối đa lượng rác thải phát sinh. Đầu tư nhà máy xử lý chất thải đạt chuẩn; đầu tư hệ thống xử lý nước thải tại các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư, chợ… theo quy định. Nhất là tăng cường BVMT ở các khu, điểm du lịch, khu vực công cộng. Trang bị dụng cụ thu gom rác, tăng cường tần suất thu gom rác sinh hoạt và thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt của các hộ kinh doanh, dịch vụ ở các khu, điểm du lịch…

    Theo đó, Sở Tài nguyên và Môi trường đề xuất các ngành, địa phương tăng cường quản lý BVMT. Trong đó, đề xuất Sở Xây dựng đẩy nhanh tiến độ kêu gọi đầu tư 3 nhà máy xử lý rác theo cụm. Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tăng cường kiểm tra hoạt động BVMT và tham mưu UBND tỉnh ban hành quy chế BVMT đối với các khu, điểm du lịch và nơi tổ chức lễ hội. Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị An Giang đẩy nhanh tiến độ thực hiện 3 lò đốt rác đã được UBND tỉnh giao làm chủ đầu tư, trong đó, vận hành lò đốt rác thải sinh hoạt tại huyện Thoại Sơn, đầu tư 2 lò đốt rác tại xã Vĩnh Gia (Tri Tôn) và thị trấn Mỹ Luông (Chợ Mới) trong quý I-2019. Phối hợp các địa phương tăng cường thu gom, xử lý rác thải, trong đó ưu tiên mở rộng tuyến và nâng tỷ lệ thu gom rác thải trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, kiểm soát ô nhiễm tại các hố chôn lấp; phối hợp triển khai thu gom, xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo an toàn…

    Bài, ảnh: HỮU HUYNH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014, Luật Số 55/2014/qh13
  • Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội Môi Trường Và Cuộc Sống Con Người
  • Bài Văn Mẫu Nghị Luận Về Vấn Đề Nâng Cao Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Sống
  • Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề Ô Nhiễm Môi Trường
  • Nghị Luận Xã Hội Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Khu Công Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Nan Giải Bảo Vệ Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Nâng Cao Nhận Thức Bảo Vệ Môi Trường Trong Chăn Nuôi
  • Bảo Vệ Môi Trường Trong Chăn Nuôi Quy Mô Nông Hộ
  • Bảo Vệ Môi Trường Trong Trồng Trọt
  • Chung Tay Bảo Vệ Môi Trường Ở Tiểu Đoàn 40
  • Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2010, cả nước đã có 200 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 71.394 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt trên 45.854 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, 173 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 43.718 ha và 88 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích tự nhiên 27.405 ha. Các KCN được phân bổ trên 57 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung chủ yếu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm: trong đó, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tập trung nhiều KCN nhất với 124 KCN, chiếm gần 48% tổng số KCN trên cả nước; vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 52 KCN, chiếm 20% tổng số KCN trên cả nước; và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 23 KCN, chiếm xấp xỉ 10% tổng số KCN trên cả nước.

    Mặc dù vẫn còn chịu ảnh hưởng tiêu cực của suy thoái kinh tế thế giới, tình hình thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào KCN đã đạt được những kết quả khả quan, dần phục hồi tốc độ tăng trưởng so với giai đoạn trước khủng hoảng. Các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh của các KCN cả nước trong năm 2010 đạt mức tăng trưởng khá. Các doanh nghiệp KCN đã đạt tổng doanh thu trên 30,5 tỷ USD và 57.251 tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp đạt xấp xỉ 19 tỷ USD và 18,5 tỷ đồng. Các doanh nghiệp cũng đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước với 19.165 tỷ đồng và 344,37 triệu USD.

    Mới được thành lập và đang trong quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhưng trong năm vừa qua tình hình sản xuất, kinh doanh của các KCN cũng đã có bước phát triển đáng kể, doanh thu của các KCN đạt hơn 10.000 tỷ đồng và 560 triệu USD, giá trị nhập khẩu và xuất khẩu lần lượt là 572.5 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước hơn 1.100 tỷ đồng.

    Đến cuối năm 2010, các KCN đã giải quyết việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động trực tiếp.

    Theo dự báo, năm 2011, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có chuyển biến theo hướng tích cực, tình hình FDI trên thế giới dự báo sôi động hơn, dự kiến các KCN sẽ thu hút được thêm khoảng 4,5 – 5 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài và 18 – 20 ngàn tỷ đồng vốn đầu tư trong nước, nâng tổng số dự án trong KCN đến cuối năm 2011 đạt 8.900 dự án, trong đó có 4.100 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 4.800 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đạt khoảng 56 – 58 tỷ USD và 400 ngàn tỷ đồng.

    Công tác bảo vệ môi trường trong các KCN

    Công tác xử lý chất thải tại các KCN đã từng bước đi vào nề nếp và có những chuyển biến tích cực.

    Việc xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung trong KCN đã được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm thúc đẩy. Đến nay, trong số 173 KCN được thành lập và đang hoạt động có 105 KCN đã có nhà máy xử lý nước thải tập trung, chiếm hơn 61% tổng số KCN đang hoạt động. So với những năm đầu của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung đi vào vận hành đã tăng lên đáng kể, gần 35% so với tỷ lệ năm 2006. Tại một số khu vực, tỷ lệ các KCN có nhà máy xử lý nước thải đạt tỷ lệ cao, ví dụ như Vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Số lượng các doanh nghiệp trong KCN đấu nối vào nhà máy xử lý nước thải tập trung đạt tỷ lệ cao (khoảng 85%).

    Do được quan tâm, đánh giá, xem xét ngay từ giai đoạn lập dự án đầu tư cho nên nhiều doanh nghiệp trong KCN đã thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước khí thải. Một số ngành nghề có mức độ xả thải khí thải cao như sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí… đã chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa. Vì vậy, tình trạng ô nhiễm khí thải, tiếng ồn được hạn chế đáng kể.

    Việc thực hiện các quy định về xử lý chất thải rắn được hầu hết các doanh nghiệp nghiêm túc chấp hành. Đa số các doanh nghiệp trong KCN đã có biện pháp phân loại và lưu giữ tạm thời trước khi thu gom đến nơi xử lý. Một số KCN đã tổ chức thu gom, xử lý chất thải tập trung. Do vậy, về cơ bản, việc thu gom, xử lý chất thải rắn được đảm bảo.

    Việc đăng ký nguồn chất thải nguy hại theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường được quan tâm đôn đốc thực hiện. Tại một số địa phương, việc thu gom, xử lý chất thải nguy hại từ các KCN được triển khai tốt.

    Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại và hạn chế.

    Đa số các KCN đều phát triển sản xuất đa ngành, đa lĩnh vực cho nên có nhiều loại phát thải khác nhau, nhất là nước thải. Việc thu gom và xử lý chúng là khó khăn. Mặc dù, số lượng các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các Ban Quản lý các KCN, tại khu vực xung quanh KCN ở một số địa phương, một số tiêu chuẩn nước thải vượt quá quy định cho phép.

    Việc xử lý khí thải, mặc dù, các doanh nghiệp đã có ý thức thực hiện, nhưng trang thiết bị phục vụ công tác này chủ yếu còn sơ sài, đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của khí thải gây ra đối với môi trường xung quanh. Chất lượng môi trường không khí tại các KCN, đặc biệt là các KCN được thành lập trên cơ sở các doanh nghiệp cũ có sẵn với công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải, đang bị suy giảm. Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường không khí trong các cơ sở sản xuất các KCN cũng là vấn đề cần được quan tâm (cụ thể như các đơn vị chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất…)

    Một số doanh nghiệp trong KCN không thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu trữ chất thải, gây ô nhiễm cục bộ. Tại một số địa phương, còn chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải nguy hại cho doanh nghiệp thứ cấp trong KCN, cho nên chất thải nguy hại không được quản lý, xử lý theo quy định, nảy sinh nguy cơ ô nhiễm môi trường.

    Về chất thải rắn, tại một số KCN chưa có nơi tập kết chất thải rắn để đưa đi xử lý, gây khó khăn cho việc thu gom. Một số doanh nghiệp trong KCN tự lưu giữ và xử lý nên thường là không đảm bảo tiêu chuẩn.

    Việc thực hiện ủy quyền cho Ban quản lý các KCN trong quản lý môi trường ở một số địa phương chưa triệt để. Do vậy, nảy sinh một số vấn đề như: cơ quan này cấp phép về môi trường, trong khi cơ quan khác là đơn vị kiểm tra, việc thanh, kiểm tra về môi trường chồng chéo và không hiệu quả…

    Ý thức doanh nghiệp trong KCN về bảo vệ môi trường đã được cải thiện. Tuy nhiên, việc đầu tư cho công tác môi trường làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận đạt được. Do vậy, tại một số nơi, việc bảo vệ môi trường chưa được doahh nghiệp tự giác thực hiện, vẫn cần được tuyên truyền thường xuyên, đồng thời có cơ chế thanh, kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường.

    Một số giải pháp

    Để đảm bảo hiệu quả công tác bảo vệ môi trường KCN trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ một số nội dung sau:

    Các địa phương cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch các KCN để đảm bảo các quy hoạch đồng bộ, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; cần xem xét lại mối quan hệ qua lại giữa quy hoạch phát triển KCN tại mỗi vùng kinh tế với quy hoạch của các ngành kinh tế – xã hội khác trong vùng; quy hoạch phát triển KCN tại mỗi vùng cần phù hợp với điều kiện tài nguyên, đặc điểm kinh tế – xã hội, triển vọng thị trường thế giới trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt.

    Trong quá trình lập quy hoạch phải tính ngay tới các tác nhân gây ô nhiễm môi trường và đề xuất các giải pháp giảm thiểu và bảo vệ môi trường.

    Việc thành lập và phát triển KCN phải đảm bảo tuân thủ đúng với quy hoạch đã được phê duyệt.

    Thu hút đầu tư vào KCN theo hướng ưu tiên những ngành công nghiệp sạch, ít ô nhiễm môi trường, đảm bảo cơ cấu ngành nghề phù hợp với khả năng và thực tế giải quyết ô nhiễm của địa phương; thu hút có trọng điểm để phát triển các ngành kinh tế chủ lực cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong bố trí nhà máy, xây dựng phương án bảo vệ môi trường.

    Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng trong KCN. Nghiên cứu phát triển mô hình KCN thân thiện với môi trường.

    Bổ sung thanh tra Ban quản lý các KCN vào hệ thống thanh tra nhà nước để tạo điều kiện cho các Ban quản lý thực hiện tốt chức năng, giám sát thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong KCN.

    Chủ đầu tư KCN chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ các cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của KCN; xây dựng và hoàn thiện các hệ thống xử lý nước thải tập trung, các hạng mục này cần được thiết kế đúng và phù hợp với điều kiện thực tế, xây dựng và lắp đặt đúng thiết kế, duy trì hoạt động ổn định và hiệu quả trong suốt quá trình hoạt động của KCN; tham gia ứng phó các sự cố môi trường trong KCN.

    Tất cả các doanh nghiệp trong KCN có nước thải phải xử lý sơ bộ đạt tiêu chuẩn đầu vào của hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi thải vào hệ thống thu gom nước thải của KCN, trường hợp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung thì từng doanh nghiệp phải xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra ngoài.

    Các doanh nghiệp có phát sinh khí thải phải có hệ thống xử lý khí thải đạt quy chuẩn Việt trước khi xả thải. Các doanh nghiệp trong KCN có phát sinh chất thải nguy hại phải có hợp đồng với các đơn vị có chức năng và đủ năng lực để thu gom và xử lý đúng cách.

    Rà soát, bổ sung và tiếp tục điều chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về môi trường, trong đó hướng dẫn cụ thể, quy định rõ các nhiệm vụ cần thực hiện trong công tác bảo vệ môi trường cho các cơ quan quản lý nhà nước; ban hành, cập nhật các tiêu chuẩn môi trường cho phù hợp với thực tế.

    Huy động tổng hợp các nguồn vốn đầu tư các công trình bảo vệ môi trường của KCN gồm: vốn doanh nghiệp phát triển hạ tầng, vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng, vốn ODA, vốn từ ngân sách nhà nước. Trong đó, vốn doanh nghiệp phát triển hạ tầng là chủ yếu.

    Ban hành cơ chế, chính sách để tạo cơ sở cho việc hỗ trợ về tài chính, ưu đãi đầu tư đối với việc đầu tư xây dựng các công trình bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp.

    , tăng cường thanh, kiểm tra việc thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong các KCN, đồng thời xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.

    , chủ động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường cho các doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN cũng như các doanh nghiệp thứ cấp để giúp các doanh nghiệp ý thức rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong và ngoài KCN; tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường các KCN; khuyến khích xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng, Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Tại Cụm Công Nghiệp
  • Đầm Hà: Nhiều Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Biển
  • Bảo Vệ Môi Trường Biển Hướng Tới Sự Phát Triển Bền Vững
  • Biến Rác Thải Thành Phân Bón
  • Hiệu Quả Từ Công Tác Phối Hợp Quản Lý Tài Nguyên Than:bài 2: Tkv Và Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Bền Vững
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100