Biện Pháp Tu Từ So Sánh

--- Bài mới hơn ---

  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp Tu Từ So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3
  • Nhằm củng cố, mở rộng, bổ sung thêm kiến thức cho các em học sinh, chúng tôi sưu tầm gửi tới các em Biện pháp tu từ so sánh – Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6 . Chúc các em học tốt!

    Biện pháp tu từ so sánh

    Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6

    I. – NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG 1. Thế nào là so sánh ?

    So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sực gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Ví dụ :

    – Thuyền xuôi dưới dòng con sông rộng lớn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

    (Đoàn Giỏi)

    Trong như tiếng hạc bay qua,

    Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

    (Nguyễn Du)

    – Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

    (Tô Hoài)

    2. Cấu tạo của phép so sánh

    So sánh là cách công khai đối chiếu các sự vật với nhau, qua đó nhận thức, được sự vật một cách dễ dàng, cụ thể hơn. Vì vậy, một phép so sánh thông thường gồm bốn yếu tố :

    – Vế A : Đối tượng (sự vật) được so sánh.

    – Bộ phận hay đặc điểm so sánh (phương diện so sánh).

    – Từ so sánh.

    – Vế B : Sự vật làm chuẩn so sánh.

    Ta có sơ đồ sau đây :

    Khi ta nói : Cô gái đẹp như hoa là so sánh. Còn khi nói : Hoa tàn mà lại thêm tươi (Nguyễn Du) thì hoa ở đây là ẩn dụ.

    + Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt. Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi là so sánh chìm vì phương diện so sánh (còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra do đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiều hơn.

    + Yếu tố (3) có thể là các từ như : giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu… bấy nhiêu, hơn, kém,… Mỗi yếu tố đảm nhận một sắc thái biểu cảm khác nhau

    – Như có sắc thái giả định.

    – Là có sắc thái khẳng định.

    -Tựa thể hiện nlức độ chưa hoàn hảo,…

    + Trật tự của phép so sánh có khi được thay đổi. Ví dụ :

    Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng của hai miền.

    (Tế Hanh)

    3. Các kiểu so sánh

    Dựa vào mục đích và các từ so sánh, người ta chia phép so sánh thành hai kiểu :

    a) So sánh ngang bằng

    Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các từ so sánh sau đây : là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu… bấy nhiêu.

    Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể, sinh động. Vì thế, phép so sánh thường mang tính chất cường điệu.

    Ví dụ : Cao như núi, dài như sông

    (Tố Hữu)

    b) So sánh hơn kém

    Trọng phép so sánh hơn kém, từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì.

    Ví dụ : Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

    (Tục ngữ)

    Muốn chuyển so sánh hơn, kém sang so sánh ngang bằng, người ta thêm một trong các từ phủ định : không, chưa, chẳng vào trong câu và ngược lại.

    Ví dụ : – Bóng đá quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.

    – Bóng đá quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học..

    4. Tác dụng của so sánh

    + So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả. *

    Ví dụ : Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    (Ca dao)

    + So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc, gợi trí tưởng tượng bay bổng. Vì thế trong thơ của thiếu nhi, các em đã thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.

    Ví dụ : Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

    (Trần Đăng Khoa)

    Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (2) và yếu tố (3) bị lược bỏ. Người đọc, người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm pho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

    II. – BÀI TẬP 1.

    Tìm phép so sánh trong đoạn trích sau đây, nêu rõ tác dụng của phép so sánh đó :

    “Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”.

    (Đoàn Giỏi)

    2. Trong câu ca dao :

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

    a) Từ bổi hoi bồi hồi là từ láy có gì đặc biệt ?

    b) Giải nghĩa từ láy bổi hổi bồi hồi.

    c) Phân tích cái hay của câu ca dao do phép so sánh đem lại.

    3. Trong bài Vượt thác có nhiều phép so sánh được thể hiện.

    a) Em hãy xác định những phép so sánh đó.

    b) Phép so sánh nào độc đáo nhất ? Vì sao ?

    4. Em hãy viết một đoạn văn tả cảnh sông nước hay núi non, làng xóm ở quê em trong đó có sử dụng từ hai phép so sánh trở lên.

    5. Em hãy kể càng nhiều càng tốt những thành ngữ có sử dụng phép so sánh mà từ chỉ phương diện so sánh là từ láy.

    6. Nói về thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ viết: Trẻ em như.búp trên cành.

    a) Phép so sánh này bị lược yếu tố nào ?

    b) Yếu tố bị lược có thể được thay bằng những từ ngữ nào trong các từ ngữ sau đây : tươi non, quyến rũ, đầy hứa hẹn, đấng trân trọng, chứa chan hi vọng, đầy sức sống, yếu ớt đáng thương, nhỏ nhắn, chưa đáng chú ỷ.

    7. Em hãy tìm khoảng mười phép so sánh trong ca dao và thơ, trong đó vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

    Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ tơ trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông

    Chí ta lớn như biển Đông trước mặt

    – Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng.

    – Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng.

    10. Trong bài Lượm của Tố Hữu có đoạn :

    Chú bé loắt choắt Cái xắc xỉnh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng…

    a) Phép so sánh ở đoạn thơ trên độc đáo ở chỗ nào ? Em hãy phân tích cái hay của phép so sánh đó.

    b) Các từ láy trong đoạn thơ thuộc từ loại nào ? Có tác dụng gì ?

    11. Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:

    Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau.

    (Ca dao)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa
  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh
  • De Tai ” Biện Pháp Tu Từ So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khóa Học Biện Pháp Thi Công Miễn Phí Với Lương Trainer
  • Biện Pháp Thi Công Các Công Trình Xây Dựng
  • Tổng Hợp Tài Liệu, Bản Vẽ Mẫu Về Biện Pháp Thi Công
  • Biện Pháp Thi Công Là Gì? 5 Bước Trình Tự Thi Công Công Trình
  • Hướng Dẫn Uống Thuốc Tránh Thai Hằng Ngày Đúng Cách
  • Tên đề tài

    Phuong phỏp d?y h?c “Bi?n phỏp tu t? so sỏnh” cho h?c sinh l?p 6 theo hu?ng tớch h?p v tớch c?c.

    Các biện pháp tu từ nói chung và tu từ so sánh nói riêng là một nội dung tri thức chuyên sâu mang tính chất sáng tạo, phục vụ trực tiếp và đắc lực cho việc học văn. Văn học là nghệ thuật ngôn từ, văn là học sự phát hiện và rung cảm với cái hay, cái đẹp của hình tượng nghệ thuật. Sự phát hiện và rung cảm này bắt đầu bằng ngôn từ và thông qua ngôn từ. Do đó văn học và Tiếng Việt có mối quan hệ khăng khít với nhau. Dạy Tiếng Việt vừa để làm công cụ tư duy giao tiếp vừa cung cấp tri thức chuyên sâu trong lĩnh vực ngôn ngữ phục vụ cho việc cảm thụ, lý giải và bình giá đúng đắn, tinh tế, sâu sắc các giá trị nghệ thuật.

    Qua đó, học sinh học Tiếng Việt được vững chắc hơn và hiệu quả hơn khi học văn. Đúng như lời khẳng định của GS-TS. Lê A trong cuốn “phương pháp dạy học Tiếng Việt” – NXB GD-2001-trang 10: “kết hợp hài hoà giữa dạy văn và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao cho hai môn Văn và Tiếng Việt”.

    Trên tinh thần này, tổ chức dạy tốt biện pháp tu từ so sánh sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn chương và năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách sinh động, giàu hình ảnh trong giao tiếp cho học sinh.

    Xuất phát từ lí do trên tôi xin mạnh dạn trình bày một vài ý kiến xem như là ý kiến của bản thân đã trải qua thực nghiệm giảng dạy về dạy học biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 6 theo hướng tích hợp và tích cực. Mong góp phần bé nhhỏ của mình vào việc đổi mới PPDH Ngữ văn nói chung và dạy học phần tu từ về từ nói riêng theo hướng tích hợp và tích cực trong nhà trường phổ thông đầu thế kỉ XXI khi mà “giáo dục là chìa khoá mở cửa tiến vào tương lai”. (Đỗ Mười).

    II – Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học theo hướng tích hợp tích cực.

    Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đai đã được nhiều nước trên thế giới vận dụng từ lâu và có hiệu quả lớn. Vận dụng dạy học ở Việt Nam, tích hợp bước đầu được hiểu là: Phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình dạy học riêng rẽ, các môn học, các phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau. Chương trình môn Ngữ văn theo tinh thần tích hợp là làm sao kết hợp được thật tốt việc hinhd thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học với việc hình thành bốn kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết (hiểu theo nghĩa rộng) vốn là hai quá trình gắn bó hữu cơ và hỗ trợ nhau hết sức đắc lực.

    Việc cải tiến chương trình Ngữ Văn theo hướng tích hợp có ssự vận dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới nhưng trước hết xuất phát từ thực tiễn giáo dục của Việt Nam. Trên 2o năm qua, việc tách môn Văn thành ba phần môn đã dem lại một số kinh nghiệm nhất định nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế không nhỏ, nhất là bậc THCS. Nên việc tích hợp này là cần thiết và đáp ứng yêu cầu phát triển toàn xã hội.

    Dạy học biện pháp tu từ phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ văn lớp 6 theo hướng tích hợp và tích cực giáo viên cần khai thác triệt để những yếu tố thuận lợi để đạt hiệu quả cao.

    Còn xét về thực trạng hiện nay: chương trình SGK Ngữ văn lớp 6 đac rõ ràng cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp và tích cực. Về thời lượng cho từng bài còn phải bàn thêm cho thật cân đối và hợp lý với chương trình và phù hợp với hoàn cảnh đa diện của học sinh. Đặcc biệt là các biện pháp tu từ về từ cần chú ý thêm về thời lượng và cách thực hành tạo lập trong nói và viết cho học sinh .

    Thực trạng đội ngũ giáo viên Ngữ văn hiện nay ở THCS về số lượng, chất lượng khiến chúng ta không khỏi băn khoăn suy nghĩ. Trong một số nhà trường THCS còn song song tồn tại giáo viên ở nhiều hệ đào tạo khác nhau. Vì vậy, việc giảng dạy không đồng đều, ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách học tập của học sinh và chất lượng chung. Hiện nay có hai thái cực trái ngược nhau: Những giáo viên có tâm huyết đã đi sâu tìm tòi và thực thi dạy theo hướng tích hợp và tích cực đã có kết quả bước đầu. Một só giáo viên vẫn dạy học theo thói quen cũ: Giáo viên chạy theo chương trình, tách rời chuyên môn, lo truyền thụ kiến thức bằng loói thuyêts trình hoặc chứng minh cho các khái niệm. Học sinh chir có một nhiệm vụ ghi chép thụ động để về học thuộc, làm bài tập đối phó qua loa.

    So sánh tu từ bộc lộ phong cách sáng tạo của tác giả: mỗi nhà văn có tư duy nghệ thuật riêng, thế giới nghệ thuật riêng, phương thức diễn đạt riêng tạo nên phong cách tác giả. Dựa trên vốn từ vựng Tiếng Việt, nha văn cho mình vốn từ riêng mang đậm dấu ấn cá nhân. So sánh tu từ cũng nằm trong quy luật ấy.

    ở mỗi tác giả, hình ảnh đưa ra làm chuẩn so sánh đều mang tính điển hình. Qua so sánh tu từ, người ta có thể nhận ra những nét riêng thuộc về người sử dụng. Có tác giả ưa dùng so sánh tu từ mang tính phát hiện của trí tuệ. Có tác giả ưa sự mộc mạc, chân chất, chính xác mà vẫn tràn đầy cảm xúc yêu thương.

    Chẳng hạn: Trong thơ Tố Hữu, so sánh tu từ thường là những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên như: Trái đất, trường sơn, biển cả, núi sông . khắc hoạ lên vóc dáng to lớn, đẹp đẽ, giàu sức sống, khí thế cao cả mạnh mẽ và tấm lòng thuỷ chung trong sáng của con người.

    “Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta

    Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa

    Chỉ biết quên mình cho hết thảy

    Như dòng sông chảy nặng phù sa”.

    Còn đây là so sánh nghệ thuật của Chế Lan Viên với những hình ảnh giàu nhận thức lý trí:

    “Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc

    Khi lòng ta đã hoá những con tàu

    Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

    Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”

    Một so sánh đẹp là so sánh phát hiện. Phát hiện những gì người thường không nhận ra, không nhìn thấy. Cả hai tác giả, với sự sáng tạo riêng đã xây dựng những hình tượng thẫm mỹ bằng phương thức so sánh nghệ thuật. Hai cách so sánh đều có nhưng nét độc đáo riêng, đặc sắc và thể hiện phong cách mỗi tác giả.

    Học sinh lấy một ví dụ bất kỳ. Chẳng hạn:

    “Ngôi nhà như trẻ nhỏ

    Lớn lên với trời xanh”

    (Đồng Xuân Lan).

    Giáo viên có thể tiến hành bước 1 sau khi kiểm tra bài cũ của học sinh, để chuyển tiếp vào bài mới với việc hình thành khái niệm.

    Bước 2: Giúp học sinh phân tích các nét đặc trưng cơ bản của khái niệm so sánh. Để thực hiện công việc này có thể sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để hình thành khái niệm so sánh.

    Ví dụ: Khi hình thành khái niệm so sánh, giáo viên yêu cầu học sinh: Tìm so sánh trong các ngữ liệu đã cho? chỉ ra cơ sở để có thể so sánh như vậy? So sánh như thế nhằm mục đích gì? So sánh với ví dụ khác cũng sử dụng phép so sánh? Rút ra kết luận về so sánh?

    Em hãy trả lời các câu hỏi và làm bài tập sau đây:

    Có mấy kiểu so sánh thường gặp? Em hãy cho ví dụ và chỉ rõ từng kiểu so sánh đó?

    2. Chỉ rõ và phân tích giá trị tu từ của phép so sánh được sử dụng trong đoạn văn sau:

    “Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quoai hàm bạnh ra, cặp mắt nẩy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. Dượng Hương Thư vượt thác khác hẳn Dượng Hương Thư ở nhà nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ”.

    (Trích “Quê nội”- Võ Quảng)

    3. Em hãy viết một đoạn văn trong đó sử dụng cả hai kiểu so sánh đã học?

    * Phiếu 3:

    Họ và tên: ………

    Lớp: ……….

    Trường: ……….

    Mong em vui lòng điền dấu (X) mỗi ý kiến mà em đồng ý:

    Hoạt động nhóm trong giờ học Tiếng Việt khi học các biện pháp tu từ giúp em:

    A. Tạo thêm nhiều hứng thú trong học tập ( ).

    B. Tiếp thu bài dễ dàng, củng cố và khắc sâu kiến thức tốt ( ).

    C. Thực hiện đúng và nhanh các nhiệm vụ giao tiếp ( ).

    * Phiếu 4

    Họ và tên: ………

    Lớp: ……….

    Trường: ……….

    Việc phân tích, đánh giá giá trị tu từ so sánh giúp em:

    A. Nhận diện nhanh, chính xác phép tu từ so sánh ( ).

    B. Phân tích và đánh giá được giá trị tu từ của phép tu từ so sánh ( ).

    C. Mong muốn được nói, viết các câu, đoạn sử dụng phép so sánh ( ).

    Em hãy đánh dấu (X) vào mỗi ý kiến em đồng ý.

    C. Kết luận:

    Đổi mới PP nhằm nâng cao chất lượng day và học là một nhiệm vụ quan trọng của ngành GD hiện nay.Vận dụng PPDH theo hướng tích hợp và tích cực vào việc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 6 chính là thực hiện đổi mới về PPDH trong nội dung một bài cụ thể. Thực hiện PPDH các biện pháp tu từ về phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ vâưn 6 theo hướng tích hợp và tích cực ngoài việc dựa trên những cơ sở lí luận còn cần quan tâm đến mối quan hệ hữu cơ giữa PPDH với mục tiêu, nội dung dạy học và PPDH là một thành tố của quá trình dạy học.

    Đổi mới PPDH theo hướng tích cực và tích hợp là một quá trình lâu dài và phải được thực hiện ở tất cả các lớp học, các môn học, các cấp học. Nhưng việc đổi mới có thể thực hiện được ngay đối với GV môn Ngữ văn khi dạy biện pháp tu từ ở phần Tiếng Việt lớp 6 nếu như mỗi GV trong từng tiết học giúp HS hoạt động nhiều hơn, nhất là được suy nghĩ và giao tiếp nhiều hơn. Khi đó,lớp học qua nhiều cách học khác nhau sẽ là nơi biến quá trình học thành niềm vui thích với nhiều “sản phẩm” sáng tạo của GV và HS. Và chắc chắn HS sẽ tự tin để tham gia vào các hoạt động học tập và giao tiếpcộng đồng.Đó cũng là con đường nối liền nhà trường với xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tự Tình 2
  • Tự Tình ( Bài Ii )
  • Bài Thơ Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tự Tình 2
  • 9 Phương Pháp Tránh Thai Hiệu Quả Nhất
  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Liệt Kê Là Gì? Tác Dụng Của Liệt Kê
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 7
  • Thuật Ngữ Về Phép Liệt Kê
  • Cô Kiều Anh – giáo viên Ngữ văn tại Hệ thống Giáo dục Hocmai sẽ hệ thống lại lý thuyết cũng như có những lưu ý nhằm giúp học sinh nắm chắc biện pháp tu từ so sánh để phát huy trí tưởng tượng về hình ảnh và vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong các bài tập làm văn.

    Trong chương trình tiếng Việt lớp 3, học sinh đã được làm quen với hai biện pháp tu từ rất quan trọng là so sánh và nhân hoá. Trong đó, là biện pháp tu từ sử dụng nhằm đối chiếu các sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng khả năng gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt.

    I. Biện pháp tu từ so sánh

    1. Cấu trúc của phép so sánh:

    *Mẹo: Để nhận biết phép so sánh : Xác định từ so sánh, thường là những từ “là”, “như”

    Ví dụ: “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

    (Vũ Tú Nam)

    – Sự vật được so sánh ở đây là “mặt biển”

    – Phương diện so sánh là “sáng trong” .

    – Từ so sánh: “như”, nằm giữa vế một và vế hai

    – Sự vật dùng để so sánh: “tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

    Trong nhiều trường hợp, “phương diện so sánh” có thể không xuất hiện trong câu.

    Cách 2: Chia theo từ so sánh

    Nếu phân biệt dựa trên từ so sánh thì câu so sánh được phân ra hai loại là: so sánh ngang bằng và so sánh hơn kém.

    So sánh ngang bằng sẽ sử dụng như từ so sánh như: “như”; “tựa như”; “như là”; “giống như”; “chẳng khác gì”…

    Vd: Cô giáo giống như người mẹ thứ hai của em

    So sánh hơn kém sẽ sử dụng những từ so sánh như: “hơn”; “kém”;”chẳng bằng”; “không bằng”…

    VD: Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Vì vậy đối với cách chia như này, học sinh cần xác định từ so sánh trước, dựa vào đó phân loại câu vào so sánh ngang bằng hoặc so sánh hơn kém

    Mời cha mẹ và học sinh tham khảo video bài giảng tại: https://www.youtube.com/watch?v=bjTwEJMq8ls

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh
  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu
  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Thơ Lưu Quang Vũ

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh: Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Và Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Đối Với Người Chưa Thành Niên Vi Phạm Pháp Luật, Bảng Giá 12/2020
  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất Tiet 3Bai 6Bien Phap Su Dung Cai Tao Va Bao Vedat Ppt
  • Bài 58. Sử Dụng Hợp Lí Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Lý Thuyết Sử Dụng Hợp Lí Tài Nguyên Thiên Nhiên Sinh 9
  • TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA NGỮ VĂN

    ===***===

    NGUYỄN THỊ THƢƠNG

    BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH

    TRONG THƠ LƢU QUANG VŨ

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ

    HÀ NỘI, 2021

    TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA NGỮ VĂN

    ===***===

    NGUYỄN THỊ THƢƠNG

    BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH

    TRONG THƠ LƢU QUANG VŨ

    TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Ngôn ngữ

    Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

    TS. Đỗ Thị Thu Hƣơng

    HÀ NỘI, 2021

    LỜI CẢM ƠN

    Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ

    của các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, trƣờng Đại học Sƣ

    phạm Hà Nội 2. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô, đặc biệt

    là tới cô giáo TS. Đỗ Thị Thu Hƣơng – ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn, chỉ bảo tận

    tình để tôi hoàn thành khóa luận này.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2021

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Thƣơng

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan khóa luận “Biện pháp tu từ so sánh trong thơ Lƣu

    Quang Vũ” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý kiến của

    những ngƣời đi trƣớc, dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của cô giáo TS. Đỗ Thị

    Thu Hƣơng. Khóa luận này không trùng với bất kì công trình, tài liệu

    nghiên cứu nào đã đƣợc công bố trƣớc đó. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn

    trách nhiệm.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2021

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Thƣơng

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………….. 1

    1. Lý do chọn đề tài …………………………………………………………………………… 1

    2. Lịch sử vấn đề ……………………………………………………………………………….. 2

    2.1. Nghiên cứu so sánh tu từ từ góc độ phong cách học ………………………… 2

    2.2. Nghiên cứu so sánh tu từ trong thơ Lƣu Quang Vũ …………………………. 5

    3. Mục đích nghiên cứu ……………………………………………………………………… 6

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………………………………… 6

    5. Đối tƣợng nghiên cứu …………………………………………………………………….. 6

    6. Phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………………………….. 6

    7. Phƣơng pháp nghiên cứu ………………………………………………………………… 6

    8. Đóng góp của khóa luận …………………………………………………………………. 7

    9. Bố cục của khóa luận ……………………………………………………………………… 7

    NỘI DUNG …………………………………………………………………………………………. 8

    CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ……………………………………………………………… 8

    1.1. Biện pháp tu từ so sánh ………………………………………………………………… 8

    1.1.1. Khái niệm …………………………………………………………………………….. 8

    1.1.2. Cấu tạo của biện pháp so sánh tu từ …………………………………………. 8

    1.1.3. Phân loại …………………………………………………………………………….. 10

    1.1.4. Hiệu quả của các biện pháp tu từ so sánh ……………………………….. 12

    1.2.Vài nét về nhà thơ Lƣu Quang Vũ………………………………………………… 12

    1.2.1. Cuộc đời …………………………………………………………………………….. 12

    1.2.1.1. Gia đình và quê hƣơng ………………………………………………………. 12

    1.2.1.2. Bản thân ………………………………………………………………………….. 13

    1.2.2. Sự nghiệp ……………………………………………………………………………. 14

    1.2.3. Phong cách thơ Lƣu Quang Vũ ……………………………………………… 16

    CHƢƠNG 2. PHÂN TÍCH CÁC MÔ HÌNH SO SÁNH TRONG THƠ LƢU

    QUANG VŨ ………………………………………………………………………………………. 18

    2.1. Kết quả khảo sát thống kê …………………………………………………………… 18

    2.2. Nhận xét kết quả thống kê ………………………………………………………….. 18

    2.3. Phân tích kết quả thống kê ………………………………………………………….. 19

    2.3.1. So sánh ngang bằng ……………………………………………………………… 19

    2.3.1.1. Mô hình “A nhƣ B” …………………………………………………………… 19

    2.3.1.2. Mô hình “A là B” ……………………………………………………………… 27

    2.3.1.3. Mô hình “A nhƣ B1,B2,…, Bn” …………………………………………….. 31

    2.3.1.4. Mô hình “A là B1, B2,…, Bn”………………………………………………. 35

    2.3.1.5. Mô hình “Nhƣ BA” …………………………………………………………… 39

    2.3.1.6. Mô hình “A-B” (từ so sánh bị triệt tiêu) ………………………………. 40

    2.3.2. So sánh không ngang bằng ……………………………………………………. 41

    2.3.2.1. Mô hình “A thua B” ………………………………………………………….. 42

    2.3.2.2. Mô hình”A hơn B” ……………………………………………………………. 43

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………….. 45

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    PHỤ LỤC

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1. Văn chƣơng là nghệ thuật ngôn từ, điều đó quả thực là đúng đắn. Tác

    phẩm văn học là bức tranh phản ánh cuộc sống nhƣng không phải là sự sao

    chép cuộc sống một cách nô lệ, nó đƣợc tạo nên bởi những gì tinh túy nhất,

    đẹp đẽ nhất của cuộc đời. Thông qua tác phẩm văn học, ngƣời nghệ sĩ muốn

    bộc lộ tƣ tƣởng, tình cảm, cảm xúc của mình trƣớc cuộc đời, trƣớc thế giới

    vạn vật.

    Sức mạnh của tác phẩm văn chƣơng chính là ở việc vận dụng ngôn ngữ

    một cách điêu luyện, tài hoa của mỗi nhà văn, nhà thơ. Tuy nhiên, trong thực

    tế, lớp vỏ ngôn ngữ thì hữu hạn mà tình cảm, cảm xúc thì vô hạn. Để giải

    quyết mâu thuẫn ấy, ngƣời nghệ sĩ ngôn từ luôn biết cách tìm đến và khai thác

    năng lực biểu cảm đặc biệt của các phƣơng tiện và biện pháp tu từ để biểu

    hiện tối ƣu ý tƣởng nghệ thuật của mình. Trong nhiều phƣơng tiện và biện

    pháp tu từ tiếng Việt thì so sánh đƣợc coi là biện pháp tu từ đƣợc sử dụng

    rộng rãi và có giá trị nghệ thuật to lớn. Chính vì vậy, việc tìm hiểu biện pháp

    tu từ so sánh là một hƣớng tiếp cận đúng để chúng ta thấy cái hay cái đẹp của

    tác phẩm văn học và tài năng của ngƣời nghệ sĩ dƣới cái nhìn từ góc độ ngôn

    ngữ nghệ thuật.

    Trong văn chƣơng, biện pháp tu từ so sánh đƣợc ngƣời nghệ sĩ sử dụng

    với tần số cao để biểu hiện những cảm xúc, những suy nghĩ, đánh giá của

    mình trƣớc sự vật, sự việc thể hiện trong tác phẩm. Từ đó giúp ngƣời đọc hiểu

    rõ hơn về bản chất, đặc điểm của sự vật, sự việc, nhận thức một cách sâu sắc

    và biểu cảm về đối tƣợng chƣa biết. Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu về biện pháp

    nghệ thuật này trong thơ là một nhiệm vụ cần thiết đối với những ngƣời dạy

    và học Ngữ văn nói chung.

    1

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    1.2. Phần lớn mọi ngƣời biết đến Lƣu Quang Vũ với tƣ cách là một nhà

    viết kịch tài hoa, nổi tiếng với các vở nhƣ: Hồn Trƣơng Ba da hàng thịt, Tôi

    và chúng ta, Ông không phải bố tôi… . Song ít ai biết rằng thơ mới chính là

    địa hạt, là miền sâu thẳm, là đời sống của Lƣu Quang Vũ. Có thể nói rằng đọc

    thơ Lƣu Quang Vũ có cảm giác ông viết kịch để sống với mọi ngƣời và làm

    thơ để sống với riêng mình, chính mình. Hay nhƣ nhà thơ Vũ Quần Phƣơng,

    ngƣời thơ cùng thế hệ với Lƣu Quang Vũ: “Thơ mới là nơi anh kí thác nhiều

    nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắng đƣợc thời gian”. Thậm chí

    Bằng Việt còn cho rằng: “Dù nhiều ngƣời nhận định kịch của Lƣu Quang Vũ

    vƣợt xa hơn thơ anh ấy nhƣng tôi vẫn tin rằng trong kịch của Lƣu Quang Vũ

    đầy chất thơ”.

    So sánh là biện pháp tu từ không chỉ đƣợc sử dụng phổ biến trong văn

    học Việt Nam – văn học dân gian mà trong thơ hiện đại, biện pháp so sánh lại

    đƣợc vận dụng với nhiều sắc diện mới. Lƣu Quang Vũ – một nhà thơ luôn

    muốn cảm nhận cuộc sống trong cái tƣờng tận của không gian, của thời gian

    và của mỗi sự việc thƣờng nhật. Có thể nói, so sánh là một biện pháp nghệ

    thuật đặc sắc và chủ đạo trong thơ Lƣu Quang Vũ khiến cho thơ Lƣu Quang

    Vũ giàu tính tạo hình.

    Xuất phát từ hai lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp tu từ so

    sánh trong thơ Lƣu Quang Vũ” chọn đề tài này, chúng tôi nhằm tự trang bị và

    rèn luyện cho mình năng lực nghiên cứu khoa học, kĩ năng tƣ duy và phân

    tích vấn đề, góp phần vào công việc học tập và giảng dạy sau này.

    2. Lịch sử vấn đề

    2.1. Nghiên cứu so sánh tu từ từ góc độ phong cách học

    Ở lĩnh vực ngôn ngữ, đặc biệt là lĩnh vực phong cách học xem xét về

    biện pháp tu từ so sánh phải kể đến tác giả sau:

    2

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Tác giả Đinh Trọng Lạc trong giáo trình ” Phong cách học tiếng Việt”

    đã dành những trang viết, dành cả một chuyên mục về biện pháp so sánh tu

    từ. Tác giả viết: Trong văn chƣơng, so sánh là phƣơng thức tạo hình phƣơng

    thức gợi cảm. Nói đến văn chƣơng là nói đến so sánh… A-Phơrăngxơ một lần

    định nghĩa ” Hình tƣợng là gì? Chính là sự so sánh…” Gô-lúp “Hầu nhƣ bất

    cứ sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thể chuyển thành hình thức so sánh”.

    Một so sánh đẹp là so sánh phát hiện. Phát hiện những gì ngƣời thƣờng

    không nhìn ra; không nhận thấy”. Không phải ngẫu nhiên mà Chế Lan Viên

    khen thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh ” Một vị chủ tịch nƣớc mà có đƣợc một

    so sánh: Tiếng suối trong nhƣ tiếng hát xa”. . Nếu nói so sánh nói chung thì điều ấy có lý. Nhƣng không phải

    mọi so sánh đều cụ thể, đều lấy một hình ảnh cụ thể hơn để miêu tả một hình

    ảnh chƣa đƣợc cụ thể.

    Chẳng hạn:

    – Vui nhƣ mở cờ trong bụng

    – Xanh nhƣ chàm đổ

    Các thành ngữ trên có vẻ là cụ thể.

    Hoặc:

    – Trong nhƣ tiếng hạc bay qua

    (Nguyễn Du)

    – Tiếng hát trong nhƣ suối Ngọc Tuyền

    Êm nhƣ gió thoảng cung tiên

    (Thế Lữ)

    Nào ai đã một lần thấy hạc bay qua, “suối Ngọc Tuyền”, “cung tiên”…

    để mà nói cụ thể. Ở đây chỉ là sự gợi cảm và hứng thú đƣợc một lần bay bổng

    3

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    trong tƣởng tƣợng. Ấy vậy mà vẻ đẹp chiếm lĩnh tâm hồn ta làm cho hình

    tƣợng thêm đẹp, ta có cảm giác thêm cụ thể mà thôi. Ngôn ngữ nghệ thuật là

    ngôn ngữ của sự liên hội và so sánh nghệ thuật là đôi cánh giúp ta bay vào thế

    giới của cái đẹp, của tƣởng tƣợng hơn là đến ngƣỡng của logic học.

    Tác giả còn viết “Tìm đƣợc một điều so sánh đâu có phải dễ dàng, vì

    đó là tâm hồn, tài năng nghệ thuật”

    Theo Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa: Phƣơng

    thức so sánh là một hình thức biểu hiện đơn giản nhất của lời nói hình ảnh. Về

    mặt hình thức, so sánh khác với tất các cách chuyển nghĩa, ở chỗ bao giờ

    cũng gồm có hai đối tƣợng lập thành hai vế, các đối tƣợng này có thể là sự

    vật, tính chất hay hành động. Hai đối tƣợng đƣợc gắn với nhau để tạo nên một

    hình thức so sánh.

    Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt” định

    nghĩa nhƣ sau: “So sánh là phƣơng thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối

    chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tƣơng đồng nào đó để

    gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của ngƣời

    đọc, ngƣời nghe”

    Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, trong trƣờng hợp này chúng tôi

    chọn định nghĩa của tác giả Đinh Trọng Lạc.

    1.1.2. Cấu tạo của biện pháp so sánh tu từ

    So sánh thực chất là sự đối chiếu giữa một hình ảnh này hoặc hình ảnh

    kia hay một vài hình ảnh khác không giống nhau về phạm trù nhƣng dựa vào

    liên tƣởng mà ngƣời ta có thể tìm ra những nét tƣơng đồng nào đó về mặt

    8

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    nhận thức hoặc tâm lý. Một phép so sánh đúng đắn nhất bao giờ cũng phải

    thỏa mãn hai điều kiện sau đây:

    – Đối tƣợng đƣa ra so sánh là khác loại.

    – Giữa hai đối tƣợng phải có nét tƣơng đồng để so sánh.

    So sánh bao giờ cũng phải dựa vào hai đối tƣợng khác phạm trù nhau

    tạo thành hai vế: Vế A và vế B. Giữa hai vế bao giờ cũng có từ làm công cụ

    so sánh.

    Mô hình cấu tạo chung: A x B (x là từ so sánh)

    Theo tác giả Đinh Trọng Lạc trong “99 phƣơng tiện và biện pháp tu từ

    tiếng Việt” thì mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh bao gồm 4 yếu tố:

    – Yếu tố 1: Yếu tố đƣợc hoặc bị so sánh tùy theo so sánh là tích cực hay

    tiêu cực.

    -Yếu tố 2: Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động

    có vai trò nêu rõ ràng biện pháp so sánh.

    – Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh.

    – Yếu tố 4: Yếu tố đƣợc đƣa ra làm chuẩn để so sánh.

    Nhƣng trên thực tế, nhiều mô hình chung A x B không có đầy đủ cả 4

    yếu tố trên, chính vì vậy mà biện pháp so sánh đƣợc chia ra làm : So sánh tu

    từ nổi và so sánh tu từ chìm.

    + So sánh tu từ nổi:

    Nét tƣơng đồng, cơ sở của sự so sánh đƣợc thể hiện ra bằng những từ

    ngữ cụ thể mà ngƣời đọc và ngƣời nghe dễ nhận thấy.

    Ví dụ:

    Các chóp mái đều lƣợn rập rờn nhƣ các nếp sóng bạc đầu.

    (Nguyễn Tuân)

    + So sánh tu từ chìm:

    9

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Nét tƣơng đồng, cơ sở của sự so sánh không đƣợc thể hiện ra bằng

    những từ ngữ cụ thể mà ngƣời đọc và ngƣời nghe tự liên hội để tìm ra.

    So sánh tu từ chìm tạo điều kiện cho sự liên tƣởng rộng rãi hơn so với

    so sánh tu từ nổi, nó tác động đến sự tƣởng tƣợng của trí tuệ và tình cảm

    nhiều hơn để tìm tòi và phát hiện đƣợc nét giống nhau giữa các đối tƣợng của

    hai vế.

    Ví dụ:

    Gái thƣơng chồng, đƣơng đông buổi chợ…

    (Ca dao)

    1.1.3. Phân loại

    Theo Đinh Trọng Lạc trong “99 phƣơng tiện và biện pháp tu từ tiếng

    Việt”, căn cứ vào từ ngữ dùng làm yếu tố thể hiện quan hệ so sánh, có thể

    chia ra các hình thức so sánh sau đây:

    + Yếu tố thứ 3 là từ “nhƣ” (tựa nhƣ, chừng nhƣ…)

    + Yếu tố thứ 3 là từ hô ứng (bao nhiêu…bấy nhiêu)

    + Yếu tố thứ 3 là từ “là”

    Nếu thay từ “là” bằng từ “nhƣ” thì nội dung cơ bản không thay đổi chỉ

    thay đổi về sắc thái ý nghĩa từ sắc thái khẳng định chuyển sang sắc thái giả

    định.

    Theo giáo trình “Phong cách học tiếng Việt” do Đinh Trọng Lạc chủ

    biên, so sánh tu từ đƣợc phân chia theo các hình thức sau:

    + Hình thức đầy đủ gồm cả 4 yếu tố của phép so sánh tu từ.

    + Đảo ngƣợc trật tự so sánh.

    + Bớt cơ sở, thuộc tính so sánh. Thông thƣờng, khi bớt cơ sở so sánh thì đƣợc

    thuyết minh miêu tả ở phần đƣợc so sánh.

    + Bớt từ so sánh.

    + Thêm “bao nhiêu”, “bấy nhiêu”.

    10

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    + Dùng từ “là” làm từ so sánh. Đây là loại so sánh ẩn dụ, gọi nhƣ vậy là vì

    “là” có chức năng liên hệ so sánh ngầm mà không phải “là” trong kiểu câu

    tƣờng giải khái niệm.

    Sách giáo khoa Ngữ văn 6, chƣơng trình cơ bản phân chia so sánh

    thành hai loại:

    + A nhƣ B (so sánh ngang bằng)

    + A không nhƣ (hơn, kém, không bằng) B (so sánh không ngang bằng)

    Trên cơ sở phân loại của các tác giả đi trƣớc, chúng tôi tiến hành phân

    loại so sánh tu từ thành các loại sau đây:

    – So sánh ngang bằng gồm các kiểu sau:

    + A nhƣ B

    + A nhƣ B1, B2,…, Bn

    + A cũng nhƣ B

    + A tựa B

    + A là B

    + A là B1, B2,…, Bn

    + A B (Từ so sánh bị triệt tiêu)

    + Nhƣ BA

    + A bao nhiêu B bấy nhiêu

    – So sánh không ngang bằng gồm các kiểu sau:

    + A thua B

    + A hơn B

    Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Bằng con đƣờng so

    sánh, nhà văn có thể phát hiện ra rất nhiều đặc điểm, thuộc tính của một đối

    tƣợng, hiện tƣợng. Do đó, so sánh là biện pháp nghệ thuật quan trọng, góp

    phần tạo cho ngƣời đọc những ấn tƣợng thẩm mĩ hết sức phong phú.”

    Pao-lơ đã tổng kết: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức” (theo Đinh

    Trọng Lạc)

    Một cách khái quát, biện pháp tu từ so sánh giúp chúng ta có thể hiểu

    một cách sâu sắc và toàn diện về sự vật, sự việc. So sánh tu từ làm tăng thêm

    tính gợi hình ảnh và tính biểu cảm cho câu văn câu thơ. Đồng thời, so sánh

    cũng là một biện pháp để giúp chúng ta bày tỏ lòng yêu ghét, khen chê, thái

    độ khẳng định hoặc phủ định đối với sự vật.

    Do chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm cùng với sự cấu tạo

    đơn giản cho nên so sánh đƣợc dùng nhiều trong phong cách ngôn ngữ sinh

    hoạt hằng ngày, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ nghệ

    thuật.

    1.2.Vài nét về nhà thơ Lƣu Quang Vũ

    1.2.1. Cuộc đời

    1.2.1.1. Gia đình và quê hương

    Lƣu Quang Vũ sinh ngày 17/4/1948 tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa,

    tỉnh Phú Thọ nhƣng quê gốc ở thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam. Ông là

    con trai nhà viết kịch Lƣu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh. Có thể nói, gia

    đình và quê hƣơng chính là cái nôi nuôi dƣỡng tài năng Lƣu Quang Vũ nảy

    nở và phát triển.

    Cha ông – nhà viết kịch Lƣu Quang Thuận đồng thời cũng là một nhà

    thơ tài hoa. Chính ông là một tính cách thơ đằm thắm, dạt dào và mặn mà nhƣ

    biển Đà Nẵng quê ông. Lƣu Quang Vũ mang nợ thơ từ trong huyết thống.

    Ngay thuở mới lên năm, lên sáu nhà thơ Lƣu Quang Thuận đã sớm phát hiện

    12

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    ra tâm hồn đa cảm, tài hoa nơi đứa con trai đầu lòng của mình, và ông “đã tin

    chắc rằng sau này lớn lên con trai của mình sẽ trở thành thi sĩ”. (Lƣu Quang

    Vũ – Thơ và đời)”. Còn mẹ ông là một ngƣời phụ nữ tần tảo, đảm đang, giàu

    lòng yêu thƣơng và đức hy sinh. Bà đã để lại trong tâm trí Lƣu Quang Vũ

    những hình ảnh ngọt ngào của tuổi thơ “mải chơi trốn học”, “những tối mẹ

    ngồi khâu lại áo”. Đó là những kỉ niệm một thời không thể quên đã in dấu

    trong các sáng tác của Lƣu Quang Vũ sau này.

    Hình thành nên diện mạo và phong cách thơ Lƣu Quang Vũ còn bởi

    vùng trung du Bắc Bộ – thôn Chu Hƣng “ấm những ngày gian khổ khó quên

    nhau”. Chính ở nơi đây, Lƣu Quang Vũ đƣợc sinh ra trong mối tình nồng

    thắm của cha mẹ và sự yêu thƣơng, bao bọc của làng xóm. Vì thế cái tên

    “Chu Hƣng” đi vào trong thơ Lƣu Quang Vũ một cách rất giản dị tự nhiên

    không chỉ nhƣ một địa danh, một nơi chôn nhau cắt rốn mà còn nhƣ nguồn

    cội sáng tạo đời thơ Lƣu Quang Vũ.

    1.2.1.2. Bản thân

    Tuổi thơ Lƣu Quang Vũ sống cùng cha mẹ tại Phú Thọ. Khi hòa bình

    lặp lại (1954) gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội.

    Từ 1965 đến 1970, Lƣu Quang Vũ nhập ngũ, phục vụ trong quân chủng

    phòng không không quân. Đây là thời kì thơ Lƣu Quang Vũ bắt đầu nở rộ

    Từ 1970 đến 1978, ông xuất ngũ và làm đủ thứ nghề để mƣu sinh, làm

    ở xƣởng cao su Đƣờng sắt, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải Phóng, chấm

    công cho một đội cầu đƣờng, vẽ pa – nô, áp phích…

    Từ 1978 đến 1988, Lƣu Quang Vũ làm biên tập viên Tạp chí sân khấu,

    băt đầu sáng tác kịch nói với vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi 17” (đƣợc trao

    tặng Huy chƣơng Vàng Hội diễn viên sân khấu năm 1980).

    13

    NguyÔn ThÞ Th-¬ng

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Lƣu Quang Vũ kết hôn hai lần. Lần thứ nhất với diễn viên điện ảnh Tố

    Uyên năm 1969. Hai ngƣời li dị năm 1972. Ông kết hôn lần hai với nữ sĩ

    Xuân Quỳnh năm 1973.

    Giữa lúc tài năng đang độ chín, Lƣu Quang Vũ qua đời trong một tai

    nạn ô tô trên quốc lộ 5 tại Hải Dƣơng, cùng với ngƣời bạn đời là nhà thơ

    Xuân Quỳnh và con trai Lƣu Quỳnh Thơ (29/8/1988).

    Cuộc sống của Lƣu Quang Vũ tuy ngắn ngủi nhƣng ông đã sống và làm

    việc hết mình, đã có những đóng góp không nhỏ cho đời sống văn học dân tộc

    ở nhiều thể loại: thơ, văn xuôi, kịch… Thơ Lƣu Quang Vũ không chỉ bay

    bổng, tài hoa mà còn giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao. Các vở kịch, truyện

    ngắn, thơ của Lƣu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng nhƣ in

    đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông.

    Năm 2000, Lƣu Quang Vũ đƣợc trao tặng giải thƣởng Hồ Chí Minh về

    Văn học nghệ thuật.

    1.2.2. Sự nghiệp

    Thiên hƣớng và năng khiếu nghệ thuật của Lƣu Quang Vũ đã sớm bộc

    lộ từ nhỏ.

    Năm 13 tuổi, cậu bé Vũ đã giành đƣợc giải thƣởng của thành phố về cả

    văn và họa.

    Năm 17 tuổi, Lƣu Quang Vũ nhập ngũ, đƣợc biên chế về biên chủng

    phòng không không quân. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi trong cuộc đời

    anh. Anh sáng tác rất nhiều thơ. Chùm thơ đầu tay: “Gửi tới các anh, Lá bƣởi

    lá chanh, Đêm hành quân” đƣợc in trên tạp chí Văn nghệ quân đội. Và đặc

    biệt, bằng sự xuất hiện trên văn đàn với phần thơ “Hƣơng cây” in chung với

    Bằng Việt trong tập thơ “Hƣơng cây – Bếp lửa” khi anh tròn 20 tuổi thì Lƣu

    Quang Vũ nhanh chóng đƣợc biết đến với tƣ cách là một nhà thơ trẻ tài năng

    đầy triển vọng.

    14

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Hình Ảnh Và Biện Pháp So Sánh Trong Đoạn Thơ Sau Trong Bài Thơ Tiếng Hát Con Tàu Của Chế Lan Viên
  • Phân Tích Hình Ảnh So Sánh Trong Bài Tôi Đi Học
  • Phân Tích Các Hình Ảnh So Sánh Trong Truyện Ngắn Tôi Đi Học Hay Nhất
  • Tác Dụng Của Biện Pháp So Sánh Trong Bài Tôi Đi Học
  • Sự Kín Đáo Trong Chính Sách Bảo Hộ Thương Mại Của Mỹ
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Số lượt đọc bài viết: 48.281

    Mục đích của biện pháp tu từ là gì? – So với việc sử dụng ngôn ngữ thông thường, sử dụng biện pháp tu từ giúp tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm.

    Bên cạnh việc nắm được khái niệm biện pháp tu từ là gì, bạn cũng cần ghi nhớ về vai trò của biện pháp tu từ trong văn bản nghệ thuật. Trong tiếng Việt, hình thức của biện pháp tu từ rất phong phú, đa dạng. Hầu hết trong các văn bản nghệ thuật đều rất chú trọng sử dụng biện pháp tu từ để tăng tính nghệ thuật cho tác phẩm.

    Trong một đoạn văn, có thể sử dụng một hoặc nhiều biện pháp tu từ khác nhau tùy mục đích biểu đạt, biểu cảm của tác giả. Việc sử dụng biện pháp tu từ góp phần tạo nên dấu ấn cá nhân trong tác phẩm.

    Một số biện pháp tu từ về từ

    Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ bao gồm biện pháp tu từ về từ và biện pháp tu từ về cấu trúc. Bạn không chỉ biết được biện pháp tu từ là gì mà cũng cần lưu tâm đến các hình thức của tu từ. Biện pháp tu từ về từ rất phong phú, thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, bao gồm:

    • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ so sánh là gì? So sánh là biện pháp tu từ được sử dụng nhằm đối chiếu các sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng sức gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt. Các phép so sánh đều lấy cái cụ thể để so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn. Việc này giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả.
    • Biện pháp so sánh còn giúp cho câu văn gợi trí tưởng tượng của ta bay bổng hơn. Mục đích của sự so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau. Mà để nhằm diễn tả hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc hiểu biết sự vật một cách cụ thể sinh động.
    • Trong cách nói thường ngày người Việt Nam thường dùng biện pháp so sánh để ví von: Đẹp như tiên giáng trần, hôi như cú, vui như tết, xấu như ma…Còn trong nghệ thuật, biện pháp so sánh được sử dụng như biện pháp tu từ với thế mạnh đặc biệt khi gợi hình, gợi cảm. Đôi khi là có những so sánh bất ngờ, thú vị, góp phần cụ thể hóa được những điều hết sức trừu tượng, khó cân đo, đong đếm.

    Cấu tạo của một phép so sánh gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu nhận biết phép so sánh

    Dấu hiệu của phép so sánh: để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    • Có chứa các từ so sánh như: như, giống như, như là, bao nhiêu….bấy nhiêu, không bằng….
    • Nội dung: có 2 sự vật có điểm tương đồng được so sánh với nhau

    Ví dụ về biện pháp so sánh

    Trẻ em như búp trên cành

    Các kiểu so sánh thường gặp

    • So sánh bao gồm: so sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng
    • So sánh ngang bằng: So sánh ngang bằng còn gọi là so sánh tương đồng, thường được thể hiện qua các từ như là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu…bấy nhiêu. Ví dụ: Môi đỏ như son, da trắng như tuyết, tóc đen như gỗ mun; Lông con mèo giống như một cục bông gòn trắng xóa.
    • hông bằng, chẳng bằng… Ví dụ: “So sánh không ngang bằng: So sánh không ngang bằng còn gọi là so sánh tương phản, thường sử dụng các từ như hơn, hơn là, kém, kém gì, k Những ngôi sao thức ngoài kia/Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”.

    Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ nhân hóa là gì? Đây là một trong các biện pháp tu từ ngữ âm với cách gọi, cách tả con vật, cây cối, đồ vật … bằng những từ ngữ được dùng để gọi hoặc tả con người như hành động, suy nghĩ, tính cách.

    Tác dụng của biện pháp nhân hóa

    Nhân hóa khiến sự vật, sự việc trở nên sinh động, gần gũi với đời sống con người. Biện pháp nhân hóa cũng đem lại cho lời thơ, văn có tính biểu cảm cao.

    Phân loại biện pháp nhân hóa

    • Dùng từ ngữ vốn gọi người để gọi vật (ví dụ: chị ong, chú gà trống, ông mặt trời,…)
    • Dùng từ ngữ vốn chỉ hoạt động, tính chất của con người để chỉ hoạt động, tính chất của vật. Ví dụ: “Bão bùng thân bọc lấy thân/ Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm” (Tre Việt Nam).
    • Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người. Ví dụ: trâu ơi, chim ơi,….
    • Ẩn dụ hình thức: là sự chuyển đổi tên gọi giữa các sự vật hiện tượng nào đó có nét tương đồng với nhau về hình thức, ở hình thức này, người viết giấu đi một phần ý nghĩa
    • Ẩn dụ cách thức: là sự chuyển đổi tên gọi giữa các sự vật hiện tượng nào đó có nét tương đồng với nhau về hình thức, thông qua hình thức này người nói, người viết có thể đưa được nhiều hàm ý vào trong câu
    • Ẩn dụ phẩm chất: là sự chuyển đổi tên gọi giữa các sự vật hiện tượng nào đó có nét tương đồng với nhau về phẩm chất, tính chất
    • Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: là hình thức miêu tả tính chất, đặc điểm của sự vật được nhận biết bằng giác quan này nhưng lại được miêu tả bằng từ ngữ sử dụng cho giác quan khác . Ví dụ: Trời nắng giòn tan.
    • Những bông kim ngân như thắp lên niềm hi vọng về tương lai tươi sáng.
    • Hình ảnh miền Nam luôn trong trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ hoán dụ là gì? Hoán dụ là một trong các biện pháp tu từ dùng để gọi tên sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm này bằng tên sự vật, sự việc, hiện tượng, khái niệm khác; giữa chúng có quan hệ gần gũi với nhau, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt.

    Những hình thức của hoán dụ

    Các kiểu hoán dụ được sử dụng phổ biến là:

    • Lấy 1 bộ phận để gọi toàn thể: Ví dụ: anh ấy là chân sút số một của đội bóng.
    • Dùng vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng: Ví dụ: Cả khán đài hò reo, cổ vũ cho đội tuyển Việt Nam – Trường hợp này “khán đài” mang nghĩa là những người ngồi trên khán đài
    • Dùng dấu hiệu sự vật để gọi sự vật: Ví dụ: cô gái có mái tóc màu hạt dẻ đang đứng một mình dưới mưa.
    • Dùng những cái cụ thể để nói về cái trừu tượng.
    • Cứ mỗi độ hè đến thì những màu áo xanh lại đến những miền khó khăn, xa xôi.
    • Cả phòng đang lắng nghe một cách chăm chú thầy giảng bài.
    • Là một trong các biện pháp tu từ sử dụng biện pháp lặp đi lặp lại nhiều lần một từ ngữ hoặc cả câu một cách có nghệ thuật.
    • Tác dụng: sử dụng điệp ngữ vừa giúp nhấn mạnh nhằm làm nổi bật ý. Vừa tạo nên âm hưởng và nhịp điệu cho câu văn, câu thơ, đoạn văn, hay đoạn thơ. Bên cạnh đó, còn vừa gợi cảm xúc mạnh trong lòng người đọc.

    Các hình thức của phép điệp ngữ

    “Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho”. (Ca dao)

      Điệp ngữ cách quãng: là việc lặp lại một cụm từ, mà theo đó các từ, cụm từ này cách quãng với nhau, không có sự liên tiếp.
      Điệp ngữ nối tiếp: là việc lặp đi lặp lại một từ, cụm từ có sự nối tiếp nhau

    Ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ

    • Biện pháp nói quá là một trong các biện pháp tu từ dùng cách nói phóng đại mức độ, tính chất, của sự vật hay hiện tượng được miêu tả. Nói quá còn được gọi là khoa trương, phóng đại, cường điệu, ngoa ngữ.,…thường được sử dụng trong khẩu ngữ, thông tấn, văn chương.
    • Tác dụng: B iện pháp nói quá dùng để nhấn mạnh, gây ấn tượng hơn về điều định nói hay tăng sức biểu cảm cho sự diễn đạt. Biện pháp nói quá được dùng nhiều trong các PC như: khẩu ngữ, văn chương, thông tấn.

    Ví dụ về biện pháp nói quá

    Tác dụng của biện pháp nói quá

    Sự kết hợp của nói quá với phóng đại nhằm mục đích làm tăng sức biểu cảm, sự sinh động, sự cụ thể hơn để đem lại hiệu quả cao hơn cho lời nói, câu văn.

    Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là gì? Nói giảm, nói tránh là một trong các biện pháp tu từ và ví dụ thường gặp trong đời sống. Nói giảm nói tránh là cách nói giảm nhẹ quy mô, tính chất, mức độ của sự vật, sự việc, hiện tượng hoặc dùng cách diễn đạt khác với tên gọi vốn có của nó.

    Ví dụ về phép nói giảm nói tránh

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi” – Tố Hữu

    Tác dụng của phép nói giảm nói tránh

    Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi”

    • Tạo nên một cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển. Nhằm tăng sức biểu cảm cho lời thơ, lời văn.
    • Giảm mức độ, tránh gây cảm giác đau buồn, ghê sợ hay nặng nề trong những trường hợp cần phải lảng tránh do nguyên nhân từ tình cảm.
    • Thể hiện thái độ nhã nhặn, lịch sự của người nói, sự quan tâm, tôn trọng của người nói đối với người nghe. Và góp phần tạo cách nói năng đúng mực của người có giáo dục, có văn hoá.

    Biện pháp tu từ là gì? Chơi chữ là gì? Đây là một trong các biện pháp tu từ được vận dụng linh hoạt các đặc điểm về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp của Tiếng Việt. Nhằm tạo ra những cách hiểu bất ngờ, thú vị cho người đọc. Chơi chữ được sử dụng nhiều trong văn trào phúng, câu đối,..

    Tác dụng: Biện pháp chơi chữ thường được dùng để nhằm tạo sắc thái dí dỏm và hài hước làm cho sự diễn đạt trở nên hấp dẫn, thú vị. Biện pháp này thường được dùng để châm biếm, đả kích hoặc đùa vui.

    Ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ

    Các hình thức chơi chữ thường gặp

    Biện pháp kiệt kê trong khái niệm chính là sự nối tiếp, sắp xếp của các từ hoặc cụm từ cùng loại với nhau để diễn tả các khía cạnh, hay tư tưởng tình cảm một cách rõ ràng, đầy đủ và sâu sắc đến người đọc và người nghe.

    Biện pháp liệt kê được sử dụng trong nhiều loại văn bản khác nhau. Để nhận biết phép liệt kê, bạn có thể quan sát trong bài viết sẽ có nhiều từ hay cụm từ giống nhau, liên tiếp nhau và hay cách nhau bởi dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy.

    Ví dụ về biện pháp liệt kê

    • Ví dụ về liệt kê theo từng cặp: Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loại quả như xoài, ổi, hồng xiêm và bưởi.
    • Ví dụ về liệt kê tăng tiến: Gia đình em gồm nhiều người như em, anh trai em, bố mẹ và ông bà.

    Các kiểu liệt kê thường gặp

    • Theo cấu tạo
      • Liệt kê theo từng cặp.
      • Liệt kê không theo từng cặp.
    • Theo ý nghĩa
      • Liệt kê tăng tiến.
      • Liệt kê không theo tăng tiến.

    Phép tương phản trong khái niệm có nghĩa là tạo ra những cảnh tượng, những hành động hay những tính cách trái ngược nhau, từ đó nhằm làm nổi bật nội dung, tư tưởng của tác giả hay của chính tác phẩm.

    Ví dụ như trong tác phẩm “Sống chết mặc bay”.

    • Sự tuyệt vọng khốn cùng của nhân dân trước sự thịnh nộ của thiên nhiên khi chống lại bão lũ.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Các Biện Pháp Chống Bán Phá Giá Trong Thương Mại Quốc Tế
  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Thời Tiết Đà Nẵng Quanh Năm
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Đường Giao Thông Nông Thôn Quảng Bình
  • Các Biện Pháp Thi Công Tầng Hầm Nhà Phố
  • Các Giải Pháp Thi Công Tầng Hầm Nhà Phố Phổ Biến Và Hiệu Quả Nhất Kn12107
  • Thi Công Đào Đất Tầng Hầm Chuyên Nghiệp
  • Nói đến ngôn ngữ là nói đến công cụ dùng để giao tiếp trong cuộc sống. Có ngôn ngữ thì mới có quan hệ xã hội và quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển ngôn ngữ. Xuất phát từ đó môn Tiếng Việt, môn học có vị trí nhiệm vụ rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ giao tiếp, là thứ ngôn ngữ dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Ngoài các phân môn khác của tiếng Việt, phân môn tập đọc ra đời với mục tiêu góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh cho tâm hồn học sinh. Qua đó tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em và rèn luyện, phát triển kỹ năng nói và hiểu một cách có nghệ thuật, góp phần khêu gợi tư duy hình tượng của trẻ.

    Đối với học sinh tiểu học là giai đoạn hình thành và phát triển nhận thức và nhân cách sống. Vì thế yêu cầu của môn tiếng Việt hết sức quan trọng, trong đó phân môn tập đọc đóng vai trò chủ chốt nên giáo viên cần chú ý quan tâm, ngoài việc rèn luyện các kỹ năng cơ bản như nghe, đọc, nói, viết thì cần chú trọng vào việc cảm thụ biện pháp nghệ thuật của tác phẩm để làm phong phú vốn từ ngữ trong tâm hồn và khơi dậy tình yêu Tiếng Việt một cách bền vững.

    Biện pháp nghệ thuật xuất hiện trong các bài tập đọc ở tiểu học, hay nói cách khác xuất hiện trong văn bản tập đọc với một mục tiêu rất lớn đó là cung cấp cho học sinh những giá trị đạo đức, nhân văn mà tác giả muốn gửi đến và qua đó biện pháp nghệ thuật tô điểm thêm cho vẻ đẹp của văn bản làm cho học sinh thêm phần cuốn hút khi tiếp xúc với nội dung văn bản. Ngoài ra biện pháp nghệ thuật còn phát huy trí tưởng tưởng cho học sinh, trau dồi khả năng tư duy và củng cố năng lực diễn đạt khi giao tiếp.

    Vậy biện pháp nghệ thuật là những biện pháp nào mà lại có tác dụng lớn trong văn bản tập đọc ở tiểu học như thế? biện pháp nghệ thuật bao gồm các các biện pháp như ẩn dụ, nhân hoá, so sánh tu từ,… nó được các tác giả sử dụng như những công cụ đắc lực trong việc thành công nội dung văn bản.

    Một trong những biện pháp nghệ thuật quan trọng có trong các văn bản tập đọc là biện pháp tu từ so sánh. Biện pháp so sánh tu từ là sự đối chiếu hai hay nhiều sự vật với nhau nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu hay hàm ý muốn diễn đạt. So sánh tu từ được sử dụng một cách rộng rãi trong các văn bản tập đọc ở tiểu học giúp cho học sinh dễ cảm thụ giá trị của nội dung diễn đạt của tác giả hơn. Đây cũng là nội dung của đề tài mà tôi đang nghiên cứu về so sánh tu từ trong các văn bản tập đọc ở tiểu học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • A. Phần Tiếng Việt: Các Kiểu Câu, Biện Pháp Tu Từ I. Các Kiểu Câu 1. Câu Rút Gọn A) Thế Nào Là Câu Rút Gọn? B) Nêu Tác Dụng Của Câu Rút Gọn: C) Khi Rút Gọn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Phân Tích Giá Trị Biểu Cảm Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Dạy Ngữ Văn 7
  • Chuyên Đề 1: Các Biện Pháp Tu Từ So Sánh, Nhân Hoá, Ẩn Dụ
  • Củng Cố, Mở Rộng Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ
  • Sau Phá Thai, Nên Chọn Cách Tránh Thai Nào?
  • Chuyên Đề 1: Các Biện Pháp Tu Từ So Sánh, Nhân Hoá, Ẩn Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Phân Tích Giá Trị Biểu Cảm Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Dạy Ngữ Văn 7
  • A. Phần Tiếng Việt: Các Kiểu Câu, Biện Pháp Tu Từ I. Các Kiểu Câu 1. Câu Rút Gọn A) Thế Nào Là Câu Rút Gọn? B) Nêu Tác Dụng Của Câu Rút Gọn: C) Khi Rút Gọn
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Đường Giao Thông Nông Thôn Quảng Bình
  • m Những từ so sánh: Các từ so sánh Là, như, y như, giống như, tựa như, tựa như là, bao nhiêu, bấy nhiêu, So sánh ngang bằng. Hơn, hơn là, kém, không bằng, chưa bằng, chẳng bằng, So sánh không ngang bằng. Lưu ý: Các yếu tố trong công thức cấu tạo phép so sánh có thể vắng mặt: Vắng từ ngữ chỉ phương diện SS. Vắng từ so sánh. Vế B có thể đảo lên trước vế A. VD: + Vắng từ SS: Bác ngồi đó lớn mênh mông. Trời cao biển rộng ruộng đồng nước non. (Tố Hữu) + Vắng từ SS và PDSS: Gái thương chồng đương dông buổi chợ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm. + Như/ tre mọc thẳng, con người / không chịu khuất. Từ SS B A PDSS 2. Các kiểu so sánh Có hai loại so sánh: So sánh ngang bằng: VD: Gió thổi là chổi trời. So sánh không ngang bằng: VD: Đói no có thiếp có chàng Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình. 3. Tác dụng của so sánh So sánh có tác dụng gợi hình, giúp cho việc miêu tả sự vật, sự việc được cụ thể, sinh động. So sánh có tác dụng biểu hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc. Vận dụng vào viết văn: VD: Cái anh chàng Dế Choắt, người gầy gò và dài lêu nghêu như gã nghiện thuốc phiện. (Tô Hoài) Viết đoạn văn có sử dụng phép so sánh. II. NHÂN HOÁ (Người làm: Nguyễn Võ Hương Giang) 1. Khái niệm Nhân hoá là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vậtbằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người. Nhân hoá có tác dụng làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con người. Có thể nói thêm rằng: Nhân hoá hay nhân cách hoá là một biến thế của ẩn dụ, ở đó người ta chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con người sang đối tượng không phải con người. Có người cho nhân hoá thực ra là nhân vật hoá, tức là cách biến mọi vật thành nhân vật đối thoại hay như là một nhân vật của mình 2.Các kiểu nhân hoá Về mặt hình thức, nhân hoá có thể được tổ chức bằng cách: Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Dùng những từ vốn gọi người ( cô, dì, chú, bác, anh, chị) để gọi sự vật. Thí dụ: Có con chim vành khuyên nhỏ. Dáng trông thật ngoan ngoãn quá. Gọi "dạ" bảo "vâng".Lễ phép ngoan nhất nhà. Chim gặp bác chào mào, "chào bác!". Chim gặp cô Sơn Ca, " chào cô!". Chim gặp anh chích choè, " chào anh!". Chim gặp chị Sáo Nâu, "chào chị!"- lời bài hát Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật: Thí dụ: Dùng các động từ thuộc về hoạt động của con người để miêu tả sự tồn tại và vận động của trời - núi - trăng- hoa: Vì mây cho núi lên trời Vì chưng gió thổi hoa cười với trăng. Dùng các tình từ miêu tả, các động từ hành vi của người, khoác lên cho các đối tượng không phải người: ...Lúa đã chen vai đứng cả dậy. - Trần Đăng Hoặc: Súng vẫn thức. Vui mới giành một nữa, Nên bâng khuâng sương biếc nhớ người đi.- Tố Hữu Nhờ nhân hoá mà cảnh vật trở nên sinh động lạ thường! Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người Coi các đối tượng không phải người mà như là người và tâm tình nói chuyện với chúng. Thí dụ: ....Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện chăng tơ Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai? Buồn trông chênh chếch sao mai, Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ? - Ca dao Trò chuyện với sự vật, hô - gọi sự vật như trò chuyện với con người, hô gọi con người: Thí dụ: Núi cao chi lắm núi ơi ? Núi che mặt trời chẳng thấy người thương. - Ca dao 3. Nội dung, cơ sở và tác dụng của nhân hóa Về mặt nội dung, cơ sở để tạo nên nhân hoá là sự liên tưởng, nhằm đi đến phát hiện ra những nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải là người. Ở đây đòi hỏi một sự quan sát tinh vi, một sự hiểu biết chính xác về những thuộc tính của con người cũng như thuộc tính của đối tượng không phải con người. Như vậy, sự thống nhất giữa tính chính xác của việc rút ra nét cá biệt giống nhau và tính bất ngờ của sự liên tưởng trong nhân hoá là căn cứ để bình giá nó. Từ sự phân tích về hình thức và nội dung của nhân hoá như trên cho ta thấy cơ sở chung để cấu tạo nên nó, cũng như đối với so sánh và ẩn dụ, là rút ra những nét giống nhau giữa hai đối tượng khác loại. Nhưng nhân hoá khác so sánh ở chỗ chỉ có một vế còn vế kia ngầm thừa nhận. Và nó khác ẩn dụ ở chỗ nó là phương tiện để trực tiếp miêu tả đối tượng không phải con người, còn ẩn dụ là một cách gọi tên khác cho đối tượng định miêu tả. Tác dụng chủ yếu của nhân hoá đối tượng với sự biểu đạt là miêu tả và trữ tình. Trước hết, nhân hoá là cách đưa các đối tượng không phải con người sang thế giới con người. Khi các đối tượng không phải con người được khoác áo con người thì thường tạo nên một không khí mới, sinh động, chúng trở nên gần gụi hơn, dễ hiểu hơn đối với chúng ta, mở rộng trường liên tưởng Thí dụ: Chủ nghĩa cá nhân khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc, mà ai cũng biết: xuống dốc dễ hơn lên dốc - (Hồ Chí Minh- Đạo đức cách mạng) Nhờ sử dụng nhân hoá mà đối tượng được nói đến ở đây trở nên thật sinh động. Qua sự nhân hoá này, chúng ta thấy chủ nghĩa cá nhân vốn có tài ẩn náu, nay hiện ra rất cụ thể, như một con người, tưởng như cũng hành động, cũng nói năng khôn khéo, cũng biết len lõi vào chỗ yếu của con người để tìm nơi dung thân... Sự liên tưởng rút ra nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải người thường gắn với cách nhìn, với thái độ của người nói. Cho nên, bằng nhân hoá, người ta có thể bộc lộ tâm tư của mình một cách kín đáo. Trong nhiều trường hợp, người nói dùng nhân hoá vừa là để miêu tả đối tượng không phải con người, làm phương tiện, làm cái cớ để thể hiện tình cảm riêng, sâu kín của mình. Thí dụ câu ca dao nói với nhện, với sao được trích ra ở trên cho chúng ta thấy đằng sau lời hỏi nhện, nghe sao tha thiết, thoáng hiện lên một nỗi buồn nhớ không nguôi giữa cảnh đêm khuya của một tâm hồn.... Do có cả chức năng nhận thức và tình cảm, cho nên nhân hoá được sử dụng rộng rãi trong nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau: khẩu ngữ tự nhiên, trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, trong ngôn ngữ chính luận... Bên cạnh nhân hóa, phải kể đến vật hoá hay vật cách hoá, ở đây người ta chuyển đổi ý nghĩa của những từ ngữ chỉ thuộc tính của vật để biểu thị về con người. Vật cách hoá thường được dùng trong văn châm biếm, đùa vui, nhưng nó không phải không có giá trị biểu cảm. Thí dụ: Gái chính chuyên lấy được chín chồng, Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi. Ai ngờ quang đứt lọ rơi, Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng. - Ca dao Hoặc: Người tình ta để trên cơi, Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ Đêm qua ba bốn lần mơ, Chiêm bao thì thấy dậy sờ thì không. - Ca dao Đằng sau sự đùa vui ta cảm thấy một tình yêu tha thiết và một nỗi buồn cô đơn, thấm thía vì sự cách trở với người thương. III. ẨN DỤ ( Người làm: Nguyễn Bảo Ánh) 1. Khái niệm - Ẩn dụ" tiếng La-tinh có nghĩa Metaphoria là một biện pháp tu từ trong Văn học dùng để gọi sự vật - hiện tượng này bằng tên gọi sự vật - hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt mà người dùng muốn. Hằng ngày chúng ta vẫn sử dụng biện pháp Ẩn dụ trong diễn đạt, trình bày, thuyết trình, giảng dạy. Ẩn dụ là một khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học xã hội. Cụ thể hơn nó là một biện pháp tu từ trong Văn học được sử dụng cùng với Nhân hóa, So sánh, Hoán dụ. 2. Các kiểu ẩn dụ - Ẩn dụ có 4 hình thức chính là: + Ẩn dụ phẩm chất; + Ẩn dụ hình thức; + Ẩn dụ cách thức và; + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. 3. Tác dụng của từng hình thức ẩn dụ riêng Ẩn dụ phẩm chất là thay thế phẩm chất của sự vật hiện tượng này với phẩm chất tương đồng của sự vật hiện tượng khác. Ví dụ như khi nói về người cha đã già, thay vì nói tuổi chúng ta có thể nói: Người cha mái tóc bạc, người cha lưng còng hay bố đầu đã hai thứ tóc. Ẩn dụ hình thức có thể được thể hiện qua việc "dấu" đi một phần ý nghĩa mà không phải ai cũng biết. Ví như hai câu thơ: Về thăm nhà Bác làng sen/Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng (trong ví dụ này, còn có cả Ẩn dụ cách thức "thắp": nở hoa). Có nhiều cách thức để thể hiện một vấn đề. Ẩn dụ cách thức sẽ giúp chúng ta đưa được hàm ý của mình vào trong câu nói . Bác hồ có câu: Vì lợi ích mười năm trồng cây/Vì lợi ích trăm năm trồng người. - Ẩn dụ chuyển đổi cảm giácVí dụ như: Một tiếng chim kêu sáng cả rừng hay Nói ngọt lọt đến xương đều là những câu được sử dụng biện pháp tu từ Ẩn dụ về cảm giác. Ẩn dụ còn có thể đi cùng với Nhân hoá và một số biện pháp tu từ từ vựng như: So sánh, Điệp ngữ, Chơi chữ, Nói quá, Nói giảm - Nói tránh bạn đọc hãy chọn nét tương đồng để tạo Ẩn dụ tăng hiệu quả biểu đạt trong văn miêu tả, thuyết minh, nghị luận, sáng tác thơ ca. 4. Khái niệm của các kiểu ẩn dụ - Ẩn dụ hình thức là cách gọi sự vật A bằng sự vật B. VD: Người Cha mái tóc bạc (Minh Huệ) Lấy hình tượng Người Cha để gọi tên Bác Hồ. -Ẩn dụ cách thức là cách gọi hiện tượng A bằng hiện tượng B. VD: Về thăm quê Bác làng Sen Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng. (Nguyễn Đức Mậu) Nhìn "hàng râm bụt" với những bông hoa đỏ rực tác giả tưởng như những ngọn đèn "thắp lên lửa hồng". + Ẩn dụ phẩm chất là cách lấy phẩm chất của sự vật A để chỉ phẩm chất của sự vật B. VD: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Tròn và dài được lâm thời chỉ những phẩm chất của sự vật B. + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là những ẩn dụ trong đó B là một cảm giác vốn thuộc một loại giác quan dùng để chỉ những cảm giác A vốn thuộc các loại giác quan khác hoặc cảm xúc nội tâm. Nói gọn là lấy cảm giác A để chỉ cảm giác B. VD: Mới được nghe giọng hờn dịu ngọt 5. Tác dụng của ẩn dụ Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc. Sức mạnh của ẩn dụ chính là mặt biểu cảm. Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiều cách thức diễn đạt khác nhau. (thuyền - biển, mận - đào, thuyền - bến, biển - bờ) cho nên một ẩn dụ có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau. Ẩn dụ luôn biểu hiện những hàm ý mà phải suy ra mới hiểu. Chính vì thế mà ẩn dụ làm cho câu văn giàu hình ảnh và hàm súc, lôi cuốn người đọc người nghe. IV. CÁC BÀI TẬP VẬN DỤNG VÀ GỢI Ý Các bài tập về phép so sánh (Người làm: Ngô Thục Anh) Bài 1: Trong mỗi khổ thơ, câu văn sau, tác giả đã so sánh hai sự vật nào với nhau? Dựa vào dấu hiệu nào? So sánh bằng từ gì? Khi mặt trời lên tỏ Nước xanh chuyển màu hồng Cờ trên tàu như lửa Sáng bừng cả mặt sông. ( Bến cảng Hải Phòng- Nguyễn Hồng Kiên) Quyển vở này mở ra Bao nhiêu trang giấy trắng Từng dòng kẻ ngay ngắn Như chúng em xếp hàng. ( Quyển vở của em- Nguyễn Quang Huy) Trường sơn: chí lớn ông cha Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào. Gợi ý: Khổ thơ Vế A (cái được so sánh) Vế B (cái dùng để so sánh) Phương diện so sánh Từ chỉ sự so sánh a cờ lửa Đều có màu đỏ như b dòng kẻ em (xếp hàng ) Đều ngay ngắn như c chí lớn cha ông lòng mẹ Trường Sơn Cửu Long Đều to lớn, vĩ đại Đều bao la rộng lớn Bài 2: Phân tích hiệu quả của phép tu từ so sánh trong bài thơ sau: Sau làn mưa bụi tháng ba Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu Bầu trời rừng rực ráng treo Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay. ( Tháng ba- Trần Đăng Khoa) Gợi ý: - Hình ảnh so sánh: "Lá tre bỗng đỏ như là lửa thiêu" " Bầu trời rừng rực ráng treo Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay" - Hiệu quả: Không khí của buổi chiều tháng ba - gợi hồi ức về 1 quá khứ lịch sử oai hùng: chiến công của Thánh Gióng: có lá tre đỏ vì ngựa phun lửa, có hình ảnh ngựa sắt bay... Tất cả như một bức tranh biểu lộ trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ và niềm tự hào về quá khứ hào hùng oanh liệt trong không khí của thời đại chống Mĩ. Bài 3: Chỉ ra và phân tích của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ sau: Đây con sông như dòng sữa mẹ Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây Và ăm ắp như lòng người mẹ Trở tình thương trang trải đêm ngày. ( Vàm Cỏ Đông- Hoài Vũ ) Gợi ý: Các hình ảnh so sánh: "Đây con sông như dòng sữa mẹ" "Và ăm ắp như lòng người mẹ" + Sông chở phù sa, mang nước ngọt làm xanh ruộng lúa vườn cây, như người mẹ lấy dòng sữa ngọt nuôi con thơ. + Ca ngợi tình thương của mẹ bao la, dạt dào, trang trải như dòng sông ăm ắp đêm ngày không bao giờ vơi cạn. Bài 4: Phân tích tác dụng cuả phép so sánh trong các khổ thơ sau: "Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi" (Bầm ơi - Tố Hữu) "Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió" ( Quê hương - Tế Hanh) Gợi ý: - " Con đi trăm núi ngàn khe Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm" + Từ so sánh : chưa bằng . + Kiểu so sánh : không ngang bằng . - " Con đi đánh giặc mười năm Chưa bằng khó nhọc đời bấm sáu mươi" + Từ so sánh : chưa bằng . + Kiểu so sánh : Không ngang bằng . - Hình ảnh so sánh: "Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng" Phép so sánh lấy đối tượng trừu tượng so sánh với đối tượng cụ thể. Tác dụng: Đã làm nổi bật hình ảnh "cánh buồm"- một hình ảnh bình dị bỗng trở nên thiêng liêng lớn lao, thơ mộng. Thể hiện tâm hồn tinh tế, hòa quyện với thiên nhiên, tình yêu quê hương tha thiết của tác giả. Các bài tập về phép ẩn dụ (Người làm: Nguyễn Thuỳ Dương) Bài 1: Phân tích nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ sau: "Thân em vừa trắng lại vừa tròn" (Bánh trôi nước - Hồ Xuân Hương) * Gợi ý: - Nghĩa đen: Bánh trôi nước về màu sắc và hình dáng - Nghĩa bóng : Hình ảnh về vẻ đẹp người phụ nữ có làn da trắng và thân hình đầy đặn . Khi phân tích ta làm như sau : Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình ảnh cái bánh nhà thơ đã gợi cho người đọc hình dung được một hình ảnh khác thật sâu săc kín đáo đó là hình ảnh (nghĩa bóng) - từ đó gợi cảm xúc cho người đọc về người phụ nữ xưa Bài 2: "Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ" (Viễn Phương - Viếng lăng Bác) - Chỉ ra biện pháp tu từ trong hai câu thơ ? - Phân tích giá trị biểu cảm ? * Gợi ý: - Phép tu từ ẩn dụ: Mượn hình ảnh mặt trời để chỉ Bác Hồ - Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình ảnh "mặt trời" là một vầng thái dương "nghĩa đen", tác giả tạo ra một hình ảnh so sánh ngầm sâu sắc, tế nhị làm cho người đoc suy nghĩ và hình dung ra được hình ảnh của Bác Hồ (nghĩa bóng) một con người rực rỡ và ấm áp như mặt trời dẫn dắt dân tộc ta trên con đường giành tự do và độc lập xây dựng tổ quốc công bằng dân chủ văn minh từ đó tạo cho người đọc một tình cảm yêu mến khâm phục vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc chúng ta Bài 3: Tìm và phân tích ẩn dụ trong đoạn trích sau: " Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim" ( Từ ấy - Tố Hữu) Gợi ý: - Cảm nhận về sức mạnh và tác động diệu kì của ánh sáng lí tưởng đối với cuộc đời nhà thơ: một loạt từ ngữ mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng, có giá trị gợi tả và biểu cảm mạnh mẽ (bừng nắng hạ, chói qua tim, mặt trời chân lí), thể hiện cảm giác vui sướng, hạnh phúc khi đón nhận lí tưởng cách mạng. Ánh sáng của lí tưởng cộng sản là một nguồn sáng vĩ đại, tác động mạnh mẽ không chỉ tới lí trí mà cả trái tim của nhà thơ. Khoảnh khắc ấy, giây phút ấy, thiêng liêng và hạnh phúc vô ngần, đã choán ngợp cả con tim và khối óc của chàng trai trẻ. Bài 4: Tìm và phân tích ẩn dụ trong các câu thơ sau: "Nghe dào dạt mười bốn triệu miền Nam đang tỉnh thức Không! Ba mươi triệu kim cương của thiên hà Tổ quốc! Không! Hàng nghìn triệu ngôi sao sáng anh em đang chiếm lĩnh bầu trời! Hứa một Mùa Gặt Lớn ngày mai." ( Sao chiến thắng - Chế Lan Viên) Bài 5: Tìm biện phép ẩn dụ trong đoạn thơ sau: "Mùa thu nay sao bão mưa nhiều Những cửa sổ con tàu chẳng đóng Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh " ( Tự hát - Xuân Quỳnh) 3.Các bài tập về biện pháp nhân hoá (Nguyễn Thuỳ Dương) Bài 1: Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ nào ? "Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa" Nhân hoá và so sánh C. Ẩn dụ và hoán dụ. Nói quá và liệt kê. D. Chơi chữ và điệp từ. Gợi ý: A Bài 2. Trong câu ca dao sau đây: "Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta" Cách trò chuyện với trâu trong bài ca dao trên cho em cảm nhận gì ? Gợi ý: - Chú ý cách xưng hô của người đối với trâu. Cách xưng hô như vậy thể hiện thái độ tình cảm gì ? Tầm quan trọng của con trâu đối với nhà nông như thế nào ? Theo đó em sẽ trả lời được câu hỏi. Bài 3: Tìm phép nhân hóa và nêu tác dụng của chúng trong những câu thơ sau: "Trong gió trong mưa Ngọn đèn đứng gác Cho thắng lợi, nối theo nhau Đang hành quân đi lên phía trước." (Ngọn đèn đứng gác- Chính Hữu) Gợi ý: Chú ý cách dùng các từ vốn chỉ hoạt động của người như: - Đứng gác, nối theo nhau, hành quân, đi lên phía trước V. MỞ RỘNG VẤN ĐỀ VÀ MỘT SỐ LƯU Ý VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ ( ẨN DỤ, SO SÁNH, NHÂN HOÁ)( Người làm: Nguyễn Quỳnh Anh) 1. Mở rộng vấn đề a/ Ẩn dụ: - Ẩn dụ được dùng nhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày làm cho lời nói trong cuộc hội thoại mang đậm màu sắc biểu cảm, cảm xúc. * Ví dụ: - Khi mẹ nựng con thường nói: cục cưng, cục vàng, - Sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: giọng chua, máu nóng, - Để tăng thêm giá trị hàm súc cho lời nói người ta thường sử dụng những thành ngữ như: Nuôi ong tay áo, gậy ông đập lưng ông, con nhà lính tính nhà quan, b/ So sánh: - Người ta thường sử dụng thành ngữ so sánh để diễn tả hình ảnh được cụ thể, sinh động hơn hoặc trong việc thể hiện tư tưởng tình cảm của người viết sẽ tạo ra lối nói hàm xúc giúp người đọc, người nghe dễ nắm bắt tư tưởng, tình cảm của người nói. * Ví dụ: - Bạn ấy trắng như trứng gà bóc. - Nó chạy nhanh như chớp. c/ Nhân hoá: - Nhân hoá có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm.Nhân hoá được dùng rộng rãi trong các phong cách : khẩu ngữ, chính luận,văn chương. Ngoài ra còn có biện pháp vật hoá. Ðó là cách dùng các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang chỉ những thuộc tính và hoạt động của con người. Biện pháp này thường được dùng trong khẩu ngữ và trong văn thơ châm biếm. *Ví dụ: Gái chính chuyên lấy được chín chồng Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi, Ai ngờ quang đứt lọ rơi Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng. ( Ca dao) 2. Một số lưu ý về các biện pháp tu từ a/ Phân biệt ẩn dụ tu từ với ẩn dụ từ vựng: - Ẩn dụ từ vựng là ẩn dụ nghĩa chuyển đã được cố định hoá trong hệ thống ngôn ngữ, được đưa vào trong từ điển và được toàn dân sử dụng. - Trong khi đó, ẩn dụ tu từ mang tính sang tạo riêng. Nó được dùng với nghĩa phù hợp trong từng ngữ cảnh khác nhau, cách chuyển đổi tên gọi lâm thời hay những cách dùng Tiếng Việt có tính cách cá nhân. Ẩn dụ loại này được sử dụng như một biện pháp tu từ nhằm tăng sức gợi cảm, gợi hình và giá trị thẩm mĩ cho sự diễn đạt. *Ví dụ: Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân ( Ca dao) Ở câu trên từ " chân" trong cụm từ" kiềng ba chân" là ẩn dụ từ vựng chỉ phần dưới cùng của người hoặc vật tiếp xúc với mặt nền. Gìn vàng giữ ngọc cho hay Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời ( Nguyễn Du) Câu này, từ "chân" trong cụm từ" kẻ chân mây cuối trời" được dùng để chỉ Kim Trọng. Đây là ẩn dụ tu từ. b/ Phân biệt phép tu từ ẩn dụ với tu từ so sánh * Giống nhau: - Đều là cách liên tưởng để rút ra nét tương đồng giữa hai đối tượng khác loại. Nét tương đồng này là cơ sở để hình thành nên ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ. * Khác nhau: - So sánh thường cần đến từ so sánh hoặc dấu hiệu nhận biết phân biệt giữa các vế so sánh và vế được so sánh ( ví dụ: dấu gạch ngang, dấu hai chấm...) So sánh có thể ngang bằng hoặc không ngang bằng. - Ẩn dụ không cần từ hay dấu câu phân biệt giữa các sự vật sự việc được nêu ra. Do vậy, ẩn dụ còn được gọi là so sánh ngầm. Phép ẩn dụ giữa các sự vật sự việc thường mang ý nghĩa ngang bằng, tương đương. * Ví dụ: " Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ" ( Viễn Phương) Trong 2 câu thơ trên hình ảnh mặt trời trong câu thơ thứ nhất là mặt trời thật còn hình ảnh mặt trời ở câu thơ thứ hai để chỉ hình tượng Bác Hồ . Với cách nói ẩn dụ như, nhà thơ Viễn Phương đã làm nổi bật hình tượng Bác Hồ. Bác tượng trưng cho ánh sáng của lí tưởng, soi rõ đường đi cho cả dân tộc Việt Nam. Bác luôn tỏa rạng ánh hào quang bất tử như mặt trời chói lọi trên cao. "Trẻ em như búp trên cành Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan." (Hồ Chí Minh) Trong ví dụ trên" trẻ em" được so sánh với" búp trên cành" c/ Phân biệt so sánh tu từ với so sánh luận lí: * Giống nhau: - Đều là thao tác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối tượng với nhau * Khác nhau: - Nếu so sánh tu từ là sự đối chiếu giữa các đối tượng khác loại thì so sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại. - Nếu so sánh tu từ nhằm mục đích gợi lên một cách hình ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên xúc cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận thì so sánh luận lí đơn thuần chỉ cho ta thấy sự ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi. * Ví dụ: So sánh tu từ So sánh luận lí - Ðôi ta như cá ở đìa Ngày ăn tản lạc, tối dìa ngủ chung - Ðứt tay một chút chẳng đau Xa nhau một chút như dao cắt lòng. - Khôi đã cao bằng mẹ. - Con hơn cha nhà có phúc. -Nam học giỏi như Bắc. d/ Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ: * Điểm giống nhau giữa ẩn dụ và hoán dụ : - Bản chất cùng là sự chuyển đổi tên gọi: gọi sự vật hiện tượng bằng một gọi khác ( lấy A để chỉ B) - Cùng dựa trên quy luật liên tưởng. - Tác dụng của ẩn dụ và hoán dụ : Làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho lời văn, biểu đạt cảm xúc *Điểm khác biệt giữa ẩn dụ và hoán dụ: - Cơ sở liên tưởng khác nhau: + Ẩn dụ dựa vào sự liên tưởng tương đồng, tức là giữa A và B có điểm gì đó giống nhau, nên người ta dùng A để thay cho tên gọi B. Do đó, trong trường hợp này sự vật chuyển đổi tên gọi và sự vật được chuyển đổi tên gọi thường khác phạm trù hoàn toàn. *Ví dụ : "Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông" ( Truyện Kiều - Nguyễn Du) Ở đây hoa lựu màu đỏ như lửa, bởi vậy lửa ( A) được dùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Củng Cố, Mở Rộng Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ
  • Sau Phá Thai, Nên Chọn Cách Tránh Thai Nào?
  • 5 Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Cách Sử Dụng Thuốc Tránh Thai An Toàn Nhất
  • Biện Pháp Tránh Thai Nào An Toàn Nhiều Người Dùng Nhất?
  • Viết 10 Ví Dụ Về 12 Biện Pháp Tu Từ Và Nêu Hiệu Quả Ví Dụ Của Từng Biện Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Con Gặp Lại Nhân Dân Như Nai Về Suối Cũ…
  • Phân Tích Giá Trị Biểu Đạt Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Nhà Ai Mới Nhỉ, Tường Vôi Trắng…
  • Phân Tích Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài Thơ Tây Tiến
  • Hướng Dẫn Giải Câu Hỏi Đọc Hiểu Về Bài Tây Tiến
  • Soạn Văn Bài 23: Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    Cấu tạo: mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:

    Vế A: nêu tên sự vật, sự việc được so sánh.

    Vế B: nêu tên sự vật, sự việc được dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A.

    Từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

    Từ ngữ chỉ ý so sánh ( gọi tắt là từ so sánh).

    Trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể thay đổi ít nhiều:

    Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lược bớt.

    Vế B có thể được đảo lên trước vế A cùng với từ so sánh.

    Các kiểu so sánh:

    So sánh ngang bằng:

    Ví dụ: Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    So sánh không ngang bằng:

    Ví dụ: Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

    Vai trò: Tăng sức gợi hình, gợi cảm trong ca dao, trong thơ, trong miêu tả, trong nghị luận.

    2. Nhân hóa

    Khái niệm: Nhân hoá là tả hoặc gọi con vật, cây cối, đồ vật,… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật,… trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người

    Ví dụ về một đoạn văn sử dụng biện pháp nhân hóa

    Hè năm nào tôi cũng về nhà nội chơi, sau nhà có vườn cây do chính tay ông tôi trồng và chăm sóc. Trong vườn, gia đình nhà chuối tiêu chen chúc, tựa sát vào nhau trông thật thân thiết . Mấy cây bưởi già thưa thớt lá, sai trĩu những quả xanh ngắt, giống bưởi này ngon lắm, đây là thứ cây mà ông tôi tâm đắc nhất. Phía góc vườn là cây măng cụt rậm rạp, cao hơn hẳn những cây khác, ông tôi thường gọi nó là anh cả của cả vườn, nghe ông kể, anh măng cụt này cũng kiêu ngạo lắm , ông tôi phải vất vả chăm sóc suốt năm trời mới được đón lứa quả đầu tiên. Ngự trị giữa vườn là chị xoài , tán cây rộng lớn như những cánh tay treo đầy trái xoài mập mạp. Tôi thích khu vườn này lắm, một phần vì có nhiều thứ quả ngon, một phần vì nó chứa đựng biết bao tâm huyết của ông nội tôi.

    + Chuối tiêu – chen chúc, tựa sát

    + Măng cụt – kiêu ngạo

    + Trái xoài – mập mạp

    +…..

    Tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa chúng như con người qua đó thấy được hình ảnh khu vườn vô cùng thân thiết với con người và chúng có sự sống vô cùng mãnh liệt

    3. Ẩn dụ

    a/ Khái niệm: Ẩn dụ là BPTT gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    b/ Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp:

    + Ẩn dụ hình thức – tương đồng về hình thức

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

    + Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    “Về thăm quê Bác làng Sen,

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

    + Ẩn dụ phẩm chất – tương đồng về phẩm chất

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

    + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác – chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”

    “Ơi con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng”

    c/ Lưu ý:

    – Phân biệt ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng:

    + AD tu từ: có tính lâm thời, tính cá thể, phải đặt trong từng văn cảnh cụ thể để khám phá ý nghĩa.

    4. Hoán dụ

    Thực chất Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt.

    Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:

    + Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể:

    + Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    + Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    + Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

    Ví dụ : Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.

    Chú ý : Có khá nhiều bạn khi làm bài thường xuyên bị nhầm lẫn ẩn dụ và hoán dụ. Mình sẽ nêu rõ sự khác biệt của hai biện pháp tu từ đó để các bạn có thể đạt kết quả cao hơn

    + Cơ sở liên tưởng khác nhau:

    Ẩn dụ dựa vào sự liên tưởng tương đồng, tức là giữa A và B có điểm gì đó giống nhau, nên người ta dùng A để thay cho tên gọi B. Do đó, trong trường hợp này sự vật chuyển đổi tên gọi và sự vật được chuyển đổi tên gọi thường khác phạm trù hoàn toàn.

    Ví dụ :

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

    – Hoán dụ: A và B có quan hệ gần gũi, hay đi liền với nhau.

    5. Đảo ngữ

    Đảo ngữ (còn gọi là đảo trang) là một hình thức tu từ có đặc điểm : thay đổi vị trí thông thường của một từ, cụm từ trong câu nhưng không làm mất đi quan hệ cú pháp vốn có, nhằm mục đích nhấn mạnh, thể hiện cảm xúc của người viết hoặc tạo hình ảnh, đường nét, màu sắc.

    Trật tự thông thường của kết cấu cú pháp trong câu thể hiện sắc thái trung hoà. Thay đổi trật tự này với dụng ý nghệ thuật, sẽ tạo ra sắc thái tu từ.

    Ví dụ : Trật tự thông thường :

    Mái tóc người cha bạc phơ.

    Trật tự đảo :

    Bạc phơ mái tóc người cha

    Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng Người

    (Tố Hữu)

    Sắc thái tu từ thể hiện ở chỗ : nhấn mạnh vào những thành phần đảo. Trong ví dụ trên, bạc phơ khi đưa lên đầu câu, đã trở thành yếu tố tiếp nhận thứ nhất của chuỗi lời nói. Bên cạnh sắc thái nhấn mạnh, đảo ngữ còn thể hiện sắc thái biểu cảm :

    – Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!

    (Tố Hữu)

    Đảo ngữ cũng đóng vai trò đặc biệt trong việc tạo hình ảnh, đường nét, màu sắc :

    Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà

    (Bà Huyện Thanh Quan)

    Các sắc thái này trong nhiều trường hợp được thể hiện đồng thời.

    Hình thức đảo ngữ khá phong phú. Có thể chia thành hai loại : đảo các thành phần trong câu và đảo các thành tố trong cụm từ.

    6. Điệp từ điệp ngữ

    Là BPTT nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản.

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

    + Điệp nối tiếp:

    “Mai sau

    Mai sau

    Mai sau

    Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”

    7. Nói giảm nói tránh

    Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách biểu đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá buồn đau, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu văn hóa. Nói giảm là phương tiện tu từ làm nhẹ đi, yếu đi một đặc trưng nào đó được nói đến mà người nghe vẫn hiểu được nội dung nhưng không gây ra cảm giác nặng nề, tiêu cực. Còn nói tránh là sự biểu đạt bằng một hình tượng khác, một phương thức khác, hoặc đề cập một đối tượng khác, tức là không đề cập trực tiếp đến yếu tố muốn nói, để không gây một sự bất ngờ tiêu cực hoặc tạo sự xúc phạm đến người nghe. Chẳng hạn, khi chê trách một điều gì, để người nghe dễ tiếp nhận, ta thường nói giảm nói tránh bằng cách phủ định điều ngược lại với nội dung đánh giá. Trong thực tế có nhiều thí dụ: Bạn đến chơi nhà đã quá lâu, chủ nhà rất phiền, vì còn bận việc khác thì có thể nói: “Cũng đã trưa lắm rồi, mời anh vào phòng nằm nghỉ”, hoặc “Hôm nay gặp chị rất vui, nhưng em lỡ có hẹn lúc 3 giờ chiều nay, hay là chị vào phòng em nghỉ để em đi một chút về chị em ta nói chuyện tiếp?”… Cách nói giảm nói tránh đó sẽ được người nghe hiểu rằng chủ nhà đang bận hoặc muốn kết thúc câu chuyện nhưng không gây phật ý người nghe.

    Ý nghĩa và cách dùng: Dĩ nhiên, việc sử dụng cách nói giảm nói tránh là tùy thuộc vào tình huống giao tiếp. Nói giảm nói tránh phần nhiều trường hợp để tránh những tình huống tế nhị nhưng cũng không nên dùng cách nói giảm nói tránh trong trường hợp buộc phải nói đúng mức độ sự thật hoặc cần thiết phải nói thẳng.

    8. Chơi chữ

    Chơi chữ là BPTT lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

    “Bà già đi chợ cầu đông

    Xem một que bói lấy chồng lợi chăng

    Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

    Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”

    – Các lối chơi chữ thường gặp:

    + Dùng từ ngữ đồng âm

    + Dùng lối nói trại âm (gần âm)

    + Dùng cách điệp âm

    + Dùng lối nói lái.

    + Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    – Chơi chữ được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, thường trong văn thơ, đặc biệt là trong văn thơ trào phúng, trong câu đối, câu đố,….

    9. Liệt kê

    Theo SGK liệt kê là sắp xếp, nối tiếp nhau các từ hoặc cụm từ cùng loại với nhau nhằm diễn tả các khía cạnh hoặc tư tưởng, tình cảm được đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc hơn đến với người đọc, người nghe.

    Như vậy, phép liệt kê có thể thấy trong nhiều văn bản khác nhau. Để nhận biết có phép liệt kê được sử dụng có thể thấy trong bài viết có nhiều từ hoặc cụm từ giống nhau, liên tiếp nhau và thông thường cách nhau bằng dấu phẩy “,” hoặc dấu chấm phẩy “;”.

    1. Các kiểu liệt kê

    – Dựa vào cấu tạo chia ra thành:

    + Liệt kê theo từng cặp.

    + Liệt kê không theo từng cặp.

    – Dựa vào ý nghĩa chia ra thành:

    + Liệt kê tăng tiến

    + Liệt kê không theo tăng tiến.

    – Ví dụ về liệt kê theo từng cặp:

    Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan với hoa cúc, hoa mai với hoa đào, hoa hồng và hoa ly.

    Cũng với ví dụ trên ta sẽ liệt kê không theo từng cặp:

    Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan, hoa cúc, hoa mai, hoa đào, hoa hồng, hoa ly.

    Dựa theo cấu tạo có thể tìm ra phép liệt kê đang sử dụng, rất dễ dàng.

    – Ví dụ về liệt kê tăng tiến

    Gia đình em gồm có nhiều thành viên gắn bó với nhau gồm có em gái, em, anh trai, bố, mẹ và ông bà.

    Đây là phép liệt kê tăng tiến, thứ tự trong phép liệt không thể đảo lộn.

    Ví dụ về liệt kê không tăng tiến

    Trên con đường trung tâm có rất nhiều loại phương tiện khác nhau như xe ô tô, xe đạp, xe tải, xe cứu thương đang chạy ngược xuôi.

    Trong ví dụ các thứ tự các loại xe có thể thay đổi mà không làm thay đổi ý nghĩa câu.

    Qua bài học trên các em cần nắm vững kiến thức về khái niệm liệt kê, các kiểu liệt kê và một số ví dụ minh họa. Chúc các em hiểu bài và học tập tốt.

    10. Tương phản

    Nghệ thuật tương phản đối lập là tạo ra những hành động, những cảnh tượng, những tính cách trái ngược nhau để qua đó làm nổi bật ý tưởng, một bộ phận trong tác phẩm hoặc tư tưởng chính của tác giả

    Ví dụ: Cách thể hiện thủ pháp nghệ thuật tương phản trong tác phẩm ” Sống chết mặc bay”

    Tác dụng của thủ pháp tương phản đối lập:

    + Tố cáo sự vô trách nhiệm, tham lam khốn nạn của bọn quan lại – những kẻ được xem là cha mẹ của nhân dân

    + Cảnh khốn cùng, tuyệt vọng của người dân trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên khi chống chọi với bão lũ

    Ví dụ cụ thể về đoạn văn kết hợp những biện pháp tu từ

    1. Giờ ra chơi, trường ồn như vỡ chợ. Vài nhóm nữ sinh tụ tập dưới tán lá mát rượi của cụ bàng; từng cặp từng cặp bạn nam chơi đá cầu với nhau, trên vai ai nấy đều ướt đẫm ánh nắng; một đám học sinh khác lại ùa đến căn-tin ăn quà vặt;… Cảnh vui tươi, nhộn nhịp đó khó có người học trò nào quên được. Bởi sau mỗi giờ ra chơi lại khiến chúng tôi thấy tinh thần sáng khoái hơn, tràn trề sức lực để học tập tốt hơn.

      *lại: phó từ chỉ sự tiếp diễn tương tự.

      *ồn như vỡ chợ: so sánh

      *cụ bàng: nhân hóa kiểu dùng những từ vốn dùng để gọi người để gọi sự vật.

      *ướt đẫm ánh nắng: ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. (thị giac – xúc giác)

      *trường: hoán dụ kiểu lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.

    2. + gà trống – oai vệ : nhán hóa Ò ó o…o…” Tiếng gáy to vang vọng của chú gà trống nhà em đấy. Chú đánh thức mọi người dậy – một ngày mới bắt đầu. Chú gà trống trông thật oai vệ. Thân hình cường tráng như võ sĩ trên lễ đài. Chú khoác trên mình tấm áo lông sặc sỡ, nhiều màu, bóng mượt như bôi mỡ. Lông cườm ở cổ đỏ tía. Đầu chú tròn bằng nắm tay, trên đội một chiếc vương miện đỏ chót. Mỏ hơi khoằm xuống, cứng như thép. Mắt tròn long lanh như nước. Đôi cánh cứng cáp như hai mảnh vỏ trai úp lại. Hai chân vàng bóng, bới đất tìm giun rất tài. Mỗi chân chú có một cái cựa dài nhọn hoắt chìa ra. Chùm lông đuôi vồng cong như cầu vồng bẩy sắc. Chú gà trống thật đẹp mã.

      Hằng ngày vào sáng sớm tinh mơ, chú từ chuồng nhảy ra, phóng lên cành bưởi đứng gáy. Chú vươn cái cổ đủ màu sắc và xoà cánh ra vỗ phành phạch rồi chú gáy một tràng dài, vang xa làm các con vật phải im lặng. Nghe tiếng gáy của chú, cây cối tưng bừng xoè lá đón ánh nắng mặt trời. Chim ca lích rích trong vòm lá. Sau nhiệm vụ báo thức của mình, chú ta nhảy xuống chạy đi kiếm mồi. Chú đến bên sân mổ lia lịa những hạt thóc mà bà tung ra.

      Chú gà trống làm việc rất cần mẫn và đúng giờ. Chính vì thế, chú được coi là chiếc đồng hồ báo thức. Cả nhà em đều yêu quí chú.

      + cứng như thép : so sánh + ….

    3. Cũng giống như những con sông khác, con sông quê em cũng uốn lượn như một con rồng. Nó mang hương vị mặn mòi của vùng quê em, vùng quê có di tích lịch sử (đền thờTiên La), vùng quê địa linh nhân kiệt. Chính cài hương vị ấy đã gắn bó với em đến từng thớ thịt. Tuy con sông không rộng lắm nhưng nó rất dài. Buổi sáng khi ông mặt trời nhô lên thì dòng sông mặc chiếc áo lụa đào tha thướt, trưa về chiếc áo lụa đào ấy được thay bằng chiếc áo xanh biếc mới may, chiều về chiếc áo lại được dát vàng long lanh. đêm đến, sông mặc chiếc áo đen cài một vầng trăng vào giữa ngực và những ngôi sao được gắn vào dải áo như những dải kim cương.

      Nước sông như dòng sữa ngọt tưới tiêu cho đồng ruộng, dòng nước mát luôn dang tay đón chúng em tắm mát, bơi lội nô đùa trong những ngày hè oi bức.

      Con sông đã trở thành một phần máu thịt của quê hương em. Con sông đã chứng kiến bao kỷ niệm đẹp của tuổi thơ chúng em. Rồi mai ngày em sẽ lớn khôn, nhưng rồi có đi đâu xa chân trời góc biển em vẫn nhớ về quê em, những kỉ niệm với dòng sông sẽ vẫn còn mãi trong em.

      + Nước sống như dòng sữa ngọt : So sánh+ uốn lượn như một on rồng : so sánh+ Sông – máu thịt của quê hương : nhân hóa

      + ….

    4. Nhà tôi ở một làng chài ven biển. Chiều hè, tôi thường ra đây hóng mát. Tôi ngước nhìn lên trời và bỗng reo lên: “Biển trên trời!” Tôi ngắm nhìn biển không chớp mắt, thích thú: Đẹp quá đi! đẹp quá đi!

      Bầu trời cao, xanh vời vợi tựa như mặt biển xanh hiền hoà. Những đám mây đuổi nhau, xô đẩy chẳng khác gì những con sóng lớn, xô mạnh vào bờ làm bọt biển văng tung toé. Gió cùng biển thổi rì rào tạo nên một bản nhạc không lời. Xa xa, những đàn chim hải âu bay dập dờn chẳng khác gì những cánh buồm trắng xoá trôi lửng lờ. Tôi như nghe thấy từ trên trời cao tiếng hót véo vón của những chú chim, tiếng xao động của lá cây, tiếng dạt dào của sóng biển. Tất cả như hoà cùng màu xanh dịu êm của biển. Một màu xanh bát ngát có lẽ chỉ có ở trời cao làm cho chị nắng như vẫn còn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kì diệu đó! Cây cối cũng phải ghen tị, ước ao có được màu sắc đó! Mọi người vẫn thả lưới, giăng buồm ra khơi. Riêng tôi vẫn ngồi đây trầm ngâm với những bác dừa xanh mát cả một vùng để ngắm nhìn biển, thèm khát được chơi với biển, cưỡi lên những con sóng mạnh xô vào bờ. Những cánh diều no gió của đám trẻ làng chài thi nhau bay cao vút như chắp cách cho ước mơ của trẻ thơ bay cao, bay xa hơn nữa!. Những hòn đảo nhấp nhô tựa những cung điện dưới thuỷ cung bao la, bát ngát. Những đàn cá lội tung tăng, vẩy nước tung toé. Tôi nhìn biển mà tự hỏi: “Biển đẹp đến thể mà sao còn thua cả sắc trời?”.Hôm đó, một kỉ niệm ngọt ngào nhất mà tôi đã từng có, giờ đây vẫn còn in dấu theo thời gian. Nhìn biển đẹp đến thế, tôi mới cảm nhận được hết vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên! Biển chính là người mẹ thứ hai của tôi!…

      Biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Tv Van 8A Buoi Chieu Tiet 15 16 Ppt
  • Giáo Án Ngữ Văn 9 Tự Chọn
  • Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Tuần 15. Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ
  • So Sánh Tu Từ Trong Thơ Trần Đăng Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Tre Việt Nam Của Nhà Thơ Nguyễn Duy
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Tre Việt Nam Nguyễn Duy
  • Các Đề Văn Về Bài Thơ Vội Vàng
  • Bài Tập Tự Luyện Vội Vàng
  • Phân Tích Giá Trị Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Khổ 1 Và 5 Của Bài Ánh Trăng
  • So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1.

    Lí do chọn đề tài

    Với lịch sử hơn 4000 năm văn hiến, Việt Nam đã có một kho tàng thơ ca phong

    phú và đa dạng. Thơ ca như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam từ

    ngàn xưa đến nay. Người ta yêu thơ, biến thơ thành những câu nói ví von, thành ca

    dao, dân ca hay thậm chí rút ra thành thành ngữ, hò, vè,…

    Tuy nhiên, để biến một bài thơ thành một bài hát là điều không dễ, ngoài việc

    các nhạc sĩ thay đổi về thanh điệu cho hài hòa để phổ chúng thành nhạc thì bản thân

    bài thơ cũng phải độc đáo và có âm điệu dễ hát. Cho đến nay đã có nhiều bài thơ được

    phổ nhạc nói về tình yêu như: Cô hàng xóm của Nguyễn Bính, Màu tím hoa Sim của

    Hữu Loan, Hai sắc hoa Ti-gon của TTKh, Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn,…

    Cũng là một dạng thơ được biến thành bài hát, nhưng thơ Trần Đăng Khoa

    mang một sắc thái hoàn toàn khác, những bài thơ của ông được đa số trẻ con yêu mến

    mà tiêu biểu nhất là bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ thành nhạc:

    “Hạt gạo làng ta

    Có vị phù sa

    Của sông Kinh Thầy

    Có hương sen thơm

    Của hồ nước đầy

    ……………

    Giọt mồ hôi sa

    Những trưa tháng Sáu

    Nước như ai nấu

    Chết cả cá cờ”

    …………

    (Hạt Gạo Làng Ta)

    Vì sao thơ Trần Đăng Khoa lại được đa số các trẻ nhỏ yêu mến như vậy? Bởi

    những tác phẩm thơ của ông rất gần gũi với tâm lí trẻ thơ, vần điệu ngắn gọn dễ nhớ,

    giàu ý nghĩa và hình ảnh đầy sức sống.

    1

    Trần Đăng Khoa là người đã tạo cho mình một phong cách thơ không lầm

    lẫn với bất kì nhà thơ nào, ông sáng tác còn rất sớm: khi mới lên tám tuổi! So với

    các trẻ con khác, nếu sáng tác trong độ tuổi này thì sẽ không tránh khỏi sự vụng về,

    non nớt trong suy nghĩ… nhưng đối với Trần Đăng Khoa, ông đã đạt được sự chín

    chắn trong tư duy, độc đáo trong việc thể hiện suy nghĩ, sử dụng các biện pháp tu

    từ điêu luyện và có sự trau chuốt trong cách chọn lọc từ ngữ.

    Đến với thơ Trần Đăng Khoa, người đọc có cảm giác như được trở về với tuổi

    thơ. Hình ảnh thơ mộc mạc, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu nên đã để lại ấn tượng sâu sắc

    trong lòng người đọc. Hầu hết các bài thơ đều là những bức tranh tái hiện lại cuộc

    sống ở làng quê. Từ những âm thanh trong cuộc sống đến “những năm bom đạn”

    trong chiến tranh, được thể hiện trong thơ một cách đầy đủ và rõ nét.

    Người xưa quan niệm, thơ không nhất thiết cầu kì, thơ cần nhất sự dung dị,

    Lưu Đại Khôi đã nói: “Văn chương quý ở chỗ giản dị. Phàm viết văn và cả làm thơ

    nữa, những cây bút già dặn thì giản dị, vị thanh đạm thì giản dị, khí đầy đủ thì giản

    dị, thần cao xa mà hàm chứa khôn cùng thì giản dị. Vì vậy, giản dị là cảnh giới tận

    cùng của văn chương vậy”. Bởi vì giản dị thì không cầu kì, câu chữ lại có tính triết

    lí, ý tứ sâu xa lại hàm chứa tư tưởng khôn cùng. Thơ của Trần Đăng Khoa hấp dẫn

    như loại rượu vang nho nhẹ không gây sốc, không nồng nhưng uống rồi sẽ ngấm, sẽ

    say lâu và khó bỏ.

    Thơ của Trần Đăng Khoa được đưa vào chương trình Tiếng Việt trong Sách

    giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để giảng dạy cho học sinh Phổ thông

    trung học từ rất sớm. Chúng được đánh giá rất cao và chiếm vị trí quan trọng trong

    mảng văn học thiếu nhi.

    Một lí do nữa khiến cho người viết chọn đề tài này là: tuy so sánh tu từ là biện

    pháp nghệ thuật đơn giản nhưng có vai trò vô cùng quan trọng. Thiếu so sánh trong

    giao tiếp hằng ngày thì lời nói của chúng ta trở nên khô khan, thiếu gợi hình, thiếu sinh

    động. Còn trong văn chương, nếu thiếu so sánh tu từ thì sẽ không thể nào diễn tả hết

    được cảm xúc của tác giả muốn gửi đến người đọc người nghe. Ví như câu ca dao

    “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” nếu chỉ nói

    một cách đơn thuần không có ví von, so sánh thì người phát ngôn chỉ có thể nói “Tình

    cảm của cha mẹ lớn lao không gì có thể tả được” chứ không lột tả hết sự vất vả, gian

    lao, tình yêu thương vô bờ bến của cha mẹ đối với con cái. Thông qua so sánh tu từ

    2

    3

    4

    Việc chọn đề tài này giúp người viết hiểu biết thêm về lối so sánh độc đáo và

    sáng tạo của thần đồng thơ. Mặt khác, còn trang bị cho người viết một chìa khóa cần

    thiết để thâm nhập, tiếp cận với những tác phẩm khác. Tuy nhiên trên tinh thần tiếp

    nối, kế thừa và học hỏi những công trình đi trước, người viết muốn qua công trình này

    góp thêm một phần nhỏ vốn hiểu biết của mình vào những cách nhìn lớn mang tính

    toàn diện đối với đề tài: “So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa”. Và cũng từ đề tài

    này sẽ tìm hiểu, khám phá ra được những cái hay, cái đẹp mang giá trị của nghệ thuật

    so sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa.

    3. Mục đích nghiên cứu

    Việc chọn đề tài “So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa” sẽ giúp người viết

    thấy được được tình cảm hết sức sâu đậm của tác giả đối với quê hương, đất nước.

    Hàm chứa trong mỗi câu thơ, bài thơ là nỗi niềm tâm sự, lòng trắc ẩn của nhà thơ khi

    đất nước đang trong thời kì mưa bom, bão đạn. Từ đó khẳng định: ngoài nội dung tư

    tưởng được truyền tải thì các biện pháp tu từ cũng góp một phần không nhỏ vào thành

    công chung của toàn bộ tác phẩm.

    Nghiên cứu đề tài này giúp cho người viết hiểu một cách sâu sắc hơn về các

    biện pháp tu từ mà đặc biệt là so sánh tu từ, tìm hiểu những quan niệm khác nhau của

    các nhà nghiên cứu về so sánh. Trên cơ sở đó thấy được khả năng vận dụng so sánh tu

    từ đầy sáng tạo và hết sức độc đáo của Trần Đăng Khoa.

    Hơn thế nữa, khi thực hiện đề tài này người viết sẽ nâng cao được khả năng vận

    dụng phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học ở góc độ so sánh tu từ, đó là cơ sở

    tiền đề giúp người viết có thể thực hiện những công trình nghiên cứu sau này.

    4. Phạm vi nghiên cứu

    Do không tìm được nhiều tài liệu nghiên cứu về Trần Đăng Khoa và thời gian

    nghiên cứu có hạn nên người viết không phân tích hết các tác phẩm của ông mà chỉ

    dừng lại ở ba tập thơ:

    1. Góc sân và khoảng trời (Nhà Xuất Bản Văn Học 2006)

    2. Trần Đăng Khoa thơ tinh tuyển ( Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, 2001)

    3. Thơ Trần Đăng Khoa (Nhà Xuất Bản Thanh Niên,1999)

    Thông qua những tác phẩm trong ba tập thơ để chúng ta thấy được tài năng sử

    dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt và sáng tạo. Bằng khả năng sử dụng so sánh tu từ

    hết sức độc đáo của nhà thơ đã góp phần vào thành công chung của toàn bộ tác phẩm.

    5

    Có thể nói từ trước đến nay, chưa một “nhà thơ trẻ con” nào lại có nhiều bài thơ sâu

    sắc và thành công đến thế. Trần Đăng Khoa xứng đáng với danh hiệu: “Thần đồng thơ

    ca” mà nhiều người ban tặng.

    6

    CHƯƠNG 1

    NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SO SÁNH TU TỪ

    1.1.

    Khái niệm về so sánh

    Trong giao tiếp hàng ngày chúng ta vẫn hay sử dụng hình thức so sánh để câu

    nói thêm phần thuyết phục như:

    “Lan cao hơn mẹ”

    “Mưa như trút nước

    ” Em ngoan hơn anh”

    … … … … … …

    Thậm chí, trong kho tàng thành ngữ Việt Nam từ lâu đã tồn tại nhiều thành ngữ

    dưới dạng so sánh:

    “Xấu như ma”

    “Cao như tre miễu”

    “Đen như cột nhà cháy”

    … … … … … …

    Việc dùng thủ pháp so sánh trở giúp người tiếp nhận hiểu sâu sắc hơn về những

    phương diện nào đó của sự vật, sự việc, từ đó có cái nhìn khái quát hơn về vấn đề

    được đề cập đến. Người ta chia so sánh ra làm hai loại: so sánh tu từ và so sánh luận lí.

    1.1.1. So sánh luận lí

    So sánh luận lí là đối chiếu hai đối tượng có quan hệ tương đồng. Ở so sánh

    luận lí thì cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại, mục đích của sự

    so sánh là sự xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng.

    Ví dụ:

    “10+10=15+5”

    ” Nó cao như bố nó”

    “Tôi thương bậu như chồng bậu thương”

    7

    Khi ta nói “10+10= 15+5” là chính xác, hợp lô-gích không thể chối cãi được

    vì trong biểu thức tương đương của toán học thì hai vế đều bằng 20.

    “Nó cao như bố” là chuyện bình thường vì nó và cha nó xảy ra hiện tượng di

    truyền, kiểu gen giống nhau thì chuyện cao giống nhau là điều dễ hiểu.

    Còn đối với chuyện hai chàng trai cùng thương một cô gái với mức độ tình cảm

    ngang nhau, suy cho cùng, cũng không phải là không hợp lí, là trái với quy luật tình

    yêu. Dạng so sánh này đơn thuần mang phần tin thông báo chứ không tạo ra hình ảnh

    nghệ thuật hay mang giá trị biểu cảm.

    1.1.2. So sánh tu từ

    Tác giả Cù Đình Tú trong quyển “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng

    Việt” viết: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng

    có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc

    điểm của đối tượng”.

    Tác giả Nguyễn Văn Nở trong quyển “Giáo trình phong cách học tiếng Việt”

    đưa ra định nghĩa: “So sánh tu từ (comparison) là đối chiếu hai hay nhiều đối tượng

    (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên

    trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người

    đọc, người nghe”.

    Tác giả Hữu Đạt trong quyển “Phong cách tiếng việt hiện đại” quan niệm rằng:

    “So sánh tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật, hiện tượng này giải thích

    cho thuộc tính hay tình trạng của sự vật khác”.

    Quan niệm của Lê Anh Hiển, trong quyển “Phong cách học tiếng Việt” viết:

    “So sánh (hình ảnh) là sự đối chiếu hai đối tượng có một dấu hiệu chung nào đấy

    nhằm biểu hiện một cách hình tượng đặc điểm của một trong hai đối tượng đó”.

    , độ ngắt nhịp hay ngữ điệu của câu. Cần phân biệt

    dạng thức này với hình thức đối dựa trên cơ sở cân xứng, hài hòa về số lượng âm tiết,

    ngữ điệu, thanh điệu, ngữ pháp… Còn so sánh tu từ dựa trên cơ sở so sánh những nét

    tương đồng.

    2.2.1.2.

    Quan niệm của tác giả Hữu Đạt

    Ông đưa ra mô hình khái quát của phép so sánh là AxB với:

    A: là cái chưa biết được đem ra so sánh.

    B: là cái đã biết đem ra so sánh.

    x : là phương tiện so sánh.

    Dựa trên mặt cấu trúc và ngữ nghĩa, tác giả Hữu Đạt chia ra làm 5 loại hình thức so

    sánh:

    – Loại 1: So sánh có từ so sánh

    14

    Mô hình: AxB

    Biến thể: AxB1xB2

    A, B1 B2

    A, B1x A2, B2

    Ví dụ:

    “Sống chết một lần thôi

    Con sẽ chết như những người đã chết

    Và những người đang chết”.

    (Trần Quang Long)

    “Ta yêu những gì tha thiết

    Như tre, dừa làng xóm quê hương

    Như những con người biết mấy yêu thương”.

    (Lê Anh Xuân)

    – Loại 2: So sánh không có từ so sánh.

    Mô hình: A – B

    Biến thể: A – B1B2; A1A2 – B; A1A2 – B1B2

    Ví dụ:

    “Bác ngồi đó lớn mênh mông,

    Trời cao biển rộng, ruộng đồng nước non”.

    (Tố Hữu – Sáng Tháng Năm)

    – Loại 3: So sánh ngang bằng.

    Ví dụ:

    “Qua cầu ngã nón trông cầu,

    Cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu”.

    (Ca dao)

    – Loại 4: So sánh bậc cao nhất, bậc tuyệt đối.

    Ví dụ:

    “Đội thanh niên xung phong đi lấp hố bom

    Áo em hình như trắng nhất”.

    (Phạm Tiến Duật)

    – Loại 5: So sánh bậc hơn kém.

    Ví dụ:

    15

    “Kiều càng sắc sảo mặn mà,

    So bề tài sắc lại là phần hơn.

    Làn thu thủy nét xuân sơn,

    Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”.

    (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

    2.2.1.3.

    Quan niệm của tác giả Cù Đình Tú

    Tác giả căn cứ vào hình thức và từ so sánh, đã chia ra thành các dạng thức.

    – A như (chừng như, tựa như…) B

    Ví dụ:

    ” Em đến với anh như tia nắng ấm

    Giữa những ngày mây phủ bốn phương trời

    Cơn gió lạnh mỗi giờ mỗi thấm

    Nắng lên đi đẹp quá nắng ơi”!

    (Tế Hanh – Em Đến Với Anh)

    – A là B

    Ví dụ:

    “Chúng chị là hòn đá tảng trên trời

    Chúng em chuột nhắt cứ đòi lung lai”.

    (Ca dao)

    – A bao nhiêu, B bấy nhiêu

    Ví dụ:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

    Bao nhiêu nuộc lạt thương ông bà bấy nhiêu”.

    (Ca dao)

    2.2.1.4.

    Quan niệm của tác giả Bùi Tất Tươm

    Theo ông thì so sánh tu từ có những kiểu so sánh sau:

    – Kiểu so sánh AxB và các biến thể của nó (x: như, tựa như, giống, hơn).

    Ví dụ:

    “Thân em như hạt mưa sa,

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”.

    16

    (Ca dao)

    – Kiểu A là B

    Ví dụ :

    “Cả một đời lo toan

    Lưng bà giờ như gẫy”

    (Trần Đăng Khoa – Bà Và Cháu)

    – Kiểu so sánh A bao nhiêu B bấy nhiêu.

    Ví dụ:

    “Qua đình ngã nón trông đình,

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.

    (Ca dao)

    2.2.2. So sánh nổi và so sánh chìm

    So sánh là một biện pháp tu từ tiếng Việt được cấu tạo theo mối quan hệ dựa trên

    cơ sở liên tưởng tương đồng; cho nên, chúng ta dựa trên nét tương đồng này mà phân

    so sánh tu từ ra làm hai loại: so sánh chìm và so sánh nổi.

    2.2.2.1. So sánh chìm

    Là kiểu so sánh mà nét tương đồng không được bộc lộ, thể hiện ra bằng những từ

    ngữ cụ thể. So sánh chìm làm cho những nét tương đồng lẩn khuất bên trong hai vế

    của phép so sánh cho nên người đọc tự tìm ra nét tương đồng ấy. Muốn hiểu được thì

    người đọc phải tư duy, phải liên tưởng, mà đặc biệt là hiểu được đối tượng, để xác

    định mức độ giống nhau một cách chính xác.

    Ví dụ:

    “Còn duyên như tượng tô vàng,

    Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa”.

    (Ca dao)

    “Anh như chỉ gấm thêu cờ,

    Em như rau má lờ mờ giếng khơi”.

    (Ca dao)

    “Tình anh như nước dâng cao,

    Tình em như dãy lụa đào tẩm hương”.

    (Ca dao)

    17

    “Công hoài thai như biển,

    Nghĩa dưỡng dục tựa sông”.

    (Ca dao)

    Nói “công hoài thai như biển” khiến ta liên tưởng đến công ơn sinh thành dưỡng

    dục bao la, rộng lớn, khoan dung hết mực của cha mẹ. Chính điều này làm cho sự liên

    tưởng trong so sánh chìm trở nên phong phú hơn. Nói như tác giả Cù Đình Tú: “Nó

    kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn so sánh nổi”.[tr.276]

    2.2.2.2. So sánh nổi

    Là kiểu so sánh mà nét tương đồng được bộc lộ, được nêu ra ở phép so sánh bằng

    những từ ngữ cụ thể. Trong loại so sánh này thì nét tương đồng của hai vế được bộc lộ

    một cách rõ ràng. Hay nói cách khác, so sánh nổi tác động một cách trực tiếp vào các

    giác quan của con người.

    Ví dụ:

    “Thẳng như ruột ngựa”

    “Ốm như cây tre miễu”

    “Trắng như tiên không phải duyên, anh chẳng tiếc,

    Đen như cục than hầm duyên hợp anh ưng”.

    “Một vũng nước trong, con cá vùng cũng đục,

    Đỏ như cục son tàu, gần mực cũng đen”.

    “Ngỡi nhân nay giận mai hờn,

    Lòng em thẳng cứ như đờn lên dây”.

    1.3. GIÁ TRỊ CHỨC NĂNG CỦA SO SÁNH TU TỪ

    1.3.1. Giá trị của so sánh tu từ

    Tiếng Việt có nhiều biện pháp tu từ khác nhau, ở mỗi biện pháp đều có một giá trị

    riêng. So sánh tu từ là một cách tu từ cho nên nó cũng mang những giá trị chung như các

    biện pháp tu từ khác. Trên thực tế, dù tiếng Việt khá phong phú và đa dạng so với một số

    ngôn ngữ khác trên thế giới nhưng nó cũng có giới hạn nhất định. Trong khi đó, đời sống

    của con người ngày càng phát triển, nhu cầu diễn đạt, bộc lộ tâm tư tình cảm càng cao nên

    nảy sinh ra các dạng thức tu từ làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, khiến cách diễn đạt thêm

    phần thuyết phục. Cùng với các biện pháp tu từ khác, so sánh tu từ trở nên vô cùng cần

    thiết cho sự diễn đạt, đối với cùng một đối tượng, ta có nhiều từ ngữ để biểu thị hơn và

    làm cho sự diễn tả trở nên sâu sắc, đa dạng, phong phú, mang nhiều nét nghĩa.

    18

    Ví dụ:

    “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”…(1)

    (Lòng Mẹ)

    “Mẹ là nải chuối, buồng cau”… (2)

    (Bông Hồng Cài Áo)

    Khi sử dụng biện pháp so sánh ta có rất nhiều cách để nói về hình ảnh người mẹ.

    Trong lời bài hát (1), thì cách so sánh ” lòng mẹ” như biển “Thái Bình” là một

    cách so sánh độc đáo. Biển chiếm khoảng 70% diện tích bề mặt trái đất, trong tất cả

    các biển thì biển Thái Bình là biển lớn nhất. Từ đó, người nghe có thể thấy được rằng

    tình mẹ hết sức rộng lớn, dường như không gì có thể so sánh được trên trái đất này.

    Cách so sánh ấy làm người nghe có thể suy ra một điều rằng mẹ vừa là cội nguồn, là

    tình yêu thương vừa là sự bao la, dung dị lúc nào cũng như biển cả rộng lớn mở rộng

    vòng tay đón những đứa con vào lòng.

    Lời bài hát (2) là lời người Nam Bộ hết sức mộc mạc, chân tình. Họ không thích

    phô trương tình cảm bằng những đối tượng so sánh cao sang, cầu kì, xa rời thực tế.

    Hình ảnh người mẹ trong bài hát Bông hồng cài áo được ví với “nải chuối”, “buồng

    cau” – những thứ hết sức giản dị và gần gũi với cuộc sống. Chính cách so sánh này đã

    làm cho bài hát dễ đi vào lòng người, êm ái và ngọt ngào bởi những hình ảnh thân

    thuộc của quê hương.

    1.3.2. Chức năng của so sánh tu từ

    So sánh tu từ có hai chức năng chính đó là: chức năng nhận thức và chức

    năng biểu cảm.

    1.3.2.1. Chức năng nhận thức

    Vì so sánh là dựa trên những nét nghĩa tương đồng giữa các đối tượng cho nên

    so sánh tu từ là sự phát hiện, đối chiếu những nét tương đồng ấy. Muốn được như

    thế thì người sử dụng phải có sự nhạy bén trong các giác quan, sự tế nhị trong tâm

    hồn. Từ đó, phát hiện ra những điều mà người khác chưa để ý đến. Vì vậy, chức

    năng nhận thức giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ, cặn kẽ những hàm ý ẩn

    chứa bên trong câu chữ.

    Ví dụ:

    ” Trong như tiếng hạc bay qua

    Đục như nước suối mới sa giữa trời

    19

    Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

    Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”.

    (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

    Bốn câu thơ như là bốn bức tranh, vừa thể hiện cái tài, vừa thể hiện cái tình. Cách

    so sánh mới mẻ, độc đáo, không lẫn vào đâu được. Nguyễn Du đã sử dụng thành thạo

    vốn ngôn ngữ của cha ông và thể hiện rất thành công trong tác phẩm. Chính điều này

    đã giúp tác phẩm trở thành tinh hoa và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

    1.3.2.2. Chức năng biểu cảm

    Qua các hình ảnh so sánh tu từ, người nói thể hiện ít nhiều tình cảm: yêu, ghét,

    buồn, vui, khen, chê, khinh, trọng… đối với đối tượng và qua đó tác động đến người

    nghe. Chính vì thế so sánh tu từ còn có chức năng biểu cảm. Muốn thấy rõ được chức

    năng biểu cảm thì chúng ta phải khai thác những nét nghĩa hàm ẩn, chứ không chỉ là

    sự liên tưởng đến những nét chung nhất. Ta thử xét một vài ví dụ để minh chứng:

    “Thơ, thơ đong từng ngao nhưng tác bể,

    Là cân nhỏ xíu lại cân đời” (1)

    (Chế Lan Viên)

    “Anh như con một nhà giàu,

    Em như tờ giấy bên Tàu mới sang”. (2)

    (Ca dao)

    Ở câu (2) thông qua những hình ảnh được so sánh, so sánh tu từ đã góp phần tạo

    nên sự đối lập của hai nhân vật “anh” và “em”. Qua đó, bài ca dao bộc lộ quan niệm

    trọng nam khinh nữ vốn rất đè nặng trong xã hội phong kiến. Nhờ vậy chúng ta có thể

    hiểu rõ hơn về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa, một xã hội mà quan hệ giữa

    nam và nữ có sự bất bình đẳng.

    Chung quy lại, chức năng biểu cảm là chức năng quan trọng nhất. Hiển nhiên,

    một phép so sánh nào cũng chứa đựng một lượng thông tin, từ lượng thông tin ta có

    thể ta có thể nhận ra một ý nghĩa nào đó. So sánh tu từ có chức năng vừa là công cụ

    nhận thức, vừa là phương tiện giúp chúng ta bày tỏ tình cảm, thái độ trước những

    vấn đề của xã hội. Mặt khác, nó còn giúp cho chúng ta tư duy, như lời nhận xét của

    tác giả Lê Đình Tuấn: “Trong tiếng Việt, sánh tu từ được sử dụng nhiều nhất so với

    các phương thức tu từ từ vựng khác: ẩn dụ, nhân hóa, thậm xưng, chơi chữ, phúng

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta Của Trần Đăng Khoa
  • Phân Tích Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta (Lớp 5)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Ngắn Gọn
  • Thời Gian Và Không Gian Được Miêu Tả Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Như Thế Nào? Ấn Tượng Của Anh/chị Về Cái Bóng Tối Trong Đêm Phố Huyện?
  • Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12
  • Tuyên Ngôn Độc Lập
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Ngắn Gọn
  • 1.1. Lí do chọn đề tài.

    Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có chức năng “kép” (vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều thời lượng nhất. Môn Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản cho mỗi học sinh trước khi bước vào đời. Đồng thời, nó giúp học sinh rèn luyện, nâng cao trình độ sử dụng một phương tiện học tập và lĩnh hội tri thức khoa học, nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. Học Tiếng Việt không chỉ dừng lại ở những hiểu biết về nó, mà điều quan trọng là sử dụng nó ngày một thành thạo hơn, tốt hơn vào các hoạt động giao tiếp đa dạng trong xã hội.

    Để đạt được mục tiêu trên, phân môn Luyện từ và câu đã góp phần không nhỏ, ngoài việc củng cố về các mẫu câu và mở rộng vốn từ cho học sinh thì phân môn Luyện từ và câu còn giúp các em làm quen với các biện pháp tu từ, trong đó có biện pháp tu từ so sánh. Đây là mảng kiến thức rất mới đối với học sinh lớp 3.

    Môn Tiếng Việt lớp 3 nằm trong hệ thống các môn học ở Tiểu học, với mục tiêu nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt như nghe – nói – đọc – viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.

    Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh.

    Trong chương trình Tiểu học hiện nay, phân môn Luyện từ và câu lớp 3, không có bài học riêng về kiến thức, chỉ trình bày các kiến thức (về từ gồm cả thành ngữ, tục ngữ về lao động sản xuất, văn hoá, xã hội, bảo vệ Tổ quốc; kiến thức về ngữ pháp như từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất; Dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm. Học sinh nhận biết sơ giản về các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá ) học sinh cần làm quen và nhận biết thông qua các bài tập thực hành. Qua các bài học, các em sẽ nhận biết được các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong mỗi khổ thơ, mỗi đoạn văn, các em cần phân biệt được kiểu so sánh của mỗi hình ảnh so sánh ấy; thấy được ý nghĩa, tác dụng của biện pháp so sánh trong biểu đạt ngôn ngữ làm cho sự vật hiện lên sinh động và gần gũi hơn. Để viết được những câu văn hay, những bài văn giàu hình ảnh và cảm xúc, các nhà thơ nhà văn phải có sự quan sát tinh tế và kết hợp với các biện pháp nghệ thuật để tạo nên sự thành công của tác phẩm mà trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một phần không nhỏ để làm nên điều đó . Vì vậy dạy phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 là trên cơ sở lấy quan điểm giao tiếp làm định hướng cơ bản và dạy theo tinh thần quan tâm đến việc tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hành làm bài tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

    Xuất phát từ đó mà tôi chọn đề tài: Giúp học sinh lớp 3 học tốt ” biện pháp tu từ so sánh ” trong phân môn Luyện từ và câu.

    1.2. Mục đích nghiên cứu.

    Tiếng Việt cùng với môn Toán là môn học quan trọng ở Tiểu học. Nó chiếm nhiều thời gian trong quá trình học tập, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức về mảng nghĩa của từ. Đặc biệt là các hình ảnh so sánh là một trong những nội dung mới và khó đối với học sinh. Học sinh hay nhầm lẫn về hình ảnh so sánh và nhân hóa. Vậy để giúp học sinh đạt kết quả học tập tốt hơn trong phân môn Luyện từ và câu. Tôi đã đưa ra một số biện pháp nhận biết biện pháp tu từ so sánh.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu.

    Tôi chọn học sinh lớp 3B làm đối tượng nghiên cứu trong năm học 2021-2019 tại nơi tôi công tác.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Đọc, tham khảo, nghiên cứu tài liệu.

    – Quan sát học sinh và giáo viên khi dạy phân môn luyện từ và câu trong khi đi dự giờ.

    – Điều tra, khảo sát thực tế.

    – Thực nghiệm.

    – Thống kê, so sánh đối chiếu.

    – Kiểm tra, đánh giá.

    2. NỘI DUNG .

    2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.

    Thế nào là so sánh? So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc có nét tương đồng, có dấu hiệu chung nào đó nhằm tăng sức gợi cảm hoặc diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của sự vật, sự việc.

    Trong thực tế có 2 loại so sánh là so sánh tu từ và so sánh luận lý.

    So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh. Mục đích của so sánh tu từ nhằm diễn tả một cách sinh động đặc điểm của sự vật, sự việc.

    So sánh luận lý nhằm mục đích xác lập sự tương đương giữa 2 đối tượng.

    Mặt khác, Nội dung chương trình học Luyện từ và câu lớp 3 về phần so sánh được học trong 10 tiết ở các tuần ở tuần 1,3,5,7,9,10,15,18 của học kỳ 1 với 22 bài tập khác nhau. Nội dung “so sánh” được dạy kèm với các nội dung khác. Có bài chỉ dạy một nội dung về so sánh (bài 5) nhiều bài do kết hợp với các nội dung khác như:

    So sánh được dạy cùng nội dung ôn kiểu câu: “Ai là gì ?” trong 4 tiết.

    So sánh được dạy cùng nội dung ôn kiểu câu “ Ai làm gì ?” trong 2 tiết

    So sánh được dạy cùng nội dung Danh từ (chỉ sự vật) trong 4 tiết

    Riêng tuần 9 có thêm nội dung “Từ ngữ về quê hương”

    Ở lớp 3, học sinh vẫn chỉ đang ở cuối giai đoạn của một quá trình nhận thức nên nội dung dạy học so sánh không có tiết lý thuyết riêng phần hình thành kiến thức được cung cấp thông qua hệ thống bài tập. Các bài tập được đưa ra dưới nhiều dạng khác nhau.

    Việc hiểu và tìm đúng các hình ảnh so sánh giúp học sinh làm bài tập một cách chính xác, tránh những cách hiểu khác nhau. Vậy cần có một số biện pháp đưa ra để giúp học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh.

    2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

    2.2.1. Về việc dạy của giáo viên.

    Theo quy trình dạy học phân môn Luyện từ và câu, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh nắm kiến thức. Tuy nhiên do thời lượng một tiết có hạn nên giáo viên chưa lồng ghép liên hệ, phân biệt biện pháp tu từ so sánh trong các bài học được. Do đó sau các bài học về so sánh học sinh chỉ nắm được kiến thức một cách riêng biệt. Đôi khi trong dạy học các nội dung này giáo viên có lúc bí từ ( hạn chế về vốn từ) khi lấy thêm ví dụ cụ thể ngoài sách giáo khoa để giúp học sinh phân biệt biện pháp tu từ so sánh với các mạch kiến thức khác.

    2.2.2. Về việc học biện pháp tu từ so sánh của học sinh.

    Khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực

    quan, vốn kiến thức văn học của học sinh rất ít ỏi nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế.

    Một thực tế cho thấy khi học và làm bài tập về so sánh tu từ học sinh tiếp thu và làm bài tập nhanh hơn về so sánh lí luận, có lẽ bởi so sánh lí luận trừu tượng hơn so sánh tu từ.

    Đặc biệt khi làm bài tập biện pháp tu từ so sánh thì đa số học sinh lúng túng và làm bài tập chưa đạt yêu cầu. Các em chưa nắm được yêu cầu cơ bản như: cách nhận diện sự vật, nhận diện về đặc điểm của sự vật được đem ra so sánh, từ thể hiện sự so sánh sao cho phù hợp.

    Để kiểm tra khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh tôi đã cho học sinh lớp 3B làm bài tập sau:

    Đề bài:

    Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu thơ, câu văn sau:

    a) Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành

    b) Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

    c) Trường Sơn: chí lớp ông cha

    Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào

    d) Mảnh trăng non đầu tháng lơ lửng giữa trời như một cánh diều.

    Kết quả khảo sát:

    Tổng số

    học sinh

    Số học sinh

    trả lời đúng

    Số học sinh

    trả lời sai

    Số học sinh

    không trả lời được

    25 em

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    10

    40

    10

    40

    5

    20

    Chỉ có 10 em trả lời đúng, 10 em chưa xác đinh được các hình ảnh so sánh, còn 5 em không hiểu gì.

    Đứng trước thực trạng trên, bản thân tôi rất trăn trở. Làm thế nào để giúp học sinh có thể nhận biết được biện pháp so sánh trong quá trình học tập. Bản thân tôi đã đưa ra một số biệp pháp để giúp các em nhận biết được biện pháp so sánh như sau:

    2.3. CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    2.3.1. Giáo viên phải nắm vững kiến thức về biện pháp tu từ so sánh.

    a) Về nội dung, yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng.

    *) Néi dung vÒ “biện pháp so sánh” trong phân môn Luyện từ và câu ë ch­¬ng tr×nh Tiếng Việt lớp 3.

    Kiến thức lý thuyết về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phân môn: “Luyện từ và câu”. Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 – Tập I đã dạy về so sánh gồm 8 bài với các nội dung sau:

    – So sánh: Sự vật – Sự vật.

    Ví dụ: Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành.

    – So sánh: Sự vật – Con người.

    Ví dụ: Mắt hiền sáng tựa vì sao

    Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.

    – So sánh: Âm thanh – Âm thanh.

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng lồng cổ thụ, bóng lòng hoa.

    – So sánh: Hoạt động – Hoạt động.

    Ví dụ: Con voi đen lông mượt

    Chân đi như đạp đất.

    *) Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng:

    – Tìm được những sự vật được so sánh với nhau câu văn, câu thơ.

    – Tìm được hình ảnh so sánh trong câu văn, câu thơ.

    – Nhận biết được các từ chỉ sự so sánh.

    – Nắm được các kiểu so sánh: So sánh hơn kém ; so sánh sự vật với con người ; so sánh âm thanh với âm thanh ; so sánh hoạt động với hoạt động.

    – Nêu được các từ so sánh.

    – Điền từ ngữ vào câu có hình ảnh so sánh.

    b) Biện pháp tu từ so sánh:

    So sánh là biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác nhau nhưng giống nhau ở một điểm nào đó, để hiểu rõ hơn đối tượng được nói đến.

    So sánh bao gồm:

    – Đối tượng được so sánh

    – Phương diện so sánh

    – Từ biểu thị quan hệ so sánh ( như, như thể, như là, giống, giống như, tựa như, không khác gì, bằng, là, chẳng bằng )

    – Đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh.

    So sánh có tác dụng như sau:

    – Về nhận thức: Qua so sánh, đối tượng nói đến được hiểu rõ hơn.

    – Về biểu cảm: Hình ảnh so sánh làm tăng thêm tính biểu cảm cho câu văn.

    Bài tập về so sánh có hai loại nhỏ :

    – Bài tập nhận biết phép tu từ so sánh

    – Bài tập vận dụng biện pháp tu từ so sánh

    2.3.2. H­íng dÉn häc sinh c¸ch häc tõng m¹ch kiÕn thøc vÒ so sánh th«ng qua c¸c bµi tËp cô thÓ.

    Sách Tiếng Việt lớp 3 không trực tiếp giới thiệu khái niệm so sánh ( với tư cách là một biện pháp tu từ ) cho học sinh, mà thông qua hàng loạt bài tập, dần dần hình thành ở học sinh khái niệm này. Hình thức bài tập thường là nêu câu văn, câu thơ, đoạn văn trong đó có sử dụng biện pháp tu từ so sánh; yêu cầu học sinh chỉ ra các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong câu văn, câu thơ, đoạn văn ấy.

    Chính vì thế tôi đã hướng dẫn học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh thông qua các bài tập cụ thể.

    a) Kiểu so sánh: Sự vật – Sự vật.

    Dạng bài tập này được cung cấp đan xen trong 4 tuần : Tuần 1, 3 , 9 và 15 với các bài tập cụ thể như sau:

    * Ví dụ:

    a. “Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành”

    (Huy Cận)

    b. “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

    (Vũ Tú Nam)

    c. “Cánh diều như dấu á

    Ai vừa tung lên trời”

    (Lương Vĩnh Phúc)

    d. “Ơ cái dấu hỏi

    Trông ngộ ngộ ghê

    Như vành tai nhỏ

    Hỏi rồi lắng nghe”

    (Phạm Như Hà) – (Bài tập SGK-trang 8)

    a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

    Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.

    Thanh Hải

    b. Em yêu nhà em

    Hàng xoan trước ngõ

    Hoa sao xuyến nở

    Như mây từng chùm.

    Tô Hà

    c. Mùa đông

    Trời là cái tủ ướp lạnh

    Mùa hè

    Trời là cái bếp là nung

    Lò Ngân Sủn

    d. Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

    Đất nước ngàn năm.

    (Bài tập SGK-trang 25)

    Bài 3 : Ghi lại những sự vật được so sánh với nhau trong những câu sau :

    a. Từ trên cao nhìn xuống, mặt hồ như một chiếc gương bầu dục khổng lồ, sáng long lanh. ( Ngô Quân Miện)

    b. Cầu Thê Húc màu son, cong cong như con tôm, dẫn vào đền Ngọc Sơn.

    (Ngô Quân Miện)

    c. Người ta thấy con rùa lớn, đầu to như trái bưởi, nhô lên khỏi mặt nước.

    (Bài tập SGK-trang 69)

    Cách dạy loại bài tập này, trước hết giáo viên cho một học sinh đọc thành tiếng toàn bộ bài tập. Các em khác vừa nghe, vừa nhìn vào bài tập trong sách giáo khoa. Ấn tượng thính giác kết hợp với ấn tượng thị giác giúp các em dễ nhận ra hiện tượng so sánh ẩn chứa trong các câu thơ, câu văn. Sau bước nhận biết sơ bộ đó, giáo viên hướng dẫn học sinh đi vào phân tích từng trường hợp, tìm các sự vật được so sánh hoặc các hình ảnh so sánh theo yêu cầu của bài tập.

    Với dạng bài tập này tôi thường hướng dẫn học sinh làm theo các bước sau :

    – Đọc yêu cầu bài tập. Lưu ý đọc toàn bộ bài tập

    – Hướng dẫn HS phân tích yêu cầu.

    + Bài tập yêu cầu làm gì ?

    + Để tìm được các sự vật, hình ảnh được đem ra so sánh em cần làm gì ?

    (Đọc kĩ yêu cầu và các câu văn câu thơ đề tìm các sự vật, các hình ảnh được đem ra so sánh)

    – Tìm sự vật được so sánh hoặc các hình ảnh được so sánh.

    Lưu ý HS : Đã gọi là so sánh thì phải có ít nhất 2 sự vật hoặc 2 hình ảnh trở lên được đem ra để so sánh.

    – Kết luận : Giáo viên kết luận và phân tích rõ để HS hiểu và tự làm lại được bài tập nếu sai.

    Theo cách làm này HS sẽ tìm được những sự vật hoặc những hình ảnh được so sánh với nhau theo yêu cầu của bài tập : Cụ thể là :

    1. Bài tập 2 – trang 8

    a. hai bàn tay em được so sánh với hoa đầu cành.

    b. mặt biển được so sánh với tấm thảm khổng lồ.

    c. cánh diều được so sánh với dấu á.

    d. dấu hỏi được so sánh với vành tai nhỏ.

    Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao “Hai bàn tay em” được so sánh với “Hoa đầu cành” hay vì sao nói “Mặt biển” như “tấm thảm khổng lồ”? Lúc đó giáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng hạn:

    + Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.

    + Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.

    + Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.

    + Dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai.

    Hai bàn tay

    Hoa đầu cành

    Dấu hỏi

    Vành tai

    2. Bài tập 1 – trang 25

    a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

    b. Hoa sao xuyến nở như mây từng chùm.

    c. Trời là cái tủ ướp lạnh / Trời là cái bếp lò nung

    d. Dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng

    3. Bài tập 2 – trang 69

    a. Hồ như một chiếc gương bầu dục khổng lồ

    b. Cầu Thê Húc cong cong như con tôm

    c. Đầu (con rùa) to như trái bưởi

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi củng cố cho HS về:

    – Nhận biết được sự vật hoặc hình ảnh được đem ra so sánh.

    – Để so sánh được cần phải có ít nhất hai sự vật hoặc hai hình ảnh trở lên trong cùng một ví dụ.

    – Từ để so sánh trong kiểu so sánh sự vật với sự vật là: như, là, tựa

    b) Kiểu so sánh hơn kém:

    Bước đầu sách giáo khoa chỉ cung cấp cho HS làm quen với kiểu so sánh này nên có rất ít trong chương trình.

    Ví dụ : Bài tập – trang 42, 43

    Tìm các hình ảnh so sánh trong những khổ thơ sau :

    a. Bế cháu ông thủ thỉ

    – Cháu khỏe hơn ông nhiều

    Ông là buổi trời chiều

    Cháu là ngày rạng sáng

    (Phạm Cúc)

    b. Ông trăng tròn sáng tỏ

    Soi rõ sân nhà em

    Trăng khuya sáng hơn đèn

    Ơi ông trăng sáng tỏ

    (Trần Đăng Khoa)

    Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Đêm nay con ngủ giấc tròn

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    (Trần Quốc Minh)

    Ở phần này khi kết luận cần cho HS nhận biết được các từ so sánh trong các khổ thơ để khắc sâu cho HS và giúp HS dễ dàng nhận biết được đó chính là kiểu so sánh hơn kém.

    Từ các bước làm trên HS tìm được các hình ảnh so sánh và kiểu so sánh cụ thể là :

    Hình ảnh so sánh

    Kiểu so sánh

    a. Cháu khỏe hơn ông nhiều

    Ông là buổi trời chiều

    Cháu là ngày rạng sáng

    hơn kém

    ngang bằng

    ngang bằng

    b. Trăng khuya sáng hơn đèn

    hơn kém

    c.Những ngôi sao thức chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    hơn kém

    ngang bằng

    Lưu ý: Trong câu “Trăng khuya sáng hơn đèn” HS sinh gạch dưới từ trăng hoặc cả cụm từ trăng khuya đều được xem là đúng. Hay trong câu

    “Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”

    HS có thể gạch dưới Những ngôi sao hay Những ngôi sao thức ngoài kia, mẹ hay mẹ đã thức vì chúng con đều được. Điều quan trọng là trong mỗi cụm từ đều có các từ nòng cốt : trăng, những ngôi sao, mẹ là được.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi củng cố cho HS về:

    – Các hình ảnh được so sánh trong câu thơ.

    – Các từ so sánh: là – hơn – chẳng bằng

    – Kiểu so sánh: hơn kém, ngang bằng.

    c) Kiểu so sánh: Sự vật – Con người.

    Dạng của mô hình so sánh này là:

    A như B: + A có thể là con người.

    + B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh.

    Với kiểu so sánh này tôi hướng dẫn HS nắm được yêu cầu của đề bài; tìm các hình ảnh so sánh; nhận biết về kiểu so sánh.

    a. Trẻ em như búp trên cành

    Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan

    (Hồ Chí Minh)

    b. Ngôi nhà như trẻ nhỏ

    Lớn lên với rời xanh

    (Đồng Xuân Lan)

    c. Cây pơ-mu đầu dốc

    Im như người lính canh

    Ngựa tuần tra biên giới

    Dừng đỉnh đèo hí vang

    (Nguyễn Thái Vận)

    d. Bà như quả ngọt chín rồi

    Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng.

    (Võ Thanh An)

    Với dạng bài tập này học sinh sẽ tìm được sự vật so sánh với con người nhưng các em chưa giải thích được “Vì sao?”. Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:

    Giáo viên cho học sinh xem ảnh chụp búp trên cành và giải thích thêm:

    Trẻ em” giống như “búp trên cành”. Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển đầy sức sống, chứa chan niềm hy vọng.

    Cây pơ- mu cao lơn đứng hiên ngang như người lính dũng cảm đứng canh gác giữa bầu trời.

    “Bà” sống đã lâu, tuổi đã cao giống như “quả ngọt chín rồi” đều phát triển đến độ già dặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi khắc sâu cho HS về:

    – Các hình ảnh so sánh có trong câu thơ, câu văn, chỉ rõ cho HS biết hình ảnh nào chỉ sự vật hình ảnh nào chỉ người.

    – Từ so sánh là từ như

    – Kiểu so sánh: Sự vật với con người

    d) Kiểu so sánh: Âm thanh – Âm thanh:

    Mô hình này có dạng sau:

    A như B: + A là âm thanh thứ 1.

    + B là âm thanh thứ 2.

    * Ví dụ: Bài tập 2 – trang 80

    a. “Côn Sơn suối chảy rì rầm

    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

    (Nguyễn Trãi)

    b. Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

    c. Mỗi lúc, tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động như tiếng xóc những rổ tiền đồng. Chim đầu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá. (Đoàn Giỏi)

    Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ “như”. Chẳng hạn:

    Âm thanh thứ nhất

    Từ so sánh

    Âm thanh thứ hai

    Tiếng suối

    Tiếng suối

    Tiếng chim

    như

    như

    như

    tiếng đàn cầm

    tiếng hát xa

    tiếng xóc những rổ tiền đồng

    Lưu ý: GV giải thích cho HS hiểu những gì ta chỉ có thể nghe được mà không cầm nắm được đó chính là âm thanh.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi vừa củng cố và mở rộng cho HS về:

    – Xác định được từ chỉ âm thanh có trong câu thơ, câu văn.

    – Từ so sánh: như

    – Kiểu so sánh mới: So sánh âm thanh với âm thanh

    đ) Kiểu so sánh: Hoạt động – Hoạt động.

    Mô hình này có dạng như sau:

    + A như B.

    * Ví dụ: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau: + “Con trâu đen lông mượt

    Cái sừng nó vênh vênh

    Nó cao lớn lênh khênh

    Chân đi như đạp đất”

    (Trần Đăng Khoa)

    + “Cau cao, cao mãi

    Tàu vươn giữa trời

    Như tay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100