Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs

--- Bài mới hơn ---

  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs Baithuhoachgiuhangthcsthu Docx
  • Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc Tốt Nhất
  • Giải Pháp Xử Lý Hiệu Quả Khi Tường Nhà Bị Ẩm Mốc
  • Tấm Nhựa Ốp Tường Là Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc
  • Tường Nhà Bị Ẩm Có Dán Tường Được Không
  • 3

    PHẦN 1 : KẾT QUẢ THU ĐƯỢC SAU KHI THAM GIA KHÓA BỒI DƯỠNG

    Giới thiệu tổng quan chuyên đề học tập trong Khóa bồi dưỡng.

    4

    1.2. Kết quả thu hoạch về lý luận, thực tiễn hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở.

    5

    1.2.1. Cơ sở lí xã hội hóa giáo dục

    6

    1.2.2. Cơ sở thực tiễn của xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở.

    7

    1.2.3. Một số giải pháp cụ thể để thực hiện xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở phù hợp với bối cảnh ở địa phương.

    8

    PHẦN 2: KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CỦA BẢN THÂN SAU KHÓA BỒI DƯỠNG

    9

    2.1. Yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp đối với bản thân

    10

    2.1.1. Giới thiệu sơ lược về bản thân

    11

    2.1.2. Tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp của bản thân (GV THCS)

    12

    2.1.3. Tiêu chuẩn chức danh giáo viên trung học cơ sở hạng II

    13

    2.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của cá nhân trước khi tham gia khóa bồi dưỡng.

    14

    2.3. Kế hoạch hoạt động cá nhân sau khi tham gia khóa bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp.

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    STT

    Chữ viết tắt

    Nội dung viết tắt

    5

    BCH TW

    Ban chấp hành trung ương

    6

    NQ TW

    Nghị quyết trung ương

    7

    QĐ-TTg

    Quyết định thủ tướng

    MỞ ĐẦU

    Giáo dục luôn là trung tâm của đời sống xã hội, nó quyết định tương lai của mỗi người, của cả xã hội. Việc cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công của công tác giáo dục, nhiều người, nhiều nhà trường đã nghiên cứu và những giải pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục, đã có những thành công nhất định. Trong thời đại hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế của kinh tế Việt Nam quan điểm về xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý, phù hợp hơn.

    Xã hội hóa giáo dục chính là việc tăng cường tính Xã hội của Giáo dục, gắn nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát triểnGiáo dục.

    Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW khóa VIII đã chỉ rõ “Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế – xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS”.

    Học sinhcả nước nói chung cũng như của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng luôn mang bên mình sựnăng động, sáng tạo, sự háo hức luôn tìm hiểu kiến thức cái mới…Cũng xuất phát từ đó, các em luôn cập nhật kiến thức trên mọi kênh thông tin (sách, báo, Internet..); với các em kiến thức không còn gói gọn trong nhà trường nữa.Từ đó,việc trò giỏi hơn thẩy không còn xa lạ gì trong thời đại ngày nay. Vì thế, nếu giáo viên chúng ta không trao dồi chuyên môn nghiệp vụ cũng như trang bị cho bản thân kiến thức sâu rộng sẽ bị tụt hậu, sẽ không tự tin khi đứng trước các em học sinh đang khao khát chinh phục kiến thức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs
  • Đổi Mới Quản Lý Để Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Luận Văn Chuyên Đề Công Tác Tuyên Truyền, Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Của Sở Tư Pháp Tỉnh Ninh Bình
  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs Baithuhoachgiuhangthcsthu Docx

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc Tốt Nhất
  • Giải Pháp Xử Lý Hiệu Quả Khi Tường Nhà Bị Ẩm Mốc
  • Tấm Nhựa Ốp Tường Là Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc
  • Tường Nhà Bị Ẩm Có Dán Tường Được Không
  • Tường Bị Ẩm Mốc Phải Làm Sao
  • 2.3. Kế hoạch hoạt động cá nhân sau khi tham gia khóa bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp .

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    Giáo dục luôn là trung tâm của đời sống xã hội, nó quyết định tương lai của

    mỗi người, của cả xã hội. Việc cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một

    trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Đẩy mạnh

    công tác xã hội hoá giáo dục là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công

    của công tác giáo dục, nhiều người, nhiều nhà trường đã nghiên cứu và những giải

    pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục, đã có những thành công nhất định.

    Trong thời đại hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập

    quốc tế của kinh tế Việt Nam quan điểm về xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức

    lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý, phù hợp hơn.

    Xã hội hóa giáo dục chính là việc tăng cường tính Xã hội của Giáo dục, gắn

    nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện thuận

    lợi cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi

    mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát

    triển Giáo dụ c.

    Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW khóa VIII đã chỉ rõ

    ” Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền,

    các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế – xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có

    trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí tuệ,

    nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục

    Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS “.

    KẾT QUẢ THU HOẠCH ĐƯỢC SAU KHI THAM GIA

    KHÓA BỒI DƯỠNG

    Qua quá trình học tập và nghiên cứu cũng như sự hướng dẫn, truyền đạt của quý thầy, cô giảng viên phụ trách giảng dạy . Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II, tôi đã được bồi dưỡng một số chuyên đề với các nội dung như sau:

    phát triển giáo dục đào tạo. Trong đó nêu cao vai trò vị trí quan trọng về công tác “xã hội hoá” trong công tác phát triển giáo dục. Cụ thể:

    – Chính Phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP “Về việc đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao”

      Tăng chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước cho các trường đại học trọng điểm và viện nghiên cứu quốc gia, ưu tiên các ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn. Khuyến khích và hỗ trợ công dân Việt Nam đi học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng kinh phí tự túc.

    • Khuyến khích các cơ sở giáo dục trong nước hợp tác với các cơ sở giáo dục nước ngoài để nâng cao năng lực quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ khoa học và quản lý giáo dục; tăng số lượng học bổng cho học sinh, sinh viên đi học nước ngoài.
    • Trong xã hội học tập , mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại.
    • Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời.
    • Xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường; ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi.

    1.2.2. Cơ sở thực tiễn về của xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường THCS

    Trên cơ sở thực hiện các quan điểm, định hướng chỉ đạo về công tác giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, sự nghiệp giáo dục của nước ta trong những năm qua đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực. Những thành

    nhiều năm nay. Chúng ta đã và đang huy động sức mạnh của toàn xã hội chăm lo cho giáo dục .

    Ngoài ra, vì ba mẹ không có thời gian quan tâm đến con cái nên việc các em lơ là trong việc học, ham thích các trò chơi online, bị ảnh hưởng tiêu cực từ các trang mạng xã hội Zalo, Internet ,… đó là vấn đề đáng báo động trong tình hình hiện nay. Việc các em đi học nhưng tâm trí chỉ mơ màng đến các trò chơi trong thế giới ảo là tình trạng chung, hầu như lớp nào cũng xảy ra tình trạng này (theo báo cáo váo các buổi sinh hoạt giao ban công tác chủ nhiệm hàng tuần sáng thứ hai ở trưởng).

    Vì vậy, để làm sao có biện pháp tuyên truyền huy động để không những cha mẹ học sinh, mà các tổ chức xã hội đều hướng về nhà trường bằng cả tâm huyết, để làm sao con em ở địa phương có ý thức cao trong học tập, mỗi người dân trên địa bàn thấy rõ được vai trò vị trí của công tác giáo dục, để làm sao Đảng ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương quan tâm nhiều đến sự phát triển của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs
  • Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs
  • Đổi Mới Quản Lý Để Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập Nhằm Chấn Hưng Nền Giáo Dục Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bước Đi Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Tiền Giang
  • Hương Trạch Quyết Liệt Xây Dựng Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • – Lượt xem: 5963

    Khái niệm và tầm quan trọng của xã hội học tập

    Xã hội học tập (XHHT) là một xã hội mà mọi người đều được học, cần phải học và tự giác học thường xuyên, học suốt đời; mọi người được tiếp cận những cơ hội học tập thuận lợi và lấy tự học cùng với ý chí, nghị lực phấn đấu kiên trì của mình là chính để đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội; mọi người không phân biệt tuổi tác, ngành nghề, trình độ đều thấy học tập là nhu cầu của cuộc sống, luôn cần phải học và học suốt đời, học ở mọi nơi, mọi lúc.

    Để đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời (HTSĐ) của người dân, các nhà trường, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các cơ quan truyền thông, mọi tổ chức và mọi người dân,… đều có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được HTSĐ.

    Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), HTSĐ là tất cả các hoạt động học tập có chủ đích xuyên suốt cuộc đời của một cá nhân từ khi chào đời đến lúc rời xa cuộc sống, theo các phương thức giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy. Trong thời đại chu kỳ thay đổi khoa học – công nghệ ngày càng rút ngắn và tuổi thọ ngày càng cao thì HTSĐ là tất yếu.

    Xây dựng xã hội học tập tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân học tập suốt đời là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam – Nguồn: chúng tôi

    Học tập suốt đời vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của công dân. Công dân có quyền lựa chọn hình thức học tập phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện, hoàn cảnh của mình để nâng cao tri thức, hiểu biết, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; học để có nghề nghiệp, có việc làm hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công việc; học để cống hiến được nhiều hơn, để làm cho mình và mọi người hạnh phúc; học để góp phần phát triển đất nước và nhân loại.

    Trên thế giới, các quốc gia đang ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng một “hệ thống giáo dục mạnh”. Trong đó, HTSĐ được đặc biệt chú trọng, bởi lẽ HTSĐ cung cấp khung vững chắc để phát triển nguồn nhân lực bền vững, từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội và khuyến khích, thúc đẩy các cá nhân theo đuổi cơ hội học tập ở mọi giai đoạn của cuộc đời.

    Thực tế ở nhiều quốc gia phát triển cho thấy, HTSĐ đã thực sự góp phần quan trọng vào việc xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn lực chung cho sự phát triển, cải thiện về môi trường kinh tế – xã hội cho cộng đồng, thay đổi diện mạo văn hóa cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Nhờ HTSĐ, mỗi cá nhân đều được nâng cao khả năng thích ứng, hòa nhập và phát triển nhân cách. Với những đối tượng nhạy cảm, như trẻ em gái, phụ nữ, người dân tộc thiểu số,… HTSĐ có ý nghĩa rất to lớn trong việc hỗ trợ về cơ hội, tạo ra động lực giúp họ học tập để cập nhật kiến thức, kỹ năng, cải thiện năng suất lao động, tạo thêm thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, thay đổi thân phận và địa vị xã hội, góp phần tạo ra sự bình đẳng và tiến bộ hơn.

    Để phát triển nền giáo dục cả trong hiện tại và tương lai, xây dựng XHHT là nền tảng, là cốt lõi, trong đó xây dựng cơ hội HTSĐ vừa là phương châm, vừa là giải pháp, vừa là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục. Nghĩa là cần phải xây dựng một hệ thống giáo dục sao cho bất cứ công dân nào có nhu cầu học tập đều tìm thấy cơ hội học tập thuận lợi, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh trong những thời gian và không gian khác nhau.

    Vì những lý do trên có thể thấy rõ xây dựng XHHT, tạo cơ hội HTSĐ đang là xu thế tất yếu, là mục tiêu mang tính thời đại của mọi nền giáo dục trên thế giới.

    Một số thành tựu trong xây dựng xã hội học tập

    Trong chiến lược phát triển đất nước qua các thời kỳ lịch sử, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự học và trong thực tế đã có những chủ trương, chính sách lớn để tạo điều kiện cho người dân được học tập thường xuyên, HTSĐ.

    Trong các văn kiện từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng nhất quán chủ trương thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người đều có thể được học tập suốt đời. Chủ trương trên của Đảng xác lập một quan niệm rõ ràng về XHHT với tư cách là một thể thống nhất giữa hệ thống giáo dục ban đầu (bao gồm trường, lớp và cơ sở giáo dục chính quy từ nhà trẻ, mẫu giáo đến đại học) và hệ thống giáo dục tiếp tục (với nhiều hình thức giáo dục chính quy và không chính quy tại các cơ sở đào tạo tại chức, cơ sở đào tạo ngoại ngữ, tin học, đào tạo và đào tạo lại qua các khóa học, lớp học ngắn hạn…).

    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.

    Nhận thức rõ vai trò, vị trí, ý nghĩa của việc xây dựng XHHT, ngày 18-5-2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 – 2010” với tiêu chí tổng quát là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi lúc, mọi nơi, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong học tập và tích cực tham gia xây dựng XHHT.

    Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 13-4-2007, Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg, ngày 08-01-2008, Về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Ngày 09-01-2013, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2021” (Đề án) để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xây dựng XHHT tại nước ta. Đề án đã nêu rõ: “mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại”.

    Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng XHHT, bảo đảm cho tất cả các công dân có cơ hội bình đẳng trong học tập, đào tạo, trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, các tổ chức, đoàn thể, đặc biệt là Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động thiết thực triển khai thực hiện Đề án. Một số hoạt động cụ thể được thực hiện, như xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai thực hiện Đề án; xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 6 đề án thành phần: 1- Đề án “Xóa mù chữ đến năm 2021”; 2- Đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ”; 3- Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2021”; 4- Đề án “Truyền thông về xây dựng xã hội học tập”;5- Đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời cho công nhân lao động trong các doanh nghiệp”; 6- Đề án “Phát triển đào tạo từ xa”; tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông qua việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng HTSĐ vào tuần đầu tháng 10 hằng năm để mỗi người dân nhận thức đầy đủ hơn, đúng đắn hơn về vai trò, ý nghĩa và lợi ích của HTSĐ, xây dựng XHHT đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, phát triển bền vững xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng và cá nhân; tổ chức những chương trình giáo dục mở trên sóng phát thanh, truyền hình (như Chương trình hướng dẫn ôn tập và luyện thi đại học và Chương trình dạy tiếng Anh trên VTV2; Chương trình dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài trên VTV4; Chương trình giáo dục các kỹ năng sống trên VTV3; các chương trình Chào buổi sáng, đời sống thường ngày trên VTV đã giúp cho người dân có được những kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt, thực hiện pháp luật, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe người dân; Chương trình học tiếng Anh Obla Air trên trên kênh VOV2 (Kênh Văn hóa, Xã hội và Giáo dục) và VOV5 (Hệ Phát thanh Đối ngoại Quốc gia); kênh Truyền hình Giáo dục quốc gia phát sóng trên kênh truyền hình VTV7 với mục tiêu “Vì một xã hội học tập”, cung cấp các tri thức đa dạng cho nhiều tầng lớp khán giả khác nhau,…).

    Các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể các địa phương trong cả nước đã quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, như xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án cụ thể, phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương; thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án; ban hành chỉ thị, nghị quyết của tỉnh/thành ủy, hội đồng nhân dân tỉnh/thànhphố về việc thực hiện Đề án; tổ chức nhiều hoạt động thiết thực triển khai thực hiện Đề án.

    Ngoài vai trò chủ đạo của ngành giáo dục – đào tạo, các ngành văn hóa, thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông, lao động – thương binh và xã hội, nội vụ, tài chính,..; các tổ chức, đoàn thể: Hội Khuyến học, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,…; các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thông trên địa bàn tỉnh đã tham gia tích cực trong việc xây dựng XHHT ở địa phương. Nhiều địa phương đã có giải pháp tuyên truyền về vai trò, tác dụng của HTSĐ, xây dựng XHHT thiết thực, tạo ấn tượng sâu sắc và có tác động mạnh mẽ đến nhận thức của các tầng lớp nhân dân; chỉ đạo cụ thể hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng; xây dựng các mô hình học tập; đa dạng hóa nội dung, hình thức học tập; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, các lớp phổ biến kiến thức phục vụ nhu cầu HTSĐ của mọi tầng lớp nhân dân.

    Kể từ khi triển khai Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 – 2010” đến nay, chúng ta đã có hơn 13 năm triển khai thực tế nhiệm vụ xây dựng XHHT và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, cụ thể: mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên được củng cố và phát triển, đặc biệt là mạng lưới các trung tâm học tập cộng đồng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi lứa tuổi. Hiện cả nước có 695 trung tâm giáo dục thường xuyên, bao gồm 74 trung tâm cấp tỉnh, 621 trung tâm cấp huyện (32 trung tâm giáo dục thường xuyên và 589 trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên); 11.019 trung tâm học tập cộng đồng (đạt 98,7%). Trong đó có 4.713 trung tâm học tập cộng đồng kết hợp với trung tâm văn hóa, thể thao xã (42,8%); 2.854 trung tâm ngoại ngữ – tin học, trong đó: 66 trung tâm ngoại ngữ – tin học công lập và 2.706 trung tâm ngoại ngữ – tin học ngoài công lập và 82 trung tâm ngoại ngữ – tin học có vốn đầu tư nước ngoài.

    Chỉ tính riêng từ năm 2013 đến nay, toàn quốc đã có hơn 100 triệu lượt người tham gia học tập các chuyên đề tại các trung tâm học tập cộng đồng; gần 5 triệu lượt người học ngoại ngữ và hơn 1 triệu lượt người học bồi dưỡng tin học ứng dụng; hơn 2 triệu lượt người tham gia học nghề ngắn hạn; hơn 235 nghìn người theo học lớp xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ. Số lượt cán bộ, công chức được đào tạo bồi dưỡng đạt hơn 3,2 triệu lượt người (tăng khoảng 24% so với giai đoạn 2006 – 2010).

    Bên cạnh các kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập không nhỏ đối với công tác xây dựng XHHT ở Việt Nam, một số chỉ tiêu chưa đạt được so với kế hoạch đề ra trong Đề án, cụ thể như:

    Một số địa phương chưa quan tâm đến việc học tập của người lớn, xây dựng XHHT; sự phối hợp giữa các cơ quan, sở, ngành, tổ chức, đoàn thể trong việc triển khai thực hiện Đề án ở một số địa phương chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên và hiệu quả;

    Công tác tuyên truyền về khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT ở một số nơi, nhất là cấp cơ sở vẫn còn hạn chế cả nội dung lẫn hình thức;

    Tỷ lệ huy động người học xóa mù chữ còn thấp và kết quả không bền vững (ở những vùng đặc biệt khó khăn), hiện tượng tái mù chữ còn khá lớn, công tác điều tra cơ bản về số người mù chữ hằng năm của các địa phương chưa được coi trọng, số lượng báo cáo không cập nhật và thiếu chính xác, ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch, thực thi chính sách;

    Phong trào học tập trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang chưa mạnh. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa tự giác học tập để nâng cao trình độ, còn tâm lý ngại học. Chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức chưa gắn với yêu cầu công việc, vị trí việc làm, chức danh mà cán bộ, công chức đảm nhiệm;

    Nhiều địa phương chưa chủ động gắn đào tạo nghề với phát triển kinh tế – xã hội và giải quyết việc làm, công tác kiểm tra, đánh giá, thông tin, báo cáo không kịp thời, thiếu chính xác.

    Giải pháp thúc đẩy xây dựng xã hội học tập

    Để bảo đảm cho sự thành công của chủ trương xây dựng XHHT ở Việt Nam, trong thời gian tới, các địa phương cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

    Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về HTSĐ, xây dựng XHHT.

    – Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người dân về ý nghĩa, tác dụng của việc HTSĐ, xây dựng XHHT dưới nhiều hình thức khác nhau, như xây dựng các chuyên đề trên phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, tổ chức các hội thảo, diễn đàn về HTSĐ và xây dựng XHHT.

    – Phát động phong trào thi đua học tập thường xuyên, HTSĐ rộng khắp nhằm thúc đẩy việc học tập trong mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi cộng đồng dân cư. Mọi người đều coi học tập là nhu cầu cần thiết.

    – Nhân rộng các mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập” và “Đơn vị học tập” theo hướng thiết thực, hiệu quả, nhằm phát triển mạnh hơn nữa phong trào HTSĐ trong mọi gia đình, dòng họ, cộng đồng và cơ quan, tổ chức. Lựa chọn và đề xuất các thành phố tham gia mạng lưới các thành phố học tập toàn cầu của UNESCO.

    – Tổ chức tuần lễ HTSĐ hằng năm với các hoạt động đa dạng, phong phú, thiết thực và hiệu quả.

    Thứ hai, củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục thường xuyên và các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường.

    – Rà soát, đánh giá tình hình hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên. Trên cơ sở đó quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

    – Nâng cao năng lực hoạt động của các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên cấp huyện sau khi sáp nhập theo hướng thực hiện nhiều nhiệm vụ: giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng ngắn hạn và tư vấn, hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng.

    – Củng cố mô hình hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng theo hướng kết hợp với nhà văn hóa, thư viện, bưu điện văn hóa xã. Các lớp học của trung tâm học tập cộng đồng được tổ chức linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người cùng tham gia (tổ chức tại các thôn, bản, tại nhà dân…).

    – Tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị dạy học cho các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng dạy và học. Tổ chức nghiên cứu, thí điểm tại mỗi đơn vị cấp huyện có từ 2 đến 3 mô hình trung tâm học tập cộng đồng hoạt động hiệu quả, phát triển bền vững để làm điểm cho các trung tâm học tập cộng đồng nghiên cứu, học tập và có thể xem xét, nhân rộng.

    – Mở rộng mạng lưới quy mô hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ, tin học; xây dựng và phát triển các cộng đồng học tập ngoại ngữ; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, nhà đầu tư tham gia hoạt động, đầu tư, thành lập các trung tâm ngoại ngữ – tin học.

    – Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường.

    Thứ ba, đổi mới quản lý giáo dục thường xuyên.

    – Đổi mới việc quản lý nhà nước đối với việc xây dựng XHHT. Các cơ quan quản lý, các cơ sở giáo dục đóng vai trò là người tổ chức phát động phong trào học tập thường xuyên, HTSĐ; có các biện pháp khuyến khích người dân học tập nhằm thúc đẩy phong trào.

    – Tăng cường phân cấp quản lý trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trung tâm học tập cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi trung tâm theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, ngày 14-2-2015, của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.

    – Tăng cường hiệu lực quản lý hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ – tin học, bảo đảm tất cả các trung tâm hoạt động theo đúng quy chế và các quy định của pháp luật;

    – Tăng cường quản lý, giám sát các cơ sở liên kết đào tạo, kể cả liên kết với cơ sở giáo dục của nước ngoài thực hiện đúng quy định của Nhà nước.

    Thứ tư, đổi mới chương trình giáo dục thường xuyên theo hướng đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo đáp ứng nhu cầu của người học.

    – Xây dựng chương trình xóa mù chữ và biên soạn tài liệu học tập hướng tới các đối tượng thiệt thòi trong xã hội: người dân tộc thiểu số; phụ nữ, trẻ em gái; người lao động nghèo, người khuyết tật; bảo đảm người học có các kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc viết, tính toán bằng tiếng Việt; có các hiểu biết đơn giản cần thiết về con người, về thế giới tự nhiên và xã hội phù hợp, thiết thực với cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất; giúp người học có các cơ hội tiếp cận với các bậc học cao hơn, thoát khỏi cuộc sống nghèo khó, lạc hậu.

    – Tổ chức lựa chọn hoặc xây dựng, biên soạn chương trình bồi dưỡng tin học, chương trình bồi dưỡng tiếng Anh phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện cụ thể của địa phương.

    – Đối với chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu người học: Phát triển chương trình, tài liệu học tập theo hướng đa dạng phù hợp với tính chất vùng miền, nhu cầu và đặc điểm của người học; đa dạng hóa các hình thức học tập, người học có thể học theo hình thức tập trung, không tập trung, tự học, tự học có hướng dẫn, học tập qua in-tơ-nét.

    – Tăng cường năng lực đào tạo từ xa cho các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy và học, phát triển học liệu điện tử và xây dựng các hệ thống học trực tuyến (e-learning) hỗ trợ cho học viên có thể học từ xa, tự học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học có thể HTSĐ.

    Thứ năm, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cho giáo dục thường xuyên.

    – Xây dựng kế hoạch tổng thể về phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cho giáo dục thường xuyên. Giáo viên ở các cơ sở giáo dục thường xuyên gồm giáo viên cơ hữu và giáo viên hợp đồng thỉnh giảng. Đối với giáo viên cơ hữu chỉ cần có số lượng tối thiểu đủ để tổ chức và quản lý các lớp học, số còn lại là giáo viên hợp đồng thỉnh giảng.

    – Bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, hướng dẫn viên của các cơ sở giáo dục thường xuyên có đủ trình độ và năng lực (tính chuyên nghiệp) về điều tra nhu cầu học tập, xây dựng chương trình học, tổ chức lớp học, vận động sự tham gia của cộng đồng…

    – Nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên đáp ứng nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho đội cán bộ, công chức và giáo viên.

    Thứ sáu, huy động các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia xây dựng XHHT.

    – Củng cố, kiện toàn và tăng cường công tác chỉ đạo của ban chỉ đạo xây dựng XHHT ở các cấp nhằm thực hiện có hiệu quả kế hoạch xây dựng XHHT.

    – Đưa việc xây dựng XHHT và HTSĐ vào nội dung bắt buộc trong chương trình, kế hoạch hoạt động, thi đua hằng năm và từng giai đoạn của các ngành, các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức và doanh nghiệp. Hằng năm tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thực hiện và báo cáo ban chỉ đạo xây dựng XHHT cấp tỉnh.

    – Phân công nhiệm vụ rõ ràng đối với các sở, ngành, tổ chức, đoàn thể và các huyện. Tất cả các sở, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đều có trách nhiệm cung ứng HTSĐ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc ngành mình được HTSĐ.

    Thứ bảy, xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích người học.

    – Các sở, ban, ngành phải có quy định về việc học tập của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; hằng năm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, thúc đẩy việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng của cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới cơ chế tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới cơ chế đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.

    – Chính quyền địa phương cần tác động với chủ doanh nghiệp để hỗ trợ công nhân (thời gian, kinh phí, cơ sở vật chất) tham gia học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp mà không ảnh hưởng đến công việc, đến thu nhập của công nhân lao động.

    – Các thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ,… cần có những dịch vụ học tập để người học thuận lợi trong việc tiếp cận những thông tin, tri thức mới, những công nghệ mới./.

    Nguyễn Hữu Độ Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Theo Tạp chí Cộng sản)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập: Cần Giải Pháp Toàn Diện
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đồng Nai Phát Triển Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Huy Động Xã Hội Hoá Giáo Dục Để Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Thực Hiện Xã Hội Hóa Giáo Dục Tại Nghệ An
  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Một Số Biện Pháp Thực Hiện Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Đối Tượng, Thời Hiệu, Thời Hạn Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Đối Tượng Sử Dụng Ma Túy Nào Sẽ Được Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn?
  • bộ các giải pháp sau: 1) Công tác tuyên truyền. Công tác tuyên truyền cần duy trì thường xuyên, đa dạng. Yêu cầu của công tác tuyên truyền phải cụ thể, vận động mọi lực lượng xã hội, mọi người dân cùng tham gia với nguyên tắc "lợi ích", mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của hai phía: nhà trường và cộng đồng, mỗi bên tham gia đều tìm thấy lợi ích chung của cá nhân và tập thể. 2) Kế hoạch hóa công tác xã hội hóa giáo dục: Kế hoạch hoá là một trong bốn chức năng quản lý và là một chức năng mang tính chủ đạo trong quá trình quản lý của người Hiệu trưởng. Kế hoạch xã hội hoá cần được xây dựng trên một số yếu tố sau: Mục tiêu huy động là gì? Đối tượng nào? Thời gian? Phân công ai là vai trò chủ thể huy động? Từ đó, Hiệu trưởng xây dựng công tác xã hội hoá giáo dục cho phù hợp với thực tế của đơn vị. Phân công một số thành viên trực tiếp đi huy động phải là người hiểu rõ nguyên tắc của công tác xã hội hoá giáo dục, có kỹ năng giao tiếp tốt, lời nói có tính thuyết phục cao. Chi tiết hóa kế hoạch và hệ thống giải pháp cụ thể. Kinh nghiệm cho thấy, trong nhiều trường hợp đối tượng tham gia xã hội hoá giáo dục tuy ít nhưng lại cho những kết quả bất ngờ nếu như người cán bộ quản lý giáo dục biết đột phá vào các bước phát triển quan trọng nếu như có thể làm thay đổi chất lượng giáo dục. Hiệu trưởng làm tốt chức năng này sẽ mang đến những thành công ngay cả thời điểm khó khăn nhất. 3) Làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo địa phương: Hiệu trưởng phải là người lên kế hoạch cụ thể và chủ động đề xuất công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường với lãnh đạo địa phương. Mỗi lần được bố trí làm việc phải chuẩn bị kỹ nội dung trình bày một cách toàn diện, trọng tâm, tránh tham mưu lặt vặt theo vụ việc. Sau khi được lãnh đạo địa phương chấp thuận, thực hiện xong phải báo cáo ngay. Tạo nhiều cơ hội để cấp ủy, chính quyền địa phương đến thăm cơ sở vật chất nhà trường, gặp gỡ giáo viên, để có dịp cấp uỷ, chính quyền địa phương hiểu rõ nhà trường hơn và cũng là thời điểm để nhà trường xin ý kiến chỉ đạo hỗ trợ những vấn đề ngoài tầm tay của Hiệu trưởng. Mỗi lần đề xuất một chủ trương gì về giáo dục ở địa phương đều phải tham mưu cụ thể các biện pháp thực hiện, không nên báo cáo gặp gỡ lãnh đạo các cấp vào lúc họ đang phải tập trung lo những việc lớn. Nhà trường thường xuyên và kịp thời cung cấp những thông tin về giáo dục (các chủ trương của ngành, các hoạt động giáo dục của đơn vị,) đến các cán bộ chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền địa phương. 4) Tạo uy tín của nhà trường với phụ huynh, các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương thông qua việc khẳng định chất lượng giáo dục của nhà trường: Phải tạo lập uy tín bằng chính nội lực của nhà trường, từ lãnh đạo cho đến cán bộ giáo viên, nhân viên đều xác định nhiệm vụ của mình để phấn đấu và đạt hiệu quả công việc ngày càng cao. Hiệu trưởng nâng uy tín bằng cách điều hành công việc khoa học, quan tâm đến chất lượng giáo dục, tạo môi trường sư phạm đoàn kết, thường xuyên tự bồi dưỡng để làm tốt vai trò đầu mối của mình trong môi trường xã hội địa phương. Hiệu trưởng có uy tín, có năng lực là yếu tố thúc đẩy thường xuyên cho sự tham gia của cộng đồng trong công tác xã hội hoá giáo dục. Ví dụ: Khi tôi mới về nhận nhiệm vụ tại trường tiểu học Sơn Kiên 1, nơi mà mọi việc đều rất mới mẻ, chưa ai biết và hiểu rõ về mình. Vừa để tạo uy tín cho mình, vừa để làm "bàn đạp" cho công tác xã hội hoá giáo dục tại đơn vị. Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm ngay là tập trung cho công tác chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy và học như nâng cao tỷ lệ giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi, duy trì sĩ số học sinh,... Song song với nhiệm vụ đó, tôi đã vận động những doanh nghiệp, những mạnh thường quân ngoài địa bàn nơi tôi công tác trước đây, để hỗ trợ về vật chất, giúp tôi nâng cấp được diện tích sân trường khoảng 298 m2. Qua việc làm đó phụ huynh sẽ hiểu được tôi hơn, uy tín của tôi cũng dần có trong lòng mỗi phụ huynh học sinh. Thầy cô giáo phải tạo uy tín cho mình bằng chất lượng giáo dục, tạo cho các em có một môi trường học tập thoải mái, học sinh ham thích đến trường, coi mỗi ngày đến trường là một niềm vui. Mỗi giáo viên phải coi học sinh như chính con em ruột thịt của mình, giảng dạy bằng cả tình thương, lương tâm và trách nhiệm để học sinh thấy tự tin hơn khi được sống trong ngôi nhà chung ấm áp cùng các bạn. Phụ huynh sẽ tin tưởng và yên tâm khi gửi con em học tại trường. Nhà trường phải xác định: phụ huynh học sinh sẵn sàng đóng góp công sức và tiền của miễn sao con em họ được học hành chu đáo, đến nơi đến chốn, không ai muốn bỏ tiền của ra mà không mang lại lợi ích gì cho mình. Do đó, BGH cần phân loại trình độ chuyên môn, năng lực của giáo viên để phân công theo khối lớp cho phù hợp, giúp giáo viên có thể phát huy hết khả năng của mình, vừa có lợi cho cá nhân, vừa có lợi cho tập thể. Kiện toàn lại các tổ chức đoàn thể theo tinh thần "đúng người đúng việc", hướng hoạt động của các đoàn thể nhà trường đi vào thực chất, có hiệu quả. Xây dựng đội ngũ giáo viên vững về chuyên môn, gương mẫu trong đạo đức nghề nghiệp, tập thể sư phạm đoàn kết, xây dựng hệ thống chính trị trong nhà trường vững mạnh. Chú trọng việc "dạy thật, học thật, chất lượng thật" bằng việc tăng cường công tác thanh, kiểm tra nghiêm túc, duy trì và thực hiện tốt cuộc vận động: "Hai không với bốn nội dung" do ngành phát động. Phụ huynh tin tưởng vào chất lượng giáo dục của nhà trường, sẽ tạo điều kiện tốt nhất giúp nhà trường ngày càng phát triển, uy tín của nhà trường ngày càng vững vàng hơn. Giáo viên chủ nhiệm cũng có vai trò quan trọng trong sự kết hợp giữa phụ huynh học sinh và nhà trường, là cầu nối giữa nhà trường với gia đình và xã hội. Vì vậy, việc bố trí giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm cũng góp phần tạo uy tín cao đối với phụ huynh học sinh là điều kiện tốt để phụ huynh đóng góp và tham gia xây dựng nhà trường. Nhà trường chú trọng việc thường xuyên liên lạc giữa giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh học sinh thông qua sổ liên lạc sau mỗi đợt kiểm tra. Tìm hiểu nguyện vọng của phụ huynh, chia sẻ với họ nỗi lo lắng về sự chậm tiến của trẻ, nêu rõ những cố gắng của giáo viên đã giúp đỡ trẻ nhưng chưa có kết quả vì thiếu sự phối hợp của gia đình. Đưa ra những biện pháp cụ thể đề nghị gia đình và nhà trường cùng thực hiện đồng bộ để giúp các em tiến bộ. Tuyệt đối không làm "mất mặt" khi nói về con em họ, tạo được niềm tin cho họ để gia đình tin tưởng vào giáo viên chủ nhiệm hơn. Nếu chúng ta chỉ phân tích những hành vi xấu của con trẻ thì phụ huynh học sinh không cần đến ta nữa. Mặt khác, nhà trường tập trung quan tâm vào mũi nhọn giáo viên giỏi, học sinh giỏi, hạn chế học sinh bỏ học lưu ban nhằm khẳng định uy tín nhà trường, đây là yếu tố cực kỳ quan trọng để công tác xã hội hoá giáo dục được triển khai có hiệu quả. Cụ thể về chất lượng giáo dục: Năm học 2009-2010: + Giáo viên: Có 14 giáo viên dạy giỏi cấp trường, 4 giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 3 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. + Học sinh: Học sinh giỏi cấp cụm: có 4 em đạt giải 01 Nhất, 01 Nhì, 01 Ba và 01 Khuyến khích; VSCĐ Cấp huyện: 01 em đạt giải Ba và 01 em Khuyến khích; VSCĐ cấp tỉnh: 1 em đạt giải Khuyến khích; Rung chuông vàng cấp huyện: 01 em đạt giải khuyến khích;... Năm học 2010-2011: + Giáo viên: có 17 giáo viên giỏi cấp trường; + Học sinh: Học giỏi cấp cụm: 01 giải Nhì, 01 giải Ba và 04 giải Khuyến khích; VSCĐ cấp huyện: 01 em đạt giải Khuyến khích; VSCĐ cấp tỉnh; 01 em đạt giải Nhì; Rung chuông vàng cấp cụm: 01 em đạt giải Ba và 01 em đạt giải Khuyến khích,... Bên cạnh đó, phải công khai minh bạch các khoản thu, chi theo đúng điều lệ các khoản huy động, phải thực hiện theo nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" không để phụ huynh học sinh hiểu lầm hay nghi ngờ về các khoản đóng góp của họ. Hiệu trưởng sẵn sàng nhận lỗi trước phụ huynh khi cần, không xử lý một chiều, thành tâm lắng nghe ý kiến của phụ huynh học sinh, lãnh đạo địa phương, tạo được sự đồng thuận trong phụ huynh học sinh, lãnh đạo, các đoàn thể địa phương. Cùng với Ban đại diện cha mẹ học sinh xây dựng kế hoạch sử dụng hợp lý và có ích các nguồn thu từ xã hội hoá, tạo được nét thay đổi, nổi bật cho nhà trường. 5) Phát huy vai trò của Hội cha mẹ học sinh, của Phụ huynh học sinh và mạnh thường quân trong và ngoài địa bàn: Vào đầu năm học, nhà trường tổ chức họp phụ huynh học sinh, đề nghị phụ huynh chọn lựa được Ban đại diện cha mẹ học sinh của các lớp là những người có uy tín có thể chung tay cùng xây dựng nhà trường, là những người phối kết hợp tốt nhất trong việc thực hiện thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường để cùng giáo dục học sinh một cách tốt nhất. Nhà trường cũng như các lực lượng xã hội, các tổ chức,... đều có những chức năng và trách nhiệm riêng. Để khai thác, phát huy khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó phải nhằm đúng chức năng, trách nhiệm của họ. Ví dụ: Tận dụng vai trò của PHHS - đội ngũ các nhà "tư vấn tự nguyện" để làm công tác xã hội hoá giáo dục. Đây cũng là một "nghệ thuật" của Hiệu trưởng, tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa Ban đại diện cha mẹ học sinh, phụ huynh học sinh toàn trường và nhà trường để có sự tác động hiệu quả. Hiệu trưởng biết dựa vào uy tín và tiếng nói của Ban đại diện cha mẹ học sinh để tuyên truyền, vận động vì giữa họ luôn có tiếng nói chung, có cùng một nguyện vọng và mang tính khách quan. Trường tiểu học Sơn Kiên 1 có nhiều điểm, địa bàn rộng công tác huy động gặp không ít khó khăn, nhưng nhà trường đã biết dựa vào Ban phụ huynh của các điểm để tuyên truyền và phối hợp cùng nhà trường huy động vì họ là những người hiểu rõ tâm lý của phụ huynh học sinh nhất, tiếng nói của họ dễ thuyết phục phụ huynh hơn. 6) Quan tâm thực sự đến học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, học sinh đồng bào Dân tộc và con em gia đình Chính sách. Ngay từ đầu năm học, nhà trường giao cho giáo viên chủ nhiệm điều tra thật kỹ hoàn cảnh học sinh, lập danh sách những học sinh nghèo để có kế hoạch hỗ trợ quần áo đồng phục, sách - vở, đồ dùng học tập,...Cụ thể như sau: * Tổng số bộ quần áo đã trao cho học sinh nghèo là: 125 bộ. * Tổng số tập 5 dòng ly trao cho học sinh nghèo: 330 cuốn. * Tổng số tiền vận động được qua đêm văn nghệ là 16.600.000 đồng. * Trao 10 phần quà, mỗi phần trị giá 100.000 đồng cho học sinh nghèo nhân dịp xuân Tân Mão. III/ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Qua quá trình vận dụng những giải pháp trên để thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục tại trường tiểu học Sơn Kiên 1, đã có được những kết quả cụ thể như sau: 1) Về vật chất: Năm học Điểm trường Ngày công Hiện vật Tiền mặt 2009-2010 Điểm chính 21 m3 đá 1x2 21 m3 đá xô bồ 70 bao xi măng 25.160.000 Đập Đá 2 xe đất 1.080.000 Tà Lóc 1.210.000 Kênh 5 85 8.500.000 2010-2011 Đ.Chính 70 bao xi măng 3 xe đá mạt 22.100.000 Đập Đá Tà Lóc Kênh 5 141 11.600.000 Tổng cộng 226 69.650.000 2) Về cơ sở vật chất, cảnh quan sư phạm: - Nâng cấp và tráng xi măng sân chơi, bãi tập cho 2 điểm (điểm chính và điểm kênh 5). Tổng diện tích là: + Điểm chính: 692 m2 + Kênh 5: 708 m2 - Đóng la-phông, lát gạch men để làm phòng Hội họp, sinh hoạt chuyên môn của nhà trường. - Trang bị cho 11 lớp điểm chính 6 tủ đựng ĐDDH và 16 cái quạt, cho các lớp. - Trang trí các khẩu hiệu để khơi dậy tinh thần tự học và sự sáng tạo của giáo viên. - Thay toàn bộ hệ thống đèn đủ ánh sáng phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh ở tất cả các điểm. - Khoan 2 cây nước cho 2 điểm (Đập Đá và Kênh 5) để có nước cho giáo viên và học sinh sử dụng. - Bổ sung thêm một số cây kiểng để đảm bảo tiêu chí Xanh - Sạch - Đẹp tại điểm chính và điểm Kênh 5. IV/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Qua vận dụng những kinh nghiệm học hỏi từ đồng nghiệp, trong quá trình làm việc tại đơn vị và có điều chỉnh để đạt kết quả khả quan hơn. Từ đó, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm sau: - Hiệu trưởng cần hiểu và thực hiện đúng vấn đề xã hội hoá giáo dục gồm: Lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp (lực lượng quan trọng quyết định sự đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường và tạo điều kiện cho việc XHHGD triển khai thuận lợi); Gia đình, cha mẹ học sinh, Ban đại diện cha mẹ học sinh (lực lượng có nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích trực tiếp cùng chia sẻ với nhà trường và cũng là lực lượng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đối với học sinh); Các cơ sở sản xuất kinh doanh , dịch vụ, các cá nhân, đặc biệt là các cá nhân có uy tín, các "mạnh thường quân" tạo khả năng liên kết trong việc huy động các nguồn lực vật chất. - Trong công tác xã hội hoá giáo dục cần chú trọng vào một số nguyên tắc như: lợi ích chung; khai thác, phát huy và khuyến khích đúng chức năng, trách nhiệm của đối tác; tạo môi trường công khai, bình đẳng để cộng đồng hiểu đúng về giáo dục và nhà trường hơn, xã hội hoá giáo dục phải tuân thủ luật pháp Nhà nước, có nghĩa là cần dựa trên cơ sở pháp lý. Ngược lại, cũng cần có cơ sở pháp lý để triển khai cũng như để tham gia huy động nguồn lực cho giáo dục; phải biết lựa chọn thời gian thích hợp nhất để đưa ra công tác XHHGD và cần có kế hoạch mang tính định hướng. Đảm bảo mục tiêu "nhà trường gắn liền với xã hội" - Chú trọng đến nâng cao chất lượng giáo dục, nâng dần uy tín của nhà trường cũng như của giáo viên đối với phụ huynh học sinh. Coi trọng việc xây dựng một môi trường học tập thân thiện, giáo dục cho học sinh có hành vi đạo đức tốt, đối xử công bằng, biết tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, đó chính là những tiêu chí mà phụ huynh rất mong muốn đối với môi trường giáo dục. Những cống hiến của phụ huynh học sinh cho nhà trường được đáp lại bằng chất lượng giáo dục, bằng tình đoàn kết, bằng môi trường giáo dục lành mạnh, điều đó sẽ hỗ trợ rất lớn cho công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường. - Thường xuyên chú trọng công tác tuyên truyền đến tập thể sư phạm, đến phụ huynh học sinh, đến các mạnh thường quân, các doanh nghiệp,...để tìm được tiếng nói chung, sự đồng thuận cao. - Không chỉ chú trọng công tác xã hội hoá giáo dục để đầu tư CSVC cho nhà trường mà cần quan tâm đến các phong trào của nhà trường, qua đó kêu gọi lòng hảo tâm giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh khuyết tật của nhà trường với tinh thần "lá lành đùm lá rách". - Chủ động công tác tham mưu với lãnh đạo các cấp, Hiệu trưởng cần chuẩn bị kế hoạch cụ thể, rõ ràng về công tác xã hội hoá giáo dục, nên dựa vào Ban phụ huynh của các điểm trường để phát huy tính dân chủ và tạo lòng tin của nhà trường đối với Ban phụ huynh. - Nâng cao uy tín, năng lực của Hiệu trưởng cũng như sự năng động, sáng tạo trong quản lý, điều hành, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đó là sự thành công trong công tác xã hội hoá giáo dục của người Hiệu trưởng. V/ KẾT LUẬN: Xã hội hoá giáo dục là nhiệm vụ không thể thiếu và phải đặc biệt quan tâm đối với bất kỳ môi trường giáo dục nào, đồng thời phải thực hiện song song với nâng cao chất lượng giáo dục. Nhìn chung những kết quả về việc thực hiện xã hội hoá giáo dục của nhà trường tuy khiêm tốn, chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu giáo dục của nhà trường. Song đó cũng là một thành tích rất đáng trân trọng của tập thể trường tiểu học Sơn Kiên 1 mà những năm trước đây chưa đạt được. Có được kết quả như hôm nay là nhờ sự chỉ đạo sâu sát và giúp đỡ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, tập thể giáo viên, toàn thể nhân dân và những mạnh thường quân trên địa bàn đã quan tâm đến nhà trường. Tôi xin chân thành cảm ơn! Ban Thi đua-Khen thưởng Sơn Kiên, ngày 9 tháng 4 năm 2011 Trường tiểu học Sơn Kiên 1 Người viết sáng kiến Xếp lọai Phạm Thị Mai Sơn Kiên, ngày tháng 4 năm 2011 TRƯỞNG BAN HỘI ĐỒNG THI ĐUA-KHEN THƯỞNG PHÒNG GD&ĐT Xếp loại: Hòn Đất, ngày......tháng.......năm 2011 TM.HỘI ĐỒNG TĐ-KT CHỦ TỊCH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biểu Mẫu Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa…
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hóa Cho Trẻ 5
  • Biện Pháp Giáo Dục Văn Hóa Học Tập Cho Học Sinh Trường Thpt Việt Lâm
  • Một Số Biện Pháp Thực Hiện Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng, Thời Hiệu, Thời Hạn Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Đối Tượng Sử Dụng Ma Túy Nào Sẽ Được Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn?
  • Giải Pháp Quan Trọng Để Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Hình Thành Một Số Phẩm Chất Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học Trong Quá Trình Giáo Dục Thể Chất Hinh Thanh Mot So Pham Chat Dao Duc Cho Hoc Sinh Tieu Hoc Trong Qua Trinh Giao D
  • Thực tế cho thấy tại trường Mẫu giáo tôi đang công tác, nói về cơ sở vật chất thật sự thiếu thốn quá nhiều so với trường bạn, thấm trí không bằng cả với những trường mới thành lập những năm gần đây. Chính vì vậy đã làm tôi nảy sinh chọn đề tài này, với tôi chọn đề tài ” Xã hội hóa giáo dục” thật sự khó vì chưa có kinh nghiệm và không biết mình có làm được không, hay chỉ là lý thuyết, nhiều đêm trăn trở, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài này để nghiên cứu, để thử thách mình, đề tài này để hoàn thiện và đi đến thành công thực sự phải được nâng cấp trong nhiều năm liên tục.

    Vậy tôi rất mong hội đồng khoa học góp ý, xây dựng giúp tôi để tôi thực hiện những chặng đường tiếp theo về công tác xã hội hóa giáo dục của trường Mẫu giáo Phú Lộc từng bước ngang tầm với trường bạn.

    Như chúng ta đã biết, xã hội hóa giáo dục là huy động và tổ chức nguồn lực của toàn xã hội cùng tham gia vào quá trình giáo dục, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, tạo phong trào mọi người cùng học tập, xây dựng cả nước thành một xã hội học tập dể mọi người dân cùng được hưởng thụ các thành quả do giáo dục đem lại.

    Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là Quốc sách hàng đầu; nhiều dự án đã tập trung để đầu tư cho giáo dục, làm cho cơ sở vật chất của ngành giáo dục ngày một thay đổi, đặc biệt là bậc học mầm non đã và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư hàng đầu, nhiều trường học còn học chung với tiểu học đã được tách trường mầm non, phòng học mượn thôn xóm, tạm bợ được thay thế bằng những phòng học khang trang, với những bộ đồ chơi, đồ dùng hấp dẫn trẻ giúp trẻ yêu thích đến trường.

    Tuy nhiên, khi nguồn lực của Nhà nước đầu tư cho giáo dục vẫn còn hạn hẹp thì việc huy động của nhân dân, của toàn xã hội để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục là rất cần thiết.

    Để làm tốt công việc này, cần có sự chung tay góp sức của địa phương, của ngành và của cộng đồng, giúp nhà trường có điều kiện xây dựng cơ sở vật chất làm thay đổi bộ mặt của nhà trường, đồng thời năng cao chất lượng giáo dục, giúp uy tín của nhà trường được nâng lên. Song, làm sao để có biện pháp tuyên truyền huy động phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội đều hướng về nhà trường bằng cả tâm huyết và lòng tự nguyện, làm sao để đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường là điều tôi trăn trở.

    Từ đó tôi đã nghiên cứu những đặc thù của đơn vị, áp dụng tìm giải pháp và phối hợp thực hiện để đạt được kế hoạch đề ra cho công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng cơ sở vật chất tại trường Mẫu giáo.

    Những năm gần đây công tác xã hội hóa giáo dục nói chung và đơn vị nhà trường nói riêng đã từng bước đạt được kết quả cũng đáng ghi nhận. Nhận thức chung về giáo dục – đào tạo được nâng lên, huy động sự tham gia đóng góp nhân lực, tài lực, vật chất cho giáo dục,…Từ đó bộ mặt của nhà trường có nhiều khởi sắc, thu hút được sự quan tâm chăm lo cho sự phát triển, đầu tư để ngày càng khang trang, đầy đủ hơn nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo.

    Tuy nhiên, công tác xã hội hóa giáo dục ở đơn vị vẫn chưa phát huy một cách toàn diện sự tham gia của toàn thể cộng đồng, mỗi người dân, công tác tuyên truyền cả bề rộng lẫn chiều sâu chưa mang lại hiệu quả thiết thực. Còn một bộ phận gia đình cha mẹ học sinh có tư tưởng giao khoán chuyện dạy dỗ, giáo dục con cái cho thầy cô, nhà trường, thờ ơ đến các hoạt động giáo dục, nhận thức rất hạn chế so với sự phát triển giáo dục trong tình hình mới.

    Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác này, muốn phát triển nhà trường nhanh và bền vững phải ra sức làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, khi và chỉ khi mọi người dân, mọi gia đình trên địa bàn quản lý nhận thức sâu sắc về giáo dục, cùng nhau chăm lo, hiến kế để trường học phát triển, tích cực tham gia vào các hoạt động của ngành với tinh thần tự nguyện, tâm huyết nhất, khi ấy nhà trường mới là chỗ dựa đáng tin cậy của cộng đồng, góp phần giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người lao động có tri thức, công dân hữu ích cho xã hội, địa phương sau này.

    Bản thân tôi, một hiệu phó trẻ mới được bổ nhiệm từ tháng 12 năm 2013, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, mặc dù thế khi được điều động về trường Mẫu giáo Phú Lộc công tác được Hiệu trưởng phân công nhiệm vụ Hiệu phó phụ trách cơ sở vật chất, với thực trạng cơ sở vật chất của nhà trường tôi luôn trăn trở về việc làm thế nào để có được một ngôi trường khang trang, đảm bảo về cơ sở vật chất tối thiểu đáp ứng nhu cầu dạy và học của nhà trường trong xu thế hiện nay.Tôi thiết nghĩ, trong khi ngân sách chi cho giáo dục còn hạn hẹp, thì nguồn huy động vật chất từ cha mẹ học sinh, tổ chức xã hội đem lại cho con em họ môi trường giáo dục tốt. Nếu toàn xã hội và các gia đình quan tâm với công tác xã hội hóa giáo dục thì con em của chúng ta được hưởng môi trường giáo dục tốt hơn. Chính vì thế, là một cán bộ quản lý nhà trường tôi nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xã hội hóa giáo dục nên mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục” để cùng chia sẻ, học tập kinh nghiệm từ các đồng nghiệp, các đơn vị thực hiện tốt công tác xã hội hóa.

    Công tác tuyên truyền cần duy trì thường xuyên, đa dạng. Yêu cầu của công tác tuyên truyền phải cụ thể, vận động mọi lực lượng xã hội, mọi người dân cùng tham gia với nguyên tắc “lợi ích”, mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của hai phía: nhà trường và cộng đồng, mỗi bên tham gia đều tìm thấy lợi ích chung của cá nhân và tập thể.

    * Kế hoạch hóa công tác xã hội hóa giáo dục:

    Kế hoạch hoá là một trong bốn chức năng quản lý và là một chức năng mang tính chủ đạo trong quá trình quản lý của người đảm nhiệm công tác tham mưu về cơ sở vật chất. Kế hoạch xã hội hoá cần được xây dựng trên một số yếu tố sau:

    Mục tiêu huy động là gì?

    Đối tượng nào?

    Phân công ai là vai trò chủ thể huy động?

    Từ đó, tham mưu cho Hiệu trưởng xây dựng công tác xã hội hoá giáo dục cho phù hợp với thực tế của đơn vị. Công tác tham mưu của tôi thận thuận lợi đã được hiệu trưởng ủy quyền giao nhiệm vụ đảm nhiệm công tác này luôn. Phân công một số thành viên trực tiếp huy động phải là người hiểu rõ nguyên tắc của công tác xã hội hoá giáo dục, có kỹ năng giao tiếp tốt, lời nói có tính thuyết phục cao. Chi tiết hóa kế hoạch và hệ thống giải pháp cụ thể. Kinh nghiệm cho thấy, trong nhiều trường hợp đối tượng tham gia xã hội hoá giáo dục tuy ít nhưng lại cho những kết quả bất ngờ nếu như người cán bộ quản lý giáo dục biết đột phá vào các bước phát triển quan trọng có thể làm thay đổi chất lượng giáo dục. Việc làm tốt chức năng này sẽ mang đến những thành công ngay cả thời điểm khó khăn nhất.

    * Làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo địa phương:

    Được Hiệu trưởng giao nhiệm vụ trọng trách là người lên kế hoạch cụ thể và chủ động đề xuất công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường với lãnh đạo địa phương. Mỗi lần được bố trí làm việc phải chuẩn bị kỹ nội dung trình bày một cách toàn diện, trọng tâm, tránh tham mưu lặt vặt theo vụ việc. Sau khi được lãnh đạo địa phương chấp thuận, thực hiện xong phải báo cáo ngay. Tạo nhiều cơ hội để cấp ủy, chính quyền địa phương đến thăm cơ sở vật chất nhà trường, gặp gỡ giáo viên, để có dịp cấp uỷ, chính quyền địa phương hiểu rõ nhà trường hơn và cũng là thời điểm để nhà trường xin ý kiến chỉ đạo hỗ trợ những vấn đề ngoài tầm tay của nhà trường.

    Mỗi lần đề xuất một chủ trương gì về giáo dục ở địa phương đều phải tham mưu cụ thể các biện pháp thực hiện. Nhà trường thường xuyên và kịp thời cung cấp những thông tin về giáo dục (các chủ trương của ngành, các hoạt động giáo dục của đơn vị,…) đến các cán bộ chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền địa phương.

    * Tạo uy tín của nhà trường với phụ huynh, các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương thông qua việc khẳng định chất lượng giáo dục của nhà trường:

    Ghi nhận, tiếp thu ý kiến của phụ huynh học sinh, lắng nghe những mặt tồn tại và cố gắng khắc phục. Phải tạo lập uy tín bằng chính nội lực của nhà trường, từ lãnh đạo cho đến cán bộ giáo viên, nhân viên đều xác định nhiệm vụ của mình để phấn đấu và đạt hiệu quả công việc ngày càng cao, quan tâm đến chất lượng giáo dục, tạo môi trường sư phạm đoàn kết, thường xuyên tự bồi dưỡng để làm tốt vai trò đầu mối của mình trong môi trường xã hội địa phương. Lãnh đạo gương mẫu luôn là tấm gương sáng, nói đi đôi với làm, có uy tín, có năng lực là yếu tố thúc đẩy thường xuyên cho sự tham gia của cộng đồng trong công tác xã hội hoá giáo dục.

    Khi tôi mới về nhận nhiệm vụ tại trường Mẫu giáo Phú Lộc, Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm ngay là tập trung cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ được ăn ở tại trường đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trẻ có một môi trường sạch sẽ tham gia hoạt động nhằm phát triển toàn diện được duy trì bền vững trong nhà trường… Song song với nhiệm vụ đó, tôi đã vận động những phụ huynh, thôn xóm. UBND xã để hỗ trợ về vật chất.

    Mỗi cô giáo phải tạo uy tín cho mình bằng chất lượng giáo dục, tạo cho trẻ có một môi trường học tập, vui chơi thoải mái, trẻ ham thích đến trường, coi mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Mỗi giáo viên phải coi học sinh như chính con đẻ của mình, yêu thương chăm sóc, nuôi dạy trẻ bằng cả tình thương, lương tâm và trách nhiệm để phụ huynh tin tưởng và yên tâm khi gửi con em học tại trường. Nhà trường phải xác định: phụ huynh học sinh sẵn sàng đóng góp công sức và tiền của miễn sao con em họ được học hành, vui chơi khi đến trường đúng với mục tiêu giáo dục mầm non đề ra, vui chơi ở tuổi Mẫu giáo là hoạt động chủ đạo”

    Giáo viên có vai trò quan trọng trong sự kết hợp giữa phụ huynh học sinh và nhà trường, là cầu nối giữa nhà trường với gia đình và xã hội. Vì vậy, việc bố trí giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm cũng góp phần tạo uy tín cao đối với phụ huynh học sinh là điều kiện tốt để phụ huynh đóng góp và tham gia xây dựng nhà trường.

    Nhà trường chú trọng việc thường xuyên liên lạc giữa giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh học sinh thông qua sổ bé ngoan hàng tháng. Tìm hiểu nguyện vọng của phụ huynh, chia sẻ với họ về sự phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi mầm non để phụ huynh cùng phối hợp chăm sóc, dạy trẻ theo khoa học. Đưa ra những biện pháp cụ thể đề nghị gia đình và nhà trường cùng thực hiện đồng bộ để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.

    Mặt khác, nhà trường luôn tập trung công tác phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh cùng tham gia công tác xã hội hóa giáo dục được triển khai có hiệu quả, Cụ thể:

    -Năm học 2021 – 2021 hội phụ huynh đã kết hợp tham gia tổng vệ sinh trường lớp sanh, sạch đẹp.

    – Hội phụ huynh đã tham gia đóng góp ngày công sơn sửa cổng trường, làm bảng hiệu cổng trường, mắc loa đài cho học sinh thể dục sáng…

    – Năm học 2021-2020 Hội phụ huynh đã tham gia đóng góp ngày công san mặt bằng sân trường, lau chùi, sơn sửa xích đu, cầu trượt cho trẻ chơi.

    – Phụ huynh đã tự nguyện đóng góp xây dựng 200m2 sân trường và một lối đường đi từ lớp học ra nhà vệ sinh của trẻ.

    – Trang thiết bị phục vụ cho trẻ ăn ở tại trường đã được sắm sửa đầy đủ và đảm bảo an toàn ấm về mùa đông, mát về mùa hè

    – Tham mưu với các cấp lãnh đạo sớm cho chủ trương xây dựng tường rào do phụ huynh dóng góp trên tinh thần tự nguyện có đến đâu làm đến đó.

    Tập thể nhà trường luôn đạt danh hiệu đơn vị văn hóa cấp huyện

    Tham gia các hội thi đều mang về thành tích cao và tham gia các phong trào phát động của cấp trên phát động.

    Ví dụ: Tham gia hội thi văn nghệ của ngành giáo dục đạt giải nhất toàn đoàn…

    Bên cạnh đó, phải công khai minh bạch các khoản thu, chi theo đúng công văn hướng dẫn các khoản thu huy động, tự nguyện, thực hiện theo nguyên tắc, dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, tuyệt đối không để phụ huynh học sinh hiểu lầm hay nghi ngờ về các khoản đóng góp của họ, phải có kế hoạch, dự toán, thu, chi cụ thể, rõ ràng, chi tiết, phải giải thích kịp thời khi có thắc mắc hiểu chưa rõ ở phía phụ huynh. Luôn lắng nghe, xin lỗi những việc chưa làm tốt và phối hợp chặt chẽ với Ban đại diện hội cha mẹ học sinh, kết hợp xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể có hiệu quả cao để từng bước sử dụng các nguồn thu từ xã hội hóa, tạo được nét thay đổi, nổi bật cho nhà trường.

    * Phát huy vai trò của Hội cha mẹ học sinh, của Phụ huynh học sinh và mạnh thường quân trong và ngoài địa bàn:

    Vào đầu năm học, nhà trường tổ chức họp phụ huynh học sinh, đề nghị phụ huynh chọn lựa được Ban đại diện cha mẹ học sinh của các lớp là những người có uy tín có thể chung tay cùng xây dựng nhà trường, là những người phối kết hợp tốt nhất trong việc thực hiện thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường để cùng giáo dục trẻ một cách toàn diện

    Nhà trường cũng như các lực lượng xã hội, các tổ chức,… đều có những chức năng và trách nhiệm riêng. Để khai thác, phát huy khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó phải nhằm đúng chức năng, trách nhiệm của phụ huynh.

    Tận dụng vai trò của Phụ huynh học sinh – đội ngũ các nhà “tư vấn tự nguyện” để làm công tác xã hội hoá giáo dục.

    Đây cũng là một “nghệ thuật” của người nhận nhiệm vụ được giao như tôi, tôi đã tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa Ban đại diện cha mẹ học sinh, phụ huynh học sinh toàn trường và nhà trường để có sự tác động hiệu quả. Với tâm huyết của nghề biết dựa vào uy tín và tiếng nói của Ban đại diện cha mẹ học sinh để tuyên truyền, vận động vì giữa họ luôn có tiếng nói chung, có cùng một nguyện vọng và mang tính khách quan.

    Nhờ làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục mà đến nay trường đã có một khuôn viên vui chơi sạch sẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia thể dục sáng và hoạt động ngoài trời, thể dục và các hoạt động vui chơi tự do theo ý thích của trẻ, trẻ được hoạt động trên sân trường một cách thoải mái…

    Qua hơn một năm áp dụng các biện pháp tiến hành công tác xã hội hóa giáo dục (từ năm 2021 đến năm 2021), nhà trường đã vận động các nguồn lực từ địa phương với tinh thần chủ động, thực hiện theo mục tiêu cụ thể đã đề ra, các thành phần tham gia công tác này được mở rộng, nguồn đóng góp ngày càng tích cực hơn, cụ thể:

    Hơn một năm qua phát huy công tác xã hội hóa giáo dục, mọi lực lượng xã hội cùng tham gia làm giáo dục, nên bước đầu đã tháo gỡ được khó khăn, tạo ra môi trường thuận lợi nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học.

    Sự đồng thuận của toàn xã hội đối với các hoạt động nhà trường rất rõ nét, khi được thống nhất, triển khai đều nhận được sự đồng tình, hưởng ứng mạnh mẽ, duy trì được hoạt động thường xuyên, lâu dài.

    Tuy kết quả mang lại đang còn nhỏ bé nhưng đã mở đầu cho bước đi tiếp theo cho những năm học tới, với thành công nhỏ bé ban đầu và quyết tâm trao đổi cùng các độc giả tôi tin tưởng rằng chặng đường tiếp theo cho đề tài sẽ là một bước đột phá khởi sắc cho trường Mẫu giáo Phú Lộc thân yêu, về cơ sở vật chất ngày một khang trang, phụ huynh yên tâm gửi con em đến trường, công tác phối hợp tuyên truyền ngày một sâu rộng. Nhờ đó, mà công tác tuyển sinh đầu năm có phần khởi sắc, phụ huynh phấn khởi, yên tâm khi gởi con em vào trường, học sinh vui vẻ đến trường.

    Phong trào học tập ngày càng được chú trọng và đạt nhiều thành tích đáng khen.

    Mặc dù đây là những giải pháp xã hội hóa giáo dục ở đơn vị mang tính riêng biệt áp dụng cho thực tiễn nhà trường.

    Nhà trường tiếp tục phát huy những kết quả đạt được trong công tác xã hội hóa giáo dục, đẩy mạnh hơn nữa công tác huy động các nguồn lực đầu tư cho sự phát triển trong thời gian tiếp theo.

    Định hướng nội dung, biện pháp tiến hành trong từng năm mang tính tập trung không dàn trải, có tính khả thi để tranh thủ sự đồng thuận của cả cộng đồng trong triển khai thực hiện.

    Vận dụng vào thực tiễn vận động cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm, vào công tác xã hội hóa giáo dục của đơn vị trường mình.

    Đúng như kế hoạch đã xây dựng cho chiến lược lâu dài của nhà trường. Xã hội hóa giáo dục là một việc làm cần thiết cần đẩy mạnh hơn nữa, làm cho cuộc vận động này được tiến hành sâu rộng, xuyên suốt trong các hoạt động của nhà trường, nhằm nâng cao nhận thức, thống nhất về tư tưởng trong các lực lượng xã hội, các tầng lớp nhân dân góp phần đưa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng về xã hội hóa giáo dục đi vào cuộc sống xã hội. Thực tiễn đã chứng minh nơi nào có sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước, Hội khuyến học, Ban Đại diện cha mẹ học sinh,… được củng cố và hoạt động tốt, sự đồng thuận của Ban ngành đoàn thể, cộng đồng dân cư thì nới đó có phong trào xã hội hóa giáo dục tốt.

    Xác định mục tiêu xã hội hoá giáo dục là xây dựng môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh; tăng cường sự phối hợp giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân; huy động nhân lực, vật lực, kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ cho giáo dục, nhà trường đã tập trung xây dựng môi trường giáo dục nền nếp, văn minh trong và ngoài nhà trường thông qua quy chế, nội quy đối với thầy và trò, thông qua các tổ chức Công Đoàn. Hơn một năm trở lại đây, hoạt động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể được ngành chú trọng, tranh thủ sự quan tâm của nhiều cấp, ngành tham gia chăm sóc trẻ ở gia đình và cộng đồng, các hoạt động vui chơi lành mạnh cho các em nhỏ được duy trì.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Giải Pháp Thực Hiện Xã Hội Hóa Giáo Dục Tại Nghệ An
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Huy Động Xã Hội Hoá Giáo Dục Để Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Học
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biểu Mẫu Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập: Cần Giải Pháp Toàn Diện

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập Nhằm Chấn Hưng Nền Giáo Dục Ở Việt Nam
  • Các Bước Đi Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Tiền Giang
  • Hương Trạch Quyết Liệt Xây Dựng Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • GD&TĐ – Xây dựng xã hội học tập là xu hướng tất yếu trên thế giới. Ở Việt Nam, để góp phần xây dựng cả nước thành một XHHT, Đảng, Nhà nước đã có nhiều quyết sách, chiến lược phát triển, tuy nhiên vẫn cần hơn nữa trách nhiệm của các tổ chức, trường ĐH, đặc biệt là ý thức học tập trong mỗi người dân.

    Xây dựng xã hội học tập giúp người dân cần gì học nấy

    Xu hướng thời đại

    Theo TS Trương Tiến Tùng – Hiệu trưởng Trường Đại học Mở Hà Nội, tư tưởng giáo dục liên tục, học tập suốt đời được quảng bá rộng rãi; sau đó là tư tưởng giáo dục cho mọi người, là nhận thức về bốn trụ cột của giáo dục: học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để chung sống, ngày càng được cụ thể hóa thành các chính sách giáo dục của các quốc gia.

    Trong điều kiện khoa học – công nghệ ngày càng phát triển, tri thức nhân loại ngày càng phong phú, các chính sách tiến bộ về chính trị – kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia đã được thực thi với đời sống vật chất và tinh thần của người dân dần được nâng cao, thì nhu cầu học tập để tăng cường hiểu biết, phát triển nghề nghiệp, làm phong phú cho cuộc sống cá nhân và tăng cơ hội giao lưu, hội nhập thế giới… đang ngày càng trở nên cấp thiết.

    TS Trương Tiến Tùng cũng đặc biệt nhấn mạnh: Sự nghiệp GD-ĐT cần thay đổi mạnh mẽ và toàn diện để đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập và yêu cầu phát triển văn hóa của con người trong thời đại mới. Trong đó khoa học – công nghệ phát triển cao đã và đang tạo ra những phương tiện truyền thông đa dạng cùng những công cụ có thể tích hợp kiến thức, thay đổi quan niệm, nội dung, phương pháp học tập và cả quan niệm về lao động xã hội.

    Lao động giờ đây phải có tri thức cao hơn. Điều này đòi hỏi ngành giáo dục cần đổi mới về tư duy, hướng tới một XHHT với nền kinh tế tri thức. Bên cạnh đó, cách mạng khoa học – kỹ thuật cũng làm biến đổi sâu sắc cơ cấu KT-XH, trong đó có cơ cấu lao động trên phạm vi quốc tế.

    Thực tế cho thấy, quá trình CNH-HĐH đang diễn ra nhanh chóng ở nhiều nước cũng tạo ra sự thiếu hụt lớn lực lượng lao động có trình độ cao cũng như bộ phận công nhân kỹ thuật lành nghề. Đặc biệt cuộc CMCN 4.0 cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện lớn cho người dân có tiếp cận tốt hơn với việc học.

    Xây dựng xã hội học tập, biến cả nước thành một xã hội học tập là vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục, chẳng những phải đào tạo những lao động lành nghề, có kỹ năng tốt, có thể làm chủ một quy trình công nghệ, mà còn cần đào tạo những lao động mới, có khả năng phát triển và thích ứng với biến đổi liên tục của thị trường lao động và môi trường xã hội cũng như sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ -TS Trương Tiến Tùng đặc biệt nhấn mạnh.

    Phải có sự chung tay của cả cộng đồng

    Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quan tâm đến xây dựng XHHT, từ việc ban hành các chính sách đến các chương trình hành động và tổ chức thực hiện. Ngày 9/1/2013 Chính phủ đã ban hành Quyết định 89/QĐ-TTg về Đề án Xây dựng XHHT giai đoạn 2012 – 2021, với nhiều mục tiêu rất cụ thể, như việc nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ đến năm 2021.

    Việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề đối với các cán bộ, công chức, viên chức cũng đặt mục tiêu tối thiểu 80% đối với cán bộ cấp huyện trở lên và 70% cán bộ cấp xã, phường phải được đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc hàng năm theo chương trình quy định và các kỹ năng phục vụ cho vị trí công việc. Đối với lao động nông thôn, 70% lao động được tham gia học tập cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ sản xuất tại các trung tâm học tập cộng đồng. Đối với công nhân lao động, phấn đấu 95% công nhân được qua đào tạo nghề.

    Từ thực tế Trường Đại học Mở Hà Nội được giao các đề tài, nghiên cứ xây dựng XHHT, TS Trương Tiến Tùng phân tích: Trong thời đại mà toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống, học tập đã trở thành nhu cầu thực sự của con người. Việc thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ học tập ngày càng được phổ biến và hiện thực hóa trong thực tiễn phát triển giáo dục.

    Đối tượng của giáo dục cũng thay đổi, không chỉ là trẻ em mà tất cả mọi người mới là đối tượng thật sự và rộng lớn của giáo dục. Giáo dục không chỉ nhằm phát triển nhân cách của thế hệ trẻ mà còn “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Các hoạt động giáo dục được mở rộng, không chỉ trong nhà trường mà trở thành một lĩnh vực hoạt động thu hút sự quan tâm và đầu tư nguồn lực từ mọi phía của xã hội. Nhìn ra vấn đề và có giải pháp phù hợp, chúng ta sẽ thành công xây dựng cả nước thành một XHHT.

    Có thể thấy, mục tiêu rất cụ thể và rõ ràng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mong muốn đó thì cần phải có những giải pháp căn cơ, đặc biệt là sự chung tay của cả cộng đồng. Đó là, cần phải đẩy mạnh các hình thức học từ xa, học qua mạng là một xu thế tất yếu và phù hợp với phương thức đào tạo trong thời đại của cuộc CMCN 4.0. Các nhà trường cần phải tăng khả năng “cung ứng học vấn đại học”, cập nhật kiến thức cho người lao động.

    Thêm nữa, việc khuyến khích, thiết lập cơ chế phối hợp nhằm huy động nguồn lực mạnh mẽ từ phía các tổ chức, doanh nghiệp là rất cần thiết. Cần có thiết chế để tự bản thân các tổ chức, doanh nghiệp phát động phong trào học tập, vì chính doanh nghiệp và các tổ chức sẽ được hưởng lợi từ những giá tích luỹ và tri thức của người lao động khi tuyển dụng và sử dụng. Đây là trách nhiệm với xã hội để bù đắp phần nào những chi phí mà xã hội đã bỏ ra để đào tạo những người lao động cho họ.

    “Xây dựng xã hội học tập, biến cả nước thành một xã hội học tập là vấn đề đặt ra đối với hệ thống giáo dục, chẳng những phải đào tạo những lao động lành nghề, có kỹ năng tốt, có thể làm chủ một quy trình công nghệ, mà còn cần đào tạo những lao động mới, có khả năng phát triển và thích ứng với biến đổi liên tục của thị trường lao động và môi trường xã hội cũng như sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ”. TS Trương Tiến Tùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Đồng Nai Phát Triển Toàn Diện, Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Tiếp Tục Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Của Nhân Dân, Do Nhân Dân Và Vì Nhân Dân
  • Xã Hội Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • ĐỐI TƯỢNG – CƠ CẤU CỦA

    XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC

    1. Khái niệm XHH

    Khoa học nghiên cứu quy luật của sự hình thành, vận động, biến đổi mối quan hệ giữa con người và xã hội.

    XHH nghiên cứu:

    Con người tác động và cải biến xã hội ntn

    Xã hội tác động đến hành vi và biến đổi con người

    XHH quan tâm tới các câu hỏi:

    Cái gì gắn kết các cá nhân

    Tại sao cá nhân lại hành động như thế

    Tại sao lại phân hóa giầu nghèo

    Tại sao lại có mâu thuẫn xã hội

    Xã hội đã biến đổi như thế nào

    Xã hội biến đổi con người như thế nào

    Một sô lý thuyết XHH hiện đại

    Thuyết mâu thuẫn

    Karl Marx: Mâu thuẫn cơ bản trong xh là mâu thuẫn lợi ích bắt nguồn từ phân hóa xã hội.

    Các luận điểm gốc:

    Xã hội bị phân chia thành các nhóm đối lập

    Mâu thuẫn bắt nguồn từ bất bình đẳng, từ phân công lao động và vai trò trong hệ thống kinh tế.

    Mẫu thuẫn cũng bắt nguồn từ những yếu tố phi kinh tế (quyền lực, văn hóa, tôn giáo…)

    Mâu thuẫn gặp ở khắp mọi nơi.

    Các nhóm xh luôn cạnh tranh vì kinh tế, quyền lực, địa vị

    Giai tầng nào nắm kinh tế thì thống trị nhóm khác về văn hóa, tư tưởng

    Động lực biến đổi xã hội là đấu tranh giai cấp

    Hướng vận dụng trong nghiên cứu giáo dục

    Xem xét giáo dục trong mối quan hệ XH – Con người.

    Mâu thuẫn giữa khả năng thực tế của giáo dục và nhu cầu đào tạo

    Vấn đề bất công bằng trong giáo dục

    Giáo dục phản ánh bất bình đẳng và các yếu tố gây ra.

    Thuyết chức năng

    H.Spencer:

    Luận điểm gốc

    Xã hội là 1 hệ thống, gồm nhiều bộ phận và mỗi bộ phận thực hiện 1 số chức năng riêng biệt

    Chức năng là 1 nhiệm vụ mà một bộ phận xh phải thực hiện để đảm bảo tồn tại xh

    Phi chức năng là vai trò gây cản trở xã hội

    Hệ thống xã hội tồn tại bình thường khi còn thực hiện chức năng, sẽ là bất bình thường khi thực hiện phi chức năng

    Chức năng của bộ phận xã hội được xác định vởi nhu cầu của cả hệ thống.

    Sự trật tự xã hội và thống nhất của hệ thống phụ thuộc vào sự tích hợp chức năng và đồng thuận giá trị.

    Hành vi cá nhân bị quy định bởi vị thế, vai trò trong hệ thống

    Quá trình xã hội hóa giúp cá nhân hội nhập với hệ thống thiết chế

    Sự biến đổi xã hội tuân theo quy luật sự thích ứng với môi trường

    N/c mối quan hệ tác động qua lại giữa hệ thống giáo dục với xã hội.

    Xã hội với vai trò tạo dựng hệ thống giáo dục

    Giáo dục tác động trở lại xã hội, tạo ra biến đổi xã hội

    Giáo dục có vai trò gì đối với sự phân hóa xã hội và phân tầng xã hội

    Cấu trúc xã hội (phân hóa giầu nghèo) có tác động gì đến bất bình đẳng xã hội

    Làm thế nào để giáo dục góp phần xóa đói giảng nghèo

    Bất bình đẳng trong học tập giữa nam và nữ

    III. Nhiệm vụ của XHH giáo dục

    Xét mức độ nhận thức xã hội hoá giáo dục gồm các lĩnh vực sau:

    Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

    Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

    Nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm

    Xét ở góc độ đối tượng nghiên cứu:

    Mức độ vĩ mô: Giáo dục trong mqh với đời sống…

    Mức độ vi mô: Giáo dục với người đi học

    1. phương pháp nghiên cứu lý luận

    2. phương pháp thu thập và phân tích thông tin

    2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp:

    Nghiên cứu những tài liệu được thu thập trên cơ sở thống kê các chỉ báo trong hoạt động giáo dục.

    Các loại tài liệu thứ cấp:

    Tài liệu thống kê giáo dục (niên giám thống kê)

    Trình độ dân số

    Số dân làm việc trong nền kinh tế

    Trình độ học vấn

    Các nghiên cứu độc lập của các nhà XHH

    Bài báo, hội thảo khoa học về giáo dục

    Nghị quyết, quan điểm của giai cấp cầm quyền về chính sách giáo dục

    2. Phương pháp điều tra xhh giáo dục

    Phương pháp thu thập thông tin có định hướng.

    Điều tra bằng bảng hỏi

    Điều tra bằng bảng phỏng vấn sâu

    Điều tra bằng quan sát có định hướng

    3. Phương pháp thống kê toán học

    Sử dụng các phép tình toán mối quan hệ (tương quan, hồi quy…)

    Góc độ mâu thuẫn

    Mối tương tác giữa cấu trúc xã hội và sự phân hoá trong giáo dục

    Mối tương tác giữa giáo dục về sản xuất xã hội

    Sự tiếp cận và kiểm soát xã hội đối với giáo dục và các nguồn lực của giáo dục

    Vai trò của giáo dục đối với biến đổi xã hội.

    Góc độ chức năng

    Chức năng giáo dục của các hệ thống xã hội

    Vai trò của những cải cách xã hội

    Các yêu cầu xã hội đối với đổi mới hệ thống giáo dục

    Vai trò giáo dục đối với sự ổn định và trật tự.

    Góc độ giới

    Vai trò và vị trí của phụ nữ và nam giới trong tiếp cận và kiểm soát giáo dục

    Vai trò của giáo dục trong sự phân công lao động trong xã hội theo giới.

    Vấn đề công bằng và bất bình đẳng.

    HỆ THỐNG XÃ HỘI VÀ

    HỆ THỐNG GIÁO DỤC

    1. Hệ thống xã hội

    1.1. Xã hội là gì?

    Cộng đồng người

    Sống trên cùng 1 lãnh thổ

    Có chung nền văn hóa

    Chung 1 phương thức sản xuất và sinh hoạt

    Sử dụng trung ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết

    Cùng tương tác, có mối quan hệ qua lại dựa trên những chuẩn mực và nguyên tắc chính thức hoặc phi chính thức

    Các quan niệm khác nhau về hệ thống xã hội

    Thuyết mâu thuẫn:

    Là hệ thống các giai cấp có mâu thuẫn với nhau

    về kinh tế và những lợi ích

    Giai cấp thống trị dùng giáo dục để làm công cụ củng cố địa vị và cấu trúc xã hội.

    Hệ thống giáo dục phụ thuộc vào hệ thống kinh tế

    Thuyết chức năng

    XH là 1 hệ thống gồm nhiều thiết chế

    Giáo dục là 1 thiết chế xã hội thực hiện chức năng truyền đạt KN cho cá nhân

    Thuyết hệ thống

    Là tập hợp các quan hệ xh được tổ chức thành khuôn mẫu

    Cấu trúc xh là tập hợp các quy tắc và các nguồn lực mà con người sử dụng

    Giáo dục quan hệ hữu cơ với các mặt của xh

    Giáo dục có chức năng duy trì trật tự xã hội

    Củng cố khuôn mẫu và chuẩn mực

    Xã hội hóa cá nhân, xác định chuẩn mực và vai trò.

    1.2. Hệ thống giáo dục

    Là 1 tiểu hệ thống trong tổng thể xã hội

    Thực hiện chức năng duy trì tồn tại và vận động của xh

    Quy luật vận động bị chi phối quy luật xã hội

    Nền kinh tế nào thì nền giáo dục ấy

    Bị quy định bởi hệ thống chính trị

    Có chức năng xã hội hóa cá nhân

    2. Lược sử hệ thống giáo dục Việt Nam

    2.1. Giáo dục trong thời kỳ Bắc thuộc

    111 trước CN – 938

    Chế độ giáo dục sĩ tộc

    Đào tạo con em quan lại

    Chế độ khoa cử – đặt học vị tiến sĩ (Đời nhà Đường)

    ở VN có giáo dục tiểu học (dưới 15) và giáo dục cho người trên 15 (để phục vụ thi cử)

    Một bộ phận nhỏ người Việt được đi học

    2.2. Giáo dục thời phong kiến (939 – 1858)

    939 – 965: Triều đại nhà Ngô, Nhà Đinh (968 – 980); Tiền Lê (980 – 1009):

    Có một số trường dành cho người Việt

    Nhà Lý (1009 – 1025)

    Giáo dục được tập trung ở Thăng Long

    1070 Thành lập Quốc tử giám

    Đào tọa con em hoàng tộc

    1075 tuyển được người đứng đầu

    1086 mở khoa thi để tuyển vào hàn lâm viện

    1397, Vua Trần mở các trường công ở các huyện, 1399 Hồ quý Ly mở trường sơ cấp ở các phủ huyện và được hỗ trợ kinh phí.

    Đặc trưng:

    Đã tồn tại trường công, trường tư thục

    Nội dung giáo dục là các môn thuộc chữ nghĩa và lễ giáo

    Phương pháp dạy học chủ yếu là bình chú, học thuộc

    Chủ yếu học thuộc

    Học trò thụ động

    Bài tập củng cố trí nhớ

    Nguồn gốc

    XH phong kiến không khuyến khích phê phán

    Xh muốn sự phục tùng tuyệt đối vào trật tự đã có.

    2.3. Giáo dục thời kỳ Pháp thuộc

    1858 – 1919: Duy trì giáo dục phong kiến

    1919 bãi bỏ kỳ thi

    Đóng cửa các trường dạy hán ngữ

    Chế độ thi cử nho học bỉ bãi bỏ

    Áp dụng mô hình giáo dục kiểu Pháp

    Đào tạo tinh hoa phục vụ bộ máy nhà nước

    Cơ cấu giáo dục

    Tiểu học (ở một số ít xã đông dân)

    Cao đẳng tiểu học (ở các thành phố lớn)

    Trung học và đại học (3 trường Hà Nội, Huế, Sài Gòn)

    Đặc trưng:

    Mô hình giáo dục hình tháp bẹt

    Đào tạo tinh hoa dành cho thiểu số

    Chỉ đào tạo 3% dân số

    Tỷ lệ học sinh trung học thấp (100 học sinh tiểu học, có 2 được học trung học)

    Nguồn gốc

    Duy trì chính sách ngu dân

    Đào tạo nhân tài phục vụ bộ máy đô hộ

    2.4. Hệ thống giáo dục quốc dân

    Một số lỗi hệ thống trong hệ thống giáo dục VN

    Mô hình giáo dục hình chóp tỏ ra thiếu hiệu quả.

    Đầu tư hạn chế cho giáo dục mầm non

    Hệ thống trường THPT dân lập mở tràn lan

    Hệ thống các trường ĐH phục vụ cho số đông người giầu, khá giả.

    Có sự thiên vị của chính sách giáo dục với người giầu có, khá giả.

    Bất bình đẳng trong đầu tư giáo dục ở các vùng miền

    Bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong hệ thống giáo dục

    Thiếu sự gắn kết giữa các hệ thống giáo dục nhà trường và các hình thức giáo dục.

    Hệ thống GD tác rời hệ thống xã hội, phục vụ không hiệu quả nhu cầu xh.

    Mâu thuẫn giữa hệ thống giáo dục tư và giáo dục công về mục tiêu.

    4. Hệ thống giáo dục cấp trường

    là một hệ thống xã hội gồm các thành phần khác nhau.

    Lớp học

    Các bộ môn

    Phòng ban chức năng

    Học sinh, giáo viên

    Mối quan hệ được tổ chức thành quan hệ quyền lực và quan hệ chức năng.

    Sự thăng tiến dựa vào năng lực, phẩm chất

    Đánh giá, thưởng phạt dựa vào kết quả hoạt động.

    Các cách tiếp cận hệ thống nhà trường

    Thuyết chức năng:

    Là 1 hệ thống gồm nhiều thiết chế

    Các chức năng trong nhà trường không đảm bảo sẽ nảy sinh những tổ chức thay thế

    Thực hiện không đúng chức năng của bất kỳ bộ phận có thể cản trở sự tồn tại nhà trường.

    Đề xuất:

    Nâng cao tính chuyên nghiệp của các bộ phận chức năng

    Thuyết tương tác

    Là hệ thống các tương tác

    Quan trọng nhất là tương tác thày – trò

    Vai trò nhà trường

    Tạo ra hệ thống giá trị, chuẩn mực, động cơ, khuôn mẫu hành vi học sinh phù hợp với mong muốn của xh

    Sản phẩm giáo dục ảnh hưởng nhiều qua mối tương tác thầy – trò

    Đề xuất:

    Tăng cường mối tương tác nhà trường với gia đình, tổ chức xh khác

    Thuyết mâu thuẫn (xung đột)

    Nhà trường:

    Là nơi diễn ra các quan hệ lợi ích và cạnh tranh lợi ích

    Lợi ích kỳ vọng giữa học sinh (nhóm đằng sau) với chất lượng giáo dục

    Là nơi tạo ra những bất bình đẳng xã hội

    Đề xuất:

    Cần nghiên cứu vai trò nhà nước đối với giáo dục nói chung và giáo dục nhà trường nói riêng

    Các câu hỏi có thể đặt ra:

    Ai là người quyết định trong trường

    Ai là người hưởng lợi

    Học sinh đại diện cho giai tầng nào

    Chức năng kinh tế:

    Là chức năng quan trọng nhất

    Đảm bảo sự phát triển tối đa năng lực con người trong 1 dạng lao động cụ thể phù hợp với trình độ phát triển của xã hội.

    Chức năng kinh tế thể hiện ở:

    Đảm bảo nguồn cung lao động đáp ứng nhu cầu của các lĩnh vực lao động.

    Đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực (mối quan hệ học vấn và năng lực lao động)

    Đảm bảo quá trình phân công lao động

    Nhân tố nâng cao tính tích cực lao động và hiệu quả sản xuất.

    Đảm bảo nâng cao năng suất lao động.

    Góp phần tái sản xuất sức lao động.

    Nâng cao giá trị của lao động và sản phẩm lao động

    Sinh viên phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và năng suất lao động. Cho ví dụ cụ thể:

    Muốn tăng năng suất trong lao động thì cần những điều kiện:

    Khách quan

    Thiết bị

    Môi trường

    Chủ quan

    Phẩm chất

    Năng lực

    Thái độ, tinh thần

    2. Chức năng phát triển cơ cấu xã hội

    Góp phần làm thay đổi cơ cấu xã hội nhằm đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn.

    Chức năng thể hiện ở:

    Quản lý sự phát triển cơ cấu xã hội (đào tạo nghề…)

    Khắc phục những đối lập giữa giai cấp và các nhóm đối lập

    Cải tạo các nhóm, giai cấp

    Góp phần dịch chuyển giai cấp, nhóm xã hội

    3. Chức năng chính trị

    Hệ thống giáo dục gắn chặt với hệ thống chính trị

    Đảm bảo tính nhất quán về quan điểm, đường lối, hình thức dân chủ trong việc quản lý nhà nước.

    Tăng cường tính tích cực chính trị của cá nhân trong việc tham gia quản lý nhà nước.

    Chức năng này thể hiện:

    Hệ thống giáo dục – đào tạo được tổ chức trên cơ sở đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền.

    Hệ thống giáo dục phục vụ quyền lợi giai cấp thống trị thông qua giáo dục hướng đến việc giữ gìn, khẳng định sự thống trị của mình.

    Nội dung giáo dục phù hợp với nhiệm vụ cơ bản trong chính sách xã hội của hệ thống chính trị của đảng cầm quyền.

    9. Chức năng đổi mới

    Thể hiện sự sáng tạo khoa học

    Cung cấp nền tảng tri thức, kinh nghiệm để thay đổi cái cũ, thực hiện cái mới…

    Tạo ra động lực cho di động xh

    Cung cấp những tư tưởng tiến bộ, phê phán cái lạc hậu.

    10. Chức năng chọn lọc:

    Thực hiện công tác đào tạo và phân luồng trong giáo dục

    Thực hiện chính sách ganh đua

    Phân loại học sinh thể hiện ở việc đánh giá kết quả học tập…

    Đảm bảo những khả năng cho sự thể hiện một cách hiệu quả nhất tiềm năng

    PHÂN HOÁ XÃ HỘI VÀ BÌNH ĐẲNG TRONG GIÁO DỤC

    KHÁI NIỆM:

    Là quá trình hình thành cách nhóm xã hội khác nhau về một số đặc điểm, tính chất xh nhất định.

    CƠ CHẾ VÀ CÁC TÁC ĐỘNG

    Cơ chế tự nhiên

    Sự phân công lao động

    Trình độ học vấn

    Địa vị xã hội

    Khái niệm:

    Là sự phân hoá xã hội thành các tầng lớp xh khác nhau về vị thế xh trong cấu trúc xã hội.

    Đặc trưng:

    Tạo các nhóm có vị thế trên dưới, cao thấp về kinh tế, quyền lực, uy tín xã hội.

    Cơ chế;

    Tự nhiên

    Xã hội (gia đình, giáo dục, năng lực, cơ may xã hội…)

    1. khái niệm gia đình

    Cấu trúc xh, dựa trên hôn nhân, huyết thống và những quan hệ khác để cùng chung sống.

    2. Vai trò giáo dục của gia đình

    Là môi trường xã hội hóa

    Nơi thỏa mãn nhu cầu học tập

    Trang bị kỹ năng sống cho trẻ.

    Cơ cấu các loại gia đình

    Gia đình hạt nhân chiếm tỷ trọng lớn

    Phần lớn chủ hộ là nam giới

    Phụ nữ luôn đóng vai trò giáo dục trẻ em

    Số lượng con ngày càng ít

    Giáo dục gia đình phụ thuộc:

    Quy mô (hạt nhân, mở rộng, số lượng con cái….)

    Đặc điểm (mức sống, trình độ văn hóa, môi trường sống…)

    Tính chất

    Vai trò của gia đình trong giáo dục nhà trường.

    Đặc điểm giáo dục gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục nhà trường.

    Điều kiện, hoàn cảnh gia đình ảnh hưởng tới cơ hội và các điều kiện học tập

    Các kiểu quan hệ

    Quan hệ hợp tác

    Có sự phối hợp chặt chẽ

    Quan hệ trao đổi

    Gia đình bỏ công sức, tiền bạc để nhận lại sự quan tâm của nhà trường.

    Quan hệ chuyên môn

    Nhà trường đưa ra lời khuyên đáp ứng nhu cầu học tập

    Mối quan hệ gia đình, nhà trường dưới tác động cơ chế thị trường.

    Kiểu mua bán: Xuất hiện thị trường giáo dục (mua bán, trao đổi…)

    Kiểu đầu tư (gia đình đầu tư tiền bạc, tài chính)

    Khái niệm vốn con người

    Dùng để chỉ một tập hợp các tri thức và kỹ năng chuyên môn được giáo dục đào tạo.

    Đầu tư cho giáo dục:

    Đầu tư cho sự phát triển tương lai

    Đầu tư càng nhiều càng có cơ hội thu lãi cao (cơ hội việc làm, thu nhập…)

    Một số quy luật trong đầu tư giáo dục

    Gia đình đóng vai trò hàng đầu trong phát triển tâm lý, trí tuệ, nhân cách…

    Trình độ học vấn cha mẹ có ảnh hưởng đến chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ

    Lợi nhuận đầu tư cho trẻ em gái cao hơn trẻ em trai

    GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HÓA

    1. XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI HÓA XÃ HỘI

    Xã hội hóa:

    Quá trình biến những hành vi đơn lẻ thành hành vi mang tính xã hội

    Xem xét ở cấp độ vĩ mô

    Xã hội hóa cá nhân

    Biến cá nhân thành nhân cách (con người xã hội)

    2. Các giai đoạn xã hội hóa cá nhân

    Giai đoạn trước khi đến trường

    Hình thành những hiểu biết, kỹ năng cần thiết để đến trường

    Chủ yếu hình thành trong gia đình

    Vài trò và hành vi người lớn ảnh hưởng mạnh mẽ

    Giai đoạn đi học

    Giáo dục nhà trường đóng vai trò chủ yếu

    Giai đoạn lao động

    XHH chủ yếu diễn ra nơi làm việc

    Giai đoạn sau lao động

    XHH ở ngoài cấu trúc nghề nghiệp, học tập để thích nghi

    3. Một số chức năng của xhh giáo dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Xã Hội Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • “đánh Giá Trong Giáo Dục Mầm Non” Của Nhà Giáo Dục
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • Bài 10: Quan Niệm Về Đạo Đức
  • Giáo Dục Gia Đình Góp Phần Quan Trọng Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Con Người
  • Giải Pháp Thực Hiện Xã Hội Hóa Giáo Dục Tại Nghệ An

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Một Số Biện Pháp Thực Hiện Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Đối Tượng, Thời Hiệu, Thời Hạn Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Đối Tượng Sử Dụng Ma Túy Nào Sẽ Được Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn?
  • Giải Pháp Quan Trọng Để Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh
  • Xã hội hóa giáo dục và đào tạo (XHH GD&ĐT) là làm cho giáo dục trở thành của xã hội, hay nói cách khác là huy động toàn xã hội tham gia làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy và tổ chức Đảng các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội – kinh tế, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho giáo dục; kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội; tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể. Trong khi nguồn lực của nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp thì việc huy động đẩy mạnh XHH GD&ĐT là rất cần thiết.

    Thực hiện chủ trương XHH GD&ĐT, tỉnh Nghệ An đã phát động phong trào đồng bộ, rộng khắp từ tỉnh đến cơ sở phường, xã, xóm, bản . . . , huy động mọi người tham gia làm giáo dục có hiệu quả. Những vấn đề về XHH GD&ĐT đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục trong, ngoài nước và ở tỉnh Nghệ An quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, để tìm ra giải pháp hữu hiệu tiếp tục thực hiện tốt công tác XHH GD&ĐT ở Nghệ An thì chưa có công trình khoa học nào đầu tư nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống. Chính vì vậy đề tài “Các giải pháp thực hiện xã hội hóa giáo dục tại Nghệ An ” đã được triển khai thực hiện.

    II.Nội dung công trình 1. Thực trạng công tác XHH GD&ĐT ở Nghệ An từ năm 2000 đến nay

    Từ năm 2000 đến nay, nguồn đầu tư cho GD&ĐT Nghệ An tăng đáng kể, bước đầu đã huy động được nguồn lực trong nhân dân, các thành phần, tổ chức kinh tế – xã hội đầu tư cho giáo dục. Trách nhiệm và tính tự chủ, năng động, sáng tạo của các cơ sở GD&ĐT được tăng cường và khuyến khích phát triển. Các Trung tâm học tập cộng đồng, Hội khuyến học của các cơ sở được thành lập và hoạt động có hiệu quả; các cơ sở ngoài công lập đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người học. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư đúng mức, trong đó giáo dục miền núi được ưu tiên. Theo điều tra, hàng năm, tổng số trẻ học mầm non đạt mức xấp xỉ 130.000 cháu; số lượng học sinh trung học phổ thông có chiều hướng tăng lên (khoảng 140.000 em).

    Mục tiêu XHH GD&ĐT của tỉnh là: Xây dựng nhà trường thành trung tâm văn hóa, giáo dục về đức, trí, thể, mỹ bằng các cuộc vận động, các phong trào thi đua, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, xây dựng trường chuẩn quốc gia. Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường với các ngành địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội, tạo điều kiện để xã hội đóng góp nguồn lực cho GD&ĐT. Phối hợp với các ngành như: Nội vụ, Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc nhà nước, công an, cơ quan chỉ huy quân sự, Thông tin – Truyền thông, Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Lao động thương binh và Xã hội, Y tế . . . để có sự tham gia đồng bộ trong hoạt động XHH GD&ĐT trên địa bàn.

    Từ đó, chất lượng giáo dục Nghệ An chuyển biến tốt, xây dựng được các điển hình tiên tiến có sức thuyết phục: học sinh giỏi quốc tế, quốc gia giữ vững tỷ lệ 80-85%; học sinh đậu đại học, cao đẳng tăng nhanh từ 11.413 em (năm 2005) lên 19.005 em (năm 2008), tỷ lệ học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi vào đại học xếp vị trí thứ 20 của cả nước (năm 2009); tỷ tệ đậu tốt nghiệp THPT được nâng lên sau 3 năm thực hiện cuộc vận động “Hai không”, đạt 87,18% (năm học 2008-2009); tình trạng học sinh yếu kém, học sinh bỏ học được khắc phục; thực hiện tốt công tác xóa mù, phổ cập trình độ nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên trong toàn tỉnh được nâng cao.

    Mạng lưới trường lớp được quy hoạch lại, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và nâng cao chất lượng GD&ĐT. Trong 10 năm qua, mạng lưới trường lớp đã phát triển theo hướng giảm bớt số lượng trường và tăng quy mô cho mỗi trường học. Từ năm 2009-2010, các địa phương sẽ thực hiện kế hoạch ổn định theo hướng mỗi xã có 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học, cấp THCS sẽ thành lập trường liên xã hoặc gắn với các lớp tiểu học để thành lập trường PTCS.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác XHH GD&ĐT của Nghệ An vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần phải được khắc phục:

    – Việc chỉ đạo triển khai thực hiện hoạt động XHH GD&ĐT của một số cán bộ, chính quyền và nhân dân ở các địa phương vẫn còn hạn chế; Chuyển biến về tư tương và nhận thức của một số cán bộ và nhân dân chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Một số nơi mới chú ý đến việc đóng góp xây dựng cơ sở vật chất trường học chưa quan tâm đến xây dựng môi trường giáo dục nền nếp học tập, rèn luyện và nâng cao chất lượng học sinh, sinh viên. Một số địa phương vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào chế độ chính sách của nhà nước.

    – Hoạt động Đại hội giáo dục ở một số địa phương vẫn chưa hiệu quả, chưa xây dựng được chương trình, kế hoạch hợp lý hoặc chưa có những biện pháp phù hợp với thực tiễn, chưa tập hợp được các lực lượng xã hội, đặc biệt là các cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền chưa chủ động nắm quyền điều hành Hội đồng giáo dục. Công tác tham mưu của các cơ sở giáo dục chưa tốt, trách nhiệm của một số cán bộ lãnh đạo địa phương chưa cao.

    – Cơ chế huy động nguồn lực xã hội chưa đủ mạnh. Nguồn ngân sách nhà nước chỉ mới đủ cấp tiền lương cho đội ngũ cán bộ, chưa đầu tư nhiều cho các hoạt động nâng cao chất lượng. Chính sách địa phương chưa tập trung cho khuyến dạy, khuyến học. Ngành giáo dục Nghệ An vẫn còn tình trạng dôi dư giáo viên cấp tiểu học và THCS, không sử dụng đến nguồn nhân lực đã được đào tạo cơ bản, đủ tiêu chuẩn, đây là một sự lãng phí và ảnh hưởng đến tư tưởng của nhiều nhà giáo đã và đang công tác trong ngành.

    – Cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng tối thiểu nhu cầu đổi mới dạy học; chỉ tiêu đến năm 2010 toàn tỉnh có 60% trường chuẩn quốc gia khó thực hiện; quá trình tuyên truyền, chỉ đạo thực hiện XHH GD&ĐT chưa tạo được sự bứt phá, chưa đồng đều giữa các vùng miền, chưa tương xứng với truyền thống hiếu học, chưa khai thác hết tiềm năng trí tuệ, vật chất và khả năng đóng góp cho giáo dục của người dân Nghệ An.

    – Chưa khai thác hết tiềm năng, nguồn lực từ các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, các đoàn thể xã hội, các tầng lớp nhân dân trong, ngoài tỉnh. Đặc biệt, chưa tranh thủ được nguồn vốn đầu tư nước ngoài, của những người con xứ Nghệ đã thành đạt.

    – Chất lượng giáo dục ngoài công lập, trung tâm giáo dục thường xuyên và khu vực miền núi còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Hệ thống các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề chậm phát triển, chất lượng đào tạo còn hạn chế; Chậm phân luồng và chưa mở rộng các trường học cho những học sinh có học lực trung bình hoặc yếu nhanh chóng hòa nhập với sự phát triển của xã hội; Việc chuyển đổi loại hình trường lớp bán công, dân lập sang tư thục còn lúng túng.

    2. Giải pháp thực hiện XHH GD&ĐT ở Nghệ An đến năm 2021

    Xây dựng nội dung tuyên truyền, nâng cao nhận thức về XHH GD&ĐT cho toàn xã hội là giải pháp quan trọng. Cần lựa chọn hình thức tuyên truyền thích hợp cho từng vùng, miền, thời điểm cho mỗi người dân. Trên cơ sở nội dung, hình thức tuyên truyền giáo dục đã được xác định, cần xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể như: chọn thời điểm, bố trí địa điểm phù hợp, chuẩn bị tài liệu triển khai nghiêm túc, trình bày nội dung thuyết phục, đưa nội dung XHH GD&ĐT vào nội dung sinh hoạt của các tổ chức, đoàn thể. . . , xây dựng chuyên mục “Xã hội hóa giáo dục và đào tạo” trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức tốt Đại hội giáo dục của tỉnh.

    Đối với các cấp ủy Đảng: Dựa trên yêu cầu thực tế từng giai đoạn, cấp ủy cần có Nghị quyết riêng về GD&ĐT; quan tâm đến công tác phát triển Đảng trong đội ngũ giáo viên; chỉ đạo cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị trong nhà trường.

    – Về sự điều hành của UBND: Trên cơ sở Nghị quyết của cấp ủy, UBND cần có những kế hoạch cụ thể ngắn hạn, dài hạn phục vụ yêu cầu trước mắt và lâu dài về giáo dục; thường xuyên góp ý và kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của ngành giáo dục; phối hợp với các ngành, đoàn thể tạo sức mạnh tổng hợp, tổ chức thực hiện mục tiêu XHH GD&ĐT.

    – Đối với cấp Phòng GD&ĐT: Cần có những tham mưu cho huyện ủy, HĐND và UBND huyện về các nội dung: lập đề án quy hoạch mạng lưới trường lớp; lập đề án xây dựng trường chuẩn quốc gia; có các hình thức biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân thực hiện tốt chủ trương XHH GD&ĐT; phân cấp và ủy quyền tự chủ thực hiện hoạt động XHH GD&ĐT cho hiệu trưởng các cơ sở giáo dục; kiểm tra, đánh giá, tổng kết mô hình XHH GD&ĐT ở cấp huyện.

    – Đối với cấp Sở Giáo dục và Đào tạo: Cần tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh những nội dung ưu tiên đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sách tỉnh; Xây dựng các chế độ ưu đãi đối với giáo viên; Chỉ đạo tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế khuyến khích hoạt động XHH GD&ĐT đã được ban hành; Lập đề án quy hoạch mạng lưới trường lớp hợp lý trình UBND tỉnh; Kiểm tra, đánh giá, tổng kết mô hình XHH GD&ĐT ở cấp tỉnh.

    Hội đồng giáo dục, các thành viên hội đồng giáo dục có trách nhiệm và quyền hạn đề xuất ý kiến của mình và tiếp nhận ý kiến đề xuất của nhân dân với cấp ủy và chính quyền về công tác giáo dục; Các cơ sở giáo dục cần thường xuyên thông báo cho Hội đồng giáo dục và những tổ chức quần chúng nhân dân về tình hình học tập, rèn luyện của người học và những chủ trương, biện pháp về giáo dục; Chăm lo xây dựng và củng cố các tổ chức có chức năng phối hợp hoạt động giữa nhà trường – gia đình – xã hội; Gắn kết công tác xây dựng môi trường giáo dục với phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ; Phối hợp để lồng ghép các phong trào xây dựng đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa; xây dựng xã hội học tập và các phong trào phụ nữ làm kinh tế giỏi, gia đình hạnh phúc của địa phương với việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực theo chuẩn mực xã hội.

    Tiếp tục tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước không thấp hơn 3.0% trong tổng chi ngân sách thà nước của tỉnh. Tăng cường và đa dạng hóa loại trường lớp, huy động các nguồn lực ngoại, ngân sách nhà nước; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tăng nguồn lực cho

    GD&ĐT; Triển khai thực hiện chế độ học phí mới và các chính sách xã hội khuyến khích học tập.

    Có chế độ chính sách ưu tiên về đất đai, thuế, huy động vốn tín dụng, miễn tiền thuế đất cho các cơ sở GD&ĐT thực hiện XHH. Thực hiện chế độ tự chủ cho các đơn vị trường học để huy động nguồn lực tại chỗ đầu tư cho giáo dục để xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, phát triển tin học, ngoại ngữ. . . ; chế độ ưu đãi cho cán bộ, giáo viên trong các cơ sở GD&ĐT thực hiện XHH GD&ĐT; có chính sách thu hút giáo viên giỏi.

    Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức XHH dạy nghề; Giải tỏa tâm lý chạy theo bằng cấp địa vị của phụ huynh, học sinh, làm cho toàn dân hiểu rõ cần căn cứ vào trình độ và điều kiện của mỗi cá nhân mà hướng nghiệp và phân luồng đào tạo học sinh sau THCS và THPT một cách hợp lý; Đổi mới công tác giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường; Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất củng cố các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề hiện có ở các huyện và tỉnh.

    Sắp xếp, bố trí hợp lý trường lớp đào tạo thuận lợi cho việc học tập của con em; ưu tiên đầu tư, lồng ghép các chương trình, mục tiêu, dự án để nâng cấp cơ sở vật chất trường học, nhất là hệ thống lớp bán trú, nội trú phù hợp với điều kiện đặc thù từng vùng, miền, thực hiện theo phương châm Nhà nước cấp kinh phí xây trường lớp, trả lương giáo viên, mua sắm sách giáo khoa, mua sắm thiết bị…, nhân dân đóng góp quỹ đất, vật liệu xây dựng… Về phía gia đình, cha mẹ học sinh cần quan tâm hơn đến tình hình học tập của con em mình. Về mặt xã hội, cấp ủy và chính quyền địa phương cần quan tâm đến xóa đói, giảm nghèo; tỉnh cần điều tiết ngân sách và điểm chuẩn thi tuyển theo hướng ưu tiên vùng khó khăn, vùng giáo dục kém phát triển, thành phần nghèo đi học. Bên cạnh đó, thực hiện phong trào “tiếng trống học bài”; chú ý vai trò của người đại diện như già làng trưởng bản, các chức sắc tôn giáo.

    III.Kết luận

    Nghệ An là một tỉnh nghèo nhưng có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo, khuyến học và quý trọng hiền tài nên thực hiện công tác XHH GD&ĐT là một đòi hỏi khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, cũng như yêu cầu phát triển bền vững sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh trong tương lai. Để công tác XHH GD&ĐT ở Nghệ An phát triển hiệu quả hơn nữa, cần coi trọng nội dung và cách thức tuyên truyền, vận động làm cho các cấp ngành, người dân hiểu rõ vai trò của giáo dục là quốc sách hàng đầu trong thời kỳ kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế; làm cho người dân hiểu, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước về giáo dục và XHH GD&ĐT. Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đã đưa ra. Tuy nhiên, để các giải pháp này đem lại hiệu quả, cần phối hợp đồng bộ giữa cấp chính quyền, các

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Huy Động Xã Hội Hoá Giáo Dục Để Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Học
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biểu Mẫu Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa…
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hóa Cho Trẻ 5
  • Các Bước Đi Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Tiền Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Hương Trạch Quyết Liệt Xây Dựng Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Định Bình Đặt Mục Tiêu Đạt Xã Nông Thôn Mới Nâng Cao Vào Năm 2022
  • Cần Thơ: Công Nhận 3 Xã Đạt Chuẩn Nông Thôn Mới Nâng Cao
  • Bình Dương Sáng Tạo, Hiệu Quả Hướng Đến Xây Dựng Nông Thôn Mới Nâng Cao, Kiểu Mẫu
  • Những Giải Pháp Nâng Cao Việc Thực Hiện Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân, Phát Huy Dân Chủ, Chăm Lo Đời Sống Nhân Dân
  • Trường tư thục nghiên cứu xây dựng xã hội học tập

    Vì sao phải xây dựng xã hội học tập? Những tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin và kỹ thuật truyền thông đã biến thế giới rộng lớn bao la trước đây trở thành cái làng toàn cầu (global village) nhỏ bé. Những kiến thức và công nghệ có được ngày hôm nay sẽ trở thành lạc hậu ngay trong ngày mai trước các phát minh và tiến bộ công nghệ mới. Nhiều nghề cũ đang mất đi, những nghề mới liên tục ra đời với nhịp độ ngày càng nhanh hơn.

    Đứng trước sự thay đổi nhanh chóng đó của thế giới ngày nay, con người phải làm gì nếu không muốn bị lạc hậu, bị đào thải hoặc đứng bên lề của sự phát triển.Câu trả lời được đưa ra là: Phải học tập thường xuyên, suốt đời, phải xây dựng một xã hội học tập cho mọi người.

    Ngày nay, xu hướng xây dựng xã hội học tập đã được cụ thể hóa và hiện thực hóa một cách mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên khắp các châu lục. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và trong thời đại kinh tế tri thức , việc xây dựng xã hội học tập hay xã hội toàn dân học tập, quốc gia học tập… đã trở nên phổ biến đối với nhiều quốc gia dân tộc.

    Hội giảng dùng mẫu/ba-bài âm/n/ tại cụm các trường Tiểu học thuộc huyện Cái Bè (Ảnh: Thanh Hải,Phòng GDĐT Cái Bè)

    Mô hình xã hội học tập ở Tiền Giang.

    Ở Việt Nam vấn đề xây dựng xã hội học tập đã được chỉ đạo qua nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội Khuyến học từ Cách mạng tháng 8/1945 cho đến nay, nhằm thực hiện các tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục: ” Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “..Ai cũng được học hành”; “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”; “Cốt lõi của học là tự học”…

    Do vậy, ở Việt Nam, các vấn đề về bản chất, nội dung, nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập, các giải pháp tiến hành đã được làm sáng tỏ. Riêng đối với xây dựng mô hình xã hội học tập có hai vấn đề đặt ra là xây dựng mô hình lý thuyết , xây dựng mô hình cụ thể và hiện thực hóa mô hình.

    Mô hình lý thuyết phải mang tính bao quát với các mục tiêu, nguyên tắc chung có tính dẫn đường cho việc xây dựng các mô hình cụ thể .Mô hình cụ thể phải thể hiện sự phù hợp với thực tiễn , có tính khả thi và nhằm cụ thể hóa mô hình lý thuyết. Đi đôi với việc thiết kế mô hình cụ thể là hiện thực hóa mô hình. Hiện thực hóa mô hình có thể thực hiện qua thử nghiệm và thực hiện đại trà, nhân rộng.

    Mô hình lý thuyết:

    Dựa vào dự thảo đề án xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam ( Bộ Giáo dục và Đào tạo-2003) có thể tóm tắt mô hình xã hội học tập như sau:

    Mục tiêu xây dựng xã hội học tập:

    – Phát triển kinh tế – xã hội.

    – Giáo dục cho mọi người.

    – Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần xây dựng nền kinh tế tri thức.

    Cơ cấu hệ thống:

    – Hệ thống mở có hai khu vực: giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường.

    Nội dung hoạt động:

    – Mở rộng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo các đối tượng bên trong nhà trường (các trường mầm non, phổ thông, trung cấp, đại học).

    – Đẩy mạnh hoạt động xây dựng xã hội học tập đối với các đối tượng bên ngoài trường học (các hình thức học tập giáo dục linh hoạt, giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, các hình thức học từ xa, vừa học vừa làm, tự học ở nhà).

    Tổ chức quản lý xây dựng xã hội học tập:

    – Giao trách nhiệm cho các tổ chức giáo dục phát triển giáo dục qua đó thực hiện nhiệm vụ góp phần xây dựng xã hội học tập, các tổ chức xã hội tuyên truyên vận động thực hiện.

    – Nêu cao vai trò của Hội khuyến học nòng cốt tham mưu đề xuất cấp ủy chính quyền thực hiện, tổ chức quản lý các cơ sớ nhằm xây dựng xã hội học tâp.

    Nhiệm vụ của xây dựng xã hội học tập: Có 2 nhiệm vụ cơ bản:

    – Tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người có nhu cầu đều được học tập thường xuyên suốt đời, được tri thức hóa.

    – Khuyến khích người học, người tài, làm cho mọi người có trách nhiệm nghĩa vụ đối với việc học tập.

    Phương châm, phương pháp thực hiện:

    – Huy động sức mạnh tổng hợp của Nhà nước và toàn dân.

    – Lấy phong trào gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học và tinh thần tự học, tự học, tự đào tạo làm hạt nhân xây dựng xã hội học tập.

    Các điều kiện để xây dựng xã hội học tập:

    – Nền tảng xã hội học tập là phổ cập giáo dục và phát huy truyền thống hiếu học.

    – Phát triển các hình thức giáo dục đa dạng.

    – Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và kỹ thuật truyền thông (mạng Internet phát triển).

    Mô hình cụ thể:

    Đã có nhiều mô hình cụ thể qua báo cáo tại các Hội nghị toàn quốc của Hội Khuyến học nhất là điển hình tiêu biểu của “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ khuyến học”, Ấp, Khu phố khuyến học, nhà chùa khuyến học…

    Đối với Tiền Giang, khi vận dụng mô hình chung và đúc kết học tập kinh nghiệm các mô hình tiêu biểu, chúng tôi xin đề xuất chọn 3 mô hình cụ thể:

    1./ Mô hình xã hội học tập vùng nông thôn, với qui mô theo khu dân cư, một xóm hoặc một ấp làm thí điểm.

    2./ Mô hình khu phố, khu dân cư đô thị học tập với qui mô một tổ dân phố hoặc một phường làm thí điểm xây dựng.

    3./ Mô hình tập thể, một tổ chức hoc tập với qui mô của một tổ chức, một tập thể từ 50 đến 70 người như một xí nghiệp, một cơ quan, một nhà máy làm thí điểm xây dựng.

    4./ Mô hình công dân học tập với các tấm gương học tập thành công trong các lĩnh vực, các mục tiêu học tập khác nhau, hình thức, điều kiện khác nhau trên cơ sở của phương châm học tập suốt đời.

    Trong các mô hình kể trên: mô hình 1 và 2 là có các kết cấu xã hội ổn định bền vững, mô hình 3 có kết cấu không bền vững, mô hình 4 là mô hình đặc trưng cấn hướng đến về lâu dài. Do vậy cần tập trung chỉ đạo mô hình 1 và 2 nhiều hơn.

    Vấn đề xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học thực chất chỉ là xây dựng các nhân tố, các tế bào của xã hội học tập mà thôi, chưa phải là xã hội học tập. Tuy vậy đây là giải pháp quan trọng nồng cốt trong thực hiện phong trào xây dựng xã hội học tập cần được củng cố, đẩy mạnh và nhân lên thường xuyên, liên tục, nuôi dưỡng phong trào.

    Các bước triển khai và giải pháp thực hiện:

    Theo phương pháp mô hình hóa, để thực hiện một nhiệm vụ, yêu cầu nào đó nhất là các vấn đề xã hội, người ta thu nhỏ hiện thực lại thành mẫu hìnhnhỏ hơn để giảm độ phức tạp, giảm quy mô nhưng vẫn giữ được những yếu tố cơ bản, đặc trưng của hiện thực rồi tiến hành thử nghiệm các giải pháp tác động, thu kết quả, phân tích kết luận trước khi áp dụng đại trà.

    Phương pháp thường phải qua 3 bước cơ bản: xây dựng mô hình, triển khai thử nghiệm mô hình, áp dụng đại trà mô hìh đã được kiểm nghiệm.

    Ở Tiền Giang, trên cơ sở các mô hình đã có nhất là mô hình lý thuyết, chúng ta đã thực hiện nhiều công việc để xây dựng xã hội học tập như viết đề án xây dựng mô hình xã hội học tập, tổ chức hội thảo; xây dựng phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, phát động phong trào gia đình hiếu học, dòng học khuyến học … đó là các công việc có ở cả 3 bước theo phương pháp mô hình hóa. Nhưng nhìn chung chúng ta cũng đang ở bước 1: xây dựng, tìm kiếm mô hình phù hợp, hiệu quả cho xây dựng xã hội học tập.

    Do tính chất rộng lớn của vấn đề xây dựng xã hội học tập, quá trình xây dựng xã hội học tập chịu sự tương tác rất phức tạp của nhiều yếu tố: nhận thức và tâm lý xã hội, tình hình kinh tế – xã hội, đời sống người dân, mặt bằng dân trí, kết cấu hạ tầng và hệ thống giáo dục, mạng lưới trường học, các chính sách phát triển giáo dục và đào tạo …

    Do vậy, xây dựng xã hội học tập là vấn đề lâu dài. Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần sớm tìm ra mô hình phù hợp để nhân lên, mở rộng dần dần. Vì mang tính chất lâu dài, do vậy mô hình cũng không phải cầu toàn, từng lúc, từng nơi cần có sự cải tiến, nâng cao tính phù hợp, hiệu quả của nó.

    Trên tinh thần đó, với những giải pháp đã có và được bổ sung thêm, chúng ta hãy chọn một số ấp, xã, khu phố, tổ chức, tập thể thực hiện thí điểm trong vài ba năm với sự tham gia của nhiều cơ quan hữu quan, có trách nhiệm với các nhóm nghiên cứu, tổ chức hội thảo, sơ kết để đúc kết được mô hình hiệu quả.

    Dù thực hiện mô hình cụ thể nào, điều quan trọng là chúng ta làm gì, tạo điều kiện như thế nào, tác động ra sao để xã hội học tập được phát sinh, nảy nở trong một cộng đồng chứ không phải bắt cộng đồng ra sức thực hiện các tiêu chí xã hội học tập mà chúng ta mong muốn, chúng ta đặt ra.

    Mỗi một thành công như vậy dù nhỏ trên phạm vi một tổ dân phố, một xóm nhỏ ở nông thôn đều có gái trị lớn trong hiện thực hóa mô hình./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập Nhằm Chấn Hưng Nền Giáo Dục Ở Việt Nam
  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập: Cần Giải Pháp Toàn Diện
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dựng Văn Hoá Trong Chính Trị Và Kinh Tế
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Ninh Thuận Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững
  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Thực Hiện Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Đối Tượng, Thời Hiệu, Thời Hạn Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Đối Tượng Sử Dụng Ma Túy Nào Sẽ Được Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn?
  • Giải Pháp Quan Trọng Để Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • ND – Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là quá trình nâng cao vai trò định hướng, chỉ đạo, quản lý và đầu tư ngày càng tăng của Nhà nước cho quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nước và nhân dân cùng làm giáo dục, nhưng trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo để huy động sự đóng góp về trí lực, nhân lực, vật lực, tài lực của xã hội phát triển sự nghiệp giáo dục.

    Sau ba năm thực hiện Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ, công tác XHHGD tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng. Ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục hằng năm đều tăng. Thực hiện chương trình kiên cố hóa trường học, trong bốn năm qua, Chính phủ huy động các nguồn 5.223 tỷ đồng và ngân sách các địa phương đóng góp 3.174 tỷ đồng để xây dựng và đưa vào sử dụng hơn 60 nghìn phòng học kiên cố.

    Trong cơ cấu chi cho giáo dục từ ngân sách Nhà nước đã bố trí ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng biên giới hải đảo. Do đó, các cơ sở giáo dục tiếp tục phát triển, số người đi học không ngừng tăng lên, củng cố và giữ vững kết quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và thực hiện chủ trương phổ cập giáo dục THCS.

    Bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước là chính, ngành giáo dục còn nhận được sự đầu tư, hỗ trợ về các mặt từ các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước.

    Hệ thống các trường học ngoài công lập phát triển khá với tỷ lệ học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ đáng kể. Giáo dục nghề nghiệp tiếp tục đổi mới, mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển rộng khắp, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo. Các trung tâm học tập cộng đồng, giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục từ xa phát triển mạnh.

    Như vậy, XHHGD đã góp phần tạo ra được phong trào học tập tương đối sâu rộng trong nhân dân bước đầu hình thành xã hội hóa học tập; tăng cường trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục; nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân đối với giáo dục nhằm phục vụ tốt hơn việc học tập của nhân dân.

    Nhìn chung các chỉ tiêu định hướng vào năm 2010 nêu ra trong Nghị quyết số 05 của Chính phủ khó có thể thực hiện. Nguyên nhân do công tác tổ chức triển khai của ngành giáo dục thiếu một tổ chức và bộ phận cán bộ chuyên trách. Nhiều địa phương còn thụ động, trông chờ vào sự hướng dẫn từ cấp trên. Nhiều cán bộ, giáo viên của ngành năng lực về kiến thức XHHGD còn hạn chế.

    Những năm tới, để góp phần đẩy mạnh XHHGD có hiệu quả, trước hết, cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trong toàn xã hội về chủ trương, nội dung XHHGD của Ðảng và Nhà nước. Công tác này cần làm thường xuyên, sinh động, đa dạng và có hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các buổi sinh hoạt chi bộ, cơ quan, xí nghiệp, sinh hoạt đoàn thể, thôn xóm và tổ dân phố, v.v. từ đó tạo nên sự đồng thuận sâu sắc và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân và cộng đồng xã hội trong việc chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục. Trong đó, cần chú ý đúng mức công tác vận động và tuyên truyền ở các doanh nghiệp và nhà hảo tâm.

    Thứ hai, đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp trong học sinh trung học và trong xã hội. Nắm vững học lực, nguyện vọng, sở trường và hoàn cảnh của mỗi học sinh, cũng như nhu cầu lao động của xã hội, mà giáo dục hướng nghiệp.

    Cần tiếp tục mở rộng mô hình trường dạy nghề trong doanh nghiệp hoặc gắn với doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề gắn với các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế động lực. Ðây là mô hình dạy nghề thiết thực cho việc cung cấp nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp, đồng thời rất có tác dụng hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS và sau THPT.

    Thứ ba, tiếp tục đổi mới công tác quản lý, giao quyền và trách nhiệm cho các nhà trường trong việc tự chủ tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và hoạt động giáo dục – đào tạo. Thực tiễn cho thấy, nhiều trường học được giao quyền tự chủ về tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và các hoạt động của mình đều phát huy được sự năng động, sáng tạo trong quản lý, điều hành, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, uy tín và thương hiệu của nhà trường được khẳng định trong xã hội.

    Thứ tư, tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn công tác XHHGD. Trên nền tảng phát triển kinh tế, tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống nhằm làm rõ đặc điểm và nội hàm XHHGD trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chú trọng nghiên cứu và phổ biến kinh nghiệm hay của những nước có nền giáo dục phát triển và tương đồng với hoàn cảnh của nước ta, đồng thời thường xuyên tiến hành tổng kết thực tế những địa phương, đơn vị và nhà trường làm tốt công tác này. Ngành giáo dục cần có ban chỉ đạo và bộ phận thường trực chuyên trách nghiên cứu, khảo sát, tổng kết thực tiễn và tham mưu công tác XHHGD.

    TS PHẠM VĂN THANH

    (Công đoàn Giáo dục Việt Nam)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Thực Hiện Xã Hội Hóa Giáo Dục Tại Nghệ An
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Huy Động Xã Hội Hoá Giáo Dục Để Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Học
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biểu Mẫu Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa…
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100