Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Nguyên Nhân Và Biện Pháp Chống Mỏi Cơ Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Photomarathonasia.com

Giúp Với Ạ Câu 1: Cấu Tạo Tế Bào Câu 2: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Nơ Ron Câu 3: Tính Chất Của Cơ ? Nguyên Nhân Gây Mỏi Cơ ? Biện Pháp Chống Mỏi Cơ. Câu 4: Tính

Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Nhất

Những Cách Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Nhất

10 Cách Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Nhất Hiện Nay

Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Nhanh Nhất

Tránh Thai Tự Nhiên Bằng Cách Tính Ngày An Toàn

Đáp án:

Giải thích các bước giải:

1/ Cấu tạo tế bào gồm: Màng sinh chất, nhân, ti thể, chất tế bào, lưới nội chất, bộ máy Gôngi, ribôxôm và trung thể

*cấu tạo của nơ ron gồm:

– thân: chứa nhân

– các sợi nhánh: ở quanh thân

– 1 sợi trục: dài, thường có bao miêlin (các bao miêlin thường đc ngăn cách bằng eo Răngvêo tận cùng có cúc xinap-là nơi tiếp xúc giữa các nơ ron)

*chức năng: Nơron có hai chức năng cơ bản là:

– cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh.

– Nơron hướng tâm (nơron cảm giác) có thân nằm ngoài trung ương thần kinh, đảm nhiệm chức năng truyền xung thần kinh về trung ương thần kinh.

*t/c: t/c cơ bản của cơ là co cơ và giãn cơ

*nguyên nhân: do cơ nhận đc ít oxi, ít năng lượng hoạt động và sự tích tụ nhìu axit lactic trong hoạt động do cơ

– rèn luyện tập thể dục thể thao và thường xuyên lao động

– bảo vệ và rèn luyện tốt các cơ quan khác

– trong quá trình rèn luyện và lao động cần thực hiện với 1 mức độ vừa sức

*t/c của xương: xương gồm 2 thành phần chính là cốt giao và muối khoáng . Sự kết hợp của hai thành phần này làm cho xương bền chắc và có tính mềm dẻo

*chức năng của:

– mô xương xốp : phân tán lực tác động, tạo các ô chứa tủy đỏ

– sụn: bảo vệ giúp giảm chấn động và tránh sự cọ xát giữa hai đầu xương khi khớp cử động. Phần sụn trong che phủ đầu xương trở thành sụn khớp

* xương:

– dài ra do sự phân chia tế bào ở lớp sụn tăng trưởng

– to ra do sự phân chia tế bào ở màng xương

*biện pháp:

– Tăng cường hoạt động thể chất

– Giảm lượng đồ uống có ga

– Ăn rau xanh đậm

5/ ở người già thì xương bị phân huỷ nhanh hơn sự tạo thành, đồng thời tỉ lệ cốt giao giảm, vì vậy xương xốp, giòn, dễ gãy và sự phục hồi xương gãy diễn ra rất chậm

6/

B1: để nạn nhân nằm yên hoặc ngồi yên đòng thời dùng khăn sạch nhẹ nhàng lau vết thương

B2: đặt nẹp dưới chỗ xương gãy, lót giữa 2 đầu nẹp là băng gạc đồng thời buộc cố định

B3: sử dụng băng quấn chặt từ khuỷu tay với cổ tay quấn như vậy 2 vòng

B4: buộc dây đeo cẳng tay vào cổ

7/

*máu gồm hai phần chính: các tế bào máu và huyết tương

*chức năng: là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa O 2 từ phổi đến các mô

*Các bạch cầu tham gia bảo vệ cơ thể bằng các cơ chế:

– thực bào: hình thành chân giả để nuốt và tiêu hóa vi sinh vật xâm nhập nhờ bạch cầu trung tính và bạch cầu mono

– tạo kháng thể để vô hiệu hóa kháng nguyên: được thực hiện bởi tế bào limpho B

– phá hủy các tế bào đã bị nhiễm bệnh: được thực hiện bởi các tế bào limpho T

*vai trò của tiểu cầu: là nz mảnh tế bào rất nhỏ hỗ trợ chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu. Nếu mạch máu bị tổn thương, các tiểu cầu sẽ dồn đến điểm này và bám dính vào nhau, tạo thành nút chặn vết hở

Bài 10. Hoạt Động Của Cơ

Các Bạn Giải Giùm Mình Mấy Câu Này Nha, Mấy Bạn Biết Làm Câu Nào Thì Chỉ Câu Đó Nhe. Cám Ơn Mấy Bạn Nhiều!!!câu 1: Tế Bào Trong Cơ Thể Có Chức Năng Gì?câu2: Tim Có Cấu Tạo Như Thế Nào?câu3: Nguyên Nhân Của Sự Mỏi Cơ? Các Biện Pháp Phòng Chống Mỏi Cơ?câu4: Thành Phần Hoá Học Của X

Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai

Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 10: Hoạt Động Của Cơ

Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Việc Sử Dụng Đồ Dùng, Thiết Bị Môn Vật Lý Ở Trường Thcs

Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp Phòng Chống

Một Số Giải Pháp Xử Lý Đối Với Hành Vi “nhũng Nhiễu”, “tham Nhũng Vặt” Từ Thực Tiễn Tại Tỉnh Đồng Nai

Kinh Nghiệm Chống Tham Nhũng Của Singapore

Singapore Và Giải Pháp “4 Không” Trong Cuộc Chiến Chống Tham Nhũng

9 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Trọng Tâm Trong Phòng, Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật

Quân Khu 2 – Phòng, Chống Vi Phạm Pháp Luật Của Học Viên Ở Các Trường Qs Quân Khu

Thứ hai, 11/11/2019 – 09:32′

Tham nhũng “vặt” là vấn nạn của đất nước, đã và đang “gặm nhấm”, làm suy đồi đạo đức xã hội, mục ruỗng thể chế chính trị. Nhận diện, chỉ rõ thực trạng, hệ lụy, nguyên nhân và đề ra giải pháp để từng bước triệt tiêu vấn nạn này là yêu cầu cấp thiết của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trước hết là của cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp.

I – Thực trạng, hệ lụy và nguyên nhân tham nhũng “vặt” ở nước ta

Hiện nay, tham nhũng đã trở thành nguy cơ hiện hữu dẫn đến sự suy đồi văn hóa, đạo đức của con người, xã hội; lực cản không nhỏ đối với sự phát triển của đất nước. Tham nhũng thường có hai loại: tham nhũng “lớn” và tham nhũng “vặt”. Tuy nhiên, ranh giới giữa tham nhũng “lớn” và tham nhũng “vặt” rất mỏng manh, chia ra như vậy là để phân biệt một cách tương đối nhằm tìm ra phương thuốc đặc trị từng loại. Tham nhũng “vặt” là hành vi của những người: “a. Cán bộ công chức, viên chức; b. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; c. Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; d. Người được giao nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”1 lợi dụng chức trách, quyền hạn, nhiệm vụ để nhũng nhiễu, gây khó khăn nhằm vụ lợi từ tổ chức, doanh nghiệp và người dân, với giá trị vật chất không lớn, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi này diễn ra từ lâu, hằng ngày, ở nhiều nơi, nhiều cơ quan, tổ chức và các vị trí khác nhau ở cấp cơ sở2, thậm chí gần như đã trở thành “thông lệ”, “thói quen”,  hình thức “bôi trơn”, “văn hóa” của không ít cán bộ, công chức, viên chức. Nó được ví như “bệnh ghẻ ruồi”, cứ dấm dứt, dai dẳng, dễ lây lan, làm cho từng cá nhân, cả xã hội bức xúc, bất an và “tình trạng tham nhũng “vặt” vẫn chưa được ngăn chặn, kiềm chế”3.

Tham nhũng “vặt” nhưng hậu quả thì không hề “vặt” và rất khó lường. Đó là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; làm xói mòn giá trị đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ; làm hư hỏng cán bộ, gây phiền toái cho nhân dân và những công chức, viên chức chân chính của nhà nước. Tuy giá trị vật chất không lớn, nhưng nó đã góp phần vào làm thất thoát tài sản, công sức của Nhà nước, quyền lợi, vật chất của nhân dân, từng bước “gặm nhấm” làm rối loạn các giá trị chuẩn mực xã hội, làm suy yếu cơ quan công quyền; đồng thời, là cơ sở để cho tham nhũng “lớn” phát triển, làm lũng loạn xã hội. Tham nhũng “vặt” làm mất niềm tin của các nhà đầu tư, làm vẩn đục môi trường kinh doanh, gây nên tiền lệ “xin – cho”, “lót tay” trong đấu thầu kinh doanh, v.v. Đặc biệt, nó là căn nguyên dẫn đến sự giảm sút lòng tin của con người với con người trong xã hội, của các thành viên trong tổ chức; là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng công kích, chống phá Đảng, chế độ và sâu xa hơn là làm xói mòn lòng tin của nhân dân với thể chế chính trị, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước trong lòng nhân dân và trên trường quốc tế. 

Sở dĩ có hiện tượng đó, là do xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, cùng nhau tác động, thúc đẩy làm cho tham nhũng “vặt” ra đời, phát triển. Về nguyên nhân khách quan, tham nhũng dù “lớn”, hay “vặt” cũng đều là hiện tượng xã hội, là biểu hiện của sự tha hóa quyền lực, đạo đức công vụ. Nó tồn tại ở mọi chế độ xã hội có giai cấp, ở mọi hình thức nhà nước, với mức độ khác nhau. Điển hình là, khi trình độ quản lý nhà nước lạc hậu; mức sống của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là ở cơ sở còn thấp; những giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội bị xáo trộn; người dân, doanh nghiệp có xu hướng tìm mọi cách để thực hiện bằng được mục đích trong cuộc sống và tối ưu hóa lợi nhuận trong kinh doanh. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách vận hành, quản lý xã hội, quản lý sản xuất, kinh doanh còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán; việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương còn bất cập; việc quản lý tài sản, vốn của nhà nước còn lỏng lẻo; dư luận xã hội còn thờ ơ, hoặc phản ứng chưa đủ mạnh, thậm chí có lúc “đồng lõa”,… cũng tạo mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, tham nhũng “vặt” tồn tại, phát triển.

Về nguyên nhân chủ quan, là do: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chậm chuyển biến”4. Cùng với đó, công tác cải cách hành chính còn chậm và lúng túng; nạn giấy tờ, thủ tục hành chính còn rất phiền hà, bất hợp lý. Các chế độ kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức chưa rõ ràng, thiếu hiệu quả. Chế độ tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn bất hợp lý, chậm được cải cách. Sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng, tham nhũng “vặt” chưa toàn diện, đồng bộ, thiếu những nội dụng đột phá, thậm chí còn bị coi nhẹ ở một số cơ quan, đơn vị. Việc phát hiện cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chưa kịp thời và khi xử lý thì còn nương nhẹ, nể nang, thiếu cương quyết; chưa có cơ chế khen thưởng những tập thể, cá nhân kiên quyết đấu tranh chống hiện tượng tham nhũng “vặt” và có nhiều thành tích trong loại bỏ tệ nạn xã hội này. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng chưa rõ ràng, còn chồng chéo, cơ chế phối hợp chưa cụ thể, nhất là chưa có những công cụ phát hiện, xử lý tham nhũng, tham nhũng “vặt” thật sự hữu hiệu. Việc huy động, phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, báo chí trong đấu tranh chống tham nhũng, tham nhũng “vặt” chưa được quan tâm đúng mức, còn hình thức, thiếu hiệu quả. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng chưa tạo được sự chuyển biến tích cực, v.v.

Vì thế, nhìn thẳng vào sự thật, nhận diện đúng thực trạng, hệ lụy và nguyên nhân của tham nhũng “vặt”, đề ra những nội dung, giải pháp đủ mạnh để đấu tranh, phòng, chống tham nhũng “vặt” hiệu quả là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trước hết là của cấp ủy, người đứng đầu các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị.

“Bắt Mạch” Tham Nhũng Trong Giáo Dục

Một Số Kết Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo

Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Bệnh Cho Đàn Gia Súc, Gia Cầm Trong Thời Điểm Chuyển Giao Mùa

Nói Quá Trong Tiếng Tiếng Anh

Nói Phóng Đại Trong Tiếng Tiếng Anh

Nguyên Nhân Suy Thoái Tài Nguyên Rừng Và Biện Pháp Khắc Phục

Chính Sách Kích Cầu (Pump Priming) Là Gì? Những Tác Động Của Chính Sách Kích Cầu

Thúc Đẩy Các Biện Pháp Để Kích Cầu Tiêu Dùng

Quảng Ninh: Phát Động Triển Khai Các Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch

Quảng Ninh:​​​​​​​ Triển Khai Các Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch

Quảng Ninh: Tìm Các Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch

Đề bài: Nguyên nhân suy thoái tài nguyên rừng và biện pháp khắc phục

Giáo viên hướng dẫn: Phan Thị Thuý

Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thanh Thuỷ

Lê Thị Mỹ Linh

Lê Minh Khuê

Vũ Ngọc An

Bài làm

A.Đặt vấn đề

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta, rừng không những là cơ sở phát triển kinh

tế – xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà

khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định

và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá

khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí. Nhưng ngày

nay, nguồn tài nguyên quý giá đó đang dần bị suy thoái. Những năm qua, ở Việt Nam nạn phá

rừng, mất rừng ngày càng nghiêm trọng, hàng ngàn diện tích ha rừng càng bị thu hẹp lại. Mất rừng

và suy thoái rừng gây nên hiện tượng sa mạc hoá và làm nghèo đất tại nhiều địa phương. Tình

trạng đó đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và thách thức sự phát triển kinh tế, xã hội và môi

trường như gây lũ lụt, hạn hán gây khó khăn trong việc cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất

trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở nhiều khu vực càng đáng lo ngại hơn, đặc biệt

suy thoái rừng làm phá vỡ các hệ sinh thái quan trọng khác…

Hiểu rõ về hiện trạng rừng Việt Nam, tìm ra các biện pháp khắc phục những hậu quả do suy

thoái tài nguyên rừng gây ra đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay mà chúng ta cần quan tâm.

B.Nội dung

1. Hiện trạng tài nguyên rừng

Nước ta, diện tích rừng bị suy giảm từ 43% xuống còn 28,2% (1943 – 1995). Trong những năm gần

đây diện tích rừng đã không ngừng tăng trở lại (năm 2006 dự báo độ che phủ của rừng khoảng 38

%, trong khi đầu những năm 90 chỉ còn khoảng 27-28 %).

1

Diễn biến diện tích rừng qua các thời kì

Đơn vị tính:1.000.000ha

Năm

Loại rừng

1945 1976 1980 1985 1990 1995 1999 2002

Tổng diện tích 14300 11,169 10,608 9,892 9,175 9,302 10,995060 11,784589

Rừng trồng 0 0,092 0,422 0,584 0,745 1,050 1,524323 1,919569

Rừng tự nhiên 14300 11,076 10,186 9,3083 8,4307 8,2525 9,470737 9,865020

Độ che phủ (%) 43,0 33,8 32,1 30,0 27,8 28,2 33,2 35,8

Nguồn:Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn,tính đến tháng 12 năm 2003

2.Nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng

Với rất nhiều nguyên nhân tác động trực tiếp nhưng có thể kể đến 7 nguyên nhân tiêu biểu

sau đóng vai trò chính của việc góp phần làm suy thoái tài nguyên rừng Việt Nam, và những

nguyên nhân trên tương đương với mức độ quan trọng của chính bản thân nó:

-Chuyển đổi mục đích sử dụng đất

-Khai thác nguồn lâm sản quá mức cho phép

-Cháy rừng

-Sức ép dân số

-Nghèo đói

-Hậu quả của cuộc chiến tranh để lại

-Tập quán du canh du cư

-Các nguyên nhân khác

2

Để có thể nhìn nhận được mức độ suy thoái rừng ở viêt nam đang là vấn đề đáng lo ngại, ta

đi phân tích từng nguyên nhân

2.1 Chuyển mục đích sử dụng đất

Chuyển đổi mục đích sử dụng đất chính là sự mở rộng đất nông nghiệp, đất sản xuất, là mở

rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn sâu vào đất rừng, là nguyên nhân quan trọng nhất làm

suy thoái tài nguyên rừng, suy thoái đa dạng sinh học. Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm là hậu quả

làm suy thoái rừng. Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu

người dân nghèo ven biển Việt Nam. Đặc biệt rừng ngập mặn ở Nam Bộ là những căn cứ kháng

chiến vững chắc, nơi cất giấu vũ khí chuyển từ miền Bắc vào trong cuộc chiến tranh Đông Dương

lần thứ hai. Do vị trí chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, nên hệ sinh thái rừng ngập mặn

có tính đa dạng sinh học rất cao. Rừng ngập mặn là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, đê

biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt. Do chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái

rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất

khẩu nên rừng ngập mặn Việt Nam đã bị suy thoái nghiêm trọng.

Ngoài ra con người còn chuyển đổi 1 số lượng lớn diện tích rừng để làm các khu du lịch,các

khu nghỉ mát. Vừa qua uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã cho phép chuyển đổi mục đích

sử dụng 20% diện tích trong tổng số 56 ha đất rừng phòng hộ để xây dựng cơ sở hạ tầng và các

công trình phục vụ di lịch.

2.2 Khai thác nguồn lâm sản quá mức.

Khai thác nguồn lâm sản đang là tình trạng đáng lo ngại hiện nay đối với tài nguyên rừng

Việt Nam. Đây là nguyên nhân quan trọng trực tiếp dẫn đến rừng bị suy thoái một cách nghiêm

trọng làm cho sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên, sự phong phú về các loài sinh vật, độ che phủ và

chất lượng rừng bị giảm sút gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sinh vật và cây trồng trên toàn

cầu. Khai thác rừng là hành động do chính con người tạo ra là phần lớn, vì rất nhiều mục đích khác

nhau mà con người đã sử dụng dưới nhiều hình thức để tác động và tàn phá tài nguyên rừng. Với

các mục đích khác nhau cho nên hoạt động khai thác nguồn lâm sản ở đây được chia thành 3 hoạt

động: khai thác gỗ, khai thác củi, khai thác lâm sản ngoài gỗ.

3

*Khai thác gỗ. Trong giai đoạn từ năm 1986-1991 các lâm trường quốc doanh đã khai thác

trung bình 3,5 triệu m

3

gỗ mỗi năm ( khoảng 80.000 ha rừng), đó là chưa nói đến hậu quả của

nạn khai thác trộm gỗ đã xảy ra khắp mọi nơi thậm chí cả trong các khu bảo tồn. Kết quả là rừng

đã bị suy giảm nhanh chóng cả về diện tích lẫn chất lượng. Ngày nay, khi giá gỗ tăng cao, con

người đã không ngừng tiến hành khai thác các loài nhóm gỗ trên theo các mục đích của mình. Họ

khai phá để phục vụ cho các công trình xây dựng như làm giàn giáo, cốppha. Đối với loài gỗ bền

chắc thì họ khai thác để xây dựng nhà ở, đối với loài gỗ quý hiếm thì họ khai thác nhằm để bán và

xuất khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xa xỉ của con người. Việc khai thác các loài gỗ quý hiếm để

phục vụ mục đích kinh doanh xuất khẩu hiện nay đang là một nguồn lợi tức đáng kể cho quốc gia

có trữ lượng lớn gỗ quý như Việt Nam.

Với tốc độ đáng lo ngại, nạn khai thác rừng diễn ra chủ yếu ở các khu rừng nhiệt đới

đang dần đưa đến nguy cơ mất rừng.

*Khai thác củi . Đối với các loại gỗ ngoài giá trị xây dựng công trình, xây dựng nhà ở, phục

vụ kinh doanh xuất khẩu thì những loại thực vật kém giá trị khác lại được con người khai thác với

mục đích là làm củi đốt. Trong phạm vi toàn quốc, 90% năng lượng dùng cho gia đình là các sản

phẩm từ thực vật, hàng năm 1 lượng củi khoảng 21 triệu tấn được khai thác từ rừng để phục vụ cho

nhu cầu sinh hoạt trong gia đình và lượng củi này nhiều hơn lượng gỗ xuất khẩu hàng năm. Hơn

nữa, Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, đời sống của người dân đang dần có sự

biến đổi nhưng tỉ lệ thay đổi đó vẫn còn thấp. Nhiều người dân ở vùng miền núi và nông thôn

chiếm một phần dân số đông so với cả nước, đã theo thói quen trong sinh hoạt họ chỉ dùng củi để

làm nguyên liệu đốt và dùng với lượng củi khá cao. Những hộ gia đình nghèo không có đất sản

4

xuất, vốn đầu tư đã vào rừng khai thác củi bán đều có thêm thu nhập. Với dân số 84 triệu người

hiện nay, thì nhu cầu về lượng củi đốt như hiện nay cũng tăng theo. Đây là vấn đề đáng lo ngại cho

việc tàn phá rừng tiếp tục tiếp diễn.

Ông Nguyễn Dài, xã Phú Thuận ngồi chẻ những gốc cây được bốc

lên từ rừng phòng hộ ven biển để… lấy củi. Ảnh: Nguyễn Phương.

*Khai thác lâm sản ngoài gỗ. Rừng không chỉ có giá trị về gỗ mà còn có các giá trị lâm sản

ngoài gỗ. Đây có thể xem là nguyên nhân tác động làm suy kiệt tài nguyên rừng nhanh nhất. Lâm

sản ngoài gỗ bao gồm các loài động vật quý, động vật hoang dã… và các loại thực vật mà cho các

sản phẩm ngoài gỗ như: song, mây, tre, nứa, lá các loại cây thuốc, dầu… Tất cả các loài trên có thể

được sử dụng trong gia đình, bán và xuất khẩu cho nên tình trạng khai thác, buôn bán trái phép,

xuất khẩu các loài động vật thực vật đang được diễn ra mạnh mẽ. Ở Việt Nam trong những năm

gần đây, việc buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm từ động vật và thực vật quý hiếm, kể cả những

5

loài được bảo vệ đang phát triển rất nhanh. Vì thiếu kế hoạch quản lý hợp lý, thiếu sự kiểm tra chặt

chẽ trong việc khai thác tài nguyên sinh vật rừng mà ở nhiều vùng, một số loài động vật như tê

giác, hổ, báo, voi, gấu, khỉ…, các loại cây như: pơmu, trầm hương, gõ đỏ…đã ngày càng trở nên

rất hiếm. Giá trị xuất khẩu cao của các loài nói trên cùng với sự kém hiểu biết, hám lợi nhuận đã

thúc đẩy con người tìm cách săn bắt chúng ở khắp mọi nơi. Cùng xuất phát từ sự nghèo đói mà

người dân đổ xô vào rừng khai thác các nguồn lâm sản ngoài gỗ. Và đang còn rất nhiều hoạt động

khai thác các loài động vật thực vật khác theo từng mục đích riêng ảnh hưởng tới môi trường. Các

hoạt động khai phá trái phép này kéo dài âm ỉ, liên tục, tốc độ của sự phục hồi rừng không kịp với

tốc độ phá rứng cho nên rừng đang bị suy thoái. Cần có các biện pháp tích cực để ngăn chặn và

làm giảm các hoạt động trái phép này.

2.3. Cháy rừng

Cháy rừng cũng là một nguyên nhân quan trọng làm suy thoái tài nguyên rừng một cách rất

nhanh gây ảnh hưởng tới các hoạt động sống của sinh vật trên một diện tích rộng lớn và gây ra hậu

quả xấu như xói mòn, lũ lụt, hạn hán đến cuộc sống con người. Ngày nay cháy rừng cũng do nhiều

nguyên nhân gây ra, chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân như: hiện tượng elnino gây ra, do

các hoạt động khai thác của con người như đốt lửa tìm mật ong, tìm mật gấu hay đốt hương tìm mộ

liệt sĩ trong chiến tranh, do hoạt động đốt nưong làm rẫy của người dân tộc miền núi… những

nguyên nhân này đều có thể khiến rừng bị cháy.

6

Với tổng diện tích rừng bị cháy là 2.304,07 ha; diện tích rừng tự nhiên 962.79 ha; diện tích

rừng trồng là: 1.341,28 ha; số vụ được cứu là 440 vụ so với năm trước là 138 vụ cháy với tổng diện

tích là 551.40 ha. Kết quả này cho thấy số vụ cháy rừng năm nay cao hơn và đang ở mức cảnh báo

như: 6.000 ha rừng ở Đồng Tháp có nguy cơ cháy, Rừng An Giang báo động nguy cơ cháy cấp độ

5, nhiều khu vực đang ở cấp cảnh báo cháy rừng cực kỳ nguy hiểm như Nghệ An, Thừa Thiên

Huế… Và hầu hết các diện tích rừng bị cháy đều nằm trong những vùng nhạy cảm như rừng đầu

nguồn, đất dốc, vùng sinh thái đất ngập nước, rừng tràm, vùng rừng chống cát di động nên dễ gây

lũ quét, xói lở, đất dễ bị khô hạn và thoái hoá. Cháy rừng sẽ nhanh chóng lan ra trên một diện tích

rộng lớn và rất khó dập tắt cho nên thiệt hại cũng rất nghiêm trọng. Sự phục hồi và tái tạo lại rừng

trong điều kiện này là rất chậm vì thế mà tài nguyên rừng đang cạn kiệt dần đi. Do vậy, đòi hỏi ý

thức bảo vệ của người dân và dân và cần có sự quản lý chặt chẽ, sự quan tâm nguồn tài nguyên

rừng của ngành kiểm lâm để hạn chế được sự suy giảm diện tích tài nguyên rừng.

2.4 Sức ép dân số

Tăng dân số nhanh là một trong những nguyên nhân chính làm suy thoái đa dạng sinh học,

suy thoái môi trường. Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu trong sinh hoạt và các nhu cầu thiết

yếu khác, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp. Sự gia tăng về mật độ dân đã dẫn đến

nạn phá rừng và sự suy thoái nghiêm trọng về các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay

dân cư ngày càng tập trung ở các đô thị để dễ dàng trao đổi buôn bán… thoã mãn nhu cầu của họ,

gây nên tình trạng mất cân đối giữa dân cư ở nông thôn và thành thị. Người dân ồ ạt ra thành thị

kiếm sống dẫn đến tình trạng đô thị hoá, đòi hỏi nền kinh tế ở khu vực này phải phát triển tương

đối để đáp ứng đầy đủ việc làm cho người dân. Và khi nhu cầu con người trong tất cả các lĩnh vực

tăng cao, nhu cầu việc làm cũng tăng thì các nhà máy, xí nghiệp, các công ty, cơ sở chế biến… bắt

đầu được hình thành. Nhưng diện tích đất thành thị chỉ chiếm một phần rất nhỏ cho nên tất cả các

hoạt động tiêu dùng và sản xuất, khai thác chế biến không thể diễn ra ở đây, buộc họ phải chuyển

đến một nơi cách xa thành thị, cách xa nơi sinh sống, chuyển đến một địa bàn nào đó để xây dựng

cở sở sản xuất cho mình. Và dần họ lấn chiếm vào rừng, nơi có diện tích khá rộng và tiến hành

khai thác tàn phá rừng để xây dựng các nhà máy xí nghiệp. Ở nông thôn thì dân số tăng thì buộc

người dân phải mở rộng diện tích đất canh tác để sản xuất đủ lương thực đảm bảo cho cuộc sống,

buộc họ phải tiến sâu vào rừng, bắt đầu chặt phá rừng để lấy đất tiến hành sản xuất. Ban đầu chỉ

7

khai thác một phần diện tích nhỏ và sau một thời gian dài, ngoài nhu cầu mở rộng đất canh tác mà

nhu cầu về nhà ở của con người cũng tăng lên. Do nền kinh tế phát triển, giá cả đất tại các đô thị

rất cao nhưng người dân họ không đủ khả năng để mua nhà tại các vùng đồng bằng và đương nhiên

họ sẽ chuyển lên địa bàn mà nơi họ có khả năng mua nhà ở và rừng được xem là địa bàn sinh sống

tiềm năng. Tài nguyên rừng thì có hạn mà nhu cầu con người thì ngày càng tăng và chỉ trong một

thời gian ngắn các loài động vật, thực vật quý hiếm đã bị khai thác cạn kiệt, thậm chí có nguy cở bị

tiêu diệt làm cho số lượng và các chủng loài sinh vật ngày càng giảm đi. Vì vậy, có thể nói sức ép

dân số có tác động rất lớn đối với suy thoái tài nguyên rừng. Con người cần có sự khai thác

hợp lý có kế hoạch để hạn chế khai thác rừng một cách bừa bãi làm giảm tài nguyen rừng

một cách đáng kể.

2.5 Đói nghèo

Suy thoái môi trường có nhiều nguyên nhân trong đó một phần do sự đói nghèo tác động nên.

Đói nghèo luôn đi đôi với sự khan hiếm tài nguyên sản xuất dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên

quá mức làm tăng tình trạng khan hiếm và suy thoái. Với khoảng 80% dân số sống ở nông thôn,

Việt Nam là một nước phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Đất nông nghiệp ở nhiều nơi thiếu

nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời sống rất thấp khoảng 50% gia đình thuộc

vào diện đói nghèo. Vì thiếu ruộng, thiếu vốn đầu tư những người nghèo đói thường phải đến sinh

sống tạo những nơi có điều kiện không thuận lợi mà cần ít vốn đầu tư phải bóc lột đất và tài

nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống làm cho các loại tài nguyên nay dần bị suy thoái nhanh

chóng. Nhưng cũng phải chứng tỏ một điều là: nghèo đói không đồng nghĩa với việc được tàn phá

rừng như hoạt động khai thác gỗ, củi, đặc sản rừng… để đem đi bán. Vì nghèo, không có đất sản

xuất, không có vốn đầu tư, buộc họ phải tàn phá để rừng nuôi sống bản thân và gia đình. Tuy hoạt

động ấy mang tính nhỏ lẻ, manh múm, không ồ ạt nhưng lại được lặp đi lặp lại trong một thời gian

khá dài nên rất khó quản lý và gây nên tình trạng cạn kiệt dần của tài nguyên rừng. Khi rừng ngày

càng giảm về số lượng cây trồng, vật nuôi hay diện tích rừng bị thu hẹp đã dẫn đến hiện tượng hạn

hán lũ lụt, khả năng ngăn chặn xói mòn đất là rất kém. Cho nên mỗi lần thiên tai ập đến lại chính

những người nghèo tiếp tục gánh chịu tổn thất nặng nề hơn do phải sống gần rừng. Vốn dĩ họ đã

nghèo nay lại càng nghèo hơn, sự nghèo đói luôn xây quanh cuộc sống của họ, dường như họ khó

có thể thoát ra được cuộc sống tiếp tục phá rừng lấy gỗ,củi, đặc sản rừng bán để có thu nhập. Vì

8

Hà Nội : Triển Khai Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí

Giải Địa Lý Lớp 7 Bài 9: Hoạt Động Sản Xuất Nông Nghiệp Ở Đới Nóng

Bài 3: Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Dự Án Cải Tạo Hồ Sinh Học Làm Nơi Tiếp Nhận Rác

Hoàn Thiện Quy Định Về Công Cụ Kinh Tế Trong Luật Bảo Vệ Môi Trường (Sửa Đổi)

Doanh Nghiệp Với Vấn Đề Bảo Vệ Môi Trường

Bảo Vệ Môi Trường : Nguyên Nhân Và Biện Pháp ( 4 )

Bảo Vệ Môi Trường : Nguyên Nhân Và Biện Pháp ( 2 )

Biện Pháp Xử Lý Ra Hoa, Đậu Quả Cho Nhãn

Cách Xử Lý Cho Nhãn Ra Hoa Theo Ý Mốn Đơn Giản Nhất

Cách Tránh Thai Cho Mẹ Sau Sinh Phổ Biến Và An Toàn

5 Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Cho Mẹ Sau Sinh

Các nguồn chủ yếu phát sinh ra rác đô thị bao gồm : – Từ các khu dân cư (rác sinh hoạt) – Từ các trung tâm thương mại, – Từ các công sở, trường học, công trình công cộng, – Từ các hoạt động công nghiệp; – Từ các hoạt động xây dựng đô thị; – Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố. (Nguồn tham khảo : Intergrated Solid waste management)

Dựa vào nguồn phát sinh rác thải đô thị, người ta có thể phân loại rác thải đô thị thành:

Rác sinh hoạt : là lượng chất thải sinh ra từ các hoạt động sinh hoạt của con người.

Rác từ khu dân cư và khu thương mại : lượng rác thải này chiếm 50-70% tổng lượng chất thải.

Rác công sở : nguồn rác công sở bao gồm trường học, văn phòng của bệnh viện, nhà tù. Ngoại trừ các chất thải phát sinh từ nhà tù và rác từ bệnh viện, sự phân bố thành phần của rác thải từ các nguồn này khá giống nhau nên có thể lẫn lộn với rác từ khu dân cư và khu thương mại.

Rác xây dựng và phá dỡ rất khó ước tính và có thành phần thay đổi, nhưng chủ yếu gồm 40-50% rác (bê tông, nhựa đường, gạch, đá, bụi,…), 20-30% gỗ và các thành phần làm bằng gỗ (bệ gỗ, gỗ thừa, nhánh cây, gỗ xẻ, ván lợp …), 20-30% là hỗn hợp các loại rác khác (gỗ đã sử dụng, kim loại, sản phẩm chứa nhựa đường, vữa, kính vỡ, amiăng, các vật liệu điện khác, ống nước, các bộ phận cấp nhiệt và cấp điện).

Rác công nghiệp và nông nghiệp điển hình : bao gồm các nguồn như đồ hộp và thực phẩm đông lạnh; in ấn, xuất bản; ô tô, máy móc tự động; lọc hóa dầu; cao su; các loại phân bón; mùa thu hoạch trái cây và hạt ngũ cốc. (Nguồn tham khảo : Intergrated Solid waste management)

Theo Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, chương VI Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư: Điều 50: Quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư: chúng tôi hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư phải là một nội dung của quy hoạch đô thị, khu dân cư. 2. Nội dung của quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư bao gồm các quy hoạch về đất đai cho xây dựng kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường và các hệ thống công trình kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường sau đây: a). Hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế chất thải rắn. b). Hệ thống cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất. c). Hệ thống công viên, khu vui chơi, giải trí, công trình vệ sinh công cộng. d). Hệ thống cây xanh, vùng nước. 3. Cấm xây dựng mới cơ sở sản xuất, kinh doanh tiềm ẩn nguy cơ lớn về ô nhiễm, sự cố môi trường trong đô thị, khu dân cư. 4. UBND cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm lập, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường theo qui định của pháp luật về xây dựng đối với qui hoạch đô thị, khu dân cư. Điều 51: Yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với đô thị, khu dân cư tập trung: 1. Đô thị phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau đây: a). Có kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường phù hợp với quy hoạch đô thị, khu dân cư tập trung đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. b). Có thiết bị, phương tiện thu gom, tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân cư. c). Bảo đảm các yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường. 2. Khu dân cư tập trung phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau đây: a). Có hệ thống tiêu thoát nước mưa, nước thải phù hợp với quy hoạch bảo vệ môi trường của khu dân cư. b). Có nơi tập trung rác thải sinh hoạt bảo đảm vệ sinh môi trường. 3. Chủ đầu tư xây dựng mới khu dân cư tập trung, chung cư phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường tại khoản 1 điều này thì mới được bàn giao đưa vào sử dụng. Điều 53: Yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình: 1. Hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường sau đây: a). Thu gom và chuyển chất thải sinh hoạt đến đúng nơi do tổ chức giữ gìn vệ sinh môi trường tại địa bàn quy định; xả nước thải vào hệ thống thu gom nước thải. b). Không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn và tác nhân khác vượt quá tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của cộng đồng dân cư xung quanh. c). Nộp đủ và đúng thời hạn các loại phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. d). Tham gia hoạt động vệ sinh môi trường khu phố, đường làng, ngõ xóm, nơi công cộng và hoạt động tự quản về bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư. đ). Có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh, an toàn đối với khu vực sinh hoạt của con người. e). Thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong hương ước, bản cam kết bảo vệ môi trường. 2. Thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường là một trong những tiêu chí đánh giá gia đình văn hóa.

Trong Các Biện Pháp Dưới Đây, Theo Em, Biện Pháp Nào Góp Phần Bảo Vệ Môi Trường?

Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Đề Án Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Xác Nhận

Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Đề Án Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Phê Duyệt

Biện Pháp Xử Lý Các Hộ Chăn Nuôi Heo Gây Ô Nhiễm Môi Trường ?

Bộ Tn&mt Nêu 4 Giải Pháp Cấp Bách Bảo Vệ Nguồn Nước Sinh Hoạt

🌟 Home
🌟 Top