Top 7 # Xem Nhiều Nhất Những Biện Pháp Xây Dựng Tập Thể Học Sinh Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Xây Dựng Phương Pháp Điểm Danh Học Sinh

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Các loại thiết bị chấm công ngoài mục đích được sử dụng trong doanh nghiệp để giám sát được thời gian làm việc của nhân viên đồng thời giúp vào việc chấm công, tính lương vào cuối tháng

Cũng dựa trên cơ sở hoạt động, quản lý của thiết bị này mà tại nhiều trường học trên cả nước đã thay thế hình thức điểm danh như trước bằng việc dùng máy chấm công và cũng có thể gọi là các đầu đọc điểm danh

Điểm danh sinh viên, học sinh bằng máy chấm công

Tìm hiểu sơ về cách quản lý và điểm danh cũ đang sử dụng

– Cách quản lý điểm danh phổ biến nhất đang sử dụng hiện nay đó là thủ công điểm danh từng học sinh, sinh viên và lưu dưới các file Excel

– Trong các tổ chức, trường học thì cũng sẽ có nhiều lớp, nhiều học sinh và để 1 giáo viên có thể bao quát được hết cũng không phải dễ dàng

– Ngoài ra nếu như nhà trường, khoa muốn quản lý hay có bảng kết quả thì phải thông qua các giao viên chưa kể đến số lượng dữ liệu sẽ lưu không tập chung

– Chưa kể đến việc nhiều sinh viên còn nhờ người học hộ, điểm danh hộ do số lượng sinh viên đông và giáo viên không nắm rõ được hết

Nhiệm vụ chính của đầu đọc khi được ứng dụng

– Sẽ dùng vào mục đích để điểm danh sinh viên và học sinh thay cho giáo viên

– Có thể quản lý và kiểm soát tại thư viện trong việc mượn trả sách và vào ra

– Quản lý việc ra vào phòng thi để nhằm tránh được việc thi hộ xảy ra

– Ứng dụng tại các nhà ăn, canteen của trường

– Quản lý được việc mượn trả các dụng cụ thí nghiệm,…

Điểm danh bằng việc dùng máy chấm công

– Trên thực tế thì việc ứng dụng này chưa có nhiều trường sử dụng vì nó còn khá mới

– Sử dụng máy chấm công ứng dụng trong việc điểm danh sẽ chỉ dựa trên quá trình điểm danh của học sinh – sinh viên với máy và cũng chỉ cần một vài người được giao trách nhiệm xử lý, tổng hợp các kết quả cuối cùng

– Ở một số trường đang thí điểm họ dùng loại đầu đọc chấm công bằng thẻ sau đó từng học sinh, sinh viên được phát thẻ tương ứng thông tin cá nhân của từng người

– Học sinh sinh viên khi trường hoặc vào mỗi ca học sẽ dùng thẻ quẹt để điểm danh

– Chiếc máy này sẽ ghi lại được thông tin đó và chuyển lưu trên hệ thống

– Giáo viên, những người được giao trách nhiệm xử lý sẽ thường xuyên cập nhật về phần mềm để kiểm tra và theo dõi

– Các file được tổng hợp riêng theo từng lớp khi cần được xử lý đơn giản, dễ theo dõi

– Tùy từng mục đích thì việc quản lý được diễn ra tương tự ngay cả tại thư viên, phòng thí nghiệm,…

Hiệu quả nếu lắp đặt máy chấm công với mục đích điểm danh học sinh

– Khi lắp hệ thống máy chấm công để điểm danh sẽ tạo được sự nghiêm khắc, kỷ luật trong môi trường học đường

– Rèn luyện được tính tự giác và ý thức của học sinh ngay khi còn ngồi ở ghế nhà trường

– Giáo viên, phụ huynh học sinh sẽ đều biết được kết quả

– Ngăn được việc học hộ, điểm danh và thi hộ

– Giúp tự động hóa toàn bộ các quá trình quản lý và hoàn toàn đưa ra được kết quả đúng với mong muốn của nhà trường

Thực sự giờ đây việc ứng dụng điểm danh học sinh bằng máy không quá lạ ở nhiều quốc gia nhưng có lẽ tại Việt Nam thì đây được coi là hình thức tương đối mới và cũng chỉ đang có một vài trường sử dụng. Nhưng chúng tôi có thể khẳng định được rằng với cách ứng dụng này thì thực sự sẽ là một giải pháp tối ưu nhất mà ngành giáo dục nên cân nhắc

Nếu như cần hỗ trợ và tư vấn có thể liên hệ 0973 417 189 để được giải đáp và lựa chọn những mô hình, thiết bị chấm công phù hợp

Skkn Biện Pháp Xây Dựng Lớp Học Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học Thiệu Long

Nội dung Trang I. MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn đề tài 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Đối tượng nghiên cứu 3 4. Phương pháp nghiên cứu 3 II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn 3 2. Thực trạng xây dựng phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực ” ở trường Tiểu học Thiệu Long. 4 3. Giải pháp và tổ chức thực hiện 5 3.1. Trang trí lớp học thân thiện 5 3.2. Thay đổi cách cư xử của giáo viên 6 3.3. Tăng cường sự tham gia của học sinh 9 3.4. Chú trọng rèn kỹ năng sống cho học sinh 12 3.5. Đổi mới phương pháp dạy học       13 3.6. Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa nhà trường và phụ huynh 13 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 14 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 I. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Mục tiêu giáo dục Tiểu học đã chỉ rõ: Giáo dục nhằm đào tạo nên những con người phát triển toàn diện về: “Đức, trí, lao, thể, mỹ”.“[1]” Để thực hiện được điều này, ngành GD&ĐT nước ta đã và đang tiếp tục thực hiện đổi mới về nội dung, chương trình SGK ở các bậc học. Từ năm 2008 đến nay, trên phạm vi cả nước và tỉnh Thanh Hóa nói riêng, các trường học ở các cấp đã sôi nổi thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và đạt được một số kết quả nhất định. Mục đích quan trọng nhất của xây dựng trường học thân thiện là tạo nên một môi trường giáo dục (cả về vật chất lẫn tinh thần) an toàn, bình đẳng, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, góp phần đảm bảo quyền được đi học và học hết cấp của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục trên cơ sở tập trung mọi nỗ lực của nhà trường vì người học, với các mối quan tâm thể hiện thái độ thân thiện và tinh thần dân chủ.[3] Trong môi trường trường học thân thiện, trẻ em sẽ cảm nhận được sự thoải mái khi việc học của mình vừa gắn với kiến thức trong sách vở, vừa thông qua sự thâm nhập, trải nghiệm của chính bản thân trong các hoạt động ngoại khóa, trong các trò chơi dân gian, các hoạt động tập thể vui mà học. Trường học thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực của học sinh. Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh học tập hứng thú, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt của thầy cô giáo, gắn chặt giữa học và hành, biết thư giãn khoa học, rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá và sáng tạo của mình. Với cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, học sinh trở nên năng động, tích cực dưới sự dạy dỗ của giáo viên, các em được học tập trong môi trường trường học thân thiện sẽ góp phần phát triển một cách toàn diện về nhân cách và đó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai . Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy để thực hiện tốt phong trào thi đua nói trên, xây dựng thành công “Trường học thân thiện” trước hết cần phải xây dựng cho được từng lớp học thân thiện. Mặt khác, là một lớp học thuộc trường chuẩn quốc gia mức độ 2, việc xây dựng lớp mình trở thành lớp học thân thiện là vô cùng cần thiết. Lớp học thân thiện thể hiện ở nhiều mặt, trong đó phải kể đến mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò, giữa trò với trò, giữa giáo viên và các mối quan hệ xoay quanh các vấn đề giáo dục. Học sinh tích cực cũng cần thể hiện ở nhiều mặt như tích cực trong học tập, tích cực trong các hoạt động tập thể, hoạt động vui chơi… Vậy thế nào là một “Lớp học thân thiện”? Làm thế nào để xây dựng được một “Lớp học thân thiện”? Đó là câu hỏi mà tôi đã từng trăn trở nhiều năm. Từ thực tiễn trong công tác giảng dạy và chủ nhiệm, tôi đã tìm được câu trả lời. Xin mạnh dạn trình bày trong đề tài: “Biện pháp xây dựng lớp học thân thiện ở Trường Tiểu học Thiệu Long”. 2. Mục đích nghiên cứu Thông qua đề tài này tôi muốn đưa ra các biện pháp nhằm xây dựng “Lớp học thân thiện”. Để từ đó rút ra được những ưu khuyết điểm cũng như những kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và đạt được một số kết quả nhất định. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. 3. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu tìm những giải pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả việc xây dựng lớp học thân thiện. 4. Phương pháp nghiên cứu – Điều tra – Quan sát – Nghiên cứu tài liệu. – Thực hành II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN Để xây dựng mô hình này ở Việt Nam, phối hợp với UNICEF, Bộ giáo dục và đào tạo đã làm thí điểm nhiều năm nay ở 50 trường tiểu học và THCS. Từ kết quả thí điểm, Bộ giáo dục và đào tạo chủ trương tiến hành đại trà trong năm học 2008 – 2009 ở tất cả các trường phổ thông với những nội dung được cụ thể trong chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013.[1] Thực hiện chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT, Phòng Giáo dục huyện Thiệu Hóa đã có các kế hoạch, chỉ thị chỉ đạo các trường tổ chức đánh giá kết quả phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Vậy, thế nào là “Trường học thân thiện”? “Thân thiện” là có tình cảm tốt, đối xử tử tế, và thân thiết với nhau. Bản thân khái niệm “thân thiện” đã hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và sự đùm bọc, cưu mang đầy tình người về đạo lý. Bởi nếu bất bình đẳng, mất dân chủ, vô cảm trong quan hệ giữa người với người thì đâu còn gì mà “thân” với “thiện”. “Thân thiện” bắt nguồn từ sứ mệnh của nhà trường và thiên chức của nhà giáo đối với thế hệ trẻ và xã hội, chứ không dừng ở thái độ bề ngoài trong quan hệ ứng xử. Trường học thân thiện là trường học mà ở đó học sinh được tạo điều kiện để sống khoẻ mạnh, vui vẻ, tích cực học tập và tham gia các hoạt động khác; được giáo viên nhiệt tình giảng dạy, yêu thương, tôn trọng; được gia đình và cộng đồng tạo điều kiện phát huy hết tiềm năng của mình trong môi trường an toàn và thuận lợi; quyền được đi học của học sinh được đảm bảo. Chất lượng của trường học thân thiện không chỉ thể hiện ở kết quả giáo dục trong lớp học, mà còn là chất lượng của cả môi trường học đường và mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. Làm tốt công tác này chính là chúng ta đang xây dựng lớp học thân thiện. 2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG PHONG TRÀO “TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC” Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THIỆU LONG Bộ GD&ĐT phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là một trong những phong trào rất có ý nghĩa, góp phần thúc đẩy, nâng cao chất lượng giáo dục. Trường Tiểu học Thiệu Long là một trong số ít những trường đầu tiên của huyện Thiệu Hóa có các hoạt động dạy học và giáo dục gắn liền với phương pháp dạy học tích cực đã được áp dụng ở nhà trường: các lớp học được trang trí đẹp, việc rèn kỹ năng sống cho học sinh được chú ý, mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường được tăng cường. Nhà trường luôn là điểm đến tham quan và học tập của các trường bạn. Đây cũng là những điều kiện thuận lợi đầu tiên để nhà trường xây dựng trường học thân thiện. Với tiền đề thuận lợi như thế, nên khi Bộ GD & ĐT phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, Trường Tiểu học Thiệu Long đã hưởng ứng và thực hiện một cách có hiệu quả. Qua một vài năm, nhà trường đã có nhiều chuyển biến hết sức rõ rệt. Đặc biệt là sự tăng trưởng về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học. Khuôn viên, trường lớp ngày càng sạch đẹp khang trang, chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường đã được cải thiện và từng bước phát triển. Các thầy cô giáo luôn chú ý vận dụng phương pháp dạy học tích cực, cố gắng khơi dậy niềm đam mê học tập của học sinh bằng những bài giảng hấp dẫn, bằng những hoạt động tập thể vui vẻ, bổ ích, bằng môi trường lớp học đẹp. Mối quan hệ giữa thầy và trò đã có sự thay đổi gần gũi và thân thiện hơn. Trường học đã và đang là nơi thu hút được học sinh đến trường mỗi ngày. Tuy nhiên, trong lớp học các em tham gia các hoạt động học tập cũng chưa được tự tin, tích cực và sáng tạo trong học tập. Nhiều khi các em cũng chưa quan tâm đến thầy cô giáo và bạn bè, lời ăn tiếng nói của các em cũng chưa được nhẹ nhàng, thân thiện. Đôi khi các em còn chưa tự giác trong học tập và tự quản, chưa chấp hành tốt nội quy của nhà trường và của lớp học. Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã mạnh dạn áp dụng các giải pháp sau: 3. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN Một trong những giải pháp tích cực để xây dựng “Trường học thân thiện – học sinh tích cực” là xây dựng “lớp học thân thiện”. Để giúp nhà trường xây dựng “lớp học thân thiện”, trong phạm vi đề tài, tôi đưa ra các biện pháp sau: 3.1. Trang trí lớp học thân thiện Chúng ta có thể hiểu rằng: Lớp học thân thiện là lớp học được trang trí đẹp, có ‎ý‎ nghĩa và mang tính giáo dục cao. Việc trang trí lớp học một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh sẽ giúp cho các em biết yêu và tạo ra cái đẹp, giúp các em có ý thức gìn giữ trường lớp của mình. Cái khó là trang trí làm sao cho hài hoà, phù hợp, đẹp mà không tốn kém, màu sắc mà không loè loẹt, nhiều mà không rối. Các góc được bài trí đẹp đẽ tao nhã, từ góc nghệ thuật đến góc sáng tạo, mỗi góc mỗi vẻ. Các góc đó vừa là nơi các em có thể tìm tư liệu trong học tập vừa là nơi mà sản phẩm của các em được trưng bày một cách khoa học, sáng tạo, sinh động từ những bài viết chữ đẹp, những bài thủ công, đến những lời nhắc nhở học sinh, dự báo thời tiết trong ngày các phòng học như khang trang hơn, sạch đẹp hơn, gắn bó thân thiện hơn với thầy và trò. Mỗi một môn học, trong lớp các em có một góc để tìm tư liệu, trưng bày sản phẩm: – Góc Tiếng Việt: Có các bài văn hay của các học sinh trong lớp, từ điển thành ngữ – tục ngữ, từ điển Tiếng Việt (các từ em hay gặp trong bài học), tập bài viết chữ đẹp của các bạn trong lớp, mặt nạ đóng vai trong môn tập đọc. – Góc Toán: Có thư viện Toán học (ghi các công thức, quy tắc tính, các bài toán hay…), các câu chuyện Toán học, các trò chơi Toán học (Đôminô, câu cá, mèo uống sữa…), các biểu đồ, hay phần sưu tầm về các nhà Toán học. – Góc Khoa học: Nơi sưu tầm những điều lí thú về khoa học, ứng dụng của khoa học trong cuộc sống hàng ngày, thế giới động-thực vật. – Góc Lịch sử và Địa lí: Có các sự kiện, các nhân vật lịch sử, tranh ảnh sưu tầm về cảnh đẹp đất nước và thế giới. – Góc Nghệ thuật: Nơi trưng bày các sản phẩm thủ công, tranh vẽ của các HS trong lớp. Ngoài ra, lớp học còn được trang trí bởi góc khác: Chúc mừng sinh nhật, Điều em muốn nói, ảnh chụp của các học sinh trong lớp, hoa điểm mười, các câu khẩu hiệu thân thiện. Như vậy, đến lớp các em được chào mừng, được thấy hình ảnh của mình và bạn bè, các em sẽ có cảm giác đang bước vào một ngôi nhà chung mà trong đó các em là những chủ nhân đích thực. Các em tự tin hơn, đoàn kết hơn và chủ động hơn trong các hoạt động ở lớp. Một số hình ảnh trang trí lớp của lớp 4C (2015-2016),lớp 4A (2016-2017) Trường Tiểu học Thiệu Long 3.2. Thay đổi cách cư xử của giáo viên – Sử dụng lời nói, ánh mắt và cử chỉ thân thiện Lời nói là phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ trực tiếp của người thầy với học sinh. Nếu giáo viên có được ngôn ngữ chuẩn, tế nhị, giàu hình ảnh và đạt giá trị biểu cảm cao sẽ thu hút được học sinh chú ý trong tiết dạy. Ngoài giá trị nội dung của ngôn ngữ, giáo viên còn phải diễn đạt nó bằng âm điệu phù hợp, các lệnh đưa ra phải rõ ràng, tạo được sự hào hứng, kích thích nhu cầu tìm hiểu của học sinh. Ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ là những phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ nhưng cũng không kém phần quan trọng trong quá trình giao tiếp giữa giáo viên với học sinh. Khi giáo viên bước vào lớp, một nụ cười hiền hậu cùng với ánh mắt vui lướt qua toàn lớp học sẽ tạo ra những xúc cảm tâm lý, giúp các em thoải mái và tự tin để bắt đầu tiết học. Trong tiết dạy, giáo viên cần di chuyển trong lớp học một cách hợp lí, không đứng quá lâu ở vị trí bàn giáo viên hoặc bục giảng sẽ tạo ra một khoảng cách biệt lớn với học sinh. Khi học sinh làm bài hoặc hoạt động nhóm, tôi thường đi xuống lớp vừa là để quan sát cụ thể cách làm việc của các em vừa là để hướng dẫn kịp thời (nếu cần). Khi học sinh tổ chức các hoạt động tập thể, tôi thường ngồi cùng các em ở phía dưới lớp, tạo sự chủ động hoàn toàn cho học sinh. Trong quá trình dạy học, tôi đặc biệt tránh những lời ra lệnh khô khan, những cử chỉ thiếu thân thiện như đập thước kẻ xuống bàn, chỉ tay vào mặt học sinh… Hãy để các em thấy được sự tôn trọng của thầy cô với mình. – Hãy khen ngợi, đừng chê bai: Khen ngợi là việc làm không thể thiếu trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục tiểu học. Khi học sinh làm được việc tốt thì phải khen ngợi ngay để khích lệ, động viên. Một lời khen có hiệu quả giáo dục gấp nhiều lần so với những lời chỉ trích, chê bai. Đặc biệt với học sinh cá biệt thì lời động viên, khen ngợi như là liều thuốc tinh thần giúp các em thay đổi hành vi theo hướng tích cực. Khen ngợi kịp thời không những làm thay đổi hành vi của học sinh theo hướng tích cực mà còn là động cơ thúc đẩy quá trình học tập của các em. Trong học tập, sự cần cù có phần bù đắp cho sự thiếu thông minh. Nếu khen ngợi, động viên kịp thời sẽ giúp học sinh ham thích và dẫn tới chăm chỉ trong học tập. Nếu phải cân nhắc giữa hai điểm số khi cho điểm học sinh thì bạn hãy chọn điểm cao hơn. Hãy chắp cho đứa trẻ đôi cánh, hãy tin ở các em, cho các em hy vọng. – Tạo tiếng cười trong mỗi tiết học: “Tiếng cười là liều thuốc bổ”. Tiếng cười trong dạy học – giáo dục sẽ làm tan đi không khí căng thẳng của tiết học. Không những thế, tiếng cười còn tạo ra sự hưng phấn để kích thích suy nghĩ. Những người thông minh thường có tính hài hước, chính sự hài hước lại tác động vào não để kích thích tư duy. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi luôn vận dụng tính hài hước để thu hút sự chú ý của học sinh, làm tăng tính hấp dẫn của vấn đề cần truyền đạt, giúp quá trình hình thành kiến thức diễn ra tự nhiên và nhẹ nhàng, đem lại kết quả cao. Bên cạnh đó, không khí lớp học trở nên thân thiện hơn, có hứng thú để bắt đầu cho những tiết học khác. – Quan tâm và chia sẻ: Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn giáo dục các em có thói quen biết quan tâm, chia sẻ, động viên, thăm hỏi lẫn nhau trong học tập cũng như trong cuộc sống. Giáo viên chủ nhiệm cũng cần phải nắm được ngày sinh của các em trong lớp và thông báo trên bảng tin của lớp để lớp tổ chức sinh nhật cho bạn của mình. Quà sinh nhật có thể là những lời chúc mừng hay những lời ca tiếng hát của các bạn trong lớp. Điều này giúp các em thấy được sự quan tâm của cô giáo và các bạn trong lớp. Từ đó, giúp các em tự tin hơn trong học tập, rèn luyện cũng như việc tham gia các hoạt động tập thể. Góc sinh nhật Giáo viên là người rất gần gũi với học trò, vì vậy tôi luôn cố gắng để các em cởi mở với thầy cô. Tôi vừa là bạn vừa là thầy của các em. Trong quá trình giảng dạy tôi không che giấu tình cảm của mình với các em, nhưng tuyệt đối ưu ái đặc biệt với một vài em nào đó. Tôi luôn cố gắng tìm những ưu điểm ẩn sâu trong mỗi em. Có thể chính các em cũng không biết mình có những ưu điểm đó. Tôi luôn sống hết mình với các em. Vui cùng vui, buồn cùng buồn. Đùa nghịch và dạy dỗ các em. “Thương yêu, công bằng, kiên trì và trung thực” là khẩu hiệu của tôi. GV cùng HS chăm sóc cây xanh 3.3. Tăng cường sự tham gia của học sinh Việc làm này hết sức có ý nghĩa, đó là: Học sinh được tham gia, được cung cấp thông tin, được bày tỏ ý kiến của mình, ý kiến của các em được lắng nghe và tôn trọng. Giúp các em hiểu, tôn trọng và thực hiện tốt nội quy do chính các em đề ra. Giúp các em rèn kỹ năng giao tiếp, bày tỏ ý kiến và tham gia quá trình ra quyết định. Phát huy tinh thần tập thể, nâng cao tinh thần trách nhiệm cho học sinh. Làm tốt điều này, chúng ta đã khơi dậy sự tự tin trong mỗi em học sinh. Khi đó các em sẽ đạt tới nhiều đỉnh cao trong học tập. – Xây dựng hòm thư “Điều em muốn nói”:  Chúng ta biết rằng, không phải lúc nào học sinh cũng có thể trực tiếp nói thẳng mong muốn, suy nghĩ của các em với thầy cô giáo, với nhà trường. Vì vậy, thông qua hòm thư “Điều em muốn nói”, các em học sinh được tự do bày tỏ những khúc mắc, băn khoăn, của bản thân về cuộc sống quanh các em, về trường, lớp, bạn bè và thầy cô. Đó còn là nơi để các em chia sẻ những những tâm tư, nguyện vọng và cả những ước mơ của mình về tương lai. Xây dựng hòm thư Điều em muốn nói sẽ giúp giáo viên rút ngắn khoảng cách giữa thầy và trò; giáo viên được lắng nghe những chia sẻ, mong muốn của các em để từ đó kịp thời có những điều chỉnh hợp lý, nhằm ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục, tạo môi trường thân thiện trong lớp học. Góc ” Điều em muốn nói” – Đôi bạn cùng tiến: Trong lớp bao giờ cũng có nhiều đối tượng học sinh, ngoài những học sinh khá – giỏi còn có những học sinh xếp loại trung bình và yếu kém. Để các em học sinh yếu kém không bị tự ty, mặc cảm và thụ động trong học tập, tôi đã xây dựng các mô hình học tập như “Đôi bạn điểm 10”, “Đôi bạn cùng tiến”, để cho các em khá – giỏi kèm cặp các em yếu kém. Sau một thời gian (thường là hết một học kỳ), tôi tổ chức cho lớp bình chọn những đôi bạn cùng tiến xuất sắc, biểu dương sự nỗ lực của các em và có phần thưởng tuy không lớn nhưng có giá trị động viên kịp thời khiến các em thấy được giá trị của những cố gắng . Tôi thường lồng ghép tổ chức trò chơi học tập trong các tiết dạy một cách phù hợp, tạo được sự hứng thú cho các em. VD: Trong tiết Luyện từ và câu Luyện tập viết hoa danh từ riêng, tôi tổ chức trò chơi Du lịch trên bản đồ; trong những tiết toán tôi có thể tổ chức trò chơi Ô hình rắn; Những tiết Luyện từ và câu thuộc bài Mở rộng vốn từ có thể tổ chức trò chơi Hãy tập trung…. – Tổ chức các hoạt động tập thể: Lứa tuổi Tiểu học rất ham chơi, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn học của HS.Vì thế, tạo một sân chơi lành mạnh, bổ ích thân thiện cho học sinh là điều cần thiết. Tôi thường tổ chức cho học sinh của mình các hoạt động tập thể như tô tượng, vào thư viện, thi Trạng nguyên nhỏ tuổi, giao lưu các Câu lạc bộ, Rung chuông vàng, tổ chức biểu diễn văn nghệ vào các ngày lễ kỉ niệm lớn 8/3, 20/10, 20/11… Biểu diễn văn nghệ, hoạt động chào mừng các ngày lễ tết, giao lưu các Câu lạc bộ. Tham gia các hoạt động Hướng về nguồn cội như: Tham quan tìm hiểu các di tích lịch sử ở địa phương, thăm hỏi các mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ. Trong các hoạt động đó, học sinh hoàn toàn chủ động từ việc lên kế hoạch trước cả tuần, chuẩn bị, trang trí , thực hiện, dẫn chương trình, tôi chỉ định hướng cho các em và giúp các em những việc mà các em cần đến. Thông qua các hoạt động tập thể này mà tinh thần đoàn kết của lớp

Giải Pháp Xây Dựng Các Bộ Sưu Tập Tài Liệu Số

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CÁC BỘ SƯU TẬP TÀI LIỆU SỐ (PGS.TS. Hoàng Đức Liên,TVVC. Nguyễn Hữu Ty,Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐH Nông nghiệp I)

Thư viện điện tử và Thư viện số là những khái niệm đang còn rất mới ở Việt nam và cũng tồn tại nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau: Thư viện điện tử (TVĐT): Khái niệm về thư viện điện tử được định nghĩa như sau: “Một hệ thống thông tin trong đó các nguồn thông tin đều có sẵn dưới dạng có thể xử lý được bằng máy tính và trong đó tất cả các chức năng bổ sung, lưu trữ, bảo quản, tìm kiếm, truy cập và hiển thị đều sử dụng kỹ thuật số”.

Có thể hiểu theo nghĩa tổng quát là một loại hình thư viện đã tin học hóa toàn bộ hoặc một số dịch vụ thư viện. Là nơi người sử dụng có thể tới để tra cứu, sử dụng các dịch vụ thường làm như với một thư viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa. Nguồn lực của Thư viện điện tử  bao gồm cả tài liệu in giấy và tài liệu đã được số hóa. Có thể hiểu theo nghĩa tổng quát là một loại hình thư viện đã tin học hóa toàn bộ hoặc một số dịch vụ thư viện. Là nơi người sử dụng có thể tới để tra cứu, sử dụng các dịch vụ thường làm như với một thư viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa.Nguồn lực của Thư viện điện tử  bao gồm cả tài liệu in giấy và tài liệu đã được số hóa.

1.Thư viện số (TVS) là một Thư viện điện tử cao cấp trong đó toàn bộ các tài liệu của thư viện đã được số hóa và được quản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tổ chức giúp người dung dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông. Một Thư viện số hoàn chỉnh phải thực hiện được tất cả các dịch vụ cơ bản của thư viện truyền thống kết hợp với việc ứng dụng các lợi thế của công nghệ thông tin trong việc lưu trữ, tìm kiểm và phổ biến nội dung thông tin. Ví dụ: bộ sưu tập số về chủ tịch Hồ Chí Minh gồm các văn bản, các tác phẩm văn học, các văn kiện chính trị do Bác viết và  do người khác viết về Bác;  Những  bài hát, bản nhạc viết về Hồ chí Minh; những đoạn phim, những băng video phản ánh cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng  của Người. Trong điều kiện về kinh phí, nhân lực và cơ sở hạ tầng nói chung của các thư viện đại học hiện nay thì việc đặt ra mục tiêu trước mắt để xây dựng một Thư viện số  là chưa có tính khả thi. Nhưng với mục tiêu xây dựng các bộ sưu tập số thì các thư viện hoàn toàn có thể thực hiện được. 2. Ý NGHĨA CỦA BỘ SƯU TẬP SỐ Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch chiến lược phát triển của một trường đại học, đó  là  việc tăng cường mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ thiết  thực và hiệu quả cho công tác quản lý, công tác đào tạo, nghiên cứu hướng tới mục tiêu trở thành trường đại học tiên tiến đạt chuẩn trong khu vực và trên thế giới. Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà Trường là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu mà nhà Trường đề ra trong Kế hoạch chiến lược phát triển . Để nâng cao  chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học; Trước hết phải tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy của đội ngũ giảng viên, tạo cho giảng viên có nhiều thời gian hơn dành cho nghiên cứu khoa học, nắm bắt những vấn đề mới, sát với thực tiễn khoa học công nghệ  cũng như  kinh tế, xã hội đất nước; Tăng cường và khuyến khích giảng viên trẻ nâng cao trình độ; Hệ thống giáo trình, bài giảng phải từng bước được cập nhật và biên soạn mới để đảm bảo nội dung chất lượng, phải được thiết kế trên cơ sở áp dụng được những công nghệ hiện đại trong đào tạo – Hệ thống công nghệ thông tin và dịch vụ thông tin – thư viện nhà trường.Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 07/11/2006 – Chúng ta bắt đầu hội nhập toàn diện với quốc tế, thực hiện hàng loạt các cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, giảm bảo trợ trong nước, mở cửa thị trường…. Trong Giáo dục và đào tạo đến năm 2009 Nhà nước cho các cơ sở đào tạo nước ngoài đầu tư 100% vốn vào Việt Nam sẽ làm tăng tính cạnh tranh đối với các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam. Do đó yêu cầu các cơ sở đào tạo cần phải đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao chất lượng, từng bước hội nhập với quốc tế, tạo sự cạnh tranh với các đối tác nước ngoài thì mới tồn tại và phát triển. Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên, công tác Thông tin – Thư viện ở các trường đại học phải có sự đổi mới mạnh mẽ và phải đi trước một bước mới đáp ứng được yêu cầu phục vụ thông tin – tri thức cho nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Giải pháp xây dựng  các Bộ sưu tập số trong các thư viện đại học là một bước đi cần thiết để góp phần giải quyết các vấn đề về đổi mới và nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của nhà trường. Bởi lẽ bộ sưu tập số có những đặc tính nổi trội mà dịch vụ thư viện truyền thống chưa có như: – Bộ sưu tập số tạo ra một môi trường và cơ hội bình đẳng rộng mở cho tất cả mọi người đều có cơ hội sử dụng nguồn tài liệu học tập bởi STS không bị giới hạn về không gian và thời gian. Loại bỏ khoảng cách tri thức giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các quốc gia. – Tính linh hoạt và khả năng đáp ứng của tài liệu số trong đào tạo thể hiện ở chỗ một bản tài liệu số có thể cùng lúc phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau, không phụ thuộc vào số lượng người dùng, thời gian và  vị trí địa lý của người học. – Tình hiệu quả của bộ sưu tập số là tiết kiệm thời gian và kinh phí: thư viện đỡ tốn  kinh phí xây dựng kho tàng, kinh phí bổ sung tài liệu, bảo quản và kinh phí trả lương cho người phục vụ. Hơn hết là giúp cho người dùng tin được dễ dàng thuận tiện, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc trong việc tìm thông tin. –  Bộ sưu tập số kết hợp với phương thức thư viện truyền thống sẽ phục vụ có hiệu quả hơn cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo theo  tín chỉ, đào tạo trực tuyến của nhà trường. Giúp cho người học chủ động trong việc sắp xếp thời gian học tập, họ không phải đến thư viện cũng có thể lấy được tài liệu qua hệ thống mạng thông tin ở mọi lúc, mọi nơi. –  Trong điều kiện còn thiếu nguồn tài liệu tham khảo học tập in giấy, thì việc có thêm giải pháp tài liệu số hóa sẽ giúp cho người học có thêm nhiều lựa chọn để phục vụ cho kế hoạch học tập của cá nhân. – Bộ sưu tập số góp phần giải phóng kiến thức, mở rộng đối tượng phục vụ: Phạm vi phục vụ các tài liệu của thư viện không bị bó hẹp trong khuôn viên của nhà trường mà nó vươn tới các vị trí địa lý khác. – Bộ sưu tập số là lựa chọn tối ưu để bảo tồn được lâu dài các tài liệu quý hiếm, ngăn chặn những rủi ro hủy hoại do thời gian, thiên tai, khí hậu và tần suất sử dụng.

3. GIẢI PHÁP XÂY DỰNG BỘ SƯU TẬP TÀI LIỆU SỐ. Quy trình để xây dựng một bộ sưu tập số bao gồm: – Lựa chọn tài liệu đầu vào; – Lựa chọn công nghệ thực hiện; – Số hóa nguồn tài liệu; – Tạo siêu dữ liệu liên kết; – Vận hành, bảo quản và cung cấp dữ liệu; – Xuất, nhập dữ  liệu từ bên ngoài để trao đổi.

3.1 Lựa chọn tài liệu đầu vào: Trước khi thực hiện số hóa nguồn tài liệu, chúng ta phải đưa ra các tiêu chí để làm căn cứ lựa chọn những tài liệu nào cần thiết đưa vào bộ sưu tập. Có những tiêu chí mà chúng ta phải quan tâm như sau: – Tiêu chí tình trạng bản quyền của tài liệu: Vấn đề bản quyền thực sự đang là rào cản làm nhụt chí những người có tâm huyết với công việc số hoá tài liệu thư viện. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta chưa thực sự nắm vững những quy định cụ thể của Luật bản quyền (Luật sở hữu trí tuệ). Các cơ quan chức năng nhà nước cũng chưa có những văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành. Theo Luật sở hữu trí tuệ của Việt nam ban hành năm 2005 thì tại điều 25 khoản (a) và (đ) có quy định: những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao:cụ thể như sau: a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân; đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu; Khái niệm về phạm vi không gian khuôn viên thư viện hiện nay cũng cần phải xem xét lại: đối với một thư viện truyền thống thì phạm vi khuôn viên thư viện là một không gian nằm trong hàng rào của trụ sở thư viện. Nhưng với một thư viện số thì khuôn viên thư viện không phải như vậy mà là phạm vi những  bạn đọc được thư viện cho phép truy cập sử dụng tài liệu dưới sự giám sát bằng một công cụ tin học cho dù người đó sử dụng từ bên ngoài thư viện. Với khái niệm này thì việc vận dụng Luật sở  hữu trí tuệ vào số hoá tài liệu thư viện sẽ dễ dàng hơn. – Theo tiêu chí nhóm người dùng mà thư viện xác định mức độ ưu tiên phục vụ: + Cán bộ lãnh đạo; + Giảng viên, cán bộ nghiên cứu; + Cán bộ kỹ thuật; + Sinh viên; + Các đối tượng khác. – Theo tiêu chí điều kiện bảo quản hiện tại: Tùy tình hình cụ thể của từng thư viện trong tình trạng điều kiện bảo quản kêt hợp với nội dung tài liệu mà quyết định lựa chọn tài liệu đưa vào. Ví dụ: ưu tiên cho các tài liệu in trên giấy ròn, dễ rách, có hóa chất bảo quản. – Theo tiêu chí các loại tài liệu đặc biệt: Tài liệu độc bản, tài liệu quý hiếm, thời gian xuất bản (Luận án tiến sỹ, tài liệu cổ, tài liệu cẩm nang chuyên ngành)… 3.2 Lựa chọn công nghệ Việc lựa chọn công nghệ để tiến hành thực hiện rất quan trọng bởi vì nó là công cụ đắc lực giúp ta thực hiện các công việc trong quy trình tạo lập và vận hành của bộ sưu tập số. Do đó công nghệ để thực hiện phái đáp ứng các yêu cầu: – Là công cụ, môi trường để đảm bảo các tài liệu số hóa sau khi được tạo lập sẽ dễ dàng, thuận tiện cho người dùng tiếp cận; – Có đủ độ tin cậy cho người quản trị và kỹ thuật viên trong quá trình tạo lập, bảo quản và cung cấp dữ liệu trong  quá trình hoạt động của bộ sưu tập; – Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về chuẩn nghiệp vụ thông tin – thư viện; – Dễ dàng trao đổi dữ liệu với các chuẩn khác, có công cụ sao lưu an toàn dữ liệu. Dựa theo các yêu cầu  nêu trên, để bộ sưu tập số phát huy được hết tác dụng, thư viện khi thực hiện tạo lập bộ sưu tập số cần  phải có cơ sở hạ tầng sau: + Phải có hệ thống mạng Intranet được kết nối Internet với đường truyền đủ đáp ứng cho số người dùng tối thiểu của thư viện (hiện nay hầu hết các trường đều đã xây dựng. Mạng LAN của thư viện là một nhánh của hệ thống Intranet của trường ). + Hệ thống máy chủ đủ mạnh để đáp ứng việc lưu trữ, bảo quản, cung cấp dữ liệu và quản lý người dùng và các phần mềm hệ thống có bản quyền. + Trang Web đăng tải và là cổng truy cập của  người dùng vào bộ sưu tập. + Phần mềm quản lý tài liệu số: Hiện nay cũng có nhiều phần mềm, trong đó có phần mềm nguồn mở  Greenstone (Hòn đã xanh) và một số phần mềm do các công ty và cá nhân xây dựng. Công ty Tinh Vân đã phát triển thêm một phân hệ quản lý tài liệu số trong hệ quản trị thư viện điện tử LIBOL phiên bản 6.0. Phần mềm quản lý tài liệu số phải đáp ứng các yêu cầu  như: + Tạo siêu dữ liệu: có 3 dạng siêu dữ liệu: – Siêu dữ liệu mô tả: Mô tả các thông tin về tài liệu; – Siêu dữ liệu quản trị: gồm tạo kích cỡ tập tin;  Định dạng tài liệu (PDF); Đặc tính sử dụng và tình trạng của tài liệu. + Mô tả dữ liệu: (theo một trong các chuẩn siêu dữ liệu: MARC; Dublin core; MODS; METS, ISO 2709 ) trong đó chuẩn Dublin Core là dùng tương đối phổ biến vì có khả năng tùy biến cho các tiêu chuẩn khác với 16 trường biên mục. + Quản lý các nguồn dữ liệu truy cập được cho phép (phần này chưa có trong các phần mềm nguồn mở) . Theo đó chỉ có các thành viên đã được đăng ký mới được quyền truy cập vào tài liệu (hoặc quản lý chế độ dowload của tài liệu). + Xuất –  nhập dữ liệu để trao đổi với các hệ thống khác theo các chuẩn chung. 3.3. Số hoá nguồn tài liệu Đây là công đoạn đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, kinh phí nhưng lại là khâu dễ dàng thực hiện nhất. Bởi vì hiện nay công nghệ số hóa tài liệu đã tiến bộ rất nhiều. Nếu như trước đây, khi ta muốn số hóa một cuốn sách khoảng 2000 trang thì phải mất hàng mấy ngày để quét từng trang sách. Nhưng hiện nay cũng với cuốn sách đó chỉ mất vài giờ đồng hồ là cho ra một sản phẩm tài liệu số đảm bảo chất lượng tốt, sắc nét, hình ảnh đẹp, giống 100% bản gốc và đặc biệt còn cho phép tự động tạo các siêu dữ liệu mô tả và siêu dữ liệu cấu trúc của tài liệu ở định dạng XML.  Hiện nay ở Việt nam đã có các thiết bị số hóa tài liệu của công nghệ KIRTAS APT 1200, công nghệ này cùng với thiết bị  BookScan APT 1200 có thể giúp các thư viện có thể số hóa nguồn tài liệu với số lượng lớn, giá cả hợp lý và đảm bảo chất lượng, thiết bị nhận dạng quang học OCR. Đặc biệt là công nghệ KIRTAS APT 1200 có một phần mềm biên tập BookScan Editor cho phép tự động biên tập, tạo siêu dữ liệu theo yêu cầu; BookScan APT 1200 không làm hư hỏng tài liệu gốc do không phải tháo gáy tài liệu đối với tài liệu có độ dày trang khi thực hiện Scan.

Một tương lai với nhiều cơ hội đang chờ đón chúng ta.

Tài liệu tham khảo 1.      TS. Nguyễn Huy Chương, Ths.Trần Mạnh Tuấn. Quan điểm xây dựng chiến lược và mục tiêu phát triển hoạt động TT-TV đại học Việt Nam giai đoạn 2006 –2010. 2.      chúng tôi Nguyễn Minh Hiệp. Thư viện số với hệ thống nguồn mở. Bản tin thư viện công nghệ thông tin, 8-2006. 3.      TS. Vũ văn Sơn. Thư viện địện tử – phúc đáp và trích dẫn . Theo http://www.folis.info 4.      Chỉ thị số 29/2001/CT-Bộ GD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục, giai đoạn 2001-2005 của Bộ GD & ĐT. 5.      Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/11 ngày 29-11-2005 của nước CHXHCN

Các Biện Pháp An Toàn Sinh Học – Biochain

Không có biện pháp tuyệt đối nào để kiểm soát mầm bệnh, nhưng có thể thực hiện các biện pháp an toàn sinh học để giảm bớt sự xuất hiện của mầm bệnh tiềm ẩn.

Nuôi trồng thủy sản cũng giống các ngành nông nghiệp khác, môi trường sản xuất độc canh thường không cân bằng về mặt sinh thái và vốn đã rất căng thẳng. Bệnh là một phần nội tại của tất cả các quy trình nông nghiệp, và nuôi trồng thủy sản cũng không ngoại lệ.

Hiện nay, dịch bệnh là một vấn đề nghiêm trọng tại nhiều trại nuôi tôm, ví dụ như các bệnh do vi khuẩn (Vibrio, NHPB,…), virus (WSSV, YHV, TSV,…) và các bệnh do nấm ký sinh trùng (EHP) đã và đang tàn phá các trang trại tôm trên nhiều quốc gia. Những mối nguy này sẽ tiếp tục lan rộng nếu không tuân thủ theo các thực hành an toàn sinh học.

Tính quan trọng của an toàn sinh học

An toàn sinh học là những quy định và quy trình vận hành được thực hiện để giảm thiểu những tác động của mầm bệnh lên vật nuôi. Nó bao gồm một loạt các hoạt động từ cách quản lý để ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập vào các hệ thống sản xuất đến sử dụng các công cụ giúp tăng khả năng chịu đựng của vật nuôi trong môi trường không cân bằng sinh thái và các công cụ để tăng khả năng miễn dịch.

Không phải tất cả các mầm bệnh tiềm ẩn đều giống nhau, nhưng nhìn chung, các thành phần trong ngành nuôi trồng thủy sản vẫn giống nhau. Do đó, một số các biện pháp an toàn sinh học thông thường được áp dụng chung cho các loài thủy sản.

Không có biện pháp nào có thể ngăn chặn sự xâm nhập của mầm bệnh. Tuy nhiên, việc thực hiện đúng và sử dụng các quy trình cụ thể có thể làm chậm tốc độ biến động của mầm bệnh và bảo vệ ngành nuôi trồng thủy sản không bị ảnh hưởng. Việc không sử dụng biện pháp an toàn sinh học có thể sẽ gây ra những nguy cơ nghiêm trọng đối với ngành nuôi trồng thủy sản.

Mỗi thành phần của quá trình sản xuất được liên kết với nhau. Mầm bệnh có thể dễ dàng di chuyển giữa các giai đoạn sản xuất, cụ thể là tôm bố mẹ có thể lây bệnh cho tôm giống và ấu trùng có thể lây bệnh cho PL. Ngoài ra, mầm bệnh cũng tiềm ẩn trong môi trường và xâm nhập vào hệ thống sản xuất thông qua các con đường khác nhau. Do đó, rất khó để kiểm soát tuyệt đối mầm bệnh, nên việc giảm thiểu việc đưa mầm bệnh tiềm ẩn vào hệ thống sản xuất là những yếu tố quan trọng của an toàn sinh học.

Tôm bố mẹ sạch bệnh (SPF)

Một yếu tố chính của an toàn sinh học là sử dụng bố mẹ SPF khi thả giống. Để lựa chọn tôm bố mẹ SPF, cần chọn những công ty và thương hiệu có uy tín. Tôm bố mẹ phải trải qua nhiều thử nghiệm qua nhiều thế hệ và lịch sử sản xuất động vật SPF.

Sàng lọc tôm bố mẹ

Sàng lọc tôm bố mẹ thông qua các quy trình xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase (PCR). Sự sàng lọc dựa trên quần thể sinh vật có thể mang lại lợi ích về chi phí nhưng không phải là không có rủi ro.

Sàng lọc quần thể – kết hợp với tra cứu nguồn gốc xuất xứ của tôm – là một công cụ mạnh mẽ để phát hiện và loại trừ mầm bệnh, nhưng ngay cả khi quần thể được sàng lọc có đến 98% cá thể sạch bệnh, thì 2% còn lại vẫn có thể gặp vấn đề. Khi xử lý các mầm bệnh tiềm ẩn, 2% đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất.

Cách tốt nhất để chắc chắn rằng mầm bệnh không có mặt là sàng lọc từng con tôm bố mẹ. Tuy nhiên, cách này gây tổn thất về kinh phí rất cao nên không được áp dụng rộng rãi.

Xử lý tôm bố mẹ

Đối với các bệnh do virus gây ra, người nuôi thường hủy car lô tôm và khử trùng ao. Đây là cách làm ít tốn kém hơn so với việc sử dụng các loại thuốc kháng virus.

Đối với một số vi khuẩn, chẳng hạn như tác nhân gây bệnh EMS, việc sử dụng kháng sinh phổ rộng kết hợp với khử trùng ao được xem là phần của các quy trình an toàn sinh học thông thường. Tuy nhiên, trước khi sử dụng, kháng sinh phải trải qua nhiều thử nghiệm để xác nhận độ nhạy cảm của vật nuôi với kháng sinh.

Làm sạch nguồn nước

Mọi trại giống và trang trại nuôi tôm nên kết hợp lọc và xử lý nguồn nước bằng các tác nhân như tia cực tím, ozone hoặc chlorine để đảm bảo rằng nguồn nước ban đầu không có tác nhân gây bệnh.

Các mầm bệnh bề mặt

Các mầm bệnh bám trên bề mặt trứng và ấu trùng, bao gồm virus, nấm và vi khuẩn, có thể được làm sạch thông qua việc sử dụng chất khử trùng bề mặt và nước sạch. Việc rửa sạch và khử trùng bề mặt trứng và nauplii có thể phá vỡ chu kỳ của các tác nhân gây bệnh.

Trứng có thể được rửa bằng các chất khử trùng bề mặt như iodophors, glutaraldehyd, ozone hoặc các hợp chất tiêu diệt virus và vi khuẩn khác, sau đó rửa lại bằng nước sạch. Sau khi trứng nở, cần làm sạch ấu trùng nhằm giảm thiểu khả năng lây truyền mầm bệnh từ bố mẹ sang tôm giống.

Các mầm bệnh được truyền từ tôm bố mẹ sang con qua phân, dịch buồng trứng và tinh dịch bao gồm các bệnh do virus: bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV), Gill- Associated Virus (GAV), bệnh đầu vàng (YHV), Bệnh gan tụy do Parvovirus (HPV), bệnh MBV (Monodon Baculovirus), bệnh đốm trắng (WSSV); do nấm: các loài Lagenidium và Saprolegnia; cũng như vi khuẩn như Vibrio (bao gồm tác nhân gây bệnh EMS (AHPNS).

Nguồn: https://www.aquaculturealliance.org/