Phương Hướng Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Quan Điểm Nguyên Tắc Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xay Dung Lldqtv Trong Giai Doan Moi Xay Dung Luc Luong Dan Quan Tu Ve Doc
  • Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Vững Mạnh, Rộng Khắp
  • Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ, Lực Lượng Dự Bị Động Viên Và Động Viên Công Nghệp
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Nề Nếp Lớp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Phương hướng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trong giai đoạn hiện nay Trong quá trình lãnh đạo đấu tranh vũ trang cực kỳ oanh liệt dể giải phóng dân tộc, đường lối đấu tranh nhân dân và xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng ta đã hình thành và ngày càng thu được thắng lợi rực rỡ, ngày càng sáng tạo. Thành công đó của Đảng ta là sự vận dụng đúng đắn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Lực lượng dân quân tự vệ là một trong những thành công rất lớn của Đảng và nhà nước ta trong công cuộc xây dựng một lực lượng vũ trang cách mạng. Dân quân tự vệ (DQTV) là lực lượng vũ trang quần chúng, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam sáng lập, tổ chức và lãnh đạo. Ngày 28-3-1935 Đảng ta đã có “Nghị quyết về Đội Tự Vệ” ngay sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng các đội tự vệ công nông mang tính chất là những tổ chức vũ trang quần chúng lần lượt được ra đời và là những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, và cao trào kháng Nhật cứu nước lực lượng DQTV ngày càng phát triển và lớn mạnh không ngừng về mọi mặt, đã thực sự là một lực lượng không thể thiếu của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Hàng triệu nam nữ DQTV đã trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường, trên mọi miền đất nước, lập nên những chiến công to lớn. Lực lượng DQTV đã trực tiếp tham gia chiến đấu tiêu diệt địch, bắn máy bay, tầu chiến, bắt giặc lái, làm lòng cốt cho toàn dân đánh giặc bảo vệ xóm làng, quê hương, bổ xung cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bảo vệ giao thông vận tải, tham gia khắc phục hậu quả do bom đạn Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng dân quân, du kích ở miền Nam trong thế trận chiến tranh nhân dân đã hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, dùng bạo lực cách mạng phá thế kìm kẹp của địch, đánh đổ chính quyền tay sai, giành chính quyền cơ sở về tay nhân dân. Đồng thời, thường xuyên phối hợp với quân giải phóng bám trụ địa bàn chiến đấu, tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực của địch, góp phần đánh bại lần lượt các chiến lược của địch trong chiến tranh xâm lược nước ta của đế quốc Mỹ mà đỉnh cao là cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Quan điểm chiến tranh nhân dân là quan điểm cơ bản trong đường lối quân sự mác-xít của Đảng ta. Quan điểm đó xuất phát từ bản chất chính nghĩa của chiến tranh cách mạng và xuất phát từ nhận thức về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử. Trong thời đại hiện nay, chiến tranh nhân dân phải do toàn dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, phải thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân. Sức mạnh toàn dân vũ trang nhân dân là một ưu thế tuyệt đối của chiến tranh nhân dân để đánh bại chiến tranh xâm lược của mọi kẻ thù. Muốn thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm lòng cốt. Lực lượng vũ trang nhân dân gồm: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Đã nói đến chiến tranh nhân dân thì không thể thiếu được một trong ba thứ quân đó, không thể thiếu bộ đội chủ lực, mà cũng không thể thiếu bộ đội địa phương, không thể thiếu lực lượng DQTV đông đảo. Đảng ta đã hết sức chú trọng đến việc xây dựng các thứ quân trong suốt quá trình lãnh đạo vũ trang cách mạng và giữ vững quan hệ hợp đồng giữa các thứ quân đó như lời Bác nói “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên” ((1) Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ tranh nhân dân. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội1) Thực tế lực lượng dân quân đã đạt được rất nhiều thành tích to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, điều đó cho chúng ta thấy rõ lực lượng DQTV có những khả năng tiềm tàng rất lớn trên nhiều mặt, không chỉ trong nhiệm vụ chống chiến tranh trước mắt, mà còn cả trong nhiệm vụ đánh bại mọi âm mưu khác của kẻ thù. Có một lực lượng DQTV quý giá như vậy là do chúng ta có đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và sáng tạo. I) VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG DQTV TRƯỚC ĐÂY VÀ HIỆN NAY 1) Là một lực lượng quan trọng trong hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang của Đảng, là một lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân, là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc ở cơ sở. Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng, không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sự quản lý điều hành của Chính phủ và của Uỷ ban nhân dân, sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự các cấp, là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước cơ sở. Lực lượng này được tổ chức ở xã phường, thị trấn gọi là dân quân, được tổ chức ở các cơ quan Nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị – xã hội gọi là tự vệ. ((2) Điều 1, Pháp lệnh về dân quân tự vệ, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 82) Dân quân tự vệ được tổ chức và xây dựng rộng khắp, vừa là lực lượng tại chỗ, vừa là lực lượng cơ động, có khả năng đánh địch nhanh nhất, kịp thời nhất, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi địa hình, mọi thời tiết, kiềm chế, tiêu hao, phân tán tiêu diệt nhỏ từng bộ phận của địch, tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực tấn công đánh đòn quyết định. Lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Mỗi thứ quân trong các lực lượng vũ trang nhân dân đều giữ một vai trò nhất định trong chiến tranh. Riêng đối với lực lượng DQTV, Đảng ta đã xác định: đó là một lực lượng chiến lược trong suốt quá trình đấu tranh vũ trang cách mạng ở nước ta. Hồ chủ tịch đã nói: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ định hung bạo thế nào hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì kẻ địch nào cũng phải tan rã”. Lịch sử đấu tranh vũ trang lâu dài gian khổ của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ nơi rừng núi, bưng biền, từ gậy tầm vông và cây súng kíp đã đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, Mỹ làm nên những sự tích anh hùng vang dội đã chứng minh điều đó. 2) Dân quân tự vệ là lực lượng quan trọng để bảo vệ hậu phương. Dân quân tự vệ giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ hậu phương của ta. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, hậu phương vững mạnh cũng là một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi. Kẻ địch luôn luôn có âm mưu phá hoại hậu phương của ta bằng đủ mọi thủ đoạn chính trị, kinh tế, quân sự. Dựa vào phương tiện cơ động hiện đại, quân địch thường tung ra các biệt kích, thổ phỉ để quấy rối hậu phương của ta, giết hại nhân dân, phá hoại của cải, reo rắc tin đồn nhảm, sử dụng chính cách mị dân . gây khó khăn cho ta. Trước các âm mưu của địch, một thực tế đặt ra cho các lực lượng vũ trang của ta là phải có những biện pháp đối phó tích cực; nhưng bộ đội chủ lực không thể dàn ra ở khắp mọi nơi vì vậy dân quân tự vệ và dân quân du kích cùng bộ đội địa phương vẫn là lực lượng quan trọng để bảo vệ hậu phương một cách có hiệu quả. 3) Dân quân tự vệ là công cụ bạo lực cách mạng ở cơ sở, là một trong những lực lượng chuyên chính của chính quyền nhân dân cơ sở. Từ nhân dân mà ra, bao gồm những thành phần ưu tú của nhân dân, chủ yếu là của quần chúng công nông cơ bản, dân quân tự vệ và dân quân du kích cũng như bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương là con em của nhân dân lao động, được Đảng giác ngộ và giáo dục, không những có tinh thần yêu nước cao mà còn có ý thức giác ngộ giai cấp. DQTV là công cụ chủ yếu của chính quyền nhân dân ở cơ sở để thực hiện chuyên chính đối với thù trong giặc ngoài, bảo vệ lợi ích dân tộc và lợi ích của nhân dân địa phương. Trong suốt quá trình đấu tranh vũ trang cách mạng của nhân dân ta, dân quân tự vệ đã rất mực trung thành với dân tộc, với nhân dân lao động, cùng nhân dân chiến đấu để tiêu diệt kẻ thù đế quốc và bè lũ tay sai của chúng. Trong vùng sau lưng địch, DQTV đã kiên quyết diệt bạo trừ gian góp phần đắc lực giữ vững và củng cố chính quyền. Trong vùng tự do, DQTV cùng với công an nhân dân đã ra sức giữ gìn trật tự, bảo đảm xóm làng được yên vui, trấn áp bọn phản động, là những tấm gương trong việc chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ.

    rong quá trình lãnh đạo đấu tranh vũ trang cực kỳ oanh liệt dể giải phóng dân tộc, đường lối đấu tranh nhân dân và xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng ta đã hình thành và ngày càng thu được thắng lợi rực rỡ, ngày càng sáng tạo. Thành công đó của Đảng ta là sự vận dụng đúng đắn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Lực lượng dân quân tự vệ là một trong những thành công rất lớn của Đảng và nhà nước ta trong công cuộc xây dựng một lực lượng vũ trang cách mạng. T Dân quân tự vệ (DQTV) là lực lượng vũ trang quần chúng, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam sáng lập, tổ chức và lãnh đạo. Ngày 28-3-1935 Đảng ta đã có “Nghị quyết về Đội Tự Vệ” ngay sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng các đội tự vệ công nông mang tính chất là những tổ chức vũ trang quần chúng lần lượt được ra đời và là những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, và cao trào kháng Nhật cứu nước lực lượng DQTV ngày càng phát triển và lớn mạnh không ngừng về mọi mặt, đã thực sự là một lực lượng không thể thiếu của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Hàng triệu nam nữ DQTV đã trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường, trên mọi miền đất nước, lập nên những chiến công to lớn. Lực lượng DQTV đã trực tiếp tham gia chiến đấu tiêu diệt địch, bắn máy bay, tầu chiến, bắt giặc lái, làm lòng cốt cho toàn dân đánh giặc bảo vệ xóm làng, quê hương, bổ xung cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bảo vệ giao thông vận tải, tham gia khắc phục hậu quả do bom đạn .. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng dân quân, du kích ở miền Nam trong thế trận chiến tranh nhân dân đã hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, dùng bạo lực cách mạng phá thế kìm kẹp của địch, đánh đổ chính quyền tay sai, giành chính quyền cơ sở về tay nhân dân. Đồng thời, thường xuyên phối hợp với quân giải phóng bám trụ địa bàn chiến đấu, tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực của địch, góp phần đánh bại lần lượt các chiến lược của địch trong chiến tranh xâm lược nước ta của đế quốc Mỹ mà đỉnh cao là cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Quan điểm chiến tranh nhân dân là quan điểm cơ bản trong đường lối quân sự mác-xít của Đảng ta. Quan điểm đó xuất phát từ bản chất chính nghĩa của chiến tranh cách mạng và xuất phát từ nhận thức về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử. Trong thời đại hiện nay, chiến tranh nhân dân phải do toàn dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, phải thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân. Sức mạnh toàn dân vũ trang nhân dân là một ưu thế tuyệt đối của chiến tranh nhân dân để đánh bại chiến tranh xâm lược của mọi kẻ thù. Muốn thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm lòng cốt. Lực lượng vũ trang nhân dân gồm: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Đã nói đến chiến tranh nhân dân thì không thể thiếu được một trong ba thứ quân đó, không thể thiếu bộ đội chủ lực, mà cũng không thể thiếu bộ đội địa phương, không thể thiếu lực lượng DQTV đông đảo. Đảng ta đã hết sức chú trọng đến việc xây dựng các thứ quân trong suốt quá trình lãnh đạo vũ trang cách mạng và giữ vững quan hệ hợp đồng giữa các thứ quân đó như lời Bác nói “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên” (1) Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ tranh nhân dân. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Thực tế lực lượng dân quân đã đạt được rất nhiều thành tích to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, điều đó cho chúng ta thấy rõ lực lượng DQTV có những khả năng tiềm tàng rất lớn trên nhiều mặt, không chỉ trong nhiệm vụ chống chiến tranh trước mắt, mà còn cả trong nhiệm vụ đánh bại mọi âm mưu khác của kẻ thù. Có một lực lượng DQTV quý giá như vậy là do chúng ta có đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và sáng tạo. I) VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG DQTV TRƯỚC ĐÂY VÀ HIỆN NAY 1) Là một lực lượng quan trọng trong hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang của Đảng, là một lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân, là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc ở cơ sở. Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng, không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sự quản lý điều hành của Chính phủ và của Uỷ ban nhân dân, sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự các cấp, là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước cơ sở. Lực lượng này được tổ chức ở xã phường, thị trấn gọi là dân quân, được tổ chức ở các cơ quan Nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị – xã hội gọi là tự vệ. (2) Điều 1, Pháp lệnh về dân quân tự vệ, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 8 Dân quân tự vệ được tổ chức và xây dựng rộng khắp, vừa là lực lượng tại chỗ, vừa là lực lượng cơ động, có khả năng đánh địch nhanh nhất, kịp thời nhất, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi địa hình, mọi thời tiết, kiềm chế, tiêu hao, phân tán tiêu diệt nhỏ từng bộ phận của địch, tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực tấn công đánh đòn quyết định. Lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Mỗi thứ quân trong các lực lượng vũ trang nhân dân đều giữ một vai trò nhất định trong chiến tranh. Riêng đối với lực lượng DQTV, Đảng ta đã xác định: đó là một lực lượng chiến lược trong suốt quá trình đấu tranh vũ trang cách mạng ở nước ta. Hồ chủ tịch đã nói: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ định hung bạo thế nào hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì kẻ địch nào cũng phải tan rã”. Lịch sử đấu tranh vũ trang lâu dài gian khổ của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ nơi rừng núi, bưng biền, từ gậy tầm vông và cây súng kíp đã đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, Mỹ làm nên những sự tích anh hùng vang dội đã chứng minh điều đó. 2) Dân quân tự vệ là lực lượng quan trọng để bảo vệ hậu phương. Dân quân tự vệ giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ hậu phương của ta. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, hậu phương vững mạnh cũng là một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi. Kẻ địch luôn luôn có âm mưu phá hoại hậu phương của ta bằng đủ mọi thủ đoạn chính trị, kinh tế, quân sự. Dựa vào phương tiện cơ động hiện đại, quân địch thường tung ra các biệt kích, thổ phỉ để quấy rối hậu phương của ta, giết hại nhân dân, phá hoại của cải, reo rắc tin đồn nhảm, sử dụng chính cách mị dân… gây khó khăn cho ta. Trước các âm mưu của địch, một thực tế đặt ra cho các lực lượng vũ trang của ta là phải có những biện pháp đối phó tích cực; nhưng bộ đội chủ lực không thể dàn ra ở khắp mọi nơi vì vậy dân quân tự vệ và dân quân du kích cùng bộ đội địa phương vẫn là lực lượng quan trọng để bảo vệ hậu phương một cách có hiệu quả. 3) Dân quân tự vệ là công cụ bạo lực cách mạng ở cơ sở, là một trong những lực lượng chuyên chính của chính quyền nhân dân cơ sở. Từ nhân dân mà ra, bao gồm những thành phần ưu tú của nhân dân, chủ yếu là của quần chúng công nông cơ bản, dân quân tự vệ và dân quân du kích cũng như bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương là con em của nhân dân lao động, được Đảng giác ngộ và giáo dục, không những có tinh thần yêu nước cao mà còn có ý thức giác ngộ giai cấp. DQTV là công cụ chủ yếu của chính quyền nhân dân ở cơ sở để thực hiện chuyên chính đối với thù trong giặc ngoài, bảo vệ lợi ích dân tộc và lợi ích của nhân dân địa phương. Trong suốt quá trình đấu tranh vũ trang cách mạng của nhân dân ta, dân quân tự vệ đã rất mực trung thành với dân tộc, với nhân dân lao động, cùng nhân dân chiến đấu để tiêu diệt kẻ thù đế quốc và bè lũ tay sai của chúng. Trong vùng sau lưng địch, DQTV đã kiên quyết diệt bạo trừ gian góp phần đắc lực giữ vững và củng cố chính quyền. Trong vùng tự do, DQTV cùng với công an nhân dân đã ra sức giữ gìn trật tự, bảo đảm xóm làng được yên vui, trấn áp bọn phản động, là những tấm gương trong việc chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ. Ngày nay trong thời bình, lực lượng DQTV cùng với lực lượng công an nhân dân, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh thắng chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trong chiến lược “diễn biến hoà bình” ở cơ sở, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân và tài sản xã hội chủ nghĩa ở địa phương. Chính vì vậy, cũng như các lực lượng vũ trang nhân dân khác, lực lượng DQTV và dân quân du kích đã được nhân dân ta hết lòng tin yêu, giúp đỡ, nhờ đó mà không ngừng phát triển và lớn mạnh trên con đường chiến đấu vẻ vang của mình. 4) DQTV là lực lượng cơ bản của lực lượng vũ trang nhân dân, là nguồn bổ sung vào lực lượng hậu bị của quân đội. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, DQTV và dân quân du kích đã trực tiếp phối hợp cùng bộ đội chủ lực chiến đấu tiêu diệt địch, cùng với bộ đội địa phương đẩy mạnh các hoạt động du kích, buộc địch phải phân tán thêm lực lượng tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tiêu diệt từng bộ phận sinh lực quan trọng của chúng trên những hướng có lợi. DQTV còn là lực lượng phục vụ đắc lực cho bộ đội chủ lực chiến đấu như: canh gác, giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho bộ đội chủ lực hành quân, trú quân, bảo đảm đường sá, cầu cống được thông suốt, tiếp tế đạn dược, lương thực, vận chuyển thương binh.. Trong công tác chuẩn bị chiến trường, với sự am hiểu sâu sắc về tình hình địa phương, về đường đi lối lại, DQTV đã cung cấp cho bộ đội chủ lực những người dẫn đường tin cậy, những tài liệu chính xác, đầy đủ về tình hình địch. Quá trình sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở cơ sở, được giáo dục chính trị, được rèn luyện quân sự và thể lực, DQTV luôn là lực lượng bổ sung vô tận và quý giá cho bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực những cán bộ chiến sĩ có phẩm chất chính trị và kinh nghiệm thi đấu đáp ứng yêu cầu tác chiến trong những năm chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Việc đó có một ý nghĩa hết sức quan trọng: bộ đội tập trung của ta chỉ có thể lớn mạnh trên cơ sở một lực lượng hậu bị hùng hậu mà lực lượng DQTV là nòng cốt. 5) DQTV là lực lượng xung kích trong lao động sản xuất ở cơ sở, xây dựng kinh tế ở địa phương. Dân quân tự vệ là lực lượng được tổ chức và chỉ huy chặt chẽ kỷ luật nghiêm, có tác phong quân sự khẩn trương, thường xuyên phát huy vai trò gương mẫu xung kích trong lao động sản xuất, những nơi khó khăn nguy hiểm, khi bị thiên tai. Thực tế dân quân tự vệ ở các địa phương đã góp phần không nhỏ trong sản xuất, nâng cao đời sống, khắc phục hậu quả thiên tai. Những công việc khó khăn phức tạp nhất trong sản xuất thường được các anh chị em dân quân xung phong đảm nhiệm. DQTV đã tích cực tham gia cải tiến quản lý hợp tác xã và đi đầu trong các việc bám ruộng, bám biển, cải tiến kỹ thuật, thực hiện thâm canh tăng năng suất. Hầu hết những chiến sĩ dân quân giỏi đồng thời là những người sản xuất giỏi. II) PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DQTV TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Tiến vào kỷ nguyên mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta vẫn tiếp tục phát triển trong điều kiện có khá nhiều thời cơ và thuận lợi, song những khó khăn và thách thức cũng không phải là ít. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ kết hợp với răn đe quân sự, nhằm xoá bỏ CNXH ở Việt Nam. Để tiếp tục xây dựng lực lượng DQTV xứng đáng là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ Đảng và bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước ở cơ sở, góp phần củng cố tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần tập trung vào một số vấn đề sau: 1) Tập trung xây dựng lực lượng DQTV “Vững mạnh, rộng khắp” không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, trước hết là chất lượng chính trị. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc và là một trong những yêu cầu cơ bản hàng đầu trong xây dựng lực lượng DQTV hiện nay. Trong quá trình xây dựng lực lượng DQTV cần phải giải quyết tốt yêu cầu vững mạnh và rộng khắp, luôn coi trọng cả số lượng và chất lượng, trong đó lấy chất lượng là chính. Tuy nhiên, giữa số lượng và chất lượng DQTV có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo tiền đề và là điều kiện để cùng nhau phát triển, vừa đảm bảo yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng nhiệm vụ lâu dài, luôn chủ động trong mọi tình huống. Số lượng là cơ sở để tạo lên chất lượng, do đó phải có số lượng đủ thì mới tạo được phong trào, nhưng chất lượng phải cao thì phong trào với mạnh. Về số lượng, trong thời bình không nên duy trì số lượng quá nhiều, song cũng không nên để quá ít và càng không nên để các vùng, các cơ sở không có lực lượng DQTV. Do tính đặc thù của DQTV vừa là dân, vừa là quân và không thoát ly sản xuất, công tác nên ở đâu có dân là ở đó phải xây dựng lực lượng DQTV. Ở các địa bàn trọng điểm, xung yếu về quốc phòng an ninh, các đơn vị hoạt động trên biển thì cần một tỷ lệ lực lượng DQTV so với dân số cao hơn nơi khác. Về mặt chất lượng, đây là yếu tố quyết định sức mạnh của DQTV trong hoạt động chiến đấu, vì vậy cần phải tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng DQTV, trước hết và quan trọng hàng đầu là chất lượng chính trị. Để nâng cao chất lượng DQTV cần phải có hệ thống các giải pháp đồng bộ, thực hiện tốt ngay từ khâu tuyển chọn, củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức lực lượng chỉ huy, nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện và phương thức hoạt động của DQTV Xây dựng lực lượng DQTV trong cơ chế thị trường và trong khi các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, tập trung chống phá ta về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá và các lĩnh vực khác thì việc không ngừng tăng cường bản chất cách mạng và ý thức giác ngộ giai cấp cho từng thành viên và toàn lực lượng phải luôn được coi trọng. Các cấp uỷ, chính quyền địa phương, một mặt phải tăng cường quản lý, đồng thời quan tâm thích đáng đến công tác giáo dục chính trị cho lực lượng DQTV. Tuỳ theo đối tượng và hoàn cảnh thực tế mà xác định nội dung, biện pháp giáo dục cho thích hợp và hiệu quả. Trong giáo dục phải làm rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù đối với đất nước nói chung và đối với địa phương, cơ sở nói riêng, trên cơ sở đó thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, ý chí chiến đấu, tích cực phối hợp với các lực lượng khác và toàn dân kiên quyết làm thất bại ý đồ phá hoại xâm lược dưới mọi hình thức và thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và chế độ XHCN, bảo vệ công cuộc hoà bình xây dựng, thành quả lao động và tính mạng, tài sản của nhân dân ta. Cùng với chất lượng chính trị, thường xuyên củng cố tổ chức, biên chế, trang bị phù hợp với tính chất, đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ của DQTV ở từng vùng, từng địa phương và cơ sở nhất là ở những địa bàn trọng điểm. Quá trình xây dựng DQTV, mỗi địa phương, mỗi cơ sở cần bảo đảm sự cân đối giữa lực lượng rộng rãi tại chỗ và lực lượng cơ động, trong đó chu trọng xây dựng lực lượng DQTV nòng cốt làm lực lượng cơ động và có những chuyên môn cần thiết theo yêu cầu của các khu vực phòng thủ. Đồng thời coi trọng xây dựng lực lượng tự vệ cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội. Tiếp tục nghiên cứu, tổ chức xây dựng tự vệ cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức xã hội khác. 2) Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ DQTV có đủ phẩm chất và năng lực, có kinh nghiệm về công tác quân sự địa phương. Trong xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, đi đôi với việc tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, thì khâu then chốt có ý nghĩa quyết định đến nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng DQTV là xây dựng đội ngũ cán bộ DQTV là những người không thoát ly sản xuất, vừa làm nhiệm vụ sản xuất, vừa làm nhiệm vụ quốc phòng địa phương cơ sở, các hoạt động chiến đấu bảo vệ trị an gắn liền với sản xuất, nên trong xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chỉ huy quân sự cơ sở phải hết sức coi trọng mặt chất lượng, trước hết là chất lượng chính trị, nhất thiết phải là đảng viên. Đi đôi với phẩm chất chính trị, cán bộ DQTV phải có năng lực tương đối toàn diện không chỉ về quân sự, quốc phòng, an ninh mà cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương, đơn vị mình. Quán triệt và nắm vững những quan điểm cơ bản về củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới và có khả năng làm tham mưu giúp cấp uỷ và chính quyền chỉ đạo về công tác quân sự, quốc phòng ở địa phương cơ sở, đồng thời có năng lực chỉ huy, tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tuyên truyền phục vụ quốc phòng và giáo dục quốc phòng, thực hiện chính sách hậu phương quân đội.. Đây vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu phấn đấu trong những năm tới, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ DQTV, đặc biệt là cán bộ chỉ huy quân sự cơ sở là cán bộ bố trí chuyên trách, qua rèn luyện trong quân đội và thực tiễn công tác, có độ tuổi và sức khoẻ cần thiết, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống. Việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân sự cơ sở cần được tiến hành một cách cơ bản, hệ thống ở các trường quân sự địa phương tỉnh, thành phố theo nội dung chương trình quy định cho từng đối tượng, nhất là số cán bộ mới được bổ nhiệm, cán bộ vùng dân tộc ít người. Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ DQTV theo hướng cơ bản, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng, sát với yêu cầu nhiệm vụ từng địa bàn. Chú trọng bồi dưỡng năng lực làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương, cơ sở về công tác quân sự, quốc phòng, an ninh. 3) Không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động tác chiến, trị an của lực lượng DQTV nhằm đáp ứng những nhiệm vụ mới Hiện nay, trong thời bình cùng với việc sẵn sàng chiến đấu theo các tình huống đặcbiệt, DQTV phải thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng cơ sở chính trị, bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở nhất là các đơn vị nằm ở vùng xung yếu, các địa bàn trọng điểm và các “điểm nóng” có những vẫn đề xã hội phức tạp đang xảy ra. Để làm tốt điều đó phải gắn việc xây dựng và hoạt động của DQTV với nhiệm vụ xây dựng xã phường vững mạnh toàn diện. Lực lượng DQTV luôn phải phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác và nhân dân trên địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị vững chắc, góp phần làm thất bại chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Đồng thời gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, xung kích trong lao động sản xuất, bảo vệ sản xuất, khắc phục hậu quả thiên tai..góp phần phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương cũng như trên phạm vi toàn quốc. Thông qua hoạt động thực tiễn của mình để tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động trong thời gian tới và đó cũng là cơ sở để tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của lực lượng DQTV trong nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. 4) Bổ sung ngân sách sự nghiệp quốc phòng địa phương và chính sách đối với dân quân tự vệ DQTV vừa là dân, vừa là quân, hoạt động của DQTV chủ yếu dựa vào tinh thần tự nguyện, tự giác của quần chúng. Đó là khi đất nước có chiến tranh. Nhưng thực tế hiện nay trong thời bình thì đã khác trước, nếu ta vẫn theo lối cũ, nặng về động viên chính trị, mà không quan tâm đến các chính sách vật chất, đãi ngộ thì chưa được. Vấn đề đặt ra là cần phải có chính sách đãi ngộ thoả đáng cho họ. Thực tiễn vừa qua cho thấy, hoạt động của dân quân tự vệ mạnh hay yếu phụ thuộc chủ yếu là cơ sở địa phương đã có ngân sách và chính sách bảo đảm cho lực lượng DQTV hoạt động hay không? Tất nhiên vật chất không phải là yếu tố quyết định, phải coi trọng giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức trách nhiệm, quán triệt tư tưởng cho dân quân tự vệ. Trong điều kiện ngân sách quốc phòng địa phương còn rất hạn hẹp, các địa phương cơ sở cũng đã tích cực tìm mọi nguồn ngân sách và động viên sự đóng góp của nhân dân để đảm bảo cho dân quân tự vệ hoạt động. Tuy nhiên ở những cơ sở địa phương kinh tế khó khăn, thu không đủ chi thì việc đảm bảo chính sách đối với dân quân tự vệ cũng có nhiều hạn chế. Việc huy động ngân sách và thực hiện chính sách đảm bảo cho dân quân tự vệ cần phải đa dạng, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cơ sở địa phương, khéo kết hợp và phát huy các nguồn vật chất bảo đảm như: Nhà nước, địa phương, nhân dân bảo trợ, tự sản xuất … 5) Đổi mới công tác giáo dục quốc phòng nhân dân, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ học sinh, sinh viên. Nói đến xây dựng dân quân tự vệ không thể không quan tâm đến công tác giáo dục quốc phòng nhân dân. Nói chung giáo dục quốc phòng nhân dân rất phong phú. Thời gian qua chúng ta đã tập trung giáo dục quân sự, khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần cách mạng toàn dân. Tổ chức ngày quốc phòng toàn dân, ngày truyền thống dân quân tự vệ, tổ chức huấn luyện quân sự phổ thông, cho thế hệ trẻ học sinh, sinh viên … Cùng với sự đổi mới toàn diện của đất nước và cải cách hệ thống giáo dục đào tạo, công tác giáo dục quốc phòng nhân dân nhất thiết cũng phải đổi mới trong đó cần tập trung vào khâu quan trọng là đổi mới nội dung phương pháp giáo dục quốc phòng cho thế hệ trẻ học sinh sinh viên. Nên chăng, hàng năm tổ chức một hoặc một số cuộc thi về lực lượng vũ trang nhân dân, về lực lượng dân quân tự vệ (vào khoảng thời gian tháng 3 và tháng 12 hàng năm). Một thực tế cho thấy có một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên ngày nay có ít hiểu biết về lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và lực lượng dân quân tự vệ nói riêng. Thậm chí không ít người còn xem nhẹ việc học tập bộ môn giáo dục quốc phòng vì coi đó chỉ là một môn phụ không nằm trong chương trình học tập ( Vì không tính vào đơn vị học trình). Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là bộ môn giáo dục quốc phòng phải được xác định là môn học chính khoá trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Nội dung giáo dục quốc phòng phải được thể hiện cả ở trong các môn học khác, tạo nên sự giáo dục hài hoà, có chủ đích trong quá trình đào tạo thế hệ trẻ, góp phần thực hiện chiến lược con người. KẾT LUẬN Chúng ta có thể khẳng định rằng: Nói đến chiến tranh nhân dân thì không thể không nói đến vai trò chiến lược của dân quân tự vệ. Nói đến chiến tranh nhân dân mà đánh giá thấp vai trò của dân quân tự vệ thì đó là một quan niệm sai lầm. Nhận thức đúng đắn vai trò của dân quân tự vệ có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày nay khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì khái niệm về chiến tranh không chỉ đơn thuần là đem quân đội tới chiếm đánh nữa. Khái niệm về chiến trường cũng được mở rộng, khi mà chiến tranh có thể xảy ra vào mọi lúc mọi nơi không phân biệt tiền tuyến hậu phương, biên giới hay từ giữa lãnh thổ thì vai trò của lực lượng DQTV càng trở lên quan trọng hơn. Dân quân tự vệ chúng ta đã từng chiến thắng quân giặc với vũ khí thô sơ, nhưng trong chiến tranh công nghệ cao hiện nay, nếu lực lượng DQTV của ta vẫn chỉ có những loại vũ khí thô sơ ấy thì không thể chống với những loại vũ khí tối tân nhất của kẻ thù. Vì vậy muốn đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới chúng ta cần phải tăng cường cho các lực lượng DQTV nhiều vũ khí tốt hơn nữa, nâng cao trình độ chính trị cũng như trình độ nhận thức về khoa học công nghệ kết hợp với một trình độ cao giữa lòng dũng cảm với trí sáng tạo, tích cực phối hợp với các lực lượng khác và toàn dân kiên quyết làm thất bại ý đồ phá hoại xâm lược dưới mọi hình thức và thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và chế độ XHCN, bảo vệ công cuộc hoà bình xây dựng, thành quả lao động và tính mạng, tài sản của nhân dân ta. Hơn 65 năm qua, trên mỗi chặng đường đi lên của cách mạng, dân quân tự vệ đã luôn luôn làm tròn nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, công tác giỏi, xứng đáng là một lực lượng chiến lược quan trọng trong đấu tranh cách mạng và đấu tranh vũ trang ở nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Phương Hướng Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Bài 2. Một Số Hiểu Biết Về Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân
  • Nội Dung Chính Về Biện Pháp Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân An Ninh Nhân Dân
  • Nội Dung Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân
  • Những Hình Phạt Tích Cực Trong Trường Học
  • Tiểu Luận Phương Hướng Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Hướng Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Tiểu Luận Quan Điểm Nguyên Tắc Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xay Dung Lldqtv Trong Giai Doan Moi Xay Dung Luc Luong Dan Quan Tu Ve Doc
  • Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Vững Mạnh, Rộng Khắp
  • Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ, Lực Lượng Dự Bị Động Viên Và Động Viên Công Nghệp
  • rong quá trình lãnh đạo đấu tranh vũ trang cực kỳ oanh liệt dể giải phóng dân tộc, đường lối đấu tranh nhân dân và xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng ta đã hình thành và ngày càng thu được thắng lợi rực rỡ, ngày càng sáng tạo. Thành công đó của Đảng ta là sự vận dụng đúng đắn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Lực lượng dân quân tự vệ là một trong những thành công rất lớn của Đảng và nhà nước ta trong công cuộc xây dựng một lực lượng vũ trang cách mạng. T Dân quân tự vệ (DQTV) là lực lượng vũ trang quần chúng, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam sáng lập, tổ chức và lãnh đạo. Ngày 28-3-1935 Đảng ta đã có “Nghị quyết về Đội Tự Vệ” ngay sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng các đội tự vệ công nông mang tính chất là những tổ chức vũ trang quần chúng lần lượt được ra đời và là những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, và cao trào kháng Nhật cứu nước lực lượng DQTV ngày càng phát triển và lớn mạnh không ngừng về mọi mặt, đã thực sự là một lực lượng không thể thiếu của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Hàng triệu nam nữ DQTV đã trực tiếp tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường, trên mọi miền đất nước, lập nên những chiến công to lớn. Lực lượng DQTV đã trực tiếp tham gia chiến đấu tiêu diệt địch, bắn máy bay, tầu chiến, bắt giặc lái, làm lòng cốt cho toàn dân đánh giặc bảo vệ xóm làng, quê hương, bổ xung cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương chiến đấu và phục vụ chiến đấu, bảo vệ giao thông vận tải, tham gia khắc phục hậu quả do bom đạn .. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng dân quân, du kích ở miền Nam trong thế trận chiến tranh nhân dân đã hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, dùng bạo lực cách mạng phá thế kìm kẹp của địch, đánh đổ chính quyền tay sai, giành chính quyền cơ sở về tay nhân dân. Đồng thời, thường xuyên phối hợp với quân giải phóng bám trụ địa bàn chiến đấu, tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực của địch, góp phần đánh bại lần lượt các chiến lược của địch trong chiến tranh xâm lược nước ta của đế quốc Mỹ mà đỉnh cao là cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Quan điểm chiến tranh nhân dân là quan điểm cơ bản trong đường lối quân sự mác-xít của Đảng ta. Quan điểm đó xuất phát từ bản chất chính nghĩa của chiến tranh cách mạng và xuất phát từ nhận thức về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử. Trong thời đại hiện nay, chiến tranh nhân dân phải do toàn dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, phải thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân. Sức mạnh toàn dân vũ trang nhân dân là một ưu thế tuyệt đối của chiến tranh nhân dân để đánh bại chiến tranh xâm lược của mọi kẻ thù. Muốn thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm lòng cốt. Lực lượng vũ trang nhân dân gồm: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Đã nói đến chiến tranh nhân dân thì không thể thiếu được một trong ba thứ quân đó, không thể thiếu bộ đội chủ lực, mà cũng không thể thiếu bộ đội địa phương, không thể thiếu lực lượng DQTV đông đảo. Đảng ta đã hết sức chú trọng đến việc xây dựng các thứ quân trong suốt quá trình lãnh đạo vũ trang cách mạng và giữ vững quan hệ hợp đồng giữa các thứ quân đó như lời Bác nói “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên” (1) Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ tranh nhân dân. NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Thực tế lực lượng dân quân đã đạt được rất nhiều thành tích to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, điều đó cho chúng ta thấy rõ lực lượng DQTV có những khả năng tiềm tàng rất lớn trên nhiều mặt, không chỉ trong nhiệm vụ chống chiến tranh trước mắt, mà còn cả trong nhiệm vụ đánh bại mọi âm mưu khác của kẻ thù. Có một lực lượng DQTV quý giá như vậy là do chúng ta có đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và sáng tạo. I) VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG DQTV TRƯỚC ĐÂY VÀ HIỆN NAY 1) Là một lực lượng quan trọng trong hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang của Đảng, là một lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân, là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc ở cơ sở. Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng, không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sự quản lý điều hành của Chính phủ và của Uỷ ban nhân dân, sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự các cấp, là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước cơ sở. Lực lượng này được tổ chức ở xã phường, thị trấn gọi là dân quân, được tổ chức ở các cơ quan Nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị – xã hội gọi là tự vệ. (2) Điều 1, Pháp lệnh về dân quân tự vệ, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 8 Dân quân tự vệ được tổ chức và xây dựng rộng khắp, vừa là lực lượng tại chỗ, vừa là lực lượng cơ động, có khả năng đánh địch nhanh nhất, kịp thời nhất, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi địa hình, mọi thời tiết, kiềm chế, tiêu hao, phân tán tiêu diệt nhỏ từng bộ phận của địch, tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực tấn công đánh đòn quyết định. Lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Mỗi thứ quân trong các lực lượng vũ trang nhân dân đều giữ một vai trò nhất định trong chiến tranh. Riêng đối với lực lượng DQTV, Đảng ta đã xác định: đó là một lực lượng chiến lược trong suốt quá trình đấu tranh vũ trang cách mạng ở nước ta. Hồ chủ tịch đã nói: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ định hung bạo thế nào hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì kẻ địch nào cũng phải tan rã”. Lịch sử đấu tranh vũ trang lâu dài gian khổ của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ nơi rừng núi, bưng biền, từ gậy tầm vông và cây súng kíp đã đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, Mỹ làm nên những sự tích anh hùng vang dội đã chứng minh điều đó. 2) Dân quân tự vệ là lực lượng quan trọng để bảo vệ hậu phương. Dân quân tự vệ giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ hậu phương của ta. Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, hậu phương vững mạnh cũng là một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi. Kẻ địch luôn luôn có âm mưu phá hoại hậu phương của ta bằng đủ mọi thủ đoạn chính trị, kinh tế, quân sự. Dựa vào phương tiện cơ động hiện đại, quân địch thường tung ra các biệt kích, thổ phỉ để quấy rối hậu phương của ta, giết hại nhân dân, phá hoại của cải, reo rắc tin đồn nhảm, sử dụng chính cách mị dân… gây khó khăn cho ta. Trước các âm mưu của địch, một thực tế đặt ra cho các lực lượng vũ trang của ta là phải có những biện pháp đối phó tích cực; nhưng bộ đội chủ lực không thể dàn ra ở khắp mọi nơi vì vậy dân quân tự vệ và dân quân du kích cùng bộ đội địa phương vẫn là lực lượng quan trọng để bảo vệ hậu phương một cách có hiệu quả. 3) Dân quân tự vệ là công cụ bạo lực cách mạng ở cơ sở, là một trong những lực lượng chuyên chính của chính quyền nhân dân cơ sở. Từ nhân dân mà ra, bao gồm những thành phần ưu tú của nhân dân, chủ yếu là của quần chúng công nông cơ bản, dân quân tự vệ và dân quân du kích cũng như bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương là con em của nhân dân lao động, được Đảng giác ngộ và giáo dục, không những có tinh thần yêu nước cao mà còn có ý thức giác ngộ giai cấp. DQTV là công cụ chủ yếu của chính quyền nhân dân ở cơ sở để thực hiện chuyên chính đối với thù trong giặc ngoài, bảo vệ lợi ích dân tộc và lợi ích của nhân dân địa phương. Trong suốt quá trình đấu tranh vũ trang cách mạng của nhân dân ta, dân quân tự vệ đã rất mực trung thành với dân tộc, với nhân dân lao động, cùng nhân dân chiến đấu để tiêu diệt kẻ thù đế quốc và bè lũ tay sai của chúng. Trong vùng sau lưng địch, DQTV đã kiên quyết diệt bạo trừ gian góp phần đắc lực giữ vững và củng cố chính quyền. Trong vùng tự do, DQTV cùng với công an nhân dân đã ra sức giữ gìn trật tự, bảo đảm xóm làng được yên vui, trấn áp bọn phản động, là những tấm gương trong việc chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ. Ngày nay trong thời bình, lực lượng DQTV cùng với lực lượng công an nhân dân, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh thắng chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch trong chiến lược “diễn biến hoà bình” ở cơ sở, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân và tài sản xã hội chủ nghĩa ở địa phương. Chính vì vậy, cũng như các lực lượng vũ trang nhân dân khác, lực lượng DQTV và dân quân du kích đã được nhân dân ta hết lòng tin yêu, giúp đỡ, nhờ đó mà không ngừng phát triển và lớn mạnh trên con đường chiến đấu vẻ vang của mình. 4) DQTV là lực lượng cơ bản của lực lượng vũ trang nhân dân, là nguồn bổ sung vào lực lượng hậu bị của quân đội. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, DQTV và dân quân du kích đã trực tiếp phối hợp cùng bộ đội chủ lực chiến đấu tiêu diệt địch, cùng với bộ đội địa phương đẩy mạnh các hoạt động du kích, buộc địch phải phân tán thêm lực lượng tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tiêu diệt từng bộ phận sinh lực quan trọng của chúng trên những hướng có lợi. DQTV còn là lực lượng phục vụ đắc lực cho bộ đội chủ lực chiến đấu như: canh gác, giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho bộ đội chủ lực hành quân, trú quân, bảo đảm đường sá, cầu cống được thông suốt, tiếp tế đạn dược, lương thực, vận chuyển thương binh.. Trong công tác chuẩn bị chiến trường, với sự am hiểu sâu sắc về tình hình địa phương, về đường đi lối lại, DQTV đã cung cấp cho bộ đội chủ lực những người dẫn đường tin cậy, những tài liệu chính xác, đầy đủ về tình hình địch. Quá trình sản xuất, chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở cơ sở, được giáo dục chính trị, được rèn luyện quân sự và thể lực, DQTV luôn là lực lượng bổ sung vô tận và quý giá cho bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực những cán bộ chiến sĩ có phẩm chất chính trị và kinh nghiệm thi đấu đáp ứng yêu cầu tác chiến trong những năm chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Việc đó có một ý nghĩa hết sức quan trọng: bộ đội tập trung của ta chỉ có thể lớn mạnh trên cơ sở một lực lượng hậu bị hùng hậu mà lực lượng DQTV là nòng cốt. 5) DQTV là lực lượng xung kích trong lao động sản xuất ở cơ sở, xây dựng kinh tế ở địa phương. Dân quân tự vệ là lực lượng được tổ chức và chỉ huy chặt chẽ kỷ luật nghiêm, có tác phong quân sự khẩn trương, thường xuyên phát huy vai trò gương mẫu xung kích trong lao động sản xuất, những nơi khó khăn nguy hiểm, khi bị thiên tai. Thực tế dân quân tự vệ ở các địa phương đã góp phần không nhỏ trong sản xuất, nâng cao đời sống, khắc phục hậu quả thiên tai. Những công việc khó khăn phức tạp nhất trong sản xuất thường được các anh chị em dân quân xung phong đảm nhiệm. DQTV đã tích cực tham gia cải tiến quản lý hợp tác xã và đi đầu trong các việc bám ruộng, bám biển, cải tiến kỹ thuật, thực hiện thâm canh tăng năng suất. Hầu hết những chiến sĩ dân quân giỏi đồng thời là những người sản xuất giỏi. II) PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DQTV TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Tiến vào kỷ nguyên mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta vẫn tiếp tục phát triển trong điều kiện có khá nhiều thời cơ và thuận lợi, song những khó khăn và thách thức cũng không phải là ít. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ kết hợp với răn đe quân sự, nhằm xoá bỏ CNXH ở Việt Nam. Để tiếp tục xây dựng lực lượng DQTV xứng đáng là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ Đảng và bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước ở cơ sở, góp phần củng cố tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần tập trung vào một số vấn đề sau: 1) Tập trung xây dựng lực lượng DQTV “Vững mạnh, rộng khắp” không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, trước hết là chất lượng chính trị. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc và là một trong những yêu cầu cơ bản hàng đầu trong xây dựng lực lượng DQTV hiện nay. Trong quá trình xây dựng lực lượng DQTV cần phải giải quyết tốt yêu cầu vững mạnh và rộng khắp, luôn coi trọng cả số lượng và chất lượng, trong đó lấy chất lượng là chính. Tuy nhiên, giữa số lượng và chất lượng DQTV có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo tiền đề và là điều kiện để cùng nhau phát triển, vừa đảm bảo yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng nhiệm vụ lâu dài, luôn chủ động trong mọi tình huống. Số lượng là cơ sở để tạo lên chất lượng, do đó phải có số lượng đủ thì mới tạo được phong trào, nhưng chất lượng phải cao thì phong trào với mạnh. Về số lượng, trong thời bình không nên duy trì số lượng quá nhiều, song cũng không nên để quá ít và càng không nên để các vùng, các cơ sở không có lực lượng DQTV. Do tính đặc thù của DQTV vừa là dân, vừa là quân và không thoát ly sản xuất, công tác nên ở đâu có dân là ở đó phải xây dựng lực lượng DQTV. Ở các địa bàn trọng điểm, xung yếu về quốc phòng an ninh, các đơn vị hoạt động trên biển thì cần một tỷ lệ lực lượng DQTV so với dân số cao hơn nơi khác. Về mặt chất lượng, đây là yếu tố quyết định sức mạnh của DQTV trong hoạt động chiến đấu, vì vậy cần phải tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng DQTV, trước hết và quan trọng hàng đầu là chất lượng chính trị. Để nâng cao chất lượng DQTV cần phải có hệ thống các giải pháp đồng bộ, thực hiện tốt ngay từ khâu tuyển chọn, củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức lực lượng chỉ huy, nâng cao chất lượng giáo dục, huấn luyện và phương thức hoạt động của DQTV Xây dựng lực lượng DQTV trong cơ chế thị trường và trong khi các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, tập trung chống phá ta về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá và các lĩnh vực khác thì việc không ngừng tăng cường bản chất cách mạng và ý thức giác ngộ giai cấp cho từng thành viên và toàn lực lượng phải luôn được coi trọng. Các cấp uỷ, chính quyền địa phương, một mặt phải tăng cường quản lý, đồng thời quan tâm thích đáng đến công tác giáo dục chính trị cho lực lượng DQTV. Tuỳ theo đối tượng và hoàn cảnh thực tế mà xác định nội dung, biện pháp giáo dục cho thích hợp và hiệu quả. Trong giáo dục phải làm rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù đối với đất nước nói chung và đối với địa phương, cơ sở nói riêng, trên cơ sở đó thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, ý chí chiến đấu, tích cực phối hợp với các lực lượng khác và toàn dân kiên quyết làm thất bại ý đồ phá hoại xâm lược dưới mọi hình thức và thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và chế độ XHCN, bảo vệ công cuộc hoà bình xây dựng, thành quả lao động và tính mạng, tài sản của nhân dân ta. Cùng với chất lượng chính trị, thường xuyên củng cố tổ chức, biên chế, trang bị phù hợp với tính chất, đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ của DQTV ở từng vùng, từng địa phương và cơ sở nhất là ở những địa bàn trọng điểm. Quá trình xây dựng DQTV, mỗi địa phương, mỗi cơ sở cần bảo đảm sự cân đối giữa lực lượng rộng rãi tại chỗ và lực lượng cơ động, trong đó chu trọng xây dựng lực lượng DQTV nòng cốt làm lực lượng cơ động và có những chuyên môn cần thiết theo yêu cầu của các khu vực phòng thủ. Đồng thời coi trọng xây dựng lực lượng tự vệ cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội. Tiếp tục nghiên cứu, tổ chức xây dựng tự vệ cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức xã hội khác. 2) Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ DQTV có đủ phẩm chất và năng lực, có kinh nghiệm về công tác quân sự địa phương. Trong xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, đi đôi với việc tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, thì khâu then chốt có ý nghĩa quyết định đến nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng DQTV là xây dựng đội ngũ cán bộ DQTV là những người không thoát ly sản xuất, vừa làm nhiệm vụ sản xuất, vừa làm nhiệm vụ quốc phòng địa phương cơ sở, các hoạt động chiến đấu bảo vệ trị an gắn liền với sản xuất, nên trong xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chỉ huy quân sự cơ sở phải hết sức coi trọng mặt chất lượng, trước hết là chất lượng chính trị, nhất thiết phải là đảng viên. Đi đôi với phẩm chất chính trị, cán bộ DQTV phải có năng lực tương đối toàn diện không chỉ về quân sự, quốc phòng, an ninh mà cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương, đơn vị mình. Quán triệt và nắm vững những quan điểm cơ bản về củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới và có khả năng làm tham mưu giúp cấp uỷ và chính quyền chỉ đạo về công tác quân sự, quốc phòng ở địa phương cơ sở, đồng thời có năng lực chỉ huy, tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tuyên truyền phục vụ quốc phòng và giáo dục quốc phòng, thực hiện chính sách hậu phương quân đội.. Đây vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu phấn đấu trong những năm tới, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ DQTV, đặc biệt là cán bộ chỉ huy quân sự cơ sở là cán bộ bố trí chuyên trách, qua rèn luyện trong quân đội và thực tiễn công tác, có độ tuổi và sức khoẻ cần thiết, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống. Việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân sự cơ sở cần được tiến hành một cách cơ bản, hệ thống ở các trường quân sự địa phương tỉnh, thành phố theo nội dung chương trình quy định cho từng đối tượng, nhất là số cán bộ mới được bổ nhiệm, cán bộ vùng dân tộc ít người. Tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ DQTV theo hướng cơ bản, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng, sát với yêu cầu nhiệm vụ từng địa bàn. Chú trọng bồi dưỡng năng lực làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương, cơ sở về công tác quân sự, quốc phòng, an ninh. 3) Không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động tác chiến, trị an của lực lượng DQTV nhằm đáp ứng những nhiệm vụ mới Hiện nay, trong thời bình cùng với việc sẵn sàng chiến đấu theo các tình huống đặcbiệt, DQTV phải thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng cơ sở chính trị, bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở nhất là các đơn vị nằm ở vùng xung yếu, các địa bàn trọng điểm và các “điểm nóng” có những vẫn đề xã hội phức tạp đang xảy ra. Để làm tốt điều đó phải gắn việc xây dựng và hoạt động của DQTV với nhiệm vụ xây dựng xã phường vững mạnh toàn diện. Lực lượng DQTV luôn phải phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác và nhân dân trên địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị vững chắc, góp phần làm thất bại chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Đồng thời gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, xung kích trong lao động sản xuất, bảo vệ sản xuất, khắc phục hậu quả thiên tai..góp phần phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương cũng như trên phạm vi toàn quốc. Thông qua hoạt động thực tiễn của mình để tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động trong thời gian tới và đó cũng là cơ sở để tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của lực lượng DQTV trong nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. 4) Bổ sung ngân sách sự nghiệp quốc phòng địa phương và chính sách đối với dân quân tự vệ DQTV vừa là dân, vừa là quân, hoạt động của DQTV chủ yếu dựa vào tinh thần tự nguyện, tự giác của quần chúng. Đó là khi đất nước có chiến tranh. Nhưng thực tế hiện nay trong thời bình thì đã khác trước, nếu ta vẫn theo lối cũ, nặng về động viên chính trị, mà không quan tâm đến các chính sách vật chất, đãi ngộ thì chưa được. Vấn đề đặt ra là cần phải có chính sách đãi ngộ thoả đáng cho họ. Thực tiễn vừa qua cho thấy, hoạt động của dân quân tự vệ mạnh hay yếu phụ thuộc chủ yếu là cơ sở địa phương đã có ngân sách và chính sách bảo đảm cho lực lượng DQTV hoạt động hay không? Tất nhiên vật chất không phải là yếu tố quyết định, phải coi trọng giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức trách nhiệm, quán triệt tư tưởng cho dân quân tự vệ. Trong điều kiện ngân sách quốc phòng địa phương còn rất hạn hẹp, các địa phương cơ sở cũng đã tích cực tìm mọi nguồn ngân sách và động viên sự đóng góp của nhân dân để đảm bảo cho dân quân tự vệ hoạt động. Tuy nhiên ở những cơ sở địa phương kinh tế khó khăn, thu không đủ chi thì việc đảm bảo chính sách đối với dân quân tự vệ cũng có nhiều hạn chế. Việc huy động ngân sách và thực hiện chính sách đảm bảo cho dân quân tự vệ cần phải đa dạng, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cơ sở địa phương, khéo kết hợp và phát huy các nguồn vật chất bảo đảm như: Nhà nước, địa phương, nhân dân bảo trợ, tự sản xuất … 5) Đổi mới công tác giáo dục quốc phòng nhân dân, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ học sinh, sinh viên. Nói đến xây dựng dân quân tự vệ không thể không quan tâm đến công tác giáo dục quốc phòng nhân dân. Nói chung giáo dục quốc phòng nhân dân rất phong phú. Thời gian qua chúng ta đã tập trung giáo dục quân sự, khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần cách mạng toàn dân. Tổ chức ngày quốc phòng toàn dân, ngày truyền thống dân quân tự vệ, tổ chức huấn luyện quân sự phổ thông, cho thế hệ trẻ học sinh, sinh viên … Cùng với sự đổi mới toàn diện của đất nước và cải cách hệ thống giáo dục đào tạo, công tác giáo dục quốc phòng nhân dân nhất thiết cũng phải đổi mới trong đó cần tập trung vào khâu quan trọng là đổi mới nội dung phương pháp giáo dục quốc phòng cho thế hệ trẻ học sinh sinh viên. Nên chăng, hàng năm tổ chức một hoặc một số cuộc thi về lực lượng vũ trang nhân dân, về lực lượng dân quân tự vệ (vào khoảng thời gian tháng 3 và tháng 12 hàng năm). Một thực tế cho thấy có một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên ngày nay có ít hiểu biết về lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và lực lượng dân quân tự vệ nói riêng. Thậm chí không ít người còn xem nhẹ việc học tập bộ môn giáo dục quốc phòng vì coi đó chỉ là một môn phụ không nằm trong chương trình học tập ( Vì không tính vào đơn vị học trình). Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là bộ môn giáo dục quốc phòng phải được xác định là môn học chính khoá trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Nội dung giáo dục quốc phòng phải được thể hiện cả ở trong các môn học khác, tạo nên sự giáo dục hài hoà, có chủ đích trong quá trình đào tạo thế hệ trẻ, góp phần thực hiện chiến lược con người. KẾT LUẬN Chúng ta có thể khẳng định rằng: Nói đến chiến tranh nhân dân thì không thể không nói đến vai trò chiến lược của dân quân tự vệ. Nói đến chiến tranh nhân dân mà đánh giá thấp vai trò của dân quân tự vệ thì đó là một quan niệm sai lầm. Nhận thức đúng đắn vai trò của dân quân tự vệ có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày nay khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì khái niệm về chiến tranh không chỉ đơn thuần là đem quân đội tới chiếm đánh nữa. Khái niệm về chiến trường cũng được mở rộng, khi mà chiến tranh có thể xảy ra vào mọi lúc mọi nơi không phân biệt tiền tuyến hậu phương, biên giới hay từ giữa lãnh thổ thì vai trò của lực lượng DQTV càng trở lên quan trọng hơn. Dân quân tự vệ chúng ta đã từng chiến thắng quân giặc với vũ khí thô sơ, nhưng trong chiến tranh công nghệ cao hiện nay, nếu lực lượng DQTV của ta vẫn chỉ có những loại vũ khí thô sơ ấy thì không thể chống với những loại vũ khí tối tân nhất của kẻ thù. Vì vậy muốn đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới chúng ta cần phải tăng cường cho các lực lượng DQTV nhiều vũ khí tốt hơn nữa, nâng cao trình độ chính trị cũng như trình độ nhận thức về khoa học công nghệ kết hợp với một trình độ cao giữa lòng dũng cảm với trí sáng tạo, tích cực phối hợp với các lực lượng khác và toàn dân kiên quyết làm thất bại ý đồ phá hoại xâm lược dưới mọi hình thức và thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và chế độ XHCN, bảo vệ công cuộc hoà bình xây dựng, thành quả lao động và tính mạng, tài sản của nhân dân ta. Hơn 65 năm qua, trên mỗi chặng đường đi lên của cách mạng, dân quân tự vệ đã luôn luôn làm tròn nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, công tác giỏi, xứng đáng là một lực lượng chiến lược quan trọng trong đấu tranh cách mạng và đấu tranh vũ trang ở nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 2. Một Số Hiểu Biết Về Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân
  • Nội Dung Chính Về Biện Pháp Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân An Ninh Nhân Dân
  • Nội Dung Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân
  • Những Hình Phạt Tích Cực Trong Trường Học
  • Giáo Viên Làm Gì Với Những Lỗi ‘kinh Điển’ Của Học Sinh?
  • Tiểu Luận Quan Điểm Nguyên Tắc Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Xay Dung Lldqtv Trong Giai Doan Moi Xay Dung Luc Luong Dan Quan Tu Ve Doc
  • Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Vững Mạnh, Rộng Khắp
  • Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ, Lực Lượng Dự Bị Động Viên Và Động Viên Công Nghệp
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Nề Nếp Lớp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • 15 Biện Pháp Xây Dựng Nề Nếp Lớp Học Dành Cho Giáo Viên Tiểu Học
  • Trải qua gần một thế kỷ nhân dân ta đã kháng chiến chống giặc ngoại xâm bằng sức mạnh đoàn kết dân tộc. Chính sức mạnh ấy đã đưa dân tộc ta dành thắng lợi qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Để có được như vậy thì Đảng và nhà nước ta đã thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân. Muốn thực hiện động viên toàn dân, vũ trang toàn dân phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Lực lượng vũ trang nhân dân được chia thành ba thứ quân đó là: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. ” Đã nói đến chiến tranh nhân dân thi không thể thiếu được một trong ba thứ quân, không thể thiếu bộ đội chủ lực, mà cũng không thể thiếu bộ đội địa phương, không thể thiếu lực lượng dân quân tự vệ đông đảo”. Mỗi một thứ quân đảm đương một nhiệm vụ khác nhau nhưng cả ba đều có nhiệm vụ chung là xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong đó thì lực lượng dân quân tự vệ một trong những thứ quân của lực lượng vũ trang sau cách mạng tháng Tám được xác định là một công cụ chủ yếu của chính quyền nhân dân cơ sở. Ngày 28-3-1935 Đảng ta đã có “Nghị quyết về Đội Tự Vệ” ngay sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng các đội tự vệ công nông mang tính chất là những tổ chức vũ trang quần chúng lần lượt được ra đời và là những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân. Như vậy, dân quân tự vệ là lượng vũ trang quần chúng, được hình thành từ quần chúng nhân dân những người lao động, những tầng lớp trí thức,….Và dân quân tự vệ cũng là một bộ phận của lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam sáng lập và tổ chức lãnh đạo. Và chịu sự quản lý điều hành của chính phủ và uỷ ban nhân dân, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan quân sự các cấp. Thông qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ thì lực lượng dân quân tự vệ đã được chứng minh vai trò, nhiệm vụ lịch sử đảm nhận. Vì thế lực lượng dân quân tự vệ ngày càng phát triển và lớn mạnh không ngừng về mọi mặt. Lực lượng dân quân đã trở thành một lực không thể thiếu của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Và đã được Bác Hồ nói là :”dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của tổ quốc, vô luận kẻ địch hung bạo thế nào hễ động vào lực lượng đó, bức tường đó thì kẻ địch nào cũng phải tan rã”. Quả thực, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cao trào kháng Nhật, rồi đến chống đế quốc Mỹ thì những người dân quân tự vệ đã trực tiếp tham gia vào công cuộc bảo vệ tổ quốc bằng những công việc thiết thực: canh gác, giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho bộ đội chủ lực hành quân, trú quân, bảo đảm đường sá, cầu cống được thông suốt, tiếp tế đạn dược, lương thực, vận chuyển thương binh.. Không chỉ dừng lại đó mà những người thanh niên nam nữ đã trực tiếp tham gia chiến đấu và họ đã lập nên những chiến công rực rỡ, tạo nên những trang sử vẻ vang chống chiến tranh của nhân dân, cũng như lực lượng dân quân tự vệ. Như lực lượng dân quân trong kháng chiến chống Mỹ đã trực tiếp tham vào công việc bảo vệ vùng trời tổ quốc bằng việc tham gia vào bắn máy bay, tàu chiến, bắt giặc lái, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, bổ xung cho bộ đội chủ lực, bổ xung cho bộ đội địa phương chiến đấu và phục vụ chiến đấu, rồi những người dân quân ấy lại tiếp tục bảo vệ giao thông vận tải được coi như huyết mạch của đất nước và tham gia khắc phục những hậu quả của bom đạn địch gây. Trong thời bình, lực lượng dân quân lại tham gia vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước để đưa đất nước tiến lên theo con được xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhà nước đã vạch ra. Họ những con người ấy đã góp phần không nhỏ vào sự bình yên của tổ quốc. Trong chiến tranh họ đã bảo vệ từng mảnh đất và nếu tổ quốc gọi họ sẵn sàng tham gia trực tiếp vào các trận đánh để giúp bộ đội ta dành thắng lợi. Không chỉ vậy mà ngày nay trong thời kỳ xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước khỏi sự phá hoại của kẻ thù bên ngoài. Nhất là những năm gần đây lực lượng dân quân tự vệ đã tích cực chống lại chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ các thế lực thù địch, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh đất nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ sự bình yên cho công cuộc hoà bình kiến thiết đất nước. Như vậy ta có thể thấy được những thành tích của lực lượng dân quân tự vệ trong công cuộc giải phóng đất nước cũng như trong thời bình lực lượng đã tham gia vào công cuộc bảo vệ đất nước trên mọi mặt trận. Mỗi chúng ta đều luôn muốn biết lực lượng dân quân nằm ở trong đâu, vị trí vai trò của lực lượng trong ngày nay cũng như trong chiến tranh là như thế nào. Muốn vậy chúng ta cần xem xét những vấn đề trong việc xây dựng lượng dân quân tự vệ. Trước tiên lực lượng dân quân tự vệ nằm ngay trong mỗi chúng ta, đó là những tổ chức kinh tế, những xí nghiệp, những nhà máy, những trường học, những bệnh viện. Cụ thể hơn ở những phường xã mà chúng ta đã và đang ở hay những thị trấn, làng, bản thì lực lượng dân quân tự vệ cũng có tồn tại trong đó. Như vậy chúng ta có thể thấy rõ lực lượng dân quân vừa tham gia vào công việc lao động sản xuất hàng ngày để kiến thiết tổ quốc nhưng cũng đồng thời lại vừa tham gia vào công cuộc bảo vệ tổ quốc. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh cũng như xây dựng và bảo vệ tổ quốc đặt duới sự lãnh đạo của đảng và nhà nước ta cũng có thể thấy được vị trí và đặc điểm của lực lượng dân quân tự vệ. Trước tiên lực lượng dân quân tự vệ luôn gắn với địa bàn, địa phương làm việc, sinh hoạt. Đó cũng là một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất dễ thấy nhất và cũng là nhiệm vụ đầu tiên mà lực lượng phải đảm đương vì chỉ có một hậu phương vũng chắc thì những người bộ đội địa phương cũng như những người bộ đội ở mặt trận mới có thể an tâm chiến đấu. Và cũng nhờ nhiệm vụ ấy mà sau chiến tranh người dân cũng như bao người lính trở về sau chiến tranh có được một đất nước dần đi lên. Hơn nữa ở đây chúng ta còn được biết đến lực lượng dân quân được trang bị những dụng cụ thô sơ, không hiện đại. Nhưng họ đã vượt qua tất cả để có thể đánh thắng được sự phá hoại của kẻ thù, để từ đó chúng ta có thể thấy được sự mưu trí dũng cảm, sáng tạo của lực lượng trong sản xuất cũng như trong chiến đấu. Điều đó được chứng minh bằng việc họ đã tự tái tạo và sử dụng các loại vũ khí mà họ có được. Ví như trong việc dân quân tự vệ thu giữ được vũ khí của quân thù, lực lượng dân quân tự vệ đã biết tái tạo lại chúng phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bên cạnh đó chúng ta có thể thấy dân quân tự vệ là lực lưọng chiến lược của chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân. Hơn nữa còn là một trong những lực lượng chuyên chính của chính quyền nhân dân cơ sở, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân như đã được nêu lên ở trên, còn là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng tài sản của nhà nước của nhân dân. Đồng thời còn làm nòng cốt cho phong trào đánh giặc ở địa phương. Điều 7 quy định bốn điều về nhiệm vụ của dân quân tự vệ: + Sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tiêu hao lực lượng địch làm nòng cốt cho phong trào đánh giặc bảo vệ địa phương, bảo vệ cơ sở. + Phối hợp với công an, bộ đội biên phòng, bộ đội thường trực và các đoàn thể nhân dân giữ vững chủ quyền lãnh thổ an ninh, trật tự, an toàn xã hội bảo vệ công trình quốc phòng kho vũ khí trang bị kỹ thuật. Phát hiện thu giữ các loại vũ khí trang bị quân sự tàng trữ bất hợp pháp. ở các địa phương tham gia xây dựng cơ sở toàn diện vững mạnh. + Bổ sung cho quân đội, phối hợp với quân đội chiến đấu, phục vụ chiến đấu. + Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện chủ chương đường lối chính sách của đảng và nhà nước đề ra. Xung kích trong lao động và bảo vệ sản xuất phòng chống khắc phục thiên tai, địch hoạ và các sự cố nghiêm trọng khác. Như vậy thông qua nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ ta có thể thấy ý thức, vai trò và vị trí trong công cuộc bảo vệ tổ quốc. Trước hết là qua cuộc kháng chiến chống Pháp, dân quân tự vệ đã thực hiện nhiệm vụ của mình qua việc hoả tuyến, dân công thồ đạn dược vũ khí cho bộ đội. Mà đặc biệt là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, toàn dân, toàn quân mà trong đó có lực lượng dân quân tự vệ đã toàn lực để chiến đấu chống thực dân Pháp. Lực lượng dân quân tự vệ đã phối hợp với nhiều lực lượng vũ trang khác ngày đêm chuyên chở cung cấp vũ khí, lương thực cho bộ đội chủ lực đánh bật thực dân ra khỏi miền Bắc và buộc chúng ký vào hiệp định Giơnevơ .Tất cả những việc làm, những hành động của lực lượng đã giúp cho người dân thoát khỏi ách nô lệ. Hơn nữa lực lượng dân quân tự vệ còn thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của mình qua rất nhiều cuộc chiến. Ví như trong kháng chiến chống Mỹ biết bao nhiên lực lượng dân quân tự vệ đã tham gia chiến đấu một cách gián tiếp, như là tham gia thanh niên xung phong, tham gia bảo vệ vùng trời của tổ quốc, tham gia xây dựng kiến thiết miền bắc lên Xã hội chủ nghĩa . Dân quân tự vệ đã hăng hái phục vụ cho bộ đội chủ lực chiến đấu. dân quân tự vệ các quân khu đã góp hàng chục triệu ngày công để xây dựng các trận địa pháo cao xạ, tên lửa, pháo bờ biển, xây dựng các sân bay, kho tàng, v..v.. Khi bộ đội chủ lực chiến đấu với máy bay, tàu chiến địch, anh chị em dân quân tự vệ đã dũng cảm làm nhiệm vụ tiếp đạn, lau pháo và khi cần đã làm cả pháo thủ. Dân quân tự vệ đã hăng hái giúp đỡ bộ đội chủ lực giải quyết tốt mọi việc sau chiến đấu, giúp bộ đội chủ lực di chuyển khỏi trận địa được nhanh chóng và bí mật. Không chỉ có vậy lực lượng dân quân còn kết hợp cùng công an nhân dân giữ vững trật tự trị an của địa phương . Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, việc giữ gìn trật tự trị an ở địa phương rất hệ trọng. Dân quân tự vệ đã cùng với công an nhân dân kịp thời phát hiện và trấn áp bọn phản động, đẩy mạnh công tác phòng gian chống chiến tranh gián điệp và chiến tranh tâm lý của địch, lập được nhiều thành tích tốt về bảo vệ Đảng và chính quyền, bảo đảm an toàn cho nhân dân, giữ gìn trật tự trị an ở địa phương. Đến nay trong thời bình, lực lượng dân quân tự vệ còn tham gia vào việc lập lại trị an, an ninh trật tự mỗi con đường mỗi con phố, mỗi thôn xóm để cho người dân có thể làm ăn và sống an toàn. Đồng thời còn tham gia vào việc truy quét, phát giác những bọn phản động chống phá cách mạng, chống phá nhà nước. Không chỉ dừng lại ở đó mà lực lượng dân quân tự vệ còn tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước như hiện nay . Quan điểm nguyên tắc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trong giai đoạn hiện nay. Điều đó chính là để cho lực lượng dân quân tự vệ thực sự là nòng cốt của vũ trang nhân dân . + Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ lớn mạnh rộng khắp coi trọng chất lượng là chính , không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp trước hết là chính trị. Đây chính là vấn đề mang tính nguyên tắc và cũng là vấn đề mang tính chất cơ bản hàng đầu trong xây dựng lực lượng dân quân tự vệ hiện nay. Trước tiên phải xây dựng kỷ cương, chặt chẽ về tổ chức, nghiêm về kỷ luật và xây dựng một cách toàn diện về tổ chức, biên chế, lãnh đạo , có cơ chế lãnh đạo đúng và huấn luyện tốt. Lực lượng dân quân tự vệ thực sự phải là nòng cốt của phong trào toàn dân đánh giặc của địa phương và cơ sở. Trong quá trình xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cần phải đáp ứng yêu cầu vững mạnh và rộng khắp, hơn nữa luôn coi trọng cả chất lượng và số lượng bởi vì chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo điều kiện cùng nhau phát triển. Đồng thời còn ảnh hưởng lẫn nhau để đảm bảo đáp ứng được nhiệm vụ lâu dài mà Đảng và nhà nước đã đề ra. Ngoài ra số lượng lực lượng vũ trang là quan trọng, song chất lượng là mặt căn bản.Chất lượng lực lượng vũ trang là kết quả của sự tôi luyện đặc biệt về nhiều mặt tinh thần , kỹ năng, kỷ kuật, thể lực ….Đồng thời nó cũng là sản phẩm của ba cuộc cách mạng được thực hiện có kết quả ở mọi nơi, mọi lĩnh vực. Nó quan hệ chặt chẽ với đời sống và kỷ cương xã hội. Nó là kết quả của những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong cả nước, ở từng địa bàn, ở từng cơ sở. Sự lãnh đạo sát sao của các cấp uỷ Đảng, sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của các cơ quan nhà nước và sự vững mạnh của đội ngũ cán bộ của lực lượng vũ trang góp phần quyết định vào chất lượng đó. Ngoài ra còn phải chủ động trong mọi tình huống. Hơn nữa số lượng còn là cơ sở để tạo nên chất lượng, muốn vậy số lượng phải đủ thì mới tạo được phong trào nhưng muốn phong trào mạnh thì cần phải có chất lượng tốt.Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay cụ thể là thời bình thì về số lượng cũng không nên duy trì quá nhiều song cũng không nên duy trì quá ít và càng không thể để các địa phương, các cơ sở, các vùng, các xí nghiệp không có lực lượng dân quân tự vệ hay có nhưng dân quân tự vệ không có tác dụng hay nhiệm vụ gì. ở các địa bàn trọng điểm, xung yếu về quốc phòng an ninh, các đơn vị hoạt động trên biển thì cần một tỷ lệ lực lượng DQTV so với dân số cao hơn nơi khác. Hơn nữa do đặc thù của dân quân tự vệ vừa là dân vừa là quân và không thoát ly sản xuất nên ở đâu có dân là ở đó phải xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và phải xây dựng lực lượng làm sao cho phát huy hết khả năng và nhiệm vụ của mình . + Ngoài ra còn phải quán triệt quan điểm quốc phòng toàn dân và nguyên tắc công bằng xã hội pháp chế hoá nhiệm vụ tham gia tổ chức dân quân tự vệ. Bởi vì mỗi một tổ chức một cơ sở một đơn vị đều thấy rõ được quy định trong pháp chế thì mới có thể vững tin tham gia dân quân tự vệ. + Dân quân tự vệ dưói sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Cuối cùng không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động tác chiến, trị an của lực lượng dân quân tự vệ. Dưới Nghị quyết 02 của Bộ chính trị, những vấn đề cơ bản của pháp lệnh về dân quân tự vệ và những kinh nghiệm trong xây dựng, hoạt động trong suốt những năm qua, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi. Hiện nay, trong thời bình cùng với việc sẵn sàng chiến đấu theo các tình huống đặc biệt, dân quân tự vệ cần phải thực sự là lực lượng nòng cốt trong xây dựng cơ sở chính trị, bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở ,nhất là các đơn vị nằm ở vùng xung yếu, các địa bàn trọng điểm và các “điểm nóng” có những vấn đề xã hội phức tạp đang xảy ra. Để làm tốt điều đó phải gắn việc xây dựng và hoạt động của dân quân tự vệ với nhiệm vụ xây dựng xã, phường vững mạnh toàn diện hướng các hoạt động của dân quân tự vệ phục vụ thiết thực các nhiệm vụ chính trị -xã hội của địa phương, cơ sở và cả nước. Lực lượng dân quân tự vệ luôn phải phối hợp chặt chẽ với các lực lượng khác và nhân dân trên địa bàn, xây dựng cơ sở chính trị vững chắc, góp phần làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ sở, sẵn sàng đối phó có hiệu quả với mọi tình huống có thể xảy ra. Đồng thời gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, xung kích trong lao động sản xuất, bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả của thiên tai, địch hoạ và các sự cố nghiêm trọng khác góp phần phát triển kinh tế -xã hội, giữ vững sự ổn định về chính trị ở địa phương cũng như trên phạm vi cả nước . Thông qua hiệu quả hoạt động thực tiễn của mình để tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động trong thời gian tới và đó cũng là cơ sở để tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của lực lượng dân quân tự vệ trong nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ những vấn đề trên ta có thể xây dựng lực lượng dân quân tự vệ đáp ứng nhu cầu hiện nay. Đó chính là nội dung, biện pháp xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trong giai đoạn hiện nay. +Tổ chức biên chế và trang bị . +Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với dân quân tự vệ. +Xây dựng đội ngũ cán bộ dân quân tự vệ . +Chế độ chính sách đối với dân quân tự vệ . Thông qua vị trí , nhiệm vụ và quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang của Đảng và nhà nước ta thì phải tổ chức lại biên chế cho lực lượng dân quân tự vệ nên khi có tình hình hay những biến động bất thường thì lực lượng dân quân tự vệ cần sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu đề ra của Đảng và nhà nước.Trước tiên cần phải xây dựng từ cấp cơ sở nhỏ nhất đơn giản nhất đi lên hay cụ thể là ở từng phường xã trong giai đoạn hiện nay cần xây dựng những lực lượng dân quân tự vệ cho mỗi phường và cụ thể hơn là mỗi thôn, xóm để bảo vệ sự bình yên cho tổ quốc. Mỗi loại lực lượng lại có những đặc điểm, tính chất riêng nên trong chỉ đạo xây dựng cũng như trong biên chế cần phải dựa trên những đặc điểm riêng ấy để có thể tổ chức những đội dân quân tự vệ phù hợp với mình. Từ đó tạo tiền đề cho việc đáp ứng với nhu cầu của Đảng và Nhà nước đề ra và cũng thực hiện tốt nhiệm vụ đã được đề ra. Ngoài ra lực lượng dân quân tự vệ muốn thực hiện tốt nhiệm vụ cũng như vị trí của mình thì cần phải được trang bị đầy đủ vũ khí. Đây cũng chính là yêu cầu cấp thiết của lực lượng dân quân tự vệ,vì trước đây trong quá trình kháng chiến chống thực dân thì nhà nước ta chưa đáp ứng do vấn đề về tài chính. Vì thế đây được coi là nhu cầu cấp bách để cho lực lượng dân quân tự vệ có thể phát huy hết vị trí cũng như tiềm lực của mình. Và cũng từ đó có thể sánh vai với các lực lượng dân quân tự vệ của các nước trên thế giới. Từ việc trang bị ở những đơn vị cấp nhỏ như vậy mới có thể tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn lực lượng dân quân tự vệ. Vì khi từ bộ phận nhỏ này sẽ tạo thành những nhóm, những đơn vị những trung đội, đại đội rồi trung đoàn, sư đoàn. Tất cả sẽ tạo nên sức mạnh mà thực tế hai cuộc kháng chiến đã khẳng định. Từ đó ta có thể thấy được vai trò, cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức cũng như biên chế lực lượng dân quân tự vệ. Bên cạnh đó chúng ta cần phải giáo dục, huấn luyện về chính trị cho từng người trong lực lượng dân quân tự vệ. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu để có thể gây dựng một lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh như ngày nay. Muốn duy trì được vậy thì mỗi người dân ở mọi địa phương, cơ sở hay vùng miền đều cần phải được quán triệt tư tưởng chính trị do Đảng và nhà nước đã vạch ra.Và điều này được thể hiện qua việc học sinh cũng như sinh viên -một lực lượng cơ bản của dân quân tự vệ -học giáo dục quốc phòng. Hơn nữa mỗi người dân lao động, hay tầng lớp trí thức đều phải hoặc học về giáo dục quốc phòng. Tất cả những biện pháp trên nhằm xây dựng những lực lượng dân quân tự vệ ở mọi cấp vững mạnh về mọi mặt tư tưởng cũng như tổ chức. Trong giai đoạn công nghệ hiện đại ngày càng tiên tiến thì cần phải xây dựng một đội ngũ cán bộ dân quân tự vệ. Vì những người cán bộ ấy có vai trò quan trọng trong công nghiệp hoá cũng như đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá đất nước. Họ chính là những người làm nên cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Và đồng thời cũng chính họ là người chiến đấu trên mặt trận khoa học kỹ thuật. Hay cũng chính họ là người chống những âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoà bình”. Qua vai trò của đội ngũ cán bộ thì Đảng và nhà nước đã yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ dân quân tự vệ. Trước tiên muốn xây dựng được chúng ta cần phải xây dựng, tổ chức lực lượng dân quân tự vệ trong các nhà máy, các trường học, các bộ, các viện khoa học. Chúng ta cần phải làm tốt công tác giáo duc tư tưởng cho họ bằng nhiều cách khác nhau. Như hàng năm có các đợt học về dân quân tự vệ cũng như các cuộc thi, các cuộc tìm hiểu về dân quân tự vệ. Để cho mỗi người cán bộ cũng như mỗi người trí thức có thể quán triệt được những tư tưởng, cũng như vị trí, cũng như nhiệm vụ của cán bộ dân quân tự vệ. Hơn nữa chúng ta cần có những chính sách chế độ với dân quân tự vệ. -Thường xuyên giáo dục quán triệt các quan điểm, chủ chương chính sách của Đảng và nhà nước đề ra về công tác dân quân tự vệ. -Phát huy sức mạnh tổng hợp trên địa bàn, địa phương trong xây dựng dân quân tự vệ. -Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ gắn liền với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện. -Thực hiện nghiêm túc đầy đủ các chế độ chính sách của Đảng và nhà nước về dân quân tự vệ. Kết luận Qua những thành tích xuất sắc mà dân quân tự vệ đã đạt được chúng ta có thể thấy rõ khả năng tiềm năng rất lớn trong nhiều mặt. Hơn 65 năm qua, trên mỗi chặng đường đi lên của cách mạng, dân quân tự vệ đã luôn luôn làm tròn nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, công tác giỏi. Dân quân tự vệ đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong mọi lĩnh vực chiến đấu cũng như trong sản xuất. Nhận thức đúng đắn vai trò của dân quân tự vệ có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Dân quân tự vệ là nòng cốt, là công cụ của chính quyền chuyên chính của chính quyền nhân dân ở cơ sở. Lực lượng này có vai trò chiến lược trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, là hậu thuẫn tin cậy của người nông dân lao động, là lực lượng chiến đấu phối hợp đắc lực và là nguồn bổ sung không bao giờ cạn cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương. Chính vì vậy, trong thời kỳ mới việc quan tâm phát triển lực lượng dân quân tự vệ trong thời kỳ mới cũng cần phải được xem xét một cách đúng mức, cả về vật chất lẫn trang bị về vũ trang, những kiến thức về khoa học kỹ thuật, quán triệt tư tưởng, đường lối, nhiệm vụ….để thông qua những hoạt động thực tiễn của mình nâng cao trách nhiệm và chất lượng hoạt động trong thời gian tới, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò chiến lược của lực lượng dân quân tự vệ trong nền quốc phòng toàn dân bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Hướng Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Tiểu Luận Phương Hướng Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Bài 2. Một Số Hiểu Biết Về Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân
  • Nội Dung Chính Về Biện Pháp Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân An Ninh Nhân Dân
  • Nội Dung Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân
  • Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Quân Đội Trong Giai Đoạn Cách Mạng Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Y Tế Thông Minh Ecomedic
  • Chính Phủ Bàn Giải Pháp Thực Hiện Bhyt Toàn Dân
  • Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Y Tế
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Cho Cơ Sở Y Tế
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Y Tế
  • Ngày đăng: 07/10/2020 09:21

    1. Vai trò của cán bộ và công tác cán bộ trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội

    Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề chiến lược, đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta; một nội dung cơ bản của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(1); trong công tác “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”(2). Thấm nhuần tư tưởng đó, qua từng thời kỳ cách mạng, công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ trong quân đội nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

    Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Nghị quyết số 769-NQ/QUTW ngày 21/12/2012 của Quân ủy Trung ương về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo; Quy định số 104-QĐ/QUTW ngày 16/02/2017 của Quân ủy Trung ương về một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Quy định số 496-QĐ/QUTW ngày 12/6/2017 của Quân ủy Trung ương về thẩm quyền phê duyệt, xác nhận quy hoạch và quy trình bổ nhiệm cán bộ chỉ huy, quản lý trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Quyết định số 548-QĐ/QUTW ngày 29/5/2018 của Quân ủy Trung ương về việc ban hành Quy chế công tác cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.v.v. Những chủ trương, định hướng, quy định nêu trên là cơ sở để công tác cán bộ trong quân đội được triển khai một cách đồng bộ, kịp thời, đáp ứng yêu cầu phục vụ, bảo đảm và sẵn sàng chiến đấu của quân đội.

    Trong thời gian qua, Quân ủy Trung ương luôn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về xây dựng đội ngũ cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, tổ chức lực lượng trong quân đội; đồng thời, chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ theo đúng quan điểm, đường lối, nguyên tắc, quy chế về công tác cán bộ và đặc điểm tình hình thực tiễn đơn vị; nhận thức, trách nhiệm, vai trò của cấp ủy, bí thư, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị được đề cao.

    Tuy nhiên, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để xây dựng đội ngũ này ngang tầm với nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Những khó khăn, thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh đang đặt ra nhiều vấn đề mới. Các thế lực thù địch, phản động đang tăng cường hoạt động chống phá ta về mọi mặt, thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các vấn đề “an ninh phi truyền thống” và “phi chính trị hóa” quân đội ngày càng quyết liệt hơn. Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như: dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và những hạn chế yếu kém, suy thoái của một bộ phận cán bộ quân đội đang được kẻ địch lợi dụng triệt để. Tư tưởng bành trướng nước lớn, vi phạm các nguyên tắc luật pháp quốc tế đang làm cho tranh chấp khu vực Biển Đông ngày càng phức tạp, khó lường.

    Bên cạnh đó, đời sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn còn khó khăn, nhất là cán bộ trẻ ở các đơn vị cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, xa gia đình quê hương; chính sách hậu phương quân đội còn nhiều hạn chế, bất cập. Quân đội đang tiếp tục điều chỉnh tổ chức, lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh, linh hoạt, cơ động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời bình và sẵn sàng mở rộng lực lượng khi có yêu cầu. Những yếu tố trên đang tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, đòi hỏi cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp trong toàn quân phải nhận thức đúng và có giải pháp đồng bộ, phù hợp nhằm tổ chức thực hiện hiệu quả.

    2. Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới Một là, tiếp tục quán triệt và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội.

    Đây là nội dung quan trọng nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, cơ quan nghiệp vụ cán bộ các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nội dung giáo dục, quán triệt cần tập trung vào đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng về công tác cán bộ, trọng tâm là quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, chủ trương, nội dung, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X đã xác định. Đồng thời, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống làm thước đo để đánh giá cán bộ; gắn đánh giá cán bộ định kỳ với kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mọi vấn đề về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ thuộc thẩm quyền của cấp ủy, tổ chức đảng được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Việc đổi mới công tác cán bộ phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển, xuất phát từ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo bước đột phá nhằm nâng cao chất lượng toàn diện đối với công tác này, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược, chiến dịch đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Trên cơ sở nhận thức đúng, đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ và chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch; có số lượng và cơ cấu hợp lý; khả năng tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, chỉ huy giỏi; trình độ, kiến thức chuyên môn ngày càng cao; có uy tín trong tập thể; sức khỏe và độ tuổi phù hợp.

    Hai là, thực hiện tốt công tác nghiệp vụ cán bộ nhằm nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, nhất là về phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, thực tiễn.

    Việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tình hình đội ngũ cán bộ; kế thừa quy hoạch nhiệm kỳ trước, lấy quy hoạch cấp dưới làm cơ sở quy hoạch cấp trên với tinh thần “có lên, có xuống, có vào, có ra”, bảo đảm sự liên thông, có tính khả thi cao trong thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ. Thực hiện tốt công tác luân chuyển cán bộ theo các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn đảm bảo cho cán bộ được thử trách, trải nghiệm trên nhiều cương vị công tác, làm cơ sở để bồi dưỡng, bổ nhiệm, sắp xếp ở cương vị cao hơn. Quản lý, nắm chắc tình hình đội ngũ cán bộ theo phân cấp; xem xét kéo dài tuổi phục vụ của cán bộ chặt chẽ, đúng đối tượng; kiên quyết điều chuyển hoặc loại bỏ đối với cán bộ năng lực, sức khỏe yếu, vi phạm kỷ luật, uy tín thấp; có kế hoạch và biện pháp đồng bộ để chủ động tạo nguồn, cân đối số lượng cán bộ ra quân với bổ sung nguồn vào, sắp xếp, điều chuyển cán bộ một cách hợp lý; giữ ổn định đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là ở các đơn vị đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đơn vị thành lập mới hoặc trang bị vũ khí hiện đại.

    Tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng với các loại hình đào tạo khác nhau; trong đó, chú trọng nguồn đào tạo cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, đào tạo sau đại học và đào tạo ở nước ngoài. Thực hiện có hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo chức vụ, có trình độ học vấn, lý luận chính trị tương ứng, tập trung cho cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu; tiến hành đồng bộ các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, lấy đào tạo cơ bản, lâu dài, chính quy theo các chương trình đào tạo tiên tiến làm chủ yếu, kết hợp với đào tạo các trình độ khác để đáp ứng yêu cầu tại chỗ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ.v.v. Kết hợp giữa đào tạo trong quân đội và ngoài quân đội; chú trọng, khuyến khích cán bộ nâng cao năng lực thực tiễn, trình độ ngoại ngữ, tin học và kiến thức về chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội.

    Coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo tại trường với bồi dưỡng, huấn luyện tại chức và tự học tập; giữa truyền thụ kinh nghiệm của cán bộ qua chiến đấu, thực tiễn chỉ huy, quản lý với việc nâng cao trình độ cán bộ, nhất là cán bộ trẻ. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại các học viện, nhà trường theo hướng liên thông giữa các cấp học, bậc học, sát với chức trách, nhiệm vụ của chức vụ ban đầu khi tốt nghiệp ra trường; khắc phục tình trạng dàn trải, trùng lắp, nhất là đào tạo cán bộ cấp trung đoàn, sư đoàn.

    Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ gắn với việc điều chỉnh, sắp xếp, cơ cấu, bộ máy tinh gọn, hiệu quả trong quân đội.

    Tiếp tục thực hiện hiệu quả Quyết định số 2574/QĐ-BQP ngày 30/6/2018 phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 606-NQ/QUTW về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2022; xây dựng, triển khai thực hiện Đề án về điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2022-2021; Đề án cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến năm 2022; Kế hoạch số 217-KH/QUTW ngày 13/3/2018 về triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

    Thời gian qua, Bộ Quốc phòng đã giải thể, điều chỉnh tổ chức biên chế một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (quân số giảm gần 3.000 người); giải thể 14 lữ đoàn công binh dự bị động viên thuộc các công ty, tổng công ty; giải thể 06 trung tâm dạy nghề – giới thiệu việc làm; hiện đang tiếp tục xúc tiến lộ trình giải thể 22 trường cao đẳng, trung cấp nghề trong toàn quân; chỉ đạo tổ chức lại 04 cơ quan chiến lược làm điểm, giảm 10% quân số biên chế; Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam thành Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam; Phòng Kiểm toán thành Kiểm toán Bộ Quốc phòng; tổ chức lại các cơ sở in trong Quân đội. Chỉ đạo điều chuyển hai ban quản lý Dự án 678 và 98 về Tổng Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng. Thành lập Bộ Tư lệnh 86; Trung đoàn 915, thuộc Trường Sĩ quan Không quân; tổ chức lại Tạp chí Quân sự Quốc phòng, thuộc Bộ Tổng Tham mưu (trên cơ sở sáp nhập bốn tạp chí: Quân huấn, Nhà trường quân đội, Dân quân tự vệ và giáo dục quốc phòng, Tiêu chuẩn đo lường chất lượng).

    Đã tiến hành sắp xếp lại và cổ phần hóa các doanh nghiệp, từ 109 doanh nghiệp xuống còn 17 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước do Bộ Quốc phòng quản lý; giải thể, điều chuyển nhiệm vụ quân sự của các doanh nghiệp… Bộ Quốc phòng tiếp tục thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, bảo đảm không tăng quân số, theo hướng tinh, gọn, mạnh, cơ động nhanh và sức chiến đấu cao điều chỉnh hợp lý giữa các lực lượng, đảm bảo sức chiến đấu của Quân đội không ngừng được nâng lên.

    Hiện nay, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đang tiếp tục triển khai thực hiện các đề án, kế hoạch về tổ chức xây dựng lực lượng, tiếp tục rà soát, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy, giảm đầu mối trung gian và lực lượng phục vụ, bảo đảm hậu cần; sáp nhập các cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương đồng; chuyển đổi cơ chế hoạt động một số đơn vị phục vụ, bảo đảm sang hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công. Việc nghiên cứu, điều chỉnh tổ chức lực lượng phải đảm bảo dự báo sát, đúng, kịp thời với tình hình thế giới, khu vực, trong nước và nhiệm vụ quân đội. Trong tổ chức thực hiện, cần kiên quyết và kiên trì với mục tiêu đã xác định; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, khoa học; nhất quán trong thực hiện từ cấp chiến lược đến cấp cơ sở; bảo đảm khách quan, khoa học; kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm trong nghiên cứu, thực hiện điều chỉnh tổ chức cơ quan, đơn vị…

    Bốn là, tiếp tục hoàn thiện, thực hiện tốt chính sách cán bộ; xây dựng cơ quan nghiệp vụ về công tác cán bộ các cấp vững mạnh.

    Cần thực hiện tốt chế độ, chính sách hiện hành của Đảng, Nhà nước đối với quân đội; tiếp tục nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện chế độ, chính sách ưu đãi, chế độ tiền lương, phụ cấp đặc thù đối với ngành lao động đặc biệt, phụ cấp nhà ở, chế độ đối với cán bộ luân phiên nơi khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; quản lý, nắm chắc tình hình sức khỏe của cán bộ. Chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để tạo nguồn quỹ đất, triển khai các dự án nhà ở chính sách, xã hội, công vụ; chăm lo giải quyết tận tình, chu đáo các chế độ, chính sách với người có công và các chính sách tồn đọng khác, thực hiện các chính sách như bảo hiểm xã hội, khám chữa bệnh, chế độ hưu trí, quan tâm đến gia đình cán bộ… tạo điều kiện thuận lợi để động viên cán bộ yên tâm công tác.

    Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng cơ quan nghiệp vụ cán bộ vững mạnh; đội ngũ làm công tác cán bộ “trung thành, trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông”, toàn tâm, toàn ý thực hiện tốt nhiệm vụ. Nghiên cứu tổ chức cơ quan cán bộ các cấp đủ số lượng, biên chế thống nhất theo từng loại hình đơn vị; kiện toàn, nâng cao chất lượng, tích cực bồi dưỡng, tập huấn, tổ chức hội thi ngành nghiệp vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về cải cách hành chính trong công tác cán bộ. Đồng thời, chú trọng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong, trình độ năng lực nghiệp vụ của đội ngũ làm công tác cán bộ; nâng cao khả năng phát hiện, dự báo, tham mưu, đề xuất, hướng dẫn thực hiện đúng, trúng, kịp thời, hiệu quả, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

    Mặt khác, các cấp ủy đảng tiếp tục cụ thể hóa việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế cho phù hợp với tính chất, đặc thù của cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ cấp mình; kiên quyết khắc phục những khâu yếu trong công tác cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh về mọi mặt, làm cơ sở xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

    Ghi chú:

    (1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.309, tr.280

    (3) Ngô Xuân Lịch, “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội ngang tầm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 05/7/2018.

    TS Lưu Duy Toàn – Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng ThS Hoàng Văn Mạnh – Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

    tcnn.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Về Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Quân Đội Hiện Nay
  • Quân Ủy Tư Góp Ý Giải Pháp Xây Dựng, Quản Lý Đội Ngũ Cán Bộ
  • 8 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Của Nghị Quyết Số 26
  • Tiểu Luận: Quan Điểm, Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ
  • Bình Dương: Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Đoàn Là Giải Pháp Then Chốt Trong Công Tác Xây Dựng Đoàn
  • Tăng Cường Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá 10 Nhiệm Vụ Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Nâng Cao Tinh Thần Tiên Phong Gương Mẫu Của Đảng Viên Trong Thực Hiện Nhiệm Vụ Và Tham Gia Xây Dựng Đảng
  • Một Số Giải Pháp Nêu Cao Tính Tiên Phong, Gương Mẫu Của Cán Bộ, Đảng Viên
  • Người Đảng Viên, Ở Đâu Cũng Phải Làm Gương Mẫu Cho Quần Chúng
  • Phát Huy Vai Trò Tiên Phong, Gương Mẫu Của Đảng Viên Trẻ
  • PGS,TS Nguyễn Thị Thanh Hoài Chi bộ Khoa Thuế và Hải quan

    Kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đó là cơ sở, tiền đề vững chắc bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Thời gian qua, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhận thức được nâng cao hơn, tư duy được đổi mới hơn, tư tưởng được thống nhất hơn, thể hiện ở việc đã tạo được sự nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với những vấn đề lớn, cơ bản trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, khiến cho một số cán bộ, đảng viên hoang mang, dao động, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Mặc dù đã có nghị quyết riêng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng song trong Đảng vẫn còn những khuyết điểm nghiêm trọng, kéo dài, chậm được khắc phục, với những diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng; làm suy giảm vị trí, vai trò, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Do vậy cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng đảng. Đại hội XII (năm 2022), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Sự nhấn mạnh này không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng, còn xuất phát từ thực tiễn tình hình, từ quyết tâm giải quyết triệt để một vấn đề cấp bách hiện nay, đáp ứng nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Mục tiêu “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức” thực chất là để “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Như vậy, về bản chất không thay đổi mà chỉ đi sâu hơn vào vấn đề cấp thiết hiện nay. Trước âm mưu “diễn biến hòa bình”, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức là nhiệm vụ cần thiết, cấp bách.

    Trong thời gian tới, công tác xây dựng đảng cần tập trung vào các mặt sau:

    – Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị: Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Xây dựng Đảng về chính trị đòi hỏi nâng cao trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan, đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển. Hoàn thiện cơ chế, quy chế và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tự phê bình, phê bình, chất vấn trong nội bộ Đảng. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp. Hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nghĩa là xa rời hệ tư tưởng của Đảng, phụ họa với các thế lực thù địch phê phán hoặc xuyên tạc lý luận, tư tưởng khoa học và cách mạng đó. Cần phải tăng cường nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống, thường xuyên bám sát thực tiễn, tổng kết lý luận, làm rõ bản chất cách mạng, khoa học và giá trị bền vững của hệ tư tưởng chính trị của Đảng. Xây dựng Đảng về chính trị đặt ra yêu cầu không ngừng bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời, phòng ngừa nguy cơ sai lầm về đường lối, vì điều đó không chỉ ảnh hưởng đến bản chất cách mạng của Đảng mà còn tác động xấu đến sự phát triển của đất nước và cuộc sống của nhân dân.

    – Tiếp tục đổi mới công tác tư tưởng, lý luận: Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao tính chiến đấu và hiệu quả của công tác tư tưởng. Đổi mới công tác tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tích cực chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chủ động, kịp thời ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị và học tập nghị quyết của Đảng đảm bảo thiết thực, hiệu quả. Bên cạnh cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn làm sáng tỏ những vấn đề xuất hiện trong quá trình đổi mới, làm tốt chức năng định hướng cho hoạt động thực tiễn, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    – Tiếp tục đổi mới công tác tổ chức và công tác cán bộ, nâng cao chất lượng đảng viên: Tình hình thực tiễn hiện nay cho thấy, tổ chức bộ máy của Đảng và toàn hệ thống chính trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; chức năng, nhiệm vụ ở một số tổ chức còn chồng chéo; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhiều tổ chức trong hệ thống chính trị chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Số lượng cán bộ, công chức không những không giảm mà lại tăng, nhất là ở các đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức, cán bộ chuyên trách, không chuyên trách xã, phường, thị trấn… Do vậy cần hoàn thiện công tác tổ chức, công tác cán bộ. Xây dựng Đảng về tổ chức là xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể chính trị – xã hội) từ Trung ương đến cơ sở thật sự khoa học, tinh gọn, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, bản lĩnh và năng lực để luôn có nhận thức đúng, nhanh nhạy, sáng tạo… ; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên từ các chi bộ thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức chiến đấu và lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng; thực hiện bảo vệ chính trị nội bộ…Xây dựng Đảng về tổ chức có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó, các tổ chức cơ sở của Đảng dù quy mô như thế nào, thuộc loại hình nào đều là khâu quan trọng, là nền tảng, hạt nhân chính trị, bởi đây là cấp cơ sở trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ đảng. Chính vì vậy, phải nâng cao trình độ khoa học tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở, phải thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Đồng thời, xác định rõ cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu; thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không giữ được tư cách, vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước.

    – Xây dựng đảng về đạo đức: xây dựng Đảng về đạo đức thực tế luôn gắn liền, nằm trong xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức nhưng nay được gọi tên, được đặt ngang hàng đã thể hiện ý chí của Đảng là đề cao, coi trọng đạo đức. Việc bổ sung nội dung xây dựng Đảng về đạo đức là vấn đề đặc biệt quan trọng trong tình hình hiện nay, khi tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn. Trong giai đoạn hiện nay nội dung này hết sức quan trọng, vì đạo đức là một bộ phận của hình thái ý thức xã hội, đạo đức cộng sản quyết định bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng đã tạo dựng sức mạnh chính trị – tinh thần, niềm tin và uy tín lớn trong Đảng và nhân dân. Trên thực tế, đang có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cần phải ngăn chặn, đẩy lùi. Để xây dựng Đảng về đạo đức, cần nhận thức rõ nội dung đạo đức cách mạng đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng rèn luyện, giáo dục, đặc biệt là tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng là suốt đời đấu tranh, phấn đấu cho lý tưởng, mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân lên trước lợi ích của cá nhân mình, chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; không quan liêu, lãng phí, tham ô; có lối sống khiêm tốn, giản dị, không màng danh vọng, địa vị, không tham muốn vật chất; ra sức học tập lý luận, chuyên môn, nâng cao trình độ học vấn, trí tuệ, rèn luyện tư tưởng, trung thực và nêu cao tinh thần trách nhiệm hoàn thành tốt nhất công việc được giao. Phải có tình cảm trong sáng, tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, yêu thương, gắn bó với nhân dân, gương mẫu về mọi mặt, “dĩ công vi thượng”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Trong thời điểm hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên càng cần phát huy gương mẫu, nêu gương đi đầu trong tu dưỡng rèn luyện đạo đức, giữ gìn lối sống để quần chúng làm theo. Việc chú trọng xây dựng đảng về mặt đạo đức thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm; đồng thời, tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị là ” coi trọng cả đức và tài, trong đó đức là gốc” để xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói.

    – Đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng: Nhiệm vụ này được đặt ra xuất phát từ tình hình hiện nay: chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và xử lý tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ Đảng; nhiều khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện, kiểm tra, xử lý, hoặc xử lý kéo dài, nên kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi chưa nghiêm; vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát chưa được phát huy đầy đủ.Do vậy trong thời gian tới cần nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên về công tác kiểm tra, giám sát để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng. Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát, kiểm soát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống. Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các tổ chức đảng ở các cơ quan nhà nước, các đơn vị kinh tế. Tăng thẩm quyền kiểm tra, thi hành kỷ luật cho ủy ban kiểm tra các cấp.

    – Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân: Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ Đảng – Dân; tập hợp, vận động và phát huy sức mạnh của toàn dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận. Giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân. Tiếp tục cụ thể hoá mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, hưởng thụ”.

    – Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí : đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là trách nhiệm và nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của các cấp ủy đảng, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và toàn bộ hệ thống chính trị. Kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí; chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, không bao che, dung túng và không can thiệp, ngăn chặn việc chống tham nhũng, lãng phí. Từng bước hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Kiên quyết xử lý và thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút. Tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ lợi ích nhóm, chống đặc quyền, đặc lợi.

    Tóm lại, xây dựng Đảng là nhiệm vụ cơ bản thường xuyên, cũng là nhiệm vụ then chốt trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng, toàn dân ở mọi cấp, mọi ngành và của bản thân mỗi đảng viên, đồng thời phải có chủ trương, biện pháp thích hợp, phải tìm ra được yêu tố tác động để có biện pháp phòng ngừa và giải quyết chính xác. /.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Mười Trọng Tâm Công Tác Xây Dựng Đảng Hiện Nay
  • Năm 2022, Tỉnh Ủy Chọn Chủ Đề “bứt Phá Về Đích” Với Mục Tiêu Là Tập Trung Xây Dựng Đảng Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Đảng Bộ Xã Thành Triệu Huyện Châu Thành
  • Thông Báo Cuộc Thi Viết “tìm Hiểu Lịch Sử Đảng Bộ Tỉnh Bến Tre (1930
  • Những Điểm Mới Về Công Tác Xây Dựng Đảng Trong Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Nông Thôn Việt Nam
  • Làm Gì Để Nâng Cao Chất Lượng Dân Số?
  • Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Để Phát Triển Bền Vững
  • Triển Khai Nhiều Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Nêu Những Biện Pháp Để Cải Thiện Và Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Đối Với Con Người . Giúp Mình Với Mình Cần Gấp Câu Hỏi 775985
  • (Quanlynhanuoc.vn) – Dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, do đó, công tác dân số luôn là một trong những vấn đề rất được quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới ở mọi thời đại bởi dân số và phát triển có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Muốn tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội phải dựa vào yếu tố cơ bản là nguồn nhân lực, mà nguồn nhân lực lại gắn liền với sự biến đổi dân số về cả số lượng và chất lượng; đồng thời sự biến đổi dân số còn thúc đẩy quá trình phát triển nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng dân số sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững của mỗi quốc gia.

    Thực trạng chất lượng dân số của Việt Nam

    Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số. Chất lượng dân số ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển được tổ chức tại Cairo (Ai Cập) năm 1994 đã đề cập đến chất lượng dân số. Chương trình hành động của Hội nghị đã nhấn mạnh: “Con người là nguồn lực quan trọng nhất, do đó để phát triển bền vững thì phải nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người”. Nhiều nước khu vực châu Á như: Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Ma-lai-xi-a… đã đưa mục tiêu nâng cao chất lượng dân số vào các chương trình dân số – kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), lồng ghép vào các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội.

    Ở Việt Nam, công tác dân số luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi đó là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Sự phát triển bền vững của đất nước chủ yếu trong tương lai dài hạn là dựa vào năng suất lao động, tức là dựa vào chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng dân số. Đó là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

    Những năm qua, công tác dân số của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Năm 2022 là năm thứ 13 liên tiếp Việt Nam duy trì được mức sinh thay thế. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2022 của Tổng cục Thống kê, quy mô dân số Việt Nam đạt 96,2 triệu người, đứng vị trí thứ 15 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á 1.

    Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,4 tuổi năm 2022, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em giảm mạnh. Tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện. Dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

    Tuy nhiên, hiện nay chất lượng dân số còn hạn chế, chỉ số phát triển con người (HDI) còn thấp, chậm được cải thiện. Tuổi thọ bình quân là 73,5 tuổi, nhưng số năm trung bình sống khỏe mạnh còn thấp, chỉ đạt 64 tuổi. Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện, trong 30 năm chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam chỉ tăng được 3 cm. Tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn nhiều ở một số dân tộc ít người. Việc bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc có dưới 10.000 người còn hạn chế, đặc biệt là những dân tộc thiểu số rất ít người có nguy cơ suy giảm giống nòi 2.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác dân số nói chung và nâng cao chất lượng dân số nói riêng nhưng nguyên nhân cơ bản là do:

    Thứ nhất, quản lý nhà nước về dân số còn bất cập;một số cơ chế, chính sách về dân số chậm đổi mới; tổ chức bộ máy thiếu ổn định, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác dân số và KHHGĐ ở cấp cơ sở còn thấp; chức năng, nhiệm vụ chưa được điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình dân số.

    Thứ hai, nguồn lực đầu tư cho công tác dân số, KHHGĐ còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu trong giai đoạn mới; các nội dung về dân số trong phát triển kinh tế – xã hội còn chưa được chú trọng đúng mức.

    Thứ ba, công tác truyền thông, giáo dục về dân số ở một số khu vực, nhóm đối tượng hiệu quả chưa cao, chưa phối hợp và phát huy được tốt vai trò của các tổ chức đoàn thể, của nhà trường.

    Thứ tư, nội dung truyền thông, cung cấp dịch vụ chưa toàn diện, chủ yếu tập trung vào KHHGĐ.

    Thứ năm, nhận thức và tiếp cận sớm với tư vấn và khám sức khỏe trước hôn nhân cũng như hoạt động tầm soát, chẩn đoán, điều trị sớm bệnh, tật trước sinh và sơ sinh còn hạn chế, dẫn đến vẫn có những đứa trẻ sinh ra bị hội chứng Down, dị tật bẩm sinh, tăng động, tự kỷ.

    Giải pháp nâng cao chất lượng dân số Việt Nam hiện nay

    Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về công tác dân số trong tình hình mới đã nêu rõ: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”. Do đó, mục tiêu nâng cao chất lượng dân số được coi là một trong những chính sách cơ bản của Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, có tính chất quyết định đến công cuộc phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

    Để nâng cao chất lượng dân số đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:

    Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác dân số và phát triển. Xác định nâng cao chất lượng dân số không chỉ là nhiệm vụ của ngành Y tế mà còn là trách nhiệm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương, của mỗi cá nhân, gia đìnhvà toàn xã hội. Đảng, Nhà nước cần tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật để nâng cao chất lượng dân số.

    Hai là, kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số từ trung ương đến cơ sở theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; củng cố mạng lưới và đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ KHHGĐ để góp phần thực hiện tốt chính sách dân số nhằm nâng cao chất lượng dân số trong tình hình mới.

    Ba là, đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục với các hình thức phù hợp đến tất cả các tầng lớp nhân dân để nâng cao nhận thức, hành động về dân số và phát triển về các vấn đề duy trì vững chắc mức sinh thay thế, giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, đối tượng; giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững; thích ứng với già hóa dân số đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Tăng cường tuyên truyền tư vấn, hỗ trợ nâng cao sức khỏe thể chất, trí tuệ và tinh thần cho các nhóm đối tượng đặc biệt; triển khai các mô hình cung cấp dịch vụ và vận động để tăng sự chấp nhận sàng lọc sơ sinh tại cộng đồng.

    Bốn là, xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế lồng ghép các yếu tố dân số trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội; đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, trọng tâm là chất lượng và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực.

    Sáu là, phối hợp chặt chẽ các ngành, các cấp để thực hiện các biện pháp nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ của con người Việt Nam, đặc biệt sự phối hợp tích cực của hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, vị thành niên, người cao tuổi và sự tham gia của ngành Giáo dục. Đồng thời, xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, tăng cường các dịch vụ xã hội chủ yếu có ảnh hưởng tới chất lượng dân số; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng phục vụ nâng cao chất lượng dân số.

    Bảy là, Nhà nước tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số như sàng lọc trước sinh và sơ sinh; mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; mô hình giảm tỷ lệ tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và đề án tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dân Số Việt Nam
  • Bài 5. Đặc Điểm Dân Cư, Xã Hội Châu Á
  • Địa 8/ Tuần 5/ Tiết 5
  • Giáo Án Địa Lí 8 Tuần 5 Tiết 5: Đặc Điểm Dân Cư
  • Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Góp Phần Xây Dựng Văn Hóa Trường Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Văn Hóa Trong Đảng Cho Đội Ngũ Đảng Viên Trẻ Hiện Nay
  • Xây Dựng Văn Hóa Trong Chính Trị: Quan Niệm Và Giải Pháp Thực Hiện
  • Bộ Chính Trị Yêu Cầu Coi Trọng Xây Dựng Văn Hóa Từ Trong Đảng, Bộ Máy Nhà Nước
  • Cần Đề Ra Phương Hướng, Nhiệm Vụ, Giải Pháp Có Tính Cụ Thể Cao Hơn
  • Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Xây Dựng Đảng Nhiệm Kỳ 2022
  • Việc xây dựng và thực hiện văn hóa trường Đảng ở Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ trong thời gian vừa qua đều dựa trên những quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, về trường chính trị, về những yêu cầu cấp bách đã và đang đặt ra trong bối cảnh hiện nay.

    Giai đoạn 2022 – 2022, nhằm xây dựng và thực hiện tốt văn hóa trường Đảng trong nhà trường và hướng tới xây dựng Trường Chính trị đạt chuẩn, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đã tập trung lãnh đạo việc nâng cao nhận thức trong cán bộ, giảng viên, nhân viênvề những giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa trường Đảng, ứng xử văn hóa trong cơ quan; cụ thể hóa những giá trị văn hóa đó vào các hoạt động thường xuyên trên các lĩnh vực công tác. Lãnh đạo trường thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền, triển khai tới toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên các văn bản của Đảng, Nhà nước, của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, của tỉnh về văn hóa trường Đảng và thực hiện văn hóa trường Đảng. Căn cứ và văn bản mới của cấp trên, nhà trường đã ban hành các quy định, chương trình và hướng dẫn… xây dựng cơ quan văn hóa, thực hiện tốt văn hóa trường Đảng, đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Trong ứng xử với đồng nghiệp, với học viên có một số giảng viên chưa thực sự khéo léo trong ứng xử, giao tiếp.Một số học viên chưa tự nguyện, tự giác, chủ động, tích cực học tập để tích lũy kiến thức phục vụ cho công tác. Một số cán bộ phục vụ vẫn bị động, tính năng động sáng tạo trong công việc chưa cao. Một số thiết chế văn hóa của nhà trường như cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học tuy đã được quan tâm đầu tư, nâng cấp; song vẫn chưa đồng bộ, một số công trình đang xuống cấp, ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và các nhiệm vụ khác của nhà trường.

    Giai đoạn 2022 – 2025, nhà trường đặt ra mục tiêu: ” Xây dựng và phát triển Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viênmẫu mực, trí tuệ và bản lĩnh; hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn; phấn đấu đạt Trường Chính trị chuẩn vào năm 2025, trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trung tâm nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn có uy tín của tỉnh và khu vực, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững của tỉnh. ” (Kế hoạch xây dựng và phát triển Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2022 – 2025). Để thực hiện được mục tiêu đề ra nhà trường cần tập trung vào một số nhiệm vụ sau:

    Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu trong quá trình xây dựng cơ quan văn hóa; quán triệt và thực hiện nghiêm các Quy định về ứng xử văn hóa của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các nội dung của văn hóa công vụ nhằm nâng cao nhận thức, tạo chuyển biến mạnh mẽ cho cán bộ, công chức, viên chức về tinh thần, thái độ làm việc, các chuẩn mực giao tiếp, ứng xử, đạo đức, lối sống, nhằm tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có kỷ cương, trách nhiệm, tận tụy, chuyên nghiệp. Triển khai đồng bộ các quy định về văn hóa công vụ trong cơ quan. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động nội bộ của các cơ quan, tổ chức, hướng tới nâng cao năng suất lao động, giảm hội họp, giấy tờ hành chính và chế độ báo cáo, tạo nền tảng phát triển cơ quan, thực hiện tốt việc giữ, nhận văn bản điện tử. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện văn hóa công vụ theo chương trình, kế hoạch hằng năm và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ, công chức, viên chức có thành tích, gương mẫu trong thực hiện văn hóa công vụ.

    Hai là, nghiên cứu ban hành, tổ chức thực hiện các quy định về văn hóa của trường vào thực tiễn. Theo Quy chế và Quy định về ứng xử văn hóa của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, đặc điểm nhà trường xây dựng nội quy, quy tắc ứng xử văn hóa và tổ chức thực hiện tốt, tạo thành nếp văn hóa trường Đảng, hình thành được môi trường văn hóa lành mạnh, thân thiện. Ban hành nội quy, quy tắc ứng xử cho từng đối tượng cần cụ thể, rõ ràng, đầy đủ, phù hợp, đáp ứng yêu cầu của Luật cán bộ công chức, viên chức; đảm bảo theo đúng quy chế, quy định của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và phù hợp với đặc thù của cơ quan. Nội quy, quy chế phải đảm bảo toàn diện, dễ hiểu, dễ thực hiện và đồng bộ. Đồng thời cần tiến hành tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc, rà soát, chỉnh sửa, bổ sung… những quy định về văn hóa của cơ quan.

    Bà là, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho học viên. Nếu chất lượng đào tạo bồi dưỡng thực chất thì học viên của nhà trường sẽ được trau dồi và nâng cao không chỉ kiến thức, hiểu biết mà còn cả lập trường tư tưởng, thái độ làm việc, kỹ năng, phương pháp làm để phục vụ nhân dân.

    Bốn là, xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, giảng viên, nhân viên nhà trường gương mẫu về đạo đức lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ, đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có uy tín, có chuyên môn giỏi, thông thạo nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, biết lắng nghe, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của học viên. Xây dựng và thực hiện tốt quy chế dân chủ trong hoạt động cơ quan, tạo sự đoàn kết, thống nhất, phát huy cao độ nguồn lực, sức mạnh của đội ngũ cán bộ, giảng viên.

    Năm là, đầu tư kinh phí và hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy, học tập theo hướng hiện đại, đồng bộ, hiệu quả, phục vụ kịp thời công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Cần tiếp tục đầu tư để phòng làm việc, giảng đường, lớp học sửa sang, đầu tư mới cho cảnh quan, không gian để phục vụ quá trình làm việc, giảng dạy và học tập của nhà trường. Lãnh đạo trường nghiên cứu xây dựng logo và biểu tượng của nhà trường.

    Sáu là, nâng cao nhận thức và tinh thần tự giác xây dựng văn hóa trường Đảng của cán bộ, giảng viên, nhân viên; tăng cường sự phối hợp, liên kết để thực hiện văn hóa trường Đảng. Mỗi cán bộ, giảng viên, nhân viên của nhà trường đều có ý thức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất cá nhân, xây dựng văn hóa cơ quan sẽ là yếu tố quan trọng để thực hiện tốt văn hóa trường Đảng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Văn Hóa Đảng Là Nhân Tố Quan Trọng Để Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Về Vấn Đề “văn Hóa Đảng Và Xây Dựng Văn Hóa Trong Đảng”
  • Bài Thu Hoạch Những Nội Dung Chính Trong Công Tác Xây Dựng Đảng Ở Cơ Sở Hiện Nay
  • Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Thông Qua Tổ Chức Đảng Và Đảng Viên Trong Các Cơ Quan Nhà Nước
  • Tăng Cường Công Tác Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Tiếp Tục Chú Trọng Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Đảng Bộ Tp Uông Bí: Nhiều Giải Pháp Xây Dựng Đảng Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh
  • Giải Pháp Hiệu Quả Xây Dựng Tổ Chức Đảng Vững Mạnh
  • Giải Pháp Phát Triển Tổ Chức Đảng, Đảng Viên Trong Doanh Nghiệp Tư Nhân, Doanh Nghiệp Nước Ngoài
  • Những năm qua, Huyện ủy Nông Sơn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, thông qua việc triển khai, thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ở Đảng bộ huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng được nâng cao; tư tưởng thống nhất, thể hiện ở sự đoàn kết nhất trí, sự đồng thuận trong toàn Đảng bộ và quyết liệt trong tổ chức thực hiện. Những kết quả mà huyện Nông Sơn đã đạt được sau hơn 10 năm thành lập đã thể hiện rõ điều đó.

    Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó có mặt trái, mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta nhấn mạnh: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Quán triệt và nhận thức sâu sắc tinh thần của Nghị quyết, Huyện ủy luôn xác định cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tăng cường cảnh giác trước âm mưu “diễn biến hòa bình”, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức là nhiệm vụ cần thiết, trước mắt. Từ đó, Huyện ủy đã đề ra nhiều giải pháp, kiên quyết đấu tranh “ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, đồng thời xác định đây là công việc cấp bách và phải được tiến hành thường xuyên trong từng tổ chức đảng, ở mỗi cán bộ, đảng viên. Trong tình hình hiện nay, để đạt được mục tiêu đó, Huyện ủy đã và đang tiếp tục triển khai thực hiện một số giải pháp:

    Một là, thường xuyên quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo và làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Tăng cường giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối tin tưởng đường lối, chủ trương của Đảng, nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu trong tình hình mới. Đảng bộ phải là một khối đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động; mỗi tổ chức đảng, đảng viên phải chủ động, nhạy bén đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, thống nhất tư tưởng và hành động, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để làm tốt nhiệm vụ này, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp phải tăng cường các biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; gắn công tác tư tưởng với công tác tổ chức, chính sách và các biện pháp quản lý hành chính, chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng và Quy định về những điều đảng viên không được làm. Chủ động nghiên cứu, dự báo, đánh giá tình hình, diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; giải quyết kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh, giữ vững đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng, sự đồng thuận trong cơ quan, đơn vị. Cùng với giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, cấp ủy và tổ chức đảng phải tập trung bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tạo điều kiện, quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ “sáng” về phẩm chất, đạo đức; ” giỏi” về chuyên môn, có tinh thần, thái độ làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều và làm có hiệu quả thực chất.

    Hai là, tập trung xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên.

    Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải quán triệt và chấp hành nghiêm các quy định của Đảng; Kết luận số 18-KL/TW, ngày 22/9/2017 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong tình hình mới; Kế hoạch số 147-KH/TU, ngày 29/3/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 03/10/2017 của Ban Bí thư về việc ban hành Hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Nghị quyết số 13-NQ/TU, ngày 16/4/2013 của Tỉnh ủy Quảng Nam về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21/01/2019 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng… Để nâng cao năng lực lãnh đạo, các cấp ủy, tổ chức đảng phải duy trì nền nếp, chế độ sinh hoạt, đổi mới phong cách, phương pháp công tác; làm tốt công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng. Để nâng cao sức chiến đấu, mỗi cấp ủy viên, tổ chức đảng và đảng viên phải luôn coi trọng xây dựng tổ chức đảng về đạo đức, tiếp tục quán triệt, triển khai đồng bộ, hiệu quả kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII). Thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; kịp thời khắc phục hạn chế, khuyết điểm với phương châm “tự soi, tự sửa”, tự phê bình và phê bình. Tăng cường đoàn kết, thống nhất; nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên và hiệu lực, hiệu quả công tác đảng…

    Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ.

    Quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Huyện ủy tập trung làm tốt công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, gương mẫu, nói đi đôi với làm; có phong cách làm việc khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp. Thực hiện tốt quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời, lãnh đạo thực hiện nghiêm nguyên tắc, quy chế, quy trình công tác cán bộ; chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ. Quán triệt các quy định của Bộ Chính trị (khóa XII) về luân chuyển, điều động cán bộ, đánh giá cán bộ, cụ thể hóa quy định về tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ các cấp theo quy định. Xây dựng kế hoạch và quyết tâm cao trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 19-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.

    Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Thực hiện phương châm ” Giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm “, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp phải chủ động thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; phát hiện sớm và tiến hành kiểm tra các tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Trong kiểm tra, giám sát phải lấy công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị làm trọng tâm; lấy Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị làm tiêu chí; lấy ý thức tự giác chấp hành Điều lệ Đảng và Quy định về những điều đảng viên không được làm để quy chiếu khuyết điểm, tìm ra nguyên nhân, động cơ vi phạm… Công tác kiểm tra, giám sát phải chặt chẽ, công tâm, khách quan; gắn kiểm tra tổ chức đảng với kiểm tra, giám sát đảng viên và cấp ủy viên cùng cấp đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy các cấp, chấp hành nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, đoàn kết nội bộ, thực hiện nhiệm vụ đảng viên và chức trách, nhiệm vụ được giao. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xem xét, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, bảo đảm đúng nguyên tắc, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Bên cạnh đó, phát huy tốt vai trò của các tổ chức quần chúng, chú trọng và tạo điều kiện tốt nhất để các tổ chức quần chúng cũng như mọi cán bộ, đoàn viên, hội viên tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Mặt khác, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thể hiện rõ thái độ cầu thị, lắng nghe ý kiến đóng góp của quần chúng để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ.

    Các tin mới hơn: Các tin cũ hơn:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tọa Đàm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng Đảng Trong Tình Hình Mới
  • Bản Cam Kết Tu Dưỡng Rèn Luyện Phấn Đấu Năm 2022 Của Đảng Viên
  • Phát Huy Vai Trò Tiên Phong Gương Mẫu Của Đội Ngũ Đảng Viên Trong Thời Kỳ Mới
  • Phát Huy Vai Trò Tiên Phong, Gương Mẫu Của Đảng Viên Trẻ
  • Người Đảng Viên, Ở Đâu Cũng Phải Làm Gương Mẫu Cho Quần Chúng
  • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay.

    --- Bài mới hơn ---

  • Yêu Cầu, Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Thông Qua Tổ Chức Đảng Và Đảng Viên Trong Các Cơ Quan Nhà Nước
  • Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên
  • Bài Thu Hoạch Những Nội Dung Chính Trong Công Tác Xây Dựng Đảng Ở Cơ Sở Hiện Nay
  • Về Vấn Đề “văn Hóa Đảng Và Xây Dựng Văn Hóa Trong Đảng”
  • Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay. , Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nhiệm Vụ Và Giai Pháp Xây Dựng Đẳn Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Các Đồng Chí Hẫy Trình Bày Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Tron Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn H, Bài Thu Hoạch Nêu Những Nhiệm Vụ Chủ Yếu Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Những Nhiệm Vụ Chủ Yếu Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phan Tich Nhiem Vu Va Giai Phap Xay Dung Dang Trong Sach Hien Nay, Tiểu Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Hiện Nay, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai , Nhiẹm Vu Giải Pháp Xây Dụng Đảng Hiên Nay, Bài Thu Hoạch Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nội Dung Phát Huy Sưc Manh Toàn Đan Tộc Của Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Nội Dung Phấn Đấu Rèn Luyện Của Đảng Viên Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Chỉ Thị Mà Đảng Và Nhân Dân Ta Đang Thực Hiện Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2022 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2022 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Phương Hướng Nhiệm Vụ Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Đảng Nhiệm Kỳ Đại Hội Xiii, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Bai Thu Hoach Ve Chu Nghia Mac Lenin Va Tu Tuong Ho Chi Minh Cua Dang Trong Giai Doan Hien Nay, Quan Điểm Cơ Bản Của Đảng Ta Về Phát Triển Kinh Tế Trong Giai Đoạn Hiện Nay Về, Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh Của Đảng Ta 2022, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Bao Cao Tham Luan Giai Phap Xay Dung Dang Bo Trong Sach Vung Manh, Chuyen De Giải Pháp Xây Dựng Đảng Bộ, Chi Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh Hoặc Cũng Cố Cơ Sở Yếu Kém., Nội Dung Chủ Yếu Của Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Giai Đoạn Hiện Nay 1. Mục Tiêu : * Mục Tiêu T, Nội Dung Chủ Yếu Của Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Giai Đoạn Hiện Nay 1. Mục Tiêu : * Mục Tiêu T, Nội Dung Giải Pháp Nâng Cao Tinh Thần Đoàn Kết Nội Bộ, Đoàn Kết Quân Dân, Đoàn Kết Quốc Tế, Phấn Đấu, Nội Dung Giải Pháp Nâng Cao Tinh Thần Đoàn Kết Nội Bộ, Đoàn Kết Quân Dân, Đoàn Kết Quốc Tế, Phấn Đấu, – Giải Pháp Xây Dựng Đảng Bộ, Chi Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh Hoặc Củng Cố, Khắc Phục Cơ Sở Yếu Kém;, Nhiệm Vụ Của Thư Ký Trong Giai Đoạn Thụ Lý Vụ án Dân Sự Sơ Thẩm, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Cong Tac Phat Trien Đoan Vien , Nhiem Vu ,giai Phap, Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Na, Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nhiệm Vụ Giải Pháp Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái Thù Địch Hiện Nay, Giải Pháp Xây Dựng Đoàn Kết Nội Bộ, Bài Thu Hoạch Nhiệm Vụ Giải Pháp Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái Thù Địch Hiện Nay, Tiểu Luận Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Mới Hiện Nay, Trình Bày Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Củ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Gia, Có Thể Thực Hiện Giải Pháp Nào Sau Đây Trong Mạch Dao Động Anten?, 4 Giai Đoạn Của Quá Trình áp Dụng Pháp Luật, Tinh Bay Nhiem Vu Giai Phap Chu Yeu Trong Linh Vuc Quoc Phong An Ninh, Phát Huy Dân Chủ Trong Giai Đoạn Hiện Nay Giư Nghiem Kỷ Luat Quan Doi Xung Danh Bo Doi Cụ Ho, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Tìm Hiểu Chủ Trương Và Kết Quả Thực Hiện Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Giai Đoạn, Tìm Hiểu Chủ Trương Và Kết Quả Thực Hiện Đổi Mới Cơ Chế Quản Lý Sản Xuất Nông Nghiệp Trong Giai Đoạn, Trinh Bày Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực An Ninh Quốc Phòng? Liên Hệ Thực Tế, Trình Bày Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh ? Liên Hệ Thực Tế?, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Hãy Giải Thích Mõi Hiến Pháp Là Một Thời Kỳ Xây Dựng Phát Triển Đất Nước, Tiểu Luận Nội Dung Và Biện Pháp Để Thực Hiện Nhiệm Vụ Tổ Chức Quản Lý Xã Hội Trong Tác Phẩm Những Nh, Giải Pháp Xay Dung Chi Bo Trong Sạch Vung Mạnh, Đường Lối Đối Ngoại Và Chủ Trương Hội Nhập Quốc Tế Của Đảng Và Nhà Nước Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay, Bao Cao Tham Luan Ve To Chuc Hoat Dong Cum Thi Duang Trong He Thong Cong Doan. Giai Phap, De Xuathco, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ, Đảng Lãnh Đạo Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Độc Lập Dan Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội Giai Đoạn 19, Vai Tro Lanh Dao Cua Chi Bo Trong Thuc Hien Nhiem Vhiệm Vu Chinh Tri Và Cong Tac Xay Dung Dang, Phân Tích Chủ Trương Của Đảng Và Kết Quả Thực Hiện Công Tác Thanh Niên Giai Đoạn 2011-2020, Tiểu Luận Quan Điểm Của Đảng Csvn Về Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Trong Giai, Giai Phap Nang Cao Tinh Than Doan Ket Noi Bo, Doan Ket Quan Nhan, Doan Ket Quóc Te, Phan Dau Xung Da, Giai Phap Nang Cao Tinh Than Doan Ket Noi Bo, Doan Ket Quan Nhan, Doan Ket Quóc Te, Phan Dau Xung Da, Hoach Yeu Cau Giai Phap Nang Cao Tinh Than Doan Ket Noi Bo Doan Ket Quan Dan Doan Ket Quoc Te Phan D, Giải Pháp Nâng Cao Tinh Thần Đoàn Kết Nội Bộ, Đoàn Kết Quân Nhân, Đoàn Kết Quốc Tế, Đ/c Nêu Những Giải Pháp Nâng Cao Tinh Thần Đoàn Kết Nội Bộ, Đoàn Kết Quân Dân, Đoàn Kết Quốc Tế, Phấ, Đ/c Nêu Những Giải Pháp Nâng Cao Tinh Thần Đoàn Kết Nội Bộ, Đoàn Kết Quân Dân, Đoàn Kết Quốc Tế, Phấ, Nội Dung, Giải Pháp Của Đảng Và Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh Và Đối Ngoại, Đồng Chí Hãy Trình Bày Những Nội Dung, Giải Pháp Cơ Bản Của Đảng , Nhà Nước Ta Về Quản Lý Và Bảo Vệ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Đề Xuất Kiến Nghị Những Giải Pháp Để Tổ Chức Thực Hiện Nghị Quyết Trong Thời Gian Tới, Giải Bài Hỗn Hợp X Gờm Ankin Kế Tiếp Trong Cùng Dãy Đồng Đẳng . Dẫn 5,6 Lít Hỗn Hợp X Qua Bình Đựng, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Báo Cáo Tham Luận Nội Dung “kết Quả Thực Hiện Nhiệm Vụ Công Tác Đảng Gắn Với Nhiệm Vụ Chuyên Môn, Nh, Báo Cáo Tham Luận Nội Dung “kết Quả Thực Hiện Nhiệm Vụ Công Tác Đảng Gắn Với Nhiệm Vụ Chuyên Môn, Nh, Nhiệm Vụ, Giải Pháp Về Bảo Vệ Môi Trường, Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vên An Toàn, An Ninh Mạng, Báo Cáo Thực Hiện Đề án 89 Giai Đoạn 2012- 2022, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhân Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn…, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, A, Những Yêu Cầu, Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, A, Yeu Cau, Giai Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn Mạng, Bài Tham Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Về Bảo Đảm Antt, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Bài Tham Luận Hay Về Nhiệm Vụ Giải Pháp Đảm Bảo Anct-atxh, Thất Nghiệp ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp., Báo Cáo Thành Tích Thực Hiện Đề án 89 Giai Đoạn 2012- 2022,

    Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay. , Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nhiệm Vụ Và Giai Pháp Xây Dựng Đẳn Trong Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Các Đồng Chí Hẫy Trình Bày Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Tron Sạch Vững Mạnh Trong Giai Đoạn H, Bài Thu Hoạch Nêu Những Nhiệm Vụ Chủ Yếu Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Những Nhiệm Vụ Chủ Yếu Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phan Tich Nhiem Vu Va Giai Phap Xay Dung Dang Trong Sach Hien Nay, Tiểu Luận Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Hiện Nay, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai, Các Đồng Chí Hãy Trình Bày Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh Trong Giai , Nhiẹm Vu Giải Pháp Xây Dụng Đảng Hiên Nay, Bài Thu Hoạch Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nội Dung Phát Huy Sưc Manh Toàn Đan Tộc Của Đảng Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Nội Dung Phấn Đấu Rèn Luyện Của Đảng Viên Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Chỉ Thị Mà Đảng Và Nhân Dân Ta Đang Thực Hiện Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2022 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Bai Thu Hoạch Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chủ Đề 2022 Về Tăng Cường Khối Đại Đoàn Kế, Phương Hướng Nhiệm Vụ Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Đảng Nhiệm Kỳ Đại Hội Xiii, Tiểu Luận Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Nó Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Bai Thu Hoach Ve Chu Nghia Mac Lenin Va Tu Tuong Ho Chi Minh Cua Dang Trong Giai Doan Hien Nay, Quan Điểm Cơ Bản Của Đảng Ta Về Phát Triển Kinh Tế Trong Giai Đoạn Hiện Nay Về, Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh Của Đảng Ta 2022, Tiểu Luận Thực Trạng Nhiệm Vụ Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Đảng Viên, Liên Hệ Giải Pháp Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân Trong Các Trường Học, Bao Cao Tham Luan Giai Phap Xay Dung Dang Bo Trong Sach Vung Manh, Chuyen De Giải Pháp Xây Dựng Đảng Bộ, Chi Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh Hoặc Cũng Cố Cơ Sở Yếu Kém., Nội Dung Chủ Yếu Của Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Giai Đoạn Hiện Nay 1. Mục Tiêu : * Mục Tiêu T, Nội Dung Chủ Yếu Của Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Giai Đoạn Hiện Nay 1. Mục Tiêu : * Mục Tiêu T, Nội Dung Giải Pháp Nâng Cao Tinh Thần Đoàn Kết Nội Bộ, Đoàn Kết Quân Dân, Đoàn Kết Quốc Tế, Phấn Đấu, Nội Dung Giải Pháp Nâng Cao Tinh Thần Đoàn Kết Nội Bộ, Đoàn Kết Quân Dân, Đoàn Kết Quốc Tế, Phấn Đấu, – Giải Pháp Xây Dựng Đảng Bộ, Chi Bộ Trong Sạch, Vững Mạnh Hoặc Củng Cố, Khắc Phục Cơ Sở Yếu Kém;, Nhiệm Vụ Của Thư Ký Trong Giai Đoạn Thụ Lý Vụ án Dân Sự Sơ Thẩm, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Cong Tac Phat Trien Đoan Vien , Nhiem Vu ,giai Phap, Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Na, Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Nhiệm Vụ Giải Pháp Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái Thù Địch Hiện Nay, Giải Pháp Xây Dựng Đoàn Kết Nội Bộ, Bài Thu Hoạch Nhiệm Vụ Giải Pháp Đấu Tranh Với Các Quan Điểm Sai Trái Thù Địch Hiện Nay, Tiểu Luận Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Mới Hiện Nay, Trình Bày Những Nhiệm Vụ Giải Pháp Củ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Gia, Có Thể Thực Hiện Giải Pháp Nào Sau Đây Trong Mạch Dao Động Anten?, 4 Giai Đoạn Của Quá Trình áp Dụng Pháp Luật, Tinh Bay Nhiem Vu Giai Phap Chu Yeu Trong Linh Vuc Quoc Phong An Ninh, Phát Huy Dân Chủ Trong Giai Đoạn Hiện Nay Giư Nghiem Kỷ Luat Quan Doi Xung Danh Bo Doi Cụ Ho, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Những Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Thực Tiễn Kinh Nghiệm Nhìn Từ Góc Độ Xây Dựng Đảng Trong Giai Đoạn Hiện Nay (Kỳ Ii)
  • Quan Điểm Và Những Giải Pháp Mới Về Xây Dựng Đảng Trong Văn Kiện Đại Hội Xii
  • Phương Hướng Nhiệm Vụ Giải Pháp Công Tác Xây Dựng Đảng Nhiệm Kỳ Đại Hội Xiii
  • Đột Phá Trong Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Xây Dựng Lực Lượng Dân Quân Tự Vệ Trong Tình Hình Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảnh Sát Biển Việt Nam
  • Tăng Cường Xây Dựng Chính Quy, Rèn Luyện Kỷ Luật Để Llvt Tỉnh Luôn Vững Mạnh Toàn Diện
  • Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Với Người Chưa Thành Niên
  • Hỏi Đáp Pháp Luật: Các Biện Pháp Thay Thế Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Đối Với Người Chưa Thành Niên
  • Xây Dựng Đội Vững Mạnh Là Xây Dựng Đoàn Trước Một Bước
  • XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

     

    Cách đây 85 năm (28/3/1935), Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ I đã thông qua “Nghị quyết về đội tự vệ”. Đây là nghị quyết đầu tiên của Đảng về tổ chức, chỉ đạo xây dựng, huấn luyện và hoạt động của lực lượng tự vệ. Ngày này đánh dấu mốc son ra đời và trở thành ngày truyền thống của dân quân tự vệ (DQTV) Việt Nam.

    Sau khi độc lập, thống nhất, cả nước đi lên CNXH; lực lượng DQTV trong cả nước tiếp tục có bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng. Tổ chức biên chế gọn hơn, nhưng chất lượng được nâng cao, từng bước đổi mới nội dung huấn luyện và phương thức hoạt động gắn chặt với thế trận khu vực phòng thủ, góp phần tích cực cùng quân, dân cả nước từng bước làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ XHCN.

    Theo Luật Dân quân tự vệ số 43/2009/QH12 ngày 23/11/2009 của Quốc hội Việt Nam khóa XII, dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác. Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan, tổ chức gọi là tự vệ. Dân quân tự vệ vừa là dân lại vừa là quân, vừa có nghĩa vụ xây dựng đất nước vừa có nghĩa vụ tham gia bảo vệ Tổ quốc. Là một trong các thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân, được tổ chức rộng rãi trong toàn quốc đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền, sự chỉ huy thống nhất của quân đội mà trực tiếp là cơ quan quân sự địa phương các cấp.

    Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, lực lượng dân quân tự vệ nói riêng là chủ trương chiến lược của Đảng, Nhà nước ta, nhằm không ngừng tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đó còn là nhân tố quan trọng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên từng khu vực, địa bàn và cả nước.Lực lượng dân quân địa phương, tự vệ các cơ quan, tổ chức được xây dựng vững mạnh, rộng khắp, đủ sức phối hợp cùng các lực lượng giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân.

    Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực, hòa bình, hợp tác vẫn là dòng chảy chính, song cũng tiềm ẩn những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường tồn tại nhiều khó khăn, thách thức. Do  vậy trước hết cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp về xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trong tình hình mới trong đó coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trên các địa bàn chiến lược trọng điểm (đô thị lớn, biên giới, hải đảo). Đi đôi với công tác lãnh đạo, cần tăng cường công tác quản lý đối với lực lượng dân quân tự vệ cả về số lượng, chất lượng. Đổi mới công tác huấn luyện DQTV thông qua việc tổ chức các hội thi, hội thao, diễn tập để nâng cao trình độ năng lực và khả năng phối hợp với lực lượng công an gìn giữ an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, tập trung bảo vệ các ngày lễ, tết, xung kích trong vận động quần chúng thực hiện các chính sách của Đảng và nhà nước, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”. 

    Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư lệnh thành phố và Ban Chỉ huy Quân sự quận 5, hiện nay lực lượng tự vệ của Bệnh viện Hùng Vương được tổ chức thành 6 tiểu đội thuộc 2 trung đội với 62 cán bộ chiến sĩ. Nòng cốt của lực lượng tự vệ bệnh viện là các nam cán bộ, nhân viên đã qua đào tạo Sĩ quan dự bị, các cựu chiến binh, cựu quân nhân đã được huấn luyện trong môi trường quân ngũ được phân bổ đều ở các khoa phòng. Để đảm bảo sự lãnh đạo thường xuyên và trực tiếp của cấp uỷ và chính quyền cơ sở, Bộ Tư lệnh thành phố đã phê chuẩn Ban Chỉ huy quân sự bệnh viện Hùng Vương gồm chúng tôi Hoàng Thị Diễm Tuyết, Bí thư Đảng uỷ kiêm Giám đốc bệnh viện là Chính trị viên, BsCKII Huỳnh Xuân Nghiêm, phó Bí thư Đảng uỷ kiêm phó Giám đốc bệnh viện là Chỉ huy trưởng, BsCKII Phạm Quốc Hùng, Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh là Chính trị viên phó và Ks Nguyễn Trần Trọng Hiếu, phó Trưởng phòng Hành chính Quản trị là Chỉ huy phó. Nhiệm vụ của đơn vị tự vệ bệnh viện là xung kích trong vận động quần chúng thực hiện các chính sách của Đảng và nhà nước, thường xuyên huấn luyện để đảm bảo an ninh trật tự đối với mục tiêu trực tiếp là Bệnh viện Hùng Vương trước mọi tình huống, bảo vệ tuyệt đối an toàn đối với hoạt động của bệnh viện, tính mạng và tài sản của người bệnh cũng như cán bộ nhân viên bệnh viện và sẵn sàng tham gia gìn giữ an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn phường 12. Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tích cực đóng góp vào việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhằm không ngừng tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc nói chung và góp phần xây dựng và phát triển Bệnh viện Hùng Vương nói riêng trong tình hình mới.

    Phạm Quốc Hùng

    Tháng 3/2020

     

     

    Bài viết khác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Gắn Với Thế Trận An Ninh Nhân Dân
  • Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Gắn Với Nền An Ninh Nhân Dân Vững Mạnh
  • Hướng Dẫn Xử Lý Học Sinh Vi Phạm Nội Quy
  • Hình Thức Xử Phạt Và Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Đối Với Người Chưa Thành Niên Trong Dự Thảo Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Cách Thi Công Băng Cản Nước Waterstop V
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100