Top 14 # Xem Nhiều Nhất Một Số Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Môi Trường / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Môi Trường / 2023

Xử lý các chất ô nhiễm

Một lượng lớn các chất dinh dưỡng trong thức ăn tôm, cá không được hấp thụ vào cơ thể để tạo sinh khối mà bị thải ra ngoài môi trường xung quanh dưới dạng thức ăn dư thừa, phân và chất thải, là nguồn gây ô nhiễm chính cho môi trường.

Hệ thống xử lý: Cần đầu tư hệ thống xử lý nước thải ao nuôi trước khi xả ra môi trường. Diện tích ao xử lý nước thải tối thiểu bằng 30% diện tích ao nuôi. Bùn thải trong nuôi thủy sản phải có khu chứa riêng trong cơ sở nuôi, hay có phương án xử lý phù hợp như: Bồi đắp nền nhà, tôn cao bờ đê, san lấp mặt bằng… Tránh tình trạng bơm bùn thải trực tiếp ra các kênh rạch, dẫn đến tình trạng ô nhiễm hữu cơ, để lại dư lượng hóa chất trong đất, nước và gây ra tình trạng bồi lắng các kênh rạch trong vùng nuôi.

Dùng chế phẩm sinh học: Vi sinh vật nói chung và vi khuẩn nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình luân chuyển vật chất như phân hủy các chất hữu cơ, chuyển đổi các hợp chất vô cơ từ dạng này sang dạng khác. Do đó, cần đưa các vi sinh vật có lợi như vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm men vào trong ao nuôi giúp phân giải lượng lớn thức ăn dư thừa cũng như các chất thải trong quá trình nuôi. Trên thực tế, có rất nhiều chế phẩm sinh học đã và đang được sử dụng hiệu quả trong nuôi tôm nước lợ ở Việt Nam.

Nuôi trồng kết hợp: Sử dụng một số động vật thân mềm hai mảnh vỏ, rong biển, một số loài cá có khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng dư thừa từ các ao nuôi tôm thâm canh. Cụ thể, Châu Minh Khôi và cộng sự (2012) đã nghiên cứu khả năng xử lý các chất thải dinh dưỡng dư thừa trong nước thải ao nuôi cá tra thâm canh bằng cây lục bình (Eichhorina crassipes) và cỏ Vetiver (Vetiver zizanioides). Kết quả nghiên cứu cho thấy, lục bình và cỏ Vetiver có khả năng hấp thụ các chất thải dinh dưỡng dư thừa và làm giảm 85 – 88% N và 99 – 100% P hữu cơ trong nước thải của ao nuôi cá tra sau 4 tuần. Tiếp đó, Nguyễn Văn Trai (2013) đã nghiên cứu thử nghiệm dùng vọp (Geloina coaxans) và hàu (Crassostrea sp.) để xử lý nước thải từ các ao nuôi tôm thâm canh ở huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy, với các bể xử lý bằng vọp (kích cỡ 37 + 6,6 g, mật độ 60 con/m3, cấp nước thải từ các ao nuôi tôm, sục khí liên tục rất hiệu quả trong việc hấp thụ các chất dinh dưỡng dư thừa, thể hiện qua việc giảm hàm lượng các thông số COD (92,7%), TSS (81,8%), TN (82,4%) và TP (89%) trong mẫu nước sau khi xử lý.

Thực hành tốt quy trình

Trong công tác quản lý môi trường cần kiểm tra, giám sát định kỳ đối với các tổ chức, cá nhân; thường xuyên tuyên truyền, vận động các hộ nuôi cam kết thực hiện đúng theo quy định. Hỗ trợ các cơ sở sản xuất giống, nuôi thủy sản thương phẩm áp dụng thực hành hình thức nuôi tốt, nuôi có tránh nhiệm (GAP, VietGAP, GlobalGAP, BAP), Biofloc, nuôi an toàn sinh học không sử dụng hóa chất, kháng sinh… nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường nuôi xung quanh.

Nâng cao ý thức người dân

Chấp hành nghiêm luật môi trường là giải pháp lâu dài và bền vững cho môi trường nói chung và môi trường nuôi trồng thủy sản nói riêng. Người nuôi hạn chế lạm dụng thuốc và hóa chất trong kiểm soát bệnh tôm, xử lý nước, xử lý đáy ao. Giám sát chặt chẽ việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trên toàn quốc. Nâng cao ý thức, trách nhiệm của hộ nuôi, chủ cơ sở nuôi về bảo vệ môi trường thông qua tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích các doanh nghiệp và các tổ chức nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm môi trường.

Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Môi Trường Tại Các Làng Nghề / 2023

Theo số liệu thống kê sơ bộ, hiện toàn tỉnh có 155 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 69 làng nghề đã được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận.

Sự ra đời và phát triển của các làng nghề góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế các địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, để giải quyết hài hòa bài toán bảo vệ môi trường (BVMT) và phát triển bền vững làng nghề đang đặt ra nhiều thách thức.

Thực hiện chức năng tham mưu cho UBND tỉnh trong công tác quản lý Nhà nước về BVMT trên địa bàn toàn tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã có công văn hướng dẫn UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện các thủ tục hồ sơ về BVMT; đồng thời tiến hành kiểm tra định kỳ một số cơ sở sản xuất trong làng nghề. Qua việc kiểm tra công tác BVMT cho thấy các làng nghề được công nhận đã thành lập được tổ tự quản về BVMT, rác thải được thu gom và hợp đồng với các đơn vị có chức năng để xử lý. Tuy nhiên, ở các cơ sở nhóm làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường như: khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến lương thực thực phẩm, hải sản; chăn nuôi; cơ khí, đúc đồng, tỷ lệ các cơ sở hoạt động trong các làng nghề xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải đạt yêu cầu còn rất thấp. Nước thải chưa được thu gom xử lý hoặc xử lý chưa triệt để thải ra môi trường gây ô nhiễm nước mặn, nước ngầm khu vực xung quanh. Chất thải rắn phát sinh từ quá trình sản xuất, kinh doanh của các cơ sở, doanh nghiệp chưa được phân loại, thu gom và xử lý không triệt để đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn, tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe của người dân trong làng nghề. Hầu hết các làng nghề này đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Thông qua việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở sản xuất trong làng nghề, Sở TN&MT đã hướng dẫn cơ sở, hộ gia đình trong làng nghề thực hiện các thủ tục về môi trường, đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại, đầu tư các công trình xử lý chất thải. Đồng thời tiến hành xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT đối với các cơ sở vi phạm với tổng số tiền xử phạt trên 200 triệu đồng. Bên cạnh đó, sở đã tham mưu cho UBND tỉnh bố trí kinh phí để hỗ trợ các làng nghề xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải. Đến nay, làng nghề chế biến đá xã Đồng Thắng (Triệu Sơn) và làng nghề chế biến đá xẻ xã Hà Tân (Hà Trung) đã được cấp kinh phí xây dựng hệ thống xử lý nước thải, rác thải; 3 làng nghề: đánh bắt và chế biến hải sản xã Ngư Lộc (Hậu Lộc); chế biến hải sản xã Hải Thanh (Tĩnh Gia); đúc đồng thôn Trà Đông, xã Thiệu Trung (Thiệu Hóa) được cấp kinh phí xây dựng hệ thống thoát nước thải từ Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2017 và 2018 (tổng kinh phí là 7,2 tỷ đồng). UBND tỉnh đã hỗ trợ tài chính xây dựng đường giao thông, hệ thống thoát nước và trạm xử lý nước thải cho làng nghề cơ khí xã Tiến Lộc (Hậu Lộc) (tổng kinh phí trên 8,3 tỷ đồng); hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung cho cụm làng nghề ươm tơ dệt nhiễu Hồng Đô (Thiệu Hóa) với công suất thiết kế 60m3/ngày (tổng kinh phí trên 21 tỷ đồng).

Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác BVMT tại các làng nghề vẫn gặp phải một số khó khăn, bất cập. Nguyên nhân chủ yếu là do, nhận thức và trách nhiệm của người dân, doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, họ mới chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế của bản thân, đơn vị mà không quan tâm đến việc BVMT. Bên cạnh đó, việc xử lý vi phạm pháp luật BVMT đối với các tổ chức, cá nhân và người đứng đầu các cấp, các ngành trong công tác BVMT còn hạn chế, chưa quyết liệt; công nghệ sản xuất tại các làng nghề hầu hết còn lạc hậu, quy mô sản xuất chật hẹp, cơ sở sản xuất nằm xen lẫn các khu dân cư không đủ điều kiện để xây dựng các công trình xử lý nước thải, khí thải đáp ứng yêu cầu. Ngoài ra, kinh phí Nhà nước đầu tư cho công tác BVMT tại các làng nghề còn hạn chế. Về quy hoạch hệ thống cơ sở hạ tầng, tiêu thoát nước tại các làng nghề chưa đồng bộ, khoa học…

Trần Hằng

Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Môi Trường Trong Chăn Nuôi / 2023

Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ thuật. Vì vậy, ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc của nhiều địa phương, nhất là vùng nông thôn. Trong khi các trang trại chăn nuôi chỉ có 20% được xây dựng tại các khu tập trung, còn 80% được xây dựng xung quanh khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường. Tăng nguy cơ dịch bệnh cho gia súc và con người, vì vậy việc phòng chống ô nhiễm môi trường luôn đi đôi với việc phát triển của ngành chăn nuôi. Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, năng suất bị giảm, tăng các chi phí phòng trị bệnh, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi không cao, sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh. Vì vậy, WHO khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh học, tăng cường sức khỏe các đàn giống. Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1. Theo tính toán thì lượng chất thải rắn mà các vật nuôi có thể thải ra (kg/con/ngày) là: Bò 10, trâu 15, lợn 2, gia cầm 0.2, do vậy hàng năm, đàn vật nuôi Việt Nam thải vào môi trường khoảng 73 triệu tấn chất thải rắn (phân khô, thức ăn thừa) và 25-30 triệu khối chất thải lỏng (phân lỏng, nước tiểu và nước rửa chuồng trại). Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn (36,5 triệu tấn), 80% chất thải lỏng (20-24 triệu mĐể xử lý ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi hiện nay có rất nhiều công nghệ hiện đại, tùy theo đặc điểm của từng vùng, từng hộ, từng mô hình chăn nuôi mà các hộ có thể sử dụng các biện pháp xử lý khác nhau như: Quy hoạch, xây dựng chuồng, trại: Lựa chọn vị trí xây dựng chuồng trại, diện tích chuồng nuôi, mật độ và bố trí, sắp xếp các dãy chuồng nuôi, xây dựng công trình xử lý chất thải, vệ sinh chuồng trại, trồng cây xanh. Xung quanh khu vực chăn nuôi tiến hành trồng cây xanh để tạo bóng mát và chắn được gió lạnh, gió nóng, ngoài ra cây xanh còn quang hợp hút khí COXây dựng hệ thống hầm biogas: Việc xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải từ chăn nuôi là 1 biện pháp mang lại tác dụng rất lớn. Nguồn phân hữu cơ sau khi đưa vào bể chứa được phân hủy hết làm giảm thiểu mùi hôi, ruồi muỗi và ký sinh trùng hầu như bị tiêu diệt hết trong bể chứa này. Bên cạnh đó sử dụng hầm biogas còn có thể tái tạo được nguồn năng lượng sạch từ phế thải chăn nuôi tạo ra khí CH4 phục vụ việc đun nấu thắp sáng; tiết kiệm được tiền mua chất đốt. Ủ phân bằng phương pháp sinh học cùng với việc che phủ kín: Phân chuồng sau khi được lấy ra khỏi chuồng nuôi cần đánh thành đống. Trong quá trình đánh đống, phân được rải từng lớp một (mỗi lớp khoảng 20 cm) rồi rải thêm một lớp mỏng tro bếp hoặc vôi bột, cứ làm như vậy cho đến hết lượng phân có được. Sau cùng, sử dụng bùn ao hoặc nhào đất mịn với tạo thành bùn để trát kín, đều lên toàn bộ bề mặt đống phân. Cũng có thể sử dụng các tấm ny long, bạt để phủ kín. Làm được như vậy, trong quá trình ủ sẽ giảm thiểu các loại khí (COKích cỡ của bể tùy thuộc vào lượng nước thải cần được xử lý. Ví dụ, chất thải của 10 con gia súc vào khoảng 456 lít, sẽ cần bể mỗi cạnh 6m, sâu 0,5m. Bể phải có tổng khối lượng 18mĐiều chỉnh thành phần trong khẩu phần ăn: Bà con có thể thử nghiệm 3 công thức phối trộn, với các kết quả thu được quả thử nghiệm, họ đã chọn bài thuốc có ký hiệu là CP2, bài thuốc đã cho hiệu quả tốt nhất có thành phần như sau: Mạch nha (25%), sơn trà (15%), thần khúc (20%), sử quân (5%), xa tiền (5%), ngưu tất (30%). Sử dụng chế phẩm CP2 với liều lượng 1.000g CP2/1 tấn thức ăn hỗn hợp cho nuôi lợn thịt sẽ cho khối lượng tăng trọng/ngày cao hơn đối chứng là 4,42%, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng thấp hơn 9,58%; chi phí thức ăn/kg tăng trọng giảm 7,89%. Đối với chăn nuôi lợn nái nuôi con, sử dụng CP2 với liều lượng như trên cho kết quả: Đã góp phần làm giảm đáng kể mùi hôi của chuồng nuôi lợn; ở chuồng nuôi lợn thịt, hàm lượng NHỞ chuồng nuôi lợn nái sinh sản, NHPhân và nước tiểu của lợn được thu để đánh giá mức độ phát xạ NH 3) xả thẳng ra môi trường, hoặc sử dụng không qua xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ước tính một tấn phân chuồng tươi với cách quản lý, sử dụng như hiện nay sẽ phát thải vào không khí khoảng 0,24 tấn CO 2 quy đổi thì với tổng khối chất thải nêu trên sẽ phát thải vào không khí 17,52 triệu tấn CO 2 và thải khí O 2 rất tốt cho môi trường chăn nuôi. Nên trồng các loại cây như: nhãn, vải, keo dậu, muồng. 2. Các nhà nghiên cứu đã ước tính được rằng chăn nuôi gây ra 18% khí gây hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên (biến đổi khí hậu toàn cầu), lớn hơn cả phần do giao thông vận tải gây ra. Xử lý nước thải bằng cây thủy sinh: Cây muỗi nước (còn gọi cây cần tây nước), cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản): Nước thải từ các trại chăn nuôi chứa rất nhiều nitrogen, phosphorus và những hợp chất vô cơ có thể hoà tan được. Rất khó tách những chất thải này khỏi nước bằng cách quét rửa hay lọc thông thường. Một số loại cây thủy sinh như bèo lục bình, cỏ muỗi nước có thể xử lý nước thải, vừa ít tốn kinh phí lại thân thiện với môi trường. Cây muỗi nước (còn gọi cây cần tây nước), cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản) là các loại bản địa của vùng Đông Nam Á, thân và lá của nó có thể ăn sống hoặc chín như một loại rau. Nó sinh sản theo cách phân chia rễ và sinh trưởng tốt trong môi trường nước nông cho tới 20cm. Cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản) có nguồn gốc Nam Mỹ, sinh trưởng và phát triển nhanh, khỏe và nổi trên mặt nước. 2, NH 3, CH 4) thoát ra môi trường. Đồng thời, trong quá trình ủ có hiện tượng sinh nhiệt, do vậy các mầm bệnh (trứng, ấu trùng, vi khuẩn, nấm) sẽ bị tiêu diệt, nhờ vậy các mầm bệnh sẽ bị hạn chế phát tán, lây lan. Nước thải từ các chuồng gia súc trước tiên cho chảy vào bể lắng, để chất thải rắn lắng xuống đáy. Sau vài ngày cho nước thải trong chảy vào bể mở có bèo lục bình hoặc cỏ muỗi nước. Mặt nước trong bể được cây che phủ (mật độ khoảng 400 cây/bể). Nếu là bèo lục bình, bể có thể làm sâu tùy ý, đối với cỏ muỗi nước thì để nước nông một chút, độ sâu bể xử lý khoảng 30cm. Cỏ muỗi nước cần thời tiết mát mẻ, còn bèo lục bình phù hợp với thời tiết ấm. Sử dụng Zeolit, dung dịch điện hoạt hóa Anolit, các chế phẩm sinh học (EM): Zeolit là loại vật liệu không gây độc đối với người và vật nuôi có ứng dụng hiệu quả trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, chăn nuôi, bảo vệ môi trường… được nghiên cứu và sản xuất thành công bởi các chuyên gia bộ môn Hóa hữu cơ, Khoa Công nghệ Hóa học, Đại học Bách khoa Hà Nội. Zeolite được sản xuất dưới dạng bột hoặc dạng viên xốp từ cao lanh tự nhiên sẵn có ở Việt Nam. Nhờ cấu trúc của cao lanh bị phá vỡ hoàn toàn và tự chúng sắp xếp lại tạo thành lỗ rỗng, nên nó có khả năng hấp phụ các ion kim loại, amoni, chất hữu cơ độc hại lơ lửng trong nước và tự chìm xuống đáy. Khi cải tạo ao, đầm, người sản xuất có thể khai thác chúng để tái chế làm phân bón phục vụ cho việc trồng trọt.Ngoài ra, người ta còn có thể dùng loại sản phẩm này trộn lẫn với phân bón để tạo ra một loại phân bón phân huỷ chậm, vừa có tác dụng tiết kiệm lượng phân bón, giữ độ ẩm mà còn có tác dụng điều hòa độ pH cho đất. Chế phẩm zeolite làm phụ gia thức ăn cho lợn và gà vì khi được trộn vào thức ăn chế phẩm sẽ hấp phụ các chất độc trong cơ thể vật nuôi, tăng khả năng kháng bệnh, kích thích tiêu hóa và tăng trưởng. Sử dụng dung dịch điện hoạt hóa Anôlít: Viện Công nghệ Môi trường phối hợp với Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Cục Thú y, Trung tâm kiểm tra vệ sinh Thú y TW1, Viện Chăn nuôi quốc gia… đã nghiên cứu và khảo nghiệm thành công khả năng sử dụng dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlít làm chất khử trùng trong chăn nuôi.Dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlít đã được áp dụng tại nhiều nước tiên tiến như một chất khử trùng hiệu quả cao và “thân thiện với môi trường”. Dung dịch này có khả năng khử trùng nước sinh hoạt, bảo quản nông sản, chế biến thủy sản, sản xuất tôm giống, khử trùng trong các cơ sở y tế, chăn nuôi. 3 và diện tích bề mặt 36m 2. Bể có thể chứa nước thải chuồng nuôi khoảng 30 ngày. Nước thải được giữ trong bể xử lý 10 ngày. Trong thời gian này, lượng phốt pho trong nước giảm khoảng 57-58%, trong khi 44% lượng nitơ được loại bỏ BOD 5 .

Trong thời gian giảm xử lý 10 ngày, BOD 5 giảm khoảng 80-90%. Những biện pháp xử lý nước thải theo cách này đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu. Nước thải ra sông hồ, suối một cách an toàn mà không cần xử lý thêm.Ngoài ra, các cây thuỷ sinh này có thể thu hoạch và dùng làm phân hữu cơ. Bản thân chúng có thể trực tiếp làm phân xanh hoặc phân trộn. Ngoài ra, dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlít có tác dụng diệt virus H5N1 an toàn, không gây độc đối với sinh vật cấp cao, có thể được sử dụng làm dung dịch phun tiêu độc cho các cơ sở chăn nuôi. Các kết quả nghiên cứu hiệu quả khử trùng của Anôlít trên hiện trường sản xuất, chăn nuôi gia cầm. Sử dụng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM trong chăn nuôi sẽ làm cho chất thải nhanh phân hủy, khử mùi tốt và giảm quần thể côn trùng ruồi muỗi, giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh. Cho gia súc, gia cầm uống hoặc ăn thức ăn thô có trộn chế phẩm EM còn giảm được nguy cơ mắc bệnh đường ruột cho vật nuôi. Chăn nuôi trên nền đệm lót sinh thái: Trong vài năm gần đây, một số nước cũng như ở Việt Nam đang phát triển một hình thức chăn nuôi mới, đó là chăn nuôi trền nền chuồng đệm lót với các vi sinh vật có ích. Hình thức chăn nuôi này còn được gọi là chăn nuôi với đệm lót sinh thái hay chăn nuôi đệm lót lên men. Thay vì nuôi các vật nuôi trên nền xi măng hoặc gạch cứng, người ta đã nuôi các con vật nền chuồng bằng đất nện, sâu hơn mặt đất, trên nền chuồng rải một lớp đệm lót dày 60 cm và trên bề mặt đệm lót có phun một dung dịch hỗn hợp các vi sinh vật có ích. Đệm lót thường là các nguyên liệu thực vật như mùn cưa, trấu, thân cây ngô và lõi bắp ngô khô nghiền nhỏ. Bình thường, đệm lót sinh thái có thể sử dụng được trong 4 năm. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động trong chuồng nuôi đệm lót sinh thái, vật nuôi có thể ăn men vi sinh vật có trong đệm lót sẽ giúp tiêu hóa thức ăn tốt hơn, làm tăng khả năng hấp thu axit amin, qua đó tăng độ mềm, vị ngọt tự nhiên cho thịt so với sản phẩm làm ra từ chăn nuôi thông thường, đồng thời người chăn nuôi có thể tiết kiệm được 80% nước, 60% nhân lực, 10% chi phí thức ăn, thuốc thú y phòng trừ dịch bệnh. 3 giảm 41,30% và hàm lượng H 2S giảm 44,44% so với lô đối chứng. 3 giảm 45,26%, H 2S giảm 43,90% so với lô đối chứng.Một nghiên cứu khác đã cho lợn vỗ béo ăn 4 khẩu phần ăn khác nhau: KP1 dựa trên cơ sở là ngũ cốc ; KP2 dựa trên cơ sở các phụ phẩm nông nghiệp ; KP3 dựa trên cơ sở sắn củ và KP4 dựa trên cơ sở là bột củ cải đường. 3. Các kết quả thu được đã cho thấy: Với các khẩu phần ăn khác nhau đã làm cho pH của hỗn hợp phân và nước tiểu của lợn, tương ứng với 4 khẩu phân trên là 8.90, 8.80, 8.83 và 8.07 (P,0.001) và mức thoát NH 3 ra môi trường tương ứng là 32.7, 30.1, 31.1 và 17.12 mmol (P,0.001).

Hệ số tương quan thu được giữa pH của hỗn hợp thải và lương NH 3 thoát ra là r = + 0.83. Như vậy rõ ràng có thể điều chỉnh thành phần của khẩu phần ăn ở lợn để làm giảm pH của hỗn hợp thải, nhờ đó mà có thể giảm thiểu sự thoát NH 3 ra môi trường.

Nguồn: TW Hội Nông dân Việt Nam

Chi Cục Môi Trường Thanh Hóa: Nhiều Giải Pháp Để Giảm Thiểu Tình Trạng Ô Nhiễm Môi Trường / 2023

Phối hợp hành động BVMT phục vụ phát triển bền vững với 15 ban, ngành, đoàn thể để đánh giá kết quả đạt được và đề ra các nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tuyên truyền, nhằm triển khai tuyên truyền rộng rãi tới các tầng lớp nhân dân; thông qua công tác tuyên truyền, nhận thức của các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng lên.

Tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới 05/6, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn. Năm 2017 tổ chức hội thảo “Tăng cường vai trò của cộng đồng trong công tác BVMT và quản lý tài nguyên thiên nhiên”; Tổ chức lễ phát động trồng cây xanh tại Khu xử lý rác thải xã Đông Nam, huyện Đông Sơn. Năm 2018 đã tổ chức mít tinh hưởng ứng tại huyện Hậu Lộc, sau lễ mít tinh đã ra quân làm sạch bãi biển, thu gom, xử lý hết khối lượng rác khổng lồ tại khu vực rừng ngập mặn và ven bờ biển của huyện Hậu Lộc.

Nhờ đó, công tác BVMT được nâng cao rõ rệt, số lượng các doanh nghiệp, cá nhân vi phạm môi trường giảm, hoàn thành Kế hoạch giám sát môi trường tại 90 cơ sở, doanh nghiệp sau khi có quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM và đề án BVMT; lập biên bản xử lý vi phạm hành chính và kiến nghị xử lý đối với các hành vi vi phạm, cụ thể: Tổ chức kiểm tra tại 90 cơ sở, xử phạt 04 đơn vị, tổng số tiền phạt là 115 triệu đồng; Năm 2018 kiểm tra tại 90 cơ sở, xử phạt 6 đơn vị, tổng số tiền phạt là 84,5 triệu đồng, ngoài ra đã tổ chức, kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại 27 cơ sở giặt bao bì trên địa bàn xã Thái Hòa (Triệu Sơn), xử lý vi phạm hành chính đối với 26 đơn vị với tổng số tiền xử lý vi phạm hành chính là 792 triệu đồng, tổ chức kiểm tra, giải quyết 51 sự vụ, xử lý vi phạm hành chính đối với 05 đơn vị số tiền 197,5 triệu đồng; quý I/2019 kiểm tra tại 10 cơ sở.

Đặc biệt, Chi cục đã Kiểm tra công tác BVMT đối với một số cơ sở sản xuất trong KCN Hoàng Long; qua đó xác định nguyên nhân gây hiện tượng cá chết bất thường tại sông Goòng đoạn chảy qua phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa. Qua kiểm tra, Sở đã kiến nghị xử lý vi phạm hành chính đối 02 đơn vị (Công ty TNHH Aleron Việt Nam và Công ty TNHH Roll Sport Việt Nam), tổng số tiền 1.370 triệu đồng; Tổ chức kiểm tra các cơ sở sản xuất, chế biến thủy sản tại 06 huyện, thành phố ven biển

Phối hợp với UBND huyện Triệu Sơn tổ chức, kiểm tra tại 27 cơ sở giặt bao bì trên địa bàn xã Thái Hòa, huyện Triệu Sơn, đề nghị Chánh Thanh tra Sở ban hành Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với 26/27 đơn vị, tạm dừng hoạt động 06 tháng đối với 21/27 đơn vị, tổng số tiền xử lý vi phạm hành chính là 792 triệu đồng; Phối hợp với Thanh tra Sở kiểm tra việc thực hiện Luật bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất, chế biến giấy trên địa bàn các huyện Lang Chánh, Quan Hóa, Bá Thước; Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh; công tác BVMT tại các cơ sở khai thác, chế biến, khoáng sản trên địa bàn tỉnh.

Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường giám sát và xác nhận hệ thống xử lý nước thải, khí thải của Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn phục vụ xác nhận việc hoàn thành công trình, biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành chính thức. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang xem xét để cấp Giấy xác nhận.

Theo ông Lê Văn Bình, Chi cục trưởng, Chi cục Môi trường Thanh Hóa cho biết: Chi cục sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT cho mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh bằng nhiều hình thức khác nhau. Nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo ĐTM, đề án BVMT, xác nhận bản cam kết BVMT. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh, kiên quyết xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền những cơ sở, doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BVMT. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động BVMT, huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế đầu tư cho BVMT, thu gom, tái chế và xử lý chất thải rắn…

Đặc biệt, vừa qua Chi cục đã tham mưu cho Sở và UBND tỉnh ban hành Kế hoạch 198/KH-UBND ban hành Kế hoạch “Chống rác thải nhựa” trên địa bàn tỉnh. Chi cục coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của năm 2019 với phương châm loại bỏ rác thải nhựa trên địa bàn tỉnh nhất là ở bãi biển Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa, cùng các Khu lịch và trên địa bàn Khu dân cư.

Tuyết Trang – Báo TN&MT

Theo Tài nguyên & Môi trường

Ảnh: Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam dọn dẹp sạch rác thải nhựa và túi nilon các xã ven biển Hậu Lộc