Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non

--- Bài mới hơn ---

  • Ruột Già Là Gì, Nằm Ở Đâu Và Bao Nhiêu Mét? Cấu Trúc Và Vị Trí Đau
  • Ruột Non Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Ruột Non Là Gì? Dài Bao Nhiêu? Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Quá Trình Tiêu Hóa Ở Ruột Non Diễn Ra Như Thế Nào, Chức Năng Của Tiêu Hóa Là Gì.
  • Router Là Gì? Chức Năng Của Router Là Gì? Tìm Hiểu Về Router.
  • Ruột non dài khoảng 5-9m, trung bình 6.5m, là đoạn dài nhất của ống tiêu hóa, đi từ môn vị của dạ dày đến góc tá- hỗng tràng. Ruột non gồm ba phần là tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng.

    Tá tràng (duodenum):

    • Tá tràng là phần đầu của ruột non, đi từ môn vị (ở ngang sườn phải đốt sống lưng thứ nhất) đến góc tá- hỗng tràng (ở ngang sườn trái đốt thắt lưng thứ II).

    • Tá tràng dài khoảng 25cm, uốn cong hình chữ C hướng sáng trái và ôm quanh đầu tụy. Tá tràng đi theo một đường gấp khúc gồm bốn phần: trên, xuống, ngang và lên.

    • Phần trên từ môn vị chạy lên trên, sang phải và ra sau ở sườn phải thân đốt sống lưng I. Phần trên có đoạn đầu hơi phình to gọi là bóng tá tràng hay hành tá tràng (ampulla), và di động giữa các mạc nối.

    • Phần xuống: chạy xuống ở bên phải đầu tụy, dọc theo bờ phải các thân đốt sống lưng I-III. Phần này ở trước và dính với phần trong mặt trước thận phải. Chỗ gấp góc giữa phần trên và xuống gọi là góc tá tràng trên.

    • Phần ngang: chạy ngang từ phải sáng trái ở dưới đầu tụy, bắt chéo trước tĩnh mạch chủ dưới, thân đốt sống lưng II và động mạch chủ bụng. Chỗ gấp góc giữa phần xuống và phần ngang của tá tràng gọi là góc tá tràng dưới.

    • Phần lên: chạy lên dọc bờ trái động mạch chủ bụng và tận cùng tại góc tá hỗng tràng ở ngang sườn trái thân đốt thắt lưng II.

    Hỗng tràng và hồi tràng:

    • Hỗng tràng và hồi tràng dài khoảng 6-7m, 4/5 đoạn ở trên gọi là hỗng tràng, ranh giới hai phần không rõ ràng. Chúng uốn thành 14-16 quai hình chữ U bắt đầu từ nơi hỗng tràng liên tiếp với phần trên của tá tràng và tận hết ở chỗ hồi tràng đổ vào manh tràng. Ở trên, các quai chữ U nằm ngang, ở dưới các quai thường nằm dọc. Hỗng tràng và hồi tràng được treo vào thành lưng bởi mạc treo ruột non.

    • Hỗng tràng và hồi tràng nằm trong ổ bụng, dưới đại tràng ngang và mạc trao đại tràng ngang, phía trên là các tạng trong chậu hông bé, hai bên là đại tràng lên và đại tràng xuống. Hỗng tràng- hồi tràng được phủ ở phía trước bởi mạc nối lớn.

    Cấu tạo của ruột non giống như cấu tạo chung của thành ống tiêu hóa gồm 4 lớp: màng bọc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc.

    • Màng bọc: màng bọc của tá tràng cố định là phúc mạc ở mặt trước và mô liên kết ở mặt sau . Phúc mạc của hỗng tràng- hồi tràng được kết nối với phúc mạc thành bụng qua một nếp phúc mạc gọi là mạc treo ruột non. Phúc mạc gồm hai lớp là lớp thanh mạc và tấm dưới thanh mạc.

    • Lớp cơ gồm hai lớp cơ trơn. Các sợi cơ của lớp ngoài xếp theo chiều dọc (lớp cơ dọc), các sợi cơ của lớp trong còng quanh thành ống tiêu hóa (lớp cơ vòng). Giữa hai lớp có các mạch máu, mạch bạch huyết và một đám rối thần kinh tự chủ chi phối cho cơ trơn. Lớp cơ tạo các nhu động ruột đẩy các thành phần trong hệ tiêu hóa về phía trước, nhào trộn thức ăn với dịch tiêu hóa. Tại một số điểm trên đường đi, lớp cơ vòng dày lên tạo nên các cơ thắt. Cơ thắt có vai trò làm chậm sự dịch chuyển về phía trước của các thành phần bên trong ống tiêu hóa, giúp cho sự tiêu hóa và hấp thu có thời gian diễn ra.

    • Lớp dưới niêm mạc: là lớp mô liên kết lỏng lẻo chứa các đám rối mạch máu và thần kinh, các mạch bạch huyết và các mô dạng bạch huyết với số lượng khác nhau tùy từng loại. Các mạch máu bao gồm các tiểu động mạch, các mao mạch, các tiểu tĩnh mạch. Đám rối thần kinh trong lớp này là đám rối dưới niêm mạc, có vai trò chi phối cho niêm mạc.

    • Lớp niêm mạc có chức năng bảo vệ, tiết dịch và hấp thu. Ở ruột non, niêm mạc là lớp tế bào thượng mô trụ xen kẽ với tế bào tiết nhầy. Ở dưới bề mặt của thượng mô trụ có những tuyến đổ dịch tiêu hóa vào lòng ống tiêu hóa.

    Niêm mạc ruột non có nhiều nếp gấp hình van, bề mặt niêm mạc được bao phủ bằng những nhung mao. Mỗi mm2 niêm mạc có khoảng 20-40 nhung mao. Mỗi nhung mao là một chỗ lồi lên hình ngón tay, được bao phủ bởi một lớp tế bào biểu mô hình cột. Bờ tự do của các tế bào biểu mô của nhung mao lại chia thành những vi lông mao nên làm tăng diện tích hấp thu của ruột non lên đến 250-300 m2 . Trong mỗi nhung mao có một mạng lưới mao mạch và mạch bạch huyết. Các tế bào ruột sẽ bị rơi vào lòng ruột và được thay thế bằng các tế mới, tốc độ luân chuyển của tế bào ruột là 1-3 ngày.

    Mạch máu và thần kinh ở ruột non:

    • Động mạch: hỗng tràng và hồi tràng được cung cấp máu bởi 15-18 nhánh của động mạch mạc treo tràng trên.

    • Tĩnh mạch: các tĩnh mạch đi kèm động mạch rồi đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên.

    • Bạch huyết đổ vào các hạch tạng treo tràng (nodi lymphatici viscerales mesenteric)

    • Thần kinh gồm các nhánh tách ra từ đám rồi mạc treo tràng trên (plexus mesentericus superior).

    Chức năng ruột non là gì? Nhờ diện tích hấp thu lớn cùng với cấu trúc đặc biệt của niêm mạc ruột mà ruột non là nơi xảy ra sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn chính của cơ thể.

    • Ở ruột non, thức ăn được nhào trộn với dịch tụy, dịch mật và dịch ruột. Các kiểu vận động của thành ruột hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa gồm có: vận động lắc lư, co bóp phân đoạn, co bóp nhu động, vận động của nhung mao.

    • Dưới sự tác động của các men tiêu hóa, các thức ăn là protein, lipid, glucid được tiêu hóa thành những sản phẩm cuối cùng có thể hấp thu được là các acid amin, monosaccarid, acid béo và các glycerol. Các chất dinh dưỡng được hấp thu qua thành ruột, theo các đường tĩnh mạch về gan, sau đó theo tĩnh mạch chủ dưới về tim.

    • Lượng dịch được hấp thu hàng ngày khoảng 8-9 lít bao gồm dịch tiêu hóa và dịch của thức ăn, khoảng 77.5 lít được hấp thu ở ruột non, còn lại xuống ruột già.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non Và Ruột Già
  • Ruột Già Có Phải Đại Tràng Không? Chức Năng Của Nó Là Gì?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Già
  • Ruột Già Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo & Chức Năng
  • 4 Chức Năng Quan Trọng Của Ruột Già Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Khám Phá Cấu Tạo Và Chức Năng Ruột Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Năng Của Router Như Nào? Định Tuyến Là Như Nào?
  • Tại Sao Cần Phải Sử Dụng Router Cisco Trong Server
  • Router Cisco? Bạn Có Biết Thiết Bị Định Tuyến Này Có Gì Không?
  • Tìm Hiểu Về Các Thiết Bị Chuyển Mạch Sự Khác Nhau Giữa Chúng, Sự Khác Nhau Giữa Hub,switch Và Router
  • Phân Biệt Giữa Switch, Router Và Modem
  • Ruột non có ba vùng riêng biệt: tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng.

    Tá tràng ngắn nhất, là nơi chuẩn bị cho sự hấp thu các chất dinh dưỡng thông qua các phần nhô ra giống như ngón tay nhỏ ở niêm mạc. Hỗng tràng chuyên biệt cho sự hấp thụ qua lớp lót bởi các tế bào ruột, các chất dinh dưỡng nhỏ đã được tiêu hóa trước đó bởi các enzyme trong tá tràng. Chức năng chính của hồi tràng là hấp thụ vitamin B12, muối mật và bất kỳ sản phẩm nào của quá trình tiêu hóa không được tá tràng hấp thụ

    1.1. Kích thước

    Chiều dài của ruột non có thể thay đổi rất nhiều, từ 3 mét đến dài 10 mét, tùy thuộc vào kỹ thuật đo được sử dụng. Điển hình ở một người sống là dài 3 – 5m. Chiều dài ruột non phụ thuộc cả vào chiều cao của người đó và chiều dài được đo. Những người cao hơn thường có ruột non dài hơn và các phép đo thường dài hơn sau khi chết và khi ruột trống

    Nó có đường kính xấp xỉ 1,5 cm ở trẻ sơ sinh sau 35 tuần tuổi thai, và đường kính 2,5 – 3 cm ở người lớn. Trên X-quang bụng, ruột non được coi là giãn bất thường khi đường kính vượt quá 3 cm. Trên CT scan, đường kính trên 2,5 cm được coi là giãn bất thường. Đường kính ruột non trên CT scan ở người lớn:

    Diện tích bề mặt của niêm mạc ruột non do sự mở rộng bởi các nếp gấp, nhung mao và vi nhung mao, trung bình khoảng 30m 2.

    1.2. Các bộ phận

    Ruột non được chia thành ba phần cấu trúc.

    Là một cấu trúc ngắn, dài từ 20 cm đến 25 cm và có hình chữ “C”. Nó bao quanh đầu tụy. Nó nhận được các enzym tiêu hóa từ dạ dày, cùng với dịch tụy từ tuyến tụy và dịch mật từ gan. Các enzyme tiêu hóa phân hủy protein và mật nhũ hóa chất béo thành các nhũ dịch. Tá tràng chứa các tuyến của Brunner tiết dịch có tính kiềm, giàu chất nhầy có chứa bicarbonate. Những chất tiết này, kết hợp với bicarbonate từ tuyến tụy, trung hòa các axit dạ dày có trong enzym dạ dày.

    Là phần giữa của ruột non, nối tá tràng với hồi tràng. Nó dài khoảng 2,5 m. Sản phẩm tiêu hóa (đường, axit amin và axit béo) được hấp thụ vào máu ở đây.

    Phần cuối cùng của ruột non. Nó dài khoảng 3 m và chứa các nhung mao tương tự như hỗng tràng. Nó hấp thụ chủ yếu vitamin B12 và axit mật, cũng như bất kỳ chất dinh dưỡng nào còn lại.

    Ruột non nhận được nguồn cung cấp máu từ động mạch thân tạng và động mạch mạc treo tràng trên. Đây là cả hai nhánh của động mạch chủ.

    Tá tràng nhận máu từ động mạc thân tạng và động mạch mạc treo tràng trên. Hỗng tràng và hồi tràng nhận máu từ động mạch mạc treo tràng trên.

    Thức ăn từ dạ dày đi vào tá tràng thông qua môn vị bởi một cơ gọi là cơ thắt môn vị.

    Ruột non là nơi diễn ra hầu hết quá trình tiêu hóa.

    Ba nhóm chất dinh dưỡng chính trải qua quá trình tiêu hóa là protein, lipid (chất béo) và carbohydrate:

    Chúng bị phân giải thành các peptide và axit amin nhỏ trước khi hấp thụ. Sự phân hủy hóa học bắt đầu trong dạ dày và tiếp tục ở ruột non. Enzyme proteolytic, bao gồm trypsin và chymotrypsin, được tiết ra bởi tuyến tụy và chúng sẽ tách protein thành các peptide nhỏ hơn. Aminopeptidase và dipeptidase giải phóng các sản phẩm axit amin cuối cùng.

    Chúng bị phân giải thành axit béo và glycerol. Lipase tụy phá vỡ chất béo thành axit béo tự do và monoglyceride. Lipase tụy hoạt động với sự trợ giúp của muối mật do gan tiết ra và được lưu trữ trong túi mật. Muối mật gắn vào triglyceride để giúp nhũ hóa chúng, giúp chúng tiếp cận với lipase tụy. Điều này xảy ra vì lipase tan trong nước nhưng chất béo là chất kỵ nước và có xu hướng hướng về nhau và cách xa môi trường nước ở ruột. Các muối mật nhũ hóa các chất béo trong môi trường nước cho đến khi lipase có thể phá vỡ chúng thành các thành phần nhỏ hơn, giúp chúng có khả năng xâm nhập vào nhung mao để hấp thụ.

    Một số carbohydrate được phân giải thành các loại đường đơn giản, hoặc monosacarit (ví dụ: glucose). Amylase tụy phá vỡ một số carbohydrate (đáng chú ý là tinh bột) thành oligosacarit. Các carbohydrate khác vào ruột già và được xử lý thêm bởi vi khuẩn đường ruột. Enzyme ở bờ bàn chải quan trọng nhất là dextrinase và glucoamylase, tiếp tục phá vỡ oligosacarit. Các enzyme ở bờ bàn chải khác là maltase, sucrase và lactase. Lactase không có ở một số người trưởng thành và đối với họ, đường sữa cũng như hầu hết các polysacarit, không được tiêu hóa ở ruột non.

    Một số carbohydrate, chẳng hạn như cellulose, hoàn toàn không được tiêu hóa, mặc dù được tạo thành từ nhiều đơn vị glucose. Điều này là do cellulose được tạo ra từ beta-glucose, làm cho các liên kết giữa các monosacaridal khác với các chất có trong tinh bột, là alpha-glucose. Con người thiếu enzyme phân tách liên kết beta-glucose, loại dành riêng cho động vật ăn cỏ và vi khuẩn từ ruột già.

    Thực phẩm tiêu hóa bây giờ có thể đi vào các mạch máu trong thành ruột thông qua sự khuếch tán hoặc vận chuyển tích cực. Ruột non là nơi mà hầu hết các chất dinh dưỡng từ thức ăn được hấp thụ. Niêm mạc của ruột non, được lót bằng biểu mô cột đơn giản. Về mặt cấu trúc, niêm mạc được bao phủ trong các nếp gấp. Các tế bào biểu mô riêng lẻ cũng có các tế bào giống như ngón tay được gọi là vi nhung mao. Chức năng của nếp gấp, nhung mao và vi nhung mao là làm tăng diện tích bề mặt có sẵn để hấp thụ chất dinh dưỡng và hạn chế mất chất dinh dưỡng ở đường ruột.

    Các tế bào biểu mô của nhung mao vận chuyển các chất dinh dưỡng từ lòng ruột vào các mao mạch: axit amin, carbohydrate và lipid. Các chất được hấp thụ được vận chuyển qua các mạch máu đến các cơ quan khác nhau của cơ thể. Đây là nơi chúng được sử dụng để xây dựng các chất phức tạp như protein cần thiết cho cơ thể chúng ta.

    Sự hấp thụ của phần lớn các chất dinh dưỡng diễn ra trong hỗng tràng, trừ các ngoại lệ đáng chú ý sau:

    • Sắt được hấp thụ trong tá tràng.
    • Folate (Vitamin B9) được hấp thu ở tá tràng và hỗng tràng.
    • Vitamin B12 và muối mật được hấp thu ở hồi tràng.
    • Nước được hấp thụ bởi thẩm thấu và lipid được hấp thụ bằng cách khuếch tán thụ động khắp ruột non.
    • Natri bicarbonate được hấp thụ bởi vận chuyển tích cực và đồng vận chuyển cùng glucose và axit amin
    • Fructose được hấp thụ bằng khuếch tán.

    4. Các bệnh lý của ruột non

    • Viêm ruột non: Nhiễm trùng (từ virus, vi khuẩn hoặc ký sinh trùng) là nguyên nhân phổ biến.
    • Ung thư ruột non: Hiếm khi, ung thư có thể ảnh hưởng đến ruột non
    • Bệnh celiac: Dị ứng với gluten (một loại protein trong hầu hết các loại bánh mì) khiến ruột non không hấp thụ được chất dinh dưỡng đúng cách. Đau bụng và sụt cân là các triệu chứng thường gặp.
    • Khối u carcinoid: là tình trạng tăng trưởng lành tính hoặc ác tính ở ruột non. Tiêu chảy và đỏ da là triệu chứng phổ biến nhất.
    • Tắc ruột: Một phần của ruột có thể bị tắc nghẽn hoặc xoắn.Đau bụng, táo bón và nôn là những triệu chứng thường gặp.
    • Hội chứng ruột kích thích (IBS): Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn đường ruột gây đau bụng hoặc khó chịu, đầy hơi, tiêu chảy hoặc táo bón.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Trong Của Thân Non
  • ✅ Trắc Nghiệm Bài 15: Cấu Tạo Trong Của Thân Non
  • Bộ Phận Và Chức Năng Của Ruột Non
  • Bài 15. Cấu Tạo Trong Của Thân Non
  • Đề Số 11 Đề Thi 45 Phút Học Kì I Sinh 6: Chức Năng Của Ruột Ở Thân Non ?
  • Ruột Non Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Ruột Non Là Gì? Dài Bao Nhiêu? Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Quá Trình Tiêu Hóa Ở Ruột Non Diễn Ra Như Thế Nào, Chức Năng Của Tiêu Hóa Là Gì.
  • Router Là Gì? Chức Năng Của Router Là Gì? Tìm Hiểu Về Router.
  • Router Là Gì? Router Làm Gì Trên Mạng?
  • Router Là Gì Và Chức Năng Của Router Wifi ?
  • Khi cần thiết, người ta có thể cắt bỏ đến 3,5m ruột non mà cơ thể vẫn phát triển bình thường. Vậy thực chất ruột non là gì, nằm ở đâu, có cấu tạo và chức năng thế nào mà người ta có thể cắt bỏ nó nhiều đến vậy?

    Ruột non là gì? Vị trí của ruột non trong cơ thể người

    Ruột non là một bộ phận thuộc ống tiêu hóa và của hệ tiêu hóa. Ngoài ruột non, ống tiêu hóa còn có ruột già, dạ dày, miệng, hầu, trực tràng, ống hậu môn và hậu môn. Còn hệ tiêu hóa thì bao gồm ống tiêu hóa và những cấu trúc và cơ quan phối hợp như: răng, môi, má, lưỡi, tuyến nước bọt, gan, túi mật và tuyến tụy.

    Trong cơ thể người, ruột non nằm sau dạ dày và trước ruột già (còn gọi là đại tràng). Chiều dài của ruột non được tính từ môn vị dạ dày đến góc tá – hỗng tràng. Ở người trưởng thành, chiều dài của bộ phận này giao động từ 5 – 9m. Nó dài hơn cả ruột già (từ 1,2 – 1,8m) và là bộ phận dài nhất trong cơ thể. Bên cạnh đó, tổng diện tích bề mặt bên trong của ruột non cũng rất lớn. Nó có thể đạt đến 500m2.

    Các thành phần cấu tạo ruột non

    Tá tràng

    Là phần đầu của ruột non. Nó dài khoảng 25cm và có hình chữ C. Tá tràng ôm quanh đầu tụy và đi theo đường gấp khúc. Phần trên hơi phình to còn được gọi là bóng tá tràng.

    Hỗng tràng và hồi tràng

    Ranh giới giữa 2 thành phần này khó được phân định chính xác. ⅘ độ dài đoạn đầu được gọi là hỗng tràng. Phần còn lại là hồi tràng. Để bụng có thể chứa được chiều dài của 2 thành phần này. Chúng được uốn lại như hình chữ U. Trung bình có 14 – 16 quai chữ U.

    Trong đó, các quai chữ U ở trên nằm ngang, ở dưới nằm dọc. Chúng được treo vào thành lưng bởi mạc treo ruột non. Bao quanh hỗng tràng và hồi tràng là ruột già.

    Đặc điểm giải phẫu của ruột non

    Các cơ quan ở ống tiêu hóa giống nhau ở cấu tạo 4 lớp gồm: màng bọc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc. Trong đó, lớp cơ được phân thành cơ dọc và cơ vòng. Cấu tạo của ruột non cũng không ngoại lệ.

    • Màng bọc có cấu tạo gồm phúc mạc ở mặt dưới và mô liên kết ở mặt sau. Phúc mạc gồm 2 lớp: lớp thanh mạc và tấm dưới thanh mạc.
    • Lớp cơ có 2 lớp cơ trơn. Giữa hai lớp này là các mạch máu, mạch bạch huyết và đám rối thần kinh tự chủ, làm nhiệm vụ chi phối cơ trơn. Lớp cơ có các nhu động ruột làm nhiệm vụ nhào trộn thức ăn và di chuyển chúng đến ruột già.
    • Lớp dưới niêm mạc có các mô liên kết lỏng lẻo. Nơi đây chứa các đám rối mạch máu và thần kinh; các mạch bạch huyết và các mô dạng này.
    • Lớp niêm mạc trong ruột non có chức năng tiết dịch, hấp thụ chất dinh dưỡng và bảo vệ cơ quan này. Do đó, nó có cấu tạo là lớp tế bào thượng mô trụ. Xen kẽ là các tế bào tiết nhầy.

    Bề mạc niêm mạc của ruột non được phủ nhiều nhung mao. Mỗi nhung mao có nhiều mao mạch và mạch bạch huyết. Chúng phân bố dày đặc đến từng lông ruột. Tốc độ thay mới tế bào ở ruột non giao động từ 1-3 ngày. Các kiểu vận động để tiêu hóa và vận chuyển thức ăn ở ruột non là: vận động lắc lư, vận động của nhung mau, co bóp nhu động và co bóp phân đoạn.

    Chức năng của ruột non

    Phần lớn các chất dinh dưỡng sẽ được hấp thu ở ruột non. Người ta tính toán được rằng lượng dịch hằng ngày tại ruột non giao động từ 8 – 9 lít. Trong đó có cả dịch tiêu hóa và dịch thức ăn. Khoảng 7,5 lít dịch sẽ được ruột non hấp thu. Còn lại chuyển xuống ruột già.

    Quá trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn ở ruột non được diễn ra như sau:

    Thức ăn đi từ dạ dày xuống ruột non sẽ được tiêu hóa bởi dịch tụy, mật và dịch ruột. Chất dinh dưỡng, chất điện giải và nước sẽ được hấp thu qua thành ruột. Các chất này (bao gồm cả chất độc hại) sẽ theo đường tĩnh mạch và đi qua gan để lọc lại. Sau đó, nó tiếp tục theo tĩnh mạch chủ về tim. Tim sẽ co tống máu chứa chất dinh dưỡng nuôi sống toàn bộ cơ thể.

    Một số bệnh thường gặp ở ruột non

    Mỗi ngày, ruột non phải làm nhiệm vụ tiêu hóa và hấp thu lượng lớn thức ăn. Dù vậy, chúng lại là cơ quan rất dễ bị tổn thương. Các bệnh lý thường gặp ở cơ quan này là:

    Các biểu hiện của bệnh này thường bị nhầm lẫn với người viêm ruột thừa cấp tính. Các triệu chứng phổ biến là đau bụng, phân lẫn máu, buồn nôn và nôn mửa. Bệnh mang yếu tố bẩm sinh. Cứ 100 trẻ được sinh ra thì có 1 trẻ bị viêm túi thừa Meckel. Bệnh xảy ra khi các túi nhỏ trong ruột non phình ra ngoài.

    Nếu bệnh không thể hiện triệu chứng ra ngoài và không có nguy cơ gây biến chứng thì bệnh nhân không cần điều trị. Trường hợp ngược lại, các bác sĩ sẽ cắt bỏ phần ruột non có túi thừa. Nếu đã xảy ra biến chứng (tắc ruột hoặc nhiễm trùng đường ruột), người bệnh có thể được chỉ định dùng thuốc kháng sinh.

    Tình trạng này hay xảy ra ở hồi tràng của ruột non. Dấu hiệu của bệnh là đau bụng từng cơn và tập trung vùng quanh rốn. Sau đó, cơn đau nhiều hơn và lan rộng ra xung quanh. Bệnh nhân có thể bị nôn mửa, táo bón, chướng bụng, dễ đổ mồ hôi và suy nhược cơ thể. Kéo dài bệnh có thể dẫn đến thủng, viêm màng bụng và nhiễm khuẩn huyết.

    Điều trị tình trạng này, các bác sĩ có thể tiến hành các biện pháp hỗ trợ hoặc phẫu thuật. Các biện pháp hỗ trợ gồm: giảm sức ép đường ruột bằng hút mũi – dạ dày; điều chỉnh các chất điện giải, chất keo; dùng kháng sinh.

    Nếu các biện pháp trên không có kết quả thì bệnh nhân sẽ được chỉ định phẫu thuật. Khi đó, các bác sĩ sẽ tháo tắc ruột và cắt bỏ đoạn ruột bị hoại tử. Sau đó nối các đoạn ruột khỏe mạnh lại với nhau.

    Tình trạng này xảy ra khi cơ vòng thực quản không kín. Bình thường cơ vòng này chỉ mở khi nuốt thức ăn. Dịch tiết từ ruột có thể tràn lên dạ dày và vào thực quản. Triệu chứng thường gặp là ợ nóng, ợ chua và khó nuốt khi ăn. Kéo dài tình trạng này có thể gây viêm loét dạ dày và tổn thương thực quản.

    Phần lớn các trường hợp bị trào ngược axit ở dạng nhẹ có thể tự điều trị bằng cách thực hiện chế độ ăn uống và sinh hoạt khoa học. Trong những trường hợp nặng, các bác sĩ sẽ kê đơn thuốc làm giảm axit và một số thuốc chống trào ngược. Ngoài ra, phẫu thuật cũng sẽ được cân nhắc trong một số trường hợp.

    Người ta thường biết đến hội chứng kích thích ruột xảy ra ở đại tràng (ruột già) nhưng ít ai biết rằng ruột non cũng xảy ra tình trạng này. Đây là hiện tượng rối loạn chức năng của ruột tái phát nhiều lần. Khá nhiều người mắc phải hội chứng kích thích ruột.

    Dù nó không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt. Triệu chứng của người mắc phải hội chứng kích thích ruột là: bụng đầy hơi, nặng và đau; nhức đầu, mất ngủ, đi đại tiện xong vẫn cảm giác chưa hết phân.

    Điều trị bệnh này cần tập trung vào chế độ ăn uống và sinh hoạt. Trong đó, cần kiêng những đồ dễ gây dị ứng và khó tiêu. Chú ý bổ sung nhiều chất xơ. Khi ăn phải ăn chậm, nhai kỹ và không được ăn quá no. Ngoài ra, trường hợp nặng có thể dùng thuốc chống đau, chống táo bón, chống sình hơi, thuốc an thần và triệt khuẩn ruột. Tuy nhiên, bạn cần phải tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng các loại thuốc này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ruột Già Là Gì, Nằm Ở Đâu Và Bao Nhiêu Mét? Cấu Trúc Và Vị Trí Đau
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non Và Ruột Già
  • Ruột Già Có Phải Đại Tràng Không? Chức Năng Của Nó Là Gì?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Già
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Già

    --- Bài mới hơn ---

  • Ruột Già Có Phải Đại Tràng Không? Chức Năng Của Nó Là Gì?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non Và Ruột Già
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non
  • Ruột Già Là Gì, Nằm Ở Đâu Và Bao Nhiêu Mét? Cấu Trúc Và Vị Trí Đau
  • Ruột Non Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Ruột già hay đại tràng là phần áp cuối trong hệ tiêu hóa – chặng cuối cùng của ống tiêu hóa là hậu môn. Ruột già có độ dài trung bình khoảng 1,5m, tuy nhiên có người lại có ruột già dài tới 1,9m. Có sự chênh lệch này là bởi vào giới tính và cơ địa của từng người không giống nhau. Ruột già ngắn hơn ruột non 4 lần nhưng tiết diện lại lớn hơn ruột non.

    Cấu tạo của ruột già chia ra làm 3 phần chính: manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ruột non thông với ruột già tại ranh giới giữa manh tràng và kết tràng. Giữa ruột non và ruột già có van hồi – manh giữ không cho các chất ở ruột già rơi ngược trở lại ruột non.

    Manh tràng

    • Manh tràng có hình dạng giống như một cái túi tròn và nằm ngay phía dưới khu vực hỗng tràng đổ vào ruột già ,dài 6 – 7cm và đường kính khoảng 7cm. Phía đầu manh tràng bịt kín có một đoạn ngắn hình giun gọi là ruột thừa có hình dạng như ngón tay với chiều dài trung bình ở người lớn khoảng 9 cm và đường kính 0,5-1 cm.

    • Ruột thừa xuất phát từ bờ trong của manh tràng, nơi gặp nhau của ba dải cơ dọc. Ruột thừa hướng xuống dưới, lòng ruột thừa thông với lòng manh tràng bằng một lỗ là lỗ ruột thừa. Ruột thừa có thể có hoặc không là 3 cơ dọc ở manh trang hợp thành là (cơ tự do, cơ dọc sau ngoài và sau trong).

    Kết tràng

    • Đây là bộ phận chính của ruột già, được chia làm 4 phần: kết tràng lên, kết tràng ngang, kết tràng xuống và kết tràng xích ma. Kết tràng đi từ manh tràng đi lên dọc theo bên phải ổ bụng cho đến khi gặp gan chỗ gặp gỡ nó uốn cong gọi là góc phải góc gan. Sau đó nó trở thành kết tràng ngang, đi ngang qua ổ bụng. Khi đến gần lách ở bên trái, kết tràng quay xuống để tạo thành kết tràng xuống chỗ uốn cong gọi là góc trái hay góc tụy. Nó đi vào khung chậu nó có hình chữ S tạo thành kết tràng xích ma.

    Trực tràng

    • Sau khi uốn cong 2 lần, kết tràng xích ma nối tiếp với trực tràng, là một ống thẳng, dài khoảng 15 cm và kết thúc ở hậu môn mở ra ngoài cơ thể. Hoạt động đóng mở của hậu môn trực tràng được kiểm soát nằm sau bàng quang ở nam và sau tử cung ở nữ.

    • Ruột già cơ bản gồm 5 lớp thứ tự từ trong ra ngoài là: Lớp niêm mạc. Lớp dưới niêm mạc. Lớp cơ gồm cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài. Lớp dưới thanh mạc. Lớp thanh mạc.

    Dịch ruột già

    Mạch máu ruột già

    • Dựa vào phôi thai và mạch máu người ta chia ruột già làm hai phần phải và trái mà ranh giới là chỗ nối 1/3 phải và 1/3 giữa kết tràng ngang:

    • Mạch máu kết tràng phải: Động mạch nuôi dưỡng kết tràng phải gồm những nhánh bên của động mạch mạc treo tràng trên là động mạch kết tràng giữa, động mạch kết tràng phải và động mạch hồi kết tràng.

    • Mạch máu kết tràng trái: Động mạch nuôi dưỡng kết tràng trái phát sinh từ động mạch mạc treo tràng dưới. Ðộng mạch mạc treo tràng dưới là nhánh của động mạch chủ bụng, chạy trong hai lá của mạc dính kết tràng trái và mạc treo kết tràng sigma, tận cùng bằng động mạch trực tràng trên.

    • Trên đường đi, động mạch mạc treo tràng dưới cho các nhánh bên là động mạch kết tràng trái nối với động mạch kết tràng giữa và các động mạch kết tràng sigma.

    • Ngoài ra, trực tràng và ống hậu môn còn nhận máu từ động mạch trực tràng giữa và dưới, xuất phát từ động mạch chậu trong.

    Chức năng của dịch ruột già

    Trong bộ phận tiêu hóa, ruột già không có enzyme tiêu hóa mà chứa chất nhầy có tính kiềm giúp làm trơn thành ruột khiến phân được di chuyển dễ dàng hơn. Chất nhầy còn có tác dụng bảo vệ niêm mạc ruột già, chúng sẽ được tiết ra nhiều hơn khi bị viêm ruột già hoặc ruột già bị những tổn thương khác.

    Hấp thu các chất dinh dưỡng và tạo ra một số chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể

    • Cơ quan có chức năng chính hấp thu chất dinh dưỡng là ruột non, không phải ruột già. Nhưng có một số chất sẽ phải đợi đến khi đi xuống ruột già thì mới có thể được chuyển hóa thành chất dinh dưỡng được. Hoạt động tiêu hóa ở đại tràng được thực hiện bằng 3 cơ vòng và 3 cơ dọc, tương tự như tại ruột non.

    • Trong ruột già có rất nhiều loại vi khuẩn như escherichia coli, enterobacter aerogenes, bacteroides fragilis,… Các loại vi khuẩn này sử dụng một số chất như vitamin B12, C và cholin để làm chất dinh dưỡng nhưng đồng thời tổng hợp một số dưỡng cần thiết khác cho cơ thể như vitamin B, B1, B6, K, axit folic,… Chức năng này là chức năng quan trọng nhất của ruột già.

    • Trong trường hợp các axit amin còn sót lại mà không làm hết nhiệm vụ tạo ra NH3, histamin, triramin thì chính các vi khuẩn trong ruột già sẽ đảm nhiệm vai trò này. Hấp thu các chất cần thiết mà ruột non làm sót lại

    Đa phần chất dinh dưỡng khi tới xuống ruột già đã được hấp thu gần hết, tuy nhiên nhờ sự hỗ trợ của bộ phận này, triệt để các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể:

    • Hấp thu nước: 1 lít nước từ ruột non được chuyển xuống ruột già và sau đó hấp thụ, khi thải ra ngoài môi trường theo đường phân hoặc nước tiểu thì chúng chỉ còn lại khoảng 100-200ml. Khi hấp thụ nước, nguyên tố Na+ cũng được hấp thụ theo để giúp cân bằng áp suất thẩm thấu. Phân ở lại càng lâu trong ruột già thì sự hấp thu nước càng tăng lên. Chính vì thế mà chúng ta thường bị táo bón khi nhịn đi cầu.
    • Hấp thu thuốc: Một số loại thuốc như an thần, hạ nhiệt, giảm đau,.. có thể được hấp thụ tại ruột già. Vì vậy, nhiều trường hợp bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em được chỉ định đưa thuốc từ đường này để chữa bệnh dưới dạng thuốc đạn.
    • Hấp thu muối: Đây là một trong những nguyên tố cần thiết cho cơ thể, được hấp thụ ở đoạn đầu ruột già.
    • Hấp thu NH3: Một số vi khuẩn trong ruột già sẽ hấp thu NH3 vào máu. Để tránh lượng NH3 được hấp thu quá lớn gây hôn mê gan thi nên tránh táo bón và viêm đại tràng, vì táo bón và viêm đại tràng là hai nguyên nhân khiến lượng NH3 được hấp thu nhiều. Thụt rửa đại tràng và dùng thuốc kháng sinh dành cho đường ruột là một lựa chọn phù hợp để điều trị những trường hợp này.

    Chức năng bài tiết phân của ruột già

    Hậu môn được cấu tạo bởi hai cơ thắt: Cơ thắt trong chính là cơ trơn, được điều khiển bởi hệ thần kinh trung ương. Cơ thắt ngoài chính là cơ vân, chịu sự điều khiển của vỏ não. Được thực hiện theo quy trình như sau:

    • Khi các phần phía trước ruột già thực hiện chức năng co bóp để đẩy phân xuống trực tràng sẽ làm căng trực tràng khiến trực tràng co bóp tác động đến cơ thắt và mở cơ thắt trong làm kích thích việc đi đại tiện. Lúc này khi chưa đủ các điều kiện thuận tiện để thực hiện động tác đại tiện, đẩy phân dịch chuyển ngược lại lên phía trên trực tràng, trừ khi phân lỏng thì quá trình này hầu như là không thể diễn ra, vì chỉ cần sự co bóp của trực tràng cũng đủ để tống phân ra ngoài.

    • Sau khi phân đã được tạo hình và đảm bảo được độ mềm cần thiết, cũng như đủ lượng thì sẽ được bài tiết. Lúc này, các chất thải rắn của cơ thể chúng ta lại được hấp thụ một lần cuối cùng ở trực tràng – đoạn cuối cùng của đại tràng (dài tầm vài cm) nối với ống hậu môn. Trong ruột già có một khối ruột dài khoảng 20cm, có khả năng thực hiện các thao tác co bóp để có thể ép chất thải và đẩy ra ngoài cơ thể. Thông thường thì hoạt động co bóp này sẽ mất xuất hiện 2 lần mỗi ngày, mỗi lần từ 10 phút đến 1h đồng hồ. Khi đại tràng co bóp, chúng ta sẽ cảm thấy đau bụng và muốn đi vệ sinh. Chất nhầy trong đại tràng không chỉ có chức năng làm mềm, kết dính chất thải mà còn có thể tạo một lớp màng ở thành cơ quan này để tránh trầy xước và giảm đi tác hại của các loại vi khuẩn.

    • Nếu có đầy đủ các điều kiện, thuận tiện cho việc đại tiện tốt, vỏ não chủ động thực hiện động tác rặn đẩy phân ra ngoài. Trung tâm thần kinh đảm nhiệm chức năng phản xạ đại tiện nằm ở các đốt tụy cuối cùng từ S2 đến S4. Nhịn đại tiện lâu ngày có thể làm giảm gây bệnh táo bón.

    Thực chất, phân của chúng ta có khối lượng khoảng 100 – 200g/ ngày, chúng chứa khoảng 75% nước, một số ít acid béo, protein không hòa tan, muối khoáng, sắc tố mật, các chất xơ không thể tiêu hóa có trong thức ăn, các loại vi khuẩn và cả những tế bào biểu mô của ruột bị bong ra cũng bị lẫn trong phân đi ra ngoài cơ thể. Chính vì có chứa nhiều vi khuẩn, do đó sau khi đi đại tiện, bạn phải vệ sinh hậu môn và tay sạch sẽ tránh để mắc các bệnh như tiêu chảy , kiết lị… để bảo vệ sức khỏe bản thân.

    Các biện pháp phòng tránh bệnh viêm đại tràng mãn tính:

    Chế độ sinh hoạt lành mạnh

    • Kiểm soát stress, căng thẳng, lo lắng, bởi điều này kéo dài gây trầm cảm hay giảm nhu động ruột, đảm bảo tinh thần vui vẻ, thoải mái, lành mạnh.

    • Ngoài ra, tăng cường vận động thể dục thể thao tăng cường sức khỏe và sức đề kháng, uống nhiều nước kết hợp xoa bóp nhẹ vùng thượng vị để kích thích tăng nhu động ruột.

    Đảm bảo chế độ ăn hợp lý, lành mạnh

    • Nên ăn nhiều thực phẩm tốt cho đại tràng và sự phục hồi như sữa đậu nành, gạo, khoai tây, cá, tăng cường rau xanh, trái cây, củ quả giàu chất xơ, chuối đu đủ giàu Kali…

    • Hạn chế ăn các loại thực phẩm còn tươi sống như nem chua, tiết canh, rau sống, gỏi các loại, lòng heo… tránh nhiễm khuẩn đường ruột.

    • Hạn chế ăn trứng, nem rán, thịt mỡ, sữa… cùng các chất gây kích thích đường ruột như cà phê, rượu bia, thuốc lá, những đồ ăn chiên nóng khó tiêu. Nên ăn thức ăn dễ tiêu, chia thành nhiều bữa nhỏ, ăn ít vào buổi tối để giảm gánh nặng cho đường ruột.

    • Dù đảm bảo chế độ ăn uống lành mạnh nhưng điều trị bệnh vẫn cần đủ thành phần dinh dưỡng, đảm bảo 1g chất đạm, 30 – 35 kcal cho mỗi 1kg cân nặng mỗi ngày, đồng thời giảm chất béo, tăng cung cấp nước, vitamin và muối khoáng.

    Khám sàng lọc định kỳ

    Để phát hiện sớm các nguy cơ có thể gây bệnh nguy hiểm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ruột Già Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo & Chức Năng
  • 4 Chức Năng Quan Trọng Của Ruột Già Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Giải Đáp: Ruột Thừa Có Tác Dụng Gì? Khi Nào Nên Cắt Bỏ?
  • Vai Trò Của Ruột Thừa Trong Hệ Miễn Dịch Và Hệ Tiêu Hóa
  • Ruột Thừa Là Gì, Nằm Ở Đâu, Có Chức Năng Gì Trong Cơ Thể?
  • Ruột Non Là Gì? Dài Bao Nhiêu? Cấu Tạo Và Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Quá Trình Tiêu Hóa Ở Ruột Non Diễn Ra Như Thế Nào, Chức Năng Của Tiêu Hóa Là Gì.
  • Router Là Gì? Chức Năng Của Router Là Gì? Tìm Hiểu Về Router.
  • Router Là Gì? Router Làm Gì Trên Mạng?
  • Router Là Gì Và Chức Năng Của Router Wifi ?
  • Router Là Gì ? Cách Hoạt Động Và Các Chức Năng Chính Của Router
  • Ruột non là bộ phận thuộc đường tiêu hóa nằm giữa tá tràng và đại tràng. Ruột non thường có chiều dài trung bình từ 3,6 – 6 m ở người lớn, đây được xem là cơ quan dài nhất trong cơ thể con người. Tổng diện tích bề mặt bên trong của ruột non đạt tới 400-500 m vuông nhờ vào lớp niêm mạc ruột có các nếp gấp với các lông ruột và lông cực nhỏ. Ruột non có các mạch máu, mao mạch bạch huyết phân bố dày đặc tới từng lông ruột.

    Ruột non gồm có 3 phần: Tá tràng – Là đoạn cong, ngắn, cố định thành sau bụng; Hỗng tràng và hồi tràng – Là hai đoạn cuốn vòng tương đối lớn. Tất cả đều là các bộ phận tiêu hóa, hấp thu thức ăn, ống mật và ống tụy đều thông ở tá tràng.

    Tiếp theo, ruột non gồm 4 lớp cơ bản đó là: Màng bọc, lớp cơ, lớp dưới niêm mạc, lớp niêm mạc, trong đó lớp cơ được phân làm cơ dọc và cơ vòng.

    Ruột non là nơi hoàn tất quá trình tiêu hóa thức ăn và nơi quan trọng có nhiệm vụ hấp thu chọn lọc các sản phẩm tiêu hóa vào máu và bạch huyết. Ở ruột non có 3 loại dịch tham gia tiêu hóa thức ăn đó là:

    + Dịch tụy: Được hình thành và bài tiết từ mô tụy ngoại tiết hay còn gọi là mô acini, chảy qua ống Wirsung, ống này nối với ống mật chủ và đổ vào phần tá tràng qua cơ vòng Oddi.

    + Mật: Mật được hình thành ở gan và dự trữ trong túi mật, khi bài xuất sẽ đi theo ống mật chủ đổ vào phần tá tràng qua cơ vòng Oddi.

    + Dịch ruột: Chúng được hình thành và bài tiết từ các tế bào nhầy, tuyến Brüner và hang Lieberkühn của ruột và bị ức chế với thần kinh giao cảm.

    Niêm mạc ruột non có công dụng tham gia vào các hoạt động hấp thu: Biểu mô phủ của ruột non có những nếp gấp gọi là nhung mao. Các tế bào biểu mô hình trụ có bờ là những vi nhung mao hướng vào lòng ruột và bờ đáy tiếp xúc với mạch máu.

    → Có thể bạn đang muốn biết: Tá tràng là gì, nằm ở đâu, chức năng của tá tràng

    2. Một số chứng bệnh thường gặp ở ruột non và hệ tiêu hóa

    – Viêm Túi Thừa Meckel: Chứng bệnh này có triệu chứng hơi giống với bệnh viêm ruột thừa cấp tính và tắc ruột cấp tính. Người bệnh sẽ bị đau đớn kiểu ổ loét ở vị trí gần rốn hoặc thấp hơn. Các cơn đau không thể giảm đi khi vẫn tiếp tục thu nhận thức ăn hoặc các chất kiềm. Bệnh nặng có thể gây chảy máu khi đi đại tiện, xuất huyết dạ dày và thủng ruột rất nguy hiểm.

    – Tắt Ruột Non Thực Thể Cấp Tính: Chứng bệnh này thường hay xảy ra ở ruột non, đặc biệt là hồi tràng, khi mắc bệnh sẽ có những triệu chứng như đau bụng thành từng cơn ở xung quanh rốn, các cơn đau ngày càng lan rộng và nặng hơn, kèm theo đó là nôn mửa, táo bón thường xuyên, sôi bụng, chướng bụng, khó tiêu, mệt mỏi, đổ mồ hôi, cơ thể suy nhược.

    Bệnh tắc ruột nếu để lâu có thể dẫn đến thủng, viêm màng bụng, viêm nhiễm khuẩn huyết khiến cho sức khỏe suy giảm trầm trọng, gây ảnh hưởng đến chất lượng sinh hoạt và công việc hàng ngày.

    – Trào ngược axit : Trào ngược axit là bệnh mà ở đó thức ăn hoặc chất lỏng di chuyển từ dạ dày vào thực quản do cơ vòng thực quản dưới không kín. Những triệu chứng cụ thể của bệnh đó là ợ nóng, ợ chua, khó nuốt, bệnh nặng có thể dẫn đến viêm loét, gây tổn thương ở răng và thực quản.

    – Hội chứng kích thích ruột: Chứng bệnh này thường hay gặp ở nữ giới, khi mắc bệnh thường có triệu chứng đau bụng, táo bón, tiêu chảy. Để điều trị hội chứng kích thích ruột hiệu quả người bệnh nên chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt hàng ngày, cụ thể như: Bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn nhiều chất xơ, tập thể dục thường xuyên, tuyệt đối không uống rượu bia, hút thuốc lá, cà phê.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ruột Non Là Gì, Nằm Ở Đâu? Cấu Tạo Và Chức Năng
  • Ruột Già Là Gì, Nằm Ở Đâu Và Bao Nhiêu Mét? Cấu Trúc Và Vị Trí Đau
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Ruột Non Và Ruột Già
  • Ruột Già Có Phải Đại Tràng Không? Chức Năng Của Nó Là Gì?
  • Nêu Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tai

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Phẫu Xương Vai (Có Video Minh Họa Chi Tiết, Dễ Hiểu)
  • Giải Phẫu Khớp Vai: Các Bộ Phận Của Vai Và Chức Năng Của Chúng
  • Thực Phẩm Chức Năng Về Xương Khớp
  • Thực Phẩm Chức Năng Tốt Cho Xương Khớp
  • Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Vỡ Xương Bánh Chè Theo Byt
  • Tai được chia ra: Tai ngoài, tai giữa và tai trong

    – Tai ngoài gồm: Vành tai có nhiệm vụ hứng sóng âm, Ống tai hướng sóng âm. Tai ngoài được giới hạn với tai giữa bởi màng nhỉ (có đường kính khoảng 1cm).

    – Tai giữa là một khoang xương, trong đó có chuỗi xương tai bao gồm: xương búa, xương đe và xương bàn đạp khớp với nhau. Xương búa được gắn vào màng nhĩ, xương bàn đạp áp vào một màng giới hạn giữa tai trong (gọi là màng cửa bàu dục – có diện tích nhỏ hơn màng nhĩ 18 – 20 lần).

    Khoang tai giữa thông với hầu nhờ có vòi nhĩ nên bảo đảm áp xuất 2 bên màng nhĩ được cân bằng

    – Tai trong gồm 2 bộ phận:

    + Bộ phận tiền đình và các ống bán khuyên thu nhận các thông tin về vị trí và sự chuyển động của cơ thể trong không gian

    + Ốc tai thu nhận các kích thích của sóng âm.Ốc tai bao gồm ốc tai xương, trong có ốc tai màng.

    Ốc tai màng là một ống màng chạy suốt dọc ốc tai xương và cuốn quanh trụ ốc hai vòng rưỡi, gồm màng tiền đình ở phía trên, màng cơ sở ở phía dưới và màng bên áp sát vào vách xương của ốc tai xương. Màng cơ sở có khoảng 24 000 sợi liên kết dài ngắn khác nhau : dài ở đinh ốc và ngắn dần khi xuống miệng ốc. Chúng chăng ngang từ trụ ốc sang thành ốc.

    Trên màng cơ sở có cơ quan Coocti, trong đó có các tế bào thụ cảm thính giác.

    Chức năng thu nhận sóng âm của tai:

    – Sóng âm vào tai làm rung màng nhĩ, truyền qua chuỗi xương tai vào tai trong trong gây sự chuyển động ngoại dịch rồi nội dịch trong ốc tai màng và tác động lên cơ quan coocti nằm trên màng cơ sở ở vùng tương ứng với tần số và cường độ của sóng âm làm các tế bào này hưng phấn chuyển thành xung thần kinh truyền về vùng thính giác ở thuỳ thái dương cho ta nhận biết về âm thanh đã phát ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tai Người Hoạt Động Và Nghe Như Thế Nào?
  • Trình Bày Cấu Tạo Của Tai?
  • Tiết8. Cấu Tạo Và Tính Chất Của Xương Tiet 8Cau Tao Va Tinh Chat Cua Xuong Ppt
  • Sự Chuyển Hóa Canxi Trong Cơ Thể
  • Bệnh Bạch Cầu Tủy Xương Mãn Tính
  • Nêu Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Sinh Học Lớp 10: Tế Bào Nhân Thực
  • Tế Bào Thực Vật Gồm Những Thành Phần Nào Và Chức Năng Ra Sao?
  • Thành Tb Và Mối Liên Kết
  • Thành Tế Bào (Cấu Tạo Và Chức Năng)
  • Cấu Tạo Tế Bào Thực Vật Chi Tiết
  • câu1

    Cấu tạo của hoa gồm:

    Đài hoa: đài hoa là bộ phận ngoài cùng của hoa, đài hoa gồm các thành phần đơn được gọi là lá đài. Lá đài thường có màu xanh và bao bọc phần còn lại của hoa khi ở trong nụ. đài hoa bao quanh hoa nên có chức năng là bảo vệ hoa. Đài hoa có màu sắc khác biệt với hoa nên thường rất nổi bật. tùy theo từng loài cây và hoa thì đài hoa có thể to nhỏ khác nhau.

    Tràng hoa: vòng kế tiếp của hoa khi tính về phía đỉnh, tràng hoa bao gồm các thành phần đơn vị gọi là cánh hoa. Những cánh hoa này thường mỏng, mềm và có màu sắc sặc sỡ để thu hút động vật giúp chúng thụ phấn. tùy theo từng hoa mà những cánh hoa có màu sắc khác nhau. Các cánh hoa sắp xếp theo một quy luật và thương xen kẽ nhau.

    Nhị hoa: vòng kế tiếp (đôi khi sắp xếp thành vài vòng), bao gồm các thành phần đơn vị gọi là nhị hoa. Nhị hoa được xem là bộ phận sinh dục đực của hoa. Nhị hoa gồm 2 thành phần:

    + Chỉ nhị: là một cuốn nhỏ kéo dài từ đầu hoa, chỉ nhị có khi dài có khi ngắn hơn hoa.

    + Bầu nhị: bầu nhị nằm trên đầu chỉ nhị, bao phấn sinh ra phấn hoa nhờ phân bào giảm nhiễm để cuối cùng phát tán đi.

    Nhụy hoa: nhụy hoa là vòng trong cùng nhất của hoa, mang tế bào sinh dục cái của hoa. Các nhụy hoa bao gồm một hay vài đơn vị thành phần gọi là lá noãn. Các bộ phận của nhụy hoa:

    + Bầu nhụy: một cấu trúc rỗng, bên trong bầu nhụy sản sinh ra các noãn. Noãn là các túi đại bào tử và tới lượt chúng, chúng sinh ra các đại bào tử nhờ phân bào giảm nhiễm để phát triển thành các thể giao tử cái. Chúng tạo ra các tế bào trứng.

    + Đầu nhụy: Phần đỉnh dính của nhụy gọi là đầu nhụy, nơi tiếp nhận phấn hoa.

    + Vòi nhụy: là cuốn nâng ỡ đầu nhụy, vòi nhụy con đường cho các ống phấn phát triển từ các hạt phấn hoa bám vào đầu nhụy.

    *Nhị và nhụy là bộ phận có chức năng sinh sản chủ yếu của hoa

    *Đài hoa và tràng hoa bao bọc nhị và nhụy nên chsung có chức năng bảo vệ nhị và nhụy.

    – chức năng của hoa: là cơ quan sinh sản chủ yếu

    câu3

    -hoa tự thụ phấn

    +là hoa có hạt phấn rơi vào đầu nhụy của chính hoa đó.

    +thường xảy ra ở hoa lưỡng tính có nhị và nhụy chín cùng một lúc

    -hoa giao phấn

    + Là hiện tượng hạt phấn của hoa này rời vào đầu nhụy của hoa kia

    + thường xảy ra ở hoa đơn tính hoặc hoa lưỡng tính có nhị và nhụy không chín cùng một lúc

    câu4

    * Đặc điểm của hoa thụ phấn nhờ sâu bọ :

    – Thường có màu sắc sặc sỡ

    – Có hương thơm, mật ngọt

    – Hạt phấn to và có gai

    – Đầu nhuỵ có chất dính

    * Đặc điểm của hoa thụ phấn nhờ gió :

    – Hoa thường nằm ở ngọn cây

    – Bao hoa thường tiêu giảm

    – Chỉ nhị dài

    – Hạt phấn nhiều, nhỏ, nhẹ

    – Đầu nhuỵ thường có lông dính

    câu5

    -quả khô khi chín thì vỏ quả khô cứng và mỏng. có hai loại quả khô : quả khô mẻ và quả khô không nẻ

    -quả thịt khi chín thì mềm, vỏ dày chứa đầy thịt quả. gồm quả toàn thịt gọi là quả mọng, quả có hạch cứng bọc lấy hạt gọi là quả hạch-quả khô khi chín thì vỏ quả khô cứng và mỏng. có hai loại quả khô : quả khô mẻ và quả khô không nẻ

    -quả thịt khi chín thì mềm, vỏ dày chứa đầy thịt quả. gồm quả toàn thịt gọi là quả mọng, quả có hạch cứng bọc lấy hạt gọi là quả hạch

    câu 7

    Điều kiện cần cho hạt nảy mầm:

    -Điều kiện bên ngoài: nước, không khí, nhiệt độ phù hợp

    – Điều kiện bên trong: chất lượng hạt giống

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 10. Cấu Tạo Miền Hút Của Rễ
  • Chương Trình Phối Hợp Tuyên Truyền Các Nhiệm Vụ Phát Triển Kinh Tế
  • Viện Kinh Tế Xây Dựng Có Quyền Hạn Gì?
  • Viện Kinh Tế Xây Dựng: Triển Khai Phương Hướng Nhiệm Vụ Năm 2022
  • Luận Văn Ths: Thực Hiện Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Việt Nam
  • Nêu Các Phần Của Thân Non Và Chức Năng Của Mỗi Phần. So Sánh Cấu Tạo Trong Của Thân Non Và Rễ

    --- Bài mới hơn ---

  • Kết Quả Chăm Sóc Phục Hồi Chức Năng Trên Người Bệnh Sau Phẫu Thuật Gãy Thân Xương Đùi
  • Đánh Giá Kết Quả Điều Trị Phẫu Thuật Biến Chứng Bong, Gẫy Nẹp Vít Sau Mổ Gẫy Thân Xương Đùi Ở Người Lớn Tại Bệnh Viện Việt Đức
  • Chức Năng Dẫn Truyền Xung Thần Kinh Từ Trung Ương Thần Kinh Đến Cơ Quan Phản Ứng Là Gì
  • Cách Bật, Tắt Thông Báo Sinh Nhật Trên Zalo
  • 10 Mẹo Chất Để Việc Sử Dụng Zalo Của Bạn Trở Nên Thú Vị Hơn
  • C1:

    Thành phần:

    1- Biểu bì:

    – Gồm một lớp tế bào trong suốt, xếp sát nhau

    Bảo vệ các phần trong của thân

    2- Thịt vỏ:

    – Gồm nhiều lớp tế bào lớn hơn. Một số tế bào chứa chất diệp lục

    Tham gia dự trữ và quang hợp

    3- Mạch rây

    – Gồm những tế bào sống vách mỏng

    Vận chuyển các chất hữu cơ

    4- Mạch gỗ

    – Gồm những tế bào có vách hóa gỗ dày, không có chất tế bào

    Vận chuyển nước và muối khoáng

    5- Ruột

    – Gồm những tế bào có vách mỏng Chứa chất dự trữ

    C2:

    Giống nhau: đều gồm 2 phần vỏ (biểu bì, thịt vỏ) và trụ giữa (bó mạch và ruột)

    Khác nhau:

    +Cấu tạo rễ:

    Biểu bì: gồm 1 lớp tế bào hình đa giác xếp sít nhau. Lông hút là tế bào biểu bì kéo dài ra

    Thịt vỏ: tế bào không chứa diệp lục.

    Mạch rây và mạch gỗ xếp xen kẽ thành 1 vòng.

    +Cấu tạo thân non:

    Biểu bì: gồm 1 lớp tế bào trong suốt xếp sít nhau. Không có lông hút.

    Thịt vỏ: có 1 số tế bào chứa diệp lục.

    Mạch rây ở ngoài mạch gỗ ở trong.

    C3:

    – Cây gỗ to ra nhờ sự phân chia các tế bào của mô phân sinh ở tầng sinh vỏ và tầng sinh trụ.

    – Tầng sinh vỏ: hằng năm sinh ra một lớp tế bào vỏ ở phía ngoài và một lớp thịt vỏ ở phía trong.

    – Tầng sinh trụ (nằm giữa mạch rây và mạch gỗ): hằng năm sinh ra ở phía ngoài một lớp mạch rây và ở phía trong một lớp mạch gỗ.

    C4:

    Có thể xác định tuổi của cây gỗ bằng cách đếm số vòng gỗ của cây (qua mặt cắt ngang thân cây). Mỗi năm, tầng sinh trụ sẽ sinh ra thêm 1 tầng mạch gỗ và một tầng mạch rây. Như vậy, mỗi năm cây sẽ cho thêm một chút gỗ ở vòng ngoài. Dựa vào số lượng vòng gỗ ta có thể đoán được số tuổi của cây.

    C5:

    – Dác: Là lớp gỗ màu sáng ở phía ngoài, gồm những tế bào mạch gỗ sống, có chức năng vận chuyển nước và muỗi khoáng.

    – Ròng: Là lớp màu thẫm, rắn chắc hơn dác, nằm ở phía trong, gồm những tế bào chết, vách dày có chức năng nâng đỡ.

    C6:

    – Người ta thường chọn phần gỗ lõi hay còn gọi là phần gỗ ròng để làm cột nhà, trụ cầu, tà vẹt.

    – Vì: Phần ròng gồm những tế bào gỗ đã chết, vách dày nên cứng chắc thích hợp cho nhiệm vụ nâng đỡ. Phần ròng cũng là nơi chưa đựng nhiều chất độc cây cất trữ trong thân nên ít mối mọt hơn phần dác, đảm bảo thời gian sử dụng bền lâu hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Sinh 7 Bài 23: Thực Hành Mổ Và Quan Sát Cấu Tạo Trong Của Tôm Sông
  • Trợ Từ Là Gì? Thán Từ Là Gì?
  • Trợ Từ Thán Từ Là Gì ? Vai Trò Trong Câu Và Các Ví Dụ
  • Soạn Bài Tình Thái Từ
  • Thán Từ Là Gì ? Tất Tật Cách Sử Dụng Thán Từ Trong Tiếng Anh
  • Bộ Phận Và Chức Năng Của Ruột Non

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Trắc Nghiệm Bài 15: Cấu Tạo Trong Của Thân Non
  • Cấu Tạo Trong Của Thân Non
  • Khám Phá Cấu Tạo Và Chức Năng Ruột Non
  • Tính Năng Của Router Như Nào? Định Tuyến Là Như Nào?
  • Tại Sao Cần Phải Sử Dụng Router Cisco Trong Server
  • Một trong những cơ quan quan trọng nhất của hệ thống tiêu hóa của chúng ta là ruột non . Ruột non nằm giữa dạ dày và ruột già và cho đến nay, là phần dài nhất của đường tiêu hóa. Trên thực tế, người ta ước tính rằng nó có chiều dài từ 3 đến 7 mét, ảnh hưởng đến nó trong các yếu tố rất đa dạng như chiều cao và kích thước của người.

    Tương tự như vậy, cũng cần lưu ý rằng ruột non là cơ quan đóng vai trò cơ bản trong đường tiêu hóa, vì nó chịu trách nhiệm hấp thụ hầu hết các chất dinh dưỡng chúng ta ăn. Nếu bạn muốn biết thêm một chút các bộ phận và chức năng của ruột non, hãy đọc tiếp và chúng tôi sẽ cho bạn biết chi tiết.

    Bộ phận của ruột non

    Ruột non nằm giữa dạ dày và ruột già và được chia thành ba phần được xác định rõ:

    • Duodenum : tá tràng là phần đầu tiên của ruột non. Nó nằm ngay dưới dạ dày, điều này cũng khiến nó trở thành một phần của ruột non có mối quan hệ nhiều hơn với cơ quan khác này. Trên thực tế, chính trong tá tràng, cả nước ép gan và tụy đều được tiết ra, cơ bản trong quá trình tiêu hóa thức ăn.
    • Jejunum : jejunum là một phần của ruột non nằm sau tá tràng. Điều này được đặc trưng bởi đã có hình dạng nổi tiếng của một ống trông không đều tự quay. Trong trường hợp của jejunum, đó là phần bất thường của ruột non được tìm thấy ở nửa trên của ruột non (ngoại trừ tá tràng). Thật khó để phân biệt nó với hồi tràng vì không có sự phân tách hữu hình như trong trường hợp của tá tràng. Trong số những khác biệt chính, cần lưu ý rằng phần này của ruột non có đường kính lớn hơn một chút so với hồi tràng, cũng như một số lượng lớn hơn của nhung mao ruột.
    • Ileon : phần cuối của ruột non là hồi tràng, tương ứng với nửa dưới của ruột non. Hồi tràng nằm sau jejunum và kết thúc ở ruột già. Nó khác với jejunum ở chỗ nó có đường kính nhỏ hơn một chút và ít lông nhung ruột.

    Chức năng của ruột non

    Chức năng chính của ruột non là sự hấp thụ của hầu hết các chất dinh dưỡng đến cơ thể chúng ta thông qua việc ăn vào. Điều này xảy ra sau khi thức ăn đã được tiêu hóa trong miệng cũng như trong dạ dày. Ngoài ra, nhờ các nước ép gan và tụy được tiết ra trong tá tràng, thức ăn đến ruột non gần như hoàn toàn lỏng, tạo điều kiện cho sự hấp thụ các chất dinh dưỡng.

    Việc hấp thụ các chất dinh dưỡng được thực hiện bằng cách tiếp xúc các chất dinh dưỡng này với thành ruột, điều này giải thích tại sao nó là một cơ quan dài như vậy với rất nhiều nếp gấp. Trên thực tế, bề mặt bên trong của ruột non bị đánh đố với sự bất thường ở dạng nhung mao ruột, ngoài việc cho phép hấp thụ các chất dinh dưỡng, còn cho phép bề mặt được mở rộng nhờ sự hấp thụ được thực hiện, chuyển đổi cơ quan này thành một trong những cơ quan nhất hiệu quả của cơ thể con người.

    Bệnh về ruột non

    • Bệnh mạch máu : đây là những bệnh thường xảy ra ở ruột non do số lượng động mạch và tĩnh mạch cao bao quanh cơ quan này (cần thiết cho các chất dinh dưỡng đi vào máu). Loại bệnh này thường biểu hiện là xuất huyết ảnh hưởng đến vùng ruột và tùy trường hợp, có thể dẫn đến mức độ nghiêm trọng lớn hơn hoặc ít hơn.
    • Bệnh celiac : đây là một bệnh đặc trưng bởi không dung nạp gluten, một loại protein có trong một số loại ngũ cốc như lúa mì, yến mạch hoặc lúa mạch. Đây là một bệnh tự miễn, trong số các triệu chứng khác nhau, gây ra teo nhung mao ruột, dẫn đến sự hấp thụ kém hơn các chất dinh dưỡng ăn vào.
    • Bệnh Crohn : bệnh đường ruột này biểu hiện như sự kích thích và viêm của thành ruột. Nó thường biểu hiện chủ yếu ở khu vực ruột non tương ứng với hồi tràng, cũng như một phần của sự tiếp tục của nó trong ruột già.
    • Khối u : khối u có thể biểu hiện ở nhiều cơ quan của cơ thể, bao gồm cả ruột non. Sự hiện diện của khối u không nhất thiết ngụ ý rằng chúng là khối u ác tính. Tuy nhiên, chính các bác sĩ sẽ xác định bản chất của các khối u và phương pháp điều trị thích hợp nhất trong từng trường hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 15. Cấu Tạo Trong Của Thân Non
  • Đề Số 11 Đề Thi 45 Phút Học Kì I Sinh 6: Chức Năng Của Ruột Ở Thân Non ?
  • Cấu Tạo, Chức Năng Và Quá Trình Tiêu Hóa Ở Ruột Non Diễn Ra Như Thế Nào?
  • Thuốc Tributel Hỗ Trợ Điều Trị Rối Loạn Chức Năng Tiêu Hóa
  • Hiểu Rõ Về Khái Niệm, Vai Trò Và Chức Năng Của Hệ Tiêu Hóa
  • Cấu Tạo Ruột Non Người Phù Hợp Với Chức Năng Hấp Thụ Dinh Đưỡng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 24. Tiêu Hóa Và Các Cơ Quan Tiêu Hóa
  • Đề + Đáp Án Hsg Môn Sinh 8 Năm 2022
  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Và Chức Năng Của Các Bộ Phận Modem Wifi Cáp Quang Viettel
  • Tìm Hiểu Router Là Gì? Router Có Chức Năng , Cấu Tạo Ra Sao?
  • Router Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Modem Và Router
  • Chúng ta đã biết ruột non không chỉ là nơi tiến hành biến đổi () chủ yếu thức ăn về mặt hóa học ( tiêu hóa hóa học) thành những hợp chất dinh dưỡng đơn giản mà còn là nơi diẽn ra quá trình hấp thụ các sản phẩm đó nên dặc điểm cấu tạo của ruột thể hiện sự thích nghi cao độ với chức năng này.

    Ruột tuy là đoạn dài nhất trong ống tiêu hóa nhưng cũng chỉ dài khoảng 3m, đường kính của ruột non khoản 2,5cm. Nhưng bề mặt hấp thụ thì rất lớn, vì trong lớp niêm mạc ruột có nhiều nếp gấp chạy vòng, cao đến 10mm nằm suốt từ tá tràng đến giữa đoạn hồi tràng. Các nếp gấp này làm tăng bề mặt hấp thụ của ruột và là cho dưỡng chấp chuyển vận chậm, vừa đi vừa được trộn đều với dịch tiêu hóa ở ruột phối hợp với sự co bóp của các lớp cơ dọc và cơ vòng thành ruột, giúp cho sự biến đổi hóa học của thức ăn được triệt để, tạp điều kiện cho hấp thụ được dễ dàng.

    Niêm mạch ruột ngoài có nếp gấp, trên bề mặt còn nổi lên các lông ruột xếp sít nhau tư như một tấm thảm nhung với các sợi lông cao 0,5 – 1mm. Thảm lông này dày nhất ở tá tràng và giảm dần khi chuyển xuống hồi tràng. Trong mỗi lông ruột có một mạng mao mạch máu bao quanh một mao mạch bạch huyết, tham gia vào sự tiếp nhận các chất hấp thụ (sản phẩm của quá trình tiêu hóa).

    Các lông ruột được bao quanh bằng một lớp tế bào biểu bì xếp sít nhau, gồm hai loại:

    • Tế bào biểu bì trụ là tế bào hấp thụ.
    • Tế bào tiết chất nhầy nằm xen kẽ.

    Các tế bào hấp thụ của lông ruột, trên đỉnh hướng về ống ruột các các lông cực nhỏ cao khoảng 1μm (micrômet) như lông bàn chải.

    Nhờ ba cấp độ cấu trúc nêu trên của nêm mạch ruột ( nếp gấp nêm mạc ruột, lông ruột và lông cực nhỏ) đã làm cho bề mặt hấp thụ các sản phẩm tiêu hóa của ruột người nói riêng và các động vật nói chung tăng lên rất nhiều.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rối Loạn Chứng Năng Tiêu Hóa Do Hội Chứng Ruột Kích Thích
  • Obd: Ruột Opiate Gây Ra Rối Loạn Chức Năng
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Rối Loạn Chức Năng Khác Của Ruột Tại Bệnh Viện Bưu Điện
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Rối Loạn Chức Năng Khác Của Ruột Tại Bệnh Viện E
  • Triệu Chứng, Điều Trị Bệnh Rối Loạn Chức Năng Khác Của Ruột Tại Bệnh Viện Đa Khoa Kv Long Thành
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100