Top 6 # Xem Nhiều Nhất Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới

Thứ nhất, cần bảo đảm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận thức sâu sắc về vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia trong tình hình mới, coi đó là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

“Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Đây là sự thể hiện quan điểm xuyên suốt của Đảng ta trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước; nhất là trong tình hình mới, Đảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Các nhiệm vụ này phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng, tác động hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Theo đó, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh cũng có nghĩa là tạo điều kiện, tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; ngược lại, mỗi thành quả của nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội lại tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh của quốc gia. Vì vậy, cần giáo dục nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước nhận thức sâu sắc hơn nữa đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Thứ hai, cần quán triệt và nâng cao hơn nữa trong nhận thức và hành động thực tiễn về mục tiêu, nội dung, yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Thứ ba, cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc vấn đề phát huy sức mạnh tổng hợp cũng như phương châm, phương pháp tiến hành bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

Đảng đã chỉ rõ sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đó là lực lượng của toàn dân tộc. Đảng xác định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Theo đó, cần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm mới không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam, tăng cường quan hệ máu thịt giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. “Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân”; “Tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc” để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; tích cực xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Nghị quyết khẳng định: xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về mọi mặt, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”.

Theo đó, cần nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có số lượng hợp lý, có sức chiến đấu cao; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp, chủ động chuẩn bị lực lượng và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, đủ khả năng bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia trong mọi tình huống…

Đối với Quân đội nhân dân, cần tập trung giáo dục, rèn luyện, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định cho mọi cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm cho lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất năng lực, coi đó là khâu có ý nghĩa quyết định. Tiếp tục triển khai đồng bộ, có hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, gắn với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Không ngừng tăng cường sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang; nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, thực hiện tốt phương châm huấn luyện: “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, sát yêu cầu, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động, phù hợp tổ chức biên chế, trang bị hiện có…

Những quan điểm, chủ trương, định hướng mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, có sự bổ sung, phát triển toàn diện, sâu sắc thể hiện tính cách mạng, khoa học, phù hợp tình hình quốc tế và điều kiện thực tiễn của nước ta; phù hợp ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Trách Nhiệm Công Dân Về Nghĩa Vụ Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới

Quan niệm về nghĩa vụ BVTQ của công dân trong xây dựng LLVT thuộc phạm trù đạo đức và ý thức xã hội, là thành tố hết sức quan trọng về tiềm lực chính trị-tinh thần của nền quốc phòng toàn dân. Nghĩa vụ BVTQ vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm thiêng liêng, đòi hỏi mọi công dân phải chấp hành thực hiện nghiêm những quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Quan niệm và nghĩa vụ tạo thành chỉnh thể vừa tự giác, vừa bắt buộc đối với mọi công dân trong thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm BVTQ, gắn liền với quyền của công dân trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, giữa công dân với tổ chức, giữa công dân với nhau; đi liền và đặt trong mối quan hệ với khái niệm đất nước, Tổ quốc, Nhà nước… Chúng ta BVTQ dựa vào sức mạnh của toàn dân, trong đó LLVT làm nòng cốt. Để BVTQ tất yếu phải tổ chức, xây dựng LLVT vững mạnh.

Quan niệm về nghĩa vụ BVTQ của công dân trong xây dựng LLVT bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, phát triển đến đỉnh cao trong thời đại Hồ Chí Minh. Thực tiễn hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc trường kỳ gian khổ, quan niệm về nghĩa vụ BVTQ, tham gia LLVT trở thành ý thức tự giác của lớp lớp thế hệ người Việt Nam, thành lẽ sống thiêng liêng cao cả, thành sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn… Ý chí chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn gấm vóc của dân tộc Việt Nam hết sức mạnh mẽ, kiên cường, trở thành truyền thống quý báu ngàn đời. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm kéo dài 30 năm, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhiều gia đình có 3-4 thế hệ tham gia kháng chiến; người trước ngã xuống, người sau đứng lên; “lớp cha trước, lớp con sau” lên đường tòng quân ra trận đánh giặc, cứu nước.

Ngày nay, quan niệm về nghĩa vụ BVTQ của công dân có những thuận lợi cơ bản là: Đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất, thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và BVTQ. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo ra hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, nguồn nhân lực… trở thành tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước ở các chặng đường tiếp theo. Đời sống đông đảo nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế đất nước được nâng cao; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc; sức mạnh BVTQ lớn mạnh hơn nhiều so với trước đây; lòng tự hào, tự tôn dân tộc, chủ nghĩa yêu nước tiếp tục được vun đắp, khơi dậy bằng sức mạnh ý chí thống nhất của toàn dân tộc…

Nếu như trong chiến tranh, thiên hướng trội của xã hội là được tòng quân ra chiến trường đánh giặc, cứu nước, cứu nhà thì trong nền kinh tế thị trường, có thể thấy, thiên hướng trội lại là lợi ích. Bởi vậy, để củng cố, nâng cao nhận thức về nghĩa vụ BVTQ của công dân trong tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đồng bộ các chủ trương, giải pháp về chính trị, kinh tế, luật định, về văn hóa, xã hội…; trong đó, cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc chủ trương, giải pháp được xác định trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: “Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên và từng người dân đối với nhiệm vụ BVTQ…”.

Trước hết, cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò công tác giáo dục quốc phòng toàn dân (QPTD). Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, nhằm nâng cao nhận thức về đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với các tổ chức chính trị-xã hội và toàn dân với nhiệm vụ BVTQ. Chủ thể chịu trách nhiệm lãnh đạo giáo dục QPTD là các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở; trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện là chính quyền các cấp, cơ quan quân sự làm tham mưu. Trong nền kinh tế thị trường, các quan niệm về chuẩn mực, thang giá trị… tuy có vận động phát triển, song trong tư tưởng, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam vẫn luôn đề cao các giá trị về đạo lý và tình nghĩa, nhất là các giá trị về sự cống hiến, về danh dự, về đạo đức… Do đó, các hoạt động văn hóa, thông tin tuyên truyền cần hướng vào tôn vinh những giá trị tiêu biểu về công lao cống hiến, hy sinh, đóng góp của các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như sự nghiệp xây dựng và BVTQ ngày nay.

Hai là, xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Một câu hỏi đặt ra là vì sao việc thực hiện nghĩa vụ BVTQ, xây dựng LLVT của nhân dân ta lại phát triển đến đỉnh cao trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Câu trả lời có tính thuyết phục rất cao, là: Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm; mục tiêu lãnh đạo của Đảng đánh đuổi giặc ngoại xâm là để nhân dân ta thoát khỏi sự đàn áp, áp bức, bất công; để toàn thể dân tộc ta được sống trong hòa bình, độc lập, thống nhất; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong cuộc đấu tranh đó, cán bộ, đảng viên của Đảng đều là những người tiêu biểu cả về trí tuệ, phẩm chất, lối sống; gương mẫu đi tiên phong trên mọi lĩnh vực của cuộc đấu tranh…

Ngày nay, đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống của nhân dân được nâng lên hơn nhiều so với trước, nhưng những yếu kém, tiêu cực; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào chế độ. Do vậy, nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải tập trung xây dựng các tổ chức đảng, cơ quan công quyền các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh, đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nguy cơ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng tạo động lực nâng cao nhận thức về trách nhiệm BVTQ của toàn dân.

Ba là, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh… theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Trong thời kỳ kháng chiến chống xâm lược, trách nhiệm và nghĩa vụ của thanh niên là phải tham gia LLVT, toàn dân đánh giặc, đóng góp sức người, sức của cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, BVTQ. Ngày nay, đất nước hòa bình, một số quan niệm, cơ chế, chính sách từ thời chiến tranh đã có những thay đổi lớn, thậm chí không còn phù hợp. Việc điều tiết các lợi ích, các mối quan hệ xã hội đều phải thực hiện theo quy định của Hiến pháp, pháp luật.

Thực tế, một công nhân, một sinh viên tốt nghiệp ra trường, trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp (nhất là ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) có thu nhập khá cao, trong khi một chiến sĩ làm nghĩa vụ quân sự phải công tác trong “môi trường lao động đặc biệt”, xa nhà, thực hiện nhiệm vụ nặng nề và thiêng liêng… nhưng phụ cấp và một số chính sách bảo đảm còn khiêm tốn, thậm chí chưa thỏa đáng. Chế độ chính sách đối với chiến sĩ dân quân tự vệ, theo quy định của luật hiện hành cũng còn thấp, nhất là phụ thuộc vào khả năng thu ngân sách của từng địa phương. Chính sách hậu phương quân đội cũng còn những bất cập, như việc giải quyết nhà ở cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng; việc dạy nghề, giải quyết việc làm cho chiến sĩ sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự…

Thực trạng trên đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, tham mưu đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn, thiết thực động viên toàn dân, nhất là thanh niên tự giác chấp hành nghiêm Hiến pháp, pháp luật về thực hiện nhiệm vụ BVTQ, xây dựng LLVT trong thời kỳ mới, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhất là trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình khu vực, thế giới và những nguy cơ, yếu tố tác động thường xuyên, trực tiếp đến nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng LLVT và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tá DƯƠNG VĂN THỰC

Quan Điểm Của Đảng Về Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới

Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm hệ thống quan điểm, tư tưởng, phương châm chỉ đạo xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết Đại hội XII nhấn mạnh: “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đây là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quán triệt và triển khai thực hiện trong thời gian tới.

Xuất phát từ tình hình thế giới, khu vực và thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới có sự phát triển với nhiều nội dung mới, sâu sắc và toàn diện. Nội hàm cốt lõi của bảo vệ Tổ quốc là: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc gắn chặt với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước. Điều này không chỉ thể hiện tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thay đổi nhanh chóng, đan xen cả thời cơ và thách thức, mà còn biểu thị rõ quyết tâm của Đảng ta xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Điểm mới nữa là, tại Đại hội XII, Đảng ta có tầm nhìn sâu, rộng hơn về không gian và thời gian bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh thế giới, khu vực, nhất là Biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp mới rất khó đoán định, không thể giải quyết thỏa đáng những tranh chấp trong một sớm, một chiều, nên Đảng ta xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng” 2. Theo đó, các cấp, các ngành, các lực lượng, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cần chủ động xác định giải pháp triển khai thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng. Trên cơ sở nhiệm vụ tổng quát, Đại hội XII xác định rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị cũng như nhiệm vụ cụ thể của mỗi lực lượng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” 3. Nhiệm vụ này đã được các kỳ đại hội trước đề cập đến, nhưng chưa thật rõ như Đại hội XII của Đảng – “là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”.

Trước sự phát triển của khoa học công nghệ, các loại hình chiến tranh: truyền thống và phi truyền thống; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, Đảng ta chủ trương: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân” 4. Trong khi các thế lực tập trung đấu tranh đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thì quan điểm của Đảng chú trọng xây dựng Quân đội và Công an “vững mạnh về chính trị”, “tuyệt tối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân” là yếu tố tiên quyết để Quân đội và Công an luôn là lực lượng tin cậy, công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cùng với đó, “Tích cực, chủ động chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc trong mọi tình huống” 5. Quan điểm xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thể hiện rõ tính định hướng chiến lược của Đảng ta về nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, nhằm đảm bảo cho lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh luôn chủ động trước mọi tình huống, không để Tổ quốc bị bất ngờ.

Đại hội XII, Đảng ta khẳng định tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh là phải tập trung mọi nguồn lực của cả hệ thống chính trị xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc”. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” 6. Để làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, quan điểm mới của Đảng chỉ rõ: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng”. Đặc biệt, tại Đại hội này, Đảng ta có quan điểm: “Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”. Đây là một chủ trương đúng, phù hợp với xu thế thời đại và cộng đồng quốc tế. Đồng thời, làm thất bại mọi chiêu bài của các thế lực thù địch hòng lợi dụng lòng yêu nước, kích động các tầng lớp nhân dân đi ngược lại đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cùng với việc thể hiện nhất quán quan điểm “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội”, Đảng ta nhấn mạnh phải “Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược”; “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đây vừa là quan điểm mới, vừa là định hướng chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, quan điểm của Đảng là “Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, lực lượng vũ trang làm nòng cốt”. Đồng thời định hướng rõ: “Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” 7. Quan điểm mới của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc là phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng về nguồn lực, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đại tá, PGS, TS. TRẦN NAM CHUÂN

1 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 147 – 148.

2 – Sđd, tr. 78 – 79.

7 – Sđd, tr. 158-159.

Bảo Vệ Chủ Quyền Các Vùng Biển, Đảo Của Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới

Nắm chắc tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo. (Nguồn: Báo Giáo dục Việt Nam)

Bảo vệ chủ quyền các vùng biển, đảo của Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ này, chúng ta phải quán triệt, thấu suốt quan điểm của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, bảo đảm duy trì hòa bình, ổn định và giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Trong thời đại ngày nay, sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép con người mở rộng khả năng khai thác tài nguyên biển vượt qua các giới hạn về độ sâu và tiến tới khả năng sống ở môi trường biển. Trước sức ép ngày càng tăng về dân số và cạn kiệt dần tài nguyên trên đất liền, tiến ra biển và bảo vệ chủ quyền, tài nguyên biển trở thành một chiến lược lâu dài của nhiều nước trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia ven biển, có những lợi thế về vị trí địa lý tự nhiên và tiềm năng kinh tế, nên tiến ra biển, khai thác và bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có chủ quyền các vùng biển, đảo là một nhiệm vụ chiến lược.

Lịch sử dân tộc ta còn ghi lại bao lời tuyên bố vang vọng mãi với non sông đất nước, thấm sâu trong tâm trí con người Việt Nam như lời thề non nước; trong đó, có lời căn dặn của Bác Hồ khi về thăm Bộ đội Hải quân năm 1961: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Lịch sử dân tộc cũng chứng tỏ rằng, Việt Nam tuy là nước nhỏ (xét cả về lãnh thổ, dân số, tiềm lực kinh tế và quân sự so với nhiều nước đã từng xâm lược nước ta), nhưng vẫn có thể tạo nên sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Đó là chiến lược: “Dĩ đoạn chế trường” (lấy ngắn chế dài) của Trần Quốc Tuấn; “Dĩ nhược chế cường, dĩ quá địch chúng” (lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều), “Dĩ đại nghĩa nhi hung tàn, dĩ chi nhân nhi địch cường bạo” (lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo) theo lời Nguyễn Trãi. Đặc biệt, để tạo nên sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến 30 năm (1945 – 1975) của nhân dân ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta đã biết khai thác và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại để đánh thắng kẻ thù.

Ngày nay, bối cảnh thế giới, khu vực và tình hình trong nước đã đổi thay so với những thời kỳ trước, song truyền thống giữ nước cùng bài học chống ngoại xâm của ông cha vẫn giữ nguyên giá trị. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có các vùng biển, đảo là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình.

1. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về biển, đảo.

2. Kiên trì giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trước tham vọng kiểm soát phần lớn Biển Đông của nước ngoài, chúng ta cần có những biện pháp thích đáng ở các cấp độ khác nhau: song phương, khu vực và toàn cầu. Một mặt, kiên trì theo đuổi các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS; mặt khác, coi trọng sử dụng hiệu quả cơ chế toàn cầu và khu vực, thông qua các diễn đàn của Liên hợp quốc và ASEAN để các tổ chức này có tiếng nói, thể hiện rõ quan điểm đối với hành vi vi phạm chủ quyền của một quốc gia thành viên.

3. Tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh.

Trong bối cảnh bất ổn trên các vùng biển của Tổ quốc hiện nay, việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là Hải quân nhân dân Việt Nam, Cảnh sát biển Việt Nam,

Bộ đội Biên phòng, dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao là một yêu cầu bức thiết. Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển – giữ vai trò nòng cốt và gánh vác trách nhiệm nặng nề trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là các lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo ở khơi xa. Cần phấn đấu để trong tương lai gần, Hải quân ta có đủ các lực lượng: tàu mặt nước, tàu ngầm, Không quân Hải quân, Hải quân đánh bộ và pháo – tên lửa bờ biển…, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ nhân dân ta lao động sản xuất trên biển, sẵn sàng ngăn ngừa và đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược từ hướng biển. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên các vùng biển của Tổ quốc cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và đáp ứng cho sự phát triển trong tương lai. Lực lượng Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư bảo đảm đủ trang bị kỹ thuật, phương tiện khí tài, phương tiện cơ động…, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ – cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên vùng biển được phân công. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ biển theo phương châm “rộng khắp”, ở đâu có tàu, thuyền hoạt động trên biển, có dân định cư ở ven biển và trên đảo, ở đó có dân quân tự vệ; lấy các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng địa phương, bảo đảm tạo thành 3 tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng xây dựng lực lượng hoạt động trên biển, bảo đảm sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Kiểm ngư là lực lượng cần sớm được xây dựng, đi vào hoạt động trong thời gian tới, với các đội tàu được trang bị hiện đại từ cấp Trung ương đến các vùng, các chi cục thuộc 28 tỉnh (thành phố) ven biển. Đây là lực lượng kiểm soát dân sự của Việt Nam, có đầy đủ thẩm quyền để phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu cá nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ chủ quyền quốc gia ở các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

PHẠM TRANG – QUANG CHUYÊN