Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Mĩ Thuật Ở Tiểu Học Theo Chủ Đề Đan Mạch

--- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phép Chia Cho Học Sinh Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn “tập Đọc” Lớp 3 Theo Hướng Tích Cực Hóa Hoạt Động Của Học Sinh
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tập Làm Văn Cho Học Sinh Lớp 3 Trường Tiểu Học Ninh Xá
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Văn Miêu Tả Lớp 4.
  • Mĩ thuật là một trong những môn nghệ thuật. Nếu dạy học là khó thì dạy nghệ thuật càng khó, cần phải mang tính nghệ thuật cao hơn. Vì học mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người, làm cho mọi người nhìn ra cái đẹp, thấy cái đẹp có ở trong mình, xung quanh mình, gần gũi và đáng yêu. Đồng thời mĩ thuật giúp mọi người tự tạo ra cái đẹp theo ý mình và biết thưởng thức nó ngay trong sinh hoạt thường ngày của mình, làm cho cuộc sống thêm hài hoà hạnh phúc. Nếu muốn có những tiết học hay, muốn có những bài vẽ đẹp của các em thì những yếu tố quyết định chất lượng của việc dạy và học chính là khả năng dẫn dắt, truyền đạt kiến thức của mỗi giáo viên. Để có được điều đó ngoài năng khiếu sư phạm, mỗi giáo viên cần phải có những kinh nghiệm qua cả một quá trình giảng dạy. Nhưng làm thế nào để rút ra được những kinh nghiệm lại là cả một vấn đề. Giáo viên có thể tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, nhưng cái chính là phải tự thân vận động của mỗi cá nhân, có như thế mới xử lý linh hoạt các tình huống sư phạm, không rập khuôn, lý thuyết.

    MỤC LỤC I. MỤC LỤC Trang 01 I. MỞ ĐẦUTrang 02 1. Lí do chọn đề tài......Trang 02 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài. Trang 03 3. Đối tượng nghiên cứu..........Trang 03 4. Phương pháp nghiên cứu.....Trang 03 II. NỘI DUNG SKKN........Trang 04 1. Cơ sở lí luận......Trang 04 2. Thực trạng.....Trang 05 2.1. Thực trạng chung .....................................................................Trang 05 2.2. Thực trạng về giáo viên và học sinh.Trang 05 3. Các giải pháp thực hiện.. Trang 07 3.1. Lập kế hoạch bài học theo phương pháp mới của Đan Mạch. .Trang 07 3.3. Vận dụng 7 quy trình mĩ thuật mới phù hợp với HS tiểu học .....Trang 09 3.4.Tạo không khí lớp học............................................................... Trang 10 3.5. Việc nhận xét, đánh giá sản phẩm của học sinh.............................. Trang 11 4. Hiệu quả của SKKN ............Trang 12 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trang 13 1. Kết luận . ...... Trang 13 2. Kiến nghị . ..... Trang 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO .... Trang 15 I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Mĩ thuật là một trong những môn nghệ thuật. Nếu dạy học là khó thì dạy nghệ thuật càng khó, cần phải mang tính nghệ thuật cao hơn. Vì học mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người, làm cho mọi người nhìn ra cái đẹp, thấy cái đẹp có ở trong mình, xung quanh mình, gần gũi và đáng yêu. Đồng thời mĩ thuật giúp mọi người tự tạo ra cái đẹp theo ý mình và biết thưởng thức nó ngay trong sinh hoạt thường ngày của mình, làm cho cuộc sống thêm hài hoà hạnh phúc. Nếu muốn có những tiết học hay, muốn có những bài vẽ đẹp của các em thì những yếu tố quyết định chất lượng của việc dạy và học chính là khả năng dẫn dắt, truyền đạt kiến thức của mỗi giáo viên. Để có được điều đó ngoài năng khiếu sư phạm, mỗi giáo viên cần phải có những kinh nghiệm qua cả một quá trình giảng dạy. Nhưng làm thế nào để rút ra được những kinh nghiệm lại là cả một vấn đề. Giáo viên có thể tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, nhưng cái chính là phải tự thân vận động của mỗi cá nhân, có như thế mới xử lý linh hoạt các tình huống sư phạm, không rập khuôn, lý thuyết. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Tìm ra những cơ sở lí luận, các phương pháp dạy học, tìm ra những cái hay, cái đẹp những vấn đề thường gặp, những tình huống và những cái còn hạn chế để có những biện pháp khắc phục những gì chưa làm được. 3. Đối tượng nghiên cứu: 4. Phương pháp nghiên cứu: Để việc nghiên cứu đạt được kết quả tốt tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là các phương pháp: 1. Phương pháp vấn đáp: Là phương pháp mà giáo viên sẽ dùng một hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời bằng miệng nhằm thu được những thông tin nói lên nhận thức hoặc thái độ của cá nhân đối với vấn đề học bộ môn Mĩ thuật theo phương pháp mới. 2. Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dục trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động dạy - học cho ta những tài liệu về thực tiễn để có thể nắm bắt một cách hiệu quả và chính xác. Thông qua quá trình quan sát, giáo viên ghi nhận lại tình hình học tập của học sinh, những vấn đề nảy sinh trong quá trình giảng dạy nhằm tìm ra biện pháp giải quyết thích hợp nhất. 3. Phương pháp trải nghiệm: Giáo viên giúp cho HS có những trải nghiệm để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển khả năng sáng tạo và biểu đạt . Giáo viên phải chủ động tác động vào học sinh và quá trình dạy - học để hướng theo mục tiêu dự kiến của mình. Nếu giáo viên biết cách vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tế thì sẽ không còn gặp khó khăn gì. II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Cơ sở lí luận: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Đồng thời còn nêu rõ: "Mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp cho học sinh những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách một con người, chuẩn bị tốt cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao động để học sinh tiếp tục học lên trung học hoặc đi vào cuộc sống tùy theo nhu cầu và nguyện vọng bằng những hình thức thích hợp". Điều này khẳng định giáo dục thẩm mĩ trong trường Tiểu học là một nội dung có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các mặt giáo dục khác, tạo nên sự hoàn thiện trong việc phát triển nhân cách của học sinh. Chính vì vậy việc giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh có trình độ văn hoá thẩm mĩ là hết sức cần thiết. Ở løa tuæi häc sinh tiÓu häc c¸c em cßn qu¸ nhá v× vËy c¸c em thÝch vÏ theo ý cña m×nh h¬n lµ vÏ theo sù hưíng dÉn cña gi¸o viªn. NghÜ g× lµ vÏ nÊy, ®ặt bót lµ vÏ kh"ng theo tr×nh tù, khu"n khæ c¸c bưíc vÏ. ThËm chÝ trong qu¸ tr×nh lµm bµi, c¸c em cßn kh"ng muèn cho gi¸o viªn hay c¸c b¹n nh×n thÊy sî c¸c b¹n hay c" gi¸o nh×n thÊy l¹i chª. ChÝnh v× vËy mµ người gi¸o viªn cÇn hiÓu vµ hướng dÉn c¸c em dÇn dÇn, ®Ó c¸c em n¾m b¾t vµ thÊy được t¸c dông cña viÖc vÏ tranh ®óng ®em l¹i cho bµi vÏ cña m×nh cã mét kÕt qu¶ tèt. Để tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục mĩ thuật ở trường tiểu học người giáo viên có thể thấy vai trò của mình là cầu nối giữa phương pháp, nhà trường với học sinh, tạo thành một hệ thống liền mạch, chặt chẽ, tác động qua lại với nhau. Phải biết xây dựng kế hoạch, tạo điều kiện cho HS học qua nhiều kênh hình, kênh chữ, xây dựng được môi trường học tập thân thiện. Quá trình học chính là sự tích lũy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Dự án này nhằm truyền cảm hứng cho giáo viên dạy Mĩ thuật để hỗ trợ học sinh phát triển khả năng tiếp thu thẩm mĩ và sáng tạo, bằng cách khuyến khích các em trải nghiệm, sáng tạo, bày tỏ, hợp tác và giao tiếp với nhau qua các hoạt động mĩ thuật thực tế. Thông qua hoạt động thực tế, học sinh tự mình làm giàu cách biểu đạt, phân tích, đánh giá, lựa chọn và nhận thức để hình thành, phát triển những năng lực ở cá nhân. Cùng lúc với việc phát triển những năng lực này, học sinh cũng có thể phát triển các giác quan, các kĩ năng sống, kinh nghiệm và khả năng giải quyết vấn đề, các năng lực hợp tác, khả năng tự học và tự đánh giá, phân tích, trình bày. Mục tiêu bài học: Mỗi bài học, tiết học đều có mục tiêu chung là hướng tới hình thành cho học sinh phát huy khả năng tưởng tượng, sáng tạo và năng lực diễn đạt bằng lời nói, học sinh tưởng tượng và sáng tạo được một câu chuyện bằng ngôn ngữ mĩ thuật. Điều kiện tiên quyết: Đó là những yêu cầu thiết yếu để quá tình giảng dạy có hiệu quả, bao gồm: Tạo điều kiện để học sinh học qua nhiều kênh; chú ý khả năng, phong cách học của từng học sinh; kết hợp kiến thức của bản thân học sinh và chiến lược học tập;xây dựng môi trường học tập thân thiện, truyền cảm hứng cho các em. Đánh giá: Đánh giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình thực hiện.[1] S TT CHỦ ĐỀ SỐ TIẾT MỤC TIÊU GIÁO DỤC QUY TRÌNH THỰC HIỆN TUẦN 1 Mùa hè của em 3 - Kể ra được các hoạt động đặc trưng của các em trong mùa hè. Lựa chọn các hoạt động yêu thích và tạo hình được dáng người phù hợp với hoạt động đó. - Giới thiệu nhận xét và nêu cảm nhận về sản phẩm của nhóm mình, nhóm bạn. Vẽ cùng nhau, tạo hình 3D 1,2,3 2 Những con vật sống dưới nước 2 - Nhận ra và nêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Về Môn Mĩ Thuật Với Loại Bài “vẽ Trang Trí”
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Mĩ Thuật Ở Tiểu Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Sinh Học Lớp 8 Cho Học Sinh Ở Trường Thcs Lâm Xa
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Trong Giờ Dạy Môn Sinh Học Lớp 9
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Sinh Học Ở Việt Nam
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề: Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Lịch Sử Lớp 5
  • 5 Cách Tránh Thai Hiệu Quả Nhất Hiện Nay (Siêu Đơn Giản Và An Toàn)
  • Tuyển Tập 12 Cách Tránh Thai An Toàn, Hiệu Quả Không Tác Dụng Phụ
  • 12+ Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn, Đơn Giản, Phổ Biến Nhất
  • 9 Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Khoa Học Nhất Chị Em Nên Biết
  • Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học

    Hoatieu.vn xin gửi tới bạn đọc bài viết một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học để bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết nêu rõ một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học ở trường tiểu học. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết bài viết để có thể viết được bài thu hoạch tốt nghiệp lớp quản lý giáo dục cho mình.

    Biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở Tiểu học

    1. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học

    1. Biện pháp xây dựng đội ngũ trong tập thể sư phạm.

    Trường học – tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục – nơi tập trung những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Mà giáo viên là lực lượng nồng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; là người không chỉ thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, phụ huynh học sinh mà còn thể hiện nhiệm vụ với xã hội, với vân mệnh và tương lai của đất nước. Chính vì vậy công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường là vấn đề quan trọng. Vì có một tập thể đoàn kết thì mới có một tập thể vững mạnh, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học. Mỗi cá nhân là một thành viên tích cực nêu cao quan điểm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến đóng góp, xây dựng cho đồng chí, đồng đội, cùng phát triển về công tác chuyên môn (về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, về biện pháp giáo dục học sinh,…), quan tâm giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn cùng nhau hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, có một tập thể đoàn kết mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học. Có sự đoàn kết, thống nhất như vậy sẽ góp phàn nâng cao nhận thức về chuyên môn, nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường.

    Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích giáo viên đọc sách báo, tham khảo tài liệu về chính trị, văn hóa, pháp luật…

    Phân công chuyên môn phù hợp với năng lực, sở trường của từng giáo viên, tạo mọi điều kiên thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Đi kèm theo công tác phân công chính là công tác kiểm tra đánh giá kết quả lao động của cá nhân, tập thể được phân công, để đánh giá mức độ hoàn thành công việc như thế nào. Từ đó có bài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời kịp thời phát hiện năng lực của giáo viên và có kế hoạch bồi dương phát huy hoặc khuyến khích giáo viên tiến bộ.

    Thường xuyên mở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các buổi thao giảng, phối hợp mở các buổi hội giảng trao đổi về phương pháp giảng dạy, biện pháp giáo dục học sinh.

    Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập, giao lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.

    Thực hiện tốt công tác dân chủ trong nhà trường. có biện pháp, chế độ tùy theo kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được phân công, tham mưu tốt với ban ngành đoàn thể đảm bảo quyền lợi của anh chị em trong lao động.

    2. Biện pháp về hoạt động giảng dạy của giáo viên. 2.1. Biện pháp xây dựng nề nếp, kỷ cương trong hoạt động giảng dạy của giáo viên

    Xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường. Quy chế chuyên môn trong nhà trường là một trong những công cụ để đánh giá quá trình lao động của người giáo viên. Việc thực hiện tốt quy chế chuyên môn trong nhà trường của giáo viên là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy.

    – Trên cơ sở: Quyết định 14 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học ngày 04 tháng 05 năm 2007 của Quyết định 16 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao về việc Vi phạm đạo đức nhà giáo ngày 16 tháng 04 năm 2008; căn cứ điều lệ trường tiểu học; căn cứ văn bản chỉ đao của lãnh đạo Phòng GD&ĐT và căn cứ tình hình thực tế của đơn vị. Hiệu trưởng xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường như quy định về đạo đức, tác phong sư phạm, tác phong của nhà giáo, quy định giờ ra vào lớp, quy định về hồ sơ sổ sách, lịch trình duyệt các kế hoạch. Giáo viên soạn giảng đủ môn, đủ tiết, số tiết dự giờ trên tuần ( rút kinh nghiệm,dự giờ để đánh giá), số lần tham gia sinh hoạt chuyên môn.duy trì sĩ số lớp…

    – Phát động phong trào Thi đua-Dạy tốt-Học tốt, tiến hành bàn giao số lượng, chất lượng (cụ thể từng đối tượng học sinh về lực học, về sở trường, về cá tính của học sinh…) của lớp dưới lên lớp trên để giáo viên mới có cơ sở xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm của năm học, đăng kí chỉ tiêu phấn đấu, xây dựng kế hoạch giảng dạy.

    – Phối hợp với Ban chấp hành công đoàn phát động phong trào “Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”. qua đó vận động giáo viên chấp hành nghiêm túc quy chế chuyên môn của nhà trường.

    2.2. Biện pháp chỉ đạo việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy của cấp quản lí giáo dục:

    Việc tố chức thực hiện chương trình và xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường nên Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở như: căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, các chỉ thị của ngành, của địa phương, căn cứ vào đặc điểm tình hình của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình sao cho vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo hoàn thành chương trình theo tinh thần chỉ đạo ngành.

    Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh, biện pháp khắc phục, biên chế nội dung chương trình cho cả năm học và cho tùng thời điểm, lập thời khóa biểu cho các khối lớp, phân phối chương trình.

    Tập trung nghiên cứu kĩ các văn bản chỉ đạo về chuyên môn, nghiên cứu về nội dung chương trình sách giáo khoa, căn cứ đặc điểm tâm lí của trẻ. Hướng dẫn tổ chuyên môn, giáo viên phối hợp với kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt động phù hợp với đối tượng học sinh. Thực hiện chương trình một cách vừa và đủ đảm bảo tham gia các hội thi mà cấp trên tổ chức, như thi: Violumpic Tiếng Anh, giải toán trên Internet… Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo điều lệ trường tiểu học, nội dung sinh hoạt đa dạng phong phú: trao đổi về phương pháp dạy học, trao đổi về kết quả nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, trao đổi về phương pháp xác định mục tiêu của bài học – xác định mảng kiến thức trọng tâm của một bài, một môn, trao đổi về biện pháp giáo dục học sinh hướng dẫn học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện.

    2.3. Biện pháp chỉ đạo thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên và việc lựa chọn đồ dùng dạy học của giáo viên:

    Thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên là việc làm quan trọng, thực hiện quy chế chuyên môn trong trường tiểu học. Là khâu mà bất kì giáo viên trực tiếp giảng dạy nào cũng phải có, vì trong quá trình thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp giúp giáo viên có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu về nội dung, tuy nó chưa phải là dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy để có biện pháp xử lí kịp thời đúng đắn. Và thiết kế bài dạy được xem là công cụ để thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và cũng là một trong những việc làm góp phần quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Do đó cần tập trung chỉ đạo việc thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên cụ thể như sau:

    -Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản về việc thiết kế bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng đến tổ khối, giáo viên.

    Kế hoạch bài giảng của giáo viên phải thể hiện:

    – Mục tiêu đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học dành cho đối tượng học sinh trong lớp.

    – Tăng cường trang bị về thiết bị, đồ dùng dạy học, khuyến khích gíao viên đẩy mạnh công nghệ thông tin vào giảng dạy. Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung bài, đồng thời trong quá trình chuẩn bị phải thể hiện được đồ dùng phục vụ cho người dạy và đồ dùng phục vụ cho người học. Vì đồ dùng dạy học rất quan trọng trong việc dạy học ở tiều học giúp học sinh nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Ngoài đồ dùng trực quan sinh động mà giáo viên đã chuẩn bị thì còn hình ảnh trực quan sinh động hơn là người giáo viên: cần có ngoại hình cân đối, giọng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, cử chỉ mềm mại, điệu bộ duyên dáng, thái độ ân cần… sẽ thu hút sự chú ý học tập của học sinh cao hơn, tăng thêm sự hứng thú nhận thức của trẻ.

    – Nội dung cơ bản của kế hoạch phải thể hiện rõ hoạt động của thầy, hoạt động của trò, hoạt động trọng tâm của bài, dự kiến thời gian của từng hoạt động; mỗi hoạt động đều thể hiện được mục tiêu, nhiệm vụ, nêu cách tổ chức của thầy, dự kiến câu trả lời của học sinh và kết luận của giáo viên. Không ghi những vấn đề không cần thiết.

    Nội dung giáo án ngắn gọn, xúc tích đảm bảo nội dung trọng tâm của bài, logic khoa học, lựa chọn phương pháp giảng dạy (thể hiện sự hệ thống việc làm của thầy – trò, hình thức tổ chức phù hợp với môn học, lớp học với đối tượng học sinh).

    Quy định thời gian kí duyệt kế hoạch giảng dạy của giáo viên trước khi lên lớp thực hiện tiết dạy.

    2.4. Biện pháp quản lí giờ lên lớp của giáo viên:

    Giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học để thực hiện mục tiêu dạy học.

    Trong nhà trường tiểu học hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động là hoạt động chính. Hiện nay quá trình dạy học chủ yếu đa số là diễn ra trong lớp học. Giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học cơ bản, trong đó giáo viên là người trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm. Do vậy, giờ lên lớp thể hiện rõ nhất trách nhiệm và khả năng của giáo viên. Vì vậy hiệu trưởng quản lí giờ lên lớp của giáo viên như:

    – Tổ chức thực hiện tốt kỉ luật lao động trong nhà trường, khuyến khích giáo

    viên thực hiện tốt giờ lên lớp.

    – Thực hiện chương trình đảm bảo đúng quy chế chuyên môn, quy định của ngành. Duy trì và thực hiện tốt giờ lên lớp.

    2.5. Biện pháp quản lí việc dự giờ của giáo viên:

    Dự giờ là công việc đặc thù, cơ bản, là biện pháp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho mỗi cá nhân giáo viên một cách hiệu quả nhất.

    Căn cứ vào điều lệ Trường tiểu học thì đối với giáo viên số tiết dự giờ ít nhất 1 tiết/tuần, đối với tổ chuyên môn ít nhất 2 tiết/tuần.

    Để công tác dự giờ có hiệu quả, trước khi dự giờ giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài, xác định mục tiêu, xác định mảng kiến thức trọng tâm, lựa chọn phương pháp, đồ dùng dạy học, dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy.

    Tiến hành dự giờ: khi dự giờ không trao đổi, làm việc riêng mà tập trung theo dõi hoạt động của thầy và trò, thông qua các hoạt động, hệ thống câu hỏi, câu trả lời và cách đánh giá học sinh của người dạy.

    Để có cơ sở đánh giá, đóng góp, xây dựng cho đồng nghiệp, để học tập ở đồng nghiệp, người dạy cũng chú ý lắng nghe bày tỏ quan điểm phân tích sư phạm cùng nhau đi đến thống nhất cho một tiết dạy, có những kiến nghị phù hợp.

    Căn cứ công văn số 10358/BGD&ĐT-GDTH ngày 28 tháng 09 năm 2007 Hướng dẫn việc sử dụng chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học trong quá trình đánh giá xếp loại. Quy định về cách đánh giá xếp loại tiết dạy gồm 4 lĩnh vực: Kiến thức, kĩ năng sư phạm, thái độ sư pham, hiệu quả. Bốn lĩnh vực có điểm tối đa là 20; xếp loại: Tốt, Khá, Trung bình và chưa đạt.

    3. Biện pháp chỉ đạo về kiểm tra- đánh giá kết quả việc học tập của học sinh

    Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng là thể hiện thành tích của giáo viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ và sự chỉ đạo cuả nhà trường. Do đó đánh giá với tinh thần nghiêm túc, thái độ khách quan, chống khuynh hướng nhận xét, đánh giá một cách hình thức, thiếu tinh thần trách nhiệm thì sẽ không khắc phục được những hạn chế mắc phải trong học sinh dẫn tới không chỉ hạn chế trong chất lượng giáo dục mà dẫn tới tiêu cực trong giáo dục, đánh giá không đúng, thiếu trung thực sẽ dẫn tới tình trạng nguy hiểm như học sinh ngồi nhằm lớp, thì ảnh hưởng đến uy tính của ngành giáo dục… Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, hiệu trưởng có những biện pháp chỉ đạo như sau:

    – Triển khai, phổ biến các văn bản quy định về kiểm tra đánh giá và ghi điểm; lập kế hoạch kiểm tra đánh giá thường xuyên, đánh giá theo thời điểm và phổ biến các quy định về nề nếp kiểm tra sâu rộng trong tập thể sư phạm của nhà trường.

    – Tổ chuyên môn tiến hành nghiên cứu những quy định kiểm tra – đánh giá nhận xét học sinh, lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá, nhận xét học sinh thường xuyên và theo từng thời điểm. Nội dung kiểm tra học sinh theo thời điểm được đưa ra tập thể tổ trao đổi cùng thống nhất nội dung ôn tập và ra đề kiểm tra. Ngoài đánh giá về năng lực, phẩm chất, sự rèn luyện của học sinh còn đánh giá về các phong trào như Vở sạch chữ đẹp, …Tổ chức thực hiện tốt theo quy định tại thông tư 32 của Bộ GD&ĐT quy định về đánh giá xếp loại học sinh, căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng để đánh giá, tiến hành đánh giá đúng thực lực của học sinh ở từng môn học.

    4. Biện pháp chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh 4.1. Xây dựng nề nếp, kỉ cương trong hoạt động học tập của học sinh:

    Trong nhà trường, việc xây dựng nề nếp, kỉ cương có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó không chỉ là điều kiện để thực hiện tốt việc dạy và học trên lớp mà còn giáo dục học sinh ý thức, chấp hành tổ chức kỉ luật góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh. Do đó cần:

    – Xây dựng nội quy học sinh, triển khai sâu rộng trong giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh ngay đầu năm học. Đặc biệt người làm thầy phải chú ý lắng nghe ý kiến của người học để nghiên cứu và có biện pháp phát huy tài năng của học sinh và kịp thời uốn nắn giúp học sinh rèn phát triển đúng đắn hơn.

    – Giáo viên tìm hiểu tâm lí của học sinh, tìm hiểu về khả năng và nhu cầu của từng em để có biện pháp giáo dục đạo đức, có biện pháp giúp đỡ sự rèn luyện của họ sinh. Tổ chức thi đua theo tổ, cá nhân học sinh về học tập, về lao động vệ sinh, về thực hiện nề nếp, thực hiện phong trào giúp bạn vượt khó,… tổ chức bình chọn học sinh gương mẫu, tổ tiên tiến… vào cuối tuần theo dõi thường xuyên và liên tục uốn nắn các hành vi của học sinh.

    – Phối hợp với Đoàn thanh niên – Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, phát động phong trào thi đua, động viên, khuyến khích học sinh chấp hành tốt nội quy, thường xuyên đánh giá xếp loại thi đua hàng tuần để kịp thời tuyên dương tập thể cá nhân có thành tích tốt, giúp cá nhân học sinh kịp thời điều chỉnh việc làm không phù hợp, khắc phục hạn chế của bản thân dần dần hoàn thiệ nhân cách ở học sinh.

    4.2. Biện pháp chỉ đạo nhằm giáo dục động cơ học tập của học sinh:

    Hoạt động học tập là hoạt động cơ bản của học sinh, hoạt động này có hiệu quả cao hay không thỉ còn tùy thuộc vào tinh thần, thái độ học tập của các em. Vì vậy là người làm nhiệm vụ trồng người cần phải có biện pháp giáo dục cho học sinh tính tự giác trong học tập của học sinh, thông qua các tiết dạy giáo viên thường xuyên động viên khích lệ sự vươn lên trong học sinh, giáo dục và ươm mầm ước mơ, khơi dậy hoài bảo ở mỗi em.

    Tổ chức các hội thi, tạo cơ hội cho học sinh thể hiện tài năng của mình, tạo cơ hội cho học sinh thể hiện niềm đam mê.

    Giáo dục học sinh thông qua các tiết sinh hoạt đưới cờ, các buổi sinh hoạt Đội, sinh hoạt Sao, nhân dịp lễ hội.

    Giáo dục trong tiết sinh hoạt cuối tuần, trong tiết dạy, qua bài học, qua việc làm tốt của bạn, qua kết qua học tập của bạn, của bản thân học sinh,…

    Thông qua quá trình thực hiên tiết dạy của giáo trên lớp nên tạo ra cơ hội cho học sinh phát biểu, học sinh tích cực xây dựng bài, giáo dục cho học sinh hiểu học tập vừa là quyền được học lại vừa là nhiệm vụ của các em. Tạo ra nhu cầu hứng thú về sự hiểu biết dần dần hình thành nhu cầu học tập với tinh thần tự giác, thái độ đúng đắn.

    4.3. Biện pháp chỉ đạo tổ chức phối hợp các hoạt động học tập chính khóa và ngoại khóa:

    Để giúp học sinh hoàn thiện hơn thì cần có sự phối hợp chặt chẽ với Ban đại diện hội cha mẹ học sinh, của chính quyền địa phương chung tay tuyên truyền, vận động để cha mẹ học sinh tạo điều kiện tốt cho con mình học tập ở trường cũng như học tập ở nhà: nên tạo cho các em góc học tập tại nhà, có lịch học, thời khóa biểu học hợp lí, thường xuyên nhắc nhở, động viên con học tập, kiểm tra việc học tập của con một cách thường xuyên…

    Cùng với giáo viên chủ nhiệm giáo dục con mình phát triển toàn diện, giáo dục đạo đức, giáo dục tính trung thực trong mõi lĩnh vực, biết đọc sách, tự làm bài tập ở vở bài tập hoặc bài tập nâng cao…

    4.4. Biện pháp chỉ đạo về việc bồi dưỡng HS năng khiếu và phụ đạo học sinh yếu:

    Căn cứ hồ sơ tuyển sinh, biên bản bàn giao chất lượng lớp dưới lên lớp trên và kết quả khảo sát đầu năm, Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên chịu trách nhiệm phái có kế hoạch và biện pháp bồi dưỡng học sinh năng khiếu và phụ đạo học sinh yếu. Giáo viên chủ nhiệm phân loại học sinh, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu và phân nhóm. Để có biện pháp giảng dạy và giáo dục phù hợp, nâng dần chất lượng giáo dục bằng nhiều hình thức:

    Xây dượng kế hoạch dạy học phù hợp, cải tiến phương pháp dạy học theo đối tượng học sinh, quan tâm và kịp thời giúp đỡ học sinh yếu bằng cách giao việc phù hợp, nâng dần, động viên, tạo cơ hội cho học sinh hòa nhập vói tập thể, cũng như quan tâm học sinh yếu công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cũng là một trong những công tác mũi nhọn của nhà trường. Giáo viên không nên xem thường mà không chuẩn bị riêng cho hững học sinh này bài tập khó thì có nguy cơ gây ra sự nhàm chán đối với các em. Vì với các bài tập ở sách giáo khoa các em đều làm được. Thời gian còn lại các em chỉ ngồi chờ nếu cứ lập đi lập lại tình trạng này thì sẽ gây ức chế hưng phấn học tập của học sinh, kìm hãm sự phát triển của tư duy của trẻ . Chính vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải hết sức chú ý và giao việc phù hợp mới phát triển tài năng của tuổi thơ.

    5. Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội:

    Là mối quan hệ không thể thiếu trong nhà trường phổ thông đặt biệt là trong trường tiểu học. nhà trường phối hợp ban đại diện cha mẹ học sinh các tổ chức và cá nhân nhằm thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Nhằm huy động mọi lực lượng của cộng đồng tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh. Là cánh tay đắc lực hỗ trợ về vật chất lẫn tinh thần cho tập thể cán bộ giáo viên, tạo điều kiện trang bị đồ dùng dạy học, là nguồn động viên lớn đối với ý thức học tập và rèn luyện của học sinh.

    2. Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học mà bản thân đang thực hiện tại lớp

    1. Biện pháp 1: Khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra những phương pháp giáo dục phù hợp

    – Khảo sát đối tượng thông qua hồ sơ học bạ, qua giáo viên chủ nhiệm cũ, qua học sinh trong lớp hoặc qua phụ huynh.

    – Tiến hành phân loại đối tượng để đưa vào sổ kế hoạch công tác chủ nhiệm, cụ thể:

    + Học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn.

    + Học sinh khuyết tật.

    + Học sinh các biệt về đạo đức.

    + Học sinh yếu.

    + Học sinh có những năng lực đặc biệt.

    * Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

    * Đối với những học sinh khuyết tật.

    * Đối với học sinh cá biệt về đạo đức:

    – Tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Gia đình có sự mâu thuẫn giữa bố và mẹ, gia đình thiếu quan tâm hoặc có thể bị bạn bè, kẻ xấu lôi kéo….Hoặc trẻ có những tính xấu mà bản thân gia đình chưa giáo dục được…

    – Dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc đối với học sinh nhưng không cứng nhắc. Tuyệt đối không sử dụng phương pháp trách phạt, chú ý gần gũi các em và thường xuyên nhắc nhở động viên khen chê kịp thời. Giao cho các em đó một chức vụ trong lớp nhằm gắn với các em trách nhiệm để từng bước điều chỉnh mình.

    * Đối với học sinh học yếu:

    – Tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó học yếu, học yếu những môn nào. Có thể là ở gia đình các em đó không có thời gian học tập vì phải làm nhiều việc hoặc em đó có lỗ hỏng về kiến thức nên cảm thấy chán nản.

    – Giáo viên lập kế hoạch giúp đỡ đối tượng bằng những việc cụ thể như sau:

    + Giảng lại bài mà các em chưa hiểu hay còn hiểu mù mờ vào những thời gian ngoài giờ lên lớp .

    + Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em.

    + Thường xuyên kiểm tra các đối tượng đó trong qua trình lên lớp.

    + Tổ chức cho học sinh học theo nhóm để học sinh khá giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém tiến bộ.

    + Gặp gỡ phụ huynh học sinh trao đổi về tình hình học tập, cũng như sự tiến bộ của con em để phụ huynh giúp đỡ thêm việc học ở nhà cho các em.

    + Chú ý tránh thái độ miệt thị, phân biệt đối xử làm cho các em nhụt chí, xấu hổ trước bạn bè. Tóm lại dù với đối tượng nào bản thân giáo viên phải lưu ý dùng phương pháp tác động tình cảm, động viên khích lệ kịp thời, phối hợp với phụ huynh để giáo dục và đặc biệt xác định vấn đề giáo dục đạo đức là then chốt.

    2. Biện pháp 2: Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp giỏi quản lý, tổ chức, kiểm tra.

    Như chúng ta đã biết xây dựng một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi là việc rất quan trọng người giáo viên làm công tác chủ nhiệm phải có kế hoạch thực hiện.Hơn nữa, để đội ngũ cán bộ lớp cùng giáo viên chủ nhiệm đôn đốc, nhắc nhở việc thực hiện nề nếp học tập của các bạn là công việc cần thiết và có ích.

    – Trước hết , những học sinh được chọn làm cán bộ lớp bao giờ cũng phải gương mẫu trước các bạn về mọi mặt: Học tập, kỷ luật, tham gia các hoạt động, đối xử với bạn bè….

    – Sau đó hằng ngày, hàng tuần, các cán bộ lớp bao gồm: lớp trưởng,2 lớp phó , 4 tổ trưởng, 4 tổ phó. . sẽ tiến hành công việc của mình như sau:

    *Đầu giờ (trước giờ truy bài):

    Tổ trưởng, tổ phó kiểm tra những việc sau: soạn sách vở theo đúng thời khóa biểu, mang đầy đủ đồ dùng dậy học,có ý thức xem bài trước, đi học đúng giò, không mang dép lê….rồi tổ trưởng chấm điểm thi đua theo qui đinh như sau: (vi phạm 1 nội dung trừ: 2 điểm xấu )

    *Trong giờ học:

    Tổ trưởng, tổ phó theo dõi các bạn trong tổ thái độ học tập, phát biểu xây dựng bài, đạt điểm cao trong học tập thì cộng điểm thưởng như sau: Đạt điểm 10 một môn thì cộng 5 điểm tốt, phát biểu xây dựng bài cộng 1đ/1lần. nói chuyện trong giờ học thì bị trừ 2 điểm/ 1lần.

    *Giờ ăn ngủ bán trú:

    Tổ trưởng, Tổ phó theo dõi các tổ viên các nề nếp: ăn, ngủ đúng thời gian.. nếu vi phạm trừ 2đ/ 1 lần) Biện pháp 3: Phối kết hợp thường xuyên với phụ huynh

    * Đối vói Ban đại diện CMHS lớp: Từ đầu năm học. Tôi đã định hướng bầu chọn Ban đại diện phụ huynh của lớp với các tiêu chuẩn sau:

    – Phụ huynh có đời sống kinh tế ổn đinh.

    – Có tâm huyết, nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu.

    – Am hiểu nhiều về lĩnh vực giáo dục – Có con em học khá giỏi.

    * Ban phân hội lớp gồm 3 thành viên: Trưởng ban, phó ban, thư ký

    * Nhiệm vụ ban phân hội lớp:

    – Kết hợp với GVCN lớp theo dõi, động viên quá trình học tập, sinh hoạt của học sinh. Đặc biệt quan tâm đến các phong trào lớp

    – Nắm rõ được hoàn cảnh gia đình, chỗ ở của từng học sinh để kịp thời thăm hỏi. – Có kế hoạch khen thưởng kịp thời học sinh lớp tiến bộ theo từng tuần, tháng, theo các đợt kiểm tra định kỳ của nhà trường.

    * Đối với từng phụ huynh học sinh: Buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã đề ra yêu cầu để phụ huynh cùng GVCN rèn nề nếp học sinh như sau:

    – Hằng ngày kiểm tra sách vở của con em mình.

    – Nhắc nhở con em học bài cũ và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp.

    – Chuẩn bị sách vở và đồ dùng học tập cho con em theo thời khoá biểu hằng ngày.

    – Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi.

    – Sinh hoạt điều độ, đúng thời khoá biểu, giờ nào việc nấy tránh tình trạng vừa học vừa chơi. – Thường xuyên trao đổi với GVCN qua trò chuyện trực tiếp, điện thoại hoặc qua sổ liên lạc để kịp thời nhắc nhở, đôn đốc học sinh nề nếp học tập ở lớp cũng như ở nhà.

    Biện pháp 4: Đầu tư các phong trào mũi nhọn nhà trường tổ chức Từ đầu năm học GVCN dựa vào kế hoạch của nhà trường và các đoàn thể trong trường phải đề ra chỉ tiêu cụ thể cho lớp cùng phấn đấu trong các phong trào chung của nhà trường như: Vở sạch chữ đẹp, Vẽ tranh, Kể chuyện, cờ vua,….

    – Điều quan trọng là GVCN phải phát hiện những năng lực đặc biệt ở học sinh về văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, hội hoạ…

    – Phối hợp với phụ huynh lập kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho các học sinh có năng khiếu nói trên.

    – Bồi dưỡng, khơi dậy ở các em lòng say mê hứng thú học tập thông qua những hội thi,Tổ chức các sân chơi ở lớp như: Rung chuông vàng, đối mặt trong các tiết HĐNGLL để phát huy và chọn lọc nhữn HS có năng khiếu để tham gia các hội thi do nhà trường tổ chức. Biện pháp 5: Nêu gương và khen thưởng

    – Nắm được tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động viên nên tôi hướng dẫn Ban cán sự lớp lập bảng chấm điểm thi đua từng HS như sau:

    – Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi đã đề xuất với Ban đại diện phụ huynh về việc khen thưởng các học sinh trong lớp thực hiện tốt các phong trào học tập cũng như các phong trào khác như sau:

    + Mỗi tuần tặng 1 cây bút cho mỗi HS đạt số điểm tốt cao nhất tổ.

    + Mỗi đợt kiểm tra định kỳ tặng một 1 bút/ 1HS đạt điểm 10 mỗi môn.

    + Tặng một phần quà cho HS đạt phong trào nhà trường đề ra.

    – Sau mỗi tuần thi đua, Lớp trưởng đánh giá chung các mặt hoạt động, tổ trưởng đánh giá cụ thể các mặt học tập cũng như hoạt động của từng thành viên trong tổ thông qua bảng điểm . sau đó bầu chọn một HS tuyên dương trước lớp và nhận thưởng.

    – Để tránh trường hợp một em nhận liên tục nhiều lần, theo qui ước 3 tuần mới được nhận thưởng lại ( nếu em đó điểm nhất tổ thì chọn em điểm nhì tổ..)

    3. Biện pháp chỉ đạo quá trình dạy học ở trường Tiểu học

    PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong thời kì xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học là bậc nền tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là bước đầu hình thành nhân cách con người cũng là bậc học nền tảng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học bậc trung học cơ sở. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung, chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm sinh lí của trẻ, về nhu cầu và khả năng của trẻ. Đồng thời người dạy có khả năng sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. Là một cán bộ quản lý, tôi nhận thấy bản thân giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trường – nhiệm vụ phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường. Làm thế nào để đẩy mạnh sự phát triển giáo dục nói chung và làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói riêng, đặc biệt là chất lượng học sinh đại trà. Năm học ………….. nhiệm vụ chung của ngành là: Tiếp tục chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học;… Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh:

    Căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh.

    Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình kiến thức, kĩ năng môn học và có mảng kiến thức dành cho đối tượng học sinh năng khiếu.

    Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tiểu học căn cứ vào những nhận thức mới của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện ở các em; căn cứ vào năng lực tổ chức, thiết kế và những hoạt động trong quá trình dạy học ở giáo viên vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi phương pháp dạy học truyền thống mà họ không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng say mê học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập, tạo ra sự phát triển mới, nâng cao hiệu quả giáo dục phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ được sự ổn định trong hoạt động dạy học. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được đồng thời tạo ra được sự phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại.

    Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của đơn vị. Tôi mạnh dạn chọn và viết sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học ……………” nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng dạy – học và đẩy mạnh công tác mũi nhọn của nhà trường.

    PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác dạy và học trong trường Tiểu học …………. tỉnh …………….. 1.1. Ưu điểm.

    Mặc dù cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn chế nhưng tập thể cán bộ, giáo viên trường tiểu học ………………. đã không ngừng phấn đấu để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ và đặc biệt là chú trọng nhất về nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Có 100% cán bộ, giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ do phòng GD&ĐT, trường tổ chức nên đã nắm được việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học; dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học; đổi mới cách đánh giá học sinh, coi trọng sự tiến bộ của học sinh.

    Ngoài nắm vững chuyên môn giáo viên còn nghiên cứu, tìm hiểu về đối tượng học sinh, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung, chương trình của từng môn học, mạnh dạn đăng kí chỉ tiêu phấn đấu trên đối tượng học sinh của mình.

    Tuy cơ sở vật chất nhà trường còn nhiều hạn chế nhưng giáo viên đã tận dụng, tạo môi trường học tập, môi trường vui chơi an toàn cho học sinh. Học sinh có đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập, hăng hái tham gia xây dựng bài học.

    Ngày nay, công tác xã hội hóa giáo dục có sự chuyển biến tích cực. Đa số cha mẹ học sinh quan tâm đến việc học của con em mình. Đồng thời đã đóng góp không nhỏ về vật chất để mua sắm trang thiết bị dạy học trong nhà trường, nâng cấp cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt cho việc vui chơi và học tập của học sinh.

    1.2. Một số hạn chế và nguyên nhân hạn chế.

    Mặc dù tất cả cán bộ quản lý, giáo viên của trường được tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về dạy học theo phương pháp dạy học tích cực một cách kĩ lưỡng nhưng khi vào thực tế giảng dạy vẫn còn giáo viên lúng túng trong khâu đổi mới phương pháp dạy học, dưới sự ảnh hưởng của phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên chỉ lo tập trung vào phần việc của mình, cứ lo sợ dạy không hết bài, học sinh không biết … cứ như thế, vào tiết học giáo viên thao thao giảng bài, truyền đạt cho học sinh những nội dung cần ghi nhớ, yêu cầu các em về học thuộc lòng. Có những giáo viên nhận thức được đổi mới phương pháp dạy học là dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dưới sự hướng dẫn, nêu vấn đề của người dạy, người học động não, tìm cách giải quyết vấn đề để chiếm lĩnh kiến thức mới, vận dụng kiến thức mới vào thực tiễn.

    Gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học là việc sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học. Thế nhưng vẫn còn giáo viên còn ít sử dụng, chưa khai thác triệt để thiết bị, đồ dùng vào các tiết dạy mà còn dạy chay hoặc sử dụng khi có người dự giờ. Khi sử dụng, có giáo viên sử dụng chưa linh hoạt hoặc khai thác một cách qua loa, máy móc làm cho tiết học trở nên rời rạc, nhàm chán không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; không có thiết bị để ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

    Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, giáo viên hầu như chưa thoát li được sách giáo viên, sách tham khảo, mà còn có những giáo viên coi sách giáo viên như một pháp lệnh, không được xê dịch hay sửa đổi. Chép nguyên mục tiêu và các hoạt động trong sách mà không cần biết bài dạy đó có phù hợp với học sinh của mình không mà không bỏ thời gian ra nghiên cứu nội dung bài học sách giáo khoa, liên hệ từng đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học cho từng môn học, hay thiết kế bài dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp. Một số giáo viên không nghiên cứu nội dung sách giáo khoa để xác định mảng kiến thức trọng tâm của bài, liên hệ sự tiếp thu của học sinh rồi lựa chọn phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực, sự vận động suy nghĩ của từng đối tượng học sinh, tránh nhàm chán ở học sinh vì trong lớp học có tới ba khả năng tiếp thu và ba khả năng nhận thức cụ thể như: học sinh năng khiếu; học sinh hoàn thành kiến thức, kĩ năng môn học; học sinh chưa hoàn thành kiến thức, kĩ năng môn học. Ngoài ra, trong quá trình lập kế hoạch bài dạy do không nghiên cứu kĩ lưỡng nội dung bài nên việc chuẩn bị trang thiết bị, đồ dùng dạy học không có hoặc không phù hợp, thậm chí có xác định ở phần chuẩn bị trong giáo án nhưng qua một tiết dạy không thấy giáo viên sử dụng ở hoạt động nào? (lúc nào?).

    Bên cạnh những việc tồn tại ở khâu soạn giảng thì cũng không thể không đề cập đến vấn đề kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh. Một số giáo viên dù nắm được, hiểu được hướng dẫn chỉ đạo của Thông tư 30/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định đánh giá học sinh Tiểu học, Quyết định số …………………… ngày ……………… của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông – cấp Tiểu học, trong đó có Chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn học thế nhưng trong quá trình đánh giá còn giáo viên không căn cứ vào những tiêu chí hướng dẫn của văn bản để đánh giá, mà đánh giá dựa vào cảm tính, quan sát chung chung, thiếu căn cứ, thiếu tính chính xác. Thậm chí việc kiểm tra, đánh giá còn dựa trên tình cảm, cả nể mà đánh giá không đúng thực lực của học sinh. Mặc dù, là năm học “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, củng cố kết quả các cuộc vận động chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục”. Vậy mà vẫn còn giáo viên để xảy ra hiện tượng cảm tính trong đánh giá xếp loại nhất là trong xét khen thưởng ở cuối năm. Đến đầu năm học mới có rất nhiều học sinh bị hụt hẫng về kiến thức nên rất khó cho việc giảng dạy của giáo viên, ngoài ra còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục.

    Mặt khác, giáo viên chưa nghiên cứu sâu về tâm lý từng học sinh để có biện pháp giảng dạy và giáo dục tốt hơn.

    Đa số học sinh còn phụ thuộc vào khuôn mẫu, bắc chước, chưa có ý thức tự giác học tập, lại được cha mẹ học sinh đồng thuận mua sắm cho sách giải, sách tham khảo, văn mẫu,… để các em sao chép lại.

    Do còn không ít cha mẹ học sinh thiếu trách nhiệm, thiếu sự phối hợp trong giáo dục học sinh, gây sức ép không nhỏ đối với giáo viên.

    2. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của trường Tiểu học ………..

    Biện pháp 1: Biện pháp xây dựng đội ngũ trong tập thể nhà trường.

    Trường học – tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục – nơi tập trung những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Giáo viên là lực lượng nòng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; là người không chỉ thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, cha mẹ học sinh mà còn thể hiện nhiệm vụ với xã hội, với vận mệnh và tương lai của đất nước. Chính vì vậy, công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường là vấn đề quan trọng vì có một tập thể đoàn kết thì mới có một tập thể vững mạnh. Mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học. Mỗi cá nhân là một thành viên tích cực nêu cao quan điểm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến đóng góp, xây dựng cho đồng nghiệp cùng phát triển về công tác chuyên môn (về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, về biện pháp giáo dục học sinh,…), quan tâm giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn cùng nhau hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, có một tập thể đoàn kết mới hoàn thành tốt nhiệm vụ của năm học. Có sự đoàn kết, thống nhất như vậy sẽ góp phần nâng cao nhận thức về chuyên môn, nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường.

    Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích giáo viên đọc sách báo, tham khảo tài liệu về chính trị, văn hóa, pháp luật…

    Phân công chuyên môn phù hợp với năng lực, sở trường của từng giáo viên, tạo mọi điều kiên thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Đi kèm theo công tác phân công chính là công tác kiểm tra, đánh giá kết quả lao động của cá nhân, tập thể được phân công để đánh giá mức độ hoàn thành công việc như thế nào? Từ đó có bài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời kịp thời phát hiện năng lực của giáo viên và có kế hoạch bồi dương phát huy hoặc khuyến khích giáo viên tiến bộ.

    Thường xuyên mở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các buổi thao giảng, phối hợp mở các buổi hội giảng trao đổi về phương pháp giảng dạy, biện pháp giáo dục học sinh.

    Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập, giao lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.

    Thực hiện tốt công tác dân chủ trong nhà trường. Có biện pháp, chế độ tùy theo kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được phân công, tham mưu tốt với các ban ngành, đoàn thể đảm bảo quyền lợi của tất cả cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường.

    Biện pháp 2: Biện pháp về hoạt động giảng dạy của giáo viên. 2.1. Biện pháp xây dựng nền nếp, kỷ cương trong hoạt động giảng dạy của giáo viên

    Xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường. Quy chế chuyên môn trong nhà trường là một trong những công cụ để đánh giá quá trình lao động của người giáo viên. Việc thực hiện tốt quy chế chuyên môn trong nhà trường của giáo viên là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy.

    Trên cơ sở: Quyết định số ………………. ngày …………… của Bộ trưởng

    Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học; Quyết

    định số ………………. ngày ……………… của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo; căn cứ Điều lệ trường tiểu học; căn cứ văn bản chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo …………, phòng GD&ĐT ………… và căn cứ tình hình thực tế của đơn vị. Hiệu trưởng xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường như quy định về đạo đức, tác phong sư phạm, tác phong của nhà giáo, quy định giờ ra vào lớp, quy định về hồ sơ sổ sách, lịch trình duyệt các kế hoạch. Giáo viên soạn, giảng đủ môn, đủ tiết, số tiết dự giờ/ năm học, số lần tham gia sinh hoạt chuyên môn, duy trì sĩ số lớp… để đánh giá, xếp loại giáo viên.

    Phát động phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt”, tiến hành bàn giao số lượng, chất lượng (cụ thể từng đối tượng học sinh về nhận thức môn học, về năng lực, phẩm chất, về sở trường, về cá tính của học sinh…) của lớp dưới lên lớp trên để giáo viên mới có cơ sở xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm của năm học, đăng kí chỉ tiêu phấn đấu, xây dựng kế hoạch giảng dạy.

    Phối hợp với Ban chấp hành công đoàn phát động phong trào “Kỷ cương -Tình thương – Trách nhiệm” qua đó vận động giáo viên chấp hành nghiêm túc quy chế chuyên môn của nhà trường.

    2.2. Biện pháp chỉ đạo việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy của cấp quản lí giáo dục:

    Việc tổ chức thực hiện chương trình và xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường nên Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở như: căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, các chỉ thị của ngành, của địa phương, căn cứ vào đặc điểm tình hình của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình sao cho vừa đảm bảo chất lượngn vừa đảm bảo hoàn thành chương trình theo tinh thần chỉ đạo của ngành.

    Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh, biện pháp khắc phục, biên chế nội dung chương trình cho cả năm học và cho từng thời điểm, lập thời khóa biểu cho các khối lớp.

    Tập trung nghiên cứu kĩ các văn bản chỉ đạo về chuyên môn, nghiên cứu về nội dung, chương trình sách giáo khoa, căn cứ đặc điểm tâm lí của trẻ. Hướng dẫn tổ chuyên môn, giáo viên phối hợp với kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt động phù hợp với đối tượng học sinh. Thực hiện chương trình một cách vừa và đủ đảm bảo tham gia các cuộc giao lưu mà cấp trên tổ chức, như tham gia Olympic Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh tiểu học cấp huyện, cấp tỉnh đối với học sinh lớp 5.

    Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo Điều lệ trường tiểu học (Đảm bảo sinh hoạt 2 lần/tháng); nội dung sinh hoạt đa dạng, phong phú: trao đổi về phương pháp dạy học, trao đổi về kết quả nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa, trao đổi về phương pháp xác định mục tiêu của bài học – xác định mảng kiến thức trọng tâm của một bài, một môn, trao đổi về biện pháp giáo dục học sinh, hướng dẫn học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện.

    2.3. Biện pháp chỉ đạo thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên và việc lựa chọn đồ dùng dạy học của giáo viên.

    Thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên là việc làm quan trọng, thực hiện quy chế chuyên môn trong trường tiểu học; là khâu mà bất kì giáo viên trực tiếp giảng dạy nào cũng phải có vì trong quá trình thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp giúp giáo viên có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu về nội dung, tuy nó chưa phải là dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy để có biện pháp xử lí kịp thời đúng đắn. Thiết kế bài dạy được xem là công cụ để thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và cũng là một trong những việc làm góp phần quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Do đó, cần tập trung chỉ đạo việc thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên cụ thể như sau:

    Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản về việc thiết kế bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng đến tổ, khối, giáo viên.

    Kế hoạch bài giảng của giáo viên phải thể hiện:

    Mục tiêu đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài học dành cho các đối tượng học sinh trong lớp.

    Tăng cường trang bị về thiết bị, đồ dùng dạy học, khuyến khích giáo viên đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung bài, đồng thời trong quá trình chuẩn bị phải thể hiện được đồ dùng phục vụ cho người dạy và đồ dùng phục vụ cho người học vì đồ dùng dạy học rất quan trọng trong việc dạy học ở tiểu học giúp học sinh nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Ngoài đồ dùng trực quan sinh động mà giáo viên đã chuẩn bị thì còn hình ảnh trực quan sinh động hơn là người giáo viên: cần có giọng nói nhẹ nhàng, cử chỉ mềm mại, thái độ ân cần… sẽ thu hút sự chú ý học tập của học sinh cao hơn, tăng thêm sự hứng thú học tập của học sinh.

    Nội dung cơ bản của kế hoạch dạy học phải thể hiện rõ hoạt động của thầy, hoạt động của trò, hoạt động trọng tâm của bài; mỗi hoạt động đều thể hiện được mục tiêu, nhiệm vụ, nêu cách tổ chức của thầy, dự kiến câu trả lời của học sinh và kết luận của giáo viên; không ghi những vấn đề không cần thiết.

    Nội dung bài soạn ngắn gọn, xúc tích đảm bảo kiến thức trọng tâm của bài, logic khoa học, lựa chọn phương pháp giảng dạy (thể hiện sự hệ thống việc làm của thầy – trò, hình thức tổ chức phù hợp với môn học, lớp học với đối tượng học sinh).

    Quy định thời gian kí duyệt kế hoạch giảng dạy của giáo viên trước khi lên lớp thực hiện tiết dạy.

    2.4. Biện pháp quản lí giờ lên lớp của giáo viên.

    Giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học để thực hiện mục tiêu dạy học. Trong nhà trường tiểu học hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động chính. Hiện nay quá trình dạy học chủ yếu là diễn ra trong lớp học. Giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học cơ bản, trong đó giáo viên là người trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm. Do vậy, giờ lên lớp thể hiện rõ nhất trách nhiệm và khả năng của giáo viên. Vì vậy, Hiệu trưởng quản lí giờ lên lớp của giáo viên như:

    Tổ chức thực hiện tốt kỉ luật lao động trong nhà trường, khuyến khích giáo viên thực hiện tốt giờ lên lớp (không ra sớm, vào muộn).

    Thực hiện chương trình đảm bảo đúng quy chế chuyên môn, quy định của ngành; duy trì và thực hiện tốt giờ lên lớp.

    2.5. Biện pháp quản lí việc dự giờ của giáo viên.

    Dự giờ là công việc đặc thù, cơ bản, là biện pháp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho mỗi cá nhân giáo viên một cách hiệu quả nhất.

    Căn cứ vào Điều lệ trường tiểu học thì đối với giáo viên số tiết dự giờ ít nhất 20 tiết/năm. Để công tác dự giờ có hiệu quả, trước khi dự giờ giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài, xác định mục tiêu, xác định mảng kiến thức trọng tâm, lựa chọn phương pháp, đồ dùng dạy học, dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy.

    Tiến hành dự giờ: khi dự giờ không trao đổi, làm việc riêng mà tập trung theo dõi hoạt động của học sinh, thông qua các hoạt động, hệ thống câu hỏi, câu trả lời và cách đánh giá học sinh của người dạy.

    Để có cơ sở đánh giá, đóng góp, xây dựng cho đồng nghiệp, để học tập ở đồng nghiệp, người dạy và người dự chú ý lắng nghe, bày tỏ quan điểm phân tích, chia sẻ sau giờ dạy để mỗi cá nhân rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân mình qua dự giờ của đồng nghiệp.

    Căn cứ vào hướng dẫn cách đánh giá, xếp loại tiết dạy của giáo viên gồm 4 lĩnh vực: Kiến thức, kĩ năng sư phạm, thái độ sư pham, hiệu quả. Bốn lĩnh vực có điểm tối đa là 20; xếp loại: Tốt, Khá, Trung bình và Chưa đạt.

    Biện pháp 3: Biện pháp chỉ đạo về kiểm tra- đánh giá kết quả việc học tập của học sinh

    Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng là thể hiện thành tích của giáo viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ và sự chỉ đạo của nhà trường. Do đó, đánh giá với tinh thần không nghiêm túc, thái độ chưa khách quan, khuynh hướng nhận xét, đánh giá một cách hình thức, thiếu tinh thần trách nhiệm thì sẽ không khắc phục được những hạn chế mắc phải trong học sinh dẫn tới không chỉ hạn chế trong chất lượng giáo dục mà dẫn tới tiêu cực trong giáo dục, đánh giá không đúng, thiếu trung thực sẽ dẫn tới tình trạng nguy hiểm như học sinh ngồi nhầm lớp, ảnh hưởng đến uy tín của ngành giáo dục… Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, Hiệu trưởng có những biện pháp chỉ đạo như sau:

    Triển khai, phổ biến các văn bản quy định về kiểm tra đánh giá và ghi điểm; lập kế hoạch kiểm tra đánh giá thường xuyên, đánh giá theo thời điểm và phổ biến các quy định về nền nếp kiểm tra sâu rộng trong tập thể cán bộ, giáo viên của nhà trường.

    Tổ chuyên môn tiến hành nghiên cứu những quy định kiểm tra – đánh giá nhận xét học sinh, lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá, nhận xét học sinh thường xuyên và theo từng thời điểm. Nội dung kiểm tra học sinh theo thời điểm được đưa ra tập thể, tổ trao đổi cùng thống nhất nội dung ôn tập và ra đề kiểm tra. Ngoài đánh giá về năng lực, sự rèn luyện của học sinh còn đánh giá về các phong trào như: “Giữ vở sạch, viết chữ đẹp”, …Tổ chức thực hiện tốt theo quy định tại Thông tư 30/2014/TT- BGDĐT của Bộ GD&ĐT quy định về đánh giá xếp loại học sinh; căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng để đánh giá và tiến hành đánh giá đúng thực lực của học sinh ở từng môn học.

    Biện pháp 4: Biện pháp chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh 4.1. Xây dựng nề nếp, kỉ cương trong hoạt động học tập của học sinh:

    Trong nhà trường, việc xây dựng nền nếp, kỉ cương có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó không chỉ là điều kiện để thực hiện tốt việc dạy và học trên lớp mà còn giáo dục học sinh ý thức, chấp hành tổ chức kỉ luật góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh. Do đó cần:

    Xây dựng nội quy học sinh, triển khai sâu rộng trong giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh ngay từ đầu năm học. Đặc biệt người làm thầy phải chú ý lắng nghe ý kiến của người học để nghiên cứu và có biện pháp phát huy tài năng của học sinh và kịp thời uốn nắn giúp học sinh rèn luyện, phát triển đúng đắn hơn.

    Giáo viên tìm hiểu tâm lí của học sinh, tìm hiểu về khả năng và nhu cầu của từng em để có biện pháp giáo dục đạo đức, có biện pháp giúp đỡ sự rèn luyện của học sinh. Tổ chức thi đua theo tổ, cá nhân học sinh về học tập, về lao động vệ sinh, về thực hiện nền nếp, thực hiện phong trào giúp bạn vượt khó,… tổ chức bình chọn học sinh gương mẫu, học sinh tích cực trong học tập,… vào cuối tuần, theo dõi thường xuyên và liên tục uốn nắn các hành vi của học sinh.

    Phối hợp với Đoàn thanh niên – Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, phát động phong trào thi đua, động viên, khuyến khích học sinh chấp hành tốt nội quy, thường xuyên đánh giá xếp loại thi đua hàng tuần để kịp thời tuyên dương tập thể cá nhân có thành tích tốt, giúp cá nhân học sinh kịp thời điều chỉnh việc làm không phù hợp, khắc phục hạn chế của bản thân dần dần hoàn thiện nhân cách ở học sinh.

    4.2. Biện pháp chỉ đạo nhằm giáo dục động cơ học tập của học sinh.

    Hoạt động học tập là hoạt động cơ bản của học sinh, hoạt động này có hiệu quả cao hay không còn tùy thuộc vào tinh thần, thái độ học tập của các em. Vì vậy, là người làm nhiệm vụ trồng người cần phải có biện pháp giáo dục cho học sinh tính tự giác trong học tập, thông qua các tiết dạy giáo viên thường xuyên động viên khích lệ sự vươn lên trong học sinh, giáo dục và ươm mầm ước mơ, khơi dậy hoài bão ở mỗi em.

    Tổ chức các kỳ giao lưu, Câu lạc bộ,.. tạo cơ hội cho học sinh thể hiện tài năng của mình, tạo cơ hội cho học sinh thể hiện niềm đam mê trong học tập.

    Giáo dục học sinh thông qua các tiết giáo dục tập thể đầu tuần, giáo dục ngoài

    giờ lên lớp, các buổi sinh hoạt Đội, sinh hoạt Sao,… nhân dịp kỉ niệm các ngày lễ lớn trong năm. Giáo dục trong tiết sinh hoạt cuối tuần, trong tiết dạy, qua bài học, qua việc làm tốt của bạn, qua kết quả học tập của bạn, của bản thân học sinh,…

    Thông qua quá trình thực hiện tiết dạy của giáo trên lớp nên tạo ra cơ hội cho học sinh phát biểu ý kiến, học sinh tích cực xây dựng bài, giáo dục cho học sinh hiểu học tập vừa là quyền được học lại vừa là nhiệm vụ của các em. Tạo ra nhu cầu hứng thú về sự hiểu biết dần dần hình thành nhu cầu học tập với tinh thần tự giác, thái độ đúng đắn.

    4.3. Biện pháp chỉ đạo tổ chức phối hợp các hoạt động học tập chính khóa và ngoại khóa:

    Để giúp học sinh hoàn thiện và phát triển hơn về năng lực và phẩm chất thì cần có sự phối hợp chặt chẽ với Ban đại diện cha mẹ học sinh, của chính quyền địa phương chung tay tuyên truyền, vận động để cha mẹ học sinh tạo điều kiện tốt cho con mình học tập ở trường cũng như học tập ở nhà: nên tạo cho các em thời gian biểu hợp lí, thường xuyên nhắc nhở, động viên con học tập, kiểm tra sách vở của con một cách thường xuyên,…

    Cùng với giáo viên chủ nhiệm giáo dục con mình phát triển toàn diện, giáo dục đạo đức, giáo dục tính trung thực trong mỗi lĩnh vực, biết đọc sách, tự ôn lại bài trên lớp và xem trước bài học sau.

    4.4. Biện pháp chỉ đạo về việc bồi dưỡng học sinh năng khiếu và giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành kiến thức, kĩ năng các môn học.

    Căn cứ hồ sơ tuyển sinh, biên bản bàn giao chất lượng lớp dưới lên lớp trên và kết quả khảo sát đầu năm, Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên chịu trách nhiệm có kế hoạch và biện pháp bồi dưỡng học sinh năng khiếu và giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành kiến thức, kĩ năng môn học. Giáo viên chủ nhiệm phân đối tượng học sinh, tìm hiểu nguyên nhân học sinh nhận thức, tính toán chậm để có biện pháp giảng dạy và giáo dục phù hợp, nâng dần chất lượng giáo dục bằng nhiều hình thức:

    Xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp, cải tiến phương pháp dạy học theo đối tượng học sinh, quan tâm và kịp thời giúp đỡ học sinh nhận thức, tính toán chậm bằng cách giao việc phù hợp, nâng dần, động viên, tạo cơ hội cho học sinh hòa nhập với tập thể, cũng như quan tâm, giúp đỡ học sinh nhận thức, tính toán chậm, công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu cũng là một trong những công tác mũi nhọn của nhà trường. Giáo viên không nên xem thường mà không chuẩn bị riêng cho những học sinh này bài tập, câu hỏi khó thì có nguy cơ gây ra sự nhàm chán đối với các em vì với các bài tập ở sách giáo khoa các em đều làm được. Thời gian còn lại các em chỉ ngồi chờ nếu cứ lập đi lập lại tình trạng này thì sẽ gây ức chế hưng phấn học tập của học sinh, kiềm hãm sự phát triển tư duy của trẻ. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên phải hết sức chú ý và giao việc phù hợp cho học sinh mới phát triển tài năng của tuổi thơ.

    Biện pháp 5: Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

    Gia đình – nhà trường và xã hội là mối quan hệ không thể thiếu trong nhà trường phổ thông đặt biệt là trong trường tiểu học. Nhà trường phối hợp ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức và cá nhân nhằm thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Nhằm huy động mọi lực lượng của cộng đồng tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh. Là cánh tay đắc lực hỗ trợ về vật chất lẫn tinh thần cho tập thể cán bộ, giáo viên tạo điều kiện trang bị đồ dùng dạy học, là nguồn động viên lớn đối với ý thức học tập và rèn luyện của học sinh.

    3. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.

    Qua quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tìm hiểu về thực trạng của đơn vị và đề ra một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học của trường Tiểu học …………. đã được áp dụng trong năm học vừa qua (năm học ……..) với những kết quả khả quan cụ thể như sau:

    1. Biện pháp xây dựng đội ngũ trong tập thể sư phạm: 100% giáo viên không vi phạm quy chế, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Kết quả đạt được tập thể vững mạnh.

    2. Biện pháp về hoạt động giảng dạy của giáo viên:

    Kết quả đạt được năm học ….:

    * Học kỳ I:

    + Hồ sơ: xếp loại Tốt: 8/11 bộ = 72,7%; Khá: 3 /11 = 27,3%

    + Chuyên môn: Tốt: 7/11 = 63,6%; Khá: 4/11= 36,4%

    * Học kỳ II:

    + Hồ sơ: xếp loại Tốt: 9/11 bộ = 81,8 %; Khá: 2 /11 = 18,2%

    + Chuyên môn: Tốt: 8/11 = 72,7%; Khá: 3/11 = 27,3%

    3. Biện pháp chỉ đạo về việc kiểm tra – đánh giá kết quả việc học tập của học sinh:

    * Chất lượng học sinh qua các kì nhà trường khảo sát:

    + Môn Tiếng Việt:

    + Môn Toán:

    4. Biện pháp chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh:

    Kết quả giáo dục học sinh có sự nâng lên rõ rệt: môn Tiếng Việt số học sinh hoàn thành kiến thức, kĩ năng môn học ở học kì I là 81,4%, học kì II tăng lên 88,1% (tăng lên 6,7%); môn Toán số học sinh hoàn thành kiến thức, kĩ năng môn học ở học kì I là 80,5%, học kì II tăng lên 86,4% (tăng lên 5,9%). Ngoài nâng cao chất lượng giáo dục đại trà còn góp phần nâng cao chất lượng công tác mũi nhọn trong nhà trường: Năm học 2022 – 2022, nhà trường có 5 học sinh tham gia Olympic Tiếng Việt tiểu học cấp huyện, trong đó có 3 học sinh đạt giải (Giải Nhì: 1em; giải Ba: 2 em); có 1 học sinh tham gia cấp tỉnh và đạt giải Khuyến khích.

    * Tóm lại: Qua biểu thống kê cho thấy chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục học sinh trong năm học vừa qua của nhà trường đã có sự chuyển biến rất rõ rệt giữa học kì I so với học kì II của năm học. Số học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng theo quy định giảm so với học kì I, đây là kết quả bước đầu mà bản thân tôi thiết nghĩ mình cần phải có những biện pháp, những kinh nghiệm có giá trị hơn nữa để chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở nhà trường ngày một nâng cao.

    III. KẾT LUẬN 1. Kết luận:

    Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của sáng kiến kinh nghiệm là đúng đắn. Qua đó nhận thức của mọi người về biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học trong trường tiểu học được nâng cao.

    Kết quả đã xác định rõ thực trạng biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học trong trường tiểu học nói chung và biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói riêng.

    Những thành quả trên đã chứng minh một điều: Con đường tôi đi là đúng đắn và tôi sẽ không dừng lại ở đó mà còn phải cố gắng phấn đấu hơn nữa để duy trì và phát huy những kết quả đạt được trên con đường giáo dục lâu dài của mình.

    2. Những kiến nghị, đề xuất:

    Để áp dụng sáng kiến kinh nghiệm có hiệu quả, tôi xin đề xuất một số nội dung sau:

    2.1. Đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy:

    Ngay từ đầu năm học điều tra, nắm được đặc điểm tâm lí, hoàn cảnh của học sinh để có biện pháp giảng dạy và giáo dục tốt hơn.

    Thiết kế bài dạy phù hợp với các đối tượng học sinh, chú ý dạy học phân hóa đối tượng.

    2.2. Đối với Lãnh đạo nhà trường:

    Vào đầu mỗi năm học tổ chức khảo sát chất lượng học sinh, giao chất lượng cụ thể cho giáo viên giảng dạy.

    Duy trì tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường.

    Tổ chức Olympic Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh cấp trường từ lớp 1- lớp 5.

    Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng trong trường.

    Làm tốt công tác nghiệm thu, bàn giao chất lượng học sinh cuối năm học.

    2.3. Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:

    Hàng năm, tổ chức các chuyên đề tập huấn, bồi dưỡng cho các bộ quản lí, giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ, công tác chỉ đạo, quản lí.

    Duy trì tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện.

    Tổ chức Olympic Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh dành cho học sinh lớp 4 và 5.

    Hàng năm, tham mưu với UBND huyện ổn định đội ngũ giáo viên, tạo điều kiện cho nhà trường thực hiện việc bồi dưỡng đội ngũ để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường.

    Tôi xin trân trọng cảm ơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Khí Mà Bạn Nên Áp Dụng
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hiệu Quả
  • 6 Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường, Phát Triển Bền Vững
  • Môi Trường Là Gì? Biện Pháp Nào Giúp Bảo Vệ Môi Trường Tự Nhiên
  • Những Cách Bảo Vệ Môi Trường Sống
  • Skkn Một Số Phương Pháp Dạy Và Học Môn Mĩ Thuật Đan Mạch Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Phát Huy Tính Tích Cực Của Phương Pháp Đan Mạch
  • Trường Tiểu Học Định Công: Một Số Giải Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch Ở Lớp 4 Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mĩ Thuật
  • Quy Định Chi Tiết Về Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • Thủ Tục Đăng Kí Giải Pháp Hữu Ích Tại Hà Nội
  • Thủ Tục Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    “MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC

    MÔN MĨ THUẬT ĐAN MẠCH Ở TIỂU HỌC”.

    NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHONG

    CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN

    ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: TRƯỜNG TH SỐ 2 SÁN CHẢI

    HUYỆN SI MA CAI – TỈNH LÀO CAI

    NĂM THỰC HIỆN: NĂM HỌC 2022 – 2022

    1

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

    Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và đào tạo, để hình thành nhân cách cho trẻ

    phát triển toàn diện. Do vậy, việc giáo dục thẩm mĩ cho học sinh tiểu học là một

    trong những yếu tố vô cùng cần thiết.

    Thông qua môn Mĩ thuật, sẽ trang bị cho các em một số kiến thức, kĩ năng

    cơ bản về hội họa, tiếp thu những tinh hoa của nền Mĩ thuật dân tộc. Từ đó, phát

    huy óc sáng tạo và tính thẩm mĩ góp phần phát triển năng khiếu, phát hiện tài

    năng và bồi dưỡng nhân tài cho thế hệ tương lai.

    Đối với bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên, là cơ sở ban đầu để con người có

    thể tiếp thu được vốn tri thức ở các cấp học tiếp theo, cũng như mọi tri thức khoa

    học hiện đại. Bấy lâu nay, mọi người thường chú trọng đến các lớp cuối Trung

    học phổ thông mà coi nhẹ các lớp Tiểu học, điều đó làm ảnh hưởng rất lớn đến

    giáo dục phát triển toàn diện và mang nhiều khó khăn tới giáo viên trực tiếp

    giảng dạy. Chủ trương của Bộ giáo dục và đạo tạo đề ra là ” đến cuối lớp 5 các

    em phải đọc thông viết thạo, tính toán nhanh và am hiểu tự nhiên xã hội, biết

    cách ứng xử với mọi người.” Vậy nên trong môn học Mĩ thuật cũng vậy, đây là

    một môn năng khiếu, đòi hỏi các em phải có tính sáng tạo, độc lập trong học tập,

    để từ đó các em có thể vận dụng một cách linh hoạt vào các môn học khác một

    cách có hiệu quả. Vì thế, để các em chủ động trong học tập là điều mà những

    giáo viên như tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao được chất lượng dạy và

    học môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học. Chính vì những lý do trên mà tôi đã chọn

    đề tài : ” Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Mĩ

    thuật ở trường Tiểu học.”

    II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

    1. Đối tượng nghiên cứu :

    Học sinh từ khối 1 đến khối 5 của Trường Tiểu học số 1 Noong Hẻo .

    2. Phạm vi nghiên cứu :

    2

    Trong trường Tiểu học số 1 Noong Hẻo và một số trường khác trong địa phương.

    + Trong trường :

    – Phân loại học lực của tất cả các học sinh.

    – Tìm hiểu thái độ học tập của học sinh.

    + Trường khác :

    – Tìm hiểu việc giảng dạy Mĩ thuật ở trường Tiểu học.

    – Kết quả hoạt động qua một số năm.

    3. Phương pháp nghiên cứu:

    a) Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

    – Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết (Nghiên cứu qua các văn bản,

    chương trình, giáo trình, tài liệu sách báo về phương pháp dạy học môn Mĩ

    thuật.)

    b) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

    – Điều tra phỏng vấn tình hình học sinh.

    – Dự dự giờ, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy môn Mĩ thuật.

    – Thực hành giảng dạy theo phương pháp mới.

    – Tìm giải pháp rút kinh nghiệm.

    – Cho học sinh hoạt động ngoài trời, tham quan, toạ đàm.

    – Phương pháp thực nghiệm dạy thí điểm ở một số lớp bằng phương pháp

    mà mình đề ra.

    III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    Qua thời gian công tác và giảng dạy trực tiếp tại trưòng Tiểu học số 1

    Noong Hẻo, với nhiệt huyết muốn cống hiến hết mình của một giáo viên trẻ. Tôi

    luôn mong muốn lên lớp, đứng trước các em học sinh, truyền đạt tất cả những

    kiến thức mà mình có cho các em. Trước những ánh mắt thơ ngây, hồn nhiên,

    chăm chú nhìn tôi, tôi tự thấy được vai trò của mình, vai trò của một người thầy

    đứng trên bục giảng. Trong mỗi tiết dạy, tôi 1uôn cố gắng làm sao có thể truyền

    đạt kiến thức của mình tới các em một cách nhanh nhất, đầy đủ nhất và dễ hiểu

    nhất.

    3

    Vì là một giáo viên trẻ, tôi có nhiều điều kiện để tự học hỏi, tìm tòi và tiếp

    thu các phương pháp hay và mới lạ từ bạn bè đồng nghiệp, cộng với sự gắn bó

    với các em học sinh dân tộc vùng sâu, vùng xa tôi đã phần nào hiểu được hoàn

    cảnh của các em. Tuy các em còn thiếu thốn về nhiều mặt nhưng các em rất say

    mê học tập nhất là đối với bộ môn Mĩ thuật.

    Do vậy, tôi luôn suy nghĩ và nghiên cứu để viết sáng kiến kinh nghiệm này

    với mục đích tìm ra một số giải pháp tốt nhất góp phần nhằm nâng cao chất

    lượng dạy và học của trường tiểu học số 1 Noong Hẻo nói riêng và ở trường Tiểu

    học khác nói chung, đó chính là mục đích mà tôi nghiên cứu sáng kiến kinh

    nghiệm này.

    IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.

    Với đề tài này tôi chọn nghiên cứu hy vọng được đóng góp một phần nhỏ

    bé của mình vào việc dạy và học môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học đạt kết quả

    cao. Mặt khác sẽ là cơ sở cho các đồng nghiệp của tôi ở trong huyện, tỉnh vận

    dụng vào từng bài để nâng cao chất lượng bộ môn Mĩ thuật.

    * Tôi nhận thấy ở đề tài này có những điểm mới sau:

    + Về phía giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, lời nói

    cử chỉ có phần mềm dẻo hơn, hoạt động của giáo viên trên lớp ít (chủ yếu là

    giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động) mà đem lại hiệu quả cao.

    + Về phía học sinh các em biết tự khám phá những điều mới lạ trong bài

    học, theo cách nghĩ và cách hiểu của mình một cách độc lập tích cực, biết cảm

    nhận được những cái hay, cái đẹp từ những bài học cụ thể mà các em được học,

    được làm quen.

    B. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    I. CƠ SỞ KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐÈ TÀI.

    1. Cơ sở pháp lý:

    Nghị quyết trung ương II khoá VIII Tiếp tục khẳng định đổi mới phương

    pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy

    4

    sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phát

    triển hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo.

    2. Cơ sở lý luận:

    Bộ môn Mĩ thuật ở trường Tiểu học là một trong những môn học đặc

    trưng, không nhằm đào tạo hoạ sĩ tương lai hay tạo ra những người chuyên làm

    về công tác Mĩ thuật mà nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản của

    cái đẹp để các em tiếp xúc và làm quen với cái đẹp, cảm thụ, yêu quý cái đẹp,

    biết vận dụng vào trong cuộc sống hàng ngày. Hỗ trợ các em ở các môn học khác

    giúp các em phát triển toàn diện, lâu dài về Đức – trí – thể – mĩ và các kỹ năng cơ

    bản góp phần hình thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Trong xã hội phát triển nhu cầu thẩm mĩ ngày càng cao, do vậy việc đào

    tạo con người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày càng quan trọng. Những năm

    qua giáo dục thẩm mĩ đã trở thành môn học trong chương trình giáo dục phổ

    thông, là một môn học độc lập, môn Mĩ thuật có mục tiêu chương trình sách giáo

    khoa, sách hướng dẫn, thiết bị riêng cho dạy và học, giáo viên được đào tạo, kết

    quả học tập của học sinh được theo dõi và kiểm tra, đánh giá một cách nghiêm

    túc. Việc giảng dạy môn Mĩ thuật tiểu học nhằm đảm bảo cho các em có thể giải

    quyết được các bài tập hàng ngày và hiểu về cái đẹp, của nền mĩ thuật truyền

    thống, ngoài ra nó còn tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả cao hơn các

    môn học khác.

    3. Cơ sở thực tiễn:

    Từ thực tế giảng dạy môn Mĩ thuật tôi thấy: Các em rất yêu thích Mĩ thuật,

    vì qua đó các em được tiếp xúc, làm quen với một số tác phẩm hội hoạ nổi tiếng

    của các họa sĩ nổi tiếng và một số bài vẽ đẹp của các bạn thiếu nhi không những

    ở trong nước mà cả của quốc tế. Các em được vẽ tranh, vẽ những gì mình mơ

    ước, mình yêu thích, biết vận dụng bài học vào thực tế như: trang trí những vật

    dùng cá nhân: sách, vở và cả góc học tập của mình, … Song, bên cạnh việc giảng

    dạy cho học sinh tiếp thu tốt những kiến thức cơ bản đó thì tôi thấy còn gặp

    5

    1.Thuận lợi

    a, Quan điểm nhận thức về môn Mĩ thuật :

    – Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh.

    – Cho đến nay các trường đã có giáo viên dạy Mĩ thuật, phong trào học Mĩ

    thuật ngày càng một sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn học và

    môn học đã được chú ý. Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một môn học nghệ

    thuật sáng tạo, vì vậy không ít giáo viên và học sinh, các bậc phụ huynh luôn coi

    trọng và đầu tư cho môn học. Qua đó các em thấy rằng Mĩ thuật là môn học bổ

    ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cao và là môn học bổ

    trợ tích cực cho các môn học khác. Vì thế các em đón nhận tiết học một cách

    nhiệt tình và hào hứng.

    b, Trang thiết bị dạy học :

    – Để giảng dạy môn mĩ thuật trong chương trình đào tạo được thành công,

    điều này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như : tài liệu, phương tiện, đồ dùng

    trực quan, …

    6

    tiện, đồ dùng trực quan, … vì thế ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập và giảng dạy

    của giáo viên và học sinh. Vì vậy, là một giáo viên luôn tâm huyết với nghề tôi

    luôn tự học hỏi, tìm tòi, cố gắng nỗ lực hết mình để làm sao mang lại hiệu quả

    tốt nhất cho các em khi học bộ môn Mĩ thuật.

    III. CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN MĨ

    THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC.

    1. Điều tra cơ bản.

    Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ

    thuật tại trường Tiểu học số 1 Noong Hẻo (khu vực trường trung tâm), tôi thấy

    hầu hết các em đều thích học vẽ, các em học tập với tinh thần hăng say, cảm

    nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình thức mỗi khi các

    em vẽ một bức tranh. Bên cạnh đó còn một số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa

    mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình, một số em còn chán nản không thích

    học vẽ. Tất cả những vấn đề trên rất đáng lo ngại, ảnh hưởng lớn đến việc học

    Mĩ thuật của học sinh cho nên tôi đã tiến hành điều tra một số lớp ở điểm trường

    trung tâm năm học 2012 – 2013, xem có bao nhiêu em thích học vẽ và không

    thích học vẽ để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục và kết quả như sau:

    *Tại điểm trường trung tâm kết quả đầu năm học 2012 – 2013

    (khi chưa áp dụng)

    Khối

    lớp

    1

    2

    3

    4

    5

    2. Biện pháp tiến hành.

    Từ thực tế giảng dạy ở giai đoạn đầu, phần đông học sinh yêu thích

    môn học. Bên cạnh đó có một số em rất thờ ơ, thậm chí chán nản mỗi khi đến

    8

    giờ học, điều này khiến cho tiết học trở nên nặng nề, không hứng thú. Vì vậy

    việc khắc phục tâm lý cho học sinh quả là khó khăn và hết sức cần thiết. Dựa vào

    tâm lý của học sinh là thích khen ngợi, động viên và hay tò mò nên trước thời

    gian thực hành, tôi giới thiệu cho các em một số tác phẩm vẽ tiêu biểu của những

    hoạ sĩ nhí trong trường bạn để các em xem và tự học tập theo cách vẽ, cách thể

    hiện tranh. Phân tích cho các em thấy được cái hay, cái đẹp được thể hiện qua

    các bức tranh đó, động viên các em ai cũng có thể vẽ đẹp. Vì thế sự căng thẳng

    và chán nản trong mỗi giờ học được giảm bớt đi, các em đã có hứng thú hơn với

    các tiết học. Sau đó trong những bài học vẽ tranh tôi khuyến khích các em vẽ

    nhiều và vẽ đẹp cho học sinh tự nhận xét, tự đánh giá tác phẩm của bạn có đẹp

    hay không đẹp và vì sao? Như vậy tôi đã hướng dẫn cho các em biết tự nhận xét,

    đánh giá được bài vẽ của bạn và mình.

    Môn học Mĩ thuật không chỉ đòi hỏi các em vẽ phải có tính sáng tạo, vẽ

    đẹp mà các bài tập thực hành còn đòi hỏi các em có sự cảm nhận giá trị nghệ

    thuật, nắm được mục tiêu giáo dục ở trong mỗi bài học. Vì thế trong quá trình

    giảng dạy tôi đều phải lựa chọn các phương pháp sao cho phù hợp.

    Ví dụ: Với bài tập nặn con vật hay thực hành Mĩ thuật tuỳ vào nội dung mà có

    thể chia nhóm để các nhóm cùng hoạt động đưa ra những tác phẩm hay, những

    sáng kiến bất ngờ, dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Với cách này thì toàn bộ

    học sinh cần phải để ý, tham gia quân số rồi mới trả lời, mới vận dụng được vào

    làm bài tập thực hành mà bạn nhóm trưởng yêu cầu.

    Việc muốn học sinh thực sự tập trung vào môn học thì đòi hỏi phải có sự

    quan tâm của giáo viên, giáo viên cần phải chuẩn bị đầy đủ bài dạy, đồ dùng dạy

    học phải sát với nội dung bài học, đẹp và hấp dẫn để lôi cuốn học sinh.

    Muốn học sinh thể hiện được những tác phẩm theo cảm nhận của riêng

    mình thì người giáo viên phải gợi ý, giảng giải đặc biệt là phải tạo ra được không

    khí sôi nổi, thoải mái, học mà chơi, chơi mà học, khích lệ, động viên học sinh tự

    9

    tìm tòi, tự sáng tạo ra những cái hay, cái đẹp ở mỗi bài học, từ đó học sinh có thể

    lựa chọn và vận dụng linh hoạt vào các bài tập sau này của mình.

    Trên thực tế muốn có tiết học trở lên hấp dẫn, luôn cuốn, tìm tòi, khám

    phá, phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo của mình thì giáo viên là người phải

    hiểu sâu sắc được mục tiêu giáo dục. Vì thế tiết học mới có thể tốt hơn, ngoài ra

    phải áp dụng cho các em tiếp xúc thực tế với tự nhiên.

    Giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp muôn màu của thế giới thực, hướng

    các em vào việc chọn nội dung tranh, sử dụng sắc màu, hiểu được bố cục, cách

    chọn hình, mảng chính, phụ và luật xa gần. Sau đó các em tự thể hiện theo cảm

    nhận riêng của mình. Những buổi học như vậy đã đem lại cho học sinh sự hứng

    thú và ấn tượng tốt đẹp đối với từng tiết học.

    Nói tóm lại, việc giảng dạy môn Mĩ thuật trong trường Tiểu học tuy là

    kiến thức rất cơ bản, song để chất lượng giáo dục đạt hiệu quả lại là một vấn đề

    khó khăn đòi hỏi người giáo viên làm công tác giảng dạy môn Mĩ thuật (còn gọi

    là môn giáo dục thẩm mĩ cho học sinh) phải thực sự linh hoạt và khéo léo, phải

    gần gũi với học sinh, hiểu rõ đặc điểm tâm lý của các em là chóng thích, chóng

    chán. Mặt khác khi giáo dục nghệ thuật cần dựa vào cảm hứng mới sáng tác

    được. Nắm được đặc điểm này tôi đã chọn những thời điểm thích hợp để động

    viên khích lệ các em luôn tôn trọng ý nghĩ của các em, không áp đặt, đòi hỏi cao

    đối với các em, người giáo viên phải có tính kiên trì, nhẫn lại trong giảng dạy.

    Bằng những biện pháp như vậy tôi thấy học sinh trường tôi có rất nhiều

    tiến bộ trong học tập môn Mĩ thuật cả về tâm lý và năng lực. Khi các em có niềm

    say mê nghệ thuật thì việc truyền thụ kỹ thuật sẽ thuận lợi hơn, giờ học sổi nổi

    hơn, điều đó thúc đẩy khả năng sáng tạo của các em, lôi cuốn các em vào môn

    học và học tốt bộ môn học khác.

    3. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật ở

    trường Tiểu học.

    10

    Căn cứ vào mục tiêu giáo dục đã đề ra cho bậc tiểu học, xác định rõ vai

    trò và mục tiêu giáo dục của bộ môn cũng thông qua thực tế giảng dạy áp dụng

    phương pháp mới giúp học sinh thực hiện tốt bộ môn Mĩ thuật tôi tự khẳng định

    và rút ra một số kinh nghiệm như sau:

    – Môn Mĩ thuật là môn dành thời gian chủ yếu để học sinh thực hành, do

    vậy giáo viên cần thiết kế bài dạy như một kế hoạch tổ chức các hoạt động, để

    học sinh chủ động, tích cực tham gia và phát huy hết khả năng và năng lực của

    mình ở mỗi bài vẽ.

    – Trong mỗi tiết học, giáo viên cần lựa chọn và phối hợp các phương pháp

    dạy học để luôn luôn tạo được không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, hấp dẫn, lôi

    cuốn học sinh, tránh giờ học tẻ nhạt, khô cứng.

    – Đối với một số bài vẽ tranh đề tài, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh

    hoạt động vẽ theo tổ, theo nhóm để các thành viên trong nhóm có dịp thể hiện

    năng lực cá nhân trước bạn bè, thầy cô giáo.

    – Có thể đưa các trò chơi hổ trợ cho nội dung bài học khi thấy cần thiết,

    phù hợp.

    – Tạo mọi điều kiện để tất cả học sinh đều được chủ động, tích cực tham

    gia và tham gia có hiệu quả ở các hoạt động, quan tâm nhiều hơn đến các học

    sinh nhút nhát, chưa tích cực hoạt động.

    – Về phân bố thời gian của tiết học, giáo viên cần lưu ý bố trí thời gian

    hướng dẫn bài và thời gian thực hành của học sinh sao cho hợp lí (phần hướng

    dẫn của giáo viên chỉ nên từ 10 đến 14 phút, phần thực hành từ 16 đến 20 phút,

    phần đánh giá từ 4 đến 5 phút ).

    – Tuỳ theo nội dung của từng bài, giáo viên điều chỉnh thời gian thực

    hành của học sinh cho phù hợp, không thực hiện máy móc cho tất cả các bài.

    – Trong quá trình thực hiện các tiết dạy, giáo viên cần lưu ý học sinh hiểu

    biết cái đẹp, cảm nhận cái đẹp làm trọng tâm, không nên đi sâu rèn luyện kĩ

    năng vẽ.

    11

    – Tất cả các bài thực hành của học sinh đều phải được giáo viên đánh giá

    thường xuyên theo quy định đánh giá của Bộ.

    – Không áp đặt đòi hỏi quá cao đối với học sinh. Nên lấy động viên, khích

    lệ là chính, cố gắng tìm những ưu điểm dù nhỏ nhất ở từng học sinh để kịp thời

    động viên, khen ngợi.

    – Muốn giảng dạy tốt môn học trước hết giáo viên phải hiểu được mục

    đích, yêu cầu của môn học, từ đó tìm ra cho mình một định hướng giảng dạy

    đúng đắn.

    – Phải hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ, hiểu biết được mức độ cảm

    nhận của học sinh về thế giới xung quanh thông qua các bài học.

    – Luôn tôn trọng gần gũi học sinh.

    – Phải có tính kiên trì trong công tác giảng dạy, khéo léo động viên kịp

    thời đối với các em. Đặc biệt không nên chê các em trước mặt các bạn trong lớp.

    – Việc quan trọng yêu cầu của mỗi tiết học là giáo viên phải chuẩn bị đầy

    đủ đồ dùng trực quan, trực quan phải đẹp, hấp dẫn để học sinh quan sát.

    – Sử dụng linh hoạt trong phối hợp các phương pháp dạy học.

    – Thường xuyên trao đổi để tìm ra phương pháp dạy học thích hợp.

    – Ứng dụng thông tin phần mềm công nghệ thông tin vào môn Mĩ thuật

    như qua đĩa, băng hình, … có như vậy chất lượng học tập mới đạt kết quả cao.

    IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

    Với kết quả như trên, tôi thấy việc dạy học Mĩ thuật muốn có kết quả

    giảng dạy cao thì người thầy phải không ngừng tìm tòi và đổi mới phương pháp

    dạy học. Để tạo được cách dạy lấy học sinh làm trung tâm cho bài dạy, giáo viên

    chỉ là người hướng dẫn, gợi mở, thì ngoài việc sử dụng một số phương pháp dạy

    truyền thống còn cần kết hợp nhiều phương pháp khác để tiết học sinh động lôi

    quốn học sinh tham gia hơn. Với kết quả này, mỗi chúng ta cũng không lấy đó

    làm bằng lòng để rồi dừng ở đó. Theo tôi đã là giáo viên thì việc học hỏi, tìm tòi

    và sáng tạo trong cách dạy là một nhiệm vụ mỗi ngày của người thầy, hoạt động

    đó phải được diễn ra thường xuyên có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày

    càng cao đối với tri thức, và đặc biệt có thể tạo điều kiện cho học sinh vững vàng

    bước vào chương trình Mĩ thuật ở bậc Trung học cơ sở.

    *Để chứng minh những hiệu quả trên tôi đưa ra một số tiết dạy mẫu

    như sau :

    ( GV đưa giáo án vào đây)

    * Kết quả 3 tiết dạy thực hiện các giải pháp:

    Tiết

    Lớp

    Tên bài dạy

    1

    8

    2

    10

    3

    12

    13

    MĐ2

    0

    0

    0

    0

    0

    MĐ3

    Qua 3 tiết dạy mẫu trên chứng minh một số biện pháp tôi đưa ra là hoàn

    toàn đúng đắn. Kết quả thu được thật đáng khích lệ, không còn học sinh xếp loại

    chưa hoàn thành nữa, mà tỷ lệ ở mức hoàn thành và hoàn thành tốt rất cao. Đạt

    100% vượt chỉ tiêu nhà trường giao .

    Vì vậy tôi sẽ áp dụng những biện pháp này vào trong việc giảng dạy của

    mình để chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật của trường Tiểu học số 1 được tốt

    hơn và tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp này cho các bạn đồng nghiệp trong

    huyện tham khảo và góp ý để cùng nâng cao chất lượng dạy và học môn Mĩ

    thuật ở Tiểu học .

    C : PHẦN KẾT LUẬN

    I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

    Qua thực tế giảng dạy tại trường Tiểu học số 1 Noong Hẻo trong những

    năm qua tôi luôn xác định được mục tiêu trong nhà trường, đồng thời cũng hiểu

    sâu sắc được vai trò của môn Mĩ thuật trong việc giáo dục học sinh phát hiện ra

    những mặt hạn chế và có một giải pháp nâng cao hiệu quả của việc dạy và học

    môn Mĩ thuật. Tôi thấy việc nắm vững phương pháp và cách tổ chức cơ bản về

    môn Mĩ thuật cũng như việc xây dựng cho mình một cách tổ chức dạy học vững

    chắc còn có tìm ra những giải pháp dạy học phù hợp của môn Mĩ thuật sẽ có tác

    dụng và ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động dạy và học, giúp cho giáo viên có

    một định hướng đúng đắn, phù hợp một cách thức tổ chức giờ hợp lý giúp cho

    học sinh hứng thú tìm hiểu, khám phá thế giới thẩm mĩ một cách say mê, hấp

    dẫn, góp phần giáo dục nên những con người toàn diện hơn theo 4 mục đích :

    Đức – Trí – Thể – Mĩ.

    II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

    – Việc nâng cao chất lượng dạy và học là một trong những biện pháp mà

    không thể thiếu trong công tác giảng day, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong

    việc giảng dạy và tiếp thu bài của học sinh. Chính vì vậy trong một tiết học Mĩ

    thuật giáo viên phải biết kết hợp các biện pháp nói trên một cách linh hoạt để đạt

    14

    được hiệu quả cao trong việc dạy và học. Nên lấy học sinh làm chủ đạo hướng

    cho các em vừa học vừa chơi, không nên áp đặt, để các em không có cảm giác

    chán nản khi tham gia môn học. Giúp các em phát huy hết khả năng của mình

    vào bài học.

    III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI.

    Để cho việc dạy và học môn Mĩ thuật được tốt hơn, tôi mong các cấp lãnh

    đạo quan tâm hơn nữa đến việc giảng dạy bộ môn này, và tôi có một số kiến nghị

    sau :

    1- Nhà trường cần có phòng học chức năng đầy đủ về cơ sở vật chất.

    2- Phòng GD&ĐT huyện Sìn Hồ quan tâm tới các buổi sinh hoạt cụm.

    3- Sở GD&ĐT cần tổ chức lớp học nâng cao việc giảng dạy môn Mĩ thuật.

    4- Bộ GD& ĐT cần có một số đồ dùng dạy phân môn Mĩ thuật cụ thể hơn,

    nhiều hơn.

    5- Phụ huynh cần quan tâm đến con em mình nhiều hơn, sát thực hơn đối

    với việc học Mĩ thuật của các em, cụ thể là đồ dùng học tập.

    15

    Tạ Khắc Thịnh

    NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

    Nhận xét đánh giá của HĐKH

    Nhận xét đánh giá của HĐKH

    Trường Tiểu học số 1 Noong Hẻo

    16

    Phòng GD&ĐT Sìn Hồ

    Đề tài xếp loại:……………………..

    Đề tài xếp loại:……………………..

    Chủ tịch hội đồng

    Chủ tịch hội đồng

    HIỆU TRƯỞNG

    TRƯỞNG PHÒNG

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    17

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    ……………………………………………………..

    ……………………………………………………..

    ………………………………..

    ………………………………..

    18

    Tiểu học

    1. Điều tra cơ bả

    2. Biện pháp tiến hành

    3. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật ở Trường

    Tiểu học

    IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

    C : PHẦN KẾT LUẬN

    I. Những bài học kinh nghiệm

    II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh ngiệm

    III. Khả năng ứng dụng, triển khai

    IV. Những kiến nghị, đề xuất

    NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    19

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Dạy Học Môn Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Áp Dụng Phương Pháp Mới Đan Mạch Vào Giảng Dạy Môn Mĩ Thuật Lớp 1
  • Mẫu Đơn Đăng Ký Sáng Chế Và Giải Pháp Hữu Ích
  • Sang Kien Kinh Nghiem Mon Am Nhac
  • Skkn Môn Âm Nhạc: “”một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Tập Đọc Nhạc Cho Học Sinh Tiểu Học” : Phòng Gd&đt Tp Nam Định
  • Trường Tiểu Học Định Công: Một Số Giải Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch Ở Lớp 4 Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mĩ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Chi Tiết Về Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • Thủ Tục Đăng Kí Giải Pháp Hữu Ích Tại Hà Nội
  • Thủ Tục Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • Thủ Tục Đăng Ký Bảo Hộ Giải Pháp Hữu Ích 2022
  • Thủ Tục Sửa Đổi Đơn Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • A. ĐẶT VẤN ĐỀ

    I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

    Trong công tác dạy và học, người thầy giáo có tâm huyết bao giờ cũng tập trung vào việc đổi mới cách dạy và học. Bởi mục tiêu của người thầy luôn chú trọng vào đối tượng người học, giúp người học hiểu và nhận thức ra vấn đề cần chuyển tải một cách hiệu quả. “Khổng Tử ” đã có câu nói rất hay: Thầy dạy không biết mỏi, trò học không biết chán. Đạt được như vậy có nghĩa là người thầy đã đổi mới cách dạy – trò đã đổi mới cách học.

    Có thể nói ưu điểm của phương pháp dạy học mới theo dự án SAEPS là tích cực, mà ở đó học sinh chủ động, tự lực khai thác tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Các phương pháp dạy học mới được triển khai trong dự án đã kích thích sự say mê, hứng thú trong học tập, bồi dưỡng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tư duy và trí tưởng tượng của học sinh.Chính từ tính ưu việt của phương pháp này, tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Một số Biện pháp dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch ở khối lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mĩ thuật.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

    – Giúp học sinh lớp 4 thêm yêu thích môn học thông qua các hoạt động học tập.

    – Giúp học sinh phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo, khả năng tư duy, rèn luyện cho các em có khả năng biểu đạt, phân tích và tăng cường kỹ năng giao tiếp.

    Mặt khác, qua việc đúc kết những kinh nghiệm cũng chính là một trong những cách để ghi nhận và xem xét lại quá trình thực hành giảng – dạy, để hoàn thiện kỹ năng sư phạm của bản thân, để chọn lọc ra những gì đã làm tốt, cái gì cần phải làm tốt hơn và nghĩ cách khắc phục những gì chưa tốt. Việc tự phân tích thiết yếu này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nghề nghiệp của mỗi giáo viên, đồng thời giúp cho mỗi giáo viên có cơ hội để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục đạt kết quả cao hơn.

    III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    Chủ thể: Biện pháp dạy học môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 theo phương pháp Đan Mạch.

    Khách thể: Học sinh 4A5 trường Tiểu học Định công- Q.Hoàng Mai- Hà Nội

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

    1. Nghiên cứu lí luận

    – Những định hướng và mục tiêu giáo dục Mĩ thuật bậc Tiểu học.

    – Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4.

    – Một số vấn đề về giải pháp dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới (thuộc dự án do Đan Mạch hỗ trợ).

    2. Nghiên cứu thực trạng

    – Khái quát tình hình chung về nhà trường.

    – Thực trạng việc dạy và học bộ môn Mĩ thuật lớp 4 trường Tiểu học Định Công.

    3. Đề xuất biện pháp mới

    Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học chi tiết, khoa học và đảm bảo đúng tinh thần đổi mới theo phương pháp của Đan Mạch

    Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.

    Biện pháp 4: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi.

    Biện pháp 5: Tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh

    4. Tổ chức thử nghiệm hoặc khảo nghiệm.

    Tổ chức dạy thực nghiệm với lớp 4A5

    V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    2. Vấn đáp:

    3. Quan sát:

    4. Thực nghiệm:

    5. Phân tích, tổng hợp:

    VI. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

    – Tìm hiểu quá trình dạy và học bộ môn Mĩ thuật ở lớp 4.

    – Tìm hiểu những vấn đề cơ bản thường gặp, những tình huống, ưu điểm, hạn chế qua quá trình dạy và học bộ môn mĩ thuật học sinh khối 4 trường Tiểu học Định công- Q.Hoàng Mai- Hà

    Thời gian nghiên cứu từ đầu năm học 2022- 2022 đến nay

    B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    I. CƠ SỞ LÍ LUẬN

    1. Khái niệm: Giáo dục mĩ thuật là giúp học sinh có khả năng cảm nhận, khám phá ra nặng lực của mình thông qua các phương tiện khác nhau cũng như trải nghiệm những niềm vui thích khi tạo ra những sản phẩm, những biểu đạt mang tính độc lập và đặc sắc của mình. Điều này giúp học sinh có thể sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để có thể biểu đạt kinh nghiệm và thái độ của các em bằng nhiều cách khác nhau. Trong các quy trình dạy – học mĩ thuật sáng tạo, giáo viên phải luôn chỉ ra cho học sinh thấy rằng sẽ có vô vàn cách thức biểu đạt khác nhau chứ không phải chỉ có một cách duy nhất.

    Môn học Mỹ thuật trong trường tiểu học không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà thông qua các hoạt động tạo hình để khơi gợi và phát huy khiếu thẩm mỹ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho các em trước cái đẹp tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mỹ của riêng mình trong cuộc sống hàng ngày.

    Điểm nổi bật của phương pháp dạy học mới môn Mỹ thuật là giáo viên có thể chủ động theo từng nội dung của từng tiết dạy mà kết hợp nhiều kỹ thuật trong một bài như: Vẽ biểu cảm- Vẽ cùng nhau- Vẽ theo nhạc- Xây dựng cốt chuyện, so với phương pháp truyền thống, phương pháp mới phát huy khả năng sang tạo cao của học sinh, tiết học thoải mái, sinh động hơn. Từ môn học này tạo cơ hội cho học sinh thực hành, ứng dụng trong học tập và cuộc sống.

    2. Về mục tiêu của dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch

    Mục tiêu chính của phương pháp này nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực:

    + Năng lực kỹ năng và kỹ thuật thông qua các hoạt động : Vẽ cùng nhau, chân dung biểu đạt, vẽ theo nhạc, tạo hình từ vật tìm được, nặn hoặc uốn tạo dáng, xây dựng cốt truyện(xây dựng bối cảnh câu chuyện).

    + Năng lực biểu đạt: Có nghĩa là học sinh ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để diễn đạt sự trải nghiệm và thái độ của bản thân.

    + Năng lực phân tích và trình bày: Thông qua các hoạt động trình bày về tác phẩm của mình, tham gia giải thích, phân tích, nhận xét về nghệ thuật, kỹ thuật thể hiện tác phẩm.

    3. Ý nghĩa của dạy học môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch

    Ý nghĩa của vấn đề chính là dựa trên nền tảng của Luật Giáo dục điều 24.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đồng thời còn nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp cho học sinh những cơ sở ban đầu nhưng rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách một con người, chuẩn bị tốt cho các em về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao động để học sinh tiếp tục học lên trung học hoặc đi vào cuộc sống tùy theo nhu cầu và nguyện vọng bằng những hình thức thích hợp”. Điều này khẳng định giáo dục thẩm mĩ trong trường Tiểu học là một nội dung có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các mặt giáo dục khác, tạo nên sự hoàn thiện trong việc phát triển nhân cách của học sinh. Chính vì vậy việc giáo dục và bồi dưỡng cho học sinh có trình độ văn hoá thẩm mĩ phổ thông là hết sức cần thiết.

    4. Nội dung của dạy học theo phương pháp Đan Mạch

    Tóm lại: Qua quá trình áp dụng hiệu quả như thế nào, chúng ta cùng tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Mĩ thuật 4 tại trường Tiểu học.

    II.THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

    1. Nhận xét thực trạng dạy và học mĩ thuật ở trường tiểu học

    Dựa trên những bất cập đó có thể tóm tắt một số thuận lợi và khó khăn khi áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy bộ môn Mĩ thuật cho học sinh lớp 4 như sau.

    2. Thuận lợi và khó khăn:

    a. Thuận lợi:

    * Về phía giáo viên:

    – Giáo viên dạy Mĩ thuật luôn được sự quan tâm của Ngành cấp trên, đặc biệt là Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

    – Cơ sở vật chất của nhà trường khang trang, sạch đẹp.

    – Nội dung chương trình Mĩ thuật Tiểu học có một số bài không phù hợp vì mang yếu tố đặc thù vùng miền, nhưng theo phương pháp mới thì giáo viên có thể điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương, khả năng nhận thức của học sinh mà không quá phụ thuộc vào khuôn khổ của chương trình hiện hành.

    * Về phía học sinh:

    – Có thể nói việc giảng dạy bộ môn Mĩ thuật rất hiện hành rất tốt, học sinh rất yêu thích môn học vì là một giờ học không gò bó, không có nhiều áp lực. Đó chính là một lợi thế, không phải môn học nào cũng có được.

    b. Khó khăn:

    * Về phía giáo viên:

    – Trang thiết bị phục vụ môn học chưa nhiều, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho dạy – học Mĩ thuật.

    Nhà trường chưa có phòng học chức năng. Đối với phương pháp mới này ĐDDH cho giáo viên là không có sẵn, hầu hết giáo viên phải tự chuẩn bị vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương tiện, đồ dùng trực quan..

    * Về phía học sinh:

    Bảy quy trình dạy học Mĩ thuật chủ yếu là đề cao khả năng tự học của học sinh, nhưng để thực hiện được một quy trình các em phải chuẩn bị rất nhiều vật dụng như : giấy A0, A4, giấy bồi, kẽm, băng keo, hộp giấy, vật dụng tìm được. Điều này quả là khó khăn cho cả giáo viên và học sinh, vì bản thân các em chưa thể tự chuẩn bị được mà phải có sự hỗ trợ từ phía phụ huynh. Với “vị trí” của môn học như hiện nay thì sự nhiệt tình của phụ huynh có được như mong muốn? Nhiều em hoàn cảnh khó khăn có được hộp màu và giấy vẽ đã là may mắn.

    III. NỘI DUNG THỰC HIỆN

    1. Điều tra cơ bản.

    Trong những năm học vừa qua, tôi được phân công giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 4A5, tôi thấy hầu hết các em đều thích học vẽ, các em học tập với tinh thần hăng say, cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình thức mỗi khi các em vẽ một bức tranh. Bên cạnh đó còn một số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình, một số em còn chán nản không thích học vẽ, dẫn đến chất lượng bài vẽ hưa tốt. Tất cả những vấn đề trên rất đáng lo ngại, ảnh hưởng lớn đến việc học Mĩ thuật của học sinh cho nên tôi đã tiến hành điều tra đầu năm Tại lớp 4A5 năm học 2022 – 2022, xem các em đạt ở mức độ nào từ đó tìm ra biện pháp khắc phục và kết quả như sau:

    2. Biện pháp thực hiện

    Từ thực tế giảng dạy ở giai đoạn đầu, phần đông học sinh yêu thích môn học. Tuy nhiên vẫn có một số em rất thờ ơ, thậm chí chán nản mỗi khi đến giờ học, điều này khiến cho tiết học trở nên nặng nề, không hứng thú. Vì vậy việc khắc phục tâm lý cho học sinh quả là khó khăn và hết sức cần thiết. Dựa vào tâm lý của học sinh là thích khen ngợi, động viên và hay tò mò nên trước thời gian thực hành, tôi giới thiệu cho các em một số tác phẩm vẽ tiêu biểu của những hoạ sĩ nhí để các em xem và tự học tập theo cách vẽ, cách thể hiện tranh. Phân tích cho các em thấy được cái hay, cái đẹp được thể hiện qua các tác phẩm, động viên các em ai cũng có thể vẽ đẹp. Vì thế sự căng thẳng và chán nản trong mỗi giờ học được giảm bớt đi, các em đã có hứng thú hơn với các tiết học. Sau đó trong những bài học vẽ tranh tôi khuyến khích các em vẽ nhiều và vẽ đẹp cho học sinh tự nhận xét, tự đánh giá tác phẩm của bạn có đẹp hay không đẹp và vì sao? Như vậy tôi đã hướng dẫn cho các em biết tự nhận xét, đánh giá được bài vẽ của bạn và mình.

    Môn học Mĩ thuật Đan Mạch không chỉ đòi hỏi các em vẽ phải có tính sáng tạo, vẽ đẹp mà các bài tập thực hành còn đòi hỏi các em có sự cảm nhận giá trị nghệ thuật, nắm được mục tiêu giáo dục ở trong mỗi bài học. Vì thế trong quá trình giảng dạy tôi đã đưa ra một số biện pháp sau đây nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mĩ thuật.

    IV. CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC MĨ THUẬT THEO PHƯƠNG PHÁP ĐAN MẠCH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MĨ THUẬT

    1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch dạy học thực hiện bảy quy trình mĩ thuật theo phương pháp mới

    1.1. Mục tiêu: Lập kế hoạch dạy chi tiết từng hoạt động giúp giáo viên chủ động và ứng phó kịp thời, đúng đắn các tình huống sư phạm có thể xảy ra trên lớp.

    1.2. Cách thực hiện:

    Khi dạy học dưới bất cứ phương pháp nào đều yêu cầu giáo viên phải lập được kế hoạch dạy học hoàn chỉnh. Đó không chỉ là đơn thuần thực hiện cho đúng nhiệm vụ khi lên lớp mà nó còn thể hiện tinh thần trách nhiệm của mỗi giáo viên đối với học sinh. Có thể nói việc lập kế hoạch giảng dạy tốt là đã thành công một nửa của quá trình dạy học. Giáo viên là người điều khiển quá trình và tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy bằng các câu hỏi mở và khuyến khích các em chia sẻ những kinh nghiệm sẵn có của mình. Điều này tạo ra nền tảng cần thiết để giúp các em kiến tạo được quy trình học tập của mình bằng cách liên hệ những điều đã biết với những điều sẽ học. Khi lập kế hoạch giáo viên phải căn cứ vào tình hình thực tế của lớp để điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp và sát với khả năng tiếp thu của học sinh. Kế hoạch cho từng hoạt động hoặc cho toàn bộ quy trình theo phương pháp Đan Mạch có thể ngắn, dài và kết nối, liên kết, xâu chuỗi các hoạt động quy trình với nhau, kết thúc hoạt động này sẽ là mở đầu cho hoạt động tiếp theo… Cụ thể khi xây dựng kế hoạch dạy học theo phương pháp mới, giáo viên cần phải chú ý tới:

    + Mục tiêu bài học: Mỗi bài học, tiết học đều có mục tiêu chung là hướng tới hình thành cho học sinh phát huy khả năng tưởng tượng, sáng tạo và năng lực diễn đạt bằng lời nói, học sinh tưởng tượng và sáng tạo được một câu chuyện bằng ngôn ngữ mĩ thuật. Tuy nhiên, giáo viên vẫn cần xác định rõ mục tiêu cụ thể của bài học đó là học sinh hiểu được gì? Thực hiện như thế nào và làm được gì?

    1.3. Ví dụ minh họa:

    1.3.1. Chủ đề Em sáng tạo cùng những con chữ

    + Nội dung tiết 1 là: Tìm hiểu về kiểu chữ nét đều, chữ nét thanh nét đậm

    – Mục tiêu tiết 1là:Hs nêu được đặc điểm của kiểu chữ nét đều, nét thanh nét đậm và kiểu chữ trang trí.

    -Tạo dáng chữ tên mình hoặc người thân theo ý thích.

    – Biết giới thiệu và nhận xét sản phẩm

    + Nội dung tiết 2 là: Sáng tạo cùng những con chữ (cá nhân)

    + Mục tiêu tiết 2 là – Trang trí và vẽ màu sản phẩm tiết 1.

    – Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm.

    + Nội dung tiết 3 là:Sáng tạo cùng những con chữ (theo nhóm)

    + Mục tiêu tiết 3 là : – Biết sắp xếp sản phẩm của cá nhân trang trí tạo thành sản phẩm nhóm.

    – Biết giới thiệu, nhận xét sản phẩm.

    – Điều kiện tiên quyết: Đó là những yêu cầu thiết yếu để quá tình giảng dạy có hiệu quả, bao gồm: Tạo điều kiện để học sinh học qua nhiều kênh; chú ý khả năng, phong cách học của từng học sinh; kết hợp kiến thức của bản thân học sinh và chiến lược học tập;xây dựng môi trường học tập thân thiện, truyền cảm hứng cho các em.

    – Môi trường học tập: Học tại lớp, học ở phòng chức năng hay sân trường. Môi trường học tập thoải mái sẽ hỗ trợ rất nhiều cho quá trình dạy và học.

    – Quá trình đánh giá học: Mỗi quá trình học là một sâu chuỗi các hoạt động diễn ra.

    – Đánh giá: giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình thực hiện.

    a. Dự kiến các hoạt động dạy-học diễn ra theo trình tự hợp lý và nối tiếp nhau.

    Mỗi tiết dạy, mỗi giai đoạn của một quy trình đều có những hoạt động và mục tiêu giáo dục khác nhau, do đó đòi hỏi giáo viên phải xây dựng và đề ra những nội dung công việc cụ thể, hình thức học tập, cách thực hiện… Ví dụ ở

    – Tổ chức trò chơi: Ai nhanh hơn. Luật chơi: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên vẽ cây. Học sinh dưới lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi vẽ phải ngừng tay. Đội nào có học sinh vẽ nhanh, vẽ được nhiều hình cây nhất là đội thắng cuộc.

    – Giáo viên cùng học sinh nhận xét phần thi đua của các đội.

    *Em quan sát thấy những hình ảnh gì? Đó là những hoạt động nào? diễn ra ở đâu, khi nào?

    *Không khí, cảnh vật, màu sắc trong hình như thế nào?

    *Em hãy kể tên những lễ hội mà em biết?

    *Em hãy kể một số hoạt động khác trong dịp tết cổ truyền của dân tộc ngoài những hoạt động em thấy trong hình?

    *Em yêu thích nhất hoạt động nào trong ngày tết, lễ hội và mùa xuân?

    * Em thích sản phẩm tạo hình nào nhất? đó là hoạt động gì của ngày tết, lễ hội và mùa xuân?

    *Hình ảnh nào là hình ảnh chính? Hình ảnh nào là hình ảnh phụ trong mỗi sản phẩm?

    *Hình ảnh phụ có phù hợp với hình ảnh chính không?

    *Sản phẩm em thích được tạo hình bằng chất liệu gì? Các hình ảnh được sắp xếp như thế nào?

    – Giáo viên tóm tắt :

    – Một số học sinh kể trước lớp..

    – Giáo viên và học sinh cùng nhận xét, rút ra cách vẽ.

    – Học sinh hát một bài kết hợp vận động để kết thúc tiết học.

    b. Dự kiến cách giới thiệu bài phong phú, đa dạng để lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào tiết học.

    + Cách 1:

    – Hiệu quả: Học sinh nắm được tên bài học. Không khí lớp học không thay đổi, học sinh chăm chú nghe nhưng chưa nắm được thêm bất cứ kiến thức gì ngoài tên bài.

    + Cách 2:

    – Hiệu quả: học sinh nắm được tên bài học, biết được những con vật nuôi và nhưng con vật sống trong tự nhiên, không khí lớp học sinh động, học sinh thích thú khi được tham gia trò chơi. Vậy nên giáo viên cần chú ý giới thiệu bài thông qua nhiều hình thức như: thông qua trò chơi, kể một câu chuyện nhỏ, một tình huống hay đóng vai, tạo dáng, trải nghiệm thực tế…vừa tạo hứng thú học tập cho học sinh vừa cung cấp kiện thức một cách dễ hiểu nhất.

    Chính vì vậy khi giới thiệu bài, giáo viên nên tạo không khí phấn khởi cho giờ học, thu hút sự chú ý, gây tâm lý chờ đón, hồi hộp cho học sinh, không nên “đi ngay” vào nội dung.

    c. Xây dựng các nội dung giúp học sinh trải nghiệm.

    d. Tổ chức hình thức học tập theo quy trình hiệu quả nhất.

    – Tiết 2: Học sinh thể hiện ý tưởng thông qua việc tạo hình 2D (vẽ biểu đạt, tạo ngân hàng hình ảnh)

    – Tiết 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm (vẽ cùng nhau, vẽ theo nhạc, tạo hình 3D…)

    – Tiết 4 trưng bày, giới thiệu sản phẩm.

    1.3.2. Chủ đề Chúng em với thế giới động vật – thực hiện 4tiết.

    Tiết 2: Vẽ cùng nhau. Học sinh vẽ theo nhóm, kết hợp xé dán những con vật nuôi em thích (được lựa chọn từ những con vật các em đã vẽ ở tiết trước). Có thể chọn những con vật cùng môi trường sống, nhóm gia súc, nhóm gia cầm, nhóm con vật sống dưới nước, ở rừng…

    Tiết 3:Tạo hình 3D.Học sinh nặn kết hợp xé dán hình các con vật theo nhóm, Trưng bày sản phẩm.

    Tiết 4:Xây dựng và chia sẻ nội dung các câu chuyện

    2.1. Mục tiêu: Giúp học có thể khám phá, suy nghĩ, thể hiện về các trải nghiệm, quan điểm, cảm xúc và khả năng tưởng tượng của bản thân.

    2.3. Ví dụ minh họa:

    3. Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt 7 quy trình Mĩ thuật mới phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.

    3.2. Cách thực hiện: Bảy quy trình mĩ thuật theo phương pháp mới bao gồm:

    1. Quy trình Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu chuyện.

    2. Quy trình Vẽ biểu cảm.

    3. Quy trình Trang trí và vẽ tranh qua âm nhạc.

    4. Quy trình Xây dựng cốt truyện.

    5. Quy trình Tạo hình từ dây thép và vật tìm được.

    6. Quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không gian.

    7. Quy trình Tạo hình con rối và biểu diễn nghệ thuật.

    – Năng lực đánh giá được phát triển qua quá trình quan sát,trải nghiệm và thưởng thức các sản phẩm mĩ thuật do chính các em tạo nên. Tuy nhiên, do cơ sở vật chất, không gian học tập, khả năng nhận thức của học sinh lớp Một chưa thể đáp ứng được yêu cầu khi dạy theo phương pháp mới nên giáo viên chỉ có thể áp dụng 5 quy trình, còn 2 quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không gian, Tạo hình con rối và biểu diễn nghệ thuật chỉ có thể thực hiện ở các khối lớp lớn hơn.

    Một số lưu ý khi thực hiện 7 quy trình

    – Giáo viên cũng cần phối hợp tích cực với phụ huynh, đồng nghiệp, Ban giám hiệu để phối hợp huy động nguồn lực dạy học Mĩ thuật hiệu quả; yêu cầu học sinh chuẩn bị các học liệu, đồ dùng học tập cho buổi học sau.

    – Giáo viên cũng cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình; nhà trường có thể tổ chức triển lãm, trưng bày sản phẩm của học sinh vào các ngày sinh hoạt tập thể.

    – Họa phẩm và vật liệu phục vụ cho phương pháp dạy Mĩ thuật Đan Mạch, Sở yêu cầu tận dụng tối đa các phương tiện, đồ dùng học tập sẵn có, sử dụng linh hoạt các chất liệu học sinh đã có, hướng dẫn học sinh sưu tầm các chất liệu sẵn có ở địa phương, những vật dụng bỏ đi để tạo ra nhiều chất liệu phong phú trong các hoạt động dạy học Mĩ thuật.

    * Kết quả sau khi áp dụng: Hầu hết học sinh đều biết chủ động trong quá trình học tập, tự tin trước lớp, giao tiếp tiến bộ, năng lực sáng tạo, biểu đạt có tiến bộ rõ rệt.

    4. Biện pháp 4: Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các hoạt động thi đua, trò chơi.

    4.1. Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo. Học sinh cảm nhận được sự thoải mái khi việc học của mình vừa gắn với kiến thức trong sách vở, vừa thông qua sự trải nghiệm của chính bản thân trong các hoạt động tập thể.

    4.2. Cách thực hiện:

    a. Xây dựng bầu không khí học tập thân thiện:

    Để các học sinh tự tin hơn khi thực hiện các sản phẩm của mình thì rất cần một môi trường học tập thân thiện. Phong trào này cũng đã được Bộ Giáo dục-Đào tạo triển khai trong toàn ngành từ những năm gần đây, được xác định gồm 5 nội dung. Đó là:

    – Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn.

    – Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập.

    – Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.

    – Tổ chức các hoạt động tập thể, vui tươi, lành mạnh.

    – Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương.

    Do đó muốn xây dựng môi trường học tập thân thiện thì cũng phải thực hiện tốt các nội dung trên, nhưng ở phạm vi lớp học và tùy tình hình học sinh, cơ sở vật chất…mà giáo viên tổ chức cho phù hợp. Trước hết giáo viên cần thể hiện phong cách giao tiếp thực sự tôn trọng học sinh. Tất cả bề ngoài hình thức như dáng đi, đứng, cử chỉ, điệu bộ, thái độ, ngôn ngữ đều phải thể hiện được sự thân thiện.Luôn giao tiếp thân thiện với học sinh trong mọi tình huống.

    Khi học sinh thực hành, giáo viên cần phải theo dõi, quán xuyến chung, điều chỉnh, bổ sung những gì mà đa số học sinh chưa rõ hoặc còn lúng túng. Theo dõi giúp học sinh kém, động viên khích lệ học sinh khá, cụ thể là:

    + Gợi ý học sinh nhận ra những thiếu sót ở bài vẽ để học sinh rút kinh nghiệm và tự sửa chữa.

    + Động viên, khích lệ học sinh khá, giỏi tạo điều kiện cho các em suy nghĩ tìm tòi thêm, nâng cao hiệu quả sáng tạo ở bài vẽ.

    Ví dụ như khi học sinh vẽ biểu đạt : Tùy điều kiện thực tế, giáo viên khuyến khích học sinh lựa chọn chất liệu, màu sắc phù hợp để vẽ nhằm tăng tính biểu cảm. Giáo viên nên đi và quan sát cả lớp, đặt câu hỏi để giúp các em lựa chọn được màu sắc và nội dung đạt chất lượng. sau hoạt động này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh dùng khung tự tạo để xác định bố cục bức tranh trong Vẽ chân dung, và cả những bức tranh khác được sáng tạo trong suốt quá trình học mĩ thuật, tạo cho các em cách nhìn thẩm mĩ và phương pháp trình bày tác phẩm khi trưng bày bằng những câu hỏi gợi ý như:

    – Em muốn thể hiện điều gì và em thể hiện nội dung đó như thế nào trong bức tranh này?

    – Tại sao em sử dụng màu này?

    – Hình ảnh trong tranh của em có theo những gì em muốn thể hiện không?

    – Trong bài vẽ của mình, em muốn thêm hay bỏ chi tiết nào? Lí do?…

    Mặt khác, dù dạy theo phương pháp cũ hay mới, giáo viên chuyên trách Mĩ thuật luôn gặp khó khăn chung với đối tượng học sinh lớp Một đó là : Các em không dám vẽ, sợ vẽ xấu các bạn chê cười, hay sao chép hoặc bắt chước ý tưởng của bạn. Khi vẽ các em hay tẩy xóa, thường vẽ hình quá nhỏ. Đây là hạn chế mà các em thường mắc phải nhiều. Nhất là giai đoạn đầu năm, các em còn bỡ ngỡ do chưa quen, thậm chí có em chưa một lần cầm bút vẽ, chưa nhận biết được tên các màu. Giáo viên phải biết cách phát huy các mặt mạnh của học sinh, luôn khen ngợi những học sinh có nét vẽ ngộ nghĩnh, động viên, khích lệ học sinh còn yếu. Động viên khích lệ kịp thời một tiến bộ dù nhỏ nhất của các em. Điều này sẽ giúp các em bớt mặc cảm tự ti và có tinh thần học tập hơn. Có em vẽ hình rất đẹp nhưng lại hay tẩy xoá vì các em sợ sai, vì các em chưa nhìn thấy được cái đẹp trong tranh của mình. Ngoài việc giải thích, giáo viên cần so sánh bài vẽ đẹp và chưa đẹp để học sinh hiểu thêm. Đồng thời nên tuyên dương thường xuyên những nỗ lực dù rất nhỏ của các em để các em tự tin hơn trong học tập.

    b. Tăng cường tổ chức các trò chơi lồng ghép vào quá trình học tập:

    Bên cạnh hoạt động học là chủ đạo thì nhu cầu chơi, giao tiếp với bạn bè của các em học sinh lớp Một cũng không thể thiếu. Nếu giáo viên biết phối hợp nhịp nhàng giữa nhiệm vụ của hoạt động học với sự thỏa mãn nhu cầu chơi, giao tiếp của các em “Học mà chơi, chơi mà học” thì các em sẽ hăng hái, say mê học tập và một điều tất yếu là kết qủa học tập của các em sẽ được nâng lên. Đây cũng là một phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trên cơ sở khai thác đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Khi tổ chức trò chơi,giáo viên cần lưu ý:

    + Tổ chức vào thời điểm thích hợp. Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để giới thiệu bài hay hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Do đó giáo viên nên linh hoạt tổ chức ở những thời điểm khác nhau nhằm tạo sự bất ngờ và giảm căng thẳng của giờ học.

    + Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp cùng tham gia. Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn học sinh nên duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học. Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, do đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức mới. Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho học sinh, tăng cường khả năng giao tiếp và giúp các em rèn kỹ năng hợp tác. Có thể nói điều khiển tiến trình một cuộc chơi với học sinh lớp Một sao cho sôi nổi, sinh động, hấp dẫn lôi cuốn được tất cả các em tham gia chơi một cách thích thú nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu tiết học là không dễ. Vì nếu tổ chức sơ sài hoặc mang tính chất hình thức thì học sinh tham gia một cách miễn cưỡng, có em còn nhân dịp này để làm việc riêng, đùa giỡn gây mất trật tự lớp học. Còn nếu tổ chức quá chú trọng vào phần chơi mà quên đi phần học thì giáo viên sẽ khó mà quản lý lớp học đi đúng hướng.

    Một số trò chơi có thể áp dụng như: thi vẽ nhanh, vẽ đẹp, tưởng tượng từ hình có sẵn vào đầu, cuối tiết học hoặc trước khi thực hành. Đây chính là thời gian để các em luyện vẽ và tăng cường khả năng vẽ nhanh, vẽ đẹp và giúp các em phấn chấn tinh thần,hăng hái học tập hơn. Cách tiến hành như sau:

    Từ những hình này, học sinh vẽ tiếp thành hình các con vật mà em thích như: con trâu, con heo, con mèo, con thỏ…

    – Trò chơi : Ai nhanh hơn. Luật chơi: Mỗi nhóm cử 1 đại diện lên vẽ nhiều con vật nuôi ( hoặc vẽ một tranh). HS dưới lớp hát 1 bài. Khi hát hết bài thì các đội thi vẽ phải ngừng tay. Đội nào có học sinh vẽ nhanh, vẽ nhiều con vật (hoặc tranh đẹp nhất) là đội thắng cuộc…

    Khi tổ chức trò chơi, giáo viên cần đánh giá cao phần tham gia của các đội, không làm qua loa đại khái, có khen thưởng, tuyên dương kịp thời cũng là một biện pháp làm cho học sinh thêm tích cực vì em nào cũng thích được khen, được thầy cô quan tâm đến việc làm của mình. Bên cạnh đó cần động viên những đội còn lại để các em cố gắng hơn ở lần sau. Sau mỗi lần chơi giáo viên cần nhận xét đánh giá kết quả của học sinh. Dựa vào yêu cầu, nội quy chơi, kết quả cuộc chơi giáo viên đánh gía cuộc chơi và phân loại thắng thua thật công bằng, rõ ràng. Giáo viên phải hết sức lưu ý vấn đề này vì đôi khi có giáo viên nêu yêu cầu và luật chơi rất khắt khe nhưng khi đánh giá kết quả lại đại khái, không chính xác hoặc không công bằng vì vậy sẽ làm cho học sinh mất phấn khởi, đôi khi các em biểu lộ sự phản đối với sự đánh giá đó và không chấp nhận kết luận của giáo viên. Để đánh giá đúng thực chất của cuộc chơi, giáo viên phải thống kê ra được những ưu điểm, nhược điểm của từng đội tham gia chơi. Tuy nhiên vẫn cần sự đánh giá nhẹ nhàng mang tính chất động viên, khích lệ là chính, tránh tình trạng đánh giá để các em buồn và xấu hổ với bạn bè khi không thắng trò chơi.

    Việc tăng cường nhận xét, đánh giá học sinh nhằm giúp nhận biết được điểm mạnh, điểm yếu của học sinh để có biện pháp cải thiện, hoàn thiện phương thức dạy và học để phát triển năng lực của học sinh.

    – Sự phân công trong nhóm.

    – Tinh thần thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thực hiện.

    – Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

    – Thời gian hoàn thành sản phẩm.

    – Kĩ năng trình bày nội dung tranh vẽ trước lớp.

    Việc đánh giá kết quả không chỉ dựa trên thành tích chung của cả nhóm mà còn dựa trên sự đóng góp của từng thành viên trong nhóm. Để thực hiện việc đánh giá đảm bảo công bằng, đúng thực tế, giáo viên cần có sổ tay theo dõi ghi nhận ngay những cá nhân tích cực, cá nhân thụ động hay sáng tạo, những nhóm làm việc hiệu quả…Khi thực hiện việc đánh giá, giáo viên cần nêu rõ những mặt được và chưa được để học sinh nắm và thực hiện tốt hơn. Bên cạnh việc tuyên dương những học sinh tích cực, chăm chỉ, giáo viên cũng cần nghiêm khắc nhắc nhở những học sinh chưa tập trung, lơ là, hay nói chuyện, làm việc riêng để các em có trách nhiệm và ý thức hơn.

    Khi đánh giá hoạt động của một nhóm, giáo viên cũng cần lưu ý tới những tiến bộ của các em. Bởi vì sự tiến bộ đó thể hiện tinh thần, thái độ tiếp thu bài học có hiệu quả mà các em đạt được. Sản phẩm của một nhóm thường là hoàn thành tốt thì không có gì phải bàn, nhưng có nhiều trường hợp ở hoạt động trước các em chỉ hoàn thành hoặc chưa hoàn chỉnh, ở hoạt động sau lại có sản phẩm nổi trội hoặc xuất sắc thì rất cần sự ghi nhận của giáo viên. Đó chính là động lực để các em có tinh thần học tập tốt hơn ở các hoạt động sau.

    Hiện tại việc đánh giá môn học được thực hiện theo thông tư 22, do đó đánh giá hoạt động nhóm là một phần quan trọng để làm căn cứ cho giáo viên thực hiện đúng thực chất, công bằng và khách quan. Nhất là đối với nội dung năng lực và phẩm chất, nếu giáo viên chỉ dựa trên cơ sở là sản phẩm mĩ thuật của các em là chưa đủ, chưa chính xác, mà phải dựa trên nhiều yếu tố như: Khả năng kết hợp với bạn, khả năng giao tiếp, tính tích cực, sáng tạo…Chính vì vậy, giáo viên cần coi trọng khâu đánh giá hoạt động nhóm của học sinh trong các giờ học, để đảm bảo các yêu cầu về chuyên môn, đạt mục tiêu giáo dục của môn học Mĩ thuật trong trường Tiểu học.

    IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

    Tính tới thời điểm hiện tại, học sinh đã quen và thực hiện tương đối tốt mô hình học tập mới này, áp lực học tập không còn là vấn đề với các em. Đây chính là hình thức dạy học theo phương pháp mở (kết thúc bài học này là mở ra một bài học mới), tăng cường dạy học hợp tác nhưng vẫn coi trọng cá thể hóa học sinh. Tạo cơ hội cho học sinh thực hành các bài tập ứng dụng thiết thực, phục vụ cho học tập và cuộc sống.

    Qua việc học tập theo phương pháp mới giúp cho học sinh có được những trải nghiệm để gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và phát triển sức sáng tạo và biểu đạt, vì vậy học sinh sẽ có được những hình ảnh và động lực mang tính tinh thần. Hạn chế được cảm giác lo sợ vì không biết vẽ của các em. Học sinh biết bảo vệ ý thức chủ quan của bản thân khi vẽ tranh, không bị ảnh hưởng bởi lời chê bai của các bạn khác. Học sinh được bồi dưỡng rèn luyện óc quan sát, cách so sánh sự vật hiện tượng, giúp các em tìm tòi thể hiện để vươn tới cái đẹp. Các em cảm nhận được cái đẹp và chưa đẹp một cách rõ ràng qua việc nhận xét hình ảnh, tranh vẽ. Biết tạo ra các sản phẩm làm đẹp phục vụ cho sinh hoạt như: trang trí đồ vật, trang trí góc học tập. Một điều không thể không nhắc tới đó là học sinh yêu thích môn học hơn, vẽ một cách say sưa hơn, hứng thú với nhiều sáng tạo, khiến cho tiết học trở nên thoải mái, nhẹ nhàng. Quan trọng hơn cả là các em đã thấy tự tin khi vẽ, tạo được những câu chuyện ngộ nghĩnh mang hiệu quả bất ngờ, đẹp mắt.

    Với kết quả như trên, tôi thấy việc dạy học Mĩ thuật muốn có kết quả giảng dạy cao thì người thầy phải không ngừng tìm tòi và đổi mới phương pháp dạy học. Để tạo được cách dạy lấy học sinh làm trung tâm cho bài dạy, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi mở, thì ngoài việc sử dụng một số phương pháp dạy truyền thống còn cần kết hợp nhiều phương pháp khác để tiết học sinh động lôi cuốn học sinh tham gia hơn. Với kết quả này, mỗi chúng ta cũng không lấy đó làm bằng lòng để rồi dừng ở đó. Theo tôi đã là giáo viên thì việc học hỏi, tìm tòi và sáng tạo trong cách dạy là một nhiệm vụ mỗi ngày của người thầy, hoạt động đó phải được diễn ra thường xuyên có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao đối với tri thức, và đặc biệt có thể tạo điều kiện cho học sinh vững vàng bước vào chương trình Mĩ thuật ở bậc Trung học cơ sở.

    Vì vậy tôi sẽ áp dụng những biện pháp này vào trong việc giảng dạy của mình để chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật của trường Tiểu học Định Công được tốt hơn và tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp này cho các bạn đồng nghiệp trong huyện tham khảo và góp ý để cùng nâng cao chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật ở Tiểu học .

    I. KẾT LUẬN

    1. Những kết luận được rút ra từ SKKN

    Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, kết quả của nó là kết quả của cảm xúc, chứ không đơn giản là kỹ thuật hay kỹ năng. Muốn tạo ra cái đẹp, học sinh phải có cảm xúc. Cảm xúc phải xuất phát từ sự rung động của học sinh trước vẻ đẹp của đối tượng cùng với phương pháp giảng dạy hấp dẫn, lôi cuốn của giáo viên. Cái đẹp phù hợp với cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của mỗi học sinh. Trẻ em có cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận riêng, không giống cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận của người lớn.

    2. Bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tế và thử nghiệm

    Qua quá trình áp dụng phương pháp dạy học Mĩ thuật mới chúng tôi nhận thấy cái hay của phương pháp này là đặt người học vào vị trí chủ động phải tìm hiểu vấn đề và tìm ra cách giải quyết hiệu quả, sáng tạo nhất. Việc đánh giá học sinh cũng không còn bị đặt quá nặng vào sản phẩm của các em mà nó được đánh giá dựa trên cả quá trình mà các em tham gia. Đây là một chương trình giáo dục Mĩ thuật Tiểu học năng động, phát huy, rèn luyện được nhiều kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là kỹ năng sống.Giáo viên cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình, nhà trường có thể tổ chức triển lãm, trưng bày sản phẩm của học sinh vào các ngày sinh hoạt tập thể. Tập cho học sinh thói quen sưu tầm và cất giữ những vật dụng, vỏ hộp, chai nhựa..không còn sử dụng để khi cần có thể sử dụng. Làm tốt công tác tư tưởng với phụ huynh để phụ huynh tham gia chuẩn bị tốt họa phẩm và vật liệu phục vụ cho phương pháp dạy Mĩ thuật Đan Mạch, có thể tận dụng tối đa các phương tiện, đồ dùng học tập sẵn có, sử dụng linh hoạt các chất liệu học sinh đã có, hướng dẫn học sinh sưu tầm các chất liệu sẵn có ở địa phương, những vật dụng bỏ đi để tạo ra nhiều chất liệu phong phú trong các hoạt động dạy học Mĩ thuật.

    II. KHUYẾN NGHỊ

    Với mong muốn là làm thế nào để áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy môn Mĩ thuật Tiểu học ngày càng hiệu quả và giúp giáo viên tháo gỡ những khó khăn, tôi xin kiến nghị một số ý như sau:

    1. Đối với trường:

    + Rất mong BGH nhà trường tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp thêm tài liệu nghiên cứu giảng dạy và đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học.

    + Như lời thầy Nguyễn Hữu Hạnh, chuyên viên chính Vụ Giáo dục Tiểu học, BGD&ĐT : “Cái gì đổi mới, thời gian đầu cũng sẽ không tránh khỏi khó khăn, điều quan trọng chính là ở chỗ, người giáo viên phải biết lấy học sinh làm trung tâm của quá trình giảng dạy, hiểu trình độ từng em, từ đó có những hành động thiết thực để cải thiện điều kiện học tập và kết quả học tập của các em”. Vâng, khó khăn nào giáo viên cũng sẽ cố gắng vượt qua, nhưng khó khăn do cơ sở vật chất nhà trường, do kinh tế gia đình học sinh thì có cố mấy cũng không hiệu quả. Vậy nên kính mong ngành cấp trên sẽ có những điều chỉnh phù hợp để giáo viên chuyên trách Mĩ thuật không còn quá lo lắng, băn khoăn và an tâm công tác, nhằm huy động nguồn lực dạy học Mĩ thuật hiệu quả, giúp học sinh có cơ sở vật chất để học tập một cách tốt nhất.

    Tổ chức tập huấn rút kinh nghiệm qua quá trình áp dụng để giáo viên nắm vững thêm về phương pháp mới. Cần xây dựng nội dung thành các tiết dạy minh họa nhằm định hướng tổ chức dạy học và chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên chuyên.

    3. Đối với Sở GD&ĐT: Cần tổ chức lớp học nâng cao việc giảng dạy môn Mĩ thuật.

    4. Đối với Bộ GD& ĐT: Cần có một số đồ dùng dạy phân môn Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch cụ thể hơn, nhiều hơn

    Hướng phổ biến đề tài: Đề tài này có thể áp dụng phổ biến cho giáo viên chuyên trách trong toàn quận và có thể làm tài liệu tham khảo để trao đổi kinh nghiệm giữa các đồng nghiệp có nhu cầu.

    Hướng nghiên cứu tiếp: Hướng tới tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu đề ra các giải pháp thực hiện việc giảng dạy Mĩ thuật Tiểu học nói chung theo phương pháp mới có hiệu quả hơn. Những vấn đề mà tôi đã nêu chắc chắn không tránh khỏi hạn chế và thiếu xót. Song đó là những kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã rút ra được trong quá trình nghiên cứu và dạy thử nghiệm. Tôi rất mong được sự tham khảo, nhận xét, góp ý bổ sung của đồng nghiệp, của cấp trên để giải pháp này được hoàn thiện nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học môn Mĩ thuật ở khối lớp 4.

    Quận Hoàng Mai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Môn Mĩ Thuật Phát Huy Tính Tích Cực Của Phương Pháp Đan Mạch
  • Skkn Một Số Phương Pháp Dạy Và Học Môn Mĩ Thuật Đan Mạch Ở Tiểu Học
  • Đổi Mới Dạy Học Môn Mĩ Thuật Theo Phương Pháp Đan Mạch
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Áp Dụng Phương Pháp Mới Đan Mạch Vào Giảng Dạy Môn Mĩ Thuật Lớp 1
  • Mẫu Đơn Đăng Ký Sáng Chế Và Giải Pháp Hữu Ích
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Trong Trường Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Cần Tạo Động Lực Cho Người Học
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Công Nghệ Lớp 7.2 Trường Trung Học Cơ Sở Truông Mít Thông Qua Sử Dụng Video Clip, Hình Ảnh Bổ Sung Khi Dạy Phần Trồng Trọt
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Đối Với Trẻ Ở Trường Mầm Non
  • Ngày nay, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã có những tác động to lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trong mỗi Quốc gia và trên Thế giới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học và công nghệ thông tin, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hoá – hiện đại hoá, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng – thế giới nói chung.

    Nghị quyết Trung ương số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã chỉ rõ mục tiêu giáo dục: “… đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

    ( Luật giáo dục 2005 – trang 1)

    Trong đó, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

    Hiện nay ngoài việc học 9 môn bắt buộc, học sinh tiểu học còn được học các môn tự chọn (như Tiếng Anh, Tin học).

    Ta thấy rằng, mục tiêu dạy môn tự chọn ở tiểu học là nhằm hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực cá nhân, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Học sinh được học theo sở thích, năng lực của mình nên em nào cũng hồ hởi khi được học môn tin học.

    Xác định rõ tầm quan trọng của CNTT đối với yêu cầu phát triển đất nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa môn tin học vào trong nhà trường ngay từ bậc học tiểu học.

    Ở tiểu học, học sinh được tiếp xúc với môn tin học để làm quen dần với lĩnh vực công nghệ thông tin, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học những phần nâng cao trong các cấp học tiếp theo.

    Có hiểu biết ban đầu về tin học và ứng dụng tin học trong học tập và trong đời sống.

    Có khả năng sử dụng máy tính trong việc học những môn học khác, trong hoạt động vui chơi giải trí nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và thích ứng với đời sống xã hội hiện đại.

    Bước đầu học sinh được làm quen với cách giải quyết vấn đề có sử dụng công cụ tin học.

    Là giáo viên dạy môn Tin học ở tiểu học tôi thấy: Chương trình tin học của học sinh tiểu học gồm các nội dung chủ yếu như làm quen với việc sử dụng máy vi tính, sử dụng những thiết bị thông dụng, sử dụng phần mềm trò chơi mang tính giáo dục, sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản, sử dụng phần mềm đồ họa, bước đầu làm quen với Internet… Các em rất yêu thích môn học này nên tiếp thu bài rất nhanh. Do vậy, việc đưa tin học vào tiểu học ở môn tự chọn là đúng đắn. Đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay, ngành Giáo dục – Đào tạo đã có khả năng tự trang bị phòng máy vi tính cho các trường.

    Việc đưa tin học vào giảng dạy ở cấp tiểu học dù tự chọn hay chính khóa rất cần có sự đầu tư cơ sở vật chất nhất định, nhằm vào mục tiêu hỗ trợ giáo viên giảng dạy, hỗ trợ học sinh học tập.

    Môn tin học ở bậc tiểu học bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiến thức ban đầu về công nghệ thông tin như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ thường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính, … đồng thời hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động hiện đại như:

    + Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.

    + Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.

    + Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động xã hội hiện đại.

    + Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học.

    + Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập.

    + Có ý thức tìm hiểu công nghệ thông tin trong các hoạt động xã hội.

    Đặc biệt khi học sinh học các phần mềm sẽ được tích hợp nhiều nội dung kiến thức, phát triển nhiều kỹ năng cho bản thân như:

    + Phần mềm soạn thảo văn bản: học sinh ứng dụng từ các môn học Tiếng Việt để trình bày đoạn văn bản sao cho phù hợp, đúng cách. Ứng dụng soạn thảo văn bản để soạn thảo giải những bài toán đã học ở cấp tiểu học.

    + Phần mềm đồ họa (Paint): học sinh ứng dụng trong môn Mĩ thuật, học được từ môn Mĩ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà và có thẩm mĩ.

    + Phần mềm cùng học toán 3, cùng học toán 4, cùng học toán 5: Đã giúp các em luyện tập giải toán và các kĩ năng làm toán…

    + Ngoài ra còn một số phần mềm trò chơi rất bổ ích: Giúp các em luyện sử dụng chuột và giải trí.

    + Chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa các bài vừa học, vừa chơi. Điều đó sẽ rèn luyện cho học sinh óc tư duy sáng tạo trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho học sinh thư giãn sau những giờ học căng thẳng ở lớp.

    Từ các lí do trên tôi chọn viết và trao đổi với các đồng chí chuyên đề “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học trong các trường Tiểu học”. Qua các biện pháp trong chuyên đề sẽ giúp các em học tốt hơn, đồng thời giúp các em có một kĩ năng sử dụng tốt máy tính để hỗ trợ cho việc học tập của bản thân. Chuyên đề cũng nhằm cung cấp cho các đồng chí GV Tin một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Tin học ở trường mình khi áp dụng phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi trường.

    II. THỰC TRẠNG 1. Thuận lợi

    – Hàng năm phòng GD&ĐT đều có kế hoạch mua sắm trang thiết bị trong đó có bổ sung, trang bị máy tính cho các trường.

    – Về chương trình môn học: Năm học 2022-2018, Bộ GD&ĐT đã triển khai chương trình sách Hướng dẫn học tin học lớp 3-4-5 ngay từ đầu năm học. Sách hướng dẫn học Tin học mới có sự cải tiến nhiều hướng tới học sinh, giúp học sinh đến gần hơn với CNTT, tiếp xúc với các phần mềm mới và phù hợp với các em hơn.

    – Sách mới giúp việc tương tác và truyền tải nội dung giữa thầy và trò được thuận lợi hơn.

    – Giáo viên được đào tạo trình độ chuẩn, đáp ứng về kiến thức và phương pháp, đảm bảo yêu cầu dạy học môn Tin học ở bậc Tiểu học. Thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp huyện, cấp cụm đồng thời tự học tập trau dồi kiến thức chuyên môn, phương pháp dạy học mới để tiếp cận kịp thời với sự phát triển nhảy vọt của CNTT.

    – Về học sinh: Nội dung sách Hướng dẫn học Tin học mới được trình bày nhẹ nhàng, đẹp, chú trọng nhiều về phần thực hành rất phù hợp với lứa tuổi HS tiểu học.

    – HS từ khối 3 đến khối 5 được học môn Tin học. Mỗi lớp được học với thời lượng 2 tiết/ 1tuần.

    – Môn Tin học là một môn học Tự chọn nên HS tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, không bị gò ép, các em rất hứng thú với môn học.

    – HS đã nắm được các kiến thức cơ bản của bài học. Từ đó HS đã biết sử dụng và ứng dụng phần mềm vào việc học tập.

    2. Khó khăn

    Nhà trường đã có một phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng, mỗi ca thực hành có tới 3 –

    4 em ngồi cùng một máy nên các em không có nhiều thời gian để thực hành làm bài tập một cách đầy đủ. Hơn nữa nhiều máy cấu hình máy đã cũ, chất lượng không còn tốt nên hay hỏng hóc, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của học sinh.

    Đời sống kinh tế của một số địa phương còn gặp nhiều khó khăn, rất ít học sinh ở nhà có máy vi tính, nên ngoài giờ thực hành trên lớp học sinh không có điều kiện để luyện thêm ở nhà, nên việc rèn luyện kỹ năng và ứng dụng chưa nhiều.

    Tài liệu tham khảo dành riêng cho bộ môn Tin học còn quá ít. Nhất là những tài liệu nói về phương pháp dạy học đặc trưng của môn Tin học.

    Đây là môn học tự chọn nên một số HS chưa học nghiêm túc và phụ huynh chưa quan tâm.

    Sự cố về kỹ thuật: Nhiều máy bị hỏng. Dẫn đến không đủ máy cho HS thực hành.

    Năm học 2022-2018 áp dụng học sách Tin học mới do BGD&ĐT triển khai trong đó có một số chương trình phần mềm có yêu cầu cấu hình máy nhưng do nhiều máy đã cũ và cấu hình thấp nên không đáp ứng được cho việc cài đặt phần mềm học tập cho học sinh.

    Một số phần mềm không thể áp dụng được vào giảng dạy vì do trình độ Gv còn hạn chế và phòng máy không có tai nghe cho HS như phần mềm học tiếng Anh và phần mềm nhạc Encore, MuseScore.

    III. MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ 1. Đối với nhà trường

    + Từng bước nâng cao chất lượng bộ môn Tin học nói riêng và chất lượng chuyên môn của nhà trường, vì Tin học là một môn bổ trợ và tích hợp rất nhiều các nội dung kiến thức của các bộ môn khác.

    + Giúp lãnh đạo các nhà trường nâng cao chất lượng quản lí, đánh giá thực trạng và nhu cầu trang bị cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu tất yếu phục vụ cho việc dạy học môn tin học và ứng dụng CNTT trong việc quản lý nhà trường.

    2. Đối với Giáo viên

    + Giúp giáo viên bộ môn có thêm tư liệu giảng dạy và từng bước đổi mới phương pháp dạy môn Tin học ở Tiểu học

    + Chia sẻ, xây dựng nội dung kiến thức CNTT, kinh nghiệm trong giảng dạy môn Tin học để xây dựng phương pháp giảng dạy tối ưu.

    + Giúp các thầy giáo, cô giáo ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

    3. Đối với Học sinh

    + Giúp học sinh học tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng kiến thức vào thực tế.

    + Góp phần rèn luyện HS một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kỳ hiện đại hóa.

    + Giúp học sinh hiểu biết ban đầu về Tin học và ứng dụng của Tin học trong đời sống và học tập.

    + Trang bị cho HS kiến thức về CNTT, HS sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập.

    IV. BIỆN PHÁP 1. Tăng cường tự học để năng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học môn tin học

    Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là phủ nhận phương pháp dạy học truyền thống và sử dụng phương pháp dạy học hoàn toàn mới. Đổi mới phương pháp dạy học là sự vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học, các biện pháp, kỹ thuật dạy học truyền thống kết hợp với những phương pháp dạy học, phương tiện, công nghệ và các kỹ thuật dạy học hiện đại, sao cho phù hợp với đối tượng, nội dung chương trình, nhằm giúp người học tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng kiến thức vào thực tế.

    Bản chất của phương pháp dạy học là đổi mới quan niệm dạy học từ: dạy học thụ động sang dạy học tích cực; dạy học bằng thuyết trình hay giải thích sang dạy học bằng cách khám phá; dạy học độc thoại bằng dạy học đối thoại; dạy học tập trung vào cá nhân sang dạy học tập trung vào nhóm, dạy học hợp tác; dạy học tập trung vào nội dung tiến tới dạy học tập trung vào quá trình; dạy học tập trung vào việc dạy sang tập trung vào việc học; dạy kiến thức sang dạy cách học cho học sinh …..

    Làm như vậy, thể hiện sự tôn trọng học sinh, tôn trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có của các em. Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện vấn đề, tự thực hành các thao tác trên máy tính, giúp học sinh dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn, mạnh dạn tự tin hơn, phấn khởi hơn khi được tham gia thực hành. Tạo không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, thoải mái, không áp lực, mệt mỏi.

    Bước đầu vận dụng một số PPDH làm sao cho học sinh: được tham gia nhiều hơn, được trao đổi nhiều hơn và được làm, thực hành nhiều hơn.

    Đó chính là thay đổi nhận thức từ dạy học tập trung vào người dạy chuyển sang dạy học tập trung vào người học.

    So sánh 2 cách dạy học, tôi nhận thấy:

    1. Không chú ý kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh

    2. Tập trung vào việc dạy của thầy

    3. Thầy độc thoại, phát vấn

    4. Học sinh thụ động nghe

    5. Thầy cung cấp thông tin

    6. Thầy áp đặt kiến thức có sẵn

    7. Trò học thuộc

    8. Thầy độc quyền đánh giá

    1. Tôn trọng kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh

    2. Tập trung vào việc học của trò

    3. Đối thoại trò-trò, trò-thầy

    4. Học sinh tích cực, chủ động

    5. Thầy tổ chức, động viên, hướng dẫn/gợi ý

    6. Học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận

    7. Học cách học, cách giải quyết vấn đề

    8. Kết hợp thầy đánh giá với tự đánh giá của học sinh, của tập thể lớp

    Dựa vào các nội dung so sánh nêu trên và thực tiễn trong quá trình dạy học từ nhiều năm nay, tôi nhận thấy cách dạy học tập trung vào người học có hiệu quả rõ rệt giúp cho các em tự tin cố gắng vươn lên trong học tập.

    2. Sắp xếp nội dung, phương pháp học tập cho từng phần học phù hợp, hiệu quả

    Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình học Tin học, giáo viên phải xác định rõ cho học sinh nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho học sinh quan sát ngay trong giờ dạy lý thuyết.

    Xây dựng kế hoạch bài dạy này ta làm như sau:

    Tiết 1: Giới thiệu máy tính:

    Việc 1: Quan sát: Bộ máy tính để bàn

    Cho học sinh quan sát một bộ máy tính để bàn và nhận biết các bộ phận quan trọng của một máy tính bao gồm: Màn hình; phần thân máy; bàn phím; chuột.

    Màn hình của máy tính có cấu tạo và hình dạng như màn hình ti vi. Các dòng chữ, số và hình ảnh hiện trên màn hình cho thấy kết quả hoạt động của máy tính (giáo viên thao tác trực tiếp trên máy cho học sinh quan sát)

    Phần thân của máy tính là một hộp chứa nhiều chi tiết tinh vi, trong đó có bộ xử lý. Bộ xử lý là bộ não điều khiển mọi hoạt động của máy tính.

    Bàn phím của máy tính gồm nhiều phím. Khi gõ các phím, ta gửi tín hiệu vào máy tính.

    Chuột của máy tính giúp điều khiển máy tính nhanh chóng và thuận tiện. (Với sự giúp đỡ của máy tính các em có thể làm nhiều công việc như: học nhạc, học vẽ, học làm toán, liên lạc với bạn bè …)

    Việc 2: Thực hành

    a. Học sinh quan sát thầy, cô giáo gõ phím, điều khiển chuột máy tính và theo dõi sự thay đổi trên màn hình.

    b. Dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo, học sinh thử gõ một vài phím và quan sát sự thay đổi trên màn hình.

    Việc 1: Giới thiệu về cách bật/tắt máy tính đúng quy trình.

    Việc 2: Thực hành về cách bật/tắt máy tính đúng quy trình.

    Giáo viên biết kết hợp giữa dạy lí thuyết và thực hành sao cho phù hợp, dạy lí thuyết tốt thì học sinh thực hành tốt. Khi học sinh thực hành tốt thì sẽ hiểu sâu hơn về lý thuyết.

    Nội dung giảng dạy là chương trình SGK Cùng học Tin học quyển 1,2,3. Nội dung rất phù hợp, lôi cuốn HS. Để thực hiện dạy đạt hiệu quả, ngoài việc thực hiện đúng theo chương trình, tôi đã thực hiện như sau:

    Ở phần học này, ngay từ bài học đầu tiên, GV cần giúp cho HS xác định rõ và nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho HS quan sát ngay trong giờ giảng lý thuyết. Sau đó, vấn đề làm tôi quan tâm nhất là tạo cho các em có thao tác đúng và thành thạo khi sử dụng chuột, bàn phím,…

    Ví dụ: Ở bài Bàn phím máy tính: Để giúp các em làm quen với bàn phím, GV cho HS nêu tên tất cả các phím và cho chơi một số trò chơi có nội dung về bàn phím. Trong đó có trò chơi Piano. Nhưng theo tôi phần mềm này không đạt hiệu quả vì các máy tính của HS không có tai nghe hay loa nên HS dễ nhàm chán vì gõ mà không thấy có kết quả gì. Vì thế, theo tôi ngay từ bài học này GV có thể hướng dẫn HS làm quen luôn với phần mềm Mario. Như thế HS vừa nắm được tên của các phím, vừa gây được hứng thú học tập của các em. Còn phần mềm đó GV nên giới thiệu cho HS và khuyến khích các em chơi ở nhà.

    Ở lớp 4 và 5: Lúc này các em đã được hiểu biết nhiều hơn về máy tính nên GV sẽ có những yêu cầu cao hơn. HS phải nắm được cách sắp xếp thông tin theo hệ thống của máy tính. Biết cách sắp xếp và tìm kiếm thông tin.

    GV yêu cầu HS cần có thái độ nghiêm túc khi học và làm việc trên máy tính, không phân biệt phần mềm học tập hay phần mềm trò chơi. GV cần liên hệ thực tế để giúp HS nắm được từ việc học và chơi trên máy tính đến đời sống thường ngày.

    + Luyện tính kiên trì, trí thông minh, luyện sử dụng chuột qua trò chơi Dots, Stiks, ……

    + Yêu thích môn Toán qua trò chơi Cùng học toán.

    + Chơi thể thao, tìm hiểu thiên nhiên qua trò chơi Godl, Khám phá rừng nhiệt đới.

    Ở chương học này, thời gian thực hành khá dài, dễ gây nhàm chán. GV nên chủ động dạy dàn trải trong các tiết học.

    Đây cũng là phần trọng tâm của chương trình lớp 3. Phần này đòi hỏi phải có sự tập luyện thường xuyên thì mới đạt hiệu quả cao được. GV cần giúp HS hiểu được lợi ích của việc gõ phím bằng 10 ngón để từ đó HS có ý thức hơn trong việc rèn luyện. Không cần nhiều, ở mỗi tiết thực hành, nếu còn thời gian hãy khuyến khích HS luyện gõ trong 10 phút thôi sẽ mang lại hiệu quả rất tốt. Cần phải chú trọng và nghiêm túc rèn từ lớp 3 về cách đặt tay lên bàn phím, cách gõ phím…thì đến lớp 4-5 HS mới có thói quen gõ 10 ngón.

    Với phần học này, HS rất có hứng thú học tập. Ở phần học này GV cần chú trọng cho HS thực hành nhiều, giảm tiết lí thuyết hoặc có thể giảng lí thuyết ngay trong tiết thực hành. Như vậy học sinh mới có thao tác thành thạo được. Ngoài việc dạy những yêu cầu cơ bản trong SGK. Nếu có điều kiện GV có thể thiết kế các bài tập khác để phần học này thêm phong phú.

    Ở lớp 4-5, yêu cầu đã được nâng cao hơn. Ngoài những kiến thức cơ bản cần đạt được ra, GV cần quan tâm nhiều đến vấn đề ứng dụng của các kiến thức đó vào bài vẽ.

    Nội dung kiến thức chủ yếu là tạo cho HS những kiến thức cơ bản nhất để soạn thảo và trình bày một văn bản. Ở phần này GV cũng chú ý đến dạy thực hành hơn, dạy xong lý thuyết là cho HS thực hành ngay như vậy HS mới nắm được.

    Ở lớp 3 HS được làm quen với 2 cách gõ là kiểu VNI và kiểu Telex. GV cần cung cấp cả 2 cách gõ này và khuyến khích các em lựa chọn cách gõ phù hợp để việc soạn thảo dễ dàng hơn.

    Ở lớp 4 và 5 HS đã được học cách trình bày văn bản. GV hãy tạo điều kiện cho các em ứng dụng những kiến thức vừa học vào trình bày những văn bản thông thường.

    Ví dụ: Khi dạy bài Căn lề (lớp 4) GV đưa thêm một số bài thơ, bài ca dao tục ngữ hay một đoạn văn bản đã học trong SGK Tiếng Việt mà HS đã học ở trên lớp để các em thực hành.

    Logo là một ngôn ngữ lập trình, có đầy đủ các đặc điểm của một ngôn ngữ máy tính, xuất phát từ ngôn ngữ LISP, ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo. Logo là ngôn ngữ để học. Để hỗ trợ thực hiện quá trình học và suy nghĩ bằng cách khuyến khích HS tìm tòi khám phá. Logo có bảng kí tự, từ khóa riêng, cú pháp riêng và khá chặt chẽ.

    Ở lớp 4 và lớp 5 HS mới được làm quen với phần mềm này và đây cũng là lần đầu tiên HS được làm quen với ngôn ngữ lập trình. Do vậy, khi thực hành những câu lệnh của Logo GV cần lưu ý HS phải rất cẩn thận khi viết các câu lệnh, tránh để HS hiểu tùy tiện, áp dụng những ngôn ngữ thông thường dành cho câu lệnh.

    Đứng trước mỗi bài tập, bài thực hành, GV luôn luôn yêu cầu HS chia công việc được giao thành những nhiệm vụ nhỏ hơn và cuối cùng dùng những lệnh cơ bản của Logo để thực hiện. Sau khi chia nhỏ và phân tích bài toán, cần rèn luyện cho HS cách nhìn tổng hợp bài toán.

    Khuyến khích HS làm việc tập thể, làm việc theo nhóm.

    Viết chương trình một số thủ tục để tạo ra hình trang trí theo mẫu.

    Thủ tục 1: Vẽ hình vuông với câu lệnh Repeat 4

    Thủ tục 3: Vẽ ngôi nhà: dùng hai thủ tục 1 và 2 trong thân thủ tục 3.

    Thủ tục 4: Vẽ vành bánh xe (lặp 12 lần thủ tục 3)

    3. Hệ thống các bài tập thực hành

    Việc hệ thống các bài tập thực hành phải phù hợp với nội dung dạy lí thuyết, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của các e m.Các bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp. Liên kết kiến thức bài học trước với bài học sau để học sinh thực hành đạt hiệu quả cao.

    Ví dụ 4:Trong một tiết thực hành: Vẽ quang cảnh trường em

    (Tranh vẽ của HS lớp 5 Tiểu học Cao Đại trên máy tính)

    Ở bài vẽ trên, học sinh phải sử dụng công cụ vẽ đường thẳng, vẽ đường cong và công cụ tô màu để vẽ quang cảnh trường em. Từ bài này học sinh liên tưởng nhớ lại cách vẽ quang cảnh được học ở môn mĩ thuật (xác định mảng chính, mảng phụ, sử dụng luật xa gần, phối hợp màu nóng, màu lạnh) để từ đó vận dụng vẽ quang cảnh trường em sao cho đẹp.

    4. Trong giờ thực hành

    Giáo viên luôn động viên tạo sự thi đua giữa các nhóm bằng cách phân công các nhóm làm bài thực hành, sau đó các nhóm nhận xét, đánh giá, chấm điểm giữa các nhóm (dưới sự chỉ dẫn của giáo viên) để tạo sự hào hứng học tập và sự sáng tạo của học sinh trong quá trình thực hành.

    Phần thực hành: Thực hành giải toán trên phần mềm

    Chia nhóm đôi, các nhóm cùng thực hành bài toán về so sánh số thập phân.

    Chẳng hạn: 2,25 1,25 9163,6771 738849,4

    447,27 184,28 234642,15 3480,7905

    HS tự điền dấu thích hợp cho đúng.

    Nhóm nào nhanh, làm đúng, không làm sai thì nhóm đó được khen ngợi.

    5. Sử dụng Tài nguyên

    Sử dụng các chương trình có sẵn trong máy vi tính, hoặc truy cập mạng để tìm kiếm thông tin, tìm kiếm tài nguyên trên Internet phục vụ cho quá trình dạy và học, tăng cường sử dụng bài giảng điện tử tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào bài học.

    – Phần mềm KP Typing Tuto (giúp học sinh luyện gõ 10 ngón tay); trang Web chúng tôi (giúp học sinh giải toán qua mạng)…

    – Phần mềm soạn thảo văn bản Microsoft Word giúp học sinh tập soạn thảo.

    – Phần mềm đồ hoạ Paint giúp học sinh học vẽ

    – Trong bài: Khám phá rừng nhiệt đới (Tin học lớp 4 – quyển 2) bản thân tôi đã tìm kiếm thông tin trên Web về thế giới động vật, tôi đã hướng dẫn học sinh vào trang chúng tôi để tìm kiếm những hình ảnh và thông tin về động, thực vật trong rừng nhiệt đới.

    (Đây là những hình ảnh mà học sinh của tôi đã tra cứu trên mạng Internet)

    – Sử dụng bài giảng điện tử ( giúp học sinh tiếp thu bài tích cực, chủ động hơn)

    (Đây là một số bài dạy điện tử mà tôi đã trực tiếp thiết kế và giảng dạy) 6. Cải thiện chất lượng phòng máy

    – Với những sự cố bất ngờ trên, việc xác định nguyên nhân của nó sẽ giúp ta tìm ra cách giải quyết, xử lí vấn đề dễ dàng hơn:

    – Việc đầu tiên là cần phải kiểm tra tất cả các cáp (cáp nguồn, cáp dữ liệu…) để chắc chắn là mọi thứ đã được gắn chặt và đúng cách.

    a) Kiểm tra lại những phần mềm hay phần cứng được cài đặt gần đây: Nếu sự cố xảy ra ngay sau vừa cài đặt một phần cứng hay chương trình phần mềm, bạn hãy gỡ bỏ chúng ra và khởi động trở lại. Nếu máy tính vẫn hoạt động bình thường thì đó chính là nguyên nhân. Còn việc cài đặt lại sẽ do nhân viên bảo trì tiếp tục làm sau đó.

    b) Chạy các chương trình diệt vi rút hiệu quả: Để chương trình này chạy tốt bạn phải luôn cập nhập phiên bản mới nhất. Các chương trình được xem là tốt nhất hiện nay như: Norton Antivirus, AGV Antivirus…

    c) Kiểm tra nhiệt độ thùng máy: Sự quá nhiệt là một nguyên nhân khác, thường xảy ra do sự hoạt động kém của các quạt giải nhiệt, các loại bụi bẩn bám trong thùng máy. Nếu thấy bên trong thùng máy có nhiều bụi bẩn bám vào, bạn nên vệ sinh nhưng phải rất cẩn thận vì nó có nguồn điện thế cao, rất dễ gây nguy hiểm. Tốt hơn hết là nên báo lại cho nhân viên bảo trì.

    d) Kiểm tra lại bộ nhớ Ram: Đây là nguyên nhân chủ yếu mà tôi thường gặp mỗi khi máy không khởi động được hoặc bị lỗi bất thường khi đang hoạt động. Nếu phát hiện ra bộ nhớ có vấn đề, hãy tháo các thanh Ram ra, lau sạch chân thanh Ram và gắn lại thật chặt, hoặc lần lượt gắn từng thanh Ram ở các vị trí khác nhau để kiểm tra.

    e) Cài đặt máy tính với đầy đủ phần mềm học tập cho HS rồi tôi đóng băng ổ C lại bằng phần mềm Deep Freeze giúp giảm việc hỏng máy do virut hay những lỗi HS vô tình xóa dữ liệu trong ổ C.

    f) Đôi lúc máy chạy nhưng màn hình không lên hình. Hãy mượn màn hình đang sử dụng tốt khác để thử.

    h) Thường xuyên hướng dẫn HS vệ sinh phòng máy, phân công mỗi lớp một tuần phụ trách vệ sinh phòng máy dưới sự chỉ đạo của GV, giáo dục HS ý thức bảo vệ của công và ý thức giữ gìn máy tính trong phòng Tin học đồng thời giảm việc hỏng máy tính do bụi bẩn.

    7. Xây dựng câu lạc bộ Tin học

    Câu lạc bộ là tổ chức nhằm mở rộng tầm nhận thức, hiểu biết về văn hoá, khoa học kĩ thuật, giáo dục lòng yêu lao động, ý thức đạo đức, giúp phát triển toàn diện các khả năng sáng tạo và các năng khiếu của con người. Tổ chức câu lạc bộ tin học là điều kiện tốt để các cá nhân yêu thích tin học có môi trường phát huy khả năng của mình. Đối tượng của câu lạc bộ có thể là các cá nhân hoặc nhóm

    Thành lập câu lạc bộ Tin học khối Tiểu học của Huyện: Câu lạc bộ là nơi để cho các đồng chí giáo viên, nhân viên tin học của khối tiểu học trong toàn huyện sinh hoạt nhằm trao đổi những kinh nghiệm cũng như giúp nhau rút ra những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy để từ đó đưa ra phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp các em học sinh tiếp thu một cách gần nhất với môn học.

    Câu lạc bộ cũng giúp các thành viên chia sẻ các kiến thức về CNTT, hỗ trợ nhau trong việc sử lý các sự cố công nghệ trong quá trình giảng dạy.

    7.2. Câu lạc bộ Tin học nhà trường dành cho các em học sinh:

    a) Thành viên: là các em học sinh khối lớp 3-4-5

    b) Mục địch hoạt động : Là một CLB trực thuộc trường Tiểu học hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ nhà trường trong công tác giáo dục định hướng cách tự học của học sinh, xây dựng ý thức tự giác. Từ đó góp phần rèn luyện nâng cao kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học

    c) Nhiệm vụ : Tạo điều kiện cho những học sinh có sở trường, năng khiếu, yêu thích tin học có cơ hội phát huy năng lực của mình. Củng cố, mở rộng kiến thức tin học cho học sinh, trang bị những kĩ năng cần thiết góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh.Tạo môi trường làm việc giao lưu, hợp tác, giúp học sinh học hỏi, giao lưu, ứng xử.

    Câu lạc bộ là một trong những phương thức hoạt động sinh động, có hiệu quả cho môn tin học. Đồng thời là môi trường tiên tiến để mỗi thành viên tự điều chỉnh nhận thức, hành vi, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành. Qua các loại hình sinh hoạt khác nhau của câu lạc bộ, thành viên có dịp giúp nhau học tập, trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống, phát huy mặt tích cực, cải thiện uốn nắn các biểu hiện tiêu cực, lạc hậu, kích thích tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã hội, xây dựng nếp sống văn minh môi trường học đường lành mạnh.

    – Hướng dẫn HS sử dụng các phần mềm học tập hiệu quả.

    – Nâng cao kỹ năng soạn thảo văn bản Word.

    – Sử dụng chương trình trình chiếu Powerpoint.

    – Học vẽ tranh bằng các phần mềm có sẵn trong Win XP.

    – Được tìm hiểu thêm về lợi ích và tính năng của mạng Internet .

    – Phát triển vốn Anh văn chuyên ngành Tin học.

    Hoạt động của Câu lạc bộ được xây dựng dựa trên sự đóng góp nội dung hoạt động của các thành viên. Các nội dung hoạt động của Câu lạc bộ được chọn lựa dựa trên một số tiêu chí:

    • 1- Chất lượng của các hoạt động được đặt lên hàng đầu.
    • 2- Thu hút được đông đảo các thành viên tham gia.
    • 3- Thúc đẩy được phong trào học tập của học sinh trong trường.
    • 4- Nội dung hoạt động đa dạng, chứa đựng nhiều tri thức và những vấn đề thực tế
    • 5- Không có ảnh hưởng xấu tới thuần phong mĩ tục, đạo đức, tư tưởng và lối sống của học sinh, không vi phạm pháp luật.

    6- Khuyến khích các ý tưởng mới lạ của các thành viên về hình thức hoạt động.

    – Kinh phí hỗ trợ từ nhà trường

    – Đóng góp kinh phí sinh hoạt câu lạc bộ từ thành viên

    * Toàn bộ kinh phí này sẽ được chi vào các hoạt động sau:

    – Tiền điện và bảo trì, sửa chữa máy tính

    – Tổ chức các buổi giao lưu giữa các câu lạc bộ trong cụm, huyện

    IV. KẾT LUẬN

    – Phần thưởng cho các em đạt thành tích tốt trong các buổi giao lưu cấp trường, cụm, huyện.

    Để phát huy hiệu quả trong công tác dạy học, mỗi giáo viên nói chung và giáo viên dạy môn tin học nói riêng cần:

    – Tìm tòi sáng tạo cách dạy, cách học tạo sự hứng thú tiếp thu bài cho học sinh.

    – Yêu nghề, mến trẻ, tăng cường tự học tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ…

    – Tích cực dự giờ đồng nghiệp, tham gia hội thảo phương pháp giảng dạy các bộ môn khác.

    – Không ngừng học tập, tìm hiểu tích lũy kiến thức khoa học. Phải tìm hiểu các mảng kiến thức khác về mọi lĩnh vực như văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội để tự nâng cao nhận thức của bản thân.

    • Giáo viên phải biết phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.
    • GV cần phải có phương pháp dạy học linh hoạt sáng tạo, phải tìm mọi cách để cải tiến cách dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, bổ sung sáng tạo thêm nhiều thủ pháp sinh động, hấp dẫn, đa dạng hóa cách thức truyền đạt ở mỗi bài học.
    • Để đạt được những nội dung đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng nâng cao kiến thức, tạo cho mình một trình độ chuyên môn vững vàng, thường xuyên học hỏi rút kinh nghiệm từ các đồng nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Thảo Chuyên Đề “giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Luận Văn Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Tiểu Luận Một Số Biện Pháp Quản Lí Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Bạch Xa Huyện Hàm Yên
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Của Giáo Viên
  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Các Biện Pháp Nhằm Đổi Mới Pp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ - Căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục vệ sinh môi trường, rèn kĩ năng sống cho học sinh. - Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình và có mảng kiến thức dành cho đối tượng học sinh khá - giỏi. Ngoài ra trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tiểu học căn cứ vào những nhận thức mới của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện ở các em, căn cứ vào năng lực tổ chức, thiết kế và những hoạt động trong quá trình dạy học ở giáo viên. Vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi phuương pháp dạy học truyền thống. Mà họ không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng sai mê học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập, tạo ra sự phát triển mới để nâng cao hiệu quả giáo dục phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ được sự ổn định trong hoạt động dạy học. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được. Đồng thời tạo ra được sự phối hợp chặc chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của đơn vị. Tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu "Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường tiểu học" nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng dạy -học và đẩy mạnh công tác mũi nhọn của đơn vị. PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học trong trường tiểu học 1 Sông Đốc. 1.1.1. Ưu điểm Mặc dù cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn chế nhưng tập thể cán bộ giáo viên Trường tiểu học 1 Sông Đốc đã không ngừng phấn đấu để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và đặc biệt là chú trọng nhất về nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Có 100% cán bộ - giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn trong hè nên nắm vững cách thực hiện đổi mới phương pháp dạy, dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học; đổi mới cách đánh giá học sinh, coi trọng sự tiến bộ của học sinh. Ngoài nắm vững chuyên môn giáo viên còn nghiên cứu, tìm hiểu về đối tượng học sinh, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung chương trình của từng môn học, mạnh dạn đăng kí chỉ tiêu phấn đấu trên đối tượng học sinh của mình. Cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế nhưng giáo viên đã tận dụng tạo môi trường học tập, môi trường vui chơi an toàn cho học sinh. Học sinh có đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập, hăng hái tham gia xây dựng bài học. Ngày nay, công tác xã hội hóa giáo dục có sự chuyển biến mới. Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình. Đồng thời đã đóng góp không nhỏ về tiền của để mua sắm trang thiết bị dạy học trong nhà trường, năng cấp cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt cho việc vui chơi và học tập của học sinh. 1.1.2. Một số hạn chế và nguyên nhân hạn chế: Năm học 2001-2002 bắt đầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu từ lớp 1. Tất cả giáo viên được tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về dạy học theo chương trình mới một cách kĩ lưỡng. Nhưng khi vào thực tế giảng dạy nhiều giáo viên còn lng túng nhất là khâu đổi mới phương pháp dạy học, dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên chỉ lo tập trung vào phần việc của mình, cứ lo sợ dạy không hết bài, học sinh không biết cứ như thế là vào tiết học giáo viên thao thao giảng bài, đọc cho học sinh chép nhũng nội dung cần ghi nhớ, yêu cầu các em về học thuộc lòng, có những giáo viên nhận thức được đổi mới phương pháp dạy học là dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dưới sự hướng dẫn, nêu vấn đề của người dạy, người học động não, tìm cách giải quyết vấn đề để chiếm lĩnh kiến thức mới, vận dụng kiến thức mới vào thực tiễn. Gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học là việc sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học. Thế nhưng không ít giáo viên còn chưa sử dụng, chưa khai thác triệt để thiết bị, đồ dùng vào các tiết dạy mà chỉ dạy chay hoặc sử dụng khi có người dự giờ, khi sử dụng lại có những giáo viên sử dụng vụng về, rồi khai thác một cách qua loa, máy móc làm cho tiết học trở nên rời rạt, khô chán không phát huy được tính tích cực của học sinh. Không có thiết bị để ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, giáo viên chưa thoát li được sách giáo viên, sách tham khảo, mà còn có những giáo viên coi sách giáo viên như một pháp lệnh, không được xê dịch hay sửa đổi. Chép nguyên mục tiêu và các hoạt động trong sách mà không cần biết bài dạy đó có phù hợp với học sinh của mình không mà không bỏ thời gian ra nghiên cứu nội dung bài học sách giáo khoa, liên hệ từng đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học cho từng môn học, hay thiết kế bài dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp. không nghiên cứu nội dung sách giáo khoa để xác định mảng kiến thức trọng tâm của bài, liên hệ sự tiếp thu của học sinh rồi lựa chon phương pháp dạy học để phát huy tích cực sự vận động suy nghĩ của từng đối tượng học sinh tránh nhàm chán ở học sinh. Vì trong lớp học có tới bốn khả năng tiếp thu và bốn khả năng nhận thức cụ thể như: học sinh giỏi, học sinh khá, học sinh trung bình, học sinh yếu. Ngoài ra trong qua trình lập kế hoạch bài dạy do không nghiên cứu kĩ lưỡng nội dung bài nên việc chuẩn bị trang thiết bị, đồ dùng dạy học không có hoặc không phù hợp, thậm chí có nêu ở chuẩn bị trong giáo án mà qua hết một tiết dạy không thấy giáo viên sử dụng ở hoạt động nào (chổ nào). Bên cạnh những việc tồn tại ở khâu soạn giảng thì cũng không thể không đề cập đến vấn đề kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh. Một số giáo viên dù nắm được, hiểu được hướng dẫn chỉ đạo của thông tư 32 của Bộ Giáo dục và Đào tạo vầ đánh giá xếp loại học sinh, Quyết định số 16 quy định về chuẩn kiến thúc kĩ năng các môn học ở bậc tiểu học ấy thế nhưng trong quá trình đánh giá họ không căn cứ vào những tiêu chí hướng dẫn của văn bản để đánh giá, mà đánh giá chỉ dựa vào cảm tính, quan sát chung chung, thiếu căn cứ, thiếu tính chính xác. Thậm chí việc kiểm tra, đanh giá còn dựa trên tình cảm, cả nể mà đánh giá không đúng thực lực của học sinh. Và mặc dù trong những năm học vừa qua các trường chỉ đạo thực hiện tốt cuộc vận động hai không. Vậy mà còn không ít giáo viên vẫn còn để xảy ra tiêu cực trong kiểm tra, trong đánh giá xếp loại nhất là trong xét khen thưởng ở cuối năm. Đến vào đầu năm học mới có rất nhiều học sinh bị hụt hẫng về kiến thức nên rất khó cho việc giảng dạy của giáo viên ngoài ra còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục. Mặt khác giáo viên chưa nghiên cứu sâu về tâm lý từng học sinh để có biện pháp giảng dạy và giáo dục tốt hơn. Đa số học sinh còn phụ thuộc vào khuôn mẫu, bắc chước, chưa có ý thức tự giác học tập, lại được phụ huynh đồng thuận mua sắm cho sách giải, sách tham khảo, các em lại sao chép. Do còn không ít phụ huynh thiếu trách nhiệm, thiếu sự phối hợp để giáo dục học sinh, gây sức ép không nhỏ đối với giáo viên. II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC CỦA Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SÔNG ĐỐC 1. 1. Biện pháp xây dựng đội ngũ trong tập thể sư phạm. Trường học - tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục - nơi tập trung những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Mà giáo viên là lực lượng nồng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; là người không chỉ thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, phụ huynh học sinh mà còn thể hiện nhiệm vụ với xã hội, với vân mệnh và tương lai của đất nước. Chính vì vậy công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường là vấn đề quan trọng. Vì có một tập thể đoàn kết thì mới có một tập thể vững mạnh, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học. Mỗi cá nhân là một thành viên tích cực nêu cao quan điểm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến đóng góp, xây dựng cho đồng chí, đồng đội, cùng phát triển về công tác chuyên môn (về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, về biện pháp giáo dục học sinh,), quan tâm giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn cùng nhau hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, có một tập thể đoàn kết mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học. Có sự đoàn kết, thống nhất như vậy sẽ góp phàn nâng cao nhận thức về chuyên môn, nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích giáo viên đọc sách báo, tham khảo tài liệu về chính trị, văn hóa, pháp luật... Phân công chuyên môn phù hợp với năng lực, sở trường của từng giáo viên, tạo mọi điều kiên thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Đi kèm theo công tác phân công chính là công tác kiểm tra đánh giá kết quả lao động của cá nhân, tập thể được phân công, để đánh giá mức độ hoàn thành công việc như thế nào. Từ đó có bài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời kịp thời phát hiện năng lực của giáo viên và có kế hoạch bồi dương phát huy hoặc khuyến khích giáo viên tiến bộ. Thường xuyên mở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các buổi thao giảng, phối hợp mở các buổi hội giảng trao đổi về phương pháp giảng dạy, biện pháp giáo dục học sinh. Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập, giáo lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy. Thực hiện tốt công tác dân chủ trong nhà trường. có biện pháp, chế độ tùy theo kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được phân công, tham mưu tốt với ban ngành đoàn thể đảm bảo quyền lợi của anh chị em trong lao động. 2. Biện pháp về hoạt động giảng dạy của giáo viên. 2.1. Biện pháp xây dựng nề nếp, kỷ cương trong hoạt động giảng dạy của giáo viên Xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường. Quy chế chuyên môn trong nhà trường là một trong những công cụ để đánh giá quá trình lao động của người giáo viên. Việc thực hiện tốt quy chế chuyên môn trong nhà trường của giáo viên là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy. - Trên cơ sở: Quyết định 14 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học ngày 04 tháng 05 năm 2007 của Quyết định 16 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao về việc Vi phạm đạo đức nhà giáo ngày 16 tháng 04 năm 2008; căn cứ điều lệ trường tiểu học; căn cứ văn bản chỉ đao của lãnh đạo Phòng GD&ĐT và căn cứ tình hình thực tế của đơn vị. Hiệu trưởng xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường như quy định về đạo đức, tác phong sư phạm, tác phong của nhà giáo, quy định giờ ra vào lớp, quy định về hồ sơ sổ sách, lịch trình duyệt các kế hoạch. Giáo viên soạn giảng đủ môn, đủ tiết, số tiết dự giờ trên tuần ( rút kinh nghiệm,dự giờ để đánh giá), số lần tham gia sinh hoạt chuyên môn.duy trì sĩ số lớp - Phát động phong trào Thi đua-Dạy tốt-Học tốt, tiến hành bàn giao số lượng, chất lượng (cụ thể từng đối tượng học sinh về lực học, về sở trường, về cá tính của học sinh) của lớp dưới lên lớp trên để giáo viên mới có cơ sở xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm của năm học, đăng kí chỉ tiêu phấn đấu, xây dựng kế hoạch giảng dạy. -Phối hợp với Ban chấp hành công đoàn phát động phong trào "Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm". qua đó vận động giáo viên chấp hành nghiêm túc quy chế chuyên môn của nhà trường. 2.2. Biện pháp chỉ đạo việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy của cấp quản lí giáo dục: Việc tố chức thực hiện chương trình và xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường nên Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở như: căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, các chỉ thị của ngành, của địa phương, căn cứ vào đặc điểm tình hình của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình sao cho vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo hoàn thành chương trình theo tinh thần chỉ đạo ngành. Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh, biện pháp khắc phục, biên chế nội dung chương trình cho cả năm học và cho tùng thời điểm, lập thời khóa biểu cho các khối lớp, phân phối chương trình. Tập trung nghiên cứu kĩ các văn bản chỉ đạo về chuyên môn, nghiên cứu về nội dung chương trình sách giáo khoa, căn cứ đặc điểm tâm lí của trẻ. Hướng dẫn tổ chuyên môn, giáo viên phối hợp với kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt động phù hợp với đối tượng học sinh. Thực hiện chương trình một cách vừa và đủ đảm bảo tham gia các hội thi mà cấp trên tổ chức, như thi viết chữ đẹp, thi học sinh giỏi, Toán tuổi thơ cấp huyện, cấp tỉnh đối với lớp 5... Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo điều lệ trường tiểu học, nội dung sinh hoạt đa dạng phong phú: trao đổi về phương pháp dạy học, trao đổi về kết quả nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, trao đổi về phương pháp xác định mục tiêu của bài học - xác định mảng kiến thức trọng tâm của một bài, một nôm, trao đổi về biện pháp giáo dục học sinh hướng dẫn học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện. 2.3. Biện pháp chỉ đạo thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên và việc lựa chọn đồ dùng dạy học của giáo viên: Thiết kế bài dạy và chẩn bị giờ lên lớp của giáo viên là việc làm quan trọng, thực hiện quy chế chuyên môn trong trường tiểu học. Là khâu mà bất kì giáo viên trực tiếp giảng dạy nào cũng phải có, vì trong quá trình thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp giúp giáo viên có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu về nội dung, tuy nó chưa phải là dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy để có biện pháp xử lí kịp thời đúng đắn. Và thiết kế bài dạy được xem là công cụ để thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và cũng là một trong những việc làm góp phần quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Do đó cần tập trung chỉ đạo việc thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên cụ thể như sau: -Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản về việc thiết kế bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông vào soạn giảng đến tơ khối, giáo viên. Kế hoạch bài giảng của giáo viên phải thể hiện: - Mục tiêu đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học dành cho đối tượng học sinh trong lớp. - Tăng cường trang bị về thiết bị, đồ dùng dạy học, khuyến khích gíao viên đẩy mạnh công nghệ thông tin vào giảng dạy. Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung bài, đồng thời trong quá trình chuẩn bị phải thể hiện được đồ dùng phục vụ cho người dạy và đồ dùng phục vụ cho người học. Vì đồ dùng dạy học rất quan trọng trong việc dạy học ở tiều học giúp học sinh nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Ngoài đồ dùng trực quan sinh động mà giáo viên đã chuẩn bị thì còn hình ảnh trực quan sinh động hơn là người giáo viên: cần có ngoại hình cân đối, giọng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, cử chỉ mềm mại, điệu bộ duyên dáng, thái độ ân cần sẽ thu hút sự chú ý học tập của học sinh cao hơn, tăng thêm sự hứng thú nhận thức của trẻ. - Nội dung cơ bản của kế hoạch phải thể hiện rõ hoạt động của thầy, hoạt động của trò, hoạt động trọng tâm của bài, dự kiến thời gian của từng hoạt động; mỗi hoạt động đều thể hiện được mục tiêu, nhiệm vụ, nêu cách tổ chức của thầy, dự kiến câu trả lời của học sinh và kết luận của giáo viên. Không ghi những vấn đề không cần thiết. Nội dung giáo án ngắn gọn, xúc tích đảm bảo nội dung trọng tâm của bài, logic khoa học, lựa chọn phương pháp giảng dạy (thể hiện sự hệ thống việc làm của thầy - trò, hình thức tổ chức phù hợp với môn học, lớp học với đối tượng học sinh). Quy định thời gian kí duyệt kế hoạch giảng dạy của giáo viên trước khi lên lớp thực hiện tiết dạy. 2.4. Biện pháp quản lí giờ lên lớp của giáo viên: Giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học để thực hiện mục tiêu dạy học. Trong nhà trường tiểu học hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động là hoạt động chính. Hiện nay quá trình dạy học chủ yếu đa số là diễn ra trong lớp học. Giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học cơ bản, trong đó giáo viên là người trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm. Do vậy, giờ lên lớp thể hiện rõ nhất trách nhiệm và khả năng của giáo viên. Vì vậy hiệu trưởng quản lí giờ lên lớp của giáo viên như: - Tổ chức thực hiện tốt kỉ luật lao động trong nhà trường, khuyến khích giáo viên thực hiện tốt giờ lên lớp. - Thực hiện chương trình đảm bảo đúng quy chế chuyên môn, quy định của ngành. Duy trì và thực hiện tốt giờ lên lớp. 2.5. Biện pháp quản lí việc dự giờ của giáo viên: Dự giờ là công việc đặc thù, cơ bản, là biện pháp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho mỗi cá nhân giáo viên một cách hiệu quả nhất. Căn cứ vào điều lệ Trường tiểu học thì đối với giáo viên số tiết dự giờ ít nhất 1 tiết/tuần, đối với tổ chuyên môn ít nhất 2 tiết/tuần. Để công tác dự giờ có hiệu quả, trước khi dự giờ giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài, xác định mục tiêu, xác định mảng kiến

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh 6
  • Skkn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Tiểu Học Huyện Bình Giang
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • 7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán (Phần Giải Toán) Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Việt Khối Lớp 1 Ở Trường Tiểu Học 1 Sông Đốc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Như chúng ta đã biết giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên.

    Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học .Các kiến thức kĩ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên. Môn toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hính dạng không gian của thế giới hiện thực .Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống. Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề .Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận , có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.

    Xuất phát từ vị trí quan trọng của môn toán, qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu nhiều năm ở tiểu học, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán đặc biệt nội dung giải toán có văn bản thân tôi đã đúc rút và tổng kết đ­­ược một số bài học kinh nghiệm sau đây . Mời các bạn cùng tham khảo. Thứ nhất: Những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chư­ơng trình và SGK. Những tiết học toán trong SGK là những tiết học rất quan trọng, nhằm cung cấp cho các em học sinh những yêu cầu cơ bản nhất mà chương trình đặt ra.Bằng hình ảnh trực quan sinh động và phư­­ơng pháp sư phạm của giáo viên, các em dần dần nắm chắc kiến thức, rèn luyện các kĩ năng,…. Việc nắm chắc kiến thức phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức ban đầu của học sinh. Giáo viên cần xuất phát từ những vấn đề rất cụ thể, chi tiết; học sinh phải nắm đ­­ược bản chất của vấn đề, các em phải có nền kiến thức đại trà vững chắc rồi mới đến ngọn là giải quyết các bài toán ở mức độ cao hơn. Để làm đ­ược điều đó giáo viên cần: – Tổ chức tốt các hoạt động học tập trong các tiết học để học sinh giải quyết tốt các bài tập trong sách giáo khoa. Học sinh phải hiểu sâu sắc vấn đề, nắm chắc kiến thức và vận dụng tốt vào thực hành.

    – Thời lư­ợng dành cho thực hành, luyện tập trong mỗi tiết học chiếm từ 60%-70%, nên ta cần tận dụng đặc điểm này để tăng c­ường thực hành, giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng toán học, giải quyết về cơ bản các nhiệm vụ thực hành ngay trong các tiết toán tại lớp.

    – Giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc, thuộc lòng các quy tắc, các công thức tính mà SGK đã cung cấp. Có kĩ năng vận dụng công thức , quy tắc vào giải quyết các bài toán trong SGK phần thực hành.

    – Giáo viên nên chuyển nội dung từng tiết dạy học toán thành các phiếu học tập hay phiếu thực hành (nếu có điều kiện) để phát huy tính chủ động và sáng tạo của HS, nêu cao hiệu quả và tăng năng suất học tập. Trong quá trình biên soạn các phiếu học tập, GVnên tích hợp nhiều nội dung giáo dục gắn với thực tế và gần gũi thu hút đ­ược hứng thú của HS, có thể sử dụng một số tranh ảnh, hình vẽ ngộ nghĩnh để minh hoạ cho các bài tập thêm sinh động, có thể thiết kế các bài tập dưới dạng bài tập trắc nghiệm, các trò chơi hay câu đố vui toán học mà không làm biến dạng nội dung cơ bản của môn toán, góp phần tăng thêm gia vị cho môn toán để các em tiếp thu bài tốt hơn.

    – Khi HS đã hoàn thành tốt các bài tập trong SGK , GV cần dần từng b­ước hình thành ở các em cách suy luận sáng tạo, biết giải các bài toán đó theo các cách khác nhau. Thứ hai: Những kinh nghiệm trong việc sử dụng ph­ương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Để chuyển tải đư­ợc những kiến thức khoa học tới cho học sinh, GV phải sử dụng các ph­ương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Việc nắm bắt kiến thức của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào cách thức và phư­ơng pháp giảng dạy của giáo viên.

    Trong xu thế dạy học hiện nay, GV không còn là ngư­ời truyền thụ tri thức theo một chiều , học sinh thụ động tiếp thu và làm theo. Ng­ười GV cần căn cứ vào vốn sống, khả năng hiểu biết của HS để thiết kế các hoạt động nhằm giúp HS tự phát hiện và giải quyết vấn đề d­ưới sự trợ giúp của các bạn trong nhóm, trong lớp hay của GV. GV trở thành ng­ười thiết kế ngư­ời tổ chức h­ướng dẫn các hoạt động,.. còn HS là ngư­ời thi công, ng­ười trực tiếp hoạt động để tìm tòi kiến thức.

    Trên cơ sở đó GV giúp các em biết tổng hợp để rút ra những nhận xét, những quy tắc hay những kết luận cần thiết. Khi giảng dạy các kiến thức mới, dạng toán mới GV cần chú ý các bư­ớc sau đây:

    *Ph­ương pháp chung: Tự phát hiện – Tự giải quyết – Tự chiếm lĩnh

    * Các b­ước cụ thể:

    B­ước 1: Làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của HS (Làm xuất hiện vấn đề và tạo cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu vấn đề đó)

    B­ước 2: Tổ chức các hoạt động học tập (theo cá nhân, theo nhóm hay cả lớp)

    Bư­ớc 3: Hư­ớng dẫn học sinh trình bày ý kiến tr­ước nhóm, tr­ước lớp.

    Bư­ớc 4: Hư­ớng dẫn học sinh nhận xét , đánh giá ,bổ sung.

    B­ước 5: Giáo viên hệ thống, kết luận vấn đề, hư­ớng dẫn học sinh trình bày (GV chốt lại các vấn đề quan trọng)

    B­ước 6: Tổ chức cho học sinh luyện tập, thực hành, rèn các kĩ năng.

    * Lư­u ý: Để triển khai các b­ước trên một cách có hiệu quả cần có sự trợ giúp của các phư­ơng tiện và đồ dùng dạy học, do đó trong quá trình tổ chức các họat động học tập của HS giáo viên cần sử dụng các đồ dùng dạy học sao cho phù hợp và mang tính hiệu quả cao. PPDH ở tiểu học phải phát huy đ­ược tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của HS, phù hợp với đặc tr­ưng môn học, đặc điểm đối t­ượng học sinh và điều kiện của lớp học . GV cần chủ động lựa chọn, vận dụng phối kết hợp các ph­ương pháp dạy học để phát huy hiệu quả cao nhất.

    Thứ ba: Những bước tiếp theo sau khi học sinh đã biết cách giải một dạng toán. Mỗi bài Toán là sự kết hợp đa dạng của các khái niệm, các mối quan hệ toán học, đòi hỏi học sinh phải biết xác lập đ­ược các mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán: Biết so sánh, phân tích, tổng hợp. Trên cơ sở đó, lựa chọn đ­ược cách giải quyết tốt nhất. Như­ chúng ta đã biết, đ­ường lối chung để hư­ớng dẫn học sinh giải một bài toán ở Tiểu học, thư­ờng gồm các bư­ớc như­: Nghiên cứu tìm hiểu bài toán, thiết lập quan hệ giữa các dữ liệu để tóm tắt bài toán, lập kế hoạch giải bài toán, trình bày bài giải và kiểm tra kết quả.Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, nếu giáo viên chỉ dừng lại ở các b­ước trên thì coi nh­ư mới hoàn thành xong việc tổ chức hư­ớng dẫn cho học sinh giải một bài toán. Điều quan trọng là sau khi học sinh giải xong bài toán đó, giáo viên cần làm gì, cần khai thác những gì từ bài toán để một mặt củng cố được cách giải, một mặt phải phát huy hết khả năng tư­ duy, sự sáng tạo của học sinh khi học toán. Tôi xin đ­ưa ra một số kinh nghiệm sau đây:

    – Nâng cao mức độ khó dễ của bài toán: Trên cơ sở học sinh đã nắm chắc, hay đã củng cố tốt đ­ược cách giải khái quát của bài toán, giáo viên cần nâng dần mức độ của bài toán đó nhằm kiểm tra khả năng vận dụng của các em vào các tình huống khác nhau nhằm rèn kỹ năng, kỹ xảo giải toán, gây hứng thú học tập và phát huy khả năng của từng em.

    – Tìm nhiều cách giải khác nhau cho bài toán: Biện pháp này nhằm giúp học sinh có thể vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết bài toán theo các hư­ớng khác nhau.Trong chư­ơng trình tiểu học học sinh đã đ­ược trang bị một khối l­ượng khá lớn về các công cụ giải toán .

    Trong mỗi bài toán có thể chứa đựng rất nhiều các cách giải khác nhau, nên thông qua mỗi bài toán đó GV có thể củng cố cho học sinh rất nhiều các ph­ương pháp giải toán đã học. Đối với HS tiểu học các em đã đ­ược làm quen với nhiều dạng toán cơ bản .

    Từ việc vẽ sơ đồ cụ thể các em dễ dàng tìm ra đ­ược lời giải bài toán . Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vẽ đ­ược sơ đồ của bài toán , do vậy việc biến đổi các bài toán để đưa về các dạng quen thuộc cũng là một ph­ương pháp rất đặc trư­ng trong dạy toán tiểu học.

    – Tìm h­ướng giải quyết bài toán có nhiều khả năng xảy ra Biện pháp này bên cạnh giúp HS củng cố kĩ năng giải toán, phát triển tư­ duy, ở mức độ cao hơn còn đòi hỏi các em phải biết tìm tòi giải quyết tất cả các khả năng có thể xảy ra để tìm hết các đáp số của bài toán, biết loại trừ các khả năng không phù hợp.

    – Giải quyết bài toán ng­ược với các bài toán đã giải: Khi giải xong một bài toán, nếu giáo viên đặt ra các bài toán ng­ược và yêu cầu học sinh tìm cách giải, sẽ có tác dụng rất tốt trong việc phát huy khả năng sáng tạo của các em trong việc vận dụng cách giải của bài toán vừa làm làm cơ sở để giải các bài toán ngư­ợc.

    – Tổ chức cho học sinh lập đề toán theo sơ đồ tóm tắt cho sẵn rồi giải: Mục đích của hoạt động này là nhằm giúp học sinh căn cứ vào sơ đồ tóm tắt cho sẵn để nhận diện dạng toán cơ bản, để từ đó có thể tự lập một đề toán tư­ơng ứng với sơ đồ tóm tắt đó rồi tự trình bày bài giải. Với hoạt động này sẽ nhằm phát huy vốn sống, vốn hiểu biết và khả năng diễn đạt ngôn ngữ khi học toán của các em. Giúp các em biết lựa chọn và đ­ưa các vấn đề trong cuộc sống vào làm nền cho đề toán của mình.

    – Tổ chức cho học sinh tìm dữ kiện còn thiếu hay các dữ kiện thừa trong các bài toán. Việc làm này không những củng cố , khắc sâu cách giải các dạng toán mà còn có tác dụng rất tốt trong việc phát triển t­ư duy cho học sinh. B­ước đầu hình thành ở các em cách t­ư duy của một nhà phát minh , nhà khoa học trong t­ương lai.

    Thứ tư: Những kinh nghiệm trong việc mở rộng phát triển và nâng cao kiến thức . Việc mở rộng và nâng cao kiến thức phải trên cơ sở học sinh đã nắm chắc các kiến thức cơ bản.Biết sử dụng các kiến thức cơ bản một cách linh hoạt , sáng tạo.Biết kích thích, gợi mở để các em có nhu cầu vận dụng kiến thức đó.Có nh­ư vậy việc nâng cao kiến thức mới thực sự phát huy được hiệu quả cao.

    – Khi phát triển , mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh , giáo viên cần xuất phát từ các bài toán đơn giản , dễ hiểu.Qua mỗi bài, hay hệ thống bài ,giáo viên cần cho học sinh khái quát chung được cách giải. Giúp các em hiểu sâu , nhớ lâu và hình thành kĩ năng giải các bài toán đó.

    – Cần khai thác triệt để các dạng toán quen thuộc ẩn chứa trong mỗi bài toán, giúp học sinh có kĩ năng biến đổi hay kĩ năng suy luận để đ­­ưa bài toán về dạng quen thuộc.Phát huy tối đa khả năng tìm tòi , sáng tạo của các em trư­­ớc mỗi bài toán. Hạn chế tối đa việc sử dụng phư­­ơng pháp đại số khô cứng.

    – Khi học sinh đã nắm chắc cách giải thông thư­­ờng,giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải khác, nhằm phát huy khả năng của các em,gây hứng thú học tập , học sinh học giỏi không mất thời gian chờ đợi những học sinh học kém hơn .

    – GV cần thiết kế đư­ợc các bài tập phù hợp cho các đối t­ượng học sinh trong lớp, sao cho nội dung dạy học vừa sức , không bị quá tải song vẫn phát huy đ­ược khả năng sáng tạo và năng khiếu của học sinh.

    Thứ năm: Những kinh nghiệm trong việc tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh Đánh giá học sinh là một khâu rất quan trọng nhằm: Nắm đư­ợc năng lực tiếp thu bài của học sinh trong lớp để đặt ra yêu cầu học tập đối với từng học sinh : yêu cầu cao hơn đối với học sinh giỏi, yêu cầu ở mức độ cơ bản đối với học sinh trung bình và yếu. Thu thập thông tin phản hồi về cách dạy của GV để điều chỉnh sao cho phù hợp, bổ khuyết những điểm yếu của học sinh.Có nhiều phư­ơng pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh , ph­ương pháp đánh giá nào cũng có ư­u điểm và như­ợc điểm, không có phương pháp nào là hoàn hảo mọi mặt, do đó không nên cực đoan đề cao hoặc bác bỏ một ph­ương pháp nào mà phải nghiên cứu chúng thấu đáo để sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Trong quá trình dạy học GV cần sử dụng nhiều phư­ơng pháp đánh giá một cách đa dạng như­:

    – Sử dụng bài kiểm tra tự luận.Dạng bài kiểm tra này có rất nhiều ư­u điểm nên đ­ược sử dụng phổ biến. Để đ­ược điểm cao học sinh phải giải đư­ợc bài toán , đồng thời phải biết trình bày bài giải , nghĩa là các em phải thể hiện nhiều kĩ năng . Tuy nhiên dạng bài này cũng có những như­ợc điểm nhất định việc đánh giá phụ thuộc phần nào vào ý nghĩ chủ quan của GV, tốn nhiều thời gian cho việc chấm bài của GV, phạm vi kiến thức đ­ược kiểm tra không đ­ược nhiều.

    – Sử dụng bài kiểm tra trắc nghiệm: Khác với các bài tập tự luận , khi trình bày bài giải đòi hỏi học sinh phải có sự lập luận chặt chẽ , câu trả lời và phép tính phải hợp lý, trình bày một cách lô gíc .Các bài tập trắc nghiệm chỉ đòi hỏi học sinh vận dụng các kiến thức đã học một cách sáng tạo và nhanh nhạy để tìm ra đáp số đúng ,đáp số sai hay bài giải đúng , bài giải sai .Giúp cho giáo viên trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra đ­­ược nhiều kiến thức của học sinh. Chính vì vậy loại bài tập này rất thu hút sự nhiệt liệt h­­ưởng ứng của học sinh , nó là một hình thức thay đổi không khí giờ học toán và góp phần rất tốt trong việc tạo hứng thú học tập cho học sinh .

    – GV cần sử dụng nhiều công cụ đánh giá khác nhau để có thể đánh giá đúng HS một cách khách quan:Kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết (Gồm kiểm tra ngắn, kiểm tra một tiết). Trong các bài kiểm tra viết cần kết hợp cả bài tập trắc nghiệm và bài tập tự luận, các bài tập cần sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó và có đủ loại bài đại diện cho các kiến thức kĩ năng cơ bản nhất.

    – GV cần vận dụng cách đánh giá theo nhiều chiều: GV đánh giá học sinh, học sinh đánh giá lẫn nhau và nêu cao ý thức tự đánh giá ở mỗi học sinh. Với những kinh nghiệm trên, sau nhiều năm vận dụng, tôi nhận thấy chất lượng dạy học môn toán (phần giải toán có văn) đã đạt được những thành tích đáng kể .

    Học sinh nắm chắc kiến thức hơn, có hào hứng trong học tập, biết vận dụng các kiến thức một cách sáng tạo vào giải quyết các bài toán thực tế, tạo cho các em một sức bật mới trong nhận thức và hành động.

    toantieuhoc.com sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thầy Cô Cần Làm Gì Để Thay Đổi Phương Pháp Dạy Học
  • Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Môn Hóa Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Của Giáo Viên
  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Các Biện Pháp Nhằm Đổi Mới Pp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Hội Nghị Chuyên Đề “đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lƣợng Môn Sinh Học Cấp Thpt_10393812092019
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Sinh Học Ở Việt Nam
  • PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời kì xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học là bậc nền tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là bước đầu hình thành nhân cách con người cũng là bậc học nền tảng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học bậc trung học cơ sở. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung, chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm sinh lí của trẻ, về nhu cầu và khả năng của trẻ. Đồng thời người dạy có khả năng sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. Là một cán bộ quản lý, tôi nhận thấy bản thân giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trường – nhiệm vụ phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường. Làm thế nào để đẩy mạnh sự phát triển giáo dục nói chung và làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói riêng, đặc biệt là chất lượng học sinh đại trà. Năm học ………….. nhiệm vụ chung của ngành là: Tiếp tục chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học;… Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh: Căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh. Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình kiến thức, kĩ năng môn học và có mảng kiến thức dành cho đối tượng học sinh năng khiếu. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tiểu học căn cứ vào những nhận thức mới của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện ở các em; căn cứ vào năng lực tổ chức, thiết kế và những hoạt động trong quá trình dạy học ở giáo viên vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi phương pháp dạy học truyền thống mà họ không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng say mê học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập, tạo ra sự phát triển mới, nâng cao hiệu quả giáo dục phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ được sự ổn định trong hoạt động dạy học. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được đồng thời tạo ra được sự phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của đơn vị. Tôi mạnh dạn chọn và viết sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học ……………” nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng dạy – học và đẩy mạnh công tác mũi nhọn của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh 6
  • Skkn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Tiểu Học Huyện Bình Giang
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • TRƯỜNG THCS THỔ CHÂU – KHỐI TIỂU HỌC

    CHUYÊN ĐỀ

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY HỌC VẦN LỚP 1

    A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

    1) Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học vần

    Học vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.

    2) Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học vần

    Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, bộ phận chuyên môn của trường đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phân môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng); đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Các em cũng viết đúng khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng. Tỷ lệ chất lượng của môn tiếng Việt hàng năm đều tăng.

    Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo; việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn,…còn hạn chế.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này, song yếu tố bất cập trong giảng dạy của giáo viên là vấn đề đáng quan tâm. Một trong những hạn chế nổi bật là kỹ năng vận dụng, phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên lớp. Nhiều giáo viên còn rất lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp, biện pháp dạy học trong từng hoạt động. Do đặc thù của đơn vị trường khối 1chỉ có 1 lớp nên hạn chế trong việc học hỏi lẫn nhau. Các giáo viên dạy lớp khác còn lúng túng khi được phân công dạy thay lớp 1.

    Xuất phát từ những bất cập nêu trên, bộ phận chuyên môn khối tiểu học tổ chức chuyên đề : “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Học vần lớp 1” nhằm thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2011-2012 và những năm tiếp theo.

    II. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN:

    1) Thuận lợi:

    a) Đối với giáo viên:

    + Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận chuyên môn khối Tiểu học, cụ thể:

    – Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng lớp 1. Thường xuyên tổ chức các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.

    – Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (hội thi giáo viên dạy giỏi) giúp giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.

    – Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…

    + Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.

    + Cơ sở vật chất từ phòng lớp, bàn ghế, các phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.

    + Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình.

    b) Đối với học sinh:

    + Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.

    + Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.

    2) Khó khăn:

    a) Đối với giáo viên:

    + Đôi lúc chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học. Đôi khi giáo viên có phần chủ quan trong dạy học vì kiến thức lớp 1 thường đơn giản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Của Giáo Viên
  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Các Biện Pháp Nhằm Đổi Mới Pp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Hội Nghị Chuyên Đề “đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lƣợng Môn Sinh Học Cấp Thpt_10393812092019
  • Trên thế giới và trong nước ngày càng phát triển mọi mặt, trong đó giáo dục cùng với khoa học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất thay cho lao động chân tay, có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống con người. Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng giáo dục luôn đưa ra những yêu cầu mới, những chuẩn mới nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục cho các trường học. Ở nước Mỹ đặt trọng tâm vấn đề cải cách giáo dục vào các trường học, ở Singapore đứng đầu châu Á trong việc chuẩn bị kỹ năng tốt nhất cho công việc tương lai của học sinh, sinh viên, và các nước như: New Zealand, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc,… trong đó có Việt Nam.

    + Căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục vệ sinh môi trường, rèn kĩ năng sống cho học sinh, Bác Hồ và những bài học về đạo đức, lối sống dành cho học sinh.

    + Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình và có những mảng kiến thức mở rộng dành cho đối tượng học sinh có khả năng.

    Ngoài ra trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tiểu học căn cứ vào những nhận thức mới của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện ở các em, căn cứ vào năng lực tổ chức, thiết kế và những hoạt động trong quá trình dạy học của giáo viên. Vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi phuương pháp dạy học truyền thống. Mà họ không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng sai mê học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập, tạo ra sự phát triển mới để nâng cao hiệu quả giáo dục phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ được sự ổn định trong hoạt động dạy học. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được. Đồng thời tạo ra được sự phối hợp chặc chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại.

    Mặc dù cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế nhưng tập thể cán bộ giáo viên Trường Tiểu học 1 xã Hiệp Tùng đã không ngừng phấn đấu để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và đặc biệt là chú trọng nhất về nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Có 100% cán bộ – giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn trong hè nên nắm vững cách thực hiện đổi mới phương pháp dạy, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học; đổi mới cách đánh giá học sinh, coi trọng sự phá triển và tiến bộ của học sinh.

    Ngoài nắm vững chuyên môn giáo viên còn nghiên cứu, tìm hiểu về đối tượng học sinh, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung chương trình của từng môn học, mạnh dạn đăng kí chỉ tiêu phấn đấu trên đối tượng học sinh của lớp mình.

    Cơ sở vật chất còn hạn chế nhưng giáo viên đã tận dụng tạo môi trường học tập, môi trường vui chơi an toàn cho học sinh.

    Học sinh có đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập, hăng hái tham gia xây dựng bài học, biết tự nhận xét đánh giá mọi hoạt động của mình, của bạn.

    Ngày nay, công tác xã hội hóa giáo dục có sự chuyển biến mới. Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình. Đồng thời đã đóng góp không nhỏ về tiền của để mua sắm trang thiết bị dạy học trong nhà trường, năng cấp cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt cho việc vui chơi và học tập của học sinh.

    Những năm học bắt đầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu từ lớp 1. Tất cả giáo viên được tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về dạy học theo chương trình mới một cách kĩ lưỡng. Nhưng khi vào thực tế giảng dạy nhiều giáo viên còn lúng túng nhất là khâu đổi mới phương pháp dạy học, dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên chỉ lo tập trung vào phần việc của mình, cứ lo sợ dạy không hết bài, học sinh không biết, không nắm và tiếp thu được bài,… cứ như thế là vào tiết học giáo viên thao thao giảng bài, đọc cho học sinh chép những nội dung cần ghi nhớ, cần biết yêu cầu các em về học thuộc lòng, có những giáo viên nhận thức được đổi mới phương pháp dạy học là dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dưới sự hướng dẫn, nêu vấn đề của người dạy, người học động não, tự tìm cách giải quyết vấn đề để chiếm lĩnh kiến thức mới, vận dụng kiến thức mới vào thực tiễn.

    Gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học là việc sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học. Thế nhưng không ít giáo viên còn chưa sử dụng, chưa khai thác triệt để thiết bị, đồ dùng vào các tiết dạy mà chỉ dạy chay hoặc sử dụng khi có người dự giờ, khi sử dụng lại có những giáo viên sử dụng vụng về, lúng túng, rồi khai thác một cách qua loa, máy móc làm cho tiết học trở nên rời rạc, khô chán không phát huy được tính tích cực, sự hứng thú học tập của học sinh. Không có thiết bị để ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

    Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, giáo viên chưa thoát li được sách giáo viên, sách tham khảo, mà còn có những giáo viên coi sách giáo viên như một pháp lệnh, không được xê dịch hay sửa đổi. Chép nguyên mục tiêu và các hoạt động trong sách mà không cần biết bài dạy đó có phù hợp với học sinh của mình không mà không bỏ thời gian ra nghiên cứu nội dung bài học sách giáo khoa, liên hệ từng đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học cho từng môn học, hay thiết kế bài dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp. Không nghiên cứu nội dung sách giáo khoa để xác định mảng kiến thức trọng tâm của bài, liên hệ sự tiếp thu của học sinh rồi lựa chon phương pháp dạy học để phát huy tích cực sự vận động suy nghĩ của từng đối tượng học sinh tránh nhàm chán ở học sinh. Vì trong lớp học có tới ba, bốn khả năng tiếp thu và khả năng nhận thức cụ thể như: học sinh Hoàn thành tốt, học sinh Hoàn thành, học sinh Chưa hoàn thành và học sinh có năng lực. Ngoài ra trong quá trình lập kế hoạch bài dạy do không nghiên cứu kĩ lưỡng nội dung bài nên việc chuẩn bị trang thiết bị, đồ dùng dạy học không có hoặc không phù hợp, thậm chí có nêu ở chuẩn bị trong kế hoạch mà qua hết một tiết dạy không thấy giáo viên sử dụng ở hoạt động nào (chổ nào).

    Bên cạnh những việc tồn tại ở khâu lập kế hoạch giảng thì cũng không thể không đề cập đến vấn đề kiểm tra, đánh giá, nhận xét học sinh. Một số giáo viên dù nắm được, hiểu được hướng dẫn chỉ đạo của Thông tư số 30/2014/TT-GDĐT ngày 28/ 8/ 2014 và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/ 9/ 2022 của Bộ GD-ĐT về Quy định đánh giá học sinh tiểu học , Quyết định số 16 quy định về chuẩn kiến thúc kĩ năng các môn học ở bậc tiểu học ấy thế nhưng trong quá trình đánh giá họ không căn cứ vào những tiêu chí hướng dẫn của văn bản để đánh giá, mà đánh giá chỉ dựa vào cảm tính, quan sát chung chung, thiếu căn cứ, thiếu tính chính xác. Thậm chí việc kiểm tra, đanh giá còn dựa trên tình cảm, cả nể mà đánh giá không đúng thực lực của học sinh. Và mặc dù trong những năm học vừa qua các trường chỉ đạo thực hiện tốt cuộc vận động hai không và bốn nội dung. Vậy mà còn không ít giáo viên vẫn còn để xảy ra tiêu cực trong kiểm tra, trong đánh giá xếp loại nhất là trong xét khen thưởng ở cuối năm. Đến vào đầu năm học mới có rất nhiều học sinh bị hụt hẫng về kiến thức nên rất khó cho việc giảng dạy của giáo viên ngoài ra còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục.

    Mặt khác giáo viên chưa nghiên cứu sâu về tâm lý từng học sinh để có biện pháp giảng dạy và giáo dục tốt hơn.

    Đa số học sinh còn phụ thuộc vào khuôn mẫu, bắc chước, chưa có ý thức tự giác học tập, lại được phụ huynh đồng thuận mua sắm cho sách giải, sách tham khảo, các em lại sao chép.

    Do còn không ít phụ huynh thiếu trách nhiệm, thiếu sự phối hợp để giáo dục học sinh, gây sức ép không nhỏ đối với giáo viên.

    Trường học – tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục – nơi tập trung những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Mà giáo viên là lực lượng nồng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; là người không chỉ thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, phụ huynh học sinh mà còn thể hiện nhiệm vụ với xã hội, với vận mệnh và tương lai của đất nước. Chính vì vậy công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường là vấn đề quan trọng. Vì có một tập thể đoàn kết thì mới có một tập thể vững mạnh, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học. Mỗi cá nhân là một thành viên tích cực nêu cao quan điểm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến đóng góp, xây dựng cho đồng chí, đồng đội, cùng phát triển về công tác chuyên môn (về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, về biện pháp giáo dục học sinh,…), quan tâm giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn cùng nhau hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, có một tập thể đoàn kết mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học. Có sự đoàn kết, thống nhất như vậy sẽ góp phàn nâng cao nhận thức về chuyên môn, nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường.

    Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích giáo viên đọc sách báo, tham khảo tài liệu về chính trị, văn hóa, pháp luật,…

    Phân công chuyên môn phù hợp với năng lực, sở trường của từng giáo viên, tạo mọi điều kiên thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Đi kèm theo công tác phân công chính là công tác kiểm tra đánh giá kết quả lao động của cá nhân, tập thể được phân công, để đánh giá mức độ hoàn thành công việc như thế nào. Từ đó có bài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời kịp thời phát hiện năng lực của giáo viên và có kế hoạch bồi dưỡng phát huy hoặc khuyến khích giáo viên tiến bộ.

    Thường xuyên mở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các buổi thao giảng, phối hợp mở các buổi hội giảng trao đổi về phương pháp giảng dạy, biện pháp giáo dục học sinh.

    Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập, giáo lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.

    Thực hiện tốt công tác dân chủ trong nhà trường. Có biện pháp, chế độ tùy theo kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được phân công, tham mưu tốt với ban ngành đoàn thể đảm bảo quyền lợi của anh chị em trong lao động.

    – Xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường. Quy chế chuyên môn trong nhà trường là một trong những công cụ để đánh giá quá trình lao động của người giáo viên. Việc thực hiện tốt quy chế chuyên môn trong nhà trường của giáo viên là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy.

    – Trên cơ sở: Quyết định 14 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học ngày 04 tháng 05 năm 2007 của Quyết định 16 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao về việc Vi phạm đạo đức nhà giáo ngày 16 tháng 04 năm 2008; căn cứ điều lệ trường tiểu học; căn cứ văn bản chỉ đao của lãnh đạo Phòng GD&ĐT và căn cứ tình hình thực tế của đơn vị. Hiệu trưởng xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường như quy định về đạo đức, tác phong sư phạm, tác phong của nhà giáo, quy định giờ ra vào lớp, quy định về hồ sơ sổ sách, lịch trình duyệt các kế hoạch. Giáo viên soạn giảng đủ môn, đủ tiết, số tiết dự giờ (rút kinh nghiệm, dự giờ để đánh giá), số lần tham gia sinh hoạt chuyên môn duy trì sĩ số lớp,…

    – Phát động phong trào Thi đua Dạy tốt – Học tốt, tiến hành bàn giao số lượng, chất lượng (cụ thể từng đối tượng học sinh về năng lực, về phẩm chất, về sở trường, về cá tính của học sinh,…) của lớp dưới lên lớp trên để giáo viên mới có cơ sở xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm của năm học, đăng kí chỉ tiêu phấn đấu, xây dựng kế hoạch giảng dạy.

    – Phối hợp với Ban chấp hành công đoàn phát động phong trào “Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”. Qua đó vận động giáo viên chấp hành nghiêm túc quy chế chuyên môn của nhà trường.

    Việc tố chức thực hiện chương trình và xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường nên Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở như: căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, các chỉ thị của ngành, của địa phương, căn cứ vào đặc điểm tình hình của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình sao cho vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo hoàn thành chương trình theo tinh thần chỉ đạo của ngành.

    Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh, biện pháp khắc phục, biên chế nội dung chương trình cho cả năm học và cho tùng thời điểm, lập thời khóa biểu cho các khối lớp, phân phối chương trình.

    Tập trung nghiên cứu kĩ các văn bản chỉ đạo về chuyên môn, nghiên cứu về nội dung chương trình sách giáo khoa, căn cứ đặc điểm tâm lí của trẻ. Cùng với tổ chuyên môn, giáo viên phối hợp với kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt động phù hợp với đối tượng học sinh. Thực hiện chương trình một cách vừa và đủ đảm bảo tham gia các hội thi mà cấp trên tổ chức như: thi viết chữ đẹp, thi Trạng nguyên nhỏ tuổi, thi IOE Tiếng anh, thi Volympic Toán qua mạng, Toán tuổi thơ cấp huyện, cấp tỉnh đối với lớp 5,…

    Cùng với tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo điều lệ trường tiểu học, nội dung sinh hoạt đa dạng phong phú: trao đổi về phương pháp dạy học, trao đổi về kết quả nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, trao đổi về phương pháp xác định mục tiêu của bài học – xác định mảng kiến thức trọng tâm của một bài, một môn, trao đổi về biện pháp giáo dục học sinh hướng dẫn học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện.

    Thiết kế bài dạy và chẩn bị giờ lên lớp của giáo viên là việc làm quan trọng, thực hiện quy chế chuyên môn trong trường tiểu học. Là khâu mà bất kì giáo viên trực tiếp giảng dạy nào cũng phải có, vì trong quá trình thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp giúp giáo viên có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu về nội dung, tuy nó chưa phải là dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy để có biện pháp xử lí kịp thời đúng đắn. Và thiết kế bài dạy được xem là công cụ để thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và cũng là một trong những việc làm góp phần quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Do đó cần tập trung chỉ đạo việc thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên cụ thể như sau:

    Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản về việc thiết kế bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông vào soạn giảng đến tổ khối, giáo viên.

    – Mục tiêu đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học dành cho đối tượng học sinh trong lớp.

    – Tăng cường trang bị về thiết bị, đồ dùng dạy học, khuyến khích gíao viên đẩy mạnh công nghệ thông tin vào giảng dạy. Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung bài, đồng thời trong quá trình chuẩn bị phải thể hiện được đồ dùng phục vụ cho người dạy và đồ dùng phục vụ cho người học. Vì đồ dùng dạy học rất quan trọng trong việc dạy học ở tiều học giúp học sinh nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Ngoài đồ dùng trực quan sinh động mà giáo viên đã chuẩn bị thì còn hình ảnh trực quan sinh động hơn là người giáo viên: cần có ngoại hình cân đối, giọng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, cử chỉ mềm mại, điệu bộ duyên dáng, thái độ ân cần,… sẽ thu hút sự chú ý học tập của học sinh cao hơn, tăng thêm sự hứng thú nhận thức của trẻ.

    – Nội dung cơ bản của kế hoạch phải thể hiện rõ hoạt động của thầy, hoạt động của trò, hoạt động trọng tâm của bài, dự kiến thời gian của từng hoạt động; mỗi hoạt động đều thể hiện được mục tiêu, nhiệm vụ, nêu cách tổ chức của thầy, dự kiến câu trả lời của học sinh và kết luận của giáo viên. Không ghi những vấn đề không cần thiết.

    – Nội dung kế hoạch ngắn gọn, xúc tích đảm bảo nội dung trọng tâm của bài, logic khoa học, lựa chọn phương pháp giảng dạy (thể hiện sự hệ thống việc làm của thầy – trò, hình thức tổ chức phù hợp với môn học, lớp học, với đối tượng học sinh).

    – Thực hiện quy định thời gian kí duyệt kế hoạch giảng dạy của giáo viên trước khi lên lớp thực hiện tiết dạy.

    Giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học để thực hiện mục tiêu dạy học.

    Trong nhà trường tiểu học hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động nó là hoạt động chính. Hiện nay quá trình dạy học chủ yếu đa số là diễn ra trong lớp học. Giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học cơ bản, trong đó giáo viên là người trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm. Do vậy, giờ lên lớp thể hiện rõ nhất trách nhiệm và khả năng của giáo viên. Vì vậy giờ lên lớp của giáo viên cần thực hiện như:

    – Thực hiện tốt kỉ luật lao động trong nhà trường, khuyến khích việc giáo viên thực hiện tốt giờ lên lớp.

    – Thực hiện chương trình đảm bảo đúng quy chế chuyên môn, quy định của ngành. Duy trì và thực hiện tốt giờ lên lớp.

    Dự giờ là công việc đặc thù, cơ bản, là biện pháp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho mỗi cá nhân giáo viên một cách hiệu quả nhất.

    Căn cứ vào điều lệ Trường tiểu học thì đối với giáo viên số tiết dự giờ ít nhất 1 tiết/tuần, đối với tổ chuyên môn ít nhất 2 tiết/tuần.

    Để công tác dự giờ có hiệu quả, trước khi dự giờ giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài, xác định mục tiêu, xác định mảng kiến thức trọng tâm, lựa chọn phương pháp, đồ dùng dạy học, dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình dự giảng dạy.

    Tiến hành dự giờ: khi dự giờ không trao đổi, làm việc riêng mà tập trung theo dõi hoạt động của thầy và trò, thông qua các hoạt động, hệ thống câu hỏi, câu trả lời và cách đánh giá, nhận xét học sinh của người dạy và của học sinh với học sinh.

    Để có cơ sở đánh giá, đóng góp, xây dựng cho đồng nghiệp, để học tập ở đồng nghiệp, người dạy cũng chú ý lắng nghe bày tỏ quan điểm phân tích sư phạm cùng nhau đi đến thống nhất cho một tiết dạy, có những kiến nghị phù hợp.

    Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng là thể hiện thành tích của giáo viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ và sự chỉ đạo cuả nhà trường. Do đó đánh giá với tinh thần nghiêm túc, thái độ khách quan, chống khuynh hướng nhận xét, đánh giá một cách hình thức, thiếu tinh thần trách nhiệm thì sẽ không khắc phục được những hạn chế mắc phải trong học sinh dẫn tới không chỉ hạn chế trong chất lượng giáo dục mà dẫn tới tiêu cực trong giáo dục, đánh giá không đúng, thiếu trung thực sẽ dẫn tới tình trạng nguy hiểm như học sinh ngồi nhầm lớp, thì ảnh hưởng đến uy tính của ngành giáo dục,… Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, giáo viên có những biện pháp như sau:

    – Triển khai, phổ biến các văn bản quy định về kiểm tra đánh giá và ghi điểm; lập kế hoạch kiểm tra đánh giá thường xuyên, đánh giá theo thời điểm và phổ biến các quy định về nền nếp kiểm tra sâu rộng trong tập thể của nhà trường.

    – Giáo viên tiến hành nghiên cứu những quy định kiểm tra – đánh giá nhận xét học sinh, lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá, nhận xét học sinh thường xuyên và theo từng thời điểm. Nội dung kiểm tra học sinh theo thời điểm được đưa ra tập thể tổ trao đổi cùng thống nhất nội dung ôn tập và ra đề kiểm tra. Ngoài đánh giá về hoạt động giáo dục, sự rèn luyện năng lực, phẩm chất của học sinh còn đánh giá về các phong trào như Vở sạch chữ đẹp,… Tổ chức thực hiện tốt theo quy định tại Thông tư số 30/2014/TT-GDĐT ngày 28/ 8/ 2014 và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/ 9/ 2022 của Bộ GD-ĐT về Quy định đánh giá học sinh tiểu học , căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng để đánh giá, tiến hành đánh giá đúng thực lực của học sinh ở từng môn học.

    Trong nhà trường, việc xây dựng nền nếp, kỉ cương có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó không chỉ là điều kiện để thực hiện tốt việc dạy và học trên lớp mà còn giáo dục học sinh ý thức, chấp hành tổ chức kỉ luật góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh. Do đó cần:

    – Xây dựng nội quy học sinh, triển khai sâu rộng trong giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh ngay đầu năm học. Đặc biệt người làm thầy phải chú ý lắng nghe ý kiến của người học để nghiên cứu và có biện pháp phát huy tài năng của học sinh và kịp thời uốn nắn giúp học sinh rèn luyện phát triển đúng đắn hơn.

    – Giáo viên tìm hiểu tâm lí của học sinh, tìm hiểu về khả năng và nhu cầu của từng em để có biện pháp giáo dục đạo đức, có biện pháp giúp đỡ sự rèn luyện của họ sinh. Tổ chức thi đua theo tổ, cá nhân học sinh về học tập, về lao động vệ sinh, về thực hiện nền nếp, thực hiện phong trào giúp bạn vượt khó,… tổ chức bình chọn học sinh gương mẫu, tổ tiên tiến,… vào cuối tuần theo dõi thường xuyên và liên tục uốn nắn các hành vi của học sinh.

    – Phối hợp với Đoàn thanh niên – Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, phát động phong trào thi đua, động viên, khuyến khích học sinh chấp hành tốt nội quy, thường xuyên đánh giá xếp loại thi đua hàng tuần để kịp thời tuyên dương tập thể cá nhân có thành tích tốt, giúp cá nhân học sinh kịp thời điều chỉnh việc làm không phù hợp, khắc phục hạn chế của bản thân dần dần hoàn thiệ nhân cách ở học sinh.

    Hoạt động học tập là hoạt động cơ bản của học sinh, hoạt động này có hiệu quả cao hay không thỉ còn tùy thuộc vào tinh thần, thái độ học tập của các em. Vì vậy là người làm nhiệm vụ trồng người cần phải có biện pháp giáo dục cho học sinh tính tự giác trong học tập của học sinh, thông qua các tiết dạy giáo viên thường xuyên động viên khích lệ sự vươn lên trong mỗi học sinh, giáo dục và ươm mầm ước mơ, khơi dậy hoài bão ở mỗi em.

    Tổ chức các hội thi, tạo cơ hội cho học sinh thể hiện tài năng của mình, tạo cơ hội cho học sinh thể hiện niềm đam mê.

    Giáo dục học sinh thông qua các tiết sinh hoạt đưới cờ, các buổi sinh hoạt Đội, sinh hoạt Sao, nhân dịp lễ hội, các giờ học ngoại khóa,…

    Giáo dục trong tiết sinh hoạt cuối tuần, trong tiết dạy, qua bài học, qua việc làm tốt của bạn, qua kết quả học tập của bạn, của bản thân học sinh,…

    Thông qua quá trình thực hiên tiết dạy của giáo trên lớp nên tạo ra cơ hội cho học sinh phát biểu, học sinh tích cực xây dựng bài, giáo dục cho học sinh hiểu học tập vừa là quyền được học lại vừa là nhiệm vụ của các em. Tạo ra nhu cầu hứng thú về sự hiểu biết dần dần hình thành nhu cầu học tập với tinh thần tự giác, thái độ đúng đắn.

    Do học sinh ở xa trường điều kiện đi lại khó khăn, trường chưa đủ cơ số phòng học, học sinh chỉ đến trường 07 buổi/tuần. Các em chỉ được tiếp thu kiến thức và vận dụng thực hành trong một thời gian nhất định, buổi còn lại các em chỉ tự học và luyện tập ở nhà. Thế nhưng có mấy em tự giác hoàn chỉnh thêm cho việc rèn luyện của bản thân vào những buổi học ở nhà. Nhằm để giúp học sinh hoàn thiện hơn thì cần có sự phối hợp chặt chẽ với Ban đại diện hội cha mẹ học sinh, của chính quyền địa phương chung tay tuyên truyền, vận động để cha mẹ học sinh tạo điều kiện tốt cho con mình học tập ở trường cũng như học tập ở nhà: nên tạo cho các em góc học tập tại nhà, có thời gian biểu, thời khóa biểu học hợp lí, thường xuyên nhắc nhở, động viên con học tập, kiểm tra việc học tập của con một cách thường xuyên, liên tục,…

    Cùng với giáo viên chủ nhiệm giáo dục con mình phát triển toàn diện, giáo dục đạo đức, giáo dục tính trung thực trong mõi lĩnh vực, biết đọc sách, tự làm bài tập ở vở bài tập hoặc bài tập nâng cao…

    Căn cứ hồ sơ tuyển sinh, biên bản bàn giao chất lượng lớp dưới lên lớp trên và kết quả khảo sát đầu năm, tổ chuyên môn, giáo viên chịu trách nhiệm phái có kế hoạch, biện pháp bồi dưỡng học sinh và phụ đạo học sinh. Giáo viên chủ nhiệm phân loại học sinh, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh và phân nhóm. Để có biện pháp giảng dạy và giáo dục phù hợp, nâng dần chất lượng giáo dục bằng nhiều hình thức:

    Xây dượng kế hoạch dạy học phù hợp, cải tiến phương pháp dạy học theo đối tượng học sinh, quan tâm và kịp thời giúp đỡ học sinh cón hạn chế bằng cách giao việc phù hợp, nâng dần, động viên, tạo cơ hội cho học sinh hòa nhập với tập thể, cũng như quan tâm học sinh còn hạn chế, công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu cũng là một trong những công tác mũi nhọn của nhà trường. Giáo viên không nên xem thường mà không chuẩn bị riêng cho những học sinh này bài tập khó thì có nguy cơ gây ra sự nhàm chán đối với các em. Vì với các bài tập ở sách giáo khoa các em đều làm được. Thời gian còn lại các em chỉ ngồi chờ nếu cứ lập đi lập lại tình trạng này thì sẽ gây ức chế hưng phấn học tập của học sinh, kiềm hãm sự phát triển tư duy của trẻ. Chính vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải hết sức chú ý và giao việc phù hợp mới phát triển tài năng của tuổi thơ.

    5. Giải pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội:

    Là mối quan hệ không thể thiếu trong nhà trường phổ thông đặt biệt là trong trường tiểu học. Nhà trường phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức và cá nhân nhằm thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Nhằm huy động mọi lực lượng của cộng đồng tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh. Là cánh tay đắc lực hỗ trợ về vật chất lẫn tinh thần cho tập thể cán bộ giáo viên, tạo điều kiện trang bị đồ dùng dạy học, là nguồn động viên lớn đối với ý thức học tập và rèn luyện của học sinh.

    Qua quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tìm hiểu về thực trạng của lớp, của trường và đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của trường tiểu học 1 xã Hiệp Tùng đã được áp dụng trong năm học vừa qua và học kỳ một năm học 2022 – 2022 với những kết quả khả quan cụ thể như:

    1. Giải pháp xây dựng đội ngũ trong tập thể sư phạm: 100% giáo viên, học sinh không vi phạm quy chế, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dạy và học. Kết quả đạt được tập thể vững mạnh.

    2. Giải pháp chỉ đạo về việc kiểm tra – đánh giá kết quả việc học tập của HS:

    * Chất lượng giáo dục hai môn: Toán và Tiếng Việt:

    * Chất lượng giáo dục (Năng lực và phẩm chất)

    3. Giải pháp chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh: Kết quả đạt được năm học 2022 – 2022 có 06 học sinh giỏi cấp trường môn Anh văn, 05 học sinh đạt giải hội thi Violympic Toán. Năm học có: 09 học sinh được công nhận Viết chữ đẹp cấp trường và 24/32 học sinh được công nhận vở sạch chữ đẹp; có 26 em được công nhận Cháu ngoan Bác Hồ, đạt 100% học sinh được lên lớp thẳng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh 6
  • Skkn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Tiểu Học Huyện Bình Giang
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100